Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong những năm qua, ngành du lịch Việt Nam đã có những đóng góp đáng kể vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước và đang ngày càng khẳng định vị trí, vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân. Đồng thời, trong bối cảnh của nền kinh tế thị trường đang mở cửa và hội nhập quốc tế; ngành du lịch cũng đứng trước những thách thức to lớn, đòi hỏi phải có sự đổi mới, nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước (QLNN) đối với ngành này để ngành du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế “mũi nhọn”.
Đà Lạt là thành phố thuộc tỉnh Lâm Đồng với hơn 120 năm hình thành và phát triển có nhiều lợi thế về khí hậu, tài nguyên và nhiều tiềm năng về phát triển du lịch, nhất là các loại hình du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng núi và tham quan thắng cảnh. Trong những năm qua, ngành du lịch thành phố Đà Lạt đã phát triển khá nhanh, chính quyền thành phố đã có nhiều biện pháp thúc đẩy phát triển du lịch, hoàn thiện cơ chế, chính sách quản lý du lịch, tạo lập môi trường, điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh du lịch. Nhờ đó, hoạt động du lịch trên địa bàn đã có những bước khởi sắc và đạt được một số thành tựu quan trọng. Các sản phẩm du lịch ngày càng đa dạng, doanh thu du lịch và lượt khách lưu trú ngày càng tăng, góp phần làm cho tỉ trọng ngành dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của thành phố ngày càng cao và xu hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế của thành phố ngày càng rõ nét. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Tuy nhiên cũng như các ngành kinh tế khác, ngành du lịch Đà Lạt vẫn phát triển chưa xứng với tiềm năng lợi thế so sánh vốn có của địa phương như thiếu tầm nhìn tổng thể về phát triển du lịch nên sản phẩm du lịch còn đơn điệu, trùng lặp, kém hấp dẫn và không thể hiện được tính đặc thù. Quản lý và quy hoạch du lịch chưa hiệu quả, vấn đề liên kết phát triển du lịch chưa được chú ý. Ngoài ra, còn hạn chế, yếu kém về kết cấu hạ tầng kỹ thuật du lịch, đội ngũ nhân lực du lịch, năng lực xúc tiến quảng bá du lịch và thiếu sự ổn định về tổ chức bộ máy QLNN trong lĩnh vực du lịch, nhiều di tích lịch sử – văn hóa – cách mạng đang trong tình trạng xuống cấp chưa được tu bổ, tôn tạo lại. Bên cạnh đó, so với tiềm năng, lợi thế so sánh vốn có thì sự phát triển du lịch thành phố Đà Lạt vẫn chưa tương xứng, số 1 ngày lưu trú bình quân và chi tiêu của du khách còn thấp, khách quốc tế đến Đà Lạt chưa nhiều. Nguyên nhân chủ yếu là do công tác xây dựng và thực hiện các văn bản QLNN và các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch còn chưa tốt; tổ chức bộ máy và nhân sự QLNN về du lịch còn nhiều bất cập; công tác thanh tra, kiểm tra chưa được thực hiện tốt…
Với mong muốn cho du lịch Đà Lạt ngày càng phát triển, phát huy tối đa tiềm năng du lịch, đồng thời giải quyết phần nào những bất cập trong hoạt động QLNN đối với du lịch trên địa bàn thành phố, để ngành du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế động lực trong tương lai gần, đồng thời thúc đẩy nhanh quá trình phát triển kinh tế – xã hội của thành phố, học viên chọn đề tài: “Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng” làm nhiệm vụ nghiên cứu cho đề tài Luận văn Cao học Quản lý công của mình với mong muốn làm rõ những ưu điểm để phát huy, đề ra những giải pháp khắc phục những tồn tại, hạn chế nhằm hoàn thiện hoạt động QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Liên quan đến vấn đề QLNN về du lịch nói chung đã và đang được các nhà quản lý, các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu, thể hiện trên các công trình cụ thể sau đây:
- Về Đề tài khoa học, Dự án:
Cơ sở khoa học và giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Việt Nam, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước (2000) của Phạm Trung Lương, tập trung hệ thống hoá các vấn đề lý luận về phát triển du lịch bền vững; xác định những vấn đề cơ bản đặt ra đối với phát triển du lịch bền vững thông qua phân tích thực trạng phát triển du lịch từ năm 1992 đến nay; xác định hoàn thiện QLNN đối với du lịch là giải pháp căn bản để giải quyết các vấn đề đặt ra đối với phát triển du lịch đồng thời đề xuất mô hình phát triển du lịch bền vững ở khu vực cụ thể. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Hiện trạng và giải pháp phát triển các khu du lịch biển quốc gia tại vùng du lịch Bắc Trung Bộ, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ (2018) do Viện nghiên cứu và phát triển du lịch chủ trì, TS. Nguyễn Thu Hạnh chủ nhiệm. Các tác giả của đề tài đã tập trung nghiên cứu làm rõ cơ sở lý luận về du lịch biển và phát triển khu du lịch biển quốc gia; đồng thời đã tập trung nghiên cứu vai trò quản lý của nhà nước trong phát triển các khu du lịch biển quốc gia. Tuy nhiên, đề tài chỉ tập trung vào việc phân tích thực trạng và đề xuất giải pháp đối với một loại hình du lịch là biển, nên cần có nhiều vấn đề cần nghiên cứu thêm.
Nghiên cứu, đánh giá tổng hợp tài nguyên du lịch, hoạch định không gian và đề xuất các giải pháp phát triển du lịch ở Tây Nguyên, Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước (2022) của Viện Hàn lâm và Khoa học công nghệ Việt Nam, TS. Trương Quang Hải chủ nhiệm. Đề tài đã đánh giá tổng hợp các di sản thiên nhiên, tài nguyên du lịch ở Tây Nguyên; đánh giá hiện trạng, dự báo được xu thế phát triển du lịch và đánh giá tác động đến kinh tế – xã hội và môi trường vùng Tây Nguyên; xây dựng được luận cứ khoa học và hoạch định không gian phát triển du lịch vùng Tây Nguyên cũng như đề xuất được các giải pháp phát triển du lịch bền vững ở Tây Nguyên, trong đó có các giải pháp về QLNN. Tuy nhiên, phạm vi nghiên cứu của đề tài là rộng (trên địa bàn các tỉnh Tây Nguyên) nên các giải pháp đưa ra mang tính tổng quát khá cao, cần cụ thể hóa cho phù hợp với từng địa phương cụ thể.
- Về Luận án, Luận văn:
Quản lý nhà nước bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch ở Việt Nam hiện nay, Trịnh Đăng Thanh (2004), Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Luận án đã đưa ra cơ sở lý luận về sự cần thiết phải QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch; phân tích, đánh giá thực trạng và đề xuất những giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN bằng pháp luật đối với hoạt động du lịch trước yêu cầu mới. Tuy nhiên, vì phạm vi nghiên cứu rộng nên các giải pháp tác giả đề xuất vẫn còn mang tính phổ quát, chưa đi sâu vào từng địa phương nói riêng.
Quản lý nhà nước đối với hoạt động thương mại, du lịch tỉnh Sơn La trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, Nguyễn Minh Đức (2014), Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh. Đây là một công trình nghiên cứu QLNN đối với hoạt động thương mại, du lịch ở một địa phương cụ thể. Luận án đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ; đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm góp phần đổi mới và nâng cao trình độ QLNN về thương mại, du lịh ở tỉnh Sơn La. Tuy nhiên, tác giả chỉ nghiên cứu QLNN đối với cả hoạt động thương mại, du lịch tại một địa phương là tỉnh Sơn La, có điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa, tiềm năng phát triển du lịch khác nhiều so với địa phương mà đề tài học viên đang nghiên cứu, do đó cần phải làm rõ thêm nhiều vấn đề. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Hoàn thiện quản lý nhà nước đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch Việt Nam, Hồ Đức Phớc (2017), Luận án Tiến sĩ Kinh tế, Đại học Kinh tế Quốc dân. Luận án đã luận giải một số cơ sở khoa học của QLNN trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng đô thị du lịch; phân tích và đánh giá thực trạng QLNN trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng đô thị du lịch Việt Nam; đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN trong lĩnh vực kết cấu hạ tầng cho các đô thị Việt Nam. Tuy nhiên Luận án chỉ đề cập đến một phần nhỏ trong QLNN về du lịch, đó là nội dung QLNN đối với cơ sở hạ tầng đô thị du lịch, nên có nhiều vấn đề cần nghiên cứu thêm cho hoàn thiện.
Quản lý nhà nước địa phương đối với phát triển du lịch bền vững tại một số tỉnh miền Trung Việt Nam, Nguyễn Hoàng Tứ (2023), Luận án Tiến sĩ Quản lý kinh tế, Đại học Thương mại. Luận án làm rõ những vấn đề lý luận QLNN đối với phát triển du lịch bền vững, phân tích thực trạng QLNN địa phương đối với phát triển du lịch bền vững tại một số tỉnh miền Trung, đồng thời nêu rõ quan điểm, mục tiêu, định hướng, phương hướng hoàn thiện và giải pháp chủ yếu để phát triển du lịch miền Trung trở thành ngành kinh tế động lực. Tuy nhiên, giới hạn về không gian nghiên cứu của đề tài là khá rộng, đồng thời lại đi sâu nghiên cứu về phát triển du lịch bền vững, vì vậy cần phải nghiên cứu làm rõ thêm các giải pháp về QLNN nói chung với một địa phương cụ thể.
Tăng cường công tác quản lý nhà nước về hoạt động kinh doanh lữ hành của ngành du lịch tỉnh Quảng Ninh, Lê Long (2019), Luận văn Thạc sĩ Kinh tế, Trường Đại học kinh tế và Quản trị kinh doanh, Đại học Thái nguyên. Đây là công trình nghiên cứu QLNN đối với hoạt động kinh doanh lữ hành ở một địa phương cụ thể. Luận văn đã phân tích cơ sở lý luận và thực tiễn nhằm làm rõ chức năng, nhiệm vụ; đề xuất quan điểm và giải pháp nhằm góp phần đổi mới và nâng cao trình độ QLNN về hoạt động kinh doanh lữ hành ở tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên, tác giả chỉ nghiên cứu QLNN đối với hoạt động kinh doanh lữ hành ở Quảng Ninh, khác với việc QLNN về du lịch nói chung của một địa phương cụ thể.
Quản lý nhà nước về du lịch tại huyện đảo Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh, Nguyễn Thị Thùy (2020), Luận văn Thạc sĩ Du lịch, Trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn, Đại học Quốc gia Hà Nội. Luận văn đã phân tích được đặc điểm, vai trò của ngành du lịch trong giai đoạn đầu phát triển nền kinh tế thị trường, đánh giá thực trạng QLNN về du lịch nói chung và đề xuất những giải pháp nhằm góp phần nâng cao hiệu lực QLNN về du lịch. Tuy nhiên, tác giả chỉ nghiên cứu vấn đề về du lịch ở một huyện đảo nhỏ, có điều kiện và lợi thế du lịch hoàn toàn khác biệt so với Đà Lạt.
Như vậy, đã có khá nhiều đề tài nghiên cứu QLNN đối với du lịch trên các khía cạnh khác nhau. Tuy nhiên, chưa có một công trình nào đánh giá một cách đầy đủ về QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Khi thực hiện đề tài “Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng”, tác giả có kế thừa kết quả nghiên cứu của các công trình trước đó nhưng đề tài này có nội dung mới và không trùng lắp với các công trình khoa học đã công bố trước đây.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn này là nghiên cứu cơ sở lý luận QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện; làm rõ những ưu điểm, những hạn chế, tìm ra nguyên nhân yếu kém, đồng thời đề xuất giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục tiêu nghiên cứu nêu trên, đề tài tập trung giải quyết một số nhiệm vụ chủ yếu sau đây:
- Xây dựng khung lý thuyết dựa trên việc hệ thống hóa những vấn đề lý luận và pháp lý QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện.
- Tiến hành đánh giá thực trạng QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Đề xuất những giải pháp để hoàn thiện QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu hoạt động QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung: tập trung nghiên cứu về thể chế, các chủ trương, chính sách và phương pháp, công cụ QLNN về hoạt động du lịch.
- Về không gian: thành phố Đà Lạt thuộc tỉnh Lâm Đồng.
- Về thời gian: từ năm 2021 đến 2025.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để nghiên cứu đề tài này, tác giả tiếp cận đối tượng nghiên cứu bằng phương pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử, lấy học thuyết Mác – Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh cùng các quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng và Nhà nước về nhà nước và pháp luật làm cơ sở phương pháp luận. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Để giải quyết các vấn đề cụ thể, các phương pháp nghiên cứu khoa học chuyên ngành đều được sử dụng như:
Phương pháp khảo sát tài liệu thứ cấp: tác giả sử dụng phương pháp này để nghiên cứu hệ thống văn bản QLNN về du lịch, nghiên cứu các báo cáo của các cơ quan có thẩm quyền và các công trình khoa học, đề tài, đề án, bài báo khoa học có liên quan đã công bố; từ đó tác giả thực hiện việc đối chiếu, tham khảo số liệu, phục vụ cho việc giải quyết các vấn đề mà đề tài đặt ra
Phương pháp phân tích: phương pháp này được tác giả sử dụng để xem xét, đánh giá một cách cụ thể hoạt động QLNN về du lịch. Theo đó, phương pháp này được sử dụng để phân tích cơ sở lý luận và pháp lý của hoạt động QLNN về du lịch, đánh giá và phân tích làm rõ thực trạng hoạt động QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, xác định rõ được những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân của các hạn chế.
Phương pháp tổng hợp: tác giả sử dụng phương pháp này để khái quát nội dung của từng vấn đề trong luận văn, rút ra được những nhận xét, kết luận mang tính tổng quan, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao chất lượng QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt.
Ngoài ra, luận văn còn sử dụng các phương pháp thống kê, so sánh… Các phương pháp nghiên cứu này được sử dụng kết hợp với nhau nhằm mục đích đảm bảo cho nội dung nghiên cứu của luận văn vừa có ý nghĩa lý luận vừa mang ý nghĩa thực tiễn và khoa học.
6. Kết quả và tính ứng dụng của đề tài
Đề tài đã tập hợp, hệ thống hóa cơ sở lý luận về QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện, đánh giá thực trạng hoạt động QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, qua đó chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và đề xuất các giải pháp để hoàn thiện hoạt động này.
Luận văn có thể là tài liệu tham khảo cho những CBCC trực tiếp tham gia QLNN về du lịch tại địa bàn cấp huyện, các nhà lãnh đạo, quản lý các cấp. Kết quả nghiên cứu đề tài là nguồn tư liệu có thể tham khảo phục vụ cho sinh viên, học viên, các nhà khoa học quản lý trong quá trình nghiên cứu về QLNN về du lịch tại các cấp chính quyền khác nhau.
7. Kết cấu của luận văn Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn được bố cục thành 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận của quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn cấp huyện.
- Chương 2. Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
- Chương 3. Phương hướng và các giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng.
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DU LỊCH TRÊN ĐỊA BÀN CẤP HUYỆN
1.1. Tổng quan về du lịch
1.1.1. Khái niệm du lịch
Thuật ngữ du lịch bắt nguồn từ tiếng Pháp: “Tour” nghĩa là đi vòng quanh, cuộc dạo chơi. Trong từ điển Oxford xuất bản năm 1811 ở Anh, du lịch (tourism) có nghĩa là đi xa và du lãm [15, tr.362].
Tại hội nghị Liên Hiệp Quốc về du lịch họp tại Rome – Italia (21/8 – 5/9/1963), các chuyên gia đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hoà bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ” [24, tr.5].
Theo Pirogiơnic (1985), thuật ngữ du lịch được hiểu là một dạng chuyển cư đặc biệt bên ngoài nơi cư trú trong thời gian rỗi nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức văn hóa… [40, tr.7].
Theo Liên hiệp quốc tế các tổ chức lữ hành chính thức (IUOTO): “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống,…” [40, tr.6]
Theo Tổ chức Du lịch thế giới (World Tourism Organization): “Du lịch bao gồm tất cả mọi hoạt động của những người du hành tạm trú với mục đích tham quan, khám phá và tìm hiểu, trải nghiệm hoặc với mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn cũng như mục đích hành nghề và những mục đích khác nữa trong thời gian liên tục nhưng không quá một năm ở bên ngoài môi trường sống định cư nhưng loại trừ các du hành mà có mục đích chính là kiếm tiền” [24, tr.4].
Các học giả biên soạn Từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam (1966) đã tách 2 nội dung cơ bản của du lịch thành 2 phần riêng biệt: Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Thứ nhất, du lịch là một dạng nghỉ dưỡng sức, tham quan tích cực của con người ngoài nơi cư trú với mục đích: nghỉ ngơi, giải trí, xem danh lam thắng cảnh, di tích lịch sử, công trình văn hóa nghệ thuật. Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ cầu, góc độ người đi du lịch [23, tr.312].
Thứ hai, du lịch là một ngành kinh doanh tổng hợp có hiệu quả cao về nhiều mặt: nâng cao hiểu biết về thiên nhiên, truyền thống lịch sử và văn hóa dân tộc, từ đó góp phần làm tăng thêm tình yêu đất nước; đối với người nước ngoài là tình hữu nghị với dân tộc mình; về mặt kinh tế du lịch là lĩnh vực kinh doanh mang lại hiệu quả rất lớn; có thể coi là hình thức xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tại chỗ.
Theo nghĩa này, du lịch được xem xét ở góc độ một ngành kinh tế [23, tr.312].
Theo Luật Du lịch năm 2024: “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên trong thời gian không quá 01 năm liên tục nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, nghỉ dưỡng, giải trí, tìm hiểu, khám phá tài nguyên du lịch hoặc kết hợp với mục đích hợp pháp khác” [34].
Như vậy, du lịch có thể hiểu là quá trình hoạt động của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình với mục đích cảm nhận những giá trị vật chất và tinh thần đặc sắc, độc đáo khác lạ với nơi cư trú thường xuyên trong một khoảng thời gian nhất định, không nhằm mục đích sinh lợi.
Từ các khái niệm trên, có thể hiểu: “Du lịch là tổng hợp các hoạt động tổ chức, kỹ thuật và kinh tế phục vụ cuộc hành trình và lưu trú của con người ở bên ngoài nơi cư trú với nhiều mục đích cá nhân, hoặc do nhu cầu công việc, chuyên môn, tìm kiếm việc làm, thực hiện thăm viếng thường xuyên, thực hiện sự phát triển cá nhân về phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần, nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí cùng với việc đẩy mạnh sự hiểu biết và sự hợp tác giữa mọi người”.
Như vậy, du lịch là một hoạt động đặc thù, gồm nhiều đối tượng tham gia vào đó là du khách, nhà cung ứng dịch vụ du lịch, chính quyền địa phương nơi đón du khách và dân cư sở tại. Du lịch có mối quan hệ kết hợp và tương tác giữa các đối tượng trên. Đối với du khách là cuộc hành trình và lưu trú ở một nơi ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất, tinh thần. Đối với nhà cung ứng dịch vụ du lịch là quá trình tổ chức các điều kiện sản xuất dịch vụ phục vụ du khách để đạt lợi nhuận. Đối với chính quyền địa phương đó là quản lý, tổ chức các điều kiện về cơ sở hạ tầng, cơ sở vật chất, kỹ thuật để phục vụ du khách; tổ chức các hoạt động dịch vụ phục vụ việc lưu trú, hành trình du lịch của du khách; tổ chức tiêu thụ sản phẩm địa phương, nâng cao mức sống dân cư; bảo vệ môi trường tự nhiên, xã hội. Đối với dân cư là tham gia hoạt động du lịch địa phương nhằm tăng thêm lợi ích kinh tế, đồng thời tham gia giám sát, bảo đảm tới mức thấp nhất những tác động tiêu cực và rủi ro của du lịch đối với môi trường, truyền thống văn hóa và điều kiện sống của dân cư địa phương.
Du lịch gồm nhiều hoạt động tham gia vào để phục vụ nhu cầu của du khách trong một chuyến du lịch, nhu cầu từ mục đích chính của chuyến đi như tham quan, giải trí, nghỉ ngơi, học tập và các nhu cầu khác như ăn, ngủ, đi lại, mua sắm hàng hóa, đồ lưu niệm, đổi tiền, gọi điện, gửi thư, vui chơi. Do đó, tham gia vào hoạt động du lịch gồm tổng hợp các hoạt động như sản xuất, kinh doanh, giao thông, bưu chính viễn thông.
Du lịch tồn tại dưới các loại hoạt động phổ biến sau: lữ hành, lưu trú, vận chuyển du khách và các hoạt động dịch vụ phục vụ du lịch khác. Hoạt động lữ hành là thực hiện một chuyến đi theo kế hoạch, lộ trình và chương trình định trước; hoạt động lưu trú là hoạt động cung cấp dịch vụ phục vụ nhu cầu lưu trú của du khách; hoạt động vận chuyển du khách là hoạt động nhằm giúp cho du khách dịch chuyển được từ nơi lưu trú của mình đến điểm du lịch cũng như dịch chuyển tại điểm du lịch; hoạt động dịch vụ phục vụ du lịch khác như ăn uống, mua sắm, thể thao, vui chơi, giải trí, chăm sóc sức khỏe, tuyên truyền, quảng cáo du lịch, tư vấn đầu tư du lịch.
1.1.2. Phân loại các loại hình du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Dựa trên các tiêu chí và mục đích phân loại để phân loại du lịch thành các loại hình khác nhau. Việc phân loại du lịch cùng với các loại hình du lịch khác nhau là nhằm làm rõ bản chất, đặc điểm của từng loại hình du lịch, đặc điểm hoạt động của chúng để có biện pháp QLNN phù hợp với từng loại hình du lịch. Theo cách phân loại phổ biến hiện nay, du lịch có thể được phân theo các tiêu chí với các loại hình tương ứng như sau:
Thứ nhất, theo phạm vi lãnh thổ của chuyến đi: du lịch quốc tế và du lịch nội địa. Du lịch quốc tế là loại hình du lịch có đối tượng du khách là những người lưu trú tạm thời ở nước ngoài và sống ngoài nơi cư trú thường xuyên của họ trong khoảng thời gian từ 24 giờ trở lên. Loại hình du lịch này gắn với yếu tố nước ngoài, điểm đi và đến ở các quốc gia khác nhau; các yếu tố khác như nhu cầu về ăn, ở, đi lại của du khách có nhiều khác biệt với điểm đến; các yêu cầu về nhập cảnh, visa… cũng rất khác nhau. Điều này, đòi hỏi QLNN về du lịch phải thích ứng với các loại hình du lịch này.
Thứ hai, theo nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch: du lịch chữa bệnh, du lịch nghỉ ngơi giải trí, du lịch thể thao, du lịch văn hóa, du lịch công vụ, du lịch sinh thái, du lịch thương gia, du lịch tôn giáo, du lịch thăm hỏi, du lịch quê hương, du lịch quá cảnh. Trong QLNN đối với du lịch cần phải chú ý tới các nhu cầu làm nảy sinh hoạt động du lịch ngày càng đa dạng chẳng hạn du lịch chữa bệnh là loại hình du lịch phục vụ du khách do nhu cầu điều trị các bệnh tật về thể xác và tinh thần, có thể là chữa bệnh bằng khí hậu, nước khoáng, bằng bùn. Đây là loại hình du lịch mà du khách tìm kiếm cách điều trị đặc biệt, cách xa nhà, ở nơi khác… Du lịch nghỉ ngơi, giải trí là loại hình du lịch phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi để phục hồi thể lực và tinh thần của du khách. Loại hình này có tác dụng giải trí, làm cuộc sống đa dạng, giải thoát con người khỏi áp lực công việc. Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương.
Thứ ba, theo thời gian đi du lịch: du lịch dài ngày, du lịch ngắn ngày. Du lịch dài ngày là loại hình du lịch mà hành trình đi và ở của du khách có thời gian dài ngày và do đó thời gian lưu trú dài hơn và chi tiêu cao hơn.
Thứ tư, theo phương tiện lưu trú: du lịch ở trong khách sạn, du lịch ở trong motel, du lịch ở Làng du lịch, du lịch ở lều, trại (camping). Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Thứ năm, theo đối tượng khách du lịch: du lịch thanh thiếu niên, du lịch dành cho những người cao tuổi, du lịch phụ nữ, gia đình.
Dựa trên tiềm năng du lịch và các loại hình du lịch hiện có của thành phố ta có thể phân thành các loại hình du lịch sau: du lịch đô thị; du lịch thương mại, công vụ; du lịch nghỉ dưỡng; du lịch tham quan; du lịch văn hóa, lễ hội; du lịch sinh thái; du lịch tham quan nghiên cứu; du lịch thể thao, vui chơi giải trí; du lịch học tập,chữa bệnh; du lịch ẩm thực, du lịch cuối tuần, du lịch vui chơi giải trí ngoài trời; du lịch mạo hiểm.
1.1.3. Đặc điểm của du lịch
Xuất phát từ các khái niệm về du lịch có thể rút ra một số đặc điểm chủ yếu của du lịch như sau:
- Du lịch mang tính chất của một ngành kinh tế dịch vụ.
Ngày nay, nền sản xuất xã hội cùng với khoa học – kỹ thuật và công nghệ phát triển với tốc độ cao đã thúc đẩy mạnh mẽ quá trình phân công lao động xã hội, làm gia tăng nhu cầu phục vụ sản xuất cũng như cuộc sống văn minh của con người. Từ đó, du lịch trở thành một ngành kinh tế độc lập. Ở các nước phát triển và đang phát triển, tỷ trọng du lịch trong thu nhập quốc dân ngày càng tăng lên. Du lịch là một ngành kinh tế dịch vụ, bởi vậy sản phẩm của nó vừa mang những đặc điểm chung của dịch vụ vừa mang những đặc điểm riêng mà các ngành dịch vụ khác không có.
- Du lịch là loại hình dịch vụ nhằm thỏa mãn nhu cầu vật chất và tinh thần cho khách du lịch trong thời gian đi du lịch.
Dịch vụ du lịch khác với các ngành dịch vụ khác ở chỗ: dịch vụ du lịch chỉ thỏa mãn nhu cầu cho khách du lịch chứ không thỏa mãn nhu cầu cho tất cả mọi người dân. Dịch vụ du lịch là nhằm thỏa mãn những nhu cầu hàng hóa đặc thù của du khách trong thời gian lưu trú bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ về ăn, ở, nghỉ ngơi, đi lại, tham quan, vui chơi giải trí, thông tin về văn hóa, lịch sử, tập quán và các nhu cầu khác. Như vậy, dịch vụ du lịch là loại hình dịch vụ đời sống nhằm thỏa mãn nhu cầu con người, làm cho con người sống ngày càng văn minh, hiện đại. Thực tế hiện nay cho thấy, ở nhiều nước trên thế giới, khi thu nhập của người dân tăng lên thì du lịch trở thành một phần không thể thiếu, bởi vì ngoài việc thỏa mãn nhu cầu tình cảm và lý trí, du lịch còn là một hình thức nghỉ dưỡng tích cực, nhằm tái tạo lại sức lao động của con người.
- Việc tiêu dùng và cung ứng dịch vụ du lịch xảy ra trong cùng một thời gian và không gian.
Việc tiêu dùng các dịch vụ và một số hàng hóa (thức ăn, đồ uống chế biến tại chỗ…) xảy ra cùng một thời gian và cùng một địa điểm với việc sản xuất ra chúng. Trong du lịch, người cung ứng không phải vận chuyển dịch vụ và hàng hóa đến cho khách hàng, mà ngược lại, tự khách du lịch phải đi đến nơi có dịch vụ, hàng hóa. Chính vì vậy, vai trò của việc thông tin, xúc tiến quảng bá du lịch là hết sức quan trọng, đồng thời việc quản lý thị trường du lịch cũng cần có những đặc thù riêng.
- Du lịch mang lại lợi ích thiết thực về chính trị, kinh tế, xã hội địa phương làm du lịch và người làm du lịch.
Du lịch không những đem lại lợi ích thiết thực về kinh tế mà còn mang lại cả lợi ích về chính trị, văn hóa, xã hội… Tuy nhiên, sự chi phối mạnh nhất đối với ngành du lịch vẫn là lợi ích kinh tế. Vì vậy, ở nhiều nước đã đưa ngành du lịch phát triển với tốc độ cao và trở thành ngành kinh tế mũi nhọn trong nền kinh tế quốc dân, mang lại nguồn thu nhập lớn trong tổng sản phẩm xã hội. Do đó, dịch vụ du lịch ngoài việc thỏa mãn các nhu cầu ngày càng cao của khách du lịch còn phải đảm bảo mang lại lợi ích kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội cho quốc gia làm du lịch và cá nhân, tổ chức tham gia hoạt động du lịch.
- Du lịch chỉ phát triển trong môi trường hòa bình và ổn định.
Du lịch là lĩnh vực rất nhạy cảm với những vấn đề chính trị và xã hội. Du lịch chỉ có thể xuất hiện và phát triển trong điều kiện hòa bình và quan hệ hữu nghị giữa các dân tộc. Ngược lại, chiến tranh ngăn cản các hoạt động du lịch, tạo nên tình trạng mất an ninh, đi lại khó khăn, phá hoại các công trình du lịch, làm tổn hại đến cả môi trường tự nhiên. Hòa bình là đòn bẩy đẩy mạnh hoạt động du lịch. Ngược lại, du lịch có tác dụng trở lại đến việc cùng tồn tại hòa bình. Thông qua du lịch quốc tế con người thể hiện nguyện vọng của mình là được sống, lao động trong hòa bình và hữu nghị. Và hơn thế, chỉ cần có những biến động chính trị, xã hội ở một khu vực, một vùng, một quốc gia, một địa phương với mức độ nhất định cũng làm cho du lịch bị giảm sút một cách đột ngột và muốn khôi phục phải có thời gian. Ví dụ, các vụ khủng bố ớ Pháp, Đức và một số nước Châu âu, sự kiện quân sự ở một số nước Trung Đông… đã ảnh hưởng nghiêm trọng đến ngành du lịch của các nước này. Mặt khác, tình trạng dịch bệnh, ô nhiễm môi trường… cũng là những nhân tố rất quan trọng tác động đến khách du lịch [12, tr.78].
1.1.4. Vai trò của du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
- a) Đối với chính trị.
Du lịch mang trong mình chức năng chính trị, thể hiện ở vai trò to lớn trong việc củng cố hoà bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dan tộc. Qua giao lưu và hoà nhập tìm hiểu các nền văn hoá xã hội khác nhau làm cho con người thêm hiểu nhau và biết xích lại gần nhau. Mỗi năm, hoạt động du lịch với các chủ đề khác nhau, như, “Du lịch là giấy thông hành hoà bình” (năm 1967); “Du lịch không chỉ là quyền lợi, mà còn là trách nhiêm của mỗi người” (năm 1983)… kêu gọi hàng triệu người quý trọng lịch sử, văn hoá và truyền thống của các quốc gia, giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc [17, tr.44].
- b) Đối với kinh tế.
Trong phạm vi toàn thế giới, du lịch góp phần tích cực vào việc xây dựng lại một trật tự kinh tế mới, xóa bỏ sự chênh lệch đáng kể giữa các nước phát triển và các nước đang phát triển. Du lịch quốc tế không chỉ là ngành mang lại hiệu quả kinh tế cao, mà còn là nguồn thu lớn đóng góp vào sự gia tăng GDP.
Du lịch được mệnh danh là “con gà đẻ trứng vàng”, bởi vì nó đóng vai trò lớn đối với sự phát triển kinh tế, góp phần tạo ra thu nhập quốc dân, làm tăng thu nhập quốc dân, là động lực thúc đẩy sự phát triển các ngành giao thông vận tải, bưu điện, ngân hàng, xây dựng, văn hóa, y tế… thúc đẩy quá trình sản xuất kinh doanh của nhiều ngành kinh tế khác như: công nghiệp, sản xuất vật liệu xây dựng, công nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng, tiểu thủ công nghiệp…
Thông qua tiêu dùng, du lịch có tác động mạnh mẽ lên lĩnh vực lưu thông và do vậy gây ảnh hưởng lớn lên những lĩnh vực khác của quá trình sản xuất xã hội. Kinh tế du lịch gây biến đổi cán cân thu chi của đất nước, của một vùng du lịch.
Phát triển du lịch quốc tế đồng nghĩa với việc đem lại nguồn thu ngoại tệ đáng kế cho đất nước thông qua chi tiêu của du khách quốc tế cho hoạt động du lịch. Ngoại tệ thu được từ hoạt động du lịch quốc tế góp phần cải thiện cán cân thanh toán thương mại quốc gia. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Du lịch quốc tế là phương tiện tuyên truyền và quảng cáo cho đất nước chủ nhà đồng thời còn có ý nghĩa quan trọng trong việc mở rộng và củng cố các mối quan hệ kinh tế quốc tế theo các hướng: ký kết hợp đồng trao đổi khách giữa các nước, các tổ chức, các hãng lữ hành và du lịch… Du lịch nội địa phát triển tốt sẽ củng cố sức khỏe cho nhân dân, người lao động sau thời gian nghỉ dưỡng, du lịch; do đó góp phần tăng năng suất lao động xã hội. Du lịch nội địa giúp cho việc sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật của du lịch quốc tế được hợp lý hơn (khi vắng khách quốc tế có thể sử dụng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho khách du lịch quốc tế vào phục vụ khách du lịch nội địa).
Ngoài ra, du lịch phát triển còn kích thích đầu tư. Sự đầu tư của nhà nước vào cơ sở hạ tầng và kiến trúc thượng tầng nhằm tạo điều kiện cho du lịch phát triển sẽ kích thích sự đầu tư rộng rãi của các tầng lớp nhân dân, của doanh nghiệp và của cả nhà đầu tư nước ngoài.
- c) Đối với xã hội.
Hiệu quả chiều sâu về nhiều mặt của du lịch ngày càng rõ nét: ở đâu du lịch phát triển, ở đó có diện mạo đô thị, nông thôn được chỉnh trang, sạch đẹp hơn, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt. Hoạt động du lịch đã thúc đẩy các ngành khác phát triển, tạo ra khả năng tiêu thụ tại chỗ cho hàng hóa và dịch vụ; mỗi năm, hàng chục lễ hội truyền thống được khôi phục, tổ chức dần đi vào nền nếp và lành mạnh, phát huy được thuần phong mỹ tục. Nhiều làng nghề thủ công truyền thống được khôi phục và phát triển, tạo thêm các điểm tham quan du lịch, sản xuất hàng lưu niệm, thủ công mỹ nghệ bán cho khách, nhân dân có thêm việc làm và thu nhập; góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, tăng thu nhập, xóa đói giảm nghèo và nhiều hộ dân ở không ít địa phương đã giàu lên nhờ làm du lịch.
Du lịch phát triển tạo thêm nguồn thu để tôn tạo và trùng tu các di tích, nâng cao ý thức và trách nhiệm của các cơ quan nhà nước và chính quyền địa phương và cộng đồng dân cư giữ gìn, phát triển di sản văn hóa. Tuyên truyền, quảng bá du lịch ở nước ngoài và tại chỗ trong nước đã truyền tải được giá trị văn hóa và bản sắc dân tộc đến bạn bè quốc tế, khách du lịch và nhân dân.
Du lịch góp phần phát triển yếu tố con người trong công cuộc đổi mới, góp phần nâng cao dân trí, đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân; mở rộng giao lưu giữa các vùng, miền trong nước và với nước ngoài; thực hiện tốt vai trò ngoại giao nhân dân với chức năng “sứ giả” của hòa bình, góp phần hình thành, củng cố môi trường cho nền kinh tế mở, đẩy mạnh phát triển kinh tế – xã hội và tranh thủ sự đồng tình, ủng hộ của quốc tế đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc
Đối với xã hội, du lịch có vai trò giữ gìn, phục hồi sức khỏe và tăng cường sức sống cho người dân. Du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người. Thông qua du lịch con người được thay đổi môi trường, có ấn tượng và cảm xúc mới, thỏa mãn trí tò mò, tăng cường hiểu biết, thoải mái tinh thần. Vì thế hoạt động du lịch có vai trò lớn trong việc nâng cao văn hóa tinh thần và tu dưỡng đạo đức cho nhân dân.
Du lịch là hoạt động trong không gian của con người, tạo cơ hội cho việc tiếp xúc trực tiếp của những người khác nhau, tạo khả năng cho con người mở mang hiểu biết lẫn nhau về lịch sử, văn hóa, phong tục tập quán, chế độ chính trị… Thông qua các cuộc tiếp xúc, trao đổi văn hóa hai chiều, văn hóa của khách du lịch và của dân địa phương được trau dồi và nâng cao.
Du lịch còn là phương tiện giáo dục lòng yêu nước, giữ gìn và nâng cao truyền thống dân tộc. Thông qua hoạt động du lịch làm tăng sự hiểu biết của mọi người đối với cảnh đẹp đất nước, lịch sử và văn hóa dân tộc, nhờ đó mà sinh ra và tăng thêm tinh thần yêu nước, tinh thần trách nhiệm với lịch sử, lòng tự hào dân tộc và ý thức bảo vệ môi trường của nhân dân.
- d) Đối với môi trường. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Hoạt động du lịch tác động lên môi trường tự nhiên ở các mặt sau:
Tác động đến môi trường nước: góp phần đảm bảo chất lượng nước trong và ngoài khu vực, giảm sức ép ô nhiễm nguồn nước. Du lịch phát triển kéo theo các dự án về cấp thoát nước trong từng khu du lịch như xây nhà máy nước sạch, đặt hệ thống chảy riêng nước thải rất có ý nghĩa làm sạch môi trường nước giúp dân địa phương có nước sạch để sinh hoạt. Đặc biệt trong mỗi khu du lịch đều tổ chức hệ thống ao, hồ có sự liên hệ với nhau, do đó nó có tác dụng đến việc khắc phục nạn úng thuỷ trong khu vực.
Tuy vậy, trong quá trình phát triển du lịch xấu cũng có một số tác động xấu tới môi trường nước như làm ô nhiễm nước mặt từ quá trình xây dựng các khu du lịch; ảnh hưởng tới diện tích lưu vực của nguồn nước, ô nhiễm từ các chất thải sinh hoạt của nhân viên và khách du lịch; ảnh hưởng tới lượng nước ngầm; ô nhiễm nước biển từ các hoạt động du lịch biển; ô nhiễm môi trường nước ngầm…
Tác động tới môi trường không khí: góp phần ổn định điều kiện vi khí hậu trong vùng, đáp ứng ngày càng nâng cao của du khách nên trong các khuông viên các khu, điểm du lịch đã bố trí các vườn hoa, công viên, rừng cảnh quan, hồ nước … có tác dụng tích cực vào việc điều hoà không khí, góp phần cải thiện khí hậu, và làm giảm bớt ô nhiễm không khí tại khu vực. Tuy vậy, việc phát triển du lịch cũng gây nên một số tác động xấu cho môi trường không khí như việc ô nhiễm không khí từ các phương tiện giao thông; gia tăng tiếng ồn, ô nhiễm không khí từ khách du lịch; ô nhiễm không khí từ chất thải sinh hoạt của hoạt động du lịch.
Tác động tới môi trường đất:góp phần tăng hiệu quả sử dụng đất thông qua việc xây dựng khách sạn, các khu vui chơi giải trí … Như vậy những diện tích đất được bỏ hoang nâng cao giá trị của mình và quan trọng la môi trường đất được cải tạo. Tuy nhiên hoạt động du lịch ảnh hưởng tới môi trường đất thể hiện ở các mặt sau: ảnh hưởng tới cơ cấu sử dụng đất; thay đổi câu trúc địa chất của khu vực; ô nhiễm đất từ các hoạt động du lịch.
Tác động tới môi trường sinh vật: thông qua việc quy hoạch các khu bảo tồn, vườn quốc gia góp phần hạn chế việc khai thác động thực vật quý hiếm bừa bãi. Bên cạnh đó trong khuôn viên các khu du lịch có bố trí các vườn cây, khu nuôi chim thú làm tăng tính đa dạng sinh học của vùng. Tuy nhiên, do vấn đề nhu cầu thực phẩm cung cấp cho hoạt động du lịch ngày càng tăng dẫn đến việc khai thác qua mức động vật quí hiếm gây tổn hại đến đa dạng sinh học. Các yếu tố ô nhiễm từ du lịch như rác thải, nước thải, khí gây mùi đều có thể ảnh hưởng tới hệ sinh vật và gây hiện tượng thiếu oxy.
1.2. Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn cấp huyện Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
1.2.1. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn cấp huyện
1.2.1.1. Khái niệm về quản lý nhà nước
Có nhiều quan niệm khác nhau về quản lý, chẳng hạn, các nhà khoa học như Koonz đã đưa ra khái niệm quản lý được thừa nhận rộng rãi trên thế giới. Theo đó, quản lý là sự tác động có chủ đích của chủ thể quản lý tới đối tượng quản lý nhằm đạt mục tiêu đề ra. Như vậy, quản lý là hoạt động có chủ đích của chủ thể tác động vào đối tượng bằng cơ chế tác động (nguyên tắc, phương pháp, công cụ).
QLNN xuất hiện cùng với sự ra đời của nhà nước, đó là quản lý toàn xã hội. Nội hàm của QLNN thay đổi phụ thuộc vào chế độ chính trị, lịch sử và đặc điểm văn hóa trình độ phát triển kinh tế xã hội của mỗi quốc gia qua các giai đoạn lịch sử. Xét về mặt chức năng, QLNN bao gồm 3 chức năng: thứ nhất là chức năng lập pháp do các cơ quan lập pháp thực hiện; thứ hai là chức năng hành pháp (hay chấp hành và điều hành) do hệ thống hành chính nhà nước đảm nhiệm và thứ ba là chức năng tư pháp do các cơ quan tư pháp thực hiện.
Trong hệ thống xã hội có nhiều chủ thể tham gia quản lý xã hội như: tổ chức chính trị, Nhà nước, tổ chức chính trị xã hội, tổ chức kinh tế, các đoàn thể nhân dân,… So với quản lý của các tổ chức khác thì QLNN có những điểm khác biệt:
- Về chủ thể: QLNN là các cơ quan, cá nhân trong bộ máy nhà nước được trao quyền, gồm: cơ quan lập pháp, cơ quan hành pháp, cơ quan tư pháp
- Đối tượng quản lý: tất cả các cá nhân, tổ chức sinh sống và hoạt động trong phạm vi lãnh thổ quốc gia; công dân làm việc bên ngoài lãnh thổ quốc gia
- Phạm vi quản lý toàn diện trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội như kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng,…
- Về tính chất: mang tính quyền lực nhà nước, sử dụng công cụ, chính sách để quản lý xã hội.
- Về mục tiêu: phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
Từ những phân tích trên có thể khẳng định “Quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật và chính sách để điều chỉnh hành vi của các cá nhân tổ chức trên tất cả các mặt của đời sống xã hội do các cơ quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm phục vụ nhân dân, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội”.
1.2.1.2. Khái niệm quản lý nhà nước về du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Du lịch là tổng hợp các hoạt động có tổ chức, kỹ thuật, kinh tế, văn hóa phục vụ cuộc hành trình và lưu trú của con người ở bên ngoài nơi cư trú với nhiều mục đích cá nhân, hoặc do nhu cầu công việc, chuyên môn, tìm kiếm việc làm, thực hiện thăm viếng thường xuyên, thực hiện sự phát triển cá nhân về phương diện kinh tế, xã hội, văn hóa và tinh thần, nghỉ ngơi, tiêu khiển, giải trí cùng với việc đẩy mạnh sự hiểu biết và sự hợp tác giữa mọi người. Các thành phần tham gia vào du lịch bao gồm: khách du lịch; các doanh nghiệp cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho khách du lịch; chính quyền sở tại; cộng đồng dân cư địa phương. Từ đó, có thể thấy rằng các thành tố trong hoạt động QLNN về du lịch, gồm: Chủ thể quản lý (các cơ quan QLNN về du lịch); đối tượng quản lý (các hoạt động trong lĩnh vực du lịch); công cụ quản lý (chiến lược, quy hoạch, chính sách, kế hoạch phát triển du lịch).
Từ những phân tích trên, học viên có thể đưa ra khái niệm QLNN về du lịch:
“Quản lý nhà nước về du lịch là sự tác động có tổ chức của các chủ thể nhà nước có thẩm quyền dựa trên các thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy lên các hoạt động du lịch nhằm định hướng các hoạt động này theo các mục tiêu đề ra trong từng giai đoạn”.
1.2.1.3. Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn cấp huyện
QLNN về du lịch tại cấp huyện đó là sự tác động của chính quyền cấp huyện tới hoạt động du lịch theo phân cấp chức năng, nhiệm vụ quản lý tới hoạt động du lịch để đạt mục tiêu kinh tế, xã hội của địa phương và quốc gia đề ra trong từng giai đoạn. Như vậy, chủ thể QLNN về du lịch gồm: cơ quan QLNN về du lịch cấp huyện là Ủy ban nhân dân (UBND) cùng với các cơ quan tư vấn, giúp việc như
Phòng Văn hóa – Thông tin, các Phòng, Ban có liên quan. Cơ quan QLNN về du lịch cấp huyện thực hiện quản lý theo phân cấp được quy định, dưới sự chỉ đạo của các cơ quan quản lý cấp trên và chịu sự giám sát của nhân dân.
Đối tượng quản lý: là các hoạt động du lịch và các hoạt động liên quan đến du lịch trên địa bàn cấp huyện.
Công cụ quản lý: các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở cấp huyện thực hiện quản lý du lịch bằng hệ thống các công cụ quản lý kinh tế như các chiến lược, quy hoạch, chính sách, kế hoạch phát triển du lịch, các quy định của pháp luật trong phạm vi thẩm quyền được phân cấp. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Từ các phân tích trên, có thể khẳng định “QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện là sự tác động có tổ chức của Ủy ban nhân dân cấp huyện trong phạm vi thẩm quyền của mình lên hoạt dộng du lịch trên địa bàn, đáp ứng các yêu cầu, tiêu chuẩn ngành nhằm đạt mục tiêu của ngành và mục tiêu của địa phương trong từng giai đoạn phát triển. Đó là mô hình quản lý theo ngành dọc kết hợp với quản lý theo lãnh thổ trên cơ sở phát huy tính chủ động, sáng tạo của chính quyền cấp huyện trong khung khổ được phân cấp”.
Sự tác động của UBND cấp huyện tới du lịch là sự tác động nhằm quản lý thông qua các nguyên tắc, phương pháp, công cụ quản lý như chiến lược, quy hoạch, chính sách, kế hoạch. Sự tác động ở đây nhằm thực hiện chức năng quản lý đối với du lịch, không làm chức năng kinh doanh thay các doanh nghiệp trên địa bàn cấp huyện.
1.2.2. Đặc điểm của quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn cấp huyện
- Đặc điểm về đối tượng quản lý.
Du lịch là một hoạt động phức tạp, gắn với sự hiện diện của du khách mà phần lớn đến từ địa phương khác, nước khác. Bên cạnh đó, du lịch mang tính đa dạng và có yếu tố quốc tế. Đây còn là dịch vụ mang tính liên ngành, liên vùng, mang tính tổng hợp có sự tham gia của các ngành khác nhau. Do đó, QLNN về du lịch cần có sự phối hợp liên ngành, liên vùng. Bên cạnh đó, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố còn mang đặc điểm gắn với yếu tố đô thị. Chẳng hạn, hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt với các tài nguyên du lịch gắn với yếu tố đô thị trung tâm vùng, gắn với điều kiện tự nhiên, cảnh quan…
- Đặc điểm về cấp quản lý.
Đặc thù của cấp huyện là cấp thừa hành, có phân quyền, vừa thực hiện pháp luật, chính sách của trung ương, vừa ban hành chính sách theo thẩm quyền. Cấp trung ương sẽ ban hành luật và các chính sách thống nhất QLNN về du lịch trên cả nước, từ đó, cấp tỉnh sẽ cụ thể hóa và triển khai thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách của trung ương để phát triển HĐDL phù hợp với thực tế địa phương, cấp huyện sẽ tổ chức thực hiện các chính sách đó. Trong phạm vi thẩm quyền, cấp huyện ban hành các chính sách để khai thác tiềm năng, thế mạnh về du lịch của địa phương; quản lý tài nguyên du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, hoạt động kinh doanh du lịch và hướng dẫn du lịch trên địa bàn. Do đó, khác với QLNN ở trung ương và cấp tỉnh, cấp huyện là cấp thừa hành, triển khai các chính sách của Trung ương và cấp tỉnh.
- Đặc điểm về địa bàn quản lý.
QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện (thành phố thuộc tỉnh) gắn với đặc thù địa bàn, điều kiện tự nhiên, tiềm năng, thế mạnh du lịch trên địa bàn. Gắn với điều kiện đô thị, ngoài các yếu tố về kết cấu hạ tầng cơ bản, các đô thị lớn thường có nhiều công trình văn hóa, tập trung nhiều vật kiến trúc lớn, do đó, tạo thành nhiều điểm tham quan và có thể trở thành trung tâm dịch vụ du lịch và đầu mối điều phối khách cho toàn vùng. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
1.2.3. Nội dung quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn cấp huyện
Hoạt động QLNN về du lịch trước đây được thực hiện theo nội dung của Điều 10, Luật Du lịch năm 2005 với 09 nội dung cụ thể: “1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển du lịch. 2. Xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện văn bản quy phạm pháp luật, tiêu chuẩn định mức kinh tế – kỹ thuật trong hoạt động du lịch. 3. Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch. 4. Tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; nghiên cứu, ứng dụng khoa học và công nghệ. 5. Tổ chức điều tra, đánh giá tài nguyên du lịch để xây dựng quy hoạch phát triển du lịch, xác định khu du lịch, điểm du lịch, tuyến du lịch, đô thị du lịch. 6. Tổ chức thực hiện hợp tác quốc tế về du lịch; hoạt động xúc tiến du lịch ở trong nước và nước ngoài. 7. Quy định tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về du lịch, sự phối hợp của các cơ quan nhà nước trong việc quản lý nhà nước về du lịch. 8. Cấp, thu hồi giấy phép, giấy chứng nhận về hoạt động du lịch. 9. Kiểm tra, thanh tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm pháp luật về du lịch” [31].
Tuy nhiên, qua thời gian thực hiện đã bộc lộ những hạn chế, yếu kém, gây khó khăn cho hoạt động QLNN về du lịch. Để đáp ứng yêu cầu đặt ra của thực tế, góp phần nâng cao hiệu quả QLNN về du lịch nói chung, ngày 19/6/2024, Quốc hội đã thông qua Luật Du lịch năm 2024, đây là cơ sở pháp lý chính để xác định nội dung QLNN về du lịch nói chung. Trên thực tế, khác với Luật Du lịch năm 2005 thì Luật Du lịch 2024 lại không đề cập trực tiếp nội dung QLNN về du lịch mà chỉ xác định trách nhiệm QLNN về du lịch của UBND các cấp tại Điều 75 với nội dung cụ thể: “1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương. 2. Ủy ban nhân dân các cấp có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư để khai thác tiềm năng, thế mạnh về du lịch của địa phương; hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng; b) Quản lý tài nguyên du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, hoạt động kinh doanh du lịch và hướng dẫn du lịch trên địa bàn; c) Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, an toàn thực phẩm tại khu du lịch, điểm du lịch, nơi tập trung nhiều khách du lịch; d) Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân để bảo đảm môi trường du lịch thân thiện, lành mạnh và văn minh; đ) Tổ chức bố trí nơi dừng, đỗ cho các phương tiện giao thông đã được cấp biển hiệu phương tiện vận tải khách du lịch để tiếp cận điểm tham quan du lịch, cơ sở lưu trú du lịch; tổ chức rà soát, lắp đặt biển báo, biển chỉ dẫn vào khu du lịch, điểm du lịch; e) Tổ chức tiếp nhận và giải quyết kiến nghị của khách du lịch; g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này” [34]. Về nội hàm thì Luật Du lịch năm 2024 đã xác định các nhiệm vụ trong QLNN về du lịch chi tiết và cụ thể hơn so với Luật Du lịch năm 2005; tuy nhiên, bởi vì xác định nhiệm vụ quá chi tiết và cụ thể lại gây khó khăn cho hoạt động QLNN về du lịch bởi vì có những nhiệm vụ trong QLNN về du lịch được Luật Du lịch năm 2005 đề cập nhưng đến Luật Du lịch 2014 lại bị cắt mất như: kiểm tra, thanh tra việc thực hiện pháp luật về du lịch; quy định về tổ chức bộ máy QLNN về du lịch; tổ chức, quản lý hoạt động đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; ứng dụng khoa học và công nghệ… Vì vậy, việc nghiên cứu nội dung của cả 02 Luật và xây dựng thành nội dung cơ bản về QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện là cần thiết. Theo đó, QLNN về du lịch gồm các nội dung: Xây dựng và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch; Xây dựng, ban hành văn bản QLNN về du lịch; Tổ chức bộ máy và nhân sự QLNN về du lịch; Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành du lịch; Quản lý các hoạt động xúc tiến, quảng bá du lịch, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch; Thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động du lịch, cụ thể: Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
1.2.3.1. Xây dựng và thực hiện các văn bản quản lý nhà nước, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch
Trong nền kinh tế thị trường, hoạt động du lịch diễn ra hết sức phức tạp, do đó, nhà nước phải đề ra các chính sách, chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch và dùng công cụ này tác động vào lĩnh vực du lịch để thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và bền vững, trở thành kinh tế mũi nhọn của quốc gia. Đề làm được điều này, nhà nước phải xác định được chiến lược tổng thể phát triển du lịch phù hợp với điều kiện đất nước, vừa phát huy được tính đặc thù, huy động được nội lực để tăng khả năng hấp dẫn khách du lịch, vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa tranh thủ được nguồn lực bên ngoài.
Trong hoạt động kinh doanh, mục tiêu cuối cùng là các đơn vị kinh doanh có lợi nhuận. Do đó, nếu không được định hướng phát triển đúng sẽ gây ra lãng phí, kém hiệu quả do không phù hợp với nhu cầu thị trường và thực tế phát triển của địa phương, nhất là các hoạt động đầu tư xây dựng phát triển kêt cấu hạ tầng các khu, điểm du lịch,…hoặc đầu tư xây dựng cơ sơ vật chất – kỹ thuật như nhà hàng, khách sạn,…Vì thế, nhà nước phải hết sức quan tâm đến việc xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch của đất nước.
Hệ thống các văn bản QLNN được xây dựng từ các quy định chính sách, pháp luật của Nhà nước, buộc mọi người phải tuân thủ theo. Để các quy định, chính sách đó đi vào cuộc sống thì Nhà nước phải xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện chúng một cách nghiêm chỉnh. Như vậy, muốn quản lý sự phát triển ngành du lịch tại địa phương, các cơ quan nhà nước ở địa phương cần chỉ đạo thực hiện các luật lệ, chính sách của Trung ương ban hành có hiệu quả ở địa phương mình, ban hành các văn bản QLNN tại địa phương xuất phát từ yêu cầu quản lý phát triển ngành ở địa phương nhưng không trái với luật pháp của Nhà nước. Mục đích là thiết lập môi trường pháp lý để đưa các hoạt động du lịch vào khuôn khổ, tạo điều kiện thuận lợi cho du lịch phát triển. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện các văn bản, các chính sách, pháp luật du lịch trên địa bàn, xử lý nghiêm minh mọi hành vi vi phạm pháp luật. Không tùy tiện thay đổi các chính sách của mình, xóa bỏ các văn bản cũ trái với các văn bản mới ban hành, giảm tối đa sự trùng lắp gây khó khăn cho hoạt động du lịch.
Việc ban hành các văn bản QLNN phải đảm bảo theo đúng quy định của pháp luật và quy định của cơ quan nhà nước cấp trên, vừa phải thông thoáng trên cơ sở sử dụng nguồn lực của địa phương để khuyến khích phát triển. Phải đảm bảo tính ổn định, bình đẳng và nghiêm minh trong quá trình thực thi văn bản QLNN.
1.2.3.2. Tổ chức bộ máy và nhân sự quản lý nhà nước về du lịch
Du lịch là hoạt động mang tính liên ngành, do đó QLNN đối với hoạt động du lịch phải tạo được những cân đối chung, điều tiết được thị trường, ngăn ngừa và xử lý những đột biến xấu, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho mọi hoạt động du lịch phát triển. Và để thực hiện tốt điều này thì tổ chức bộ máy QLNN phải được tổ chức thống nhất, đồng bộ, có hiệu quả từ Trung ương đến địa phương, đồng thời các cơ quan trong bộ máy đó phải luôn được phối hợp chặt chẽ với nhau để đảm bảo du lịch luôn có sự thống nhất trong tổ chức và hoạt động. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Điều 75, Luật Du lịch năm 2024 xác định trách nhiệm QLNN về du lịch của UBND các cấp với nội dung cụ thể: “1. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn của mình, thực hiện quản lý nhà nước về du lịch tại địa phương; cụ thể hóa chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch phù hợp với thực tế tại địa phương. 2. Ủy ban nhân dân các cấp có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây: a) Ban hành hoặc trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành các chính sách ưu đãi, thu hút đầu tư để khai thác tiềm năng, thế mạnh về du lịch của địa phương; hỗ trợ phát triển du lịch cộng đồng; b) Quản lý tài nguyên du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, hoạt động kinh doanh du lịch và hướng dẫn du lịch trên địa bàn; c) Bảo đảm an ninh, trật tự, an toàn xã hội, môi trường, an toàn thực phẩm tại khu du lịch, điểm du lịch, nơi tập trung nhiều khách du lịch; d) Tuyên truyền, nâng cao nhận thức của người dân để bảo đảm môi trường du lịch thân thiện, lành mạnh và văn minh; đ) Tổ chức bố trí nơi dừng, đỗ cho các phương tiện giao thông đã được cấp biển hiệu phương tiện vận tải khách du lịch để tiếp cận điểm tham quan du lịch, cơ sở lưu trú du lịch; tổ chức rà soát, lắp đặt biển báo, biển chỉ dẫn vào khu du lịch, điểm du lịch; e) Tổ chức tiếp nhận và giải quyết kiến nghị của khách du lịch; g) Thực hiện các nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này” [34]. Như vậy, theo nội dung điều này thì tại địa bàn cấp huyện, cơ quan thực hiện nhiệm vụ QLNN về du lịch trên địa bàn là UBND cấp huyện. Ngoài ra, UBND cấp xã trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình cũng hỗ trợ UBND cấp huyện trong việc thực hiện nhiệm vụ QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện.
Mặt khác, theo khoản 3, Điều 28, Luật Tổ chức chính quyền địa phương năm 2022 cũng khẳng định về vị trí, vai trò của UBND cấp huyện trong việc thực hiện nhiệm vụ QLNN về du lịch, cụ thể: “Tổ chức thực hiện ngân sách huyện; thực hiện các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, phát triển công nghiệp, xây dựng, thương mại, dịch vụ, du lịch, nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, mạng lưới giao thông, thủy lợi, xây dựng điểm dân cư nông thôn; quản lý và sử dụng đất đai, rừng núi, sông hồ, tài nguyên nước, tài nguyên khoáng sản, nguồn lợi ở vùng biển, tài nguyên thiên nhiên khác; bảo vệ môi trường trên địa bàn huyện theo quy định của pháp luật” [33].
Để thực hiện nhiệm vụ QLNN nói chung và QLNN về du lịch nói riêng trên địa bàn cấp huyện, UBND cấp huyện thành lập các cơ quan chuyên môn để tham mưu, giúp việc cho UBND cấp huyện với chức năng được nêu rõ tại khoản 1, Điều 3, Nghị định số 37/2021/NĐ-CP ngày 05/5/2021 quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh: “Cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp huyện; thực hiện chức năng tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của Ủy ban nhân dân cấp huyện và theo quy định của pháp luật; góp phần bảo đảm sự thống nhất quản lý của ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương” [9]. Theo nội dung tại khoản 6, Điều 7, Nghị định số 37/2021/NĐ-CP thì Phòng VHTT là cơ quan có chức năng: “Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Văn hóa; gia đình; thể dục, thể thao; du lịch; quảng cáo; bưu chính; viễn thông; công nghệ thông tin; phát thanh truyền hình; báo chí; xuất bản; thông tin cơ sở; thông tin đối ngoại; hạ tầng thông tin” [9]. Như vậy, UBND cấp huyện là cơ quan QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện và Phòng VHTT thuộc UBND cấp huyện là cơ quan chuyên môn có chức năng tham mưu, giúp việc cho UBND cấp huyện trong việc thực hiện nhiệm vụ QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Nhằm cụ thể hóa chức năng tham mưu, giúp việc của Phòng Văn hóa – Thông tin, ngày 14/9/2022, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch và Bộ Nội vụ đã ban hành Thông tư liên tịch số 07/2022/TTLT-BVHTTDL-BNV hướng dẫn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch thuộc Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Phòng Văn hóa và Thông tin thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh; tại Chương II của Thông tư đã quy định cụ thể về vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn, cơ cấu và tổ chức biên chế của Phòng VHTT, đây là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc thực hiện chức năng tham mưu, giúp việc trong QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện của cơ quan này.
Ngoài ra, các cơ quan chuyên môn khác thuộc UBND cấp huyện như Phòng Tài chính – Kế hoạch, Phòng Kinh tế – Hạ tầng, Phòng Quản lý đô thị… trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm tham mưu, giúp việc cho UBND cấp huyện và hỗ trợ Phòng VHTT trong công tác QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện.
1.2.3.3. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành du lịch
Cũng như các lĩnh vực khác, chất lượng nguồn nhân lực trong hoạt động du lịch cũng ảnh hưởng quyết định đến sự phát triển của lĩnh vực này. Bởi lẽ, từ cạnh tranh toàn cầu, cạnh tranh quốc gia, giữa các ngành các doanh nghiệp cho đến cạnh tranh từng sản phẩm suy cho cùng là cạnh tranh bằng trí tuệ của nhà quản lý và chất lượng nguồn nhân lực. Để hoạt động du lịch của một quốc gia, một vùng, một địa phương phát triển, việc tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch cần được quan tâm thực hiện thường xuyên.
Đặc biệt, những địa phương có nhiều tiềm năng để phát triển du lịch cần phải có chiến lược, kế hoạch phát triển, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, có như vậy mới khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch góp phần thúc đẩy nhanh sự phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
1.2.3.4. Quản lý các hoạt động xúc tiến, quảng bá, đầu tư cho du lịch, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch
Nhà nước quy định cơ chế thực hiện hoạt động tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch. Nhà nước đẩy mạnh công tác quảng bá, xúc tiến du lịch với các hình thức linh hoạt như: tham gia hội chợ du lịch quốc tế, khuyến khích các doanh nghiệp du lịch trong nước tham gia vào hoạt động xúc tiến du lịch trong và ngoài nước, thành lập các văn phòng đại diện du lịch Việt Nam ở nước ngoài, hợp tác quốc tế trong thực hiện các chương trình giới thiệu hình ảnh đất nước và con người Việt Nam, thuê sóng các kênh nổi tiếng nước ngoài phát sóng giới thiệu về vẻ đẹp tiềm ẩn của du lịch Việt Nam… Tranh thủ hợp tác quốc tế trong các hoạt động xúc tiến du lịch ở trong và ngoài nước, từng bước tạo dựng và nâng cao hình ảnh du lịch trên bình diện quốc tế; nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành, của nhân dân về vị trí, vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế – xã hội của đất nước.
Để những văn bản luật, những văn bản QLNN về du lịch được áp dụng nhanh chóng và chính xác cho các đối tượng có liên quan thì cần phải có sự tuyên truyền, phổ biến, giáo dục, thông tin một cách thường xuyên và liên tục. Việc tuyên truyền, phổ biến, giáo dục và thông tin phải được tiến hành rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng và ở khắp mọi nơi nhằm giúp cho nâng cao ý thức của các cá nhân, chủ thể khi tham gia hoạt động du lịch.
1.2.3.5. Thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động du lịch Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Sự phát triển nhanh của du lịch sẽ làm phát sinh các hành vi tiêu cực như phát sinh các hành vi tiêu cực như khai thác quá mức các công trình, khu, điểm du lịch, làm ô nhiễm môi trường sinh thái, những hoạt động kinh doanh du lịch trái với bản sắc văn hóa của đất nước, của địa phương…Do đó, cơ quan nhà nước phải chỉ đạo thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, thanh tra và giám sát đối với hoạt động du lịch để phòng ngừa hoặc ngăn chặn kịp thời những hành vi tiêu cực có thể xảy ra. Để thực hiện tốt nội dung này, cơ quan nhà nước cần phải làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và những quy định của tỉnh về đầu tư khai thác các điểm, khu du lịch trên địa bàn; thực hiện việc đăng ký và hoạt động theo đăng ký kinh doanh, nhất là những hoạt động kinh doanh có điều kiện như: kinh doanh lưu trú, kinh doanh lữ hành,…đồng thời cần xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về du lịch trên địa bàn.
1.2.4. Sự cần thiết của quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn cấp huyện
Thứ nhất, xuất phát từ vai trò của nhà nước trong quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế, xã hội.
Nhà nước ra đời là nhằm thực hiện vai trò, chức năng quản lý mọi mặt của đời sống kinh tế – xã hội. Bất cứ một lĩnh vực hoạt động nào cũng cần đến sự quản lý, điều tiết của nhà nước nhằn đảm bảo an ninh trật tự, phát triển kinh tế và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người, và du lịch cũng không ngoại lệ. Du lịch là một hiện tượng, một yếu tố cấu thành nên các hình thái kinh tế xã hội. Bên cạnh các quy luật chung, nó hình thành, vận động và phát triển theo những quy luật riêng của mình. Thực chất quá trình quản lý các hoạt động du lịch là việc tác động đến chúng nhằm thực hiện các mục tiêu đã định trước. Chính vì vậy, để đảm bảo cho ngành kinh tế du lịch phát triển ổn định, phát huy được tối đa những lợi ích và những hạn chế, tiêu cực thì cần phải có sự quản lý của nhà nước. Nhà nước cần thể hiện vai trò của mình để đảm bảo ngành du lịch phát triển theo định hướng, góp phần thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Thứ hai, sự quản lý của nhà nước đảm bảo cho du lịch phát triển ổn định, phát huy tối đa những lợi thế và hạn chế của những mặt trái.
Nhà nước là người đại diện cho nhân dân để đảm bảo các quyền trong Hiến pháp của công dân nói chung và văn hóa nói riêng, điều tiết sự phát triển hài hòa, phù hợp với sự phát triển của du lịch, lợi ích văn hóa của các nhóm xã hội, các yêu cầu phát triển và thỏa mãn du lịch của các dân tộc, các vùng miền trên lãnh thổ cả nước. Nhà nước sử dụng tất cả các biện pháp có thể để can thiệp vào hoạt động du lịch nhằm tạo ra môi trường du lịch lành mạnh, phân bổ các nguồn lực một cách tối ưu và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, phát triển xã hội một cách hài hòa, phù hợp với giá trị và văn hóa của một quốc gia, một vùng, một địa phương. Mặt khác, với tính chất mà một ngành kinh tế – xã hội mang lại những hiệu quả tổng hợp, cũng như các ngành kinh tế khác, du lịch muốn phát triển bền vững không thể đặt ngoài sự quản lý vĩ mô của Nhà nước.
Điều này xuất phát từ bản chất của du lịch là một lĩnh vực kinh tế mang tính đặc thù rõ nét, bên cạnh các quy luật chung, du lịch được hình thành, vận động và phát triển theo những quy luật riêng của mình. Theo đó, ngoài những tác động tích cực làm thay đổi bộ mặt kinh tế – xã hội của đất nước, hoạt động này cũng làm nảy sinh nhiều mặt tiêu cực, đặc biệt là đối với môi trường. Chính vì vậy, để đảm bảo cho ngành du lịch phát triển không thể thiếu sự quản lý của nhà nước.
Thứ ba, góp phần vào sự phát triển của du lịch và thúc đẩy các ngành khác phát triển.
Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, du lịch có quan hệ chặt chẽ với các ngành khác như giao thông, thuế, tài chính, điện, bưu điện,…Mối quan hệ giữa chúng là mối quan hệ qua lại chặt chẽ, sự phát triển của du lịch thúc đẩy các ngành khác phát triển và ngược lại, sự phát triển của các ngành khác góp phần không nhỏ để du lịch phát triển. Do vậy, phải xác định phát triển du lịch là nhiệm vụ chung của các cấp, các ngành có liên quan, đồng thời có sự thống nhất và phối hợp chặt chẽ để phát huy một cách có hiệu quả mối quan hệ giữa du lịch và các ngành khác. Sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan nhà nước có liên quan đến hoạt động du lịch sẽ tạo hiệu quả rộng lớn hơn, thúc đẩy tăng trưởng các yếu tố tích cực, hạn chế, khắc phục các yếu tố tiêu cực do hoạt động kinh doanh du lịch mang lại. Sự phối hợp này thể hiện thông qua việc xây dựng các quy chế liên ngành giữa các cơ quan QLNN về du lịch với các cơ quan ban ngành có liên quan… nhằm tạo ra cơ chế “một cửa” trong QLNN đối với du lịch và các hoạt động liên quan. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Thứ tư, nhà nước góp phần định hướng sự phát triển của du lịch bằng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch và cơ chế chính sách trên cơ sở tôn trọng các nguyên tắc của hoạt động du lịch và ngành du lịch.
Cụ thể là nhà nước không buông lỏng hay thả nối công tác quy hoạch, kế hoạch nhưng phải đổi mới công tác đó cho phù hợp với yêu cầu xã hội, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế. Cần phát huy tối đa mọi lợi thế về du lịch và các hoạt động phục vụ du lịch của quốc gia, vùng và địa phương. Thu hút mọi nguồn lực tham gia phát triển kinh tế – xã hội nói chung và của ngành du lịch nói riêng. Thông qua các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành du lịch, nhà nước sẽ định hướng cho các hoạt động du lịch phát triển theo hướng tích cực với việc khai thác hiệu quả và bền vững các tài nguyên du lịch, nhất là tài nguyên du lịch tự nhiên và lịch sử.
Thứ năm, sự quản lý của nhà nước sẽ tạo ra tính chất công bằng trong hoạt động kinh doanh du lịch.
Nó giúp cho các chủ thể kinh doanh du lịch hoạt động trong khuôn khổ cho phép, xóa bỏ dần các hành vi cạnh tranh không lành mạnh, thiếu văn minh, hoặc đơn thuần chỉ chạy theo lợi nhuận mà phá hoại môi trường sinh thái, gây ra những ảnh hưởng tiêu cực đối với xã hội. Cơ quan QLNN không chỉ đơn thuần là kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các doanh nghiệp mà còn có vai trò quan trọng trong việc giải quyết, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình hoạt động của các doanh nghiệp, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp được phát triển hoạt động kinh doanh của mình. Du lịch là hoạt động liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao, nếu buông lỏng QLNN để tự nó phát triển, hoạt động du lịch sẽ bị chệch hướng, thị trường bị lũng đoạn, tài nguyên du lịch bị khai thác kiệt quệ, không đảm bảo phát triển du lịch bền vững.
Như vậy, QLNN về du lịch là việc làm không thể thiếu và thực sự rất cần thiết đối với sự phát triển của đất nước nói chung và ngành du lịch nói riêng.
1.2.5. Các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn cấp huyện
1.2.5.1. Nhóm nhân tố khách quan Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Thứ nhất, môi trường an ninh, chính trị.
Trong QLNN về du lịch ở địa phương phải đảm bảo môi trường an ninh – chính trị, trật tự an toàn xã hội hòa bình, ổn định. Địa phương có môi trường an ninh – chính trị, trật tự an toàn xã hội, ổn định tạo điều kiện phát triển du lịch, có sức thu hút đối với du khách vì họ có cảm giác an toàn, yên ổn và đảm bảo trong chuyến du lịch. Ngược lại, địa phương sẽ không thu hút được du khách, nếu không đảm bảo được an toàn, khó khăn trong việc đi lại, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch bị tàn phá. Điều đó ảnh hưởng đến sự phát triển du lịch. Xu hướng phổ biến hiện nay là du khách luôn tìm đến những nơi có điều kiện an ninh, chính trị ổn định, nhằm đảm bảo sự an toàn cho chuyến đi.
Thứ hai, vị trí địa lý và tài nguyên du lịch.
Vị trí địa lý cũng có vai trò quan trọng đối với QLNN về du lịch. Vị trí địa lý được coi là thuận lợi đối với du lịch gồm điểm du lịch nằm trong khu vực phát triển du lịch, khoảng cách từ điểm du lịch đến các nguồn gửi khách du lịch không quá xa (khách không mất nhiều thời gian và chi phí đi lại trong chuyến du lịch của mình). Trong một số trường hợp, khoảng cách xa lại có sức hút đối với du khách có khả năng thanh toán cao và có tính hiếu kỳ. Thành phố (cấp huyện) là trung tâm kinh tế, công nghiệp, dịch vụ, đầu mối giao thông và những lợi thế khác sẽ thu hút du khách mạnh hơn. Có vị trí địa lý thuận lợi, chính quyền sẽ tạo được mối liên hệ, liên kết với các vùng khác trong sự phát triển của đô thị và du lịch.
Hệ thống kết cấu hạ tầng xã hội, điều kiện về cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch và tài nguyên du lịch, danh lam thắng cảnh, công trình, di sản văn hóa, lịch sử, nghệ thuật, phong tục tập quán,… là yếu tố giúp cho việc QLNN về du lịch hiệu quả. Đây là cơ sở để khai thác tiềm năng du lịch và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, đảm bảo thỏa mãn các nhu cầu của du khách, thu hút đa dạng du khách và giữ vai trò quan trọng trong quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm du lịch.
Thứ ba, điều kiện kinh tế xã hội và tài nguyện
Điều kiện về kinh tế sẽ có tác động đến QLNN về du lịch. Khi địa phương có một nền kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện cho việc khai thác hiệu quả hoạt động du lịch. Với nền kinh tế phát triển, sẽ đảm bảo cung cấp hàng hóa thiết yếu cho du lịch và nguồn vốn để duy trì, phát triển du lịch cũng như thiết lập các mối quan hệ kinh tế với bạn hàng trong việc cung ứng hàng hóa và dịch vụ đủ về số lượng, đảm bảo về chất lượng. Từ đó tạo điều kiện tăng thu ngoại tệ cho các tổ chức du lịch và cho địa phương. Do đó, với điều kiện kinh tế phát triển sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cơ quan QLNN về du lịch xây dựng chính sách phát triển du lịch.
Thứ tư, nguồn nhân lực.
Du lịch là ngành sử dụng nhiều nhân lực, vì vậy, nguồn nhân lực là một trong những nhân tố ảnh hưởng rất lớn đến QLNN về du lịch. Người lao động sẽ trực tiếp thực hiện các hoạt động du lịch, khai thác các nguồn lực phục vụ du lịch, cung cấp hàng hóa, sản phẩm phục vụ du khách. Địa phương xây dựng được nguồn nhân lực du lịch chất lượng cao là yếu tố quan trọng để tạo ra nhiều sản phẩm du lịch có chất lượng cao, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của điểm đến du lịch nói chung và mỗi doanh nghiệp nói riêng.
Thứ năm, nguồn vốn. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Nguồn vốn và quy mô, chất lượng hoạt động của các cơ sở cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch cũng ảnh hưởng lớn đến QLNN về du lịch của thành phố. Du lịch là một hoạt động kinh tế tổng hợp nên rất cần vốn để đầu tư phát triển như đầu tư trang bị cơ sở vật chất – hạ tầng, cơ sở lưu trú du lịch. Hoạt động du lịch địa phương có cạnh tranh thu hút được nhiều du khách hay không một phần lớn là nhờ vào mức độ hiện đại của cơ sở vật chất – hạ tầng và cơ sở lưu trú du lịch và điều này phụ thuộc vào quy mô, hiệu quả sử dụng nguồn vốn đầu tư. Số lượng, quy mô và chất lượng hoạt động của các cơ sở cung ứng sản phẩm, dịch vụ du lịch có ảnh hưởng quan trọng tới sự phát triển du lịch. Do đó, QLNN về du lịch cần đảm bảo điều kiện thuận lợi cho việc tham gia và hoạt động kinh doanh du lịch của các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp du lịch cung ứng ra thị trường những sản phẩm du lịch đáp ứng nhu cầu của du khách; đồng thời, cùng tồn tại và phát triển sẽ tạo ra sự cạnh tranh để nâng cao chất lượng phục vụ; đầu tư mở rộng quy mô để có điều kiện đầu tư chiều sâu, ứng dụng khoa học – công nghệ, mở rộng liên doanh liên kết, đào tạo nguồn nhân lực, phát triển đồng bộ các loại hình du lịch để hợp tác và hỗ trợ lẫn nhau cùng phát triển.
1.2.5.2. Nhóm nhân tố chủ quan
Thứ nhất, năng lực, cơ cấu tổ chức QLNN về du lịch.
Yếu tố này có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển du lịch. Tổ chức bộ máy QLNN về du lịch phù hợp với yêu cầu phát triển thì sẽ thúc đẩy du lịch phát triển nhanh và mạnh. Ngược lại, sẽ làm cho du lịch chậm phát triển, thậm chí không phát triển và sử dụng lãng phí tài nguyên du lịch. Nếu xây dựng được tổ chức có năng lực sẽ giúp cho QLNN về du lịch thuận lợi và hiệu quả.
Thứ hai, năng lực, trình độ của cán bộ QLNN về du lịch.
Đội ngũ CBCC thực hiện chức năng, nhiệm vụ của các cơ quan QLNN về du lịch, tham mưu xây dựng chính sách phát triển du lịch, ban hành các văn bản, quy định và tổ chức, điều hành, quản lý các hoạt động du lịch của địa phương. Do đó, họ sẽ là nhân tố quan trọng góp phần xây dựng, tạo lập môi trường cho hoạt động du lịch như: Lập kế hoạch quản lý và xây dựng cơ sở hạ tầng; phát triển nguồn nhân lực; phát triển sản phẩm, công nghệ và phát triển các hệ thống; các ngành liên quan và mua sắm.
Trong bối cảnh hiện nay, QLNN về du lịch đòi hỏi ngày càng được nâng cao để đáp ứng nhu cầu phát triển. Năng lực, trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất của đội ngũ cán bộ quản lý có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả và hiệu lực của QLNN về du lịch. Nếu năng lực quản lý giỏi, trình độ chuyên môn cao và có phẩm chất đạo đức thì việc xây dựng chính sách, hoạch định, quy hoạch phát triển và việc tổ chức, điều hành hoạt động du lịch của địa phương sẽ sát thực tế, khả thi, nhanh chóng và hiệu quả… Ngược lại, sẽ làm cho việc QLNN về du lịch trì trệ, kém hiệu quả, làm cho hoạt động du lịch của địa phương chậm phát triển.
Thứ ba, cơ chế, chính sách QLNN về du lịch. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Cơ quan QLNN về du lịch thực hiện quản lý theo phân cấp, dưới sự chỉ đạo của các cơ quan quản lý cấp trung ương, chịu sự giám sát của nhân dân và kiểm nghiệm của thị trường. Các cơ quan, tổ chức có thẩm quyền ở cấp huyện thực hiện quản lý du lịch bằng hệ thống các công cụ quản lý kinh tế như chiến lược, quy hoạch, chính sách, kế hoạch phát triển du lịch, các quy định của pháp luật trong phạm vi thẩm quyền được phân cấp.
Chính quyền địa phương căn cứ vào thẩm quyền của mình sẽ tổ chức thực hiện pháp luật và chủ trương, chính sách của Nhà nước Trung ương trên địa bàn huyện. Đồng thời, xây dựng và thực thi các chính sách phát triển nhằm tạo lập môi trường thuận lợi cho hoạt động du lịch và doanh nghiệp du lịch. Do đó, chính quyền địa phương có các chính sách, cơ chế phù hợp với yêu cầu thực tiễn của địa phương và pháp luật, chủ trương, chính sách của Nhà nước Trung ương sẽ góp phần nâng cao hiệu quả của QLNN về du lịch. Việc QLNN về du lịch của địa phương tốt sẽ tháo gỡ được nhiều khó khăn vướng mắc, giải phóng các rào cản để huy động nguồn lực cho đầu tư phát triển du lịch, đảm bảo sử dụng nguồn lực đúng mục đích, tiết kiệm, hiệu quả và bảo vệ được môi trường sinh thái; khai thác được nguồn lực du lịch phục vụ quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; chuyển dịch cơ cấu kinh tế và các mục tiêu KT-XH, quốc phòng, an ninh.
Chính quyền địa phương thiếu quan tâm, buông lỏng QLNN về du lịch, thiếu kiểm tra, kiểm soát việc thực thi chủ trương, chính sách về hoạt động du lịch của các bên tham gia sẽ làm phát sinh các hiện tượng vi phạm, tác động tiêu cực đến phát triển hoạt động du lịch. Vì vậy, các cấp chính quyền phải có trách nhiệm thực hiện đúng chức năng QLNN đối với du lịch, tạo sự ảnh hưởng tích cực trong hoạt động QLNN của mình.
1.3. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch của một số địa phương
1.3.1. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch của thành phố Vũng Tàu
Vũng Tàu là thành phố thuộc tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, ở vùng Đông Nam Bộ Việt Nam. Vũng Tàu là một thành phố biển có 42 km bờ biển bao quanh, Diện tích 141,1 km² với dân số khoảng hơn 500.000 người (năm 2025).Vũng Tàu từng là trung tâm kinh tế, tài chính, văn hóa và giáo dục của tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu và là một trong những trung tâm kinh tế của vùng Đông Nam Bộ. Vũng Tàu là một thành phố ven biển, một địa điểm du lịch của miền Nam Việt Nam. Vũng Tàu thích hợp cho những chuyến nghỉ ngơi, thư giãn vào cuối tuần hay các dịp lễ. Đến đây, ngoài tắm biển, tham quan bạn sẽ bị thu hút bởi những món ăn ngon và một thành phố năng động, mến khách. Bãi Sau là bãi biển thường được khách du lịch
Vũng Tàu lựa chọn để tắm biến nhất. Ngoài ra, Vũng Tàu cũng có những điểm tham quan đáng chú ý như Tượng Chúa Kitô Vua trên núi Nhỏ, Chùa Thích Ca Phật Đài và tòa Bạch Dinh nằm sát biển. Lễ hội Nghinh Ông và lễ hội Dinh Cô là hai lễ hội văn hóa nổi bật nhất của Vũng Tàu. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Thời gian qua, TP.Vũng Tàu đã đẩy mạnh QLNN về du lịch, qua đó, môi trường văn hóa, kinh doanh du lịch trên địa bàn thành phố từng bước được cải thiện. Nhằm nâng cao kỹ năng và cung cách phục vụ khách hàng, hàng năm, TP.Vũng Tàu phối hợp với Sở Công thương tổ chức các lớp tập huấn về kỹ năng bán hàng và văn hóa kinh doanh cho cán bộ quản lý và nhân viên khách sạn, nhà hàng, quán ăn trên địa bàn thành phố. Từ năm 2021 đến nay, đã có hơn 900 học viên được cấp chứng chỉ. Thành phố cũng thành lập đường dây nóng nhằm chấn chỉnh tình trạng gian lận thương mại, lắp đặt panô quảng bá địa chỉ tin cậy du lịch…Bên cạnh đó, từ năm 2021 đến nay, đoàn kiểm tra liên ngành TP.Vũng Tàu đã tổ chức kiểm ra 298 lượt cơ sở lưu trú và dịch vụ, xử phạt hành chính với 61 cơ sở, trong đó, phạt cảnh cáo 15 cơ sở, phạt tiền 46 cơ sở, thu nộp kho bạc nhà nước 166 triệu đồng. Đến nay, địa chỉ đen về “chặt chém” du khách trên địa bàn thành phố đã được xử lý, lấy lại uy tín cho ngành du lịch Vũng Tàu.Bên cạnh đó, UBND TP.Vũng Tàu đã chủ động ban hành các văn bản chỉ đạo các đơn vị kinh doanh du lịch thực hiện niêm yết giá, bán hàng hóa, dịch vụ theo đúng giá của cơ quan có thẩm quyền quy định, các dịch vụ phục vụ du lịch như: giá giữ xe, giá thuê phao dù, ghế bố, tắm nước ngọt, thuê phòng trọ, khách sạn, nhà hàng… nhằm bảo đảm việc kinh doanh lành mạnh, tạo sự yên tâm cho du khách khi đến Vũng Tàu.
Hiện tại, Vũng Tàu có 1.540 cơ sở lưu trú du lịch, trong đó, có 497 khách sạn, nhà nghỉ với 7.098 phòng, có 112 khách sạn, khu resort đạt chuẩn từ 1-5 sao.
Năm 2025, ngành du lịch Vũng Tàu đón và phục vụ hơn 10 triệu lượt khách. Trong đó, khách lưu trú đạt 2,1 triệu lượt; tăng 13,2% so với cùng kỳ, khách quốc tế lưu trú đạt 424.000 lượt; tăng 14,18 % so với cùng kỳ. Tổng thu từ du lịch đạt 14.248 tỷ đồng, tăng 13% so với cùng kỳ. Đây là thành quả quan trọng góp phần vào thắng lợi chung của du lịch Việt Nam năm 2025. Bài học kinh nghiệm QLNN từ thành phố Vũng Tàu:
Quản lý môi trường du lịch an toàn, thân thiện để khách yên tâm; nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch và cung cách phục vụ.
Tổ chức và đa dạng các sản phẩm du lịch: duy trì tổ chức các lễ hội, giải thể thao, bóng chuyền bãi biển, festival diều quốc tế, lễ hội ẩm thực phố biển… một cách quy mô và lan tỏa trong cộng đồng để thu hút du khách.
Xây dựng các công trình, dự án du lịch của tỉnh đầu tư trên địa bàn, nhất là hệ thống kết cấu hạ tầng, vệ sinh môi trường; thành lập phòng du lịch và trung tâm hướng dẫn du lịch; thành lập đội cảnh sát du lịch TP.Vũng Tàu để cùng với các cơ quan QLNN làm tốt hơn nhiệm vụ phát triển và giữ gìn hình ảnh, môi trường du lịch của thành phố.
Phát huy vai trò quản lý về du lịch đối với tất cả các đối tượng, mọi thành phần kinh tế hoạt động kinh doanh dịch vụ và dịch vụ du lịch trên địa bàn toàn thành phố, tăng cường phối hợp với các cấp, các ngành để tạo được sự chuyển biến đồng bộ trong hoạt động du lịch.
Có sự phối hợp giữa các ngành chức năng tăng cường phòng chống tệ nạn xã hội, đảm bảo an ninh trật tự, an toàn cho du khách và bảo vệ môi trường trên địa bàn. Sắp xếp ổn định bộ máy theo hướng tinh gọn, đẩy mạnh tin học hóa trong hoạt động QLNN, giải quyết kịp thời khó khăn, vướng mắc của các doanh nghiệp du lịch, tạo sự gắn bó, hợp tác vì mục tiêu phát triển du lịch. Phát huy và nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo nhà nước về du lịch tỉnh và Hiệp hội du lịch tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
1.3.2. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về du lịch của thành phố Đà Nẵng
Đà Nẵng nằm ở vị trí trung tâm của các di sản văn hóa thế giới của khu vực miền Trung (Thánh địa Mỹ Sơn, Phố cổ Hội An, Cố đô Huế), có cảng biển, sân bay quốc tế, hệ thống cơ sở hạ tầng du lịch khá đồng bộ, có nguồn tài nguyên du lịch phong phú như danh thắng Ngũ Hành Sơn, bảo tàng điêu khắc Chăm, bán đảo Sơn Trà, khu nghỉ mát sinh thái Bà Nà Hills, các bãi tắm được ca ngợi đẹp nhất thế giới (Mỹ Khê, Non Nước, Bắc Mỹ An). Đà Nẵng đã và đang trở thành điểm đến an toàn và thân thiện đối với du khách. Lượng khách du lịch đến Đà Nẵng ngày càng đông, tăng trưởng hàng năm. Tổng thu du lịch 6 tháng đầu năm 2025 của Đà Nẵng ước đạt hơn 13.925 tỷ đồng. Trong 6 tháng đầu năm 2025, thành phố đón hơn 1,6 triệu lượt khách quốc tế. Bài học chủ yều của Đà Nẵng trong QLNN về du lịch là: 1) Đã chú trọng đầu tư phát triển đa dạng sản phẩm du lịch, chất lượng dịch vụ du lịch được củng cố và nâng cao, đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của du khách với các sản phẩm mới như: quần thể du lịch sinh thái Bà Nà – Suối Mơ, Bán đảo Sơn Trà, các khu du lịch Hòa Phú Thành, Phước Nhơn; Công viên suối khoáng nóng Núi Thần Tài.
Quan tâm đầu tư cho xúc tiến quảng bá du lịch, tham gia các hội chợ, triển lãm du lịch; quảng bá đến các thị trường quốc tế với qui mô ngày càng tăng về số lượng và chất lượng; Thành phố tổ chức nhiều sự kiện lớn: Cuộc thi trình diễn pháo hoa quốc tế, cuộc thi marathon quốc tế, Cuộc đua thuyền buồm quốc tế Clipper Race, Khai trương mùa du lịch biển.
Giải quyết các mối quan hệ giữa các đối tác có liên quan. Chính quyền có tầm nhìn trong quy hoạch và phát triển hạ tầng đảm bảo cho thành phố Đà Nẵng phát triển bền vững không gặp phải những thách thức về tình trạng quá tải trong mấy chục năm kế tiếp; có những chính sách đúng đắn, để thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư chiến lược.
Vận động cộng đồng dân cư thực hiện những chính sách của chính quyền thành phố và tạo ra sự hưởng lợi cho người dân địa phương gắn với du lịch. Người dân địa phương vừa là người thực hiện những chính sách của thành phố, vừa là người được hưởng lợi từ các chính sách đó. Người dân địa phương thấy được niềm tự hào về thành phố của mình. Đây là một giá trị tinh thần mang ý nghĩa động lực để tạo ra sự phát triển cho du lịch Đà Nẵng.
Hỗ trợ các doanh nghiệp kinh doanh du lịch, tạo điều kiện thuận lợi nhất thông qua các thủ tục hành chính, ban hành các cơ chế chính sách, tạo môi trường đầu tư tốt nhất cho doanh nghiệp phát triển.
Kết nối các điểm đến trên địa bàn với các sản phẩm ở trung tâm thành phố kết hợp mua sắm và giải trí, sản phẩm nghỉ dưỡng biển, sản phẩm nghỉ dưỡng núi. Bên cạnh đó là sự kết nối liên tỉnh với Hội An, Mỹ Sơn ở phía Nam; và Huế, Quảng Bình ở phía Bắc. Như vậy, Đà Nẵng không chỉ phát triển du lịch của mình mà còn hỗ trợ và mang đến dòng khách quốc tế và nội địa cho các điểm đến khác trong vùng. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Bên cạnh đó, du lịch Đà Nẵng vẫn còn những vấn đề như tour giá rẻ hay tour “0 đồng”; tình trạng kinh doanh lữ hành trái phép, hướng dẫn viên xuyên tạc lịch sử; một số doanh nghiệp lữ hành ý thức pháp luật chưa đầy đủ, cạnh tranh không lành mạnh, tiếp tay cho người Trung Quốc, Hàn Quốc kinh doanh lữ hành và hoạt động hướng dẫn du lịch trái pháp luật; các tổ chức xã hội nghề nghiệp về du lịch chưa kết nối được các doanh nghiệp để nâng cao năng lực kinh doanh.
Tour giá rẻ hay tour “0 đồng”, chủ yếu xuất hiện ở thị trường khách Trung Quốc. Tour này phụ thuộc vào chi tiêu mua sắm từ du khách để thu lợi nhuận bù lại cho giá rẻ, nên có sự thỏa thuận ngầm giữa doanh nghiệp lữ hành, hướng dẫn viên và cơ sở mua sắm. Cơ sở mua sắm bán hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ, kém chất lượng với giá cao hơn so với giá trị thực tế, giao dịch bằng ngoại tệ trái phép; thanh toán qua máy chấp nhận thanh toán thẻ của ngân hàng nước ngoài (POS) hoặc ứng dụng thanh toán điện tử trên thiết bị di động (Wechatpay… ), không xuất hóa đơn tài chính, làm thất thuế của Đà Nẵng.
Tình trạng kinh doanh lữ hành trái phép, hướng dẫn viên xuyên tạc lịch sử. tour giá rẻ gây ảnh hưởng xấu đến hình ảnh du lịch Đà Nẵng… Doanh nghiệp lữ hành có quy mô nhỏ, chưa khai thác được thị trường quốc tế, do đó chịu sự ép giá, chi phối nguồn khách từ đối tác nước ngoài. Một số doanh nghiệp lữ hành ý thức pháp luật chưa đầy đủ, cạnh tranh không lành mạnh, tiếp tay cho người Trung Quốc, Hàn Quốc kinh doanh lữ hành và hoạt động hướng dẫn du lịch trái pháp luật. Một số bộ phận hướng dẫn viên tiếng Trung, tiếng Hàn còn yếu về kỹ năng và ngoại ngữ, có biểu hiện xuống cấp về đạo đức, nặng về lợi ích kinh tế, chèn ép khách vào các điểm mua sắm; có tình trạng một số HDV sử dụng bằng cấp giả, thẻ giả để hoạt động gây ảnh hưởng đến chất lượng phục vụ.
Có thể thấy việc QLNN về du lịch ở Đà Nẵng bên cạnh những thành công vẫn còn có những hạn chế nhất định: Đội ngũ những người làm công tác QLNN về du lịch gặp khó cả về số lượng lẫn chất lượng; Vấn đề phân cấp, phân quyền quản lý hoạt động du lịch ảnh hưởng tới chất lượng của công tác QLNN. Điều này thể hiện rõ nhất thông qua việc kiểm tra, kiểm soát những vi phạm của các doanh nghiệp du lịch. Chính điều này đã gây nên những khó khăn cho chính quyền thành phố Đà Nẵng trong công tác chấn chỉnh hoạt động kinh doanh lữ hành như thời gian vừa qua. Việc kiểm soát, thống kê số lượng các cơ sở kinh doanh dịch vụ lữ hành nội địa, quốc tế, đại lý lữ hành, cũng như việc nắm bắt hạng sao của các cơ sở lưu trú trên địa bàn còn nhiều bất cập, chủ yếu là do chưa có sự phối hợp đồng bộ giữa các ban, ngành của thành phố. Đó là nguyên nhân khiến du lịch Đà Nẵng chưa thể “cất cánh”.
1.3.3. Bài học kinh nghiệm Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Từ thành công và hạn chế trong công tác QLNN về du lịch của hai địa phương, có thể rút ra một số giá trị tham khảo như sau:
Một là, phải xây dựng được quy hoạch tổng thể để phát triển du lịch cho thời gian dài, hợp lý; có chiến lược, kế hoạch và các chính sách khai thác tiềm năng, thúc đẩy du lịch phát triển vững chắc.
Để phát triển du lịch, chính quyền địa phương cần phải đặc biệt quan tâm đến công tác xây dựng quy hoạch dài hạn. Công tác này thực hiện tốt sẽ gia tăng những lợi ích từ du lịch cho cộng đồng, doanh nghiệp và giảm thiểu những tác động tiêu cực mà hoạt động du lịch có thể gây ra. Thực hiện công tác này tốt sẽ tạo điều kiện thúc đẩy phát triển hoạt động du lịch, khắc phục những hậu quả nghiêm trọng về môi trường. Ngoài ra, việc lập chiến lược, kế hoạch và các chính sách khai thác tiềm năng du lịch sẽ thiết lập được các mục tiêu và tìm ra giải pháp để thực hiện được mục tiêu đó; tạo sự thống nhất trong phát triển hoạt động du lịch tổng thể, thiết lập các mối liên kết giữa hoạt động du lịch với hoạt động của các ngành kinh tế khác; đưa ra những định hướng cơ bản về quy mô phát triển các điểm du lịch.
Hai là, ban hành các chính sách để đa dạng hóa các sản phẩm du lịch, đồng thời tạo ra các sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương để thu hút du khách.
Việc đa dạng hóa các sản phẩm du lịch và tạo ra sản phẩm du lịch đặc thù của địa phương sẽ thu hút nhiều du khách. Do đó, chính quyền địa phương cần tạo điều kiện và có các chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp du lịch phát triển đa dạng, phong phú các sản phẩm du lịch, tạo ra sản phẩm mới mang tính đặc thù.
Ba là, hoàn thiện bộ máy QLNN về du lịch và quan tâm đến việc đào tạo, phát triển nguồn nhân lực du lịch.
Thường xuyên củng cố, kiện toàn, nâng cao năng lực quản lý, điều hành của cơ quan tham mưu về quản lý du lịch. Để cơ quan này phát huy được vai trò, thể hiện tốt chức năng của mình trong công tác QLNN về du lịch, cần phải quan tâm đến công tác đào tạo đội ngũ cán bộ, áp dụng các hình thức điều động, luân chuyển, tạo điều kiện để cán bộ có điều kiện tiếp cận thực tiễn, đồng thời cần phải thường xuyên tổ chức các cuộc giao lưu với các địa phương, tỉnh bạn để học hỏi, trao đổi kinh nghiệm trong quản lý, tổ chức điều hành hoạt động du lịch. Coi trọng công tác đào tạo và phát triển nguồn nhân lực với trình độ chuyên môn, kiến thức về du lịch đáp ứng được nhu cầu phát triển ngày càng cao của du lịch trong hội nhập quốc tế.
Bốn là, làm tốt công tác tuyên truyền, xúc tiến du lịch.
Có thể nói, làm tốt công tác tuyên truyền, quảng bá du lịch là một trong những kinh nghiệm quan trọng để thúc đẩy du lịch phát triển. Mục đích của tuyên truyền, xúc tiến du lịch là nhằm giới thiệu, quảng bá sản phẩm du lịch của địa phương đến với du khách và tìm kiếm thị trường tiềm năng, từ đó thu hút khách đến tham quan nhiều hơn. Ngoài ra, cần bố trí nguồn kinh phí hợp lý đối với công tác này. Trong bối cảnh hiện nay, QLNN về du lịch phải coi trọng sự liên kết, hợp tác với các địa phương, vùng, các doanh nghiệp du lịch để hỗ trợ, bổ sung cho nhau, góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động du lịch. Liên kết càng chặt chẽ, bền vững càng làm tăng sức mạnh tổng hợp, nâng cao sức cạnh tranh và càng mở rộng khả năng thu hút khách.
Năm là, thực hiện thường xuyên công tác kiểm tra, giám sát đối với du lịch.
Qua thực tiễn QLNN về du lịch ở hai địa phương trên cho thấy, cùng với sự phát triển nhanh của du lịch thì các vấn đề tiêu cực ảnh hưởng đến sự phát triển hoạt động du lịch cũng nảy sinh và phát triển nhanh chóng. Vì vậy, cần phải thường xuyên thực hiện công tác kiểm tra, giám sát để ngăn chặn những hiện tượng tiêu cực, giúp du lịch phát triển lành mạnh.
Tiểu kết Chương 1 Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
Trong nội dung Chương 1, Luận văn đã tập trung làm rõ cơ sở khoa học và pháp lý của QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện, cụ thể Luận văn đã đi sâu nghiên cứu và làm rõ các nội dung sau:
- Thứ nhất, Luận văn đã trình bày nội dung tổng quan về du lịch, trong đó phân đã tập trung phân tích và làm rõ khái niệm, đặc điểm, vai trò của du lịch.
- Thứ hai, Luận văn đã trình bày các quan niệm QLNN, QLNN về du lịch cũng như đưa ra khái niệm QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện; xác định rõ nội dung QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện, sự cần thiết của QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện.
- Thứ ba, Luận văn cũng đã hệ thống hóa và làm sáng tỏ cơ sở pháp lý và tổ chức bộ máy QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện.
- Thứ tư, Luận văn đã tổng hợp và trình bày kinh nghiệm QLNN về du lịch của một số địa phương trên toàn quốc; từ đó rút ra bài học kinh nghiệm về QLNN về du lịch trên địa bàn cấp huyện.
Chương 1 là cơ sở lý luận, tiền đề, nền tảng vững chắc để học viên tiếp tục đi sâu phân tích thực trạng của hoạt động du lịch và thực trạng QLNN đối với lĩnh vực này trên địa bàn thành phố Đà Lạt. Từ đó đánh giá một cách chính xác những thành tựu đạt được; những hạn chế, yếu kém trong công tác QLNN cùng những nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém đó. Luận văn: Quản lý nhà nước về du lịch trên thành phố Đà Lạt.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt