Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là một vấn đề không thể thiếu trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia, thể hiện quan điểm của Nhà nước về cách thức xử lý người phạm tội, vừa đảm bảo trật tự an toàn cho xã hội nhưng phải đạt được mục đích bảo vệ quyền con người, kể cả khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Từ phương diện lý luận, ở Việt Nam hiện nay rất ít công trình nghiên cứu khoa học đề cập và phân tích một cách chuyên sâu về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Định nghĩa, các đặc điểm của tuổi chịu Trách nhiệm hình sự và cơ sở của việc quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự chưa được làm rõ để có được sự thống nhất về mặt nhận thức đối với vấn đề này.
Từ phương diện thực tiễn, tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là vấn đề cần làm rõ trong quá trình giải quyết các vụ án hình sự, đặc biệt là đối với những vụ án hình sự do người chưa thành niên phạm tội. Các cơ quan tiến hành tố tụng còn chưa hiểu đúng về cách tính tuổi chịu Trách nhiệm hình sự dẫn đến việc áp dụng không thống nhất pháp luật hình sự. Mặt khác, trong bối cảnh đất nước hiện nay, tình hình tội phạm ngày càng gia tăng về cả số lượng lẫn mức độ nguy hiểm cho xã hội. Đặc biệt hơn cả, vấn đề nóng hổi hiện nay đó là hiện tượng “trẻ hóa tội phạm”, đây là hiện tượng độ tuổi của người thực hiện hành vi phạm tội ngày càng giảm và ở mức thấp trung bình từ 14 đến 18 tuổi, thậm chí dưới độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự với các hành vi phạm tội manh động, liều lĩnh, cũng như mức độ gây nguy hiểm cho xã hội đặc biệt nghiêm trọng. Thực tiễn này gây ra nhiều tranh cãi xoay quanh việc có nên giảm tuổi chịu Trách nhiệm hình sự xuống thấp hơn hay không.
Từ phương diện pháp lý, quy định pháp luật trong Bộ luật hình sự 2015 về độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự còn có những điểm chồng chéo, chưa rõ ràng.
Đồng thời, định nghĩa về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự chưa được chính thức quy định trong Bộ luật hình sự. Tất cả dẫn đến việc hiểu và áp dụng chưa thống nhất, còn nhiều bất cập. Mặc dù đã được pháp điển hóa lần thứ ba nhưng quy phạm về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự vẫn còn những nhược điểm đặt ra cho các nhà khoa học, các nhà nghiên cứu cũng như các nhà lập pháp cần phải nghiên cứu, suy ngẫm và khắc phục lại để hoàn thiện pháp luật.
Xuất phát từ những lý do trên, tác giả đã quyết định lựa chọn đề tài: “Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017)” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Về tình hình nghiên cứu, tính tới thời điểm hiện tại thì số lượng các công trình nghiên cứu khoa học về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự không nhiều, tính tới thời điểm hiện tại vẫn chưa có một công trình nghiên cứu nào viết riêng về chế định này. Tuy nhiên, cũng có thể kể đến một số công trình nghiên cứu khoa học như:
Luận văn thạc sỹ gồm có:
- Những vấn đề lý luận và thực tiễn về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự theo luật hình sự Việt Nam, Trần Thị Hoàng Lan, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học Quốc Gia, 2012,
- Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Việt Nam, Thiều Cẩm Sơn, Luận văn thạc sĩ luật học, Viện hàn lâm khoa học xã hội Việt Nam – học viện khoa học xã hội, 2017;
Sách chuyên khảo, bình luận gồm có:
- Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam (sửa đổi và bổ sung của GS.TS. Võ Khánh Vinh nxb Công an nhân dân, “Bình luận khoa học Bộ luật hình sự 1999 – Phần chung”, NXB Thành phố Hồ Chí Minh.
- Những vấn đề cơ bản trong khoa học Luật hình sự (Phần chung), GS.TSKH. Lê Văn Cảm, nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2005.
- Tội phạm và Trách nhiệm hình sự, TS. Trình Tiến Việt, nxb Công an nhân dân, 2013.
Các bài viết trên tạp chí:
- Một số kiến nghị hoàn thiện các quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Việt Nam, Nguyễn Văn Niên, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 1/2015, tr. 35 – 41,
- Một số quy định sửa đổi, bổ sung liên quan đến tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015, Nguyễn Tuyết Mai, Tạp chí Tòa án nhân dân – Tòa án nhân dân tối cao, Số 18/2015, tr. 1 – 6, 18.
- Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Luật Hình sự Việt Nam, Phạm Văn Báu, tạp chí Luật học –Trường Đại học Luật Hà Nội.
Ngoài ra, giáo trình của một số cơ sở đào tạo luật trên cả nước đều đề cập đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự, như: Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I, Trương Quang Vinh, Nxb Công an nhân dân, Hà Nội năm 2005; Giáo trình Luật hình sự Việt Nam (Phần các tội phạm), Lê Cảm (Chủ biên), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, Hà Nội năm 2003;…
Tất cả các công trình nghiên cứu khoa học kể trên đã đề cập và phân tích về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trên nhiều phương diện như những vấn đề lý luận, quá trình pháp điển hóa, quy định của pháp luật Việt Nam qua từng thời kỳ, tổng hợp những số liệu thực tiễn và chỉ ra những bất cập đồng thời từ đó đưa ra những giải pháp đề xuất hoàn thiện.
Tuy nhiên, những nghiên cứu về đề tài này chỉ nghiên cứu một phần về độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trên một phạm vi hẹp trong các bài viết, khóa luận, luận văn,… Chưa có một công trình nào nghiên cứu sâu sắc vào những quy định của tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự 2015. Phần lớn các nghiên cứu kể trên đều dưới dạng bài viết, các bài viết hầu hết nghiên cứu từ thời điểm lập pháp đến bộ luật hình sự 1999, chưa có tài liệu nào thể hiện sự so sánh với quy định của chế định này trong bộ luật hình sự 2015, chỉ ra những điểm mới cũng như những bất cập trong các Bộ luật hình sự.
Dựa trên cơ sở các nghiên cứu khoa học kể trên, trong luận văn này tác giả sẽ nghiên cứu sâu vào chế định của pháp luật hình sự về “tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự 2015”, chỉ ra những thay đổi của Bộ luật hình sự 2015 so với các bộ luật trước, tìm ra những vấn đề còn bất cập và đưa ra những giải pháp riêng của mình để tiếp tục hoàn thiện chế định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích của việc nghiên cứu đề tài là làm sâu sắc hơn những vấn đề lý luận về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự và phân tích quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự theo quy định của Bộ luật hình sự 2015(sửa đổi, bổ sung 2017), kết hợp nghiên cứu thực tiễn khi áp dụng các quy định hiện hành để từ đó đưa ra được định hướng sửa đổi, hoàn thiện các quy định cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật.
- Với mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần giải quyết được những vấn nhiệm vụ sau:
Về mặt lý luận: trên cơ sở của những nguyên cứu khoa học khái niệm, các đặc điểm và cơ sở quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự, luận văn sẽ phân tích và làm rõ hơn một số vấn đề lí luận về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự, đồng thời làm rõ quy định của Bộ luật hình sự 2015 về chế định này trong sự so sánh với các bộ luật trước đó.
Về mặt thực tiễn: nghiên cứu việc áp dụng chế định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong thực tiễn áp dụng pháp luật hình sự ở Việt Nam, từ đó đưa ra những đánh giá thực tiễn áp dụng quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự và đưa ra được những kiến nghị hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: luận văn nguyên cứu về các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến vấn đề tuổi chịu Trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự Việt Nam 2015 trên cơ sở so sánh với Bộ luật hình sự 1999 và quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của một số quốc gia khác, cũng như thực trạng về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong giai đoạn từ năm 2014-2018.
Phạm vi nghiên cứu: Luận văn được thực hiện dưới góc độ khoa học luật hình sự thuộc chuyên ngành luật hình sự và tố tụng hình sự (mã số 8380101.03). Phạm vi nghiên cứu xoay quanh những vấn đề lí luận về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự theo thời gian từ xã hội Việt Nam thời kì phong kiến đến hiện nay. Phân tích quy định của Bộ luật hình sự 2015 và Bộ luật hình sự các nước Liên Bang Nga, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, malayxia, cũng như thực tiễn xét xử về các tội phạm này, từ đó đề xuất nội dung hoàn thiện và đưa ra giải pháp bảo đảm áp dụng quy định của Bộ luật hình sự về quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Phạm vi thời gian nghiên cứu từ năm 2014 đến năm 2018.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Cơ sở lý luận: Luận văn nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về vấn đề tội phạm và hình phạt, về đấu tranh và phòng ngừa tội phạm, lý luận về luật hình sự và tố tụng hình sự.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể như:
- Phương pháp phân tích hệ thống
- Phương pháp lịch sử
- Phương pháp phân tích
- Phương pháp tổng hợp
- Phương pháp so sánh
6. Tính mới và những đóng góp của đề tài
Luận văn là công trình khoa học ở cấp độ luận văn thạc sỹ luật học nghiên cứu về đề tài tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Do đó, luận văn có những điểm mới sau đây:
- Đưa ra khái niệm về tuổi chịu trách nhiệm hình sự
- Làm sâu sắc một số vấn đề lý luận về tuổi chịu trách nhiệm hình sự;
- Phân tích quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự và so sánh với Bộ luật hình sự một số nước về quy định này;
- Nghiên cứu thực trạng về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong giai đoạn 5 năm 2014-2018;
- Phân tích những tồn tại, vướng mắc trong thực tiễn xét xử và quy định pháp luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự, qua đó đưa ra kiến nghị hoàn thiện pháp luật và giải pháp bảo đảm áp dụng các quy định này trên thực tế. Luận văn có một số đóng góp sau:
- Về mặt lý luận: Luận văn góp phần hoàn thiện quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự, đồng thời có thể sử dụng làm tư liệu cho việc nghiên cứu khoa học pháp lý hình sự.
- Về mặt thực tiễn: Những đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật trong Bộ luật hình sự năm 2015 về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của luận văn góp phần nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm ở Việt Nam hiện nay.
7. Kết cấu của luận văn Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Ngoài phần mở đầu, kết luận chung, trang mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự
- Chương 2: Những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự
- Chương 3: Thực tiễn và một số giải pháp hoàn thiện, nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự
Chương 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
1.1. Khái niệm tuổi chịu trách nhiệm hình sự
TNHS là một trong những chế định trung tâm, chủ yếu nhất xuyên suốt toàn bộ pháp luật hình sự. Theo Từ điển giải thích thuật ngữ luật học[2,tr21] định nghĩa “trách nhiệm của người phạm tội phải chịu những hậu quả pháp lí bất lợi về hành vi phạm tội của mình”. Theo đó, có thể hiểu Trách nhiệm hình sự là một dạng trách nhiệm pháp lý nghiêm khắc nhất, vì vậy để biết được một người có phải chịu trách nhiệm hay không cần phải có năm điều kiện bắt buộc do pháp luật hình sự quy định là: người đó phải có năng lực Trách nhiệm hình sự,đủ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự, chủ thể phải có lỗi, hành vi đó là hành vi nguy hiểm cho xã hội và bị luật hình sự cấm[26,tr636]. Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là một trong năm căn cứ riêng cần và đủ, là căn cứ mang tính chất bắt buộc mà thiếu nó thì sẽ không có Trách nhiệm hình sự. Trong lịch sử lập pháp Việt Nam, tuổi chịu Trách nhiệm hình sự tuy không được ghi nhận chính thức là một đặc điểm cơ bản của tội phạm nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng trong việc làm sáng tỏ Trách nhiệm hình sự của người phạm tội.
Bàn về vấn đề tuổi chịu Trách nhiệm hình sự, trước hết cần chỉ ra khái niệm về “tuổi”. Theo Đại từ điển Tiếng Việt [1,tr1750] khái niệm về tuổi được định nghĩa là: “Năm, dùng làm đơn vị tinh thời gian sống của người, là khoảng thời gian từ khi sinh ra đến thời điểm xác định nào đó”. Theo đó, tuổi của một người được tính theo đơn vị năm, phù hợp với quy luật của tự nhiên một vòng quay của trái đất quanh mặt trời. Cách tính tuổi của một người sẽ dựa vào thời gian khi người đó được sinh ra đến một thời điểm xác định nào đó. Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Về mặt lập pháp, khái niệm về “người đủ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự” vẫn chưa được các nhà làm luật điều chỉnh trong Bộ luật hình sự. Tuy trong nghiên cứu và áp dụng pháp luật hình sự, thuật ngữ liên quan tới tuổi chịu Trách nhiệm hình sự được sử dụng khá phổ biến, nhưng vẫn chưa được định nghĩa hoặc không có sự thống nhất trong cách gọi và cách hiểu. Trong nhiều tài liệu, tuổi chịu Trách nhiệm hình sự có thể được hiểu như tuổi tối thiểu của Trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, việc sử dụng thuật ngữ tuổi tối thiểu của Trách nhiệm hình sự đôi khi dẫn đến việc cần phải phân biệt được các giới hạn tuổi khác nhau. Chẳng hạn, ở những quốc gia tồn tại hai giới hạn độ tuổi tối thiểu chịu Trách nhiệm hình sự, độ tuổi tối thiểu trên và độ tuổi tối thiểu dưới thì tuổi tối thiểu của Trách nhiệm hình sự phải được xác định theo hai mức[48,tr49]. Dựa trên khái niệm về Trách nhiệm hình sự và khái niệm về tuổi, các nhà hình sự học đã xây dựng nên quan điểm về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự theo pháp luật Việt Nam. Theo GS.TS. Lê Cảm:“Đủ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là đủ tuổi do pháp luật hình sự quy định tại thời điểm thực hiện tội phạm để có thể có khả năng nhận thức đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện cũng như có khả năng điều khiển được đầy đủ hành vi ấy”[24, tr128]. Như vậy người đủ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự có thể hiểu là người mà tại thời điểm phạm tội đã đạt đến độ tuổi quy định trong luật hình sự có khả năng nhận thức được đầy đủ tính chất thực tế và tính chất pháp lý, cũng như điều khiển được hành vi của bản thân một cách đầy đủ. Theo GS.TS. Nguyễn Ngọc Hòa thì : “Năng lực Trách nhiệm hình sự chỉ được hình thành khi con người đã đạt độ tuổi nhất định và năng lực đó sẽ tiếp tục phát triển hoàn thiện trong thời gian nhất định tiếp theo. Khi đã đạt độ tuổi đó, con người nói chung sẽ có năng lực Trách nhiệm hình sự, trừ những trường hợp cá biệt – những trường hợp mà luật hình sự coi là trong tình trạng không có năng lực Trách nhiệm hình sự”[29,tr176]. Có thể thấy, tuổi chịu Trách nhiệm hình sự được hiểu một cách gián tiếp là một độ tuổi nhất định, khi đạt độ tuổi đó thì con người sẽ có năng lực Trách nhiệm hình sự và sẽ phải chịu những hậu quả pháp lí bất lợi từ việc phạm tội của mình, trừ những trường hợp khác mà luật hình sự quy định. Từ đó, “luật hình sự các nước dựa trên cơ sở các công trình nghiên cứu, khảo sát về tâm lí cũng như căn cứ vào chính sách hình sự của mình đã quy định tuổi bẳt đầu có năng lực Trách nhiệm hình sự đầy đủ”[29,tr176].
Mới đây, trong một cuốn sách chuyên khảo vừa được xuất bản của mình, TSKH.GS Lê Văn Cảm – một nhà khoa học nghiên cứu rất sâu về luật hình sự – từng định nghĩa: “Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của một người là tuổi được quy định tại…. và được tính tại thời điểm người đó thực hiện tội phạm”[28, tr214], hoặc “Người đủ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là người mà tại thời điểm phạm tội đã đạt đến độ tuổi nhất định được quy định tại… để có thể có khả năng nhận thức được hoàn toàn tính chất thực tế và tính chất pháp lý của hành vi do mình thực hiện, đồng thời có thể hoàn toàn điều khiển được hành vi đó”[28,tr215] .
Kế thừa tư tưởng của các nhà khoa học tiền bối và những nội dung đã được phân tích, tác giả Dựa trên những phân tích trên có thể đưa ra định nghĩa một cách khái quát về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự nhất như sau: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của một người là khoảng thời gian tính từ lúc sinh ra đến thời điểm nhất định do luật hình sự quy định mà khi ấy người đó thực hiện tội phạm đủ tuổi do luật hình sự quy định mới phải chịu hậu quả pháp lý bất lợi về hành vi phạm tội của mình được nhà nước thừa nhận là có khả năng phạm tội và khả năng gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do việc thực hiện tội phạm của mình.
1.2. Các đặc điểm của tuổi chịu Trách nhiệm hình sự Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
1.2.1. Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự được nhà nước chính thức ghi nhận trong luật hình sự của quốc gia
Quy định độ tuổi để xác định tư cách chịu trách nhiệm của chủ thể là một nội dung có tính chuyên biệt, vì thế mỗi ngành luật có cách xác định khác nhau về độ tuổi. Trong pháp luật hình sự của mỗi quốc gia việc xác định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là vấn đề vô cùng quan trọng bởi nó thể hiện quan điểm của Nhà nước về việc xử lý tội phạm đảm bảo an toàn trật tự xã hội đồng thời bảo vệ quyền con người. Trong ngành luật hình sự, tuổi chịu Trách nhiệm hình sự đã được các nhà lập pháp ghi nhận tại điều 12 Bộ luật hình sự 2015 như sau:
- Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.
- Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.”
Quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự đã được ghi nhận tại một điều luật riêng biệt, độc lập trong Phần chung của Bộ luật hình sự. Điều đó có thể thấy tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là một vấn đề lí luận quan trọng vì nó có yếu tố quyết định trong việc một người có hoặc không phải chịu trách nhiệm pháp lý quy định trong Bộ luật hình sự. Vì thế, về nguyên tắc khi xác định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của một người, chúng ta cần căn cứ vào quy định của luật hình sự mà không viện dẫn các quy định của các ngành luật khác. Chỉ trong một số trường hợp nhất định mà luật hình sự dẫn chiếu sang quy định của các ngành luật khác thì mới có thể áp dụng cách tính tuổi của ngành luật đó để xác định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
1.2.2. Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là một trong những đặc điểm bắt buộc đối với chủ thể của tội phạm là cá nhân Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Việt Nam cũng như phần lớn các nước trên thế giới đều quy định về chủ thể của tội phạm không chỉ là cá nhân. Điều 2 Bộ luật hình sự 2015 của Việt Nam quy định: “1. Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu Trách nhiệm hình sự. 2. Chỉ pháp nhân thương mại nào phạm một tội đã được quy định tại Điều 76 của Bộ luật này mới phải chịu Trách nhiệm hình sự”. Có thể thấy, các nhà làm luật Việt Nam đã chính thức quy định pháp nhân thương mại là chủ thể của tội phạm và phải chịu trách nhiệm hình sự. Đối chiếu với quy định của các nước trên thế giới, chủ thể có thể chịu Trách nhiệm hình sự theo đó có thể là cá nhân, pháp nhân, hay thậm chí là cơ quan nhà nước. Trung Quốc là quốc gia quy định về Trách nhiệm hình sự của cơ quan nhà nước trong Điều 47 Luật Hải Quan năm 1987 quy định: “Doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp, cơ quan nhà nước, các đoàn thể xã hội phạm tội buôn lậu, cơ quan tư pháp có thể truy cứu trách nhiệm hình sự theo luật định đối với người quản lý và nhân viên chịu trách nhiệm trực tiếp” [42,tr4], tuy nhiên từ khi ban hành Bộ luật hình sự năm 1997 đến nay chưa có trường hợp nào cơ quan nhà nước bị truy cứu Trách nhiệm hình sự. Vì thế, các nhà lý luận Trung Quốc kiến nghị loại bỏ các cơ quan nhà nước ra khỏi quy định là chủ thể của tội phạm và xử lý theo quy định về cá nhân phạm tội.
Chủ thể phải chịu Trách nhiệm hình sự ở một số nước trên thế giới có thể là cá nhân hoặc pháp nhân, nhưng tuổi chịu Trách nhiệm hình sự chỉ là dấu hiệu bắt buộc đối với cá nhân mà không bắt buộc đối với pháp nhân. Trong quy định của các quốc gia về độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự chỉ có quy định về một người khi đến tuổi nhất định sẽ có thể bị truy cứu Trách nhiệm hình sự về tội phạm của mình gây ra, như trong Điều 12 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 có quy định: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội giết người, tội cố ý gây thương tích…”. Hay Bộ luật hình sự Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa năm 1997, sửa đổi năm 2005 cũng quy định tại Điều 17 như sau: “Người từ đủ 16 tuổi phạm tội phải chịu Trách nhiệm hình sự. Người đủ 14 tuổi những chưa đủ 16 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc cố ý gây thương tích …”[15,tr43] . Như vậy có thể thấy theo quy định của Bộ luật hình sự các quốc gia trên thế giới đều quy định tuổi chịu trách nhiệm đều là thuộc về “người”, tức là áp dụng với chủ thể là cá nhân. Một người khi đạt tuổi nhất định được quy định trong văn bản pháp luật hình sự mới phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình.
1.2.3. Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự phản ánh giới hạn tối thiểu của thời gian sống trên đời mà một người khi đạt tới thì sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do đã thực hiện một tội phạm
Đến một độ tuổi quy định, chủ thể sẽ phải chịu Trách nhiệm hình sự nếu thực hiện hành vi phạm tội. Theo quy định của pháp luật hình sự thì người chưa đạt độ tuổi bắt đầu có năng lực Trách nhiệm hình sự sẽ luôn được coi là không có lỗi (vì chưa có năng lực Trách nhiệm hình sự)[29,tr176]. Những người dưới độ tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự thì được coi là không có năng lực Trách nhiệm hình sự và không bị xử lý theo thủ tục tư pháp hình sự trong bất kỳ hoàn cảnh nào[48,tr49]. Mốc thời gian đầu xác định tuổi của người phạm tội là ngày người đó được sinh ra. Thời điểm sau được xác định là thời điểm hành vi nguy hiểm cho xã hội được thực hiện, tức là hành vi xảy ra ngày nào thì ngày đó được sử dụng làm mốc để tính tuổi của chủ thể. Pháp luật quốc tế và pháp luật hình sự các nước trên thế giới khi quy định về tuổi chịu trách nhiệm hình sự thì đều ghi nhận tuổi thấp nhất mà chủ thể bắt đầu có thể phải chịu trách nhiệm hình sự. Các nước trên thế giới quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự phổ biến là từ 13 đến 18 tuổi. Trong số đó, pháp luật hình sự của Trung Quốc, Nga và Việt Nam… đều quy định người có thể phải chịu Trách nhiệm hình sự khi đã thực hiện tội phạm là “từ đủ 14 tuổi”. Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Trong lịch sử phát triển của luật hình sự, đã từng có những quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự bao gồm giới hạn tuổi tối thiểu và tuổi tối đa. Theo đó, một người chỉ phải chịu Trách nhiệm hình sự khi họ đang ở trong giới hạn tuổi theo quy định của luật hình sự. Ví dụ, theo quy định của Bộ luật Hồng Đức tại Điều 16: “từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống dầu có bị tội chết cũng không hành hình”[13,tr221]. Quy định này được hiểu là người dưới 7 tuổi và trên 90 tuổi dù phạm vào tội chết thì cũng không phải chịu Trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, việc quy định về giới hạn tuổi tối đa phải chịu Trách nhiệm hình sự trong xã hội hiện đại là không còn phù hợp với yêu cầu đấu tranh chống tội phạm. Sự không phù hợp thể hiện ở việc tuổi thọ trung bình của con người đang ngày một cao hơn, trí tuệ hay nhận thức của những người cao tuổi cũng có thể còn hoàn toàn minh mẫn. Bên cạnh đó, trên thực tế hiện tượng tội phạm do người cao tuổi thực hiện có xu hướng gia tăng, đặc biệt là những tội phạm có tính nguy hiểm cao như các tội xâm phạm tình dục trẻ em…. Do đó, pháp luật hình sự hiện đại chỉ quy định giới hạn tối thiểu mà không quy định về giới hạn tối đa của thời gian sống trên đời mà một người khi đạt tới thì sẽ phải gánh chịu những hậu quả pháp lý bất lợi do đã thực hiện một tội phạm. Như vậy, một người khi đủ 14 tuổi đạt tuổi tối thiểu do luật định tính từ ngày người đó được sinh ra sẽ có thể phải chịu Trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội của mình. Tức là trong độ tuổi tối thiếu này thì đối với người đó, Trách nhiệm hình sự sẽ không bị đặt ra. Điều này là hợp lý vì ở lứa tuổi còn nhỏ, tâm sinh lý của các em phát triển còn chưa hoàn thiện, ít kinh nghiệm sống, có thể chưa nhận thức được tính nguy hiểm của hành vi.
1.2.4. Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự được tính theo tuổi tròn, được tính theo năm
Mặc dù tuổi được hiểu theo cách thống nhất là khoảng thời gian từ khi sinh ra đến thời điểm xác định nào đó nhưng cách tính tuổi trên thực tế lại không được thống nhất như vậy.
Cách tính tuổi thực tế ở các nước trên thế giới vốn không đồng nhất như nhau và không phải lúc nào cũng được tính theo tuổi tròn và tính theo năm. Phong tục tập quán người Việt tính theo tuổi mụ là một ví dụ chứng minh cho sự không đồng nhất này. Một người nếu tính theo thông lệ quốc tế – tính tuổi tròn và theo năm – thì anh ta mới 29 tuổi. Tuy nhiên, khi làm những việc hệ trọng trong cuộc đời như là kết hôn, cưới hỏi, làm nhà, ma chay… thì anh ta luôn được coi là 30 tuổi để tính toán ngày lành tháng tốt mà tổ chức sự kiện. Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Ở Hàn Quốc, cách tính tuổi truyền thống cũng tính thời gian bào thai trong bụng mẹ và được làm tròn thành 1 năm, nghĩa là một đứa trẻ vừa chào đời đã đạt một tuổi. Thêm vào đó, cứ bước sang năm dương lịch mới thì mỗi người lại được cộng thêm một tuổi chứ không phải cứ đủ 12 tháng mới tròn một năm tuổi. Cách tính này dẫn tới một nghịch lý là có đứa trẻ vừa chào đời chưa đầy một tuần đã được người Hàn Quốc tính là 02 tuổi. Ví dụ: đứa trẻ A sinh ngày 29/12/2018, ngày bé chào đời là bé đã được 01 tuổi (do cách tính tuổi thai, tuổi mụ), chỉ ba ngày sau bước sang năm mới – bắt đầu từ ngày 1/1/2019 – bé A đã thêm tuổi mới và được tính là 02 tuổi! Chuyện tính tuổi ở Hàn Quốc càng trở nên phức tạp khi Nhà nước thừa nhận song song hai loại quốc gia này rất coi trọng phong tục truyền thống, việc tính tuổi theo cách cổ truyền được sử dụng rất phổ biến và rộng rãi trong các lĩnh vực của đời sống. Điều này dẫn đến những phiền toái trong các giao dịch của người Hàn Quốc vì họ luôn phải giải thích tuổi đang được sử dụng là “tuổi Hàn Quốc” hay “tuổi quốc tế”.
Mặc dù có những cách tính tuổi truyền thống như ở một số quốc gia nêu trên song về cơ bản, xét trên phương diện pháp lý, cách tính tuổi được pháp luật các nước trên thế giới quy định đều thống nhất theo tuổi tròn và được tính theo năm. Điều này cũng được thể hiện trong điều 12 Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự: “người từ đủ 16 tuổi…” và “người từ đủ 14 tuổi”. Các nhà làm luật Việt Nam quy định bằng từ “đủ 14 tuổi” tức là tuổi của người đó không được tính khi đến 14 tuổi mà chỉ được tính khi tròn 14 tuổi. Tuổi tròn được xác định bằng cách lấy ngày sinh nhật gần nhất của người đó để tính. Tuổi tròn ở đây được quy định là tuổi “đủ”, tức là đủ 14 tuổi hoặc đủ 16 tuổi được tính theo sinh nhật của người đó.
Cùng với cách tính theo tuổi tròn, tuổi của chủ thể của tội phạm được tính theo đơn vị “năm”, tức là đủ một năm từ ngày người đó sinh ra sẽ được tính là một tuổi. Theo Bộ luật hình sự 2015 quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là “16 tuổi” và “14 tuổi”, cách tính này phù hợp với chu kì sinh học của con người và phù hợp với quy luật của tự nhiên một vòng quay của trái đất quanh mặt trời.
Như vậy, tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của một người sẽ được tính dựa vào mốc thời gian khi người đó được sinh ra đến một thời điểm xác định nào đó và được tính bằng đơn vị “năm”.
1.2.5. Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự có thể có sự khác biệt giữa các quốc gia trên thế giới Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Mức tuổi cụ thể của tuổi bắt đầu có năng lực Trách nhiệm hình sự và của tuổi năng lực Trách nhiệm hình sự đầy đủ được xác định ở mỗi nước không hoàn toàn giống nhau.
Mỗi quốc gia trên thế giới đều có chính trị, truyền thống văn hóa, lịch sử, quan niệm về đạo đức, phong tục tập quán khác nhau, thêm vào đó sự phát triển kinh tế giữa các quốc gia vẫn còn nhiều sự chênh lệch. Những lí do trên dẫn đến sự khác biệt về quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự ở mỗi quốc gia. Vì vậy, luật hình sự các nước trên thế giới đều có quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự, nhưng tùy thuộc vào đặc điểm riêng của từng quốc gia mà không phải quốc gia nào cũng quy định giống nhau. Bảng so sánh về độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của một số nước trên thế giới dưới đây đã phản ánh được sự khác nhau đó [35,tr243]:
- Bảng 1.1: So sánh độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của một số quốc gia
Tham chiếu vào bảng trên có thể thấy các nước quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự có sự khác nhau rõ rệt. Độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự thấp nhất là 6 tuổi theo quy định của Mêhicô và Hoa Kỳ. Tại Hoa Kỳ, quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự được thiết lập theo pháp luật liên bang và các tiểu bang. Phần lớn các bang dựa vào pháp luật chung quy định độ tuổi này là từ 7 tuổi đến 14 tuổi, chỉ có 13 tiểu bang đã thiết lập độ tuổi tối thiểu trong khoảng từ 6 đến 12 tuổi, trong đó thấp nhất là Bắc Crollina. So sánh theo bảng trên, khá nhiều quốc gia quy định độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự thấp dưới 12 tuổi như: Anh, Nam Phi, Ôxtrâylia, Xingapo, Ấn Độ,… Một số quốc gia quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trên 16 tuổi như Bỉ, Chile, Cuba, Bồ Đào Nha,…Độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là từ đủ 14 tuổi trở lên chiếm tỷ lệ cao nhất như: Nga, Đức, Trung Quốc, Nhật Bản…. Trong bảng số liệu trên, độ tuổi cao nhất là 18 tuổi tại Côlômbia và Luychxămbua. Ở các nước châu Mỹ La tinh, hầu hết đều tiến hành cải cách của pháp luật về công lý trẻ vị thành niên đang được tiến hành, vì thế Trách nhiệm hình sự đã được nâng lên đến 18 tuổi ở Colombia, còn ở Argentina là 16 tuổi. Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Trên thế giới, hầu hết các nước đều quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Mặc dù quy định độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự mỗi nước có cách tiếp cận khác nhau, song đều giống nhau ở chỗ chỉ rõ giới hạn thấp nhất mà một người khi thực hiện tội phạm phải chịu Trách nhiệm hình sự. Các quốc gia đều cho rằng đây là cơ sở pháp lý quan trọng để truy cứu Trách nhiệm hình sự người phạm tội.[40,tr13]. Sự khác nhau thể hiện rõ chính sách hình sự của mỗi quốc gia trong việc xử lý người phạm tội, sự khác nhau này cũng sẽ được lý giải cụ thể hơn ở Tiểu mục 1.3 của Chương này.
1.2.6. Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự có thể có sự khác biệt giữa các thời kỳ khác nhau trong một quốc gia
Mức tuổi cụ thể của tuổi bắt đầu có năng lực Trách nhiệm hình sự và của tuổi năng lực Trách nhiệm hình sự đầy đủ được xác định ở mỗi nước và có thể ở mỗi thời gian trong mỗi nước không hoàn toàn giống nhau [29,tr176]. Đối với mỗi quốc gia, quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự sẽ thay đổi theo sự phát triển của lịch sử, vì thế các quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng đều có sự đổi mới về pháp luật theo lịch sử phát triển của đất nước.
Bộ luật Hồng Đức là di sản pháp lý lớn nhất và quan trọng nhất của toàn bộ pháp luật Việt Nam thời trung cổ nói chung và của pháp luật hình sự nói riêng, trong đó chứa đựng số giá trị pháp luật truyền thống tiến bộ. Bộ luật Hồng Đức có thể coi là bộ luật tổng hợp với nhiều quy phạm pháp luật về luật hình sự, luật dân sự, luật tố tụng, luật hôn nhân và gia đình,v.v…trong đó, hình luật là nội dung có tính chất chủ đạo của bộ luật. Về các quy định hình sự, bộ luật quy định một số nguyên tắc hình sự chủ đạo là: vô luật bất thành hình tức là chỉ khép tội khi trong bộ luật có quy định (điều 642, 683, 685, 708, 722), theo sự vô ý hay cố ý phạm tội, tính chất đồng phạm,v.v… biệt, Bộ luật này có nhiều quy định liên quan đến tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Cụ thể [13,tr221 ]: Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự: người từ đủ 8 tuổi trở lên đến 90 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự về hành vi vi phạm của mình tuy có phân biệt ở mức độ và phạm vi khác nhau (Điều 16).
Nguyên tắc chiếu cố: theo Điều 16 quy định 29 bộ luật này thì “Những người từ 70 tuổi trở lên, từ 15 tuổi trở xuống hoặc người bị tàn phế, phạm từ tội lưu trở xuống đều cho chuộc bằng tiền, ngoại trừ khi phạm thập ác. Từ 80 tuổi trở lên, 10 tuổi trở xuống hoặc bị ác tật, nếu phạm tội phản nghịch, giết người đáng tội chết thì cũng phải tâu để vua quyết định … Từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống dẫu bị tội chết cũng không hành hình,…”. Theo Điều 17: “Khi còn bé nhỏ phạm tội, đến khi lớn mới phát giác, thị xử tội theo luật khi còn nhỏ. Khi phạm tội chưa già cả tàn tật, đến khi già cả tàn tật việc mới được phát giác, thì xử tội theo luật già cả tàn tật. khi ở nơi bị đồ mà già cả tàn tật thì cũng thế”. Theo bộ luật này thì những người già cả hoặc bị tàn tật hay người khi còn bé phạm tội đến khi lớn lên mới bị phát giác thì đều được xử theo luật già cả, tàn tật, trẻ nhỏ. Có thể thấy, bộ luật này thể hiện rõ tính nhân đạo của các nhà làm luật khi chiếu cố đối với người giả, trẻ em, người tàn tật, phụ nữ. Điều này cũng thể hiện được một chính sách hình sự nhân văn trong một xã hội phong kiến nước ta.
Năm 1802, Nguyễn Ánh lên ngôi vua, ông cho xây dựng Bộ Hoàng Triều Luật lệ vào năm 1815, dựa trên cơ sở Bộ Luật Hồng Đức và Luật lệ Đại Thanh (Trung Quốc). Bộ luật Gia Long có sự kế thừa những tư tưởng nhân đạo trong Bộ luật Hồng Đức về quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự như “Người từ 90 tuổi trở lên, 7 tuổi trở xuống dù có phạm tội chết cũng không chịu hình phạt nào”(Điều 21 quyển III). Bộ luật xác định độ tuổi từ 90 tuổi trở lên và 7 tuổi trở xuống là độ tuổi dù có phạm tội chết cũng không phải chịu Trách nhiệm hình sự. So với quy định trong Bộ luật Hồng Đức, bộ luật này quy định người trên 7 tuổi sẽ phải chịu Trách nhiệm hình sự là quá nghiêm khắc, vì ở độ tuổi này nhận thức và hiểu biết chưa toàn diện, chưa nhận thức hết tính nguy hiểm trong hành vi phạm tội của mình gây ra. Tuy nhiên, Bộ luật Gia Long lại có quy định về giới hạn tối thiểu của một người là dưới 7 tuổi và tối đa là trên 90 tuổi sẽ không phải chịu trách nhiệm đối với hành vi phạm tội của mình. Đây là điểm khác biệt lớn so với quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong các Bộ luật hình sự của Việt Nam.
Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, đánh dấu sự ra đời của Nhà nước Việt Nam dân chủ công hòa. Trong nước, ba vùng Bắc, Trung, Nam áp dụng ba Bộ luật hình sự khác nhau dẫn đến việc xử lý tội phạm có sự không thống nhất. Nhìn chung, trong giai đoạn này chủ yếu việc xét xử sẽ theo án lệ thông qua công tác tổng kết và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao. Các quy phạm pháp luật hình sự về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự được quy định trong chỉ thị số 46/TH ngày 14-1-1969 của Tòa án nhân dân tối cao như sau: “đối với trẻ em hư dưới 14 tuổi thì không đưa ra Tòa án xét xử; từ 14 tuổi đến 18 tuổi, nếu trường hợp phạm pháp cần thiết phải đưa ra xét xử thì có châm chước đến tuổi còn non trẻ của chúng; riêng đối với loại từ 14 tuổi đến 16 tuổi, chỉ nên xét xử trong những trường hợp phạm tội nghiêm trọng” [18,tr13]. Quy định này cũng được hướng dẫn trong các bản tổng kết như: bản tổng kết và hướng dẫn số 329/HS2 ngày 11-2-1967 của Tòa án nhân dân tối cao quy định: “Riêng đối với các can phạm còn ít tuổi, từ khoảng 14 đến 16, chủ yếu nên dùng những biện pháp giáo dục như: Giao cho cha, anh, chú, bác bảo lĩnh và giáo dục, giữ trong các trại giáo dưỡng vị thành niên” hay bản tổng kết số 452/HS2 ngày 10-8-1970 của Tòa án nhân dân tối cao: “Trong thực tiễn xét xử của ta, nhìn chung, các can phạm dưới 14 tuổi tròn không bị truy tố xét xử về tội giết người”. [18,tr19]. Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Ở các tỉnh phía Nam, dưới sự thống trị của Chính phủ Việt Nam Cộng hòa, Bộ hình luật đã được ban hành ngày 20 tháng chạp năm 1972. Bộ luật này quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự như sau: “Tội phạm không cấu thành, nếu can phạm là vi thành niên 13 tuổi khi phạm pháp” (Điều 77 Chương thứ hai Quyển I). Như vậy, có thể nói trong Bộ hình luật đã quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự, ngoài ra Bộ luật còn có quy định: “Sẽ được hưởng sự khoan miễn, vị thành niên trên 13 tuổi và dưới 18 tuổi và những người già từ 70 tuổi trở lên”( Điều thứ 91). Có thể thấy rằng đây là một quy định khá mới mẻ trong lịch sự lập pháp Việt Nam, đó chính là việc quy định giảm nhẹ Trách nhiệm hình sự đối với những người già từ 70 tuổi trở lên.
Ngày 30/4/1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, việc thống nhất pháp luật cũ và xây dựng pháp luật mới là nhiệm vụ cấp bách. Căn cứ vào Nghị quyết ngày 02/7/1976 của Quốc hội khoá VI, kì họp thứ nhất, Hội đồng Chính phủ đã thu thập ý kiến của các ngành và đã chủ trương như sau:
- Đối với các tỉnh phía Nam: những Sắc luật mới được ban hành cũng như những văn bản pháp luật khác của Chính phủ cách mạng lâm thời vẫn tiếp tục 33 được áp dụng. Nhưng nếu có điều khoản nào đã được quy định một cách quá tổng quát, thì có thể và cần thiết phải vận dụng luật lệ đã được thi hành ở miền Bắc.
- Đối với vấn đề nào mà ở miền Nam trước đây chưa có luật lệ mà miền Bắc đã có, thì vận dụng luật lệ đang được thi hành ở miền Bắc, nhưng phải xem xét vận dụng vào tình hình, đặc điểm của miền Nam cho phù hợp.
- Đối với các tỉnh phía Bắc: Đối với các vấn đề nào mà miền Bắc chưa có hoặc tuy đã có nhưng chưa thích hợp mà miền Nam đã có và tiến bộ hơn thì áp dụng luật lệ ở miền Nam”. Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Sau khi hòa bình thống nhất đất nước, pháp luật hình sự được chú trọng trong nhà nước pháp quyền. Ngày 27/6/1985 Bộ luật hình sự 1985 được Quốc hội khóa VII thông qua, đây được xem là một dấu mốc quan trọng nhất trong lịch sử của pháp luật hình sự Việt Nam. Trong Bộ luật hình sự 1985 lần đầu tiên các quy định về tội phạm và hình phạt được pháp điển hóa đưa vào một văn bản pháp luật có giá trị cao – Bộ luật hình sự. Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự được quy định tại Điều 58 như sau: “1. Người từ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự về những tội phạm nghiêm trọng do cố ý. 2. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”. Theo đó, lần đầu tiên trong lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam, tuổi chịu Trách nhiệm hình sự đã được quy định chính thức trong một bộ luật. Quy định này đã phân hóa độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của chủ thể của tội phạm theo loại tội phạm, tuy nhiên quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự lại được các nhà làm luật xếp vào chương những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội, điều này chưa hợp lý vì tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là dấu hiệu của chủ thể tội phạm và nên xếp ở chương tội phạm.
Ngày 21 tháng 12 năm 1999, Bộ luật hình sự 1999 được Quốc hội khóa X kỳ họp thứ 6 thông qua và có hiệu lực từ ngày 1/7/2000, có sự nghiên cứu và sửa đổi so với Bộ luật hình sự 1985. Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), đã phân hóa tội phạm hình sự ra thành 4 loại: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiệm trọng. Điều 12 Bộ luật hình sự 1999 đã quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự như sau: “1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. 2. Người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chịu Trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”. Theo đó, quy định về tuổi chịu TNHS đã được đưa vào chương III (tội phạm) của Bộ luật hình sự, việc sắp xếp như vậy hoàn toàn chính xác và hợp lý vì tuổi chịu Trách nhiệm hình sự thuộc phạm trù chủ thể của tội phạm. Bộ luật hình sự 1999 đưa quy định người đủ 16 tuổi trở lên phải chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm lên thành Khoản 1 thể hiện luật hình sự xác định đây là lứa tuổi cơ bản chịu Trách nhiệm hình sự. Bộ luật hình sự 1999 đã mở rộng phạm vi áp dụng Trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội ở lứa tuổi từ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Có thể thấy xét về cả nội dung và hình thức thì quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự tại Bộ luật hình sự 1999 khoa học và hợp lý hơn so với quy định tại Bộ luật hình sự 1985.
Tóm lại, dưới sự biến động của lịch sử đất nước, pháp luật hình sự nói chung và quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự nói riêng sẽ phải thay đổi để phù hợp với chính trị, kinh tế, xã hội, văn hóa của quốc gia. Càng phát triển, giá trị con người càng được đề cao, các quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự được chú trọng điều chỉnh để phù hợp với giá trị nhân đạo của Bộ luật hình sự.
1.3. Cơ sở lý luận của việc quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong pháp luật hình sự Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
1.3.1. Cơ sở về kinh tế-xã hội
Quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của mỗi quốc gia phụ thuộc rất lớn vào điều kiện kinh tế, văn hóa – xã hội của quốc gia đó. Các nhà làm luật sẽ dựa vào những sự phát triển của nền kinh tế đất nước, những biến động về tình hình xã hội để đưa ra một độ tuổi thích hợp, mà khi đến độ tuổi đó chủ thể sẽ phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình gây ra. Với sự phát triển của kinh tế, xã hội, các quyền cơ bản của con người ngày càng được đề cao, vì thế hầu hết các quốc gia đều hạn chế tác động vào các quyền cơ bản đó. Kinh tế, xã hội phát triển kèm theo trẻ em ngày càng được quan tâm bảo vệ, đặc biệt là từ khi công ước bảo vệ quyền trẻ em ra đời, trong đó xác định trẻ em là từ 18 tuổi trở lên, nên xu hướng của pháp luật các nước đề nâng độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự cao hơn so với trước đây.
Kinh tế – xã hội ngày càng phát triển, điều kiện sống của con người ngày càng được nâng cao, thể lực của con người sẽ sớm hoàn thiện, các giai đoạn phát triển tâm sinh lý của con người cũng sẽ diễn ra sớm hơn trước đây. Hoạt động giáo dục ngày càng được chú trọng nâng cao, quá trình công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước giúp con người tiếp cận nhanh hơn với tri thức, hoàn thiện nhân cách. Hơn nữa, với các phương pháp giáo dục tích cực sẽ giúp tính tự lập trong xử sự của con người phát triển sớm. Việc tuyên truyền pháp luật được đưa vào trường học và các vùng sâu vùng xa, đây là mặt tích cực của nền giáo dục hiện đại giúp nâng cao ý thức pháp luật của người dân. Vì vậy, cũng có nhiều ý kiến cho rằng nên hạ thấp độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự vì ở độ tuổi thanh thiếu niên, nhiều người đã có sự phát triển vượt trội về thể chất và tinh thần, có hiểu biết về những hành vi vi phạm pháp luật. Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Tuy nhiên, nền kinh tế thị trường ngày càng phát triển cũng có những mặt trái nhất định. Bên cạnh những thành tựu đạt được về mặt kinh tế thì cũng làm xuất hiện những vấn đề tiêu cực trong xã hội, đó là sự thay đổi lối sống với việc đề cao giá trị vật chất và sự hưởng thụ diễn ra ở bộ phận không nhỏ trong xã hội; đạo đức xã hội có nhiều sự biến đổi nhanh chóng; sự di dân cơ học từ các vùng nông thôn về các đô thị trong khi vẫn giữ thói quen, văn hoá của vùng nông thôn; sự ứng xử giữa con người với nhau cũng có những biến động so với trước đây. Kinh tế phát triển dẫn đến lối sống ích kỷ, chạy theo đồng tiền, bố mẹ ly hôn, hoặc bỏ mặc con cái, thiếu sự quan tâm, thiếu tình thương yêu của gia đình, có lối sống lệch lạc. Thêm nữa, sự bùng nổ của công nghệ thông tin cũng là nguyên nhân khiến một bộ phận giới trẻ lâm vào tình trạng sống ảo, nhận thức lệch lạc về giá trị cuộc sống, bị lôi cuốn vào các trò chơi thiếu lành mạnh, bạo lực, uống rượu bia, ma túy dẫn đến các hành vi phạm tội. Nhiều tệ nạn xã hội có liên quan đến Internet đã xảy ra khắp nơi, mọi lứa tuổi. Nhiều game online cho trẻ em không hợp với thuần phong mỹ tục, mang tính bạo lực, ảnh hưởng đến nhân cách của người chơi, có nhiều game mang tính chất bạo lực, những hành động giết người hang loạt. Điều này ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý của trẻ em, người vị thành niên. Rất nhiều thanh thiếu niên bị lừa qua mạng xã hội, nguy hiểm hơn nữa là những vụ ẩu đả, giết người chỉ vì những hiềm khích, ức chế, cãi lộn qua mạng xã hội. Nhiều hình ảnh, nội dung khiêu dâm dễ dàng tìm kiếm trên Internet dẫn đến những tội phạm với chủ thể hoặc nạn nhân là trẻ em ngày càng gia tăng. Hơn nữa do điều kiện kinh tế xã hội ngày càng phát triển, trẻ em có điều kiện tiếp xúc thông tin đại chúng như internet, sách báo…nên nhận thức về xã hội và pháp luật ngày càng cao nên việc hiểu biết cũng như nguy cơ lợi dụng những lỗ hổng hay chính sách nhân đạo của nhà nước để thực hiện hành vi phạm tội là ngày một lớn. Những người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chiếm tỉ lệ ngày càng cao. Thậm chí hành vi nguy hiểm của lứa tuổi từ 12 đến dưới 14 cũng sẽ diễn biến phức tạp.Vì thế, có nhiều quan điểm cho rằng nên giảm độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Ở một khía cạnh khác, cùng với sự phát triển cuả nền kinh tế thị trường, sự phân hóa giàu nghèo trong xã hội xuất hiện là tất yếu. Trẻ em ở thành phố nhìn chung sẽ có sự phát triển nhanh hơn trẻ em ở những vùng nông thôn hay dân tộc vùng núi, nhận thức về pháp luật cũng rõ rang hơn trẻ em miền núi. Do đó, cũng có nhiều quan điểm cho rằng cần quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự theo vùng miền, theo địa bàn nông thôn, thành thị. .[tr.19 ] Tuy nhiên, trong một quốc gia phải có sự thống nhất quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự, không thể quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự theo vùng miền mà chỉ có thể cân nhắc khi xét xử trong thực tiễn[43,tr7].
1.3.2. Cơ sở pháp lý Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Mỗi quốc gia, quy định về độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào chính sách hình sự và khách thể bảo vệ của luật hình sự. Xuyên suốt quá trình xây dựng và phát triển của pháp luật hình sự, có thể thấy rõ chính sách của của Đảng và Nhà nước ta vẫn luôn luôn đề cao tính nhân đạo, vẫn luôn đề cao công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em. Điều đó được thể hiện rõ qua tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Vì lợi ích mười năm phải trồng cây, vì lợi ích trăm năm phải trồng người”. [16,tr222 ] Việc coi con người là mục tiêu, là động lực của sự phát triển đất nước là một trong những quan điểm xuyên suốt đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước Việt Nam. Trong đó trẻ em, người chưa thành niên là tương lai của đất nước, là những người kế thừa sự nghiệp phát triển của đất nước. Trong Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triễn năm 2011) cũng đã nhấn mạnh: “Chú trọng cải thiện điều kiện sống, lao động và học tập của thanh niên, thiếu niên, giáo dục và bảo vệ trẻ em”.
Việt Nam là nước đầu tiên ở châu Á và nước thứ 2 trên thế giới phê chuẩn công ước của Liên hiệp quốc về Quyền trẻ em vào ngày 20 tháng 2 năm 1990. Công ước của Liên Hợp Quốc về quyền trẻ em là văn bản pháp lý quốc tế quy định về các quyền cơ bản của trẻ em nói chung và người chưa thành niên phạm tội nói riêng. Điều 1 Công ước quy định: “Trẻ em có nghĩa là người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn”. Theo Công ước này thì tuổi chịu Trách nhiệm hình sự đầy đủ (về mọi tội phạm) là từ đủ 18 tuổi trở lên. Công lý trẻ vị thành niên ảnh hường rất lớn đối với hầu hết các nước châu Mỹ La tinh, theo đó tuổi chịu Trách nhiệm hình sự đã được nâng lên đến 18 ở Brazil, Colombia còn ở Argentina là 16 tuổi. Công ước này mang tính khuyến nghị, định hướng đối với các quốc gia thành viên, góp phần thực hiện 19 Công ước quốc tế về quyền trẻ em chứ không có tính chất bắt buộc, công ước xuất phát từ: tính dân chủ, nhân đạo mở rộng – xu hướng chung của thế giới.
Việc quy định độ tuổi tối thiểu chịu Trách nhiệm hình sự về một hành vi phạm tội nào đó hoặc chịu Trách nhiệm hình sự đầy đủ còn phụ thuộc vào chính sách hình sự của quốc gia. Xuất phát từ chính sách hình sự của Đảng và nhà nước, Hiến pháp là pháp luật nói chung, pháp luật hình sự nói riêng luôn coi trẻ em, người chưa thành niên là đối tượng cần được quan tâm đặc biệt với cả hai trường hợp: khi họ là chủ thể của tội phạm hoặc khi là đối tượng tác động của tội phạm. Vì vậy, quy định độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự Việt Nam là cần thiết và có ý nghĩa quan trọng trong công cuộc bảo vệ quyền và lợi ích của trẻ em – người chưa thành niên. Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Mặt khác, để đưa ra độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự một cách thích hợp, các nhà làm luật Việt Nam cũng có sự tham khảo pháp luật các nước trên thế giới. Tại Điều 4 Quy tắc Bắc Kinh hướng dẫn rằng, điểm bắt đầu của giới hạn tuổi chịu Trách nhiệm hình sự không được quy định ở mức quá thấp, phải chú ý tới sự phát triển của cảm xúc, tâm lý và nhận thức của người chưa thành niên[44,tr5]. Có nghĩa là việc quy định tuổi tối thiểu của Trách nhiệm hình sự phải đủ cao để đảm bảo trẻ em đã nhận thức được tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội. Trên thực tế, quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự có sự chênh lệch khá lớn. Có nước quy định độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự thấp nhất là 6 tuổi như Mêhicô và Hoa Kỳ (Bắc Crollina), còn độ tuổi cao nhất là 18 tuổi tại các quốc gia như Côlômbia và Luychxămbua. Đối chiếu với quy định của các nước trên thế giới, quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự ở Việt Nam là phù hợp với xu thế chung của phần lớn các quốc gia trên thế giới là 14 tuổi.
1.3.3. Cơ sở tâm sinh lý
Một người, kể từ khi sinh ra không thể nhận thức đầy đủ về hành vi của mình cũng như không thể có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi khi chưa đạt đến một sự phát triển nhất định. Sự phát triển của một người sẽ đi liền với sự phát triển về tâm sinh lý. Triết học Mác-Lênin cũng đã thừa nhận sự phát triển là quá trình biến đổi của sự vật từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp. Sự phát triển của trẻ em dựa trên nguyên lí đó được hiểu là một quá trình tích lũy dần về số lượng, dẫn đến sự thay đổi về chất lượng, là quá trình nảy sinh cái mới trên cơ sở cái cũ do sự đấu tranh giữa các mặt đối lập nằm ngay trong bản thân các sự vật, hiện tượng.
Theo nghiên cứu về sự hình thành và phát triển nhân cách con người, có thể chia giai đoạn tuổi học sinh thành ba thời kỳ: nhi đồng, thiếu niên và thanh niên[37,tr84]. Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Thời kỳ nhi đồng diễn ra từ 6-7 tuổi đến 11-12 tuổi. Trong thời kỳ này trẻ em cũng có những bước phát triển nhất định về tâm sinh lý nhất định, tuy nhiên trẻ có thể vẫn chưa nhận thức được về mặt hành vi mang tính nguy hiểm cho xã hội. Thêm vào đó, các hoạt động và sự phát triển tâm lý của trẻ hầu hết bị chi phối và phụ thuộc vào bố mẹ và những người xung quanh. Trẻ em thời kỳ có khả năng điều khiển hành vi còn nhiều hạn chế nên những hành vi còn chưa có tính độc lập cao, ý chí chủ yếu điều khiển để thực hiện hành vi cho đúng theo yêu cầu của người khác. Chính những yếu tố trên, cho nên theo pháp luật Việt Nam trẻ em sẽ không phải chịu Trách nhiệm hình sự.
Tuổi thiếu niên là giai đoạn từ 11-12 tuổi đến 14-15 tuổi. Ở lứa tuổi này sẽ diễn ra bước nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, bởi lẽ đây là giai đoạn chuyển tiếp giữa tuổi nhi đồng sang tuổi trưởng thành, việc này rất dễ dẫn đến mất thăng bằng tâm lý của trẻ em. Đây là giai đoạn dậy thì của mỗi người, dẫn đến sự phát triển khác biệt về mọi mặt như: thể chất, trí tuệ, tình cảm, đạo đức,… Phương hướng phát triển tính người lớn ở lứa tuổi này có thể xảy ra theo nhiều hướng. Đối với một số em, tri thức sách vở hiểu biết nhiều nhưng về thực tiễn đời sống xã hội thì các em hiểu biết rất ít. Còn một số chỉ quan tâm đến những vấn đề giao tiếp xã hội, để tỏ ra mình cũng như người lớn. Ở một số em khác không biểu hiện tính người lớn ra bên ngoài, nhưng thực tế đang cố gắng rèn luyện mình có những đức tính của người lớn như: dũng cảm, tự chủ, độc lập …còn quan hệ với bạn gái như trẻ con[39,tr16]. Đây là thời kỳ hình thành những quan điểm xã hội và đạo đức của nhân cách, chúng sẽ được tiếp tục phát triển trong tuổi thanh niên. Có thể nói đây là thời kỳ mà tâm sinh lý con người phát triển phức tạp nhất, giai đoạn này vừa có những đặc trưng tâm lý của tuổi nhi đồng lại vừa có những đặc trưng tâm lý của tuổi thanh niên. Vì thế, nếu đưa Trách nhiệm hình sự vào lứa tuổi này sẽ có phần quá hà khắc. Trong quan hệ pháp luật hình sự, hiểu rõ vị trí và ý nghĩa của giai đoạn phát triển tâm lý thiếu niên là căn cứ để xác định độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự một cách đúng đắn.
Thời kỳ thanh niên diễn ra từ 14-15 tuổi đến 17-18 tuổi, ở độ tuổi này đang trong giai đoạn phát triển hoàn thiện thế giới quan, do vậy khi quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự cũng cần xét đến các đặc trưng tâm lý để quy định cho phù hợp. Thứ nhất, những người trong độ tuổi này là người đang trong quá trình phát triển cả về sinh lý cơ thể lẫn tâm lý, ý thức. Trong cơ thể diễn ra sự phát triển không cân bằng giữa hệ tim và mạch, tim phát triển nhanh hơn và các mạch máu đã gây ra sự thiếu máu trong từng bộ phận trên vỏ não và đôi khi còn làm rối loạn chức năng trong hoạt động của hệ tim mạch. Do đó, những người trong độ tuổi này thường có cảm giác mệt mỏi, dễ bị kích động, dễ nổi nóng. Đồng thời trong hoạt động của hệ thần kinh trung ương, dễ đưa họ đến những con xúc động mạnh, những phản ứng nóng nảy vô cớ, những hành vi bất bình thường. Vì vậy nhiều trường hợp không làm chủ được bản thân, dễ bị kích động, lôi kéo, dễ gây gổ [41,tr68]. Những diễn biến tâm lý này dẫn đến việc dễ có những sai lầm trong nhận thức và điều khiển hành vi. Thứ hai, người chưa thành niên có nhu cầu độc lập rất lớn. Những người trong độ tuổi này thường cho rằng “mình không còn là trẻ con nữa”, muốn tự quyết định các vấn đề, muốn khẳng định mình trước cha mẹ, bạn bè và mọi người xung quanh [41,tr70 ]. Thứ ba những người trong độ tuổi này do ít khi phải tiếp xúc với pháp luật nên kiến thức về pháp luật của còn rất hạn chế. Có thể trong độ tuổi này các em có thể nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, tuy nhiên lại không nhận thức hết được hậu quả trong hành vi của mình, những hành vi nguy hiểm cho xã hội thường xuất phát từ việc thiếu khả năng kiểm soát hành vi, dễ nổi nóng, bốc đồng…Độ tuổi thanh niên thường dễ bị người khác dụ dỗ, kích động, thúc đẩy vào việc thực hiện tội phạm. Tuy nhiên, do ý thức phạm tội của họ chưa rõ ràng và chưa chắc chắn nên dễ uốn nắn, cải tạo, giáo dục họ trở thành người có ích cho xã hội. Vì thế khi quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự cần xét đến sự hạn chế trong nhận thức và hiểu biết về pháp luật của độ tuổi này.
Tóm lại, từ những phân tích trên pháp luật chỉ nên truy cứu Trách nhiệm hình sự người từ đủ 14 tuổi trở lên nhưng chưa đủ 16 tuổi trong những trường hợp thật cần thiết. Những người từ 16 tuổi trở lên đã có khả năng nhận thức toàn diện hơn nên có thể truy cứu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Tuy vậy, ở độ tuổi này, nên áp dụng những biện pháp giáo dục, quản lý của gia đình, nhà trường. Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Mặt khác, tâm lý của mọi người trong xã hội có tầm ảnh hưởng quan trọng đối với việc quy định độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của một quốc gia. Nhà nước ban hành pháp luật dựa trên ý chí của người dân, những quy định về pháp luật nói chung và pháp luật hình sự nói riêng phải có sự đồng thuận của nhân dân thì mới có giá trị. Gần đây trong xã hội việc trẻ hóa tội phạm ngày một gia tăng về cả số lượng lẫn mức độ nguy hiểm, việc này ảnh hưởng không nhỏ đến tâm lí của mọi người. Có nhiều quan điểm cho rằng nên giảm độ tuổi tối thiểu phải chịu Trách nhiệm hình sự xuống so với độ tuổi 14 tuổi mà Bộ luật hình sự 2015 quy định.
1.3.4. Cơ sở về nhu cầu đấu tranh chống tội phạm
Thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, phòng ngừa tội phạm do người chưa thành niên thực hiện nói riêng là cơ sở thực tiễn để xác định và quy định độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. căn cứ vào kết quả của thực tiễn của nhiều công trình, khảo sát về tội phạm học, điều tra hình sự,…sẽ giúp các nhà làm luật sẽ điều chỉnh độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự một cách phù hợp. Trong bối cảnh trẻ hóa tội phạm như hiện nay, theo khảo sát Viện Kiểm sát Nhân dân Tối cao công bố năm 2018 cho thấy, trung bình mỗi năm có 10.000 vụ phạm pháp hình sự do người vị thành niên thực hiện. Theo nhận định về tình hình tội phạm hiện nay, vấn đề đáng lo ngại là về lứa tuổi. Người phạm tội từ 18 – 30 tuổi chiếm khoảng 70%, dưới 18 tuổi chiếm 8%, tỷ lệ này cũng đang có chiều hướng gia tăng. Đa số người phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, con số này chiếm 82%.[52] Tuy nhiên, có những vụ án xảy ra trong thời gian gần đây, người thực hiện hành vi phạm tội là những người chưa thành niên, đều nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình nhưng vẫn tái phạm với cùng một tội danh gây hậu quả lớn cho xã hội nhưng hình phạt còn chưa đủ nghiêm khắc khiến cho họ còn bất chấp vẫn thực hiện hành vi phạm tội.
Trẻ vị thành niên là đối tượng cần được chăm sóc, bảo vệ và quan tâm đặc biệt vì về mặt tâm sinh lý các em chưa phát triển hoàn thiện. Nhưng thực tiễn cũng cho thấy một số trường hợp, hành vi của những người ở lứa tuổi này cũng đã gây ra cho xã hội những thiệt hại rất lớn và để lại những hậu quả rất nghiêm trọng thậm chí đặc biệt nghiêm trọng. Việc không truy cứu Trách nhiệm hình sự đối với họ đã để lại những hậu quả không tốt cho xã hội, kích động những người trong lứa tuổi này thực hiện hành vi nguy hiểm, nhiều trường hợp họ lấy việc đó để khẳng định mình. Hiện nay, đứng trước thực trạng người chưa thành niên phạm tội gia tăng và diễn biến ngày càng phức tạp, nhiều ý kiến cho rằng cần phải hạ độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự và tăng mức hình phạt để trừng trị tội phạm, nâng cao tác dụng giáo dục phòng ngừa.
Từ những thực trạng đó, có nhiều quan điểm cho rằng quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong pháp luật Việt Nam hiện hành là không còn phù hợp và cần thiết phải giảm mức tối thiểu chịu Trách nhiệm hình sự và mức tuổi người thành niên là thấp hơn 18 tuổi tròn. Đây cũng là vấn đề nhức nhối trong xã hội và các nhà lí luận hình sự vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau. Tuy nhiên, xét về tỉ lệ phạm tội, tội phạm là người chưa thành niên chiếm tỉ lệ rất ít. Hơn nữa, trẻ vị thành niên xét về mặt tâm sinh lý các em phát triển vẫn chưa hoàn thiện, chịu ảnh hưởng rất lớn từ môi trường giáo dục và gia đình. Vì thế, việc giảm độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là quá hà khắc và không thích hợp.
Tóm lại, xuất phát từ nguyên tắc nhân đạo trong pháp luật, từ những đặc điểm tâm sinh lý học, căn cứ về cả điều kiện kinh tế – xã hội, pháp lý, tâm sinh lý học với công tác đấu tranh phòng chống tội phạm, các nhà làm luật đã căn cứ vào những yếu tố đó để đưa ra quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự một cách phù hợp.
1.4. Mối liên hệ giữa tuổi chịu trách nhiệm hình sự với trách nhiệm hình sự Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là khoảng thời gian tối thiểu kể từ khi chào đời cho đến một thời điểm nào đó để một cá nhân được nhà nước thừa nhận là có khả năng gánh chịu hậu quả pháp lý do hành vi phạm tội gây ra. Khoảng thời gian tối thiểu này thường không phải là duy nhất, không được áp dụng xuyên suốt và thống nhất đối với tất cả các tội phạm được quy định trong bộ luật hình sự của một quốc gia. Trái lại, luật hình sự thường phân chia tuổi chịu Trách nhiệm hình sự thành các nhóm khác nhau để bảo đảm nguyên tắc công bằng, nhân đạo và phân hoá Trách nhiệm hình sự. Theo đó, tuỳ thuộc vào loại tội phạm khác nhau mà các nhà lập pháp sẽ quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự đối với cá nhân phạm tội một cách tương ứng và phù hợp, do đó mà tuổi chịu Trách nhiệm hình sự có mối liên hệ mật thiết hữu cơ với Trách nhiệm hình sự.
Đối với những trường hợp chủ thể tuổi còn quá trẻ, non nớt, suy nghĩ còn nông cạn mà thực hiện hành vi nguy hiểm nào đó xâm hại đến các quan hệ xã hội được pháp luật hình sự bảo vệ, nhà làm luật thường phải cân nhắc tính cần thiết phải xử lý về hình sự hay không. Việc xử lý hình sự thể hiện chính sách hình sự của quốc gia và tác động trực tiếp tới hiệu quả đấu tranh phòng và chống tội phạm. Đặc biệt trong xu thế toàn cầu hoá, các quốc gia có nghĩa vụ thực hiện những cam kết quốc tế về bảo vệ nhân quyền, nhân đạo hoá luật hình sự và thúc đẩy nghĩa vụ chăm sóc và bảo vệ trẻ em, bảo vệ người chưa thành niên với tư cách là một nhóm đối tượng yếu thế trong xã hội. Xuất phát từ những lý do này, luật hình sự của một số quốc gia trên thế giới phân chia tuổi chịu Trách nhiệm hình sự thành các nhóm khác nhau, theo đó có nhóm tuổi chỉ phải chịu Trách nhiệm hình sự một cách hạn chế, nhóm tuổi khác lại chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm được quy định trong luật hình sự. Nói cách khác, trong cùng một Bộ luật hình sự, với các loại tội phạm khác nhau thì tuổi chịu Trách nhiệm hình sự cũng có thể khác nhau. Ví dụ đối với Điều 17 luật hình sự Trung Quốc, chỉ những tội như giết người hoặc cố ý gây thương tích dẫn đến thương tích nặng hoặc chết người, hiếp dâm, cướp giật, mua bán chất ma tuý, đốt nhà, đặt bom, đầu độc mới được luật quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là 14, còn tất cả các tội phạm khác thì tuổi chịu Trách nhiệm hình sự lại là 16[15,tr43] ; tương tự như vậy, ở Việt Nam cũng chỉ rõ một số tội phạm nhất định có quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của chủ thể là 14, còn các tội phạm còn lại thì tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là 16 , cá biệt còn có một số tội được Bộ luật hình sự quy định tuổi chịu Trách nhiệm hình sự là 18.
Từ những phân tích nêu trên cho thấy, tuổi chịu Trách nhiệm hình sự luôn có mối liên hệ chặt chẽ với trách nhiệm hình sự. Nội dung của mối liên hệ này thể hiện ở việc tuổi chịu Trách nhiệm hình sự thường được phân chia thành các nhóm khác nhau để bảo đảm nguyên tắc công bằng, nhân đạo và phân hoá trách nhiệm hình sự. Khi tuổi chịu Trách nhiệm hình sự được chia thành những nhóm khác nhau thì Trách nhiệm hình sự của người phạm tội thuộc mỗi nhóm tuổi cũng rất khác nhau. Theo đó, Trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội thuộc nhóm tuổi thấp hơn sẽ nhẹ hơn và ngược lại, Trách nhiệm hình sự đối với chủ thể phạm tội thuộc nhóm tuổi cao hơn sẽ nặng hơn. Lý do của sự phân hoá Trách nhiệm hình sự này dựa trên những cơ sở khoa học cho thấy những người ít tuổi thường non nớt, ít kinh nghiệm sống, dễ bị kích động dẫn đến phạm tội và đặc biệt cũng là đối tượng dễ giáo dục và uốn nắn để trở thành người lương thiện.
Kết luận chương 1 Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
Trên cơ sở phân tích nghiên cứu những vấn đề lý luận về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự, ở chương này tác giả đã trình bày được những nội dung cơ bản sau:
Đưa ra khái niệm tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của một người là khoảng thời gian tối thiểu kể từ khi chào đời cho đến một thời điểm nào đó để một cá nhân được nhà nước thừa nhận là có khả năng gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi do hành vi phạm tội gây ra. Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự có những đặc điểm như: được quy định trong luật hình sự;, tuổi chịu Trách nhiệm hình sự chỉ áp dụng với chủ thể là cá nhân; phản ánh khoảng thời gian tối thiểu của một người từ khi sinh ra cho đến lúc bắt đầu có khả năng gánh chịu Trách nhiệm hình sự; được tính theo tuổi tròn và được tính theo năm; Tuổi chịu trách nhiệm hình sự được ghi nhận trong luật hình sự của mỗi quốc gia, và mỗi quốc gia, mỗi thời kỳ lịch sử sẽ có quy định khác nhau về độ tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Phân tích và làm rõ cơ sở kinh tế – xã hội, cơ sở pháp lý, cơ sở tâm sinh lý học và thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm là cơ sở để các nhà làm luật đưa ra quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự. Xét từ mặt kinh tế – xã hội, từ thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm cho thấy người từ dưới 14 tuổi thực hiện tội phạm ngày càng gia tăng. Tuy nhiên, số tội phạm là người dưới 14 tuổi chiếm tỷ lệ rất ít trong tổng số người phạm tội, các hành vi phạm tội phần lớn đều mang tính bột phát và cảm tính. Phân tích về sự phát triển tâm sinh lý của lứa tuổi học sinh cho thấy sự phát triển của người dưới 18 tuổi chưa hoàn thiện về cả thể chất và tinh thần, chưa hoàn toàn nhận thức đầy đủ và quyết định chính xác hình vi của mình. Đặc biệt là độ tuổi từ 11-12 tuổi đến 14-15 tuổi, độ tuổi này có sự nhảy vọt về thể chất lẫn tinh thần, việc này rất dễ dẫn đến mất thăng bằng tâm lý và hành động mang cảm tính, bộc phát. Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự