Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật hình sự thực định về quyết định hình phạt trong đồng phạm dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quy định của pháp luật hình sự về quyết định hình phạt trong đồng phạm trước khi ban hành Bộ luật hình sự năm 2015

2.1.1. Quy định trong giai đoạn trước khi pháp điển hóa lần thứ nhất.

Thời kỳ sau Cách mạng tháng Tám cho đến khi có BHLS năm 1985, chế định quyết định hình phạt và tổng hợp hình phạt chưa được quy định trong các văn bản pháp luật nào mà chỉ được đề cập trong các Sắc luật, các báo cáo công tác của ngành Tòa án nhân dân và các công văn của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn các Tòa án địa phương về việc xét xử.

Chế định quyết định hình phạt, vấn đề các căn cứ quyết định hình phạt, quyết định hình phạt trong các trường hợp đặc biệt như: quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của luật, quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội; quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội… Mặc dù, các quy định còn sơ lược, chung chung, các thuật ngữ chưa được sử dụng chính xác. Nhưng về cơ bản, các quy định đã thể hiện nội dung, tinh thần của chế định quyết định hình phạt. Ví như: vấn đề các căn cứ quyết định hình phạt đã được đề cập tới. Đã chỉ ra tương ứng với bốn căn cứ quyết định hình sự theo bộ luật hình sự hiện hành. Tuy nhiên, thuật ngữ “căn cứ quyết định hình phạt” vẫn chưa được sử dụng ở giai đoạn này. “Trước hết, chúng ta căn cứ vào tính chất nguy hại của phạm pháp để phân biệt phạm pháp nặng, phạm pháp nhẹ… Chúng ta cũng căn cứ vào người phạm pháp…Chúng ta phải căn cứ vào pháp luật hiện có…”.

Trong lĩnh vực đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật hình sự, Nhà nước đã quy định cơ sở pháp lý cho việc giải quyết các vụ án hình sự: “Để giải quyết các vụ án về hình sự, cần áp dụng:

  • Pháp luật hình sự của Nhà nước ta đã ban hành và đương còn hiệu lực (luật, sắc lệnh, pháp lệnh, nghị định, thông tư…);
  • Đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước; Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.
  • Án lệ của các Tòa án (Tổng kết thực tiễn xét xử của Tòa án nhân dân tối cao)”.

Đặc biệt, để đảm bảo tính pháp chế trong việc quyết định hình phạt, các Toà án đã căn cứ vào các quy định có tính nguyên tắc của Hiến pháp (Điều 100 Hiến pháp năm 1959) và của luật (Điều 4 Luật số 18 ngày 14/7/1960 về tổ chức Tòa án nhân dân…). Song, do chúng ta chưa có bộ luật hình sự nên căn cứ pháp lý của việc quyết định hình phạt chưa được quy định cụ thể, thống nhất trong bất kỳ văn bản luật nào. Mặc dù vậy, vẫn có thể khẳng định rằng việc quyết định hình phạt của Toà án trong thực tiễn đã được dựa trên các căn cứ pháp lý nhất định, được thừa nhận trong lý luận pháp luật hình sự và trong các Báo cáo tổng kết công tác của TAND tối cao. Cụ thể, tại Bản tổng kết về thảo luận báo cáo công tác ngành Toà án năm 1959 của TAND tối cao có nêu: “a) Làm thế nào, căn cứ vào đâu để cân nhắc hình phạt cho đúng? … Trước hết, chúng ta căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hại của phạm pháp để phân biệt phạm pháp nặng, phạm pháp nhẹ (Ví dụ: ăn cắp của công nguy hại hơn là đụng đến quyền tư hữu, giết người nguy hại hơn đánh người…). Chúng ta cũng căn cứ vào người phạm pháp (tuổi, bản chất, có tiền án hay không, khả năng cải tạo, thành tích…) và trường hợp tăng hoặc giảm tội… Chúng ta chưa có một bộ hình pháp đầy đủ. Chúng ta phải căn cứ vào pháp luật hiện có, vào đường lối chính sách chung, vào án lệ, kinh nghiệm của chúng ta để xác định tính chất về mức độ nguy hại của phạm pháp cho đúng”.

Qua Bản tổng kết này có thể thấy việc quyết định hình phạt đã được dựa trên những căn cứ nhất định. Đó là căn cứ vào “tính chất và mức độ nguy hại của phạm pháp”; căn cứ vào “người phạm pháp (tuổi, bản chất, có tiền án hay không, khả năng cải tạo, thành tích…); căn cứ vào “pháp luật hiện có, vào đường lối chính sách chung, vào án lệ, kinh nghiệm”.

Vấn đề quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của của luật, các nhà làm luật đã quy định rõ giới hạn được phép khi quyết định hình phạt. Sau đó, vấn đề này được hướng dẫn cụ thể ở các nhiều các văn bản khác nhau theo hướng chi tiết, chặt chẽ hơn.

QĐHP trong trường hợp phạm nhiều tội, được đề cập trong một số báo cáo tổng kết công tác ngành cũng như một số công văn của TANDTC gửi các Tòa án địa phương. Các văn bản này đã hướng dẫn các tòa định tội danh – cơ sở để quyết định hình phạt đúng. Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.

Ở giai đoạn này, Nhà nước ta chưa ban hành một văn bản pháp luật hình sự nào quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt và chỉ coi là một trường hợp riêng lẻ – trường hợp giết người chưa đạt. quyết định hình phạt trong đồng phạm, thời gian đầu, chưa có sự phân hóa TNHS của những người đồng phạm. Sau đó, các văn bản pháp luật đã có sự tiến bộ rõ rệt phân biệt hình thức, vai trò của những người đồng phạm. quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, đã được đề cập trong báo cáo tổng kết công tác ngành Tòa án, hướng dẫn được lối xử lý người chưa thành niên đối với một số tội phạm cụ thể như trộm cắp, giết người, hiếp dâm.

Bên cạnh đó, nghiên cứu về lịch sử quyết định hình phạt trong đồng phạm còn cần đánh giá về quy định về đồng phạm trong lịch sử lập pháp hình sự.

Sau năm 1945, Chế định đồng phạm, vấn đề những loại người đồng phạm được ghi nhận ở nhiều văn bản pháp luật hình sự khác nhau, nhưng mới chỉ được xem xét ở một số khía cạnh nhất định chứ chưa hoàn chỉnh, khái niệm đồng phạm và khái niệm người đồng phạm chưa được quy định. Sắc lệnh số 26/SL ngày 25/2/1946 về việc trừng trị nghiêm khắc những kẻ phá hoại cầu, cống, đường xe lửa, đường giao thông, điện thoại, điện tín… đã có quy định về hành vi của người “oa trữ” như sau: “những kẻ oa trữ các dây điện thoại hay dây điện tín cũng bị phạt như những kẻ ăn trộm các đồ vật ấy”.

Như vậy, trong các Sắc lệnh do Nhà nước ta ban hành ngay sau Cách mạng tháng Tám thành công nhằm bảo vệ chính quyền mới thành lập, bảo vệ các thành quả cách mạng vừa giành được, bảo vệ trật tự xã hội mới và các quyền công dân, phạm vi đồng phạm đã được quy định rộng, bao gồm cả hành vi “oa trữ”, oa trữ là hành vi chứa chấp, tiêu thụ của gian mà không phân biệt có hứa hẹn trước hay không. Mặt khác, do thời gian này nước ta còn chịu ảnh hưởng của tư duy pháp lý Châu Âu lục địa nên các văn bản pháp luật hình sự nước ta vẫn sử dụng các khái niệm “tòng phạm”, “chính phạm”.

Sắc lệnh số 223/SL ngày 17/11/1946 truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ, lần đầu tiên thuật ngữ đồng phạm đã được quy định: “Người phạm tội còn có thể bị xử, tịch thu nhiều nhất là đến ba phần tư gia sản. Các đồng phạm và tòng phạm cũng bị phạt như trên. Tuy thuật ngữ đồng phạm đã xuất hiện nhưng trong Sắc lệnh 223/SL sử dụng cả thuật ngữ “đồng phạm” và “tòng phạm”. Thuật ngữ đồng phạm ở đây được hiểu tương ứng với thuật ngữ coauteur của luật hình sự Pháp với nghĩa là đồng thực hành chứ không phải là đồng phạm theo nghĩa hiện nay.

Cùng với sự phát triển của khoa học luật hình sự, khái niệm đồng phạm đã bắt đầu xuất hiện trong các sách báo pháp lý, các báo cáo tổng kết của ngành Tòa án. Trong báo cáo tổng kết công tác năm 1963 của Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) đã đưa ra khái niệm cộng phạm trong đó có đề cập đến hành vi tổ chức, xúi giục, giúp sức và trực tiếp tham gia tội phạm trong cộng phạm như sau: “Coi là cộng phạm hai hoặc nhiều người cùng chung ý chí và hành động, nghĩa là hoặc tổ chức, hoặc xúi giục, hoặc giúp sức, hoặc trực tiếp cùng tham gia tội phạm để cùng đạt tới kết quả phạm tội”. Về sau, giáo trình hình luật XHCN của trường Cao đẳng kiểm sát Hà Nội đã nêu ra khái niệm hoàn chỉnh hơn: “Hai hoặc nhiều người cùng cố ý tham gia thực hiện một tội phạm thì gọi là cộng phạm”.

2.1.2. Quy định trong Bộ luật hình sự 1985 Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.

Bộ luật hình sự năm 1985 ra đời đánh dấu bước ngoặt phát triển lịch sử lập pháp hình sự Việt Nam – là cơ sở pháp lý đầu tiên để điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự. bộ luật hình sự năm 1985 đã điều chỉnh các quan hệ pháp luật hình sự cơ bản quan trọng, trong đó có các chế định quyết định hình phạt và tổng hợp hình phạt.

  • Về quyết định hình phạt, bộ luật hình sự năm 1985 có những quy định cụ thể như sau:

Với sự ra đời của bộ luật hình sự năm 1985, lần đầu tiên, các căn cứ quyết định hình phạt đã được chính thức quy định Điều 37 với tiêu đề: “Nguyên tắc quyết định hình phạt”. Theo quy định của Điều luật, khi quyết định hình phạt, Toà án căn cứ vào: các quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS. Việc quy định căn cứ quyết định hình phạt trong bộ luật hình sự sẽ đảm bảo cho quyết định hình phạt được thực hiện một cách chính xác và thống nhất trong phạm vi toàn quốc. Tuy nhiên, qua so sánh giữa nội dung với tiêu đề của Điều 37 bộ luật hình sự năm 1985 cho thấy việc nhà làm luật đồng nhất giữa “nguyên tắc quyết định hình phạt” với “căn cứ quyết định hình phạt” là chưa thực sự khoa học và chưa chính xác.

BLHS năm 1985 đã đồng nhất căn cứ quyết định hình phạt và nguyên tắc quyết định hình phạt. Nội dung quyết định hình phạt trong các trường hợp đặc biệt cũng đã được ghi nhận bước đầu. Ví dụ như: quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật được quy định tại khoản 3 Điều 38 nhưng chưa có tên gọi riêng như bộ luật hình sự hiện hành; quyết định hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội được quy định tại Điều 41 và được hướng dẫn cụ thể tại Nghị quyết 02/ HĐTP ngày 5/1/1986; quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt chưa được quy định thành một chế định độc lập mà được quy định chung tại Điều 15 – điều luật quy định về chuẩn bị phạm tội và phạm tội chưa đạt; quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm đã được quy định, nhà làm luật đã đưa ta các căn cứ quyết định hình phạt trong trường hợp này (khoản 4 Điều 17); quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên được hiểu là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, được quy định tại chươngVII. Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.

Về chế định đồng phạm, bộ luật hình sự năm 1985 quy định như sau: Điều 17 bộ luật hình sự năm 1985 quy định về đồng phạm và những loại người đồng phạm như sau: 1. Hai hoặc nhiều người cố ý cùng thực hiện một tội phạm là đồng phạm. 2 Người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm. Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm. Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm. Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm. 3. Phạm tội có tổ chức là hình thức đồng phạm có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm. 4.

Khi quyết định hình phạt, phải xét đến tính chất đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc loại trừ TNHS riêng cho người đồng phạm nào thì chỉ áp dụng đối với người đó.

BLHS năm 1985 lần đầu tiên ghi nhận chế định đồng phạm trong đó quy định khái niệm đồng phạm, quy định chi tiết về từng loại người đồng phạm và nguyên tắc áp dụng TNHS đối với mỗi người đồng phạm đã đánh dấu một bước phát triển về chất trong hoạt động lập pháp hình sự ở nước ta. Thuật ngữ “đồng phạm” đã được sử dụng thay thế cho thuật ngữ “cộng phạm” đã từng được sử dụng trong các văn bản pháp luật hình sự trước đây, mặc dù bản chất pháp lý của thuật ngữ đó không thay đổi nhưng sử dụng thuật ngữ “đồng phạm” là chính xác hơn. Đồng phạm ở đây chỉ sự kiện đồng phạm, quan hệ đồng phạm, người đồng phạm bao gồm cả người thực hành, người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức, khác hẳn với nghĩa cộng phạm chỉ người đồng thực hành trong Sắc lệnh số 223-SL ngày 17/11/1946 về truy tố các tội hối lộ, phù lạm, biển thủ công quỹ hoặc trong luật hình sự các nước tư bản. bộ luật hình sự 1985 chưa có quy định cụ thể về quyết định hình phạt trong đồng phạm.

2.1.3. Quy định trong Bộ luật hình sự 1999

Bước vào thập niên 90, hoàn cảnh kinh tế – xã hội, chính trị của nước ta có nhiều thay đổi lớn, nhất là sự dịch chuyển nền kinh tế từ kinh tế tập trung quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường định hướng XHCN đã kéo theo vấn đề xã hội thay đổi nhanh chóng (trong đó tình hình tội phạm chuyển biến đáng kể). Sự thay đổi đó kéo theo khiến cho bộ luật hình sự năm 1985 bộc lộ nhiều hạn chế cả về nội dung và kỹ thuật lập pháp. bộ luật hình sự năm 1999 ra đời là một tất yếu khách quan, bộ luật mới này đã có nhiều thay đổi khắc phục được những hạn chế của bộ luật hình sự năm 1985. Trong đó, chế định quyết định hình phạt đã được sửa đổi theo hướng hoàn thiện hơn. Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.

Căn cứ quyết định hình phạt được quy định tại Điều 45 bộ luật hình sự năm 1999 “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của bộ luật hình sự, căn nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS”. Theo đó, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ và bốn yếu tố: (i) quy định của bộ luật hình sự; (ii) tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội; (iii) nhân thân người phạm tội; (iiii) các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS.

Ngoài ra bộ luật hình sự năm 1999 còn quy định về các trường hợp quyết định hình phạt trong trường hợp cụ thể gồm: quyết định hình phạt nhẹ hơn quy định của Bộ luật; quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt; quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm; quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.

QĐHP trong trường hợp đồng phạm được quy định tại Điều 53 bộ luật hình sự năm 1999, theo đó: “Khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải xem xét đến tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ TNHS thuộc người đồng phạm nào, thì chỉ áp dụng đối với người đó.”

  • Như vậy, khi quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, Tòa án phải xét đến các yếu tố sau:

Một là, tính chất của đồng phạm, khi xem xét tính chất của đồng phạm phải xác định được vụ án thuộc hình thức đồng phạm giản đơn hay phức tạp để quyết định hình phạt cho chính xác.

Hai là, tính chất và mức độ tham gia của từng người đồng phạm, được quyết định bởi vai trò mà người đồng phạm đảm nhận, tác dụng của người đó đối với hoạt động phạm tội chung của cả nhóm. Xác định tính chất tham gia phạm tội của từng người đồng phạm chính là xác định người đồng phạm đó đóng vai trò là loại người đồng phạm nào, là người tổ chức, là người xúi giục, giúp sức hay là người thực hành.

Ba là, tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng hoặc loại trừ TNHS của từng người đồng phạm, chỉ được áp dụng đối với chính người đó. Căn cứ này là sự cụ thể hóa nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đối với những người đồng phạm. Đó là những tình tiết thuộc về nhân thân người phạm tội như phạm tội lần đầu, tái phạm, tái phạm nguy hiểm, người phạm tội là phụ nữ có thai… hoặc là những tình tiết khác liên quan đến từng người đồng phạm như phạm tội vì động cơ đê hèn, tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

2.2. Quy định của Bộ luật hình sự 2015 Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.

2.2.1. Quy định về quyết định hình phạt

Các căn cứ quyết định hình phạt là những đòi hỏi cơ bản có tính nguyên tắc do luật hình sự quy định hoặc do giải thích luật mà có, buộc Tòa án phải tuân theo khi quyết định hình phạt đối với người thực hiện tội phạm. Điều 50 bộ luật hình sự quy định về căn cứ quyết định hình phạt như sau: “Khi quyết định hình phạt, Tòa án căn cứ vào quy định của Bộ luật này, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS”. Như vậy, theo quy định của Điều 50 bộ luật hình sự năm 2015 thì các căn cứ quyết định hình phạt bao gồm:

  • Các quy định của bộ luật hình sự;
  • Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của của hành vi phạm tội;
  • Nhân thân người phạm tội;
  • Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS và – tình hình tài sản và khả năng thi hành án của người phạm tội đối với hình phạt tiền.

Căn cứ vào các quy định của bộ luật hình sự: Khi quyết định hình phạt, Tòa án trước hết phải căn cứ vào các quy định của bộ luật hình sự, tức là căn cứ vào các quy định của phần chung và phần các tội phạm của bộ luật hình sự.

Phần chung của bộ luật hình sự có 107 điều luật mang tính nguyên tắc, áp dụng chung cho các tội phạm, khi quyết định hình phạt, Tòa án phải căn cứ vào tất cả các quy định của Phần chung nhưng không phải viện dẫn tất cả các quy định của phần chung vào trong vụ án cụ thể. Tòa án chỉ phản ánh trong bản án những quy định của Phần chung mà dựa vào đó để đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm đã thực hiện và nhân thân người phạm tội, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS có trong một vụ án cụ thể nhằm chọn loại và mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo. Phần các tội phạm là những tội phạm cụ thể được quy định trong những điều luật, khi quyết định hình phạt Tòa án phải căn cứ vào loại và khung hình phạt được quy định đối với tội danh mà bị cáo đã thực hiện để chọn một loại và mức hình phạt hợp lý, công bằng và nhân đạo nhất. Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.

Như vậy, khi quyết định hình phạt, Tòa án cần phải căn cứ vào tất cả các quy định của bộ luật hình sự ở dạng thống nhất, tổng thể của chúng và phải cân nhắc, chỉ rõ trong bản án những quy định của bộ luật hình sự có liên quan trực tiếp đến việc quyết định của một hình phạt cụ thể đối với một bị cáo cụ thể. Các quy định của bộ luật hình sự là căn cứ cơ bản nhất của việc quyết định hình phạt, đó cũng là đòi hỏi quan trọng của nguyên tắc pháp chế XHCN khi quyết định hình phạt.

Tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thể hiện ở tổng thể của hai khái niệm “tính chất” và “mức độ” nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, được quyết định bởi ý nghĩa, tính chất, tầm quan trọng và giá trị của các quan hệ xã hội bị tội phạm đó xâm hại là khách thể bị xâm hại. Tính chất nguy hiểm cho xã hội là đặc tính về chất của tội phạm, là một trong những cơ sở để phân chia tội phạm thành các loại khác nhau trong phần các tội phạm của bộ luật hình sự. Bên cạnh khách thể bị xâm hại, tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm còn phụ thuộc vào các dấu hiệu về mặt khách quan, về mặt chủ quan, và chủ thể là các dấu hiệu để thỏa mãn điều kiện cấu thành tội phạm. Mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cũng được xác định bởi tổng thể các dấu hiệu của cấu thành tội phạm và đó cũng là thuộc tính khách quan của tội phạm. Những tội phạm giống nhau về tính chất nguy hiểm cho xã hội có thể khác nhau về mức độ nguy hiểm cho xã hội. Nếu tính chất của tội phạm thể hiện ở dạng mức độ về chất, thì mức độ nguy hiểm của nó được thể hiện ở dạng mức độ về lượng nhất định của cùng một chất – tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Điều đó có nghĩa là khái niệm “tính chất” và “mức độ” nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không tách rời nhau, chúng tồn tại cùng nhau, bổ sung cho nhau và xâm nhập vào nhau.

Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải chỉ ra trong bản án những tình tiết cụ thể chứng minh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm cụ thể mà Tòa án dựa vào đó và cùng với các tình tiết khác để chọn loại và mức hình phạt cụ thể đối với bị cáo. Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.

Nhân thân người phạm tội: Nhân thân là lịch sử của người phạm tội, đó là một khái niệm nhiều mặt, bao gồm những đặc điểm, đặc tính khác nhau thể hiện bản chất xã hội, thể hiện tính cá biệt và tính không lặp lại của người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật hình sự coi là tội phạm [28, tr.275]. Những đặc điểm, đặc tính đó mang tính chất chính trị – xã hội, tâm lý, đạo đức, sinh lý. Khi quyết định hình phạt, Tòa án phải cân nhắc nhân thân người phạm tội, tức là cân nhắc những đặc điểm, đặc tính nói trên, làm cơ sở cho việc xác định và đánh giá mức độ nguy hiểm cho xã hội của người đó. Những đặc điểm, đặc tính hoặc là đã được chỉ rõ trong luật hoặc là ở dạng luật cho phép Tòa án cân nhắc trong trường hợp những đặc điểm, đặc tính ấy không được chỉ ra trong luật, nhưng chúng đều có ý nghĩa đối với việc quyết định hình phạt. Mỗi đặc điểm, đặc tính có ý nghĩa khác nhau đối với việc quyết định hình phạt và mức độ ảnh hưởng của mỗi đặc điểm, đặc tính ấy tùy thuộc vào việc nó được thể hiện cụ thể trong từng vụ án cụ thể. Những đặc điểm, đặc tính của nhân thân người phạm tội được Tòa án nghiên cứu, cân nhắc, đánh giá dưới hai khía cạnh: khía cạnh pháp luật hình sự và khía cạnh tội phạm học. Ở khía cạnh pháp luật hình sự là nhằm làm sáng tỏ những tình tiết có ý nghĩa trực tiếp đối với việc quyết định hình phạt. Đó là những tình tiết như: tái phạm, tái phạm nguy hiểm, phạm tội nhiều lần, có án tích hay không có án tích, động cơ, mục đích của tội phạm, phạm tội vì người khác đe dọa, cưỡng bức hay chi phối về mặt vật chất, công tác hay các mặt khác, người phạm tội là phụ nữ có thai, là người già hoặc người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình, người phạm tội tự thú, thật thà khai báo, ăn năn hối cải hoặc tích cực giúp đỡ các cơ quan có trách nhiệm phát hiện và điều tra tội phạm… Nghĩa là xác định, đánh giá, cân nhắc những đặc điểm, đặc tính thuộc nhân thân người phạm tội nhằm làm giảm nhẹ hoặc tăng nặng TNHS được quy định ở Điều 51 và Điều 52 của bộ luật hình sự 2015.

Các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS: Cân nhắc các tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ TNHS là một trong những căn cứ của việc quyết định hình phạt, tức là một trong những điều kiện quan trọng của việc cá thể hóa hình phạt. Luật không quy định cụ thể các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS có ảnh hưởng đến mức nào đối với việc quyết định hình phạt. Ý nghĩa của từng tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS tùy thuộc vào từng vụ án cụ thể, vào từng người phạm tội cụ thể. Bởi vậy, ở đây Tòa án có vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng có trong từng vụ án cụ thể.

Các tình tiết giảm nhẹ TNHS được cân nhắc khi quyết định hình phạt là những tình tiết khác nhau về tội phạm đã thực hiện, về nhân thân người phạm tội được quy định cụ thể trong bộ luật hình sự (Điều 51 của bộ luật hình sự 2015) và Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP của Tòa án nhân dân tôi cao ngày 04/08/2000).

Các tình tiết tăng nặng được cân nhắc khi quyết định hình phạt là những tình tiết khác nhau về tội phạm, về nhân thân người phạm tội được quy định cụ thể trong luật, có ý nghĩa làm tăng nặng TNHS và hình phạt đối với người phạm tội. Các tình tiết tăng nặng TNHS được quy định ở Điều 52 bộ luật hình sự 2015. Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.

Khi quyết định hình phạt Tòa án cần phải đánh giá khách quan, toàn diện, đầy đủ trong một tổng thể thống nhất các tình tiết giảm nhẹ lẫn các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Khi đánh giá, cân nhắc các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng TNHS, Tòa án phải ghi cụ thể trong bản án những tình tiết nào được coi là tình tiết giảm nhẹ, những tình tiết nào được cân nhắc với ý nghĩa tăng nặng. Việc chỉ ra một cách cụ thể các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trong bản án làm cho hình phạt được tuyên có sức thuyết phục, có căn cứ hơn đối với người bị kết án và những người khác, thể hiện tính công bằng, tạo điều kiện cho việc cải tạo, giáo dục người phạm tội, tạo điều kiện thuận lợi cho Tòa án cấp trên kiểm tra tính hợp pháp và tính có căn cứ của bản án.

Thực tiễn xét xử còn cho thấy, ý thức pháp luật XHCN của Thẩm phán và Hội thẩm cũng có ý nghĩa quan trọng đối với việc quyết định hình phạt. Trong một vụ án, có nhiều tình tiết thu thập được rất đa dạng, phức tạp và mâu thuẫn với nhau có ảnh hưởng khác nhau đến việc quyết định hình phạt. Để có một phán xét và quyết định cụ thể về loại và mức hình phạt cần tuyên, các Thẩm phán và Hội thẩm phải dựa vào ý thức pháp luật của mình để đánh giá ý nghĩa của từng tình tiết ở dạng riêng lẻ và ở dạng tổng thể của chúng, xác định tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhân thân người phạm tội, các tình tiết chủ quan và khách quan và trong phạm vi chế tài tương ứng, chọn và quyết định một loại và mức hình phạt đúng pháp luật, công bằng, có khả năng lớn để cải tạo, giáo dục người phạm tội, cũng như phòng ngừa riêng và phòng ngừa chung.

2.2.2. Quy định về quyết định hình phạt trong đồng phạm

Khi quyết định hình phạt đối với những người tham gia đồng phạm cụ thể, Tòa án phải dựa vào các căn cứ cụ thể sau đây:

  • Căn cứ thứ nhất: khi quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm, Tòa án phải cân nhắc tính chất của đồng phạm. Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.

Tính chất của đồng phạm là căn cứ đầu tiên mà tòa án phải dựa vào khi quyết định hình phạt. Tính chất của đồng phạm được xác định bởi tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có nhiều người tham gia dưới hình thức đồng phạm. Khi tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm thì làm cho tội phạm đó thay đổi về tính chất và mang tính nguy hiểm cao hơn. Bởi vì, khi tội phạm được thực hiện dưới hình thức đơn lẻ, người phạm tội có thể có tâm lý dao động, lo lắng, dễ thay đổi ý định… nhưng khi phạm tội được thực hiện dưới hình thức đồng phạm, người phạm tội thường có tâm lý tin tưởng vào sự phối hợp hành động của cả nhóm phạm tội nên quyết tâm phạm tội cao hơn, liều lĩnh hơn. Vì vậy, hoạt động phạm tội dưới hình thức đồng phạm thường mang lại hậu quả lớn hơn so với những trường hợp phạm tội đơn lẻ. Sự phối hợp hành động, phân công vai trò giữa những người đồng phạm làm cho hậu quả của tội phạm ngày càng nghiêm trọng và việc điều tra, phát hiện, xử lý tội phạm ngày càng khó khăn phức tạp hơn. Như vậy, tính nguy hiểm cao cho xã hội của tội phạm được thực hiện dưới hình thức đồng phạm quyết định mức độ TNHS của những người đồng phạm. Tính nguy hiểm cho xã hội của đồng phạm còn được quyết định bởi hình thức của đồng phạm. Hình thức của đồng phạm có ảnh hưởng nhất định đến mức độ TNHS của những người đồng phạm, nghĩa là hình thức đồng phạm càng nguy hiểm thì hành vi của mỗi người đồng phạm cũng nguy hiểm theo. Trong những hình thức đồng phạm như đồng phạm đơn giản, đồng phạm phức tạp, đồng phạm có thông mưu trước… thì đồng phạm có tổ chức là hình thức đồng phạm mang tính nguy hiểm nhất. Việc xem xét, cân nhắc tính chất đồng phạm là căn cứ chung, căn cứ đầu tiên mà tòa án phải dựa vào căn cứ này đầu tiên là bởi vì trong đồng phạm, tất cả những người tham gia đồng phạm đều cố ý thực hiện tội phạm đó. Tội phạm và hậu quả của tội phạm là kết quả chung của tất cả những người tham gia đồng phạm. Tuy nhiên, căn cứ này mới chỉ là căn cứ có tính chất đánh giá, xác định chung cho tất cả những người tham gia đồng phạm, còn muốn xác định mức độ cụ thể cho từng người đồng phạm phải dựa vào căn cứ tiếp theo.

  • Căn cứ thứ hai: Khi Tòa án quyết định hình phạt đối với những người đồng phạm phải căn cứ vào tính chất tham gia hành động phạm tội của từng người đồng phạm.

Trong một vụ đồng phạm, những người tham gia tuy phạm cùng một tội, nhưng tính chất và mức độ tham gia của mỗi người có khác nhau, do vậy tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi của mỗi người cũng khác nhau. Nếu chỉ dựa vào căn cứ thứ nhất để quyết định hình phạt thì Tòa án mới chỉ xác định được tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội chung trong hành vi phạm tội của tất cả những người tham gia đồng phạm. Nhưng trong luật hình sự Việt Nam quy định TNHS là trách nhiệm cá nhân cho nên khi xác định TNHS cụ thể để quyết định hình phạt cho từng người đồng phạm vẫn phải dựa trên cơ sở hành vi cá nhân mỗi người đồng phạm.

  • Căn cứ thứ ba: Tòa án quyết định hình phạt là phải cân nhắc tính chất và mức độ tham gia phạm tội của từng người đồng phạm. Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.

Tính chất tham gia phạm tội ở từng người đồng phạm được quyết định bởi vai trò mà người đồng phạm đảm nhận, được xác định bởi tính chất đặc thù của nhiệm vụ và tác dụng của người đó trong hoạt động phạm tội chung. Xác định tính chất tham gia phạm tội của từng người đồng phạm là phải xác định rõ người đó tham gia đồng phạm là loại người gì, là người tổ chức, người xúi giục, người giúp sức hay người thực hành? ai là chủ mưu, cầm đầu? trong một vụ đồng phạm, thường thường mỗi người tham gia với vai trò khác nhau, nhưng cũng có trường hợp một người tham gia với nhiều vai trò trong đồng phạm. Ví dụ: Một người vừa có vai trò là người tổ chức, vừa có vai trò là người thực hành… nếu một người tham gia với nhiều vai trò thì rõ ràng hành vi phạm tội của người đó có tính chất nguy hiểm cho xã hội cao hơn những trường hợp đồng phạm khác tham gia với một vai trò. Trong vụ đồng phạm, thông thường người tổ chức, người xúi giục, người thực hành đắc lực được coi là những người có vai trò nguy hiểm cao hơn những người đồng phạm khác.

  • Căn cứ thứ tư: Khi quyết định hình phạt đối với từng người đồng phạm, Tòa án phải cân nhắc những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hoặc loại trừ TNHS của từng người đó.

Căn cứ này biểu hiện sự cụ thể hóa của nguyên tắc cá thể hóa hình phạt đối với những người đồng phạm. Những tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS của mỗi người tham gia đồng phạm là những tình tiết chỉ liên quan đến hành vi và nhân thân của người đó mà không liên quan đến những người đồng phạm khác thì chỉ áp dụng đối với người đó còn những người đồng phạm khác không phải chịu (đối với tình tiết tăng nặng TNHS) hoặc không được hưởng (đối với những tình tiết giảm nhẹ TNHS) trong việc quyết định hình phạt đối với trường hợp đồng phạm. Những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS chỉ áp dụng riêng cho từng người đồng phạm chủ yếu là các tình tiết vừa có liên quan đến hành vi phạm tội chung vừa có liên quan đến cá nhân người phạm tội nhưng chủ yếu liên quan đến cá nhân người phạm tội nhiều hơn. Đối với tình tiết giảm nhẹ của riêng người đồng phạm thuộc loại này phải kể đến là: người phạm tội đã ngăn chặn, làm giảm bớt các tác hại của tội phạm hoặc tự nguyện sửa chữa bồi thường thiệt hại; phạm tội do bị kích động về tinh thần do hành vi trái pháp luật của người khác gây ra; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; phạm tội vì bị người khác đe dọa, cưỡng bức hoặc chi phối về mặt vật chất hoặc công tác hay các mặt khác; người phạm tội là phụ nữ có thai, là người già hoặc người có bệnh bị hạn chế về khả năng nhận thức và khả năng điều khiển hành vi của mình; phạm tội do trình độ lạc hậu, hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém… Đối với những tình tiết tăng nặng TNHS của riêng người đồng phạm phải kể đến phạm tội đang trong thời gian chấp hành hình phạt; phạm tội vì động cơ đê hèn; cố tình thực hiện tội phạm đến cùng; phạm tội nhiều lần; tái phạm, tái phạm nguy hiểm… Đối với những tình tiết tăng nặng hoặc giảm nhẹ TNHS của chung những người đồng phạm thì áp dụng chung cho tất cả những người tham gia đồng phạm. Đối với những tình tiết tăng nặng TNHS thuộc loại này là những tình tiết mang tính khách quan mà tất cả những người đồng phạm phải biết và đều biết khi cùng thực hiện tội phạm chung như các tình tiết: lợi dụng hoàn cảnh chiến tranh, hoàn cảnh thiên tai hoặc những khó khăn đặc biệt khác của xã hội để phạm tội; dùng thủ đoạn xảo quyệt, tàn ác trong khi phạm tội hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người, phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng… Đối với những tình tiết giảm nhẹ TNHS thuộc loại này là những tình tiết có liên quan đến hành vi phạm tội chung của những người đồng phạm khác thì tình tiết giảm đó cũng được áp dụng đối với họ. Ví dụ: Phạm tội chưa gây hậu quả hoặc gây hậu quả không lớn.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.

Trên cơ sở so sánh quy định về đồng phạm và quyết định hình phạt trong đồng phạm theo pháp luật hình sự Việt Nam qua các thời kỳ, đi sâu vào phân tích nội dung quy định về chế định này trong Bộ luật Hình sự năm 2015, tác giả luận văn đưa ra một số kết luận sau:

Thứ nhất, các quy định của pháp luật về đồng phạm và quyết định hình phạt qua các thời kỳ bên cạnh những nội dung được kế thừa, đã có những nội dung được sửa đổi, bổ sung thể hiện sự tiến bộ, ngày một hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Quy định về quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt trong đồng phạm nói riêng từ năm 1945 đến nay có thể nói đã trải qua 3 giai đoạn phát triển chính gồm thời điểm từ sau năm 1945 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1985, thứ hai là từ thời điểm năm 1985 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 1999 và giai đạn thứ ba là từ năm 1999 đến trước khi ban hành bộ luật hình sự năm 2015. Nhìn chung, trong mỗi giai đoạn bộ luật hình sự đã có những đổi mới, tiến bộ hơn trong quy định về quyết định hình phạt và quyết định hình phạt trong đồng phạm. Điều này đảm bảo hiệu quả hoạt động quyết định hình phạt nói chung và quyết định hình phạt trong đồng phạm nói riêng ngày càng tốt hơn.

Thứ hai, hệ thống pháp luật Việt Nam về hình sự hiện hành mà ở đây là Bộ luật Hình sự năm 2015 đã xây dựng được một hệ thống quy định cơ bản đầy đủ để nhận diện đồng phạm, các loại đồng phạm, nguyên tắc quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm, tạo cơ sở pháp lý cho việc áp dụng giải quyết các vụ án hình sự có đồng phạm trong thực tế. Trong quy định về căn cứ quyết định hình phạt trong đồng phạm cần phải xác định các căn cứ chung để quyết định hình phạt được áp dụng đối với mọi trường hợp quyết định hình phạt theo quy định tại Điều 50 bộ luật hình sự và căn cứ riêng để quyết định hình phạt trong đồng phạm. Theo đó quyết định hình phạt trong đồng phạm được xác định dựa trên cơ sở tính chất mức độ của đồng phạm, vị trí vai trò của những người đồng phạm…

Trên nền tảng quy định của pháp luật, tác giả luận văn sẽ phân tích kết quả áp dụng quy định pháp luật trên thực tế tại Chương 3 của Luận văn. Luận văn: Pháp luật hình sự về quyết định hình phạt về đồng phạm.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp hiệu quả quyết định hình phạt về đồng phạm

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464