Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Yên hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hiến pháp Nước cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam nêu rõ “Công dân có quyền được đảm bảo an sinh xã hội”, “Người làm công ăn lương được bảo đảm các điều kiện làm việc công bằng, an toàn; được hưởng lương, chế độ nghỉ ngơi”, và “Nhà nước, xã hội đầu tư phát triển sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc sức khỏe của Nhân dân, thực hiện bảo hiểm y tế toàn dân, có chính sách ưu tiên chăm sóc sức khỏe cho đồng bào dân tộc thiểu số, đồng bào miền núi, hải đảo và vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn”.

Chính sách Bảo hiểm xã hội (BHXH) ở Việt Nam bắt đầu được thực hiện từ năm 1995, trên cơ sở của Điều lệ Bảo hiểm xã hội được Thủ tưởng chính phủ ban hành ngày 26/01/1995. Theo đó, hệ thống Bảo hiểm xã hội được thành lập và đi vào hoạt động từ Trung ương (TW) đến địa phương. Đến ngày 04/8/1995, Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Yên được hình thành và thực hiện nhiệm vụ chăm lo an sinh xã hội cho người lao động.

Tuy nhiên, do điều kiện kinh tế xã hội phát triển, số doanh nghiệp và người lao động ngày càng tăng, để đáp ứng kịp thời nhu cầu an sinh xã hội của người lao động, tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XI đã thông qua Luật Bảo hiểm xã hội vào ngày 29/6/2015, đánh dấu một bước quan trọng trong việc tạo cơ sở pháp lý để nâng cao hiệu quả thực thi chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, pháp điển hóa các quy định hiện hành và bổ sung các chính sách Bảo hiểm xã hội phù hợp với quá trình chuyển đổi của nền kinh tế theo cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đáp ứng nguyện vọng đông đảo người lao động, bảo đảm an sinh xã hội và hội nhập quốc tế.

Nhằm tăng nhanh diện bao phủ Bảo hiểm xã hội theo mục tiêu của Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 22/11/2021 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2021 – 2020, cụ thể là phấn đấu đến năm 2020, có khoảng 50% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội, 35% lực lượng lao động tham gia bảo hiểm thất nghiệp, trên 80% dân số tham gia bảo hiểm y tế, Luật Bảo hiểm xã hội 2023 được Quốc hội khóa XIII, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2023. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Tuy nhiên, tính đến năm 2024, một số doanh nghiệp, người lao động làm việc liên quan đến Bảo hiểm xã hội mới tìm hiểu và nghiên cứu, đại bộ phận người lao động thờ ơ với Luật Bảo hiểm xã hội. Minh chứng rõ nét nhất cho vấn đề này là toàn tỉnh Phú Yên có 2.626 doanh nghiệp, nhưng mới chỉ có 776 doanh nghiệp tham gia đóng Bảo hiểm xã hội cho người lao động, chiếm tỷ lệ 29,55%, và số người lao động tham gia Bảo hiểm xã hội bắt buộc là 49.291 lao động, và tỷ lệ lao động tham gia Bảo hiểm xã hội chỉ đạt 16% tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế Phú Yên (BHXH tỉnh Phú Yên, 2024) [5].

Để đạt được mục tiêu 50% lực lượng lao động tham gia Bảo hiểm xã hội cho đến năm 2020, Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Yên cần phải có nhiều đợt tuyên truyền, vận động doanh nghiệp tham gia Bảo hiểm xã hội và tiến hành khảo sát, đánh giá công tác tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội sâu rộng đến từng doanh nghiệp ở khắp các huyện, thành phố thuộc tỉnh Phú Yên. Đó chính là lý do nghiên cứu “Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Yên hiện nay” được lựa chọn để làm Luận văn Thạc sĩ, nhằm làm rõ thêm cơ sở lý luận thực tiễn cho việc bảo đảm tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội ở Phú Yên có hiệu quả cao nhất.

2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài

Trong nhiều năm qua, có rất nhiều nghiên cứu về hoạt động Bảo hiểm xã hội như hoàn thiện công tác thu Bảo hiểm xã hội, pháp luật về hoạt động Bảo hiểm xã hội, thực thi pháp luật bảo hiểm tự nguyện, còn nghiên cứu về Tổ chức thực hiện Bảo hiểm xã hội thì khá ít. Trong điều kiện nghiên cứu có giới hạn, nghiên cứu này trình bày một số nghiên cứu trước như sau:

Thứ nhất, nghiên cứu của Nguyễn Thành Trung (2024) về Quản lý thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc, Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu này tập trung vào đánh giá thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội, rút ra những bài học điểm mạnh, điểm yếu và nguyên của vấn đề, từ đó đưa ra các giải pháp hoàn thiện quản lý thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn thị xã Phúc Yên, tỉnh Vĩnh Phúc [35].

Thứ hai, nghiên cứu của Đồng Đức Huy (2024) về Thực thi pháp luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Nghiên cứu này tập trung phân tích, đánh giá thực trạng pháp Luật Bảo hiểm xã hội nói chung, đi sâu nghiên cứu đánh giá thực trạng, một số yếu tố liên quan đến pháp Luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về Bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên [28]. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Thứ ba, nghiên cứu Pháp luật về hoạt động thu Bảo hiểm xã hội của Tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam của Đỗ Thị Hằng (2024), Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật, Đại học Quốc gia Hà Nội. Mục tiêu của nghiên cứu này là góp phần làm sáng tỏ cơ sở lý luận cũng như một số nội dung cơ bản của các quy định pháp luật về thu Bảo hiểm xã hội, thực trạng áp dụng pháp luật về thu Bảo hiểm xã hội của tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam, qua đó, đưa ra những đánh giá và kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện mảng pháp luật này [27].

Thứ tư, nghiên cứu về Hoàn thiện công tác quản lý thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang của Đỗ Tuấn Linh (2023), Luận văn thạc sĩ kinh tế, Trường ĐH Kinh tế và Quản trị Kinh doanh, Đại học Thái Nguyên. Tác giả tập trung vào việc phân tích đánh giá thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Tuyên Quang, rút ra những điểm mạnh, những tồn tại hạn chế và những nguyên nhân, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thu Bảo hiểm xã hội của tỉnh Tuyên Quang [26].

Thứ năm, nghiên cứu của Cao Thị Lan Mây (2023) về Hoàn thiện công tác thu bảo hiểm xã hội khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh, Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế, Trường ĐH Kinh Tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung phân tích, đánh giá thực trạng về công tác thu Bảo hiểm xã hội khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế thiếu sót và những vấn đề đang đặt ra hiện nay trong công tác thu Bảo hiểm xã hội khối DN ngoài quốc doanh, từ đó, tác giả đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện công tác thu Bảo hiểm xã hội khối DN NQD trên địa bàn tp. Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh giai đoạn 2020 – 2024 và đến năm 2020 [20]. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Thứ sáu, nghiên cứu của Trần Thị Thúy (2024) về Quản lý thu Bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội Hà Nội, Luận văn thạc sĩ quản lý kinh tế, Trường ĐH Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội. Trong nghiên cứu này, tác giả tập trung vào phân tích, đánh giá thực trạng về quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc, chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế, thiếu sót, nguyên nhân và những vấn đề đang đặt ra hiện nay, rồi đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc trên địa bàn tp. Hà Nội giai đoạn 2024 – 2020 [52].

Xét trên địa bàn tỉnh Phú Yên, đã có nhiều đề tài nghiên cứu về ngành Bảo hiểm xã hội, tuy nhiên chưa có bất kỳ nghiên cứu nào đi sâu phân tích về công tác tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội, cụ thể như:

Thứ nhất, nghiên cứu của Trần Thị Như Quỳnh (2024) về Những giải pháp tăng cường quản lý thu và chống thất thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Yên, Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh, Trường ĐH Điện Lực. Tại nghiên cứu này, tác giả đã xác định được 05 nhân tố tác động đến thực trạng thu và thất thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Yên một cách có ý nghĩa thống kê, gồm có (i) phương thức và mức thu Bảo hiểm xã hội, (ii) loại hình doanh nghiệp, (iii) quy mô doanh nghiệp, (iv) chính sách và pháp luật, và (v) quy trình thu Bảo hiểm xã hội. Trên cơ sở kết quả nghiên cứu tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả thu Bảo hiểm xã hội, như (i) đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền, (ii) mở rộng, phát triển đối tượng tham gia Bảo hiểm xã hội, (iii) tăng cường, đề cao vai trò, hiệu quả trong việc phối hợp với các cơ quan quản lý nhà nước, (iv) khắc phục nợ đọng tiền đóng Bảo hiểm xã hội, (v) cải cách thủ tục hành chính trong công tác giải quyết chế độ Bảo hiểm xã hội, (vi) đổi mới phong cách phục vụ, (vii) tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, nâng cao hiệu quả hoạt động thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm pháp Luật Bảo hiểm xã hội, (viii) ứng dụng công nghệ tin học trong quản lý, và (ix) nâng cao năng lực hoạt động của Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Yên [51]. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Thứ hai, gần giống với nghiên cứu của Trần Thị Như Quỳnh (2024), Trần Nguyên Trung (2024) đã nghiên cứu về Nâng cao hiệu quả quản lý thu Bảo hiểm xã hội các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Tp. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Trường ĐH Điện Lực. Tác giả đã triển khai đánh giá về thực trạng quản lý thu Bảo hiểm xã hội bắt buộc của các doanh nghiệp ngoài quốc doanh trên địa bàn Tp. Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên rồi đưa ra một số giải pháp để tăng cường quản lý thu Bảo hiểm xã hội trên địa bàn Tp. Tuy Hòa [50].

Thứ ba, khác với 02 nghiên cứu trước của Trần Thị Như Quỳnh (2024) và Trần Nguyên Trung (2024) về hoạt động quản lý thu Bảo hiểm xã hội, Lê Huy Trung (2022) đã nghiên cứu về Tăng cường kiểm soát thu bảo hiểm xã hội tại Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Yên, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Trường ĐH Nha Trang. Nghiên cứu này tập trung vào hoạt động kiểm soát thu Bảo hiểm xã hội tại cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Yên. Lê Huy Trung (2022) cho rằng, để tăng cường kiểm soát thu Bảo hiểm xã hội thì cơ quan Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Yên cần phải (i) hoàn thiện môi trường kiểm soát, (ii) xây dựng hệ thống thông tin kiểm soát thu Bảo hiểm xã hội thông qua ứng dụng công nghệ thông tin, (iii) hoàn thiện hệ thống tuyên truyền hỗ trợ và tư vấn cho đơn vị sử dụng lao động, (iv) hoàn thiện công tác đăng ký ban đầu nộp Bảo hiểm xã hội, (v) hoàn thiện công tác thực hiện thu, đối chiếu Bảo hiểm xã hội, (vi) hoàn thiện công tác kiểm tra, thanh tra đóng Bảo hiểm xã hội, (vii) hoàn thiện công tác xử lý khiếu nại về Bảo hiểm xã hội, và (viii) tăng cường công tác kiểm toán nội bộ tại đơn vị Sử dụng lao động [33].

Thứ tư, nghiên cứu của Trương Thị Phượng (2019) về Các nhân tố ảnh hưởng đến ý định tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện của người lao động khu vực phi chính thức tại tỉnh Phú Yên, Luận văn thạc sĩ Quản trị kinh doanh, Trường ĐH Nha Trang. Kết quả của nghiên cứu này cho thấy có 06 nhân tố tác động đến ý định tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện của Người lao động khu vực phi chính thức, đó là (i) mức độ nhận thức về tính an sinh xã hội của người dân, (ii) thái độ của Người lao động, (iii) mức độ ảnh hưởng xã hội, (iv) mức độ hiểu biết về chính sách Bảo hiểm xã hội tự nguyện của người dân, (v) thu nhập của người lao động, và (vi) mức độ truyền thông về Bảo hiểm xã hội tự nguyện. Tác giả cho rằng để người dân tích cực tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện thì cần phải thực hiện (i) các giải pháp về phát triển kênh truyền thông, bao gồm: các phương tiện thông tin đại chúng, truyền thông liên cá nhân, truyền thông nhóm, và cả phương pháp truyền thông; (ii) các giải pháp về phát triển kinh tế bao gồm: tạo việc làm và ổn định thu nhập cho người lao động, đào tạo và bồi dưỡng tay nghề cho Người lao động, nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí để người dân tham gia Bảo hiểm xã hội tự nguyện; (iii) tăng cường công tác tuyên truyền về Bảo hiểm xã hội tự nguyện đến với Người lao động khu vực phi chính thức; và (iv) thực hiện nhóm giải pháp về chính sách pháp Luật Bảo hiểm xã hội tự nguyện, bao gồm: xây dựng chính sách thích hợp để tạo cơ hội cho Người lao động khu vực phi chính thức tham gia Bảo hiểm xã hội, quy định lại điều kiện được thanh toán Bảo hiểm xã hội một lần cho Người lao động, kết hợp với Ngân hàng Chính sách xã hội mở sản phẩm tín dụng ngân hàng bán lẻ để vay và cho vay phục vụ cho việc đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện [53].

3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

3.1. Mục đích nghiên cứu

  • Mục đích của nghiên cứu này là đưa ra được những giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội 2023 trên địa bàn tỉnh Phú Yên.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Phân tích làm rõ thêm lý luận về tổ chức thực hiện luật.
  • Đánh giá thực trạng công tác tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội của các chủ thể trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
  • Đưa ra giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Yên.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những vấn đề lý luận và thực tiễn về tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Không gian nghiên cứu: tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Yên.
  • Thời gian nghiên cứu: từ năm 2021 đến nay.
  • Đối tượng nghiên cứu: các doanh nghiệp, tổ chức, đơn vị đang hoạt động và người lao động đang làm việc trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

  • Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử về nhà nước và pháp luật.
  • Nghiên cứu cụ thể được sử dụng là: Phương pháp quan sát, thống kê, phân tích tổng hợp, so sánh.

6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn

Về lý luận, luận văn góp phần bổ sung làm rõ thêm các vấn đề lý luận liên quan đến tổ chức thực hiện luật.

Về thực tiễn, các giải pháp đưa ra có thể được sử dụng để làm cơ sở cho Lãnh đạo Bảo hiểm xã hội tỉnh Phú Yên đưa ra những chỉ đạo và hướng dẫn tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội hiệu quả hơn; góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan và lợi ích của nhà nước.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu và kết luận, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về tổ chức thực hiện luật
  • Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện Luật bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Yên
  • Chương 3: Mục tiêu, phương hướng và giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Yên

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC THỰC HIỆN LUẬT

1.1. Khái quát chung về tổ chức thực hiện luật

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm tổ chức thực hiện luật

  • Quan niệm về tổ chức thực hiện luật

Trong nghiên cứu này, tổ chức được hiểu theo hai nghĩa (i) tổ chức trên khía cạnh là các cơ quan có trách nhiệm tổ chức thực hiện luật và (ii) tổ chức được hiểu là các hoạt động nhằm triển khai, thực hiện, đưa luật và cuộc sống của nhân dân.

  • i) Tổ chức là cơ quan tổ chức thực hiện luật Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Hiến pháp 2022 quy định rõ Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp pháp của Quốc hội, có nhiệm vụ tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội; lệnh, quyết định của Chủ tịch nước (Điều 96). Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ là thành viên Chính phủ, là người đứng đầu bộ, cơ quan ngang bộ chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về ngành, lĩnh vực được phân công; tổ chức thi hành và theo dõi việc thi hành pháp luật liên quan đến ngành, lĩnh vực trong phạm vi toàn quốc (Điều 99 [37]).

Chính quyền địa phương (Hội đồng nhân dân và Ủy ban nhân dân) tổ chức và bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương (Điều 112); Ủy ban nhân dân tổ chức việc thi hành Hiến pháp và pháp luật ở địa phương, tổ chức thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Điều 114); Hội đồng nhân dân quyết định các vấn đề của địa phương do luật định, giám sát việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật ở địa phương và việc thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân (Điều 113 [37]).

Trong ngành Bảo hiểm xã hội thì tổ chức Bảo hiểm xã hội chính là Cơ quan Bảo hiểm xã hội các cấp, là cơ quan nhà nước có chức năng thực hiện chế độ, chính sách bảo hiểm xã hội, quản lý và sử dụng các quỹ BH xã hội, BH y tế, BH thất nghiệp; thanh tra việc đóng BH xã hội, BH thất nghiệp, BH y tế và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật Bảo hiểm xã hội (Điều 93 [38]).

  • ii) Tổ chức là các hoạt động tổ chức thực hiện luật

Tổ chức là các hoạt động cần thiết để xác định cơ cấu, hệ thống của bộ máy, xác định những công việc phù hợp với từng bộ phận, và giao trách nhiệm cho từng nhà quản lý để vận hành các bộ phận hoạt động đạt hiệu quả cao nhất có thể. Công tác tổ chức bao gồm việc thành lập nên các bộ phận trong tổ chức để đảm nhận các hoạt động cần thiết và xác định các mối quan hệ về nhiệm vụ, quyền hành và trách nhiệm giữa các bộ phận đó. Mục tiêu của công tác tổ chức là tạo nên một môi trường nội bộ thuận lợi cho mỗi cá nhân, mỗi bộ phận phát huy được năng lực và nhiệt tình của mình, đóng góp tốt nhất vào sự hoàn thành mục tiêu chung của tổ chức [48]. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Tổ chức thực hiện luật là một chuỗi hoạt động nằm trong một chính thể thống nhất, bắt đầu từ hướng dẫn thi hành luật, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục luật, triển khai, thực hiện, cho đến kiểm tra, giám sát, và đánh giá, tổng kết việc tổ chức thực hiện luật. Để triển khai thực hiện pháp luật, Chính phủ ban hành các Nghị định; Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ ban hành các Thông tư hướng dẫn thi hành pháp luật; Chính quyền địa phương triển khai thực hiện pháp luật dựa trên các Nghị định và Thông tư hướng dẫn thi hành pháp luật.

  • Đặc điểm tổ chức thực hiện luật

Thực hiện pháp luật là một quá trình hoạt động có mục đích làm cho những quy định của pháp luật đi vào cuộc sống, trở thành những hành vi thực tế hợp pháp của các chủ thể pháp luật, mang lại quyền và lợi ích hợp pháp cho các bên có liên quan. Do đó, việc tổ chức thực hiện pháp luật có những đặc điểm cụ thể như sau:

  • i) Đặc điểm của cơ quan đứng ra tổ chức thực hiện luật

Cơ quan đứng ra tổ chức thực hiện pháp luật là những cơ quan hành chính nhà nước, là tổ chức được thành lập và hoạt động theo những nguyên tắc và trình tự nhất định, có cơ cấu tổ chức nhất định và được giao những quyền lực nhà nước nhất định được quy định trong các văn bản pháp luật để thực hiện một phần những nhiệm vụ, quyền hạn của nhà nước.

Cơ quan tổ chức thực hiện luật được quy định cụ thể trong Luật tổ chức Chính phủ 2024 và Luật tổ chức Chính quyền địa phương 2024. Luật tổ chức Chính phủ 2024 quy định nhiệm vụ và quyền hạn của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng các cơ quan ngang bộ [42]. Luật tổ chức Chính quyền địa phương 2024 quy định về đơn vị hành chính và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương ở các đơn vị hành chính từ tỉnh, thành phố trực thuộc TW; huyện, thị xã và thành phố trực thuộc tỉnh; xã, phường, thị trấn trực thuộc huyện [43]. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Cơ quan hành chính nhà nước là cơ quan quản lý hành chính nhà nước, được thành lập từ TW đến địa phương để thực hiện những hoạt động được tiến hành trên cơ sở luật và để thi hành luật; thẩm quyền của các cơ quan hành chính nhà nước được pháp luật quy định trên cơ sở lãnh thổ, ngành, hoặc lĩnh vực chuyên môn, đó là những quyền và nghĩa vụ pháp lý hành chính chỉ giới hạn trong phạm vi hoạt động chấp hành – điều hành.

  • ii) Đặc điểm của các hoạt động tổ chức thực hiện luật

Các hoạt động tổ chức thực hiện luật được cụ thể hóa bằng các hành vi hợp pháp của các chủ thể pháp luật, đó là toàn bộ những phản ứng, cách cư xử biểu hiện ra ngoài của một người trong một hoàn cảnh cụ thể, mà những hành vi đó mang tính phù hợp với các quy định của pháp luật. Thực hiện pháp luật là hoạt động đưa các quy phạm pháp luật được thực hiện trên thực tế, đưa kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật là các văn bản quy phạm pháp luật có hiệu lực thi hành vào cuộc sống, nghĩa là các quy phạm pháp luật được các chủ thể khác nhau thực hiện một cách hợp pháp trong thực tế cuộc sống [25].

1.1.2. Mục đích, yêu cầu, nguyên tắc tổ chức thực hiện luật

  • Mục đích tổ chức thực hiện luật

Tổ chức triển khai thực hiện luật, các văn bản hướng dẫn thi hành dưới luật một cách thống nhất, đồng bộ và hiệu quả, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong toàn dân. Nâng cao nhận thức của toàn dân, các cơ quan, tổ chức về vị trí, vai trò, ý nghĩa của pháp luật, qua đó nâng cao ý thức chấp hành pháp luật. Khắc phục các hiện trạng chưa phù hợp của xã hội, góp phần xây dựng quan hệ hài hòa, ổn định và phát triển của xã hội.

  • Yêu cầu tổ chức thực hiện luật

Việc triển khai tổ chức thực hiện luật phải được thực hiện đồng bộ, gắn kết chặt chẽ với nhiệm vụ trọng tâm về xây dựng và thực thi văn bản quy phạm pháp luật, khắc phục các hạn chế, thu hút sự tham gia tích cực của các thành phần có liên quan, việc triển khai thực thi pháp luật phải có sự kiểm tra, kiểm soát của các cấp các ngành có liên quan, nhằm góp phần nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật.

  • Nguyên tắc tổ chức thực hiện luật Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Nguyên tắc pháp luật là những tư tưởng cơ bản do nhà nước xây dựng hoặc thừa nhận, là nền tảng của hệ thống pháp luật. Các nguyên tắc pháp luật là những tư tưởng cơ bản chỉ đạo toàn bộ hoạt động xây dựng và thực hiện pháp luật của nhà nước và công dân, tư tưởng xuyên suốt nội dung của hệ thống pháp luật ([25], tr. 5).

Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa là hệ thống những tư tưởng cơ bản có liên quan chặt chẽ với nhau chỉ đạo nội dung, quá trình xây dựng, thực hiện và bảo vệ pháp luật xã hội chủ nghĩa vì lợi ích của nhân dân lao động ([34], tr. 17). Các nguyên tắc pháp luật xã hội chủ nghĩa Việt Nam thời kỳ đổi mới và hội nhập quốc tế phải bảo đảm được các nguyên tắc chung là pháp luật phải thể hiện ý chí của tất cả các tầng lớp nhân dân lao động; mọi công dân bình đẳng trước pháp luật; tôn trọng và bảo vệ các quyền công dân và quyền con người; đảm bảo tính tối cao của Hiến pháp; đảm bảo vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản; đảm bảo sự bình đẳng và đoàn kết giữa các dân tộc; đảm bảo tính công bằng xã hội của pháp luật; pháp luật phải được xây dựng và phát triển một các toàn diện, đồng bộ, phù hợp với điều kiện kinh tế xã hội củ đất nước, xu thế hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa; đảm bảo tính ổn định tương đối của hệ thống pháp luật; và đảm bảo tính minh bạch của pháp luật ([45], tr. 26). Do đó, việc tổ chức thực hiện luật phải đảm bảo các nguyên tắc nêu trên của pháp luật Việt Nam, tổ chức thực hiện luật phải đảm bảo được tính đầy đủ, đúng đắn, chính xác, kịp thời và có lợi cho người dân.

1.1.3. Chủ thể tổ chức thực hiện luật

  • Chủ thể bắt buộc trong tổ chức thực hiện luật

Pháp luật được ban hành bởi Quốc hội, còn Chính phủ là cơ quan hành chính nhà nước cao nhất thực hiện quyền hành pháp, ban hành các nghị định để hướng dẫn thi hành pháp luật; các Bộ và cơ quan ngang Bộ ban hành các thông tư để hướng dẫn chi tiết thi hành luật; Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Điều 19, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật (2024) quy định rằng Chính phủ được phép ban hành Nghị định để quy định (i) Chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; (ii) Các biện pháp cụ thể để tổ chức thi hành Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước; các biện pháp để thực hiện chính sách kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh, tài chính, tiền tệ, ngân sách, thuế, dân tộc, tôn giáo, văn hóa, giáo dục, y tế, khoa học, công nghệ, môi trường, đối ngoại, chế độ công vụ, cán bộ, công chức, viên chức, quyền, nghĩa vụ của công dân và các vấn đề khác thuộc thẩm quyền quản lý, điều hành của Chính phủ; những vấn đề liên quan đến nhiệm vụ, quyền hạn của từ hai bộ, cơ quan ngang bộ trở lên; nhiệm vụ, quyền hạn, tổ chức bộ máy của các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các cơ quan khác thuộc thẩm quyền của Chính phủ; (iii) vấn đề cần thiết thuộc thẩm quyền của Quốc hội, Ủy ban thường vụ Quốc hội nhưng chưa đủ điều kiện xây dựng thành luật hoặc pháp lệnh để đáp ứng yêu cầu quản lý nhà nước, quản lý kinh, tế, quản lý xã hội. Trước khi ban hành nghị định này phải được sự đồng ý của Ủy ban thường vụ Quốc hội. [39].

Điều 24, Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2024 quy định rằng Bộ trưởng và Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được ban hành Thông tư để quy định các vấn đề (i) chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ; (ii) biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước của mình [39].

Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2024 cũng quy định rõ Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được ban hành nghị quyết để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; chính sách, biện pháp nhằm bảo đảm thi hành Hiến pháp, luật, văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; Biện pháp nhằm phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; Biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương (Điều 27). Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được ban hành quyết định để quy định chi tiết điều, khoản, điểm được giao trong văn bản quy phạm pháp luật của cơ quan nhà nước cấp trên; biện pháp thi hành Hiến pháp, luật, văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cùng cấp về phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách, quốc phòng, an ninh ở địa phương; biện pháp thực hiện chức năng quản lý nhà nước ở địa phương (Điều 28). Còn đối với Hội đồng nhân dân huyện, xã được ban hành nghị quyết; Ủy ban nhân dân cấp huyện, xã được ban hành quyết định để quy định những vấn đề được luật giao (Điều 30) [39]

  • Chủ thể tham gia tổ chức thực hiện luật

Mọi tổ chức, cá nhân đều là chủ thể tham gia vào quan hệ pháp luật. Nhân dân được quyền giám sát các hoạt động của các cơ quan hành chính nhà nước, giám sát của nhân dân đối với cơ quan hành chính nhà nước là một trong những phương thức bảo đảm pháp chế và kỷ luật trong quản lý hành chính nhà nước, bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Nhân dân có thể trực tiếp thực hiện quyền giám sát, hoặc thông qua các cơ quan đại diện của mình, thông qua các tổ chức xã hội, mà họ là thành viên [29].

Trong ngành bảo hiểm xã hội, các chủ tham gia luật bảo hiểm xã hội có thể để cập đến là người lao động và người sử dụng lao động. Trong đó, người lao động bao gồm công nhân viên trong các doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp nhà nước, cán bộ công chức nhà nước thuộc các cơ quan hành chính sự nghiệp. Ngoài ra, còn có người dân tham gia các loại hình bảo hiểm tự nguyện, các tổ chức xã hội hoạt động theo hình thức phi lợi nhuận.

1.1.4. Các giai đoạn tổ chức thực hiện luật Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

  • Ban hành văn bản hướng dẫn thi hành luật

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh được xây dựng hàng năm trên cơ sở đường lối, chủ chương của Đảng, chính sách của Nhà nước, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ, bảo đảm quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân (khoản 1, Điều 31 [39]). Để một vấn đề, chính sách kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh trở thành Luật, thì cần phải trải qua nhiều công đoạn tổ chức thực hiện như (i) lập chương trình xây dựng luật, (ii) soạn thảo luật, (iii) thẩm tra dự án luật, (iv) Ủy ban thường vụ quốc hội xem xét cho ý kiến về dự án luật, (iv) thảo luận, tiếp thu, chỉnh lý và thông qua dự án luật, và (v) công bố luật [39].

Trên cơ sở Luật đã được Quốc hội thông qua, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo lập danh mục văn bản quy định chi tiết luật của Quốc hội mà Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được giao ban hành. Danh mục văn bản quy định chi tiết do Thủ tướng Chính phủ ban hành gồm nghị định của Chính phủ, nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với Đoàn Chủ tịch UB trung ương MTTQ Việt Nam, quyết định của Thủ tướng Chính phủ, thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, trong đó nêu rõ tên văn bản, cơ quan ban hành văn bản, căn cứ ban hành, nội dung chính của văn bản, dự kiến thời gian ban hành (Điều 82, [39]).

Việc xây dựng, ban hành nghị định của Chính phủ được quy định chi tiết từ Điều 84 đến Điều 96 của Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật 2024 [39]. Theo đó, để một nghị định được Thủ tướng Chính phủ ký quyết định ban hành thì phải trải qua các công đoan như sau: (i) lập đề nghị xây dựng nghị định, (ii) tiến hành lấy ý kiến đối với đề nghị xây dựng nghị định, (iii) thẩm định đề nghị xây dựng nghị định, (iv) Chính phủ xem xét, thông qua đề nghị xây dựng nghị định, (v) tổ chức soạn thảo dự thảo nghị định, (vi) lấy ý kiến đối với dự thảo nghị định, (vii) thẩm định dự thảo nghị định, (viii) chỉnh lý, hoàn thiện dự thảo nghị định, và (ix) trình Chính phủ xem xét, thông qua dự thảo nghị định.

Trình tự xem xét, thông qua dự thảo nghị định được Chính phủ được tiến hành theo trình tự sau (Điều 96, [39]):

  1. Đại diện cơ quan chủ trì soạn thảo thuyến trình về dự thảo nghị định;
  2. Đại diện Bộ Tư pháp phát biểu về việc giải trình, tiếp thu ý kiến thẩm định;
  3. Đại diện Văn phòng Chính phủ nêu những vấn đề cần thảo luận;
  4. Đại diện cơ quan, tổ chức tham dự phiên hợp phát biểu ý kiến;
  5. Chính phủ thảo luận. (Cơ quan chủ trì soạn thảo phối hợp với Bộ Tư pháp, Văn phòng Chính phủ và cơ quan có liên quan chỉnh lý dự thảo nghị định theo ý kiến của Chính phủ); Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.
  6. Chính phủ biểu quyết thông qua dự thảo nghị định. (Trong trường hợp dự thảo nghị định chưa được thông qua thì Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo những vấn đề cần phải chính lý và ấn định thời gian trình lại dự thảo, đồng thời giao cơ quan chủ trì soạn thảo hoàn thiện dự thảo để trình Chính phủ xem xét, thông qua);

Thủ tướng Chính phủ ký nghị định.

Đối với việc xây dựng, ban hành Quyết định của Thủ tướng Chính phủ được quy định chi tiết từ Điều 97 đến Điều 100; xây dựng và ban hành thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ được quy định chi tiết từ Điều 101 đến Điều 104; xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng kiểm toán nhà nước được quy định chi tiết từ Điều 105 đến Điều 108; xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật liên tịch được quy định chi tiết tại Điều 109 và Điều 110; xây dựng và ban hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được quy định chi tiết từ Điều 111 đến Điều 126; xây dựng và ban hành quyết định của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được quy định chi tiết từ Điều 127 đến Điều 132; xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp huyện được quy định từ Điều 133 đến Điều 141; xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân cấp xã được quy định từ Điều 142 đến Điều 145 [39].

  • Phổ biến giáo dục luật

Phổ biến giáo dục pháp luật (PBGDPL) hiểu theo nghĩa rộng là công tác, lĩnh vực hoạt động, bao gồm tất cả các công đoạn phục vụ cho việc thực hiện PBGDPL (xây dựng chương trình, kế hoạch PBGDPL; triển khai chương trình, kế hoạch PBGDPL thông qua việc áp dụng các hình thức, biện pháp PBGDPL; hướng dẫn, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết việc thực hiện chương trình, kế hoạch PBGDPL). Hiểu theo nghĩa hẹp là truyền đạt tinh thần, nội dung pháp luật giúp cho đối tượng tác động hiểu và hình thành ở họ tri thức pháp luật, tình cảm, hành vi phù hợp với các đòi hỏi của các quy định pháp luật hiện hành [32, tr. 4].

Phổ biến, giáo dục luật giữ vai trò quan trọng trong hầu hết các hoạt động kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng của đất nước. Mục đích của PBGDPL là nâng cao hiểu biết pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật của người dân, đơn vị, tổ chức trong toàn xã hội, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống của người dân, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, mang lại sự hạnh phúc cho người dân. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Luật phổ biến, giáo dục pháp luật 2021 nêu rõ, công dân có quyền được thông tin về pháp luật và có trách nhiệm chủ động tìm hiểu, học tập pháp luật; còn nhà nước phải bảo đảm, tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền được thông tin về pháp luật (Điều 2, [41]); và nhà nước khuyến khích và có chính sách hỗ trợ, tạo điều kiện đối với cơ quan, tổ chức, DN, cá nhân tham gia thực hiện PBGDPL, huy động các nguồn lực xã hội đóng góp cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật (Điều 4, [41]).

Để hoạt động PBGDPL trở nên hiệu quả, gần gủi với người dân, Quốc hội khóa 13 đã lấy ngày 09 tháng 11 hàng năm làm Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Điều 8, [41]). Qua đó, ngày 09/11 hành năm, toàn Đảng, toàn dân tổ chức thực hiện nhiều hoạt động PBGDPL. Tùy theo mỗi lĩnh vực đặc thù, mà các tổ chức, đơn vị tổ chức những hoạt động phù hợp với ngành nghề và địa phương của mình.

Nhằm nâng cao hiệu quả công tác tổ chức thực hiện PBGDPL, Hội đồng phối hợp phổ biến, giáo dục pháp luật được thành lập ở trung ương; tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương; quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh. Hội đồng phối hợp PBGDPL là cơ quan tư vấn cho Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện về công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và huy động nguồn lực cho công tác PBGDPL (Khoản 1, Điều 7 [41]).

Đặc điểm của công tác PBGDPL là một bộ phận của công tác giáo dục chính trị, tương tưởng; có mối liên hệ chặt chẽ với công tác xây dựng, thực hiện pháp luật; được tổ chức thực hiện bởi những chủ thể xác định (Chính phủ, các bộ, ngành Trung ương, Ủy ban nhân dân các cấp); là nhằm truyền đạt thông tin, nội dung pháp luật giúp đối tượng được tác động có những hiểu biết nhất định về pháp luật góp phần nâng cao ý thức pháp luật cho đối tượng [32, tr. 4].

  • Thực hiện các hoạt động nghiệp vụ, kỹ thuật Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Sau khi Quốc hội ban hành luật, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng và Thủ trưởng các cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm ban hành các Nghị định, Quyết định và Thông tư hướng dẫn thi hành luật; Ủy ban nhân dân các cấp trực tiếp tổ chức thực hiện luật. Để một bộ luật đi vào cuộc sống của người dân, các cơ quan chức năng sẽ thực hiện nhiều hoạt động nghiệp vụ, kỹ thuật khác nhau, như chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện luật, lập kế hoạch, phân công thực hiện và tổ chức triển khai thực hiện luật.

Chỉ đạo là sự hướng dẫn đường lối, chủ trương nhất định, kế hoạch cụ thể để tiến hành một sự việc nào đó. Thông thường thì công tác chỉ đạo của các cơ quan quản lý nhà nước sẽ được thể hiện qua công văn nói chung, đối với những sự việc khẩn cấp thì Thủ tướng Chính phủ sẽ ban hành công điện để chỉ đạo thực hiện. Một số chỉ đạo nổi bật như Công điện 476/CĐ-TTg “V/v tổ chức cứu nạn vụ chìm tàu trên song Ghềnh Hào, tỉnh Bạc Liêu” ngày 06/4/2026 của Thủ tướng Chính phủ; Công văn số 4296/LĐTBXH-LĐTL “V/v Hướng dẫn một số quy định của Bộ luật lao động” ngày 13/11/2023 của Bộ LĐ-TB&XH; Công văn số 2935/LĐTBXH-BHXH “V/v Đôn đốc, chỉ đạo thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội năm 2023” ngày 09/8/2025 của Bộ LĐ-TB&XH; Công văn số 6679/BYT-BH “V/v Chỉ đạo thực hiện Luật Bảo hiểm y tế và và Chỉ thị số 06/CT-BYT” ngày 07/9/2025 của Bộ Y tế; Công văn số 2974/BTP-PBGDPL “V/v triển khai thực hiện thông tư số 10/2025/TT-BTP” ngày 31/8/2025 của Bộ Tư pháp; Công văn số 449/BTNMT-KH “V/v định hướng xây dựng đề án, dự án, nhiệm vụ chuyên môn mở mới năm 2018” ngày 08/02/2026 của Bộ Tài nguyên và Môi trường; Công văn số 1550/UBND-ĐTXD “V/v Khẩn trương lập thủ tục quyết toán kinh phí thực hiện bồi thường, hỗ trợ và tái định cư dự án Cứu hộ, cứu nạn, tránh lũ Tuy An – Sơn Hòa” ngày 29/3/2026 của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên.

Lập kế hoạch là chức năng đầu tiên trong bốn chức năng quản lý, đóng vai trò vô cùng quan trọng trong việc lựa chọn mục tiêu và chương trình hành động trong tương lai, mà bất kỳ nhà quản lý, nhà kế hoạch nào cũng phải thực hiện để phổ biến, triển khai thực hiện một nhiệm vụ nào đó. Để một kế hoạch mang tính khả thi thì kế hoạch đó phải xác định được các yếu tố (i) xác định mục tiêu, yêu cầu công việc; (ii) xác định nội dung cần thực hiện; (iii) xác định phương thức, cách thức tiến hành thực hiện công việc; và (iv) xác định việc tổ chức thực hiện và phân bổ nguồn lực để thực hiện công việc. Cụ thể như Kế hoạch phổ biến giáo dục pháp luật, Kế hoạch tổ chức Ngày pháp luật Việt Nam và hướng dẫn tổ chức Ngày pháp luật.

Để một chương trình, kế hoạch, chính sách được thực thi kịp thời và hiệu quả thì không thể thiếu nghiệp vụ, kỹ thuật phân công nhiệm vụ và tổ chức thực hiện thực hiện chương trình, công việc một cách cụ thể. Phân công nhiệm vụ là giao cho tổ chức, cá nhân nào đó trách nhiệm và quyền hạn để tổ chức thực hiện một chương trình, công việc cụ thể. Hoạt động phân công nhiệm vụ và tổ chức thực hiện thường được thể hiện qua các Chương trình, Kế hoạch hành động của các tổ chức, đơn vị. Để mô tả chi tiết cho hoạt động nghiệp vụ phân công và tổ chức thực hiện, nghiên cứu này trình bày cụ thể như Kế hoạch hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 của Bộ Tư pháp (ban hành kèm theo Quyết định số 1583/QĐ-BTP ngày 27/7/2025 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp) [18], và Kế hoạch số 46/KH-UBNBD về “Thực hiện kế hoạch số 36-KH/TU, ngày 06/01/2022 của Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết số 21-NQ/TW của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế giai đoạn 2021 – 2020” ngày 20/5/2022 của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên [55].

Kế hoạch hưởng ứng Ngày Pháp luật nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2015 [18] phân định rõ vai trò trách nhiệm tổ chức thực hiện của từng đơn vị: “Thủ trưởng các đơn vị trực thuộc Bộ, Người đứng đầu các tổ chức đoàn thể cơ quan trực thuộc Bộ Tư pháp, Cục trưởng Cục thi hành án dân sự các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương có trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện các nhiệm vụ được giao theo Kế hoạch này hoặc lồng ghép vào các hoạt động chuyên môn của đơn vị bảo đảm tiến độ, chất lượng, hiệu quả, phù hợp; Vụ phổ biến, giáo dục pháp luật có trách nhiệm hướng dẫn, theo dõi, đôn đốc các đơn vị thuộc Bộ triển khai và tổng hợp, báo cáo Lãnh đạo Bộ kết quả việc thực hiện các hoạt động được phân công; Vụ Kế hoạch – Tài chính, Văn phòng có trách nhiệm đảm bảo kinh phí để tổ chức triển khai thực hiện Kế hoạch này”. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Kế hoạch số 46/KH-UBNBD của Ủy ban nhân dân tỉnh Phú Yên [55] đề ra trách nhiệm chung “Các sở, ngành chức năng, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố thực thi đầy đủ chức năng quản lý nhà nước để bảo vệ quyền lợi và đáp ứng nhu cầu của người dân về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đối với các đơn vị, doanh nghiệp trên địa bàn về Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế theo quy định của pháp luật, trước hết tập trung kiểm tra, thanh tra các đơn vị trốn đóng, nợ đó, chậm đóng Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế, các hành vi trục lợi quỹ Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế; Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố bổ sung mục tiêu, kế hoạch thực hiện chính sách Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế vào chương trình phát triển kinh tế xã hội hàng năm của đơn vị theo chỉ đạo củ Chính phủ”, ngoài ra Kế hoạch số 46/KH-UBNBD còn phân công trách nhiệm tổ chức triển khai thực hiện cho từng đơn vị trực thuộc như: Sở LĐTB&XH, Sở Y tế, Bảo hiểm xã hội tỉnh, Sở GD&ĐT, Sở Tài chính, Sở KH&ĐT, Cục thuế tỉnh, Ban quản lý các Khu kinh tế, Đài Phát thanh – Truyền hình, Báo Phú Yên. Ủy ban MTTQ tỉnh và các đoàn thể, Ủy ban nhân dân các huyện, thị xã, thành phố.

  • Giám sát, kiểm tra, thanh tra việc thực hiện luật

Theo Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân 2024, Giám sát là việc chủ thể giám sát theo dõi, xem xét, đánh giá hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân chịu sự giám sát trong việc tuân theo Hiến pháp và pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình, xử lý theo thẩm quyền hoặc yêu cầu, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền xử lý (khoản 1, Điều 2 [40]).

Thanh tra nhà nước là hoạt động xem xét, đánh giá xử lý theo trình tự, thủ tục do pháp luật quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành (khoản 1, Điều 3 [44]).

Thanh tranh hành chính là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trực thuộc trong việc thực hiện chính sách, pháp luật, nhiệm vụ, quyền hạn được giao (khoản 2, Điều 3 [44]).

Thanh tra chuyên ngành là hoạt động thanh tra của cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo ngành, lĩnh vực đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành pháp luật chuyên ngành, quy định về chuyên môn – kỹ thuật, quy tắc quản lý thuộc ngành, lĩnh vực đó (khoản 3, Điều 3 [44]).

Kiểm tra là một trong những chức năng của quy trình quản lý. Thông qua chức năng kiểm tra mà chủ thể quản lý nắm bắt và điều chỉnh kịp thời các hoạt động để thực hiện tốt mục tiêu đã xác định. Kiểm tra là quá trình đo lường hoạt động và kết quả hoạt động của tổ chức trên cơ sở các tiêu chuẩn đã được xác lập để phát hiện những ưu điểm và hạn chế nhằm đưa ra các giải pháp phù hợp giúp tổ chức phát triển theo đúng mục tiêu.

Như vậy, hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện pháp luật là nhằm mục đích phát hiện ra những sơ hở trong cơ chế quản lý, chính sách, pháp luật để kiến nghị với cơ quan nhà nước có thẩm quyền những biện pháp khắc phục, phòng ngừa, phát hiện và xử lý những hành vi vi phạm pháp luật; giúp cơ quan, tổ chức, cá nhân thực hiện đúng quy định của pháp luật; phát huy những nhân tố tích cực; góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động quản lý nhà nước; bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.

1.2. Các yếu tố tác động đến tổ chức thực hiện luật Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

1.2.1. Mức độ hoàn thiện của luật

Hệ thống pháp luật là tổng thể các quy phạm pháp luật có mối quan hệ nội tại thống nhất với nhau, được phân định thành các chế định pháp luật, các ngành luật và được thể hiện trong các văn bản do nhà nước ban hành theo những trình tự, thủ tục và hình thức nhất định [54, tr. 199]. Để đánh giá về một hệ thống pháp luật, xác định mức độ hoàn thiện của nó cần phải dựa vào những tiêu chuẩn được xác định về mặt lý thuyết, từ đó liên hệ với điều kiện và hoàn cảnh thực tế trong mỗi giai đoạn cụ thể, xem xét một cách khách quan và rút ra những kết luận, làm sáng rõ những ưu điểm và nhược điểm của hệ thống pháp luật. Có nhiều tiêu chuẩn để xác định mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật trong đó có bốn tiêu chuẩn cơ bản là: Tính toàn diện, tính đồng bộ, tính phù hợp và trình độ kỹ thuật pháp lý của hệ thống pháp luật [54, tr. 201].

Thứ nhất, tính toàn diện là tiêu chuẩn đầu tiên thể hiện mức độ hoàn thiện của hệ thống pháp luật. Có thể nói đây là tiêu chuẩn để định lượng một hệ thống pháp luật nhưng lại có ý nghĩa rất quan trọng, vì chỉ khi nào định lượng được mới có thể tiếp tục nghiên cứu để định tính [54, tr. 202]. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Thứ hai, tính đồng bộ của hệ thống pháp luật thể hiện sự thống nhất của nó. Khi xem xét mức độ hoàn thiện của một hệ thống pháp luật cần phải chú ý xem giữa các bộ phận của hệ thống đó có trùng lặp, chồng chéo hay mâu thuẫn không [54, tr. 202].

Thứ ba, tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện sự tương quan giữa trình độ của hệ thống pháp luật với trình độ phát triển của kinh tế xã hội. Hệ thống pháp luật phải phản ánh đúng trình độ phát triển của kinh tế xã hội, nó không thể cao hơn hoặc thấp hơn trình độ phát triển đó. Tính phù hợp của hệ thống pháp luật thể hiện nhiều mặt. Khi xem xét tiêu chuẩn này cần chú ý đến các mặt và giải quyết tốt mối quan hệ giữa pháp luật với kinh tế, chính trị, đạo đức, tập quán, truyền thống và các quy phạm xã hội khác [54, tr. 202].

Thứ tư, trình độ kỹ thuật pháp lý: kỹ thuật pháp lý là một vấn đề rộng lớn, phức tạp trong đó có ba điểm quan trọng, cần thiết phải chú ý khi xây dựng và hoàn thiện pháp luật, gồm (i) kỹ thuật pháp lý thể hiện ở những nguyên tắc tối ưu được vạch ra để áp dụng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật; (ii) trình độ kỹ thuật pháp lý thể hiện ở việc xác định chính xác cơ cấu của pháp luật; và (iii) cách biểu đạt bằng ngôn ngữ pháp lý phải đảm bảo tính cô đọng, lôgíc, chính xác và một nghĩa [54, tr. 203].

Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2014 của Bộ Chính trị đã xác định rất rõ mục tiêu “Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân; đổi mới căn bản cơ chế xây dựng và thực hiện pháp luật; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, xây dựng Nhà nước trong sạch, vững mạnh, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020” [17]. Vì thế, có thể xem mục tiêu của Nghị quyết số 48-NQ/TW là một trong những tiêu chí để đánh giá mức độ hoàn thiện của luật.

Hệ thống pháp luật càng toàn diện, mức độ hoàn thiện của pháp luật càng cao thì giúp cho hoạt động tổ chức thực hiện luật càng hiệu quả, góp phần mang lại lợi ích cho Nhà nước, lợi ích của các tổ chức và cá nhân. Ngược lại, với một hệ thống pháp luật ở mức hoàn thiện thấp sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình tổ chức thực hiện luật, làm cho hoạt động của các tổ chức, cá nhân bị trì trệ, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của tổ chức, cá nhân đó. Tuy nhiên, để pháp luật đi vào đời sống của người dân không chỉ đòi hỏi phải có một hệ thống pháp luật hoàn thiện mà phải có sự kết hợp giữa nhiều yếu tố với nhau.

1.2.2. Tổ chức bộ máy và nguồn lực Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên CNXH (bổ sung phát triển năm 2020), Hiến pháp năm 2022 đã bổ sung một nguyên tắc mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta. Đó là quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp. Đây vừa là quan điểm, vừa là nguyên tắc chỉ đạo công cuộc tiếp tục xây dựng và hoàn thiện bộ máy nhà nước ta trong thời kỳ mới – thời kỳ đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới cả về kinh tế lẫn chính trị [49].

Tổ chức bộ máy nhà nước của một quốc gia là một hệ thống các cơ quan nhà nước có vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức, quan hệ mật thiết với nhau, tạo thành một thể thống nhất. Tổ chức bộ máy nhà nước được tổ chức và hoạt động theo những nguyên tắc chung do pháp luật quy định, trong đó Hiến pháp là luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất của quốc gia.

Cơ quan tổ chức chính quyền của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam được triển khai từ Trung ương xuống đến địa phương. Chính phủ là cơ quan hành chính cao nhất, thực hiện quyền hành pháp, là cơ quan chấp hành của Chính phủ. Cơ quan hành chính trực thuộc Chính phủ là các tỉnh, thành phố trực thuộc TW (cấp tỉnh), dưới tỉnh là cơ quan hành chính cấp huyện, quận, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh (cấp huyện), dưới huyện là cơ quan hành chính cấp xã, phường, thị trấn.

Để bộ máy và nguồn lực nhà nước được vững mạnh, công tác xây dựng và kiện toàn bộ máy nhà nước luôn được chú trọng và phát triển trong từng giai đoạn, với một số nội dung chủ yếu như sau ([54] tr. 146):

Đổi mới, kiện toàn và nâng cao chất lượng hoạt động của Quốc hội, để Quốc hội thực sự là cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, có khả năng thực hiện có kết quả cao nhất chức năng lập pháp, quyết định ngân sách nhà nước và thực hiện quyền giám sát tối cao. Quốc hội phải có cơ cấu tổ chức hợp lý và đội ngũ đại biểu Quốc hội có đủ tiêu chuẩn là người đại diện cho ý chí, nguyện vọng của các tầng lớp nhân dân. Đồng thời phải củng cố các hội đồng nhân dân, để hội đồng nhân dân làm đúng chức năng nhiệm vụ luật định. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Cải cách nền hành chính nhà nước, xây dựng một hệ thống cơ quan quản lý thống nhất, thông suất, có hiệu lực và hiệu quả, đủ năng lực thực thi các nhiệm vụ trên các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh và đối ngoại. Tiến hành sắp xếp tổ chức, phân định rõ chức năng, thẩm quyền giữa các cấp, thực hiện nguyên tắc kết hợp quản lý ngành và quản lý theo lãnh thổ; tăng cường công tác tổ chức và hoạt động thanh tra; kiện toàn tổ chức chính quyền địa phương; xây dựng đội ngũ công chức có đủ phẩm chất và năng lực hoàn thành công việc trong bộ máy nhà nước.

Đổi mới tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan tư pháp: Cải tiến tổ chức và đổi mới hoạt động của hệ thống cơ quan tòa ấn theo hướng hai cấp xét xử; củng cố và kiện toàn hệ thống cơ quan kiểm sát; sắp xếp lại hệ thống cơ quan điều tra theo hướng tinh gọn, giảm bớt đầu mối; kiện toàn các tổ chức thi hành án; củng cố các tổ chức bổ trợ tư pháp.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước nhằm giữ vững bản chất của nhà nước, bảo đảm quyền lực nhân dân, đưa công cuộc đổi mới đi đúng định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới nội dung và phương thức lãnh đạo của Đảng đối với bộ máy nhà nước, bảo đảm chất lượng công tác lãnh đạo của Đảng đồng thời phát huy trách nhiệm, tính chủ động và hiệu lực cao trong quản lý, điều hành bộ máy nhà nước.

Tiến hành kiên quyết và thường xuyên cuộc đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng, xử lý nghiêm minh những người vi phạm pháp luật đồng thời tăng cường công tác xây dựng pháp luật, giáo dục ý thức pháp luật và củng cố kỷ luật trong nội bộ cơ quan nhà nước.

Một bộ máy nhà nước vững mạnh luôn là điều quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng của đất nước, đóng vai trò chủ đạo trong việc tổ chức thực hiện pháp luật. Một bộ máy nhà nước tinh gọn, được tổ chức khoa học sẽ góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả trong hoạt động tổ chức thực hiện pháp luật, mang lại lợi ích cho nhà nước, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Ngược lại, với một bộ máy nhà nước cồng kềnh, hoạt động kém hiệu quả sẽ làm cho mọi hoạt động kinh tế – xã hội trở nên chậm chạp, lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhân dân sẽ bị ảnh hưởng.

1.2.3. Ý thức pháp luật của các bên liên quan

Ý thức pháp luật là nhân tố không thể thiếu trong đời sống pháp luật của xã hội ở tất cả các giai đoạn phát triển của nó, nhất là từ khi xuất hiện nhà nước pháp quyền. Ý thức pháp luật có vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật; đồng thời quyết định hiệu quả của việc thực hiện pháp luật, góp phần đưa pháp luật vào cuộc sống ([24] tr.1).

Ý thức pháp luật xã hội chủ nghĩa là tổng thể những học thuyết, tư tưởng, quan điểm, quan niệm thịnh hành trong xã hội xã hội chủ nghĩa, thể hiện mối quan hệ của con người đối với pháp luật hiện hành, pháp luật đã qua và pháp luật cần phải có, thể hiện sự đánh giá về tính hợp pháp hay không hợp pháp trong hành vi xử sự của con người, cũng như trong tổ chức và hoạt động của các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội. ([54] tr.213). Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Căn cứ vào chủ thể của ý thức pháp luật, ý thức pháp luật có thể được chia thành ba loại là ý thức pháp luật xã hội, ý thức pháp luật nhóm và ý thức pháp luật của cá nhân ([54] tr.216).

  • Ý thức pháp luật xã hội là ý thức của bộ phận tiên tiến đại diện cho xã hội, nó chứa đựng những tư tưởng, quan điểm khoa học về những vấn đề cơ bản nhất của pháp luật. Vì nó tiến bộ và có cơ sở khoa học nên ý thức pháp luật xã hội được chính thức hóa trong toàn xã hội.
  • Ý thức pháp luật nhóm chỉ phản ánh những quan điểm, tư tưởng, tình cảm của một nhóm xã hội nhất định về pháp luật. Y thức pháp luật nhóm có phạm vi tác động nhỏ hơn so với ý thức pháp luật xã hội.
  • Ý thức pháp luật của cá nhân phản ánh những quan điểm, tư tưởng, tâm lí, tình cảm, thái độ của mỗi người về pháp luật và đối với pháp luật. Trình độ ý thức pháp luật của cá nhân thường thấp hơn ý thức pháp luật xã hội. Vì vậy, vấn đề đặt ra là phải không ngừng đẩy mạnh công tác giáo dục pháp luật để những ý thức pháp luật của cá nhân lên ngang tầm ý thức pháp luật của xã hội.

Một xã hội với ý thức pháp luật càng cao thì xã hội đó càng phát triển. Khi mọi người đều tôn trọng pháp luật, được thể hiện qua hành vi đúng đắn, tuân theo những quy định của pháp luật. Với ý thức pháp luật cao thì việc thực hiện pháp luật cũng như áp dụng pháp luật trở nên dễ dàng và mang lại hiệu lực, hiệu quả trong mọi hoạt động. Đối với một xã hội với ý thức pháp luật thấp thì tất yếu xã hội đó sẽ chậm tiến bộ.

1.2.4. Sự kiểm soát quá trình tổ chức thực hiện luật Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

Kiểm soát vừa là một quá trình kiểm tra các chỉ tiêu, vừa là việc theo dõi các ứng xử của đối tượng. Kiểm soát không chỉ dành cho những hoạt động đã xảy ra và đã kết thúc, mà còn là sự kiểm soát đối với những hoạt động đang xảy ra và sắp xảy ra. Trong quá trình kiểm soát có 02 yếu tố luôn tham gia vào kiểm soát và ảnh hưởng đến hiệu quả của kiểm soát, đó là nhận thức và phản ứng của người kiểm soát và đối tượng kiểm soát.

Kiểm soát quá trình tổ chức thực hiện luật là toàn bộ những hoạt động xem xét, theo dõi, đánh giá, những biện pháp mà thông qua đó có thể ngăn ngừa, loại bỏ những nguy cơ, những việc làm sai trái của cơ quan, nhân viên nhà nước trong việc tổ chức thực hiện luật, bảo đảm cho việc tổ chức thực hiện luật là đúng mục đích và đạt được hiệu quả cao nhất có thể.

Điều này cho thấy, khi hoạt động kiểm soát được thực hiện chặt chẽ và có sự phối hợp giữa các bộ, ngành, đoàn thể có liên quan sẽ giúp cho việc thực thi pháp luật ngày càng tốt hơn, khắc phục được những sai phạm của các chủ thể tham gia, đưa ra được những giải pháp đáp ứng được yêu cầu phát triển của xã hội, đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, đảm bảo sự phát triển của xã hội. Ngược lại, khi hoạt động kiểm soát tổ chức thực hiện luật không được thực hiện chặt chẽ, thường xuyên thì có thể dẫn đến việc thực hiện pháp luật, áp dụng pháp luật không được công minh làm ảnh hưởng đến lợi ích của nhà nước, lợi ích của nhân dân.

  • Tiểu kết chương 1

Tại chương 1, nghiên cứu này đã nêu lên được các khái niệm, đặc điểm tổ chức thực hiện luật, các mục đích, yêu cầu và nguyên tắc tổ chức thực hiện luật; nghiên cứu này cũng đã giới thiệu được các chủ thể bắt buộc và chủ thể tham tra trong tổ chức thực hiện luật; nghiên cứu này cũng đã trình bày được quá trình ban hành các văn bản hướng dẫn thi hành luật, công tác phổ biến giáo dục pháp luật, các nghiệp vụ, hoạt động giám sát, kiểm tra, thanh tra việc tổ chức thực hiện luật. Đồng thời, nghiên cứu này cũng đã xác định được các yếu tố tác động đến việc tổ chức thực hiện luật, cụ thể là mức độ hoàn thiện luật, tổ chức bộ máy và nguồn lực, ý thức pháp luật của các bên liên quan, và sự kiểm soát quá trình tổ chức thực hiện luật. Tiếp theo chương 2, nghiên cứu này sẽ tập trung vào việc đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội trên địa bàn tỉnh Phú Yên. Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng tổ chức luật bảo hiểm xã hội tại Phú Yên

One thought on “Luận văn: Tổ chức thực hiện Luật Bảo hiểm xã hội tại Phú Yên

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp tổ chức luật bảo hiểm xã hội tại Phú Yên

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464