Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Những quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam năm 2015 về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
BLHS 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017) sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự 2015 đã thể hiện sâu sắc nguyên tắc nhân đạo, chính sách khoan hồng của Nhà nước trong những quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
2.1. Sự phân chia các nhóm tuổi chịu Trách nhiệm hình sự khác nhau theo quy định của Bộ luật hình sự 2015
BLHS 2015 đã thể hiện rõ nguyên tắc nhân đạo của nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự vừa phải phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm và chính sách hình sự của Nhà nước Việt Nam, vừa phải đảm bảo sự tương thích với luật hình sự quốc tế. Bộ luật hình sự chia thành các nhóm thể hiện chính sách hình sự của nhà nước đối với những người phạm tội thuộc các lứa tuổi khác nhau: khoan hồng với những người trẻ tuổi, nhân cách chưa hoàn thiện; nghiêm khắc với những người trưởng thành, đã có bản lĩnh xã hội. Cụ thể các nhà làm chia tuổi chịu trách nhiệm thành ba nhóm tuổi: nhóm từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, nhóm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và nhóm từ đủ 18 tuổi trở lên.
Khác với một số nước chỉ quy định tuổi tối thiểu phải chịu Trách nhiệm hình sự như Điều 6 Chương 1 Bộ luật hình sự Thụy Điển quy định: “Không áp dụng chế tài đối với người phạm tội khi chưa đủ 15 tuổi[43,tr7] hay Điều 19 Bộ luật hình sự Cộng hòa Liên bang Đức quy định: “Người không có năng lực lỗi là người mà khi thực hiện hành vi chưa đủ 14 tuổi”[43,tr7]; Việt Nam lại chọn quy định tuổi chịu trách nhiệm theo kiểu “phân tầng”. Một số nước cũng quy định theo kiểu “phân tầng” như Điều 17 Bộ luật hình sự Trung Quốc quy định: “Người từ đủ 16 tuổi phạm tội phải chịu Trách nhiệm hình sự. Người đủ 14 tuổi những chưa đủ 16 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc cố ý gây thương tích dẫn đến thương tích nặng hoặc chết người, hiếp dâm, cướp giật, mua bán chất ma túy, đốt nhà, đặt bom, đầu độc…”[15,tr43], và Điều 20 Bộ luật hình sự Liên Bang Nga năm 1996 quy định: ‘Người từ đủ 16 tuổi trước thời điểm thực hiện tội phạm phải chịu Trách nhiệm hình sự 2.Người từ đủ 14 tuổi trước thời điểm thực hiện tội phạm phải chịu Trách nhiệm hình sự do thực hiện các tội sau: tội giết người (Điều 105), tội cố ý gây thương tích rất nặng cho sức khỏe của người khác (Điều 111), ..”[14,tr36], hay như Malayxia cùng thuộc khu vực Đông Nam Á với Việt Nam cũng quy định theo kiểu “phân tầng” tại Điều 82 Bộ luật hình sự: trẻ em chưa đủ 10 tuổi thì không có năng lực Trách nhiệm hình sự, đối với trẻ em từ đủ 10 tuổi đến chưa đủ 12 tuổi thực hiện hành vi bị coi là tội phạm nhưng người này không đủ khả năng để đánh giá tính chất và hậu quả của hành vi mình thực hiện thì người này cũng được coi là không có năng lực Trách nhiệm hình sự. Như vậy, tuổi đủ năng lực Trách nhiệm hình sự theo pháp luật hình sự Malayxia là từ đủ 12 tuổi đối với mọi tội phạm hoặc từ đủ 10 tuổi trở lên đối với một số tội phạm nhất định[48,tr50] Cách quy định “phân tầng” không phổ biến và Ủy ban Liên hợp quốc về quyền trẻ em cũng không ủng hộ việc quy định như vậy[23,tr46]. Tuy nhiên, cách phân loại này có những ưu điểm riêng, việc này không những thể hiện được sự khoan hồng với những người trẻ tuổi và nghiêm khắc với những người trưởng thành, quy định như vậy còn phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm ở Việt Nam.
Trong đó, khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”. Bởi lẽ lứa tuổi này quá trình phát triển và hoàn thiện về thể chất, tâm sinh lý, nhân cách sống. Người ở độ tuổi này chưa phát triển đầy đủ, toàn diện về thể lực, trí tuệ, tinh thần, nhân cách; thêm nữa họ còn hạn chế về kinh nghiệm sống, kiến thức pháp luật, dễ bị tác động, chi phối bởi môi trường xung quanh; chưa thể nhận thức đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mà mình thực hiện. Xuất phát từ đặc điểm tâm sinh lý của người chưa thành niên, trên cơ sở chú trọng vào khả năng cải tạo, giáo dục đối với người dưới 16 tuổi, nên chính sách nhân đạo của Đảng, Nhà nước luôn mong muốn giúp họ tích cực cải tạo, sửa chữa sai lầm để trở thành người có ích cho xã hội. Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Còn đối với người từ đủ 16 tuổi trở lên, Bộ luật hình sự 2015 quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”. Theo Bộ luật hình sự 2015 người từ đủ 16 tuổi trở lên được hiểu là hai độ tuổi khác nhau là: người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và người từ đủ 18 tuổi trở lên[51,tr22]. Việc này thể hiện chính sách nhân đạo của nhà nước đối với người dưới 18 tuổi. Cụ thể: đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội sẽ phải chịu Trách nhiệm hình sự theo Chương XII Bộ luật hình sự 2015 về xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên sẽ bị xử lý hình sự về mọi tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự.
2.2. Nhóm tuổi chịu Trách nhiệm hình sự từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi và mối liên hệ với Trách nhiệm hình sự
2.2.1 Nguyên tắc xử lý
Bộ luật hình sự năm 2015 dành chương XII trong Phần chung để quy định đối với người chưa thành niên phạm tội. Trong đó nguyên tắc xử lý đối với người chưa thành niên phạm tội có thể phân chia thành ba nhóm: nguyên tắc chủ đạo trong xử lý đối với người dưới 18 tuổi, nguyên tắc về áp dụng hình phạt đối với người dưới 18 tuổi và nguyên tắc xử lý chuyển hướng. Trong các nguyên tắc này có quy định dành cho người dưới 18 tuổi nói chung và những quy định riêng đối với người từ đủ 14 đến dưới 18 tuổi như sau:
- Về nguyên tắc chủ đạo trong xử lý:
Thứ nhất, khoản 1 Điều 91 Bộ luật hình sự 2015 quy định: “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi và chủ yếu nhằm mục đích giáo dục, giúp đỡ họ sửa chữa sai lầm, phát triển lành mạnh, trở thành công dân có ích cho xã hội”. Đối chiếu với Bộ luật hình sự 1999, Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 bổ sung thêm nguyên tắc: “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải bảo đảm lợi ích tốt nhất của người dưới 18 tuổi”. Đây là một sự bổ sung tiến bộ, nói lên quan điểm bảo vệ trẻ em – người vị thành niên trong pháp luật hình sự. Mục đích của việc xử lý người chưa thành niên phạm tội là để giáo dục, giúp họ sửa chữa lỗi lầm, trở thành công dân có ích cho xã hội.
Thứ hai, khoản 1 Điều 91 cũng quy định “Việc xử lý người dưới 18 tuổi phạm tội phải căn cứ vào độ tuổi, khả năng nhận thức của họ về tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nguyên nhân và điều kiện gây ra tội phạm”. Quy định này hợp lý vì ở độ tuổi dưới 18 tuổi, người chưa thành niên có sự phát triển về thể chất lẫn tinh thần rất khác nhau, có một số em đã có khả năng nhận thức về tính nguy hiểm của hành vi mình gây ra, có một số em lại chưa nhận thức được. Vì thế, trong quá trình xét xử cần xem xét vào độ tuổi của người chưa thành niên và cả khả năng nhận thức của các em.
Thứ ba, về việc truy cứu Trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội, khoản 3 Điều 91 Bộ luật hình sự 2015 quy định: “chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm”. Có thể thấy tính nhân đạo trong việc xử lý người chưa thành niên phạm tội, pháp luật quy định chỉ truy cứu Trách nhiệm hình sự của họ “trong trường hợp cần thiết”. Điều này cũng phù hợp với Điều 40 Công ước về quyền trẻ em: “Các quốc gia thành viên công nhận quyền của mọi trẻ em bị tình nghi, bị cáo buộc hay bị xác nhận là đã vi phạm Luật hình sự được đối xử theo cách thức phù hợp với việc thúc đẩy nhận thức của trẻ em về nhân cách và phẩm giá vốn có,… cũng như mong muốn thúc đẩy sự tái hòa nhập của trẻ em và giúp trẻ em đảm đương một vai trò tính chất xây dựng trong xã hội”.[47,tr26 ] Thêm vào đó, hiểu rõ yếu tố nhân thân đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành nhân cách trẻ vị thành niên nên trong Bộ luật hình sự 2015 quy định khi truy cứu về Trách nhiệm hình sự của họ cần căn cứ vào các đặc điểm nhân thân. Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
- Về nguyên tắc áp dụng hình phạt:
Thứ nhất, khoản 4 Điều 91 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã thể hiện lại nguyên tắc hạn chế hình phạt tù của Bộ luật hình sự 1999 này theo hướng phù hợp hơn với tinh thần của Công ước về Quyền trẻ em. Theo Công ước Quyền trẻ em quy định: “Việc bắt, giam giữ hoặc bỏ tù trẻ em… phải là biện pháp cuối cùng và trong thời hạn thích hợp ngắn nhất”[47,tr27 ]. Điều đó có nghĩa là việc áp dụng chế tài đối với người chưa thành niên là ưu tiên áp dụng các biện pháp không giam giữ, các biện pháp mang tính giam giữ và hình phạt tù chỉ được áp dụng là biện pháp cuối cùng khi không còn biện pháp khác phù hợp. Tuy nhiên, tại khoản 4 Điều 69 của Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “Khi xét xử, nếu thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, thì Toà án áp dụng một trong các biện pháp tư pháp được quy định tại Điều 70 của Bộ luật này” lại thể hiện không phù hợp với nguyên tắc này. Theo Điều 69 Bộ luật hình sự 1999 trước tiên Toà án phải cân nhắc việc áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, chỉ trong trường hợp xét thấy không cần thiết áp dụng hình phạt thì mới áp dụng biện pháp tư pháp. Bộ luật hình sự 2015 khắc phục nguyên tắc này tại Khoản 4 Điều 91 một cách phù hợp với tinh thần của Công ước về Quyền trẻ em. Theo đó, khi xét xử người dưới 18 tuổi, Tòa án trước hết phải cân nhắc khả năng áp dụng việc miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục hoặc khả năng áp dụng biện pháp tư pháp giáo dục tại trường giáo dưỡng đối với các em và chỉ khi xét thấy việc áp dụng các biện pháp này không bảo đảm hiệu quả giáo dục, phòng ngừa thì mới áp dụng hình phạt đối với các em.
Thứ hai, khoản 6 Điều 91 Bộ luật hình sự quy định “Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người dưới 18 tuổi phạm tội”. Thực tế không chỉ Việt Nam, nhiều nước trên thế giới cũng không cho phép việc áp dụng hình phạt tử hình đối với người phạm tội dưới 18 tuổi. Theo quan điểm của phần lớn các nhà làm luật, chỉ áp dụng hình phạt tương đương với mức độ nhận thức của đối tượng khi phạm tội. Người dưới 18 tuổi thường chưa phát triển đầy đủ về thể chất, đặc biệt là về tâm sinh lý, thiếu kinh nghiệm, bản lĩnh cuộc sống, khả năng tự kiềm chế thấp. Vì vậy, họ không thể nhận thức đầy đủ tính chất nghiêm trọng của hành vi phạm tội do mình gây ra. Thêm vào đó, Khoản 1 Điều 37 Công ước Liên hiệp quốc về quyền trẻ em từ năm 1990 mà Việt Nam tham gia quy định: “Những người dưới 18 tuổi nếu gây ra những hành động phạm pháp sẽ không bị áp dụng hình phạt tử hình hoặc tù chung thân mà không có khả năng được phóng thích”. Việt Nam đã luật hóa điều khoản này trong Bộ luật hình sự bằng quy định không áp dụng hình phạt tử hình đối với tội phạm dưới 18 tuổi.
Ngoài ra, còn một nguyên tắc cho người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi là : “Án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội, thì không tính để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”. Theo quy định này, án đã tuyên đối với người chưa đủ 16 tuổi phạm tội dù đã thi hành xong hay chưa thì cũng không dùng để tính tái phạm, tái phạm nguy hiểm. Đây cũng là một chính sách khoan hồng của nhà nước dành cho trẻ vị thành niên dưới 16 tuổi. Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Về nguyên tắc xử lý chuyển hướng: Xử lý chuyển hướng là việc chuyển hướng hoặc đưa người chưa thành niên vi phạm pháp luật ra ngoài hệ thống tư pháp chính thống để áp dụng các biện pháp xử lý thay thế khác, trong đó tăng cường yếu tố tham gia của cộng đồng[22,tr98]. Nội dung của xử lý chuyển hướng được quy định trong Bộ luật hình sự 2015 như sau: Tại khoản 3 Điều 91 quy định: “Việc truy cứu Trách nhiệm hình sự người dưới 18 tuổi phạm tội chỉ trong trường hợp cần thiết và phải căn cứ vào những đặc điểm về nhân thân của họ, tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội và yêu cầu của việc phòng ngừa tội phạm”. Khoản 2, Điều 91 Bộ luật hình sự năm 2015 cũng quy định người dưới 18 tuổi phạm tội thuộc một trong các trường pháp luật quy định và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, tự nguyện khắc phục phần lớn hậu quả thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục. Trong đó, người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng do cố ý quy định tại khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 có thể được miễn Trách nhiệm hình sự, trừ trường hợp quy định tại Điều 123 (tội giết người); Điều 134, các khoản 4, 5 và khoản 6 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm), … Và người dưới 18 tuổi là người đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể trong vụ án thì có thể được miễn Trách nhiệm hình sự. So với Bộ luật hình sự 1999 thì Bộ luật hình sự năm 2015 đã mở rộng đối tượng được miễn trách nhiệm hình sự đối của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, quy định về điều kiện miễn trách nhiệm hình sự cũng cụ thể hơn, điều kiện miễn Trách nhiệm hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội thấp hơn so với người thành niên phạm tội. Có thể nói, đây là một quy định quan trọng tạo điều kiện cho việc xử lý chuyển hướng đối với người dưới 18 tuổi phạm tội. Khi người dưới 18 tuổi được miễn Trách nhiệm hình sự thì kèm theo đó phải áp dụng một trong các biện pháp giám sát, giáo dục[50,tr27 ]. Bộ luật hình sự 2019 cũng bổ sung quy định về việc áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục đối với các em được miễn trách nhiệm hình sự nhằm bảo đảm tính khả thi cũng như hiệu quả áp dụng của chế định pháp lý này.
2.2.2. Loại tội phạm phải chịu Trách nhiệm hình sự Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Khoản 2 Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 quy định: “Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này”.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội được quy định trong Điều 9 Bộ luật hình sự, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng được định nghĩa như sau: Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 07 năm đến 15 năm tù; Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội đặc biệt lớn mà mức cao nhất của khung hình phạt do Bộ luật này quy định đối với tội ấy là từ trên 15 năm đến 20 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Như vậy có nghĩa là người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi không phải chịu Trách nhiệm hình sự đối với những tội có mức cao nhất của khung hình phạt từ 07 năm tù trở xuống.
BLHS năm 2015 đã có sự điều chỉnh mạnh mẽ trong chính sách hình sự đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo hướng bảo đảm lợi ích tốt nhất cho người ở độ tuổi này. So với Bộ luật hình sự năm 1999 có thể thấy Bộ luật hình sự 2015 đã thu hẹp phạm vi Trách nhiệm hình sự của người dưới 16 tuổi chỉ phải chịu Trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thuộc 28 tội danh được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015, thuộc 4 nhóm tội phạm sau đây:
Các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm con người, đó là: giết người (Điều 123), cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (Điều 134), hiếp dâm (Điều 141), hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142), tội cưỡng dâm (Điều 143), tội cưỡng dâm người đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144), tội mua bán người (Điều 150), tội mua bán người dưới 16 tuổi (Điều 151).
Các tội xâm phạm sở hữu, đó là: Tội cướp tài sản (Điều 168), tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản (Điều 169), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 170); tội cướp giật tài sản (Điều 171); tội trộm cắp tài sản (Điều 173); tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (Điều 178). Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Các tội phạm về ma túy, đó là: Tội sản xuất trái phép chất ma túy (Điều 248); tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Điều 249); tội vận chuyển trái phép chất ma túy (Điều 250); tội mua bán trái phép chất ma túy (Điều 251); tội chiếm đoạt chất ma túy (Điều 252).
Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng, đó là: tội tổ chức đua xe trái phép (Điều 265); tội đua xe trái phép (Điều 266); tội phát tán chương trình tin học gây hại cho hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 286); tội cản trở hoặc gây rối loạn hoạt động của mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử (Điều 287); tội xâm nhập trái phép vào mạng máy tính, mạng viễn thông hoặc phương tiện điện tử của người khác (Điều 289); tội sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản (Điều 290); tội khủng bố (Điều 299); tội phá hủy công trình, cơ sở, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia (Điều 303); tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự (Điều 304).
Việc liệt kê các tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự có phần giống với Bộ luật hình sự Liên Bang Nga năm 1996 sửa đổi năm 2000. Khoản 2 Điều 20 Bộ luật hình sự Liên Bang Nga quy định : “Người từ đủ 14 tuổi trước thời điểm thực hiện tội phạm phải chịu Trách nhiệm hình sự do thực hiện các tội sau: tội giết người (Điều 105), tội cố ý gây thương tích rất nặng cho sức khỏe của người khác (Điều 111), tội cố ý gây thương tích nặng cho sức khỏe của người khác (Điều 112), tội bắt cóc (Điều 126), tội hiếp dâm (Điều 131), tội cưỡng dâm (Điều 132), tội trộm cắp (Điều 158), tội cướp (Điều 161), tội cướp giật (Điều 162), tội cưỡng đoạt tài sản (Điều 163),),…[14,tr36]. Việc liệt kê này sẽ chi tiết và phù hợp hơn, đồng thời thu hẹp đáng kể những tội phạm mà người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự.
BLHS Việt Nam 2015 đã thu hẹp theo căn cứ thực tế những tội phạm có tính phổ biến ở lứa tuổi này, những người trong nhóm tuổi này phải chịu Trách nhiệm hình sự về những tội phạm có thể khác nhau về loại tội nhưng đó là những tội phổ biến và chiếm tỉ lệ cao trong thực tế. Theo Viện kiểm sát nhân dân tối cao: “loại tội phạm phổ biến nhất do người chưa thành niên thực hiện là các tội xâm phạm sở hữu, tiếp theo là các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe và cuối cùng là các tội xâm phạm an toàn, trật tự công cộng… Trong số các tội xâm phạm sở hữu thì phổ biến nhất là tội trộm cắp và cướp tài sản…”[23,tr15]. Hơn nữa, việc quy định rõ ràng những tội phạm cụ thể còn giúp những người trong nhóm tuổi này dễ nhận biết điều cấm mà pháp luật quy định, đồng thời nó cũng phù hợp với khả năng nhận thức của lứa tuổi này. Mặt khác, đối với những tội như xâm phạm an ninh quốc gia, tham nhũng, xâm phạm trật tự quản lí kinh tế,… thì những người trong nhóm tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi hầu như không thực hiện hoặc không có điều kiện thực hiện. Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Khác với quy định của Bộ luật hình sự năm 1999: “người từ đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi không phải chịu Trách nhiệm hình sự đối với tất cả các loại tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng”, Bộ luật hình sự năm 2015 không quy định về lỗi cố ý hay vô ý. Có thể thấy, những quy định của Bộ luật hình sự năm 2015 vừa mang tính răn đe, vừa mang tính giáo dục nhằm tạo điều kiện để người chưa thành niên tiếp tục phát triển về thể chất và tinh thần, sửa chữa thiếu sót… theo đúng tinh thần của Hiếp pháp năm 2013 về quyền con người và Công ước 1989 của Liên Hiệp quốc về quyền trẻ em.
2.2.3. Loại hình phạt và mức hình phạt có thể áp dụng
Theo Bộ luật hình sự 2015 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội chỉ bị áp dụng một trong ba hình phạt sau đây đối với mỗi tội phạm: cảnh cáo; cải tạo không giam giữ hoặc tù có thời hạn. Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội rất nghiêm trọng. Đây là quy định mới được bổ sung thêm của Bộ luật hình sự 2015. Điều này góp phần giúp cho việc áp dụng pháp luật được rõ ràng hơn. Thời hạn cải tạo không giam giữ đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội không quá một phần hai thời hạn mà điều luật quy định (Điều 100). Còn hình phạt tù có thời hạn áp dụng đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phạm tội được quy định như sau: nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình, thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 12 năm tù; nếu là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định (Điều 101). Ngoài ra, Bộ luật hình sự 2015 quy định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
Ngoài ra, Bộ luật mới còn bổ sung quy định về quyết định hình phạt trong trường hợp chuẩn bị phạm tội, phạm tội chưa đạt (Điều 102). Đây là quy định mới của Bộ luật hình sự 2015, theo đó khung hình phạt đối với trường hợp chuẩn bị phạm tội thấp hơn so với Bộ luật hình sự 1999, cụ thể: mức hình phạt cao nhất trường hợp chuẩn bị phạm tội không quá một phần ba mức hình phạt được quy định trong khung hình phạt đối với hành vi chuẩn bị phạm tội trong điều luật được áp dụng. Còn về trường hợp phạm tội chưa đạt cũng được thu hẹp phạm vi Trách nhiệm hình sự, cụ thể: mức hình phạt cao nhất áp trong trường hợp phạm tội chưa đạt không quá một phần ba mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 100 và Điều 101 của Bộ luật này.
Về hình phạt áp dụng đối với người chưa thành niên phạm tội, Nhà nước có chính sách: Không xử phạt tù chung thân hoặc tử hình đối với người chưa thành niên phạm tội, vì người chưa thành niên là người chưa phát triển đầy đủ về thể chất và tâm sinh lý, do đó hành vi phạm tội của họ được cho là một phần do môi trường sống, ảnh hưởng từ môi trường sống; không phải lỗi hoàn toàn do bản thân người chưa thành niên. Khi áp dụng hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, Tòa án hạn chế áp dụng hình phạt tù. Khi xử phạt tù có thời hạn, Tòa án cho người chưa thành niên phạm tội được hưởng mức án nhẹ hơn mức án áp dụng đối với người đã thành niên phạm tội tương ứng. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với người chưa thành niên phạm tội.
2.2.4. Nguyên tắc tổng hợp hình phạt Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
BLHS 1999 chưa có sự phân hóa về tổng hợp hình phạt đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi trong trường hợp phạm nhiều tội; do vậy khi áp dụng còn có nhiều cách hiểu khác nhau. Trong đó, có quan điểm cho rằng, khoản 1 Điều 75 Bộ luật hình sự 1999 quy định chung đối với người phạm tội từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi, do vậy mức phạt cao nhất đối với người từ 14 đến dưới 16 tuổi cũng được áp dụng tối đa là 18 năm tù[47,tr31].So với Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật hình sự 2015 đã quy định rõ ràng, chi tiết hơn các trường hợp tổng hợp hình phạt đối với người dưới 18 tuổi phạm nhiều tội tại Điều 103; đồng thời có sự phân hóa giữa người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi được hưởng sự khoan hồng của pháp luật nhiều hơn, cụ thể như sau:
Trong trường hợp phạm nhiều tội quy định tại Điều 103 đã quy định: nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm; nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 12 năm. Bộ luật hình sự 2015 đã có quy định mới đối với người trường hợp có tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi. Các nhà làm luật đã chia độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi làm 2 giai đoạn: từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi và từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, và có những quy định phù hợp hơn. Cụ thể việc tổng hợp hình phạt áp dụng như sau: nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi; nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.
Trong trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều bản án Điều 104 quy định: Hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại Điều 103 của Bộ luật này. Quy định về tổng hợp hình phạt nhiều bản án là quy định mới, giúp bảo vệ quyền và lợi ích của lứa tuổi vị thành niên theo đúng nguyên tắc nhân đạo của Đảng và nhà nước. Việc phân hóa phù hợp với độ tuổi, nhận thức của người phạm tội thể hiện rõ nét tính nhân đạo trong việc xây dựng pháp luật cũng như giúp đỡ cho người phạm tội có cơ hội để sửa chữa sai lầm và tái hòa nhập cộng đồng. Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
2.2.5. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tha miễn
Những chính sách nhân đạo, khoan hồng trong phương hướng xử lý hình sự đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật hình sự năm 2015 được thể hiện bằng những quy định về các biện pháp tha, miễn theo hướng mở rộng phạm vi áp dụng và hạn chế các điều kiện không áp dụng, chú trọng đến ý thức cải tạo, chấp hành tốt của người dưới 18 tuổi phạm tội đều có thể được áp dụng các biện pháp tha, miễn. Các nhà làm luật đã thay thế cụm Những quy định áp dụng các biện pháp tha, miễn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật hình sự 2015 như: giảm mức hình phạt đã tuyên, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xoá án tích.
Về giảm mức hình phạt đã tuyên, các nhà làm luật đã quy định tại điều 105 Bộ luật hình sự 2015 ba trường hợp được giảm hình phạt đã tuyên. Trong đó thì trường hợp thứ nhất theo khoản 1 này thì người phạm tội cần đảm 3 yếu tố sau: người dưới 18 tuổi, có tiến bộ và đã chấp hành được một phần tư thời hạn, bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù. Trường hợp thứ hai thì người phạm tội phải đảm bảo các yêu cầu sau: Thứ nhất là bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù, thứ hai là có công hoặc mắc các bệnh hiểm nghèo, thứ ba là người phạm tội dưới 18 tuổi. Trường hợp thứ ba nếu người phạm tội bị phạt tiền mà bị lâm vào hoàn cảnh kinh tế đặc biệt khó khăn kéo dài do thiên tai, hỏa hoạn, tai nạn hoặc ốm đau gây ra hoặc lập công lớn, thì theo đề nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định giảm hoặc miễn việc chấp hành phần tiền phạt còn lại.
Quy định về tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 106) là một quy định mới của Bộ luật hình sự 2015 áp dụng với người dưới 18 tuổi. Theo đó, người dưới 18 tuổi phạm tội không thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 66 Bộ luật hình sự 2015 và đủ điều kiện: phạm tội lần đầu; có nhiều tiến bộ, có ý thức cải tạo tốt; đã chấp hành được một phần ba thời hạn phạt tù và có nơi cư trú rõ rang thì có thể được tha tù trước thời hạn. Điều 106 đã giới hạn thu hẹp các điều kiện áp dụng biện pháp tha tù trước hạn so với trường hợp thông thường. Quy định này là một điểm tiến bộ, giúp nâng cao ý thức cải tạo, chấp hành pháp luật, giúp người phạm tội sớm có thể tái hòa nhập cộng đồng.
Ngoài ra, Bộ luật hình sự 2015 bổ sung quy định về xóa án tích tại Điều 107 quy định: Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi được coi là không có án tích. Người bị kết án trong các trường hợp này đương nhiên được coi là không có án tích kể từ khi bản án có hiệu lực, không liên quan tới việc người đó đã chấp hành xong bản án hay chưa. Đây là điều kiện cho người chưa thành niên có thể tái hòa nhập cộng đồng, phát triển lành mạnh về thể chất và tinh thần, cũng như tránh những mặc cảm tội lỗi của bản thân người chưa thành niên và cái nhìn thiếu thiện cảm, dị nghị của xã hội.
2.3. Nhóm tuổi chịu Trách nhiệm hình sự từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và mối liên hệ với Trách nhiệm hình sự Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
2.3.1. Nguyên tắc xử lý
Nguyên tắc xử lý đối với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi được quy định trong Điều 91 Bộ luật hình sự 2016. So với các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 16 tuổi về cơ bản là giống nhau, tuy nhiên có hai điểm khác biệt là: án đã tuyên với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi có thể bị xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm và điều kiện miễn Trách nhiệm hình sự. Người dưới từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thể được miễn Trách nhiệm hình sự và áp dụng các biện pháp giám sát, giáo dục trong trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng, trừ trường hợp quy định tại các điều: Điều 134 (tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác); Điều 141 (tội hiếp dâm); Điều 171 (tội cướp giật tài sản); Điều 248 (tội sản xuất trái phép chất ma túy); Điều 249 (tội tàng trữ trái phép chất ma túy); Điều 250 (tội vận chuyển trái phép chất ma túy); Điều 251 (tội mua bán trái phép chất ma túy); Điều 252 (tội chiếm đoạt chất ma túy). Người dưới 16 tuổi có thể được miễn Trách nhiệm hình sự đối với một số “trường hợp phạm tội rất nghiêm trọng” còn người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi chỉ có thể miễn Trách nhiệm hình sự với một số “ trường hợp phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng”. Quy định này là hợp lý vì ở độ tuổi từ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi, nhận thức của họ đã khá hoàn thiện, đã có khả năng nhận thức về hành vi của mình.
2.3.2. Loại tội phạm phải chịu Trách nhiệm hình sự
Khoản 1 Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 quy định: “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”.
BLHS 2015 đã có sự sửa đổi phù hợp so với quy định Bộ luật hình sự 1999 tại khoản 1 Điều 12 : “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm”. Trong khoản 1 Điều 12 Bộ luật hình sự 1999 còn vấn đề bất cập là trong phần các tội phạm thì Bộ luật hình sự 1999 quy định hai tội danh mà chủ thể phải là người đã thành niên (tức là phải đủ 18 tuổi chứ không phải đủ 16 tuổi như quy định tại Khoản 1 Điều này) gồm Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115) và Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116). Để khắc phục thiếu sót của Bộ luật hình sự 1999, Bộ luật hình sự 2015 đã bổ sung cụm từ “trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”. Đồng thời Bộ luật hình sự 2015 quy định rõ ràng vào các điều luật như: Tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 145); Tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi (Điều 146) thì chủ thể phạm tội phải là người đủ 18 tuổi trở lên. Ngoài ra, Bộ luật hình sự 2015 còn quy định 02 tội danh mà người phạm tội phải đủ 18 tuổi trở lên mới chịu Trách nhiệm hình sự là tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp (Điều 325) và tội mua dâm người dưới 18 tuổi (Điều 329) trong khi Bộ luật hình sự 2015 không giới hạn độ tuổi. Và bổ sung thêm 1 tội danh mà chỉ có người đủ 18 tuổi trở lên mới phải chịu Trách nhiệm hình sự là tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm (Điều 147).
2.3.3. Loại hình phạt và mức hình phạt có thể áp dụng Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Theo quy định tại Điều 98, người dưới 18 tuổi chỉ bị áp dụng một trong các hình phạt sau với mỗi tội: cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn. So với các loại hình và mức hình phạt của người dưới 16 tuổi, những người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi có thêm hình phạt tiền và mức hình phạt cũng nặng hơn. Cụ thể là:
Phạt tiền áp dụng với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi nếu có thu nhập hoặc có tài sản riêng. Mức phạt không quá 1/2 mức tiền phạt mà điều luật quy định với người thành niên. (Điều 99) Hình phạt cải tạo không giam giữ được áp dụng với người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi phạm tội ít nghiêm trọng, phạm tội nghiêm trọng hoặc phạm tội rất nghiêm trọng do vô ý. Khi áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ không khấu trừ thu nhập của người đó. Thời hạn cải tạo không giam giữ với người dưới 18 tuổi không quá 1/2 thời hạn mà điều luật quy định. (Điều 100)
Hình phạt tù có thời hạn với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi khi phạm tội, nếu điều luật được áp dụng quy định hình phạt tù chung thân hoặc tử hình thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 18 năm tù. Nếu là tù có thời hạn, mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 3/4 mức phạt tù mà điều luật quy định.(Điều 101)
2.3.4. Nguyên tắc tổng hợp hình phạt Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
BLHS 2015 được các nhà làm luật đã sửa đổi, bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi trên cơ sở Bộ luật hình sự 1999. Điều 75 Bộ luật hình sự 1999 quy định về vấn đề này còn một số hạn chế, bất cập. Cụ thể là, Bộ luật hình sự 1999 chỉ quy định nguyên tắc tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội có tội thực hiện trước khi người đó 18 tuổi, có tội thực hiện sau khi người đó 18 tuổi mà chưa có quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp các tội được thực hiện khi người đó đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi và trường hợp có tội thực hiện khi người đó đủ 14 đến dưới 16, có tội thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi. Để góp phần khắc phục những bất cập, hạn chế này của Bộ luật hình sự năm 2015 đã sửa đổi, bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội tại Điều 103 theo hướng:
Thứ nhất, Bộ luật 2015 đã bổ sung quy định về nguyên tắc chung về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội. Theo nguyên tắc này Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt chung theo quy định tại Điều 55, cụ thể: nếu hình phạt chung là cải tạo không giam giữ thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không quá 03 năm, nếu hình phạt chung là tù có thời hạn thì mức hình phạt cao nhất được áp dụng không được vượt quá 18 năm. (Khoản 1 Điều 103)
Thứ hai, bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, trong đó có tội được thực hiện trước khi người phạm tội đủ 16 tuổi, có tội được thực hiện sau khi người phạm tội đủ 16 tuổi, theo nguyên tắc: nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này. (điểm a khoản 2 Điều 103). Và nếu mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện sau khi người đó đủ 16 tuổi nặng hơn mức hình phạt đã tuyên đối với tội được thực hiện trước khi đủ 16 tuổi thì hình phạt chung không vượt quá mức hình phạt cao nhất đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi theo quy định tại khoản 1 Điều này. (điểm b khoản 2 Điều 103)
Thứ ba, bổ sung quy định về tổng hợp hình phạt trong trường hợp phạm nhiều tội, có tội được thực hiện trước khi người phạm tội đủ 18 tuổi, có tội được thực hiện sau khi người phạm tội đủ 18 tuổi, theo nguyên tắc: nếu mức hình phạt Toà án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi nặng hơn hoặc bằng mức hình phạt áp dụng đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi, thì hình phạt chung không được vượt quá mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 1 Điều này. (điểm a khoản 3 Điều 103). Nếu mức hình phạt Toà án tuyên đối với tội được thực hiện khi người đó đã đủ 18 tuổi nặng hơn mức hình phạt áp dụng đối với tội thực hiện khi người đó chưa đủ 18 tuổi thì hình phạt chung áp dụng như đối với người đủ 18 tuổi trở lên phạm tội. (điểm b khoản 3 Điều 103) Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
2.3.5. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tha miễn
Những quy định áp dụng các biện pháp tha, miễn đối với người dưới 18 tuổi phạm tội trong Bộ luật hình sự 2015 như: giảm mức hình phạt đã tuyên, tha tù trước thời hạn có điều kiện, xoá án tích. Về giảm mức hình phạt đã tuyên và tha tù trước thời hạn có điều kiện của người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi giống với các quy định của người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.
Còn về quy định xóa án tích phạm vi không bị coi là có án tích so với người dưới 16 tuổi được coi là không có án tích, thì đối với người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phạm tội được quy định trong trường hợp bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý (khoản 1 Điều 107). Còn đối với người bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên được xóa án tích nếu từ khi chấp hành xong hình phạt, người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới trong 4 thời hạn quy định tại khoản 2 Điều 107. Xem xét các quy định về những trường hợp không có án tích có thể thấy chính sách khoan hồng, thu hẹp phạm vi chế tài hình sự đối với người chưa thành niên được thể hiện nhất quán[47,tr31].
2.4. Nhóm tuổi chịu Trách nhiệm hình sự từ đủ 18 tuổi trở lên và mối liên hệ với trách nhiệm hình sự Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
2.4.1. Loại tội phạm phải chịu Trách nhiệm hình sự
Theo Điều 12 Bộ luật hình sự 2015 quy định: “Người tử đủ 16 tuổi trở lên phải chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. Mà theo Bộ luật hình sự 2015 thì những tội phạm có quy định khác là :
Điều 145 quy định về tội giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi: Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi nếu không thuộc trường hợp hiếp dâm hoặc cưỡng dâm người dưới 16 tuổi,thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm…
Điều 146 về tội dâm ô đối với người dưới 16 tuổi quy định: Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà có hành vi dâm ô đối với người dưới 16 tuổi không nhằm mục đích giao cấu hoặc không nhằm thực hiện các hành vi quan hệ tình dục khác, thì bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm…
Điều 147 quy định về tội sử dụng người dưới 16 tuổi vào mục đích khiêu dâm: Người nào đủ 18 tuổi trở lên mà lôi kéo, dụ dỗ, ép buộc người dưới 16 tuổi trình diễn khiêu dâm hoặc trực tiếp chứng kiến việc trình diễn khiêu dâm dưới mọi hình thức, thì bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm…
Điều 325 về tội dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người dưới 18 tuổi phạm pháp: Người nào đủ 18 tuổi mà thực hiện một trong các hành vi sau đây đối với người dưới 18 tuổi, thì bị phạt tù từ 1 năm đến 5 năm…
Điều 329 về tội mua dâm người dưới 18 tuổi Người nào đủ 18 tuổi trở lên mua dâm người dưới 18 tuổi…
Có thể thấy, trong 5 tội phạm đã liệt kê trên, Bộ luật hình sự 2015 đều quy định chủ thể của tội phạm là người đủ 18 tuổi trở lên. Tức là, theo quy định của Bộ luật hình sự 2015 thì những người từ đủ 18 tuổi trở lên sẽ phải chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. Bởi lẽ người từ đủ 18 tuổi trở lên đã phát triển đầy đủ, hoàn thiện về nhận thức, đã có khả năng điều khiển hành vi của mình. Điều này cũng phù hợp với các Công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia.
2.4.2. Loại hình phạt và mức hình phạt có thể áp dụng Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Về hình phạt đối với người đủ 18 tuổi, Bộ luật hình sự 2015 quy định nhiều loại hình phạt hơn cho độ tuổi này gồm hình phạt chính và cả hình phạt bổ sung. Trong đó, gồm 7 hình phạt chính là: cảnh cáo; phạt tiền; cải tạo không giam giữ; trục xuất; tù có thời hạn; tù chung thân và tử hình. Ngoài ra còn 7 hình phạt bổ sung là: cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định; cấm cư trú; quản chế; tước một số quyền công dân; tịch thu tài sản; phạt tiền, khi không áp dụng là hình phạt chính và trục xuất, khi không áp dụng là hình phạt chính. Trong đó, đối với mỗi tội phạm, người từ đủ 18 tuổi trở lên chỉ bị áp dụng một hình phạt chính và có thể bị áp dụng một hoặc một số hình phạt bổ sung.
Có thể thấy loại hình phạt của người từ đủ 18 tuổi trở lên đa dạng hơn rất nhiều so với người dưới 18 tuổi, và mức hình phạt cho người từ đủ 18 tuổi trở lên cũng nghiêm khắc hơn rất nhiều. Ví dụ như về mức phạt tù có thời hạn: người từ đủ 18 tuổi trở lên tối đa là 20 năm (Điều 38), còn người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi thì không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định (khoản 1 Điều 101), còn người dưới 16 tuổi sẽ không quá một phần hai mức phạt tù mà điều luật quy định (khoản 2 Điều 101).
Do người từ đủ 18 tuổi trở lên đã có sự phát triển đầy đủ về tâm sinh lý, có đủ khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, nên hình phạt áp dụng đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên đa dạng hơn từ nhẹ đến nặng, trong đó nghiêm khắc nhất là hình phạt tử hình. Tử hình là biện pháp cuối cùng, là hình phạt nặng nhất tước đi mạng sống con người dành cho các tội phạm an ninh quốc gia, xâm phạm tính mạng con người, các tội phạm về ma túy, tham nhũng và một số tội phạm đặc biệt nghiêm trọng khác mà người từ đủ 18 tuổi trở lên có thể bị áp dụng.
2.4.3. Nguyên tắc tổng hợp hình phạt
Có thể thấy hình phạt đối với người đủ 18 tuổi trở lên rất đa dạng, gồm cả hình phạt chính và hình phạt bổ sung. Trong trường hợp phạm nhiều tội, khi xét xử cùng một lần một người thì Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây: Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Đối với hình phạt chính: đối với hình phạt tù có thời hạn thì hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm; nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân; nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình; phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung; trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác.
Đối với hình phạt bổ sung có 2 trường hợp sau: nếu các hình phạt đã tuyên là cùng loại thì hình phạt chung được quyết định trong giới hạn do Bộ luật này quy định đối với loại hình phạt đó; riêng đối với hình phạt tiền thì các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung; nếu các hình phạt đã tuyên là khác loại thì người bị kết án phải chấp hành tất cả các hình phạt đã tuyên. (Điều 55)
Tổng hợp hình phạt của nhiều bản án có ba trường hợp theo quy định tại Điều 56 Bộ luật hình sự năm 2015, cụ thể như sau :
Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung. (khoản 1 Điều 56)
Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phần hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này. (khoản 2 Điều 56)
Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này. (khoản 3 Điều 56)
2.4.4. Nguyên tắc áp dụng các biện pháp tha miễn Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
BLHS 2015 quy định về các biện pháp tha miễn áp dụng đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên trong đó có một số biện pháp như sau:
Miễn hình phạt: So với quy định trong Bộ luật hình sự năm 1999, quy định tại Điều 54 và Điều 59 Bộ luật hình sự năm 2015 về chế định miễn hình phạt đã được sửa đổi, quy định cụ thể hơn những trường hợp được miễn hình phạt. Theo đó, nếu người phạm tội có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 51 hoặc người phạm tội lần đầu là người giúp sức trong vụ án đồng phạm nhưng có vai trò không đáng kể mà đáng được khoan hồng đặc biệt nhưng chưa đến mức được miễn Trách nhiệm hình sự thì có thể được miễn hình phạt.
Miễn chấp hành hình phạt: Bộ luật hình sự 2015 bổ sung một căn cứ miễn chấp hành hình phạt tại Điều 62 là “Chấp hành tốt pháp luật, có hoàn cảnh gia đình đặc biệt khó khăn và xét thấy người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”. Ngoài ra, cũng đã quy định rõ ràng hơn về trường hợp xét miễn chấp hành hình phạt đối với người sau khi bị kết án đã “lập công” thay vì “lập công lớn” như quy định trước đây nhằm tránh khó khăn trong việc xác định lập công mức độ nào thì được coi là lớn. So với việc miễn chấp hành hình phạt đối với người dưới 18 tuổi, phạm vi miễn trách nhiệm của người trên từ đủ 18 tuổi trở lên bị thu hẹp hơn, ví dụ như đối với hình phạt tù có thời hạn trên 3 năm thì người từ đủ 18 tuổi trở lên phải có thêm điều kiện: “người đó không còn nguy hiểm cho xã hội nữa”, còn hình phạt tiền thì người từ đủ 18 tuổi trở lên phải thêm điều kiện “đã tích cực chấp hành được một phần hình phạt”. Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Giảm mức hình phạt đã tuyên: về việc giảm mức hình phạt đã tuyên đối với người từ đủ 18 tuổi trở lên quy định tại Điều 63, nếu đủ những yêu cầu mà pháp luật quy định thì có thể giảm lần đầu là một phần ba thời hạn đối với cải tạo không giam giữ, 12 năm đối với tù chung thân. Một người có thể được giảm hình phạt nhiều lần nhưng phải đảm bảo chấp hành được một phần hai mức hình phạt đã tuyên, nhiều hơn so với người dưới 18 tuổi phải đảm bảo chấp hành được hai phần năm mức hình phạt đã tuyên. Ngoài ra, Bộ luật 2015 bổ sung quy định mới về các điều kiện để được xét giảm lần đầu cho người bị kết án tử hình được ân giảm; người bị kết án tử hình về tội tham ô hoặc tội nhận hối lộ hoặc đối với người đủ 75 tuổi trở lên thuộc trường hợp quy định tại Bộ luật hình sự năm 2015.
Tha tù trước thời hạn có điều kiện: Một trong những điểm mới cơ bản của Bộ luật hình sự năm 2015 là lần đầu tiên Bộ luật hình sự năm 2015 đã quy định về chế định tha tù trước thời hạn có điều kiện (Điều 66) nhằm tạo điều kiện cho người đang CHHP tù có cơ hội được trở về với cộng đồng sớm hơn nhưng phải chịu sự giám sát của chính quyền cơ sở khi về sinh sống tại cộng đồng, điều này góp phần đảm bảo an ninh trật tự, hạn chế khả năng tái phạm của họ. Mặc dù là một chế định hoàn toàn mới được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2015 nhưng tha tù trước thời hạn có điều kiện cũng là một trong những giải pháp để rút ngắn thời gian phải CHHP tù trong trại giam.
Xóa án tích: Khoản 2 Điều 69 bổ sung quy định mới về đối tượng không bị coi là có án tích là: Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt.
So với người dưới 18 tuổi thì trường hợp được coi là không có án tích của người từ đủ 18 tuổi trở lên ít hơn rất nhiều.
Kết luận chương 2 Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
Qua nghiên cứu, phân tích những quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự theo Bộ luật hình sự 2015 tác giả đã trình bày những nội dung cơ bản sau:
BLHS 2015 đã chia thành các nhóm thể hiện chính sách hình sự của nhà nước đối với những người phạm tội thuộc các lứa tuổi khác nhau: nhóm từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi, nhóm từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi và nhóm từ đủ 18 tuổi trở lên. Sự phân nhóm tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự năm 2015 đã phản ánh rất rõ mối liên hệ mật thiết hữu cơ giữa tuổi chịu Trách nhiệm hình sự và Trách nhiệm hình sự.
Nghiên cứu, phân tích những quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của nhóm tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi. Bộ luật hình sự 2015 đã giới hạn lại phạm vi trách nhiệm của người chưa thành niên từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi bằng cách liệt kê 28 tội danh cụ thể, đồng thời thêm những chính sách khoan hồng đối với người phạm tội ở độ tuổi này như: trường hợp được miễn Trách nhiệm hình sự, tha tù trước thời hạn, trường hợp được coi là không có án tích,…
Nghiên cứu, phân tích những quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của nhóm tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi. Bộ luật hình sự 2015 đã sửa đổi, bổ sung vào quy định người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu Trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm bằng quy định “trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác”. Đồng thời so sánh những chính sách khoan hồng của nhóm tuổi từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi với nhóm tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi.
Nghiên cứu, phân tích những quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của nhóm tuổi từ đủ 18 tuổi trở lên, so sánh với những quy định về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự của người dưới 18 tuổi thì quy định đối với người từ đủ 18 tuổi nghiêm khắc hơn, thể hiện rõ sự nghiêm minh của pháp luật hình sự. Luận văn: Quy định của bộ luật về tuổi chịu Trách nhiệm hình sự.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Tuổi chịu Trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự