Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Điều kiện, tiềm năng phát triển du lịch của thành phố Đà Lạt

2.1.1. Các điều kiện để phát triển du lịch của thành phố Đà Lạt

2.1.1.1. Điều kiện tự nhiên

Thành phố Đà Lạt nằm trên cao nguyên Lâm Viên, về phía Đông Bắc tỉnh Lâm Đồng. Phía Bắc giáp huyện Lạc Dương, phía Nam giáp huyện Đức Trọng, phía Đông và Đông Nam giáp huyện Đơn Dương, phía Tây và Tây Nam giáp huyện Lâm Hà. Thành phố Đà Lạt có diện tích tự nhiên 39.329 ha với dân số 226.978 người. Đà Lạt cách Thành phố Hồ Chí Minh khoảng 300 km về phía Tây – Nam, cách Buôn Ma Thuột 190 km về Phía Bắc, cách Phan Rang 110 km về phía Đông, cách Nha Trang 230 km về phía Đông Bắc. Đà Lạt có vị trí thuận lợi để mở rộng giao lưu với các trung tâm kinh tế phía Nam và Duyên hải miền trung.

Địa hình Đà Lạt thuộc dạng sơn nguyên với độ cao trung bình 1520 m so với mực nước biển, cơ bản có thể phân làm 3 dạng: núi cao, đồi thấp và thung lũng. Nét đặc trưng của địa hình là mức độ phân cắt mạnh.Khu vực phía Bắc và Tây Bắc bị chắn bởi núi Lang Biang; phía Đông và Đông Nam thấp dần về thung lũng Đa Nhim; phía Tây và Tây Nam thấp dần về cao nguyên Di Linh. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Đà Lạt nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa cận xích đạo nhưng bị chi phối bởi cao độ và địa hình tự nhiên nên khí hậu mang tính chất đặc thù so với những vùng lân cận. Nhiệt độ trung bình năm là 18.3oC, biên độ nhiệt trong ngày 11- 12oC. Khí hậu Đà Lạt chia làm 2 mùa rõ rệt, mùa mưa kéo dài từ tháng 4 đến tháng 10 hàng năm, mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau. Lượng mưa bình quân hàng năm ở Đà Lạt đạt 1800 mm. Cường độ mưa tập trung vào các tháng 8,9 hàng năm. Mùa khô kiệt nuớc là tháng 12, 1 và 2.

2.1.1.2. Điều kiện kinh tế – xã hội

Thứ nhất, về kinh tế.

Nông nghiệp: quy mô diện tích gieo trồng đối với cây hàng năm xu hướng tăng lên qua các năm do điều chỉnh cơ cấu mùa vụ, đẩy mạnh khai hoang, phục hóa trên diện tích có khả năng nông nghiệp chưa sử dụng và tăng vụ, trồng xen, trồng gối. Đến năm 2005, diện tích gieo trồng cây hàng năm đạt 97.134 ha, tăng 19.550 ha so năm 2000, quy mô diện tích cây hàng năm tăng liên tục trong 5 năm với mức tăng bình quân mỗi năm 4,6%. Diện tích cây thực phẩm tăng bình quân hàng năm là 8,4%; trong đó cây rau các loại và cây hoa tăng nhanh, diện tích rau từ 18.879 ha năm 2000 tăng lên 29.378 ha ( tăng 10.499 ha) và cây hoa từ 962 ha năm 2000 tăng lên 2.270 ha (tăng 1.308 ha). Riêng diện tích gieo trồng cây lương thực ổn định ở mức 50.000 đến 51.000 ha trong 5 năm .

Song song với trồng trọt, chăn nuôi đàn gia súc, gia cầm cũng giữ mức ổn định, một số loại tăng mạnh và chiếm vị trí quan trọng trong sản xuất nông nghiệp như đàn bò sữa, heo. Trong chăn nuôi, đàn trâu tăng chậm do diện tích chăn thả bị thu hẹp và việc thay thế dần sức kéo bằng máy móc cơ giới. Theo kết qủa điều tra 1/10 hàng năm, đàn trâu năm 2025 có 17.756 con, tăng 245 con so năm 2024.

Lâm nghiệp: Tài nguyên rừng Lâm Đồng phong phú, đa dạng, với trên 618 ngàn ha rừng với tổng trữ lượng trên 61 triệu m3 gỗ và gần 662 triệu tấn tre, nứa. Rừng ở Lâm Đồng nhiều vùng còn nguyên sinh, ban sơ với nhiều thực, động vật, chủng loại đa dạng, đặc biệt của rừng Lâm Đồng là đặc dụng và phòng hộ. Nguồn tre, nứa, lồ ô khá dồi dào, trữ lượng lớn, tập trung ở các huyện phía Nam như Đạ Huoai, Đạ Tẻh, Cát Tiên. Do mưa nhiều, khí hậu ẩm ướt, đất đai phù hợp nên các loài tre, nứa, lồ ô có tố độ tái sinh rất nhanh sau khi khai thác. Diện tích tre, nứa có đủ khả năng đáp ứng cho yêu cầu chế biến khoảng 50.000 tấn bột giấy hàng năm. Rừng Lâm Đồng rất đa dạng về loại, có trên 400 loài cây gỗ, trong đó có 1 số loài gỗ quý như: pơmu xanh, cẩm lai, giỏ, sao, thông 2 lá, 3 lá, ngoài ra còn có nhiều loại lâm sản có giá trị khác.

Thứ hai, về cơ cấu dân số. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Dân số Đà Lạt vào khoảng hơn 500.000 người, mật độ 1029 người/km². Trước Thế chiến thứ hai, dân số Đà Lạt rất ít, ngoài dân cư bản địa chỉ có một số ít người châu Âu làm công tác. Số người Kinh định cư đầu tiên ở Đà Lạt là những tù nhân, thay vì phải lưu đày ở Côn Đảo thì bị đưa lên Đà Lạt để khai phá đất hoang, xây dựng nhà cửa. Trong khoảng thời gian từ năm 1933 đến 1938 nhiều công trình giao thông được hoàn thành. Bắt đầu từ thời gian này dân số Đà Lạt bắt đầu tăng nhanh từ 1.500 người (1923) lên đến 9.000 người năm 1928 rồi 11.500 người vào năm 1936. Và đến cuối năm 1942, Đà Lạt đã đạt con số hai vạn dân.

Khi Thế chiến thứ hai bùng nổ, các viên chức Pháp không có khả năng trở về quê hương nên đổ xô lên Đà Lạt nghỉ mát. Dân số tăng nhanh trong thời kỳ này: 13.000 người năm 1940, 20.000 người (1942) và lên đến 25.000 người năm 1944. Trong thời gian kháng chiến 9 năm (1945-1954) dân số Đà Lạt chựng lại ở vào khoảng 25.000 người. Vào cuối năm 1954 dân số tăng lên đến 52.000 người và giữa năm 1955 là 53.390 người do người dân miền Bắc di cư vào Nam. Từ đấy dân số Đà Lạt tăng 73.290 người vào năm 1965, 89.656 người (1970) và đến năm 1982 dân số Đà Lạt đã vượt qua con số 100.000 người. Năm 1999, dân số Đà Lạt là 129.400 người.

Đà Lạt từng là nơi sinh sống của nhiều nhóm dân cư có nguồn gốc đa dạng, từ người Kinh, người Cơ Ho đến những người Hoa, người Pháp. Ngày nay, phần lớn cư dân của thành phố là người Kinh, phần nhỏ còn lại gồm những người Hoa, người Cơ Ho và các dân tộc thiểu số khác như Tày, Nùng, Chăm… Theo số liệu năm 2025, Đà Lạt có 451.803 cư dân thành thị, tương đương 90%. Cũng như các đô thị khác, mật độ dân số của Đà Lạt không đồng đều, dân cư tập trung nhiều nhất ở các phường trung tâm như Phường 1, Phường 2, Phường 6. Ở ngoại thành, cư dân sống chủ yếu bằng nông nghiệp, lâm nghiệp và tiểu thủ công nghiệp, trong đó nông nghiệp chiếm một phần quan trọng. Khu vực ngoại thành của Đà Lạt rõ nét nhất là các xã Xuân Trường, Xuân Thọ và Tà Nung.

Thứ ba, về văn hóa – giáo dục.

Ngay trong thời kỳ Pháp thuộc và cả dưới chế độ cũ, Đà Lạt vẫn là một trong những trung tâm văn hoá, giáo dục phát triển ở miền Nam với hệ thống cơ sở nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo khá đồ sộ từ sơ cấp đến đại học. Sau ngày giải phóng, chính quyền cách mạng tiếp quản, phục hồi và phát triển khá đồng bộ, đều khắp, đã chứng minh rất rõ Đà Lạt là một trung tâm văn hoá, giáo dục – đào tạo và nghiên cứu khoa học.

Nhiệm vụ giáo dục, nghiên cứu khoa học ở đây chẳng những phục vụ cho nhân dân trong thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng mà còn thu hút mạnh mẽ cả khu vực miền Trung, Tây Nguyên và miền Đông Nam Bộ, tốc độ phát triển hàng năm lên tới 10 – 12%. Đó là Trường Đại học Đà Lạt, Viện Nghiên cứu hạt nhân, Phân viện Sinh học, Học viện Lục quân, Viện Vacxin (Pasteur), Trường Cao đẳng Sư phạm, cùng với gần 100 trường học từ mẫu giáo đến phổ thông trung học.

Tuy là một thành phố trẻ nhưng bề dày văn hoá ở đây cũng rất được chú ý về sự phong phú, đa dạng, vừa mang tính truyền thống và hiện đại. Văn hoá của dân tộc Cơ Ho bản địa, văn hoá của các cộng đồng dân cư ở châu thổ sông Hồng, vùng Thanh – Nghệ – Tĩnh, Thừa Thiên – Huế, Nam – Ngãi – Bình – Phú, Nam Trung Bộ, Đông Nam Bộ và sự giao lưu văn hoá thế giới đã tạo nên những nét đặc trưng trong phong cách người Đà Lạt: hiền hòa, thanh lịch và mến khách. Đà Lạt là một đề tài luôn mới mẻ, hấp dẫn, phong phú mà các giới nghiên cứu khoa học tự nhiên, xã hội, văn học – nghệ thuật luôn đeo đuổi tìm hiểu và sáng tác.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Hỗ Trợ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Du Lịch

2.1.2. Tiềm năng phát triển du lịch của thành phố Đà Lạt

2.1.2.1. Tiềm năng về tài nguyên thiên nhiên Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Tài nguyên thực vật, thảm thực vật: Được ưu đãi về khí hậu thời tiết, do đó gần như quanh năm Đà Lạt được bao phủ bởi màu xah của thực vật với thảm cỏ xanh, rừng cây xen lẫn giữa thành phố. Đây có thể coi là một sự hiếm có đối với các thành phố khác trong cả nước. Đà Lạt cũng là thành phố được gọi với tên khác, thành phố hoa. Nơi đây rất nhiều loài hoa: anh đào, hoa lan, hoa hồng…, hoa hồng là loài hoa được yêu thích nhất, hoa anh đào một thời được xem là biểu tượng của Đà Lạt. Bên cạnh đó Đà Lạt có trên 20 loại cúc, cúc Đà Lạt có hoa quanh năm. Đặc biệt một loài hoa mang tên Cúc Dã Quỳ là loài hoa đặc trưng của Đà Lạt, mọc thành rừng, ven đường và chỉ nở vào mùa nắng (báo hiệu mùa nắng đã đến để đón chào mùa du lịch). Nhiều loài hoa phương tây cũng có ở Đà Lạt rất lâu như: mimoza, maguerite, lys, pensee, forget me not…; bên cạnh những loài hoa phương đông như: tường vy, thiên lý, trà my, huệ… Thêm vào đó Đà Lạt có hàng chục loài địa lan và khoảng trên 300 loài phong lan sinh trưởng tự nhiên. Tất cả các loài hoa trên nhờ khí hậu mát mẻ nên phát triển nhanh, không cần chăm sóc nhiều nhưng vẫn có hoa đua nở quanh năm, tạo nên nhiều vườn hoa rất đẹp cuốn hút giữ chân khách du lịch.

Không chỉ có tài nguyên hoa, cây cảnh Đà Lạt còn có nguồn tài nguyên cây thuốc vô cùng quý giá. Theo phát hiện sơ bộ có 425 loài cây thuốc thuộc 125 họ có thể sử dụng làm cây thuốc chữa bệnh từ thân gỗ như Thông Đỏ đến cây thân thảo như Lan Gấm và các loại nấm Linh Chi… Tài nguyên về những cây thuốc này rất quý, không phải nơi nào cũng có được, là một trong những điều kiện thuận lợi để phát triển loại hình du lịch nghỉ dưỡng kết hợp với chữa bệnh.

Tài nguyên về môi trường: Đà Lạt là một thành phố không khói, nằm giữa các rừng thông, lại được bao bởi các khu sinh quyển như rừng quốc gia Bidup Núi Bà, rừng Quốc gia Cát Tiên; dãy LangBiang.

Các danh lam, thắng cảnh tự nhiên: ở độ cao trung bình lên đến trên 1400m so với mực nước biển đã tạo cho Đà Lạt với nhiều thác ghềnh: Thác Datala, thác Prenn, Thác Voi, thác Pongour…, các hồ sinh thái như: Hồ Suối Vàng, hồ Tuyền Lâm, Hồ Xuân Hương, hồ Than Thở…

2.1.2.2. Tiềm năng về tài nguyên nhân văn

Đà Lạt là thành phố thuộc tỉnh Lâm Đồng, nằm ở vùng Tây Nguyên, nơi tập trung nhiều dân tộc thiểu số đang sinh sống như người Lạch, Mạ, Churu, K’Ho. Nơi đây còn lưu giữ nhiều phong tục tập quán và nét văn hoá dân gian đặc sắc, có sức thu hút cao đối với khách quốc tế. Những lễ hội dân gian, nhạc cụ dân tộc như cồng chiêng là những tài nguyên văn hoá phi vật thể thu hút khách du lịch. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Nét văn hoá riêng của con người Đà Lạt “hiền hoà, thanh lịch, mến khách” cũng được đánh giá là một tài nguyên du lịch quan trọng, là một điều kiện trong việc tổ chức các hoạt động du lịch. Thừa hưởng sự quy hoạch tổng thể, phối hợp hài hoà giũa cảnh quan thiên nhiên và cảnh quan đô thị mang dáng dấp kiến trúc châu Âu của các nhà kiến trúc tài ba người Pháp, đặc biệt tại Đà lạt có khoảng 300 ngôi biệt thự được xây dựng theo phong cách kiến trúc riêng biệt, hài hòa, mang một vẻ đẹp riêng mà không nơi nào có được, là một giá trị trong du lịch.

2.1.2.3. Cơ sở hạ tầng du lịch

Điểm hạn chế về vị trí địa lý của Đà Lạt là cách xa các trung tâm du lịch. Tuy nhiên hiện nay hạn chế này đã phần nào được khắc phục. Tuyến tỉnh lộ Nha Trang – Đà Lạt dài 140km đã được đưa vào sử dụng góp phần kết nối Đà Lạt với trung tâm du lịch biển Nha Trang, và cũng là điểm cuối trong “Con đường di sản”. Các tuyến đường hành không cũng được nâng lên về số chuyến, mở thêm các đường bay Hà Nội, Đà Nẵng tới Đà Lạt, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc đón khác từ miền Bắc và khách nước ngoài.

Hệ thống giao thông đến Đà Lạt khá phát triển. Quốc lộ 20 nối liền Đà Lạt với TP. Hồ Chí Minh – trung tâm kinh tế thương mại và du lịch lớn nhất cả nước. Quốc lộ 27 nối liền Lâm Đồng từ Krôngnô đến Eo Gió giáp với Ninh Thuận dài 123km, đạt tiêu chuẩn cấp 4 miền núi. Quốc lộ 28 dài 108km nối liền Bình Thuận với Lâm Đồng và Đăk Nông. Các quốc lộ nối các tỉnh Tây Nguyên với duyên hải miền Trung, TP. Hồ Chí Minh, nối hai nước bạn Lào và Campuchia rất thuận lợi cho vận chuyển hàng hóa đến cảng xuất khẩu và vận chuyển du lịch. Trong chiến lược phát triển giao thông đường bộ của Tây Nguyên, Chính phủ đã phê duyệt dự án đường cao tốc Dầu Giây – Đà Lạt với vốn đầu tư 1 tỷ USD, sau khi hoàn thành sẽ là con đường chiến lược quan trọng nối 2 đô thị du lịch phát triển hiện nay là Hồ Chí Minh và Đà Lạt.

Sân bay Liên Khương Đà Lạt đạt cấp độ 4B, với đường băng dài 3524m, rộng 45m, sân đậu máy bay 23.100m2, công suất 1,5 triệu – 2,5 triệu lượt khách/năm. Đón được máy bay Boeing 767, A320, A321, với tần suất giờ cao điểm 580 khách nội địa đi Hà Nội, TP. Hồ Chí Minh, Đà Nẵng như hiện nay, từ năm 2022 đã mở các tuyến bay tới Singapore, Lào, Campuchia…

Tuyến đường sắt Đà Lạt – Phan Rang dài 84km với 6 ga được xây dựng từ thời Pháp. Từ năm 1975 đến nay không sử dụng. Hiện nay ngành đường sắt khôi phục gần 10km tuyến Đà Lạt – Trại Mát phục vụ cho du lịch, đồng thời Chính phủ cho phép khôi phục toàn tuyến để tham quan du lịch và phục vụ giao thông vận tải.

Tỉnh Lâm Đồng đang kêu gọi đầu tư nước ngoài dự án tuyến đường sắt Đà Lạt – Tháp Chàm với vốn đầu tư 320 triệu USD theo hình thức đầu tư BOT.

Các hệ thống hạ tầng cơ sở phục vụ du lịch khác như điện, nước, bưu chính viễn thông, tài chính ngân hàng nhìn chung đáp ứng được yêu cầu phát triển du lịch. Đặc biệt là hệ thống bưu chính viễn thông có nhiều biến đổi tích cực trong những năm gần đây. Ngành bưu chính viễn thông phát triển với công nghệ hiện đại và giá trị sản xuất nhanh. Hệ thống bưu điện, bưu cục phủ kín, hệ thống điện thoại tới 90% xã, phường. Internet đã phát triển nhanh tạo yếu tố thuận lợi để phát triển các ngành kinh tế nói chung và du lịch nói riêng.

2.2. Hoạt động du lịch tại thành phố Đà Lạt giai đoạn 2021 – 2025 Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

2.2.1. Số lượng khách du lịch

Cùng với sự phát triển của nền kinh tế nói chung, du lịch Đà Lạt cũng đã có sự chuyển mình, lượng du khách đến Đà Lạt có xu hướng ngày một tăng lên. Tốc độ tăng trưởng về khách du lịch bình quân hằng năm giai đoạn 2021 – 2025 là 11,87%. Nếu năm 2021 đón được 4,8 triệu lượt khách, đến năm 2025 là khoảng 6,5 triệu lượt khách, tăng 1,35 lần so với năm 2021. Dự kiến năm 2026 trở đi lượt khách nội địa và quốc tế sẽ còn tăng mạnh do chính sách khuyến khích và phát triển du lịch phát triển của lãnh đạo thành phố.

(ĐVT: Nghìn lượt)

Chỉ tiêu 2021 2022 2023 2024 2025
Khách nội địa 4.630 4.660 5.080 5.548 6.020
Khách quốc tế 170 260 320 400 485
Tổng số 4.800 4.920 5.400 5.948 6.505

Bảng 2.1: Số lượng du khách đến Đà Lạt giai đoạn 2021 – 2025

Nguồn: Niên giám Thống kê tỉnh Lâm Đồng giai đoạn 2021 – 2025

Số lượng du khách đến Đà Lạt từ nhiều quốc gia và có chiều hướng gia tăng, tuy nhiên mức tăng của dòng khách quốc tế không cao, chiếm 7,45% trong tổng lượt khách du lịch năm 2025. Đó là do Đà Lạt tuy đang là điểm đến du lịch nổi tiếng trong nước, nhưng chưa tạo dựng được hình ảnh bên ngoài. Thực tế này đặt ra yêu cầu cho các doanh nghiệp tiếp tục khai thác tốt nguồn khách nội địa và tăng cường mở rộng hội nhập quốc tế. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Nếu so sánh số lượng khách du lịch quốc tế đến Đà Lạt với Sa Pa và Nha Trang, là các địa phương có các đặc điểm phát triển du lịch tương đối giống với Đà Lạt; thì cho thấy lượng du khách quốc tế đến với Đà Lạt còn tương đối thấp. Nguyên nhân của tình trạng trên là do Đà Lạt còn ít khu du lịch, dịch vụ giải trí mang tầm cỡ quốc tế. Khách du lịch nội địa vẫn là thị trường chính của du lịch Đà Lạt. Khách nội địa đến Đà Lạt tập trung nhiều ở các tỉnh, thành phố phía Nam như:

Hồ Chí Minh, Khánh Hòa, Bình Dương, Đồng Nai… Đa số khách du lịch nội địa đến Đà Lạt nhằm nghỉ mát, tham quan các di tích lịch sử và danh lam thắng cảnh, cùng với đó là tham dự các lễ hội mang tầm quốc gia, quốc tế. Ngoài lượng khách nội địa đến Đà Lạt thông qua tham quan còn có một lượng khách du lịch đến Đà Lạt là khách đi công vụ, hội nghị kết hợp du lịch.

Trong thời gian sắp tới, thành phố chủ trương đẩy mạnh phát triển các loại hình du lịch và cơ sở vật chất, kỹ thuật phục vụ du lịch nhằm thu hút du khách quốc tế đến tham quan, du lịch; đồng thời không ngừng nâng cao chất lượng phục vụ nhằm tăng số lượng khách du lịch nội địa.

2.2.2. Doanh thu du lịch

Ngành du lịch là ngành mang lại lợi nhuận cao cho phát triển kinh tế và xã hội. Du lịch Đà Lạt với việc khai thác lợi thế sẵn có thực sự đã trở thành ngành có doanh thu cao và ngày càng tăng. Từ năm 2021, ngành du lịch Đà Lạt phục hồi nhanh chóng sau giai đoạn suy thoái kinh tế thế giới giai đoạn 2015 – 2020, tạo cơ sở vững chắc cho sự phát triển vào giai đoạn sau. Doanh thu chuyên ngành du lịch giai đoạn 2021 – 2025 tăng bình quân hàng năm đạt 9,2%.

Biểu đồ 2.2: Cơ cấu doanh thu du lịch Đà Lạt giai đoạn 2021 – 2025

Tốc độ tăng trưởng bình quân nhanh, song tỷ trọng đóng góp của du lịch vào khu vực dịch vụ, toàn nền kinh tế địa phương còn ở mức thấp. Đây là vấn đề cần được chú trọng để đảm bảo phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn của thành phố. chưa khẳng định được vai trò động lực, tạo điều kiện cho các ngành kinh tế khác phát triển; giá trị xuất khẩu dịch vụ du lịch không đáng kể, năng suất lao động ở mức độ trung bình; sức mua và giá cả dịch vụ du lịch, mức độ thỏa mãn của du khách…vẫn còn khiêm tốn… Nguyên nhân có nhiều nhưng đáng quan tâm nhất là dịch vụ du lịch chất lượng cao phát triển còn chậm; hàng hóa, sản phẩm du lịch còn đơn điệu, trùng lắp, chưa hấp dẫn du khách; hoạt động du lịch chưa đáp ứng được cả mục tiêu du lịch, tham quan và mục tiêu công việc (trong khi các nơi khác đã chú ý đầu tư phát triển đồng đều cho các mục tiêu này); công tác quy hoạch du lịch chưa đồng bộ, thiếu điểm nhấn; các dự án đầu tư vào du lịch còn dàn trải, thiếu những dự án lớn, tiến độ thực hiện chậm; việc bảo tồn, khai thác danh lam thắng cảnh để phát triển du lịch hiệu quả chưa cao, tình trạng xuống cấp còn xẩy ra; công tác quản lý các hoạt động liên quan đến du lịch chưa có sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả; môi trường du lịch có lúc, có nơi chưa thực sự lành mạnh; hệ thống hạ tầng du lịch, nhất là giao thông còn nhiều hạn chế; nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển du lịch chất lượng cao… Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Về cơ cấu doanh thu, có thể thấy doanh thu du lịch Đà Lạt chủ yếu vẫn là từ dịch vụ là chủ yếu. Điều này cho thấy, du lịch Đà Lạt hiện nay mới chỉ cung cấp chủ yếu các dịch vụ về ăn uống, lưu trú, giải trí vui chơi… doanh thu từ lữ hành còn ít so với mặt bằng chung. Năm 2025, trong cơ cấu doanh thu, doanh thu dịch vụ chiếm tỷ lệ 65% tổng doanh thu của ngành. Doanh thu từ lữ hành chiếm tỷ lệ tương đối, chỉ chiếm 35%. Hoạt động lữ hành đã có những bước phát triển vượt bậc, tại thành phố hiện có 101 doanh nghiệp kinh doanh lữ hành, theo đó, năm qua các đơn vị lữ hành tại Đà Lạt đã đón tiếp và phục vụ cho nhiều lượt khách quốc tế, nội địa.

2.2.3. Lao động du lịch

Nhìn chung, lực lượng lao động của ngành du lịch Đà Lạt tuy đông nhưng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập, đang trong tình trạng vừa thừa, vừa thiếu. Thừa lao động lớn tuổi, chưa qua đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ, thiếu lao động được đào tạo cơ bản về ngoại ngữ. Chất lượng đội ngũ lao động quản lí của ngành du lịch chưa cao, năng lực quản lí còn hạn chế, cơ cấu đào tạo chưa hợp lí, vẫn còn thiếu những người thực sự giỏi về chuyên môn, có thể hoạch định chiến lược kinh doanh của các đơn vị.

Số lượng lao động trong ngành tăng theo từng năm nhưng tỷ lệ không nhiều. Chủ yếu là lao động phổ thông, trung cấp, do đó chất lượng phục vụ chưa cao. Tuy nhiên, từ năm 2021 trở đi với chính sách nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ngành du lịch của thành phố, chất lượng lao động trong ngành du lịch ngày một tăng lên, lao động có chuyên môn nghiệp vụ và trình độ cao chiếm tỷ lệ ngày càng lớn trong tổng cơ cấu lao động du lịch của thành phố. Tính đến hết năm 2025, số lao động trực tiếp phục vụ ngành du lịch khoảng 11200 lao động (trong đó có 30 CBCC đang làm việc trong các cơ quan quản lý về du lịch; 7600 lao động trong lĩnh vực lưu trú; 1350 lao động trong lĩnh vực lữ hành – vận chuyển, 2220 lao động đang làm việc tại các khu, điểm u lịch), trong đó có khoảng 77% lao động được qua đào tạo, bồi dưỡng về nghiệp vụ du lịch. Tỷ lệ lao động được đào tạo, đào tạo lại, bố trí đúng ngành nghề, lao động có kinh nghiệm nghề nghiệp, trình độ ngoại ngữ có xu hướng ngày càng tăng. Nguồn nhân lực du lịch nhìn chung đa phần còn rất trẻ, độ tuổi lao động từ 18 – 35 tuổi chiếm hơn 60% trong tổng số lao động trực tiếp phục vụ du lịch, phù hợp với đặc điểm của ngành.

Sở dĩ có được kết quả trên ngoài vai trò của thành phố còn phải kể đến vai trò của các doanh nghiệp khi tiến hành áp dụng được mô hình quản trị nguồn nhân lực tiên tiến, làm tốt các khâu tuyển chọn, đào tạo bồi dưỡng, sử dụng và duy trì nguồn nhân lực.

Biểu đồ 2.3: Cơ cấu trình độ lao động ngành du lịch Đà Lạt năm 2025

Tuy nhiên, chất lượng lao động nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu của từng nghề, trong quá trình phục vụ vẫn hay mắc sai sót, tỷ lệ khách phàn nàn về chất lượng dịch vụ còn khá cao, đặc biệt là đội ngũ hướng dẫn viên du lịch của thành phố. Trong tổng số lao động trực tiếp, đội ngũ hướng dẫn viên chỉ chiếm từ 13 – 14%. Đây là lực lượng nòng cốt, trực tiếp tổ chức và tiếp xúc với khách du lịch nhưng số lượng quá ít nên cường độ làm việc của họ trong mùa du lịch khá cao, ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng phục vụ.

2.2.4. Dịch vụ khách sạn, lữ hành Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Có thể nói, thị trường kinh doanh khách sạn trên địa bàn thành phố Đà Lạt có qui mô mở rộng trong giai đoạn 2021 – 2025. Năm 2021, Đà Lạt có 858 khách sạn trong đó có 281 khách sạn có sao, đến năm năm 2025 là 1399 khách sạn với 426 khách sạn có sao với tốc độ tăng bình quân năm trong giai đoạn này là 2,73%.

LĨNH VỰC KINH DOANH ĐVT  2021 2022 2023 2024 2025
Khách sạn KS 858 936 1055 1244 1399
Lữ hành DN 46 49 57 63 67
Tổng cộng 904 985 1112 1307 1466

Bảng 2.4: Số lượng doanh nghiệp du lịch tại Đà Lạt giai đoạn 2021 – 2025

Nguồn: Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng

Hoạt động kinh doanh của các khách sạn giữ tốc độ tăng trưởng khá ổn định trong giai đoạn 2021 – 2025, với công suất sử dụng phòng bình quân tăng cao từ 76% – 83%. Theo Báo cáo tổng kết công tác năm 2025 của Sở VHTTDL tỉnh Lâm Đồng, các khách sạn từ 3 đến 5 sao có công suất sử dụng phòng vào mùa lễ hội có thể lên đến 90-100%.

Hoạt động kinh doanh lữ hành của thành phố Đà Lạt trong những năm qua tiếp tục phát triển cả về số lượng lẫn chất lượng. Sau hơn 9 năm kể từ năm 2015, số lượng các đơn vị kinh doanh lữ hành đã tăng lên. Tính đến cuối năm 2025 có 67 đơn vị kinh doanh lữ hành, trong đó có 24 đơn vị kinh doanh lữ hành quốc tế và 43 đơn vị kinh doanh lữ hành nội địa.

Nhìn chung, các đơn vị đã tổ chức được nhiều chương trình tham quan trong nước và nước ngoài khá hấp dẫn, tạo được ấn tượng tốt đối với du khách về chất lượng, chương trình tham quan và chất lượng phục vụ của đội ngũ hướng dẫn viên, lái xe du lịch. Tuy nhiên, nhiều doanh nghiệp có chức năng kinh doanh lữ hành quốc tế của thành phố chưa có khả năng tổ chức các tour du lịch quốc tế, đưa khách nước ngoài vào Việt Nam và đưa khách Việt Nam ra nước ngoài, do đó phải nối tuyến dẫn đến tình trạng bị động về nguồn khách, khả năng khai thác nguồn khách du lịch quốc tế trực tiếp còn thấp.

2.2.5. Sản phẩm du lịch Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Thành phố đã nổ lực tìm giải pháp xây dựng, phát triển, đa dạng hoá và nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch; tích cực mở rộng, liên kết giữa các tỉnh, vùng, miền để nối tour du lịch nội địa và quốc tế. Nhờ đó, nhiều sản phẩm du lịch mới đã ra đời thu hút được khách du lịch tham gia như du lịch văn hóa, du lịch biển, du lịch sinh thái, du lịch làng quê, du lịch làng nghề, du lịch hội nghị. Hiện nay, thành phố đang chú trọng xây dựng loại hình du lịch hội nghị và du lịch sinh thái kết hợp nghỉ dưỡng, coi đây là sản phẩm du lịch mang tính đột phá của thành phố trong giai đoạn sắp tới. Ngoài ra, thành phố đã thu hút nhiều thành phần kinh tế tham gia phát triển sản phẩm du lịch, thị trường du lịch ngày càng được mở rộng, sản phẩm du lịch dần được đa dạng hóa và nâng cao chất lượng.

Tổ chức xây dựng sản phẩm du lịch được Đà Lạt ngày càng quan tâm thông qua các hoạt động khảo sát, xây dựng sản phẩm du lịch, tour, tuyến du lịch mới, đặc biệt gắn du lịch với các điểm di tích lịch sử – văn hóa. Công tác phối hợp xúc tiến, quảng bá du lịch, liên kết hợp tác phát triển du lịch với các đơn vị bạn có sự tiến bộ rõ rệt. Các đơn vị kinh doanh dịch vụ du lịch phục vụ ngày càng tốt, có nhiều dịch vụ mới đáp ứng được nhu cầu giải trí của khách trong những dịp lễ, tết.

Các sản phẩm du lịch Đà Lạt từng bước đã phát huy được hiệu quả, đáp ứng nhu cầu của khách du lịch ngày càng nhiều hơn. Khảo sát thực tế cho thấy, loại hình du lịch, ẩm thực và cảnh quan thiên nhiên trên địa bàn Đà Lạt đều được đa số đánh giá là hiệu quả.

Tuy sản phẩm du lịch của thành phố có phát triển và thu được những kết quả đáng ghi nhận, nhưng còn thiếu tính độc đáo, hấp dẫn; dịch vụ du lịch chưa đa dạng, phong phú. Sản phẩm du lịch phân bố không đồng đều, chưa phong phú, một số tuyến, điểm du lịch mới hình thành nhưng chưa bổ sung dịch vụ thu hút du khách. Quy mô sản phẩm du lịch của thành phố còn nhỏ, cần nâng cao chất lượng, và cần có đề án, kế hoạch cụ thể để duy trì ổn định và phát triển. Các sản phẩm lưu trú, dịch vụ du lịch chất lượng cao còn ít, còn thiếu sản phẩm du lịch đặc thù cao.

Sản phẩm du lịch của Đà Lạt và các địa phương khác có cùng điều kiện tự nhiên còn trùng lắp, na ná giống nhau, cũng như các khu, điểm du lịch vẫn còn nhỏ lẻ và trùng lắp. Hệ thống sản phẩm, dịch vụ du lịch tuy có phát triển, song chất lượng chưa cao, chưa đủ sức hấp dẫn và đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của du khách. Các sản vật du lịch như quà lưu niệm, các món ẩm thực có mức độ phong phú, đa dạng còn chưa cao.

2.3. Quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt giai đoạn 2021 – 2025 Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

2.3.1. Xây dựng và thực hiện các văn bản quản lý nhà nước, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch

Nhận thức được tầm quan trọng của du lịch đối với sự phát triển kinh tế xã hội, Quyết định số 2473/QĐ-TTg ngày 30/11/2018 phê duyệt Chiến lược phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2030 đã xác định: “Đến năm 2030, du lịch cơ bản trở thành ngành kinh tế mũi nhọn, có tính chuyên nghiệp, hệ thống cơ sở vật chất kỹ thuật tương đối đồng bộ, hiện đại, sản phẩm du lịch chất lượng cao, đa dạng, có thương hiệu, có sức cạnh tranh mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc, thân thiện với môi trường, đưa Việt Nam trở thành điểm đến có đẳng cấp trong khu vực Năm 2030, đưa Việt Nam thành một trong những điểm đến du lịch ưa chuộng, có đẳng cấp trên thế giới” [42].

Đối với tỉnh Lâm Đồng thì Đà Lạt giữ một vị trí đặc biệt quan trọng, vì vậy, qua nhiều năm, kể từ khi mới thành lập tỉnh, lãnh đạo tỉnh cũng như Trung ương đã nhiều lần ban hành nhiều văn bản quy định về quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển du lịch của tỉnh nói chung và thành phố Đà Lạt nói riêng. Theo đó, gần đây nhất là Quyết định số 1369/QĐ-UBND ngày 25/6/2017 về việc phê duyệt quy hoạch tổng thể phát triển du lịch tỉnh Lâm Đồng đến năm 2030 với quan điểm cốt lõi là “Xây dựng Đà Lạt trở thành một trung tâm du lịch lớn của vùng Tây Nguyên và cả nước” [48].

Mặt khác, nhằm tạo điều kiện vững chắc cho việc xây dựng và phát triển du lịch Đà Lạt về lâu dài, ngày 12/5/2021, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 704/QĐ – TTg để Phê duyệt điều chỉnh quy hoạch chung thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2050. Theo đó, mục tiêu phát triển đề ra là “xây dựng phát triển thành phố Đà Lạt và vùng phụ cận đến năm 2030 trở thành một vùng đô thị hiện đại, đẳng cấp quốc tế; có đặc thù về khí hậu, cảnh quan tự nhiên, văn hóa lịch sử và di sản kiến trúc tầm quốc gia, khu vực và có ý nghĩa quốc tế” [43]. Tính chất của Đà Lạt được nêu lên tại quyết định phê duyệt điều chỉnh quy hoạch này: “Là trung tâm hành chính – chính trị, kinh tế – văn hóa, khoa học kĩ thuật của tỉnh Lâm Đồng; trung tâm du lịch sinh thái nghỉ dưỡng cao cấp và văn hóa di sản tầm quốc gia, khu vực và quốc tế , trung tâm nghiên cứu sản xuất nông nghiệp công nghệ cao cấp quốc gia và quốc tế; trung tâm nghiên cứu khoa học, giáo dục – đào tạo và chuyển giao công nghệ đa ngành cấp quốc gia; trung tâm bảo tồn rừng cảnh quan và đa dạng sinh học cấp quốc gia; trung tâm thương mại dịch vụ, hội chợ triển lãm; trung tâm văn hóa nghệ thuật, thể dục – thể thao và văn hóa cấp vùng; có vị trí quan trọng về quốc phòng đối với khu vực Tây Nguyên và cả nước” [43].

Ngoài việc điều chỉnh quy hoạch nói riêng, Chính phủ còn tiếp tục tạo điều kiện về mặt cơ chế đặc thù cho phát triển du lịch Đà Lạt với việc ban hành Quyết định số 1528/QĐ-TTg ngày 03/9/2022 ban hành một số cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Với cơ chế, chính sách đặc thù phát triển thành phố Đà Lạt trên 05 lĩnh vực cơ bản, Đà Lạt có đầy đủ cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng các chính sách, quy hoạch, chiến lược phát triển du lịch Đà Lạt đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Lâm Đồng lần thứ X, nhiệm kỳ 2022 – 2030 cũng nêu rõ “Đẩy mạnh phát triển dịch vụ du lịch… xây dựng Đà Lạt thành trung tâm du lịch sinh thái, nghỉ dưỡng cao cấp, hội nghị, hội thảo mang tầm khu vực và quốc tế” [38]. Điều này thể hiện được sự quan tâm sâu sắc của các cấp lãnh đạo tỉnh trong việc phát triển du lịch, góp phần vào sự phát triển kinh tế – xã hội của Đà Lạt. Để cụ thể hóa vấn đề này, ngày 16/11/2023, tỉnh ủy Lâm Đồng cũng ban hành Nghị quyết số 07-NQ/TU về Phát triển du lịch chất lượng cao giai đoạn 2023 – 2030, định hướng đến năm 2035 trên địa bàn tỉnh Lâm Đồng, đây là văn bản mang tính chỉ đạo chiến lược trong phát triển du lịch của tỉnh Lâm Đồng nói chung cũng như thành phố Đà Lạt nói riêng, theo đó, Nghị quyết nêu rõ định hướng chiến lược trong phát triển du lịch của Đà Lạt là: “Phát triển du lịch theo hướng chuyên nghiệp, có trọng tâm, trọng điểm; chú trọng phát triển theo chiều sâu, đảm bảo chất lượng và hiệu quả, khẳng định thương hiệu và khả năng cạnh tranh; xây dựng Đà Lạt – Lâm Đồng trở thành trung tâm du lịch chất lượng cao, là điểm đến “An toàn, Thân thiện”” [39].

Nhằm cụ thể hóa Nghị quyết này trong thực tế, ngày 06/7/2024, UBND tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Quyết định số 1499/QĐ-UBND về ban hành kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 6/01/2024 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 07-NQ/TU ngày 16/11/2023 của Tỉnh ủy Lâm Đồng. Nội dung của Quyết định số 1499/QĐ-UBND cũng xác định: “Xây dựng đề án phát triển và khai thác có hiệu quả các sản phẩm du lịch đặc thù, có tính cạnh tranh cao, mang thương hiệu du lịch Đà Lạt – Lâm Đồng như: du lịch nông nghiệp, du lịch thể thao, du lịch mạo hiểm, du lịch làng nghề, du lịch văn hóa, du lịch di sản, du lịch lễ hội…” [49].

Để thực hiện có hiệu quả các nội dung của Quyết định số 1499/QĐ-UBND, ngày 20/9/2024, Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch tỉnh Lâm Đồng đã ban hành Kế hoạch số 58/KH-VHTTDL thực hiện Quyết định số 1499/QĐ-UBND ngày 06/7/2024 của UBND tỉnh về việc ban hành Kế hoạch triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 16/01/2024 của Bộ Chính trị và Nghị quyết số 07NQ/TU ngày 16/11/2023 của Tỉnh ủy Lâm Đồng. Kế hoạch đã nêu rõ trách nhiệm của các bên có liên quan cũng như phân công nhiệm vụ cụ thể cho các phòng ban thuộc Sở trong việc chủ trì và phối hợp với các ngành, địa phương thực hiện các chương trình, nội dung được UBND tỉnh giao đúng tiến độ thời gian và hiệu quả. Trong nội dung của Kế hoạch, Đà Lạt tiếp tục được chọn là địa phương trọng điểm trong việc triển khai thực hiện các nội dung.

Bên cạnh đó, nhằm đẩy mạnh kết quả thực hiện các loại hình du lịch tại Đà Lạt nói riêng và tỉnh Lâm Đồng nói chung, ngày 06/3/2025, UBND tỉnh Lâm Đồng cũng đã ban hành Quyết định số 450/QĐ-UBND về việc phê duyệt Đề án “Bảo tồn, phát huy bản sắc văn hóa các dân tộc bản địa, khôi phục và phát triển các làng nghề truyền thống gắn với hoạt động du lịch trên địa bàn Lâm Đồng giai đoạn 2025 – 2030 và định hướng đến năm 2030”. Quyết định ra đời đã góp phần bảo tồn, phát huy văn hóa truyền thống các dân tộc bản địa, làng nghề truyền thống phục vụ phát triển du lịch; phù hợp với quy hoạch phát triển du lịch của tỉnh nói chung và Đà Lạt nói riêng; đồng thời thực hiện tốt các nhiệm vụ, chỉ tiêu về văn hóa, du lịch mà Nghị quyết của các cấp ủy đảng, chương trình, kế hoạch của tỉnh đã đề ra. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Đối với các cấp ủy Đảng, chính quyền tại thành phố Đà Lạt thì ngoài các văn bản, chính sách, chiến lược, quy hoạch của cấp ủy, chính quyền cấp trên là cơ sở pháp lý quan trọng để xây dựng và tổ chức thực hiện các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; cấp ủy Đảng, chính quyền tại thành phố Đà Lạt cũng chú trọng xây dựng riêng các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch để cụ thể hóa các văn bản của cấp trên; theo đó, Thành ủy Đà Lạt đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/Th.U ngày 28/02/2024 về phát triển du lịch chất lượng cao đến năm 2030, định hướng đến năm 2035 trên địa bàn thành phố Đà Lạt. Nghị quyết số 06-NQ/Th.U là văn bản quan trọng, thể hiện tầm nhìn, quyết tâm của lãnh đạo thành phố trong việc xây dựng và phát triển du lịch của thành phố trong tương lai; đồng thời đây cũng là văn bản mang tính chỉ đạo quan trọng để các cơ quan, ban, ngành trên địa bàn thành phố triển khai thực hiện có hiệu quả mục tiêu xây dựng thành phố Đà Lạt thành đô thị du lịch trọng điểm của quốc gia.

Nhằm xác định nội dung, tiến độ, phân công trách nhiệm cụ thể cho các phòng ban, đơn vị và UBND các phường xã đối với từng nội dung công việc để triển khai thực hiện có hiệu quả các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch Đà Lạt nói chung và Nghị quyết số 06-NQ/Th.U nói riêng, ngày 19/4/2024, UBND thành phố Đà Lạt đã ban hành Quyết định số 1249/QĐ-UBND ban hành Kế hoạch phát triển du lịch chất lượng cao đến năm 2030, định hướng đến năm 2035 trên địa bàn thành phố Đà Lạt. Kế hoạch đã cụ thể hóa chương trình phát triển du lịch chất lượng cao trên địa bàn thành phố Đà Lạt đến năm 2030, định hướng đến năm 2035 theo Nghị quyết số 06-NQ/Th.U và Nghị quyết số 07NQ/TU, nhằm từng bước nâng cao tỷ trọng du lịch và dịch vụ trong cơ cấu kinh tế của địa phương, khẳng định du lịch là ngành kinh tế động lực của thành phố.

Thành phố cũng chú trọng đến việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao động trong lĩnh vực du lịch với việc ban hành Quyết định số 3494/QĐ-UBND ngày 18/10/2023 về việc ban hành Kế hoạch đào tạo trình độ sơ cấp, dưới 3 tháng cho lao động thành phố Đà Lạt giai đoạn 2023 – 2030. Mặt khác, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động QLNN về du lịch của chính UBND thành phố cũng như các cơ quan chính quyền các cấp trên địa bàn thành phố, từ năm 2014 đến nay, hằng năm UBND thành phố đều ban hành kế hoạch kiểm tra các nội dung liên quan đến du lịch như: an toàn vệ sinh thực phẩm, nhà hàng, khách sạn… trên địa bàn thành phố và thành lập Đoàn kiểm tra để triển khai thực hiện nhiệm vụ theo kế hoạch đã đề ra.

Tóm lại, có thể nhận thấy trong QLNN về du lịch của địa phương, thành phố Đà Lạt cũng đang dần hoàn thiện những cơ sở pháp lý cho công tác này nhằm phục vụ tốt việc QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên so với tính chất và phạm vi QLNN về du lịch thì các văn bản, chiến lược, quy hoạch… liên quan đến lĩnh vực du lịch được UBND thành phố Đà Lạt ban hành vẫn còn hạn chế và chậm được ban hành. Ngoài ra, các văn bản khác ở những lĩnh vực khác hỗ trợ cho du lịch cũng chưa được xây dựng kịp thời và hợp lý.

2.3.2. Tổ chức bộ máy và nhân sự quản lý nhà nước về du lịch

UBND thành phố, với địa vị pháp lý là cơ quan chấp hành của HĐND thành phố thực hiện các hoạt động QLNN trên địa bàn thành phố. UBND thành phố tiến hành xây dựng và tổ chức bộ máy để thực hiện tốt các nhiệm vụ QLNN tại địa phương trong đó có QLNN về du lịch. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

UBND thành phố có các cơ quan chuyên môn là các Phòng và cơ quan tương đương Phòng (gọi chung là Phòng). Các cơ quan chuyên môn này là cơ quan tham mưu, giúp UBND thành phố thực hiện chức năng QLNN ở địa phương và thực hiện một số nhiệm vụ, quyền hạn theo sự ủy quyền của UBND thành phố; góp phần đảm bảo sự quản lý thống nhất ngành hoặc lĩnh vực công tác ở địa phương. Hoạt động của các Phòng chịu sự chỉ đạo, quản lý về tổ chức, biên chế và công tác của UBND thành phố, đồng thời chịu sự chỉ đạo, kiểm tra, hướng dẫn về chuyên môn nghiệp vụ của các Sở và cơ quan tương đương Sở. Theo đó, Phòng Văn hóa và Thông tin (sau đây viết tắt là VHTT) thành phố là cơ quan chuyên môn, có trách nhiệm tham mưu giúp việc cho UBND thành phố trong công tác QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố.

Trong những năm qua, Phòng VHTT thành phố Đà Lạt đã hoàn thành tốt nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho UBND thành phố trong công tác QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố. Tuy nhiên, vì đội ngũ biên chế mỏng nhưng khối lượng công việc theo Nghị định số 37/2021/NĐ-CP ngày 05/5/2021 của Chính phủ về quy định tổ chức các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh lại rất nhiều, bao gồm “Tham mưu, giúp Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về: Văn hóa; gia đình; thể dục, thể thao; du lịch; quảng cáo; bưu chính; viễn thông; công nghệ thông tin; phát thanh truyền hình; báo chí; xuất bản; thông tin cơ sở; thông tin đối ngoại; hạ tầng thông tin” [9], điều này dễ gây quá tải trong công việc của Phòng và gián tiếp ảnh hưởng đến hiệu quả công tác tham mưu về QLNN về du lịch trong thời gian vừa qua cũng như sắp tới. Do đó, việc bổ sung thêm biên chế cho hoạt động của Phòng là vấn đề cần thiết và có tính cấp bách nhằm góp phần nâng cao hiệu quả tham mưu về QLNN trên các lĩnh vực của Phòng, trong đó có lĩnh vực du lịch.

Tuy thực hiện nhiều mảng công tác khác nhau trong khi số lượng biên chế mỏng nhưng kết quả hoạt động QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt thì không ngừng được nâng cao. Theo đó, truyền thông và báo chí quốc tế liên tục xếp hạng Đà Lạt nằm trong danh sách 52 điểm đến hấp dẫn nhất nên ghé thăm qua các năm, thứ hạng dao động từ 30 đến 40, trong các báo cáo xếp hạng luôn đề cập đến vai trò của nhà nước trong quản lý có hiệu quả các doanh nghiệp lữ hành, dịch vụ ăn uống, điều tiết, xây dựng hệ thống giao thông công cộng.. Điều này chứng tỏ Phòng VHTT đã thực hiện rất tốt vai trò tham mưu giúp việc cho UBND thành phố trong công tác QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu mà Phòng VHTT thành phố Đà Lạt đã đạt được trong tham mưu về QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố thì cũng cần nhìn nhận một số hạn chế như: thời gian tham mưu từ lúc có chủ trương cho đến khi có văn bản chính thức còn chậm; năng lực tham mưu của một số CBCC chưa được hoàn thiện, chưa đáp ứng được yêu cầu của hoạt động tham mưu về QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố…

Nhằm triển khai hoạt động QLNN về du lịch, ngay từ khi có Luật Du lịch năm 2005 và sau này là Luật Du lịch 2024, thì lãnh đạo thành phố đã quan tâm, tạo điều kiện để thiết lập tổ chức, bố trí biên chế phù hợp, tạo tiền đề quan trọng để thực hiện công tác QLNN về du lịch tại địa phương. Hiện nay, số lượng biên chế của Phòng VHTT là 06 người, trong đó 01 Trưởng phòng, 02 Phó Trưởng phòng và 03 chuyên viên. Về trình độ chuyên môn, 100% biên chế của Phòng đều tốt nghiệp Đại học với các chuyên ngành khác nhau, trong đó có 02 người có trình độ Thạc sĩ (chiếm tỉ lệ 33.33%), 04 người có trình độ Cử nhân (chiếm tỉ lệ 66,67%). Tuy nhiên, chỉ có 01 chuyên viên là tốt nghiệp chuyên ngành du lịch, còn lại các biên chế khác đều tốt nghiệp các chuyên ngành khác, không liên quan nhiều đến lĩnh vực du lịch; do đó, công tác tham mưu như đã nói ở trên sẽ có nhiều hạn chế nhất định. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Bên cạnh đội ngũ CBBC trực tiếp thực hiện QLNN về du lịch tại Phòng VHTT thì đội ngũ công chức Văn hóa – Xã hội tại các UBND các phường, xã cũng hỗ trợ thực hiện hoạt động này, tổng hợp kết quả trình thủ trưởng cơ quan báo cáo UBND thành phố. Tuy nhiên, cũng như đội ngũ công chức tại Phòng VHTT, đội ngũ công chức Văn hóa – Xã hội tại UBND các phường, xã đa số là tốt nghiệp từ nhiều chuyên ngành khác nhau, kinh nghiệm thiếu, trong khi đó các công chức kiêm nhiệm thì phải xử lý công việc liên quan đến nhiều mảng công tác khác nhau nên công chức không dành nhiều thời gian để nghiên cứu, cũng như chưa thực hiện tốt việc tham mưu đề xuất trong công tác QLNN về du lịch tại địa phương. Trong thời gian tới, cần chú trọng xây dựng đội ngũ có năng lực, trình độ, trách nhiệm và chuyên môn hóa trong công việc, gắn với tiêu chuẩn của công chức theo quy định.

Từ những phân tích trên cho thấy, tổ chức bộ máy QLNN về du lịch ở thành phố Đà Lạt đang tồn tại nhiều khó khăn.Theo tác giả, nhận thấy với nhu cầu và định hướng phát triển du lịch của thành phố Đà Lạt, thì vấn đề nguồn nhân lực, nguồn lực trong tổ chức bộ máy quản lý hiện nay ở thành phố đã tạo ra những thách thức vô cùng to lớn đối với địa phương, đỏi hỏi các ngành chức năng của thành phố Đà Lạt cần đẩy mạnh việc đào tạo, bồi dưỡng kiến thức quản lý về du lịch, có định hướng trong việc phân bổ, bố trí các nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất phục vụ cho công tác quản lý du lịch tại trong thời gian tới.

2.3.3. Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực ngành du lịch

Đà Lạt là một địa phương có nguồn tài nguyên đa dạng, phong phú để phát triển các loại hình du lịch. Thế nhưng, thực tế cho thấy thời gian qua, Đà Lạt vẫn chưa khai thác hiệu quả những tiềm năng đó. Nguyên nhân có nhiều, song phải kể đến chất lượng nguồn nhân lực phục vụ du lịch còn hạn chế. Đây cũng là thách thức không nhỏ đối với sự phát triển du lịch của địa phương.

Hiện nay, Đà Lạt có khoảng 15.000 nhân viên du lịch, bao gồm tất cả các nhân viên làm việc trong các khách sạn, các công ty du lịch, các đơn vị kinh doanh dịch vụ ăn uống. Xét về tổng thể, lực lượng lao động nói chung là đủ. Tuy nhiên, lượng lao động du lịch chưa qua đào tạo còn nhiều, chiếm khoảng 25%. Có tới một phần ba số lao động du lịch không tiếp tục học lên đại học và hầu như không được đào tạo chính quy về nghiệp vụ du lịch. Đây là tình trạng chung trong các khách sạn, không phân biệt hạng, loại khách sạn. Ở các khách sạn đã được xếp hạng sao, phần lớn nhân viên vẫn chưa có bằng đại học, cao đẳng, chỉ khoảng 40% người lao động được đào tạo chính quy về du lịch sau khi học xong trung học phổ thông.

Với mục tiêu, nâng cao chất lượng dịch vụ du lịch, trong đó xác định yếu tố con người đóng vai trò đặc biệt quan trọng, thời gian gần đây, việc đào tạo nhân lực cho ngành du lịch đã được quan tâm, chú trọng hơn trước. Số lượng người theo học các ngành nghề du lịch cũng tăng lên đáng kể. Hàng năm, UBND thành phố đã phối hợp với các tổ chức, hiệp hội, các trường đào tạo nghề du lịch… mở các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ, nâng cao tay nghề cho đội ngũ làm công tác du lịch, từ cán bộ quản lý đến nhân viên phục vụ ở các đơn vị kinh doanh du lịch. Chỉ tính trong năm 2025, UBND thành phố Đà Lạt phối hợp cùng Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh và Hiệp hội du lịch, các trường đào tạo nghề du lịch mở các lớp đào tạo, bồi dưỡng cho đội ngũ lao động phục vụ trong các khách sạn, nhà hàng, tàu du lịch như: chương trình đào tạo quản lý, nghiệp vụ lễ tân, buồng, bar, giao tiếp tiếng Anh, kỹ năng chăm sóc khách hàng… Đặc biệt, tháng 12/2025, Sở Văn hoá, Thể thao và Du lịch tỉnh, Hiệp hội du lịch tỉnh đã phối hợp với Dự án EU (Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội do Liên minh Châu Âu tài trợ) tổ chức khoá đào tạo nâng cao năng lực quản lý cho lãnh đạo các cơ sở kinh doanh dịch vụ du lịch Đà Lạt. Năm 2026, Hiệp hội Du lịch sẽ phối hợp với các trường đào tạo nghề mở thêm các lớp bồi dưỡng nâng cao trình độ nghiệp vụ về du lịch, đào tạo tin học, quản lý phần mềm kế toán trong hoạt động kinh doanh du lịch… Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Hiện nay, UBND thành phố Đà Lạt cũng đã ký kết với Đại học Đà Lạt, Đại học Yersin trong việc nâng cao chất lượng đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực du lịch đạt chuẩn, đáp ứng nhu cầu phát triển ngành du lịch Đà Lạt giai đoạn 2030 2035. Theo đó, có sự phối hợp của các doanh nghiệp du lịch trong việc xây dựng chương trình, giáo trình, hỗ trợ các nhà quản lý, chuyên gia du lịch tham gia các hội thảo khoa học, tham gia giảng dạy một số chuyên đề du lịch phù hợp tại trường. Đồng thời tạo điều kiện cho các giảng viên tham quan, tìm hiểu các kiến thức mới, kỹ năng mới, cũng như sự quan tâm hướng dẫn, rèn luyện các kỹ năng thực hành trong các đợt đi thực tế, thực tập của học sinh – sinh viên, đảm bảo sự gắn kết giữa kiến thức lý thuyết và kỹ năng thực hành. Sự phối hợp này nhằm thực hiện chủ trương “Đào tạo gắn với nhu cầu sử dụng của xã hội”, hướng tới việc hợp tác lâu dài trong vấn đề đào tạo và cung ứng nguồn nhân lực có chất lượng cho các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt.

Được sự quan tâm chỉ đạo của tỉnh, riêng năm 2025, thành phố Đà Lạt đã tổ chức 11 khoá tập huấn nâng cao nhận thức về du lịch có trách nhiệm với môi trường và xã hội cho 2.726 cán bộ, nhân viên các doanh nghiệp du lịch, cộng đồng tham gia hoạt động du lịch của tất cả các xã, phường trên địa bàn thành phố. Cũng trong năm 2025, UBND thành phố tổ chức 3 khoá đào tạo kỹ năng giám sát và đào tạo viên VTOS (Tiêu chuẩn kỹ năng nghề nghiệp du lịch Việt Nam) cho 91 cán bộ các cơ sở lưu trú du lịch và nhân lực phục vụ du lịch; 1 khoá thuyết minh viên VTOS cho 39 cán bộ các khu, điểm du lịch. Cùng với đó, thành phố cũng tổ chức 4 khoá tập huấn (68 học viên) về các lĩnh vực: vận hành trung tâm du lịch, quản lý khủng hoảng và công tác truyền thông, quản lý chất lượng dịch vụ du lịch; tổ chức 1 khoá đào tạo kỹ năng giao tiếp và nghiệp vụ bán hàng cho 72 học viên cơ sở kinh doanh đạt tiêu chuẩn phục vụ khách du lịch; 1 khoá tập huấn homestay cho 30 hộ dân kinh doanh lưu trú du lịch…

Trong các chương trình đào tạo, UBND thành phố chú trọng đến việc đào tạo kỹ năng giao tiếp, ứng xử văn hoá trong du lịch. Cuối tháng 01/2024, trên 20 cán bộ phụ trách, theo dõi, tham mưu ở các phòng, ban, ngành và địa phương có liên quan trực tiếp đến lĩnh vực quy hoạch, QLNN về du lịch, đại diện các doanh nghiệp lớn hoạt động trong lĩnh vực du lịch trên địa bàn tỉnh đã có chuyến tham quan, học tập kinh nghiệm về quản lý du lịch tại Đà Nẵng. Tham quan tại Đà Nẵng, cán bộ của thành phố có thể học hỏi được rất nhiều điều trong quản lý, phát triển du lịch như: bảo vệ môi trường; quảng bá điểm đến bằng công nghệ thông tin; coi trọng văn hoá bản địa…

Nhìn chung, UBND thành phố Đà Lạt và các ngành chức năng đã có nhiều nổ lực trong thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho ngành du lịch của thành phố. Tuy nhiên, theo tác giả thì công tác này của thành phố Đà Lạt đang tồn tại nhiều hạn chế cần khắc phục, cụ thể như: số ngày học ngắn thường tổ chức từ 3-4 ngày, chưa đủ thời gian để trang bị nhiều kiến thức cho học viên, mặt khác công tác vận động học viên tham gia các khóa học còn hạn chế, nội dung, chương trình giảng dạy chưa thu hút, công tác quản lý lớp chưa thật sự hiệu quả, kinh phí mua sắm dụng cụ tại các lớp học cơ bản không đáp ứng đủ cho học viên, khả năng vận dụng hiệu quả không cao, thực tế cho thấy tại các cơ sở kinh doanh ăn uống phục vụ du lịch hiện nay về chất lượng, hình thức chưa được đánh giá cao, khả năng phục vụ cải thiện rất ít.

2.3.4. Quản lý các hoạt động xúc tiến, quảng bá, đầu tư cho du lịch, tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật và thông tin về du lịch

Trong những năm gần đây, du lịch Đà Lạt đã có những bước tăng trưởng mạnh, với mức tăng trưởng bình quân đạt gần 10%; trong đó khách quốc tế tăng 12,5%, tổng doanh thu du lịch tăng bình quân 22,5%. Để có được những kết quả trên, một trong những tác động quan trọng là do ngành du lịch Đà Lạt đã tăng cường nhiều hơn công tác xúc tiến du lịch với nhiều hình thức phong phú, hiệu quả. Các hoạt động tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch được đổi mới theo hướng chuyên nghiệp hoá, thông tin về du lịch Đà Lạt đến với du khách bằng nhiều hình thức sinh động, hấp dẫn. Việc quảng bá được thực hiện qua các ấn phẩm, hướng dẫn du lịch theo chuyên đề phù hợp với từng thị trường và từng đối tượng khách; thông qua các lễ hội, hội chợ, liên hoan ẩm thực để chuyển tải những nét độc đáo, bản sắc văn hoá truyền thống của địa phương đến với du khách. Các chương trình quảng bá, xúc tiến được thực hiện theo nguyên tắc nhà nước quảng bá điểm đến, doanh nghiệp quảng bá các sản phẩm du lịch. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Tỉnh Lâm Đồng cũng đã tăng cường hợp tác với các đại sứ quán Việt Nam tại nước ngoài, các tổ chức quốc tế, hãng hàng không Vietnam Airlines, Vietjet Air, Jetstar Pacific, để chuyển tải hình ảnh du lịch Đà Lạt đến thị trường các nước và tổ chức các sự kiện quảng bá, xúc tiến. Theo đó, Vietnam Airlines tham gia một số hoạt động quảng bá, xúc tiến cho du lịch Đà Lạt, đặc biệt thông qua việc phân phối các ấn phẩm giới thiệu du lịch Đà Lạt tại các Văn phòng Chi nhánh của Vietnam Airlines tại nước ngoài, trên một số ấn phẩm thông tin của Vietnam Airlines; mời các đoàn Famtrip, Presstrip từ các thị trường trọng điểm vào Đà Lạt tham quan, khảo sát và tuyên truyền cho du lịch Đà Lạt…

Các hoạt động xúc tiến, tuyên truyền và quảng bá du lịch đã được triển khai có hiệu quả như: tổ chức roadshow, famtrip, chương trình quảng bá du lịch, tổ chức các chương trình du lịch làm quen dành cho các hãng lữ hành và báo chí đến Đà Lạt như Thái Lan, Nhật, Trung Quốc và Singapore; tổ chức hội nghị khách hàng tại TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội; phát hành cẩm nang du lịch Đà Lạt, bản đồ du lịch, phim du lịch bằng nhiều thứ tiếng Việt, Anh, Trung Quốc, Nhật, Thái Lan… nâng cấp và liên kết trang web du lịch thành phố với các trang web uy tín trong và ngoài nước.

Đà Lạt đang phấn đấu năm 2026, tổng số khách du lịch đạt 5,9 triệu lượt khách, trong đó khách quốc tế 1,0 triệu lượt; tổng doanh thu đạt 12.000 tỷ đồng. Để đạt được mục tiêu đó, trong thời gian tới, UBND thành phố Đà Lạt chủ trương tiếp tục đẩy mạnh công tác quảng bá, xúc tiến du lịch, hướng vào những thị trường trọng điểm, tập trung thu hút thị trường khách du lịch có mức chi trả cao bằng các công cụ và các hình thức xúc tiến, quảng bá hữu hiệu hơn. Mở rộng liên doanh, liên kết với các đối tác trong và ngoài nước, tích cực hỗ trợ các doanh nghiệp tổ chức các hoạt động phát triển thị trường, liên kết các tour, tuyến và sản phẩm du lịch… góp phần đưa du lịch thực sự trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP của thành phố.

Bên cạnh công tác quảng bá, xúc tiến du lịch thì UBND thành phố cũng tiến hành song song công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục chính sách, pháp luật về du lịch với mục tiêu nhanh chóng, chính xác, thường xuyên, liên tục, đảm bảo có hiệu quả đến từng người dân với phương châm “mỗi người dân là một hướng dẫn viên du lịch chuyên nghiệp”. Công tác tuyên truyền, phổ biến được thực hiện bằng nhiều hình thức như: hội thảo, hội nghị chuyên đề, họp phổ biến… đã mang lại nhiều hiệu quả tích cực trong cộng đồng, góp phần nâng cao ý thức của nhân dân, du khách.

Hiện tại, UBND thành phố đang đẩy mạnh khai thác có hiệu quả tiềm năng phát triển du lịch, thành phố đã kêu gọi đầu tư phát triển cơ sở vật chất phục vụ du lịch. Đã có nhiều dự án đầu tư vào du lịch có quy mô lớn đang được xây dựng. Các lĩnh vực được đầu tư mạnh nhất là: khu vui chơi giải trí, nhà hàng… địa điểm được chọn xây dựng chủ yếu tại các khu ven đô thị nhằm khai thác tiềm năng du lịch sinh thái; đồng thời xác định đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, chỉnh trang đô thị, các công trình vừa phục vụ cho dân sinh và vừa tạo thuận lợi cho phát triển du lịch. Với việc đầu tư phát triển này, hứa hẹn trong tương lai gần, Đà Lạt sẽ có một cơ sở vật chất phục vụ du lịch hiện đại, sang trọng, đáp ứng tốt nhu cầu của khách du lịch. Nhằm tạo điều kiện cho việc đầu tư phát triển du lịch tại Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng đã ban hành các chính sách ưu đãi, khuyến khích các thành phần kinh tế trong và ngoài nước tiến hành đầu tư vào du lịch. Ngoài ra, UBND tỉnh cũng như UBND thành phố tiến hành cải cách thủ tục hành chính ở lĩnh vự du lịch nhằm tạo điều kiện tốt nhất cho các thành phần kinh tế đầu tư có hiệu quả, góp phần đem lại sự phát triển của du lịch Đà Lạt nói riêng và của Lâm Đồng nói chung.

2.3.5. Thanh tra, kiểm tra, giám sát các hoạt động du lịch Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Công tác kiểm tra, thanh tra, giám sát hoạt động du lịch là nhiệm vụ thường xuyên mà các cơ quan QLNN về du lịch phải đảm bảo trong quản lý, điều hành. UBND thành phố sẽ thành lập các đoàn thanh tra đối với những vấn đề quan trọng, liên ngành thuộc thẩm quyền. Cơ quan chuyên môn sẽ thanh tra, kiểm tra những vấn đề chuyên ngành, mang tính cục bộ thuộc thẩm quyền, chức năng được giao và chịu trách nhiệm trước UBND thành phố, cơ quan nhà nước cấp trên. Các vấn đề do UBND thành phố quan tâm kiểm tra, kiểm soát là: thực hiện chính sách về đất đai, chính sách ưu đãi, hỗ trợ phát triển hoạt động du lịch, đầu tư xây dựng hạ tầng, thực hiện các quy định về giá, phí, lệ phí, thuế.

Chính quyền Đà Lạt đã quan tâm thực hiện kiểm tra, kiểm soát đối với các vấn đề sau: tình hình thực hiện các quy định về trật tự trị an, bảo vệ môi trường tại các điểm tham quan du lịch, tình hình thực hiện quy chế bảo vệ đảm bảo môi trường tại các khu, điểm du lịch trên địa bàn thành phố; công tác thẩm định các cơ sở lưu trú; thực hiện nghiêm túc việc đề nghị xét, cấp thẻ hướng dẫn viên du lịch theo đúng quy định của pháp luật; đẩy mạnh việc giáo dục ý thức pháp luật cho nhân dân, khuyến khích mọi tổ chức, cá nhân nghiêm chỉnh chấp hành các quy định của pháp luật về du lịch; tổ chức quán triệt và chỉ đạo thực hiện các văn bản pháp luật của các cơ quan nhà nước các cấp cho các doanh nghiệp du lịch; xây dựng môi trường hoạt động kinh doanh lành mạnh, nâng cao hiệu quả công tác thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực du lịch.

Chính quyền thành phố cũng đã tổ chức kiểm tra các cơ sở lưu trú du lịch, doanh nghiệp lữ hành, điểm vườn du lịch nhằm nhắc nhở, hướng dẫn các doanh nghiệp du lịch trong công tác an toàn vệ sinh thực thẩm, xử lý nước thải, thu gom rác bảo vệ môi trường, hướng tới xây dựng môi trường du lịch đảm bảo các yêu cầu: an toàn, thân thiện, chất lượng; kiểm tra các hoạt động đưa đón khách du lịch tại các điểm du lịch, chỉ đạo Tổ kiểm tra liên ngành tiếp tục lập lại trật tự tại Hồ Xuân Hương, Chợ Đà Lạt và làm việc với Ban Quản lý Khu du lịch Hồ Tuyền Lâm, Ban Quản lý Khu du lịch Langbiang trong việc tổ chức, sắp xếp khách du lịch theo hướng văn minh trật tự.

UBND thành phố Đà Lạt đã tiến hành rà soát cơ sở kinh doanh lưu trú, lập danh sách kiểm tra các cơ sở không đăng ký xếp hạng khách sạn và không báo cáo thống kê theo quy định; thẩm định và thẩm định lại hồ sơ đề nghị xếp hạng cơ sở lưu trú du lịch 1-2 sao và nhà nghỉ du lịch; đề nghị UBND tỉnh Lâm Đồng đề nghị Vụ Khách sạn – Tổng Cục Du lịch thẩm định khách sạn 3 – 4 sao; tổ chức thu hồ sơ đề nghị cấp, đổi thẻ hướng dẫn viên du lịch quốc tế và nội địa…

Qua tiến hành kiểm tra, kiểm soát đã xử lý vi phạm với rất nhiều lượt và nhiều cơ sở như các cơ sở quảng cáo, karaoke, vũ trường, quán bar, cơ sở game; cơ sở dịch vụ văn hóa, cơ sở lưu trú, lữ hành, điểm vườn du lịch, cơ sở dịch vụ thể dục thể thao ngoài công lập, cơ sở mua, bán băng đĩa, các lượt phát tờ rơi tại các ngã tư, đồng thời lập biên bản vi phạm, nhắc nhở, chấn chỉnh, hoặc ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính; tịch thu tờ rơi, tháo dỡ băng rôn tuyên truyền, băng rôn thương mại treo không đúng quy định. Đồng thời, phối hợp thành lập Đội kiểm tra liên ngành thành phố, kiểm tra các cơ sở.

Trong vấn đề giải quyết khiếu nại tố cáo, Thanh tra Sở Du lịch đã phối hợp với UBND thành phố Đà Lạt, Phòng Cảnh sát hành chính trật tự Công an tỉnh Lâm Đồng giải quyết triệt để những khiếu nại của du khách về an ninh, trật tự liên quan đến du lịch, giúp người dân nâng cao ý thức chấp hành các quy định về an ninh, trật tự của địa phương.

2.4. Đánh giá chung về công tác quản lý nhà nước về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

2.4.1. Ưu điểm

Trong những năm qua, mặc dù gặp rất nhiều khó khăn song vấn đề QLNN về du lịch ở thành phố Đà Lạt có những chuyển biến tích cực, góp phần thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển. QLNN trong lĩnh vực du lịch được tăng cường, nhiều đề án, quy hoạch được triển khai thực hiện, việc bảo tồn những giá trị văn hóa được quan tâm, cơ chế chính sách thu hút đầu tư được cải thiện. Hoạt động QLNN về du lịch đã đạt được một số kết quả nổi bật sau:

Thứ nhất, việc xây dựng, tổ chức thực hiện các văn bản QLNN, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch của thành phố có sự đổi mới cả về nội dung, phương pháp và tổ chức thực hiện.

Chính điều này đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp du lịch trên địa bàn xây dựng chiến lược và kế hoạch kinh doanh của mình sát hợp với thị trường và phù hợp với định hướng phát triển chung của địa phương. Với quy hoạch, định hướng chiến lược bài bản, khoa học, Đà Lạt đã thu hút một số tập đoàn lớn đầu tư vào những sản phẩm du lịch, chất lượng cao. Việc nhiều nhà đầu tư chiến lược hàng đầu tới Đà Lạt nói riêng hay các địa bàn khác tại Lâm Đồng nói chung sẽ tạo sức mạnh lan tỏa, dẫn dắt, tạo cơ hội rộng mở hơn cho các nhà đầu tư khác, đẩy mạnh khai thác các tiềm năng thành lợi thế khác biệt để ngành dịch vụ du lịch Đà Lạt có bước phát triển đột phá. Mặt khác, việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch khoa học đã giúp cho việc phát triển kết cấu hạ tầng, cơ sở vật chất kỹ thuật du lịch được tập trung đầu tư có trọng tâm, trọng điểm phù hợp với quy hoạch, nhờ đó nhiều dự án, công trình giai đoạn 2023 – 2030 được nhà nước, doanh nghiệp khẩn trương đầu tư để kịp thời đáp ứng nhu cầu phát triển du lịch của thành phố.

Bên cạnh đó, việc chỉ đạo xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản, các cơ chế, chính sách phát triển du lịch ngày càng tiến bộ. Điều đó đã góp phần nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh du lịch, đồng thời nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố.

Thứ hai, việc tổ chức bộ máy và nhân sự thực hiện QLNN về du lịch đã được kiện toàn. 

Vai trò QLNN đồng hành cùng các doanh nghiệp và Hiệp hội du lịch tiếp tục được đặc biệt quan tâm. Sự quan tâm, phối hợp hoạt động giữa các cơ quan quản lý đã tạo điều kiện cho hoạt động du lịch đạt hiệu quả cao hơn. Bộ máy QLNN về du lịch tại Đà Lạt thời gian qua đã thực hiện tốt chức năng tham mưu cho UBND thành phố trong ban hành các quyết định QLNN về phát triển du lịch tại thành phố Đà Lạt, đồng thời thực hiện tốt sự phối hợp với các cơ quan có liên quan trong việc quản lý và phát triển du lịch. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Chính quyền thành phố Đà Lạt đã có nhiều nỗ lực trong công tác đào tạo và xây dựng đội ngũ cán bộ QLNN về du lịch. Tập thể cán bộ công chức Phòng VHTT đã tận tụy, phục vụ và sáng tạo trong công tác, làm khá tốt vai trò tham mưu cho UBND thành phố trong việc quản lý các hoạt động du lịch đặc biệt là các doanh nghiệp kinh doanh du lịch trên địa bàn thành phố theo sự phân cấp của nhà nước và theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, công tác đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch được tăng cường.

Điều này đã tạo điều kiện để các cơ sở đào tạo đa dạng hóa chuyên ngành đào tạo, nâng cao kiến thức về văn hóa, lịch sử, ngoại ngữ, kỹ năng giao tiếp, hướng dẫn du lịch,…cho lực lượng lao động ngành du lịch của thành phố. UBND thành phố Đà Lạt đã xây dựng quy hoạch nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; liên kết, mở các lớp bồi dưỡng, tập huấn nâng cao kiến thức về văn hóa, lịch sử, nghiệp vụ du lịch, kĩ năng giao tiếp, kỹ năng phục vụ… cho đội ngũ quản lý, lực lượng lao động ngành du lịch của thành phố.

Thứ tư, hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch được đổi mới và có hiệu quả thiết thực. 

Công tác xã hội hóa được chú trọng nên đã thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia vào các cuộc xúc tiến quan trọng: mở rộng quan hệ song phương và đa phương với các thành viên trong tổ chức Diễn đàn du lịch liên khu vực; tăng cường liên kết vùng… Hoạt động tuyên truyền quảng bá xúc tiến du lịch có chuyển biến rõ nét có tính sáng tạo, tạo được ấn tượng sâu sắc cho du khách về hình ảnh và thương hiệu du lịch. Nhận thức về tuyên truyền quảng bá của các doanh nghiệp đã được nâng lên một bước, ngày càng có thêm doanh nghiệp tham gia các hoạt động xúc tiến quảng bá với cơ quan QLNN.

Thứ năm, công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, và tổ chức hướng dẫn thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của nhà nước trong lĩnh vực du lịch được chú trọng. 

Các nội dung quy định về bảo vệ và tôn tạo tài nguyên du lịch, quy hoạch du lịch, công nhận và tổ chức quản lý khu, tuyến, điểm du lịch; các quy định về bảo đảm an ninh, an toàn, cứu hộ, cứu nạn, bảo hiểm du lịch và giải quyết yêu cầu, kiến nghị của khách du lịch đều đã thể hiện được chính sách của nhà nước Việt Nam trong việc nâng cao sức cạnh tranh, hấp dẫn của du lịch Đà Lạt, bảo vệ được quyền lợi chính đáng của khách du lịch và các nhà đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực du lịch. 

Bên cạnh đó, việc chỉ đạo xây dựng và tổ chức triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách, đề án, dự án phát triển du lịch của thành phố Đà Lạt có nhiều tiến bộ. Nhiều kế hoạch, văn bản có tính khả thi cao đã tác động tích cực, giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong giai đoạn sơ khai của du lịch Đà Lạt. Điều đó đã góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, ý thức chấp hành pháp luật của tổ chức, cá nhân tham gia kinh doanh du lịch, góp phần quan trọng nâng cao hiệu lực, hiệu quả QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Thứ sáu, công tác thanh tra, kiểm tra đối với hoạt động du lịch được duy trì thường xuyên.

Điều này đã góp phần ổn định thị trường, đẩy mạnh các hoạt động kinh doanh du lịch, giữ gìn kỷ cương pháp luật trong hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố. Thường xuyên tổ chức các đợt thanh tra, kiểm tra hoạt động của các cơ sở kinh doanh dịch vụ lưu trú, nhà hàng, khách sạn trên địa bàn nhằm phát hiện và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm trong khu vực kinh doanh. Chú trọng nhắc nhở, hướng dẫn các cơ sở kinh doanh thực hiện nghiêm túc niêm yết giá và bán đúng giá niêm yết.

Công tác QLNN về du lịch của thành phố Đà Lạt đạt được những kết quả quan trọng nêu trên, là dựa vào những nguyên nhân sau:

Cơ chế, chính sách, pháp luật của Nhà nước nói chung, cơ chế, chính sách, pháp luật du lịch nói riêng, nhất là Luật Du lịch và các văn bản hướng dẫn thực hiện, các văn bản định hướng, điều hành của tỉnh Lâm Đồng, từng bước tạo sự thuận lợi cho công tác QLNN về du lịch ở thành phố Đà Lạt.

Thời gian qua, thành phố Đà Lạt luôn nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương, Tỉnh ủy, UBND tỉnh, các sở, ban ngành tỉnh Lâm Đồng đã đầu tư, hỗ trợ phát triển du lịch.

Thành ủy, UBND thành phố Đà Lạt có sự năng động trong việc lãnh đạo, chỉ đạo điều hành, cụ thể hóa các chủ trương, chính sách của Trung ương, tỉnh cũng như ban hành các văn bản thuộc thẩm quyền để quản lý hoạt động du lịch trên địa bàn thành phố. Bên cạnh đó, các cấp, các ngành thành phố, nhất là cơ quan tham mưu cho UBND thành phố trong công tác QLNN về du lịch, đã có sự nỗ lực phấn đấu và quyết tâm hoàn thiện QLNN về du lịch trên địa bàn.

2.4.2. Hạn chế

Một là, công tác xây dựng và thực hiện các văn bản QLNN, các chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển du lịch thiếu đồng bộ, chưa liên kết, còn manh mún.. 

Những căn cứ để xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch còn chưa đầy đủ và chính xác, thiếu đồng bộ. Cụ thể là, còn thiếu các cuộc điều tra, nghiên cứu thị trường trong nước và quốc tế; các tài liệu phân tích…Các tài liệu đánh giá chưa toàn diện, cụ thể, danh mục đầu tư trải rộng, các dự báo, các tiêu chuẩn định mức tính toán chưa thật sát với điều kiện cụ thể của Đà Lạt, chưa lường hết được những biến động và những khó khăn sẽ nảy sinh. Các quy hoạch, kế hoạch thiếu các phương pháp khoa học hỗ trợ. Xác định nhiều hướng phát triển sản phẩm du lịch, điểm du lịch cụm du lịch nhưng chưa nhận thức đầy đủ hướng nào chính, hướng nào phụ, còn nhiều manh mún. Chưa chú ý đến việc giúp các doanh nghiệp kinh doanh du lịch xây dựng chiến lược phát triển, gắn chiến lược doanh nghiệp với chiến lược của tỉnh. Hệ thống các chiến lược, quy hoạch chưa quan tâm đúng đến đầu tư khôi phục, chỉnh trang, mở rộng các cơ sở, các điểm hiện có theo quan điểm hệ thống với chất lượng cao. Đặc biệt chưa tổ chức hoạt động du lịch theo hướng liên kết vùng và khu vực.

Việc ban hành và tổ chức thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính sách để quản lý, điều hành các hoạt động du lịch còn chậm, nội dung chưa sát với điều kiện, tiềm năng phát triển du lịch ở thành phố và chưa thực sự tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế tham gia kinh doanh du lịch. Thủ tục hành chính đối với các hoạt động du lịch nhìn chung còn phức tạp. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Hai là, tổ chức bộ máy và nhân sự về du lịch còn nhiều bất cập.

Số lượng biên chế quản lý ít, năng lực, trình độ chuyên môn chưa đáp ứng với nhu cầu thực tế, công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực QLNN về du lịch còn nhiều hạn chế, các lớp bồi dưỡng, tập huấn chỉ trang bị kiến thức sơ cấp, chưa liên kết được các cơ sở đào tạo mở các khóa học chuyên ngành về nghiệp vụ du lịch, quản lý, kỹ năng phục vụ chuyên nghiệp tại thành phố. Nguồn lực tài chính, cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ công tác QLNN về du lịch còn khó khăn, chưa đồng bộ.

Công tác tổ chức đào tạo, bồi dưỡng và hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch chưa được chú trọng. Chưa khắc phục được những bất cập trong công tác đào tạo nghiệp vụ du lịch trước yêu cầu phát triển ngành hiện nay cũng như tình trạng chất lượng nguồn nhân lực thấp, thiếu đội ngũ lao động tay nghề cao, chất lượng phục vụ chưa đồng đều và thiếu tính chuyên nghiệp. Có một thực tế cho thấy rất rõ, hiện nay chương trình đào tạo tại các trường vẫn còn nặng nề về lý thuyết, chưa chú trọng nhiều đến kỹ năng thực hành. Hàng năm, lượng sinh viên ra trường chưa đáp ứng ngay được yêu cầu công việc, phần lớn phải đào tạo lại. Thêm nữa lực lượng QLNN về du lịch còn rất mỏng, hiệu quả công tác quản lý chưa cao. Ngoài ra, số lượng hướng dẫn viên tại các điểm du lịch trình độ chuyên môn còn nhiều hạn chế, số hướng dẫn viên du lịch sử dụng các ngoại ngữ hiếm như Tây Ban Nha, Hàn Quốc, Thái Lan… còn rất ít, chưa đáp ứng được yêu cầu của thị trường. Không giống với các ngành khác, đặc thù của ngành du lịch là tính liên ngành và tính xã hội cao. Lao động ngành này cần được đào tạo không chỉ về chuyên môn du lịch mà còn phải hiểu biết nhiều chuyên môn khác như: văn hoá, ngoại ngữ, kinh tế. Đào tạo một nhân viên du lịch không chỉ là dạy cho họ kỹ năng nghề mà còn rèn lối sống, trang bị các kiến thức văn hoá cần thiết.

Cơ cấu lao động trong ngành du lịch chưa hợp lý, thiếu lao động có năng lực quản trị khách sạn, nhà hàng, lữ hành.

Ba là, hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch chưa theo kịp sự phát triển của ngành và tiềm năng, thế mạnh của Đà Lạt.

Các lễ hội du lịch hàng năm còn nhiều bất cập, hạn chế, chưa thực sự mang lại sự hài lòng cho du khách khi đến tham quan. Du lịch Đà Lạt đã có nhiều hình thức quảng bá được dư luận hoan nghênh. Tuy nhiên, hiệu quả không như mong muốn. Các hình thức còn mang tính quảng bá hình ảnh, chưa có được mô hình gắn kết giữa Đà Lạt với các doanh nghiệp, giữa khách trong nước và ngoài nước. Chưa có các biện pháp để các doanh nghiệp du lịch vừa và nhỏ ở Đà Lạt quan tâm đến hoạt động quảng bá, xúc tiến du lịch. Việc xây dựng thương hiệu và nâng cao nhận thức về các điểm du lịch khác vẫn còn rất thấp. Phần lớn những thông tin về du lịch trên trực tuyến và các ấn phẩm đều ít nói đến các địa danh khác ngoài Langbiang, Hồ Tuyền Lâm, Vườn hoa Đà Lạt. Sự thiếu hiểu biết về những điểm du lịch hấp dẫn thay thế khác, ngoài việc tham quan các khu vực trên, qua các phương tiện trên mạng Internet và các ấn phẩm thông tin đã gây cản trở sự phát triển mang tính toàn cầu đối với các ngành công nghiệp du lịch của Đà Lạt. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về du lịch và việc nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, của cộng đồng dân cư về vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế, xã hội, mặc dù được chính quyền địa phương từ thành phố đến cơ sở thực hiện khá tích cực, song hiệu quả còn thấp, cải thiện chưa nhiều, hình thức nội dung chưa phong phú, nhiều chủ trương, chính sách mặc dù đã công bố nhưng một số địa phương vẫn chưa nắm sâu sát, công tác phổ biến, tuyên truyền chậm trễ.

Bốn là, hoạt động thanh tra, kiểm tra trong lĩnh vực du lịch nhiều nhưng hiệu quả mang lại không cao. 

Công tác xử lý sau kiểm tra, thanh tra còn mang tính hình thức từng lúc, từng nơi chưa dứt khoát, còn để kéo dài, việc tố cáo, khiếu nại trong lĩnh vực du lịch còn diễn biến phức tạp. Thực trạng công tác kiểm tra, kiểm soát hoạt động đối với các doanh nghiệp còn những khó khăn nhất định, bởi nhiều doanh nghiệp đăng ký kinh doanh nhưng không mở văn phòng, không có địa chỉ cụ thể nên không nắm được số lượng doanh nghiệp thực hoạt động là bao nhiêu. Việc kiểm tra, thanh tra các cơ sở kinh doanh, ăn uống, lưu trú tuy được đẩy mạnh nhưng hiệu quả chưa cao. Các cơ sở kinh doanh dịch vụ ăn uống với mức giá quá cao vẫn hoạt động, gây ra những hậu quả không hay cho ngành du lịch của thành phố.

2.4.3. Nguyên nhân của những hạn chế

2.4.3.1. Nguyên nhân khách quan

Thứ nhất, cơ chế, chính sách, pháp luật liên quan QLNN về du lịch còn chậm sửa đổi, chưa đồng bộ, thiếu nhất quán và thông thoáng.

Việc ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Du lịch còn chậm, chưa kịp thời, gây khó khăn cho hoạt động QLNN về du lịch ở các địa phương. Mặt khác, du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao. QLNN trong lĩnh vực du lịch liên quan đến nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực khác nhau.

Thứ hai, chính sách QLNN về du lịch của địa phương cấp huyện còn nhiều bất cập.

Một số cơ chế, chính sách về du lịch, thủ tục hành chính liên quan đến du lịch chậm được nghiên cứu, giải quyết hoặc triển khai chậm; chưa thường xuyên kiểm tra, tổng kết rút kinh nghiệm trong công tác xây dựng, triển khai thực hiện các quy hoạch, chiến lược, đề án; chính sách ưu tiên nhằm phát triển du lịch chưa được ban hành cụ thể do đó làm cho công tác phát triển du lịch gặp phải nhiều khó khăn cần phải giải quyết… Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

2.4.3.2. Nguyên nhân chủ quan

Thứ nhất, công tác quy hoạch và chính sách phát triển du lịch Đà Lạt vẫn theo kiểu cũ, chưa phù hợp với yêu cầu

Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch của thành phố mới chú trọng việc phát triển du lịch tại vùng lõi của Đà Lạt, các vùng phụ cận chưa được quan tâm đầu tư đúng mức. Mối quan hệ phối hợp trong quản lý quy hoạch du lịch giữa các cơ quan, ban, ngành trong thành phố, các địa phương có mặt thiếu chặt chẽ, đồng bộ.

Thứ hai, công tác tổ chức bộ máy, bố trí và đào tạo nhân sự chưa được quan tâm đúng mức.

Bộ máy QLNN về du lịch hiệu lực quản lý chưa cao, nhất là ở cấp xã. Quyền hạn, trách nhiệm cũng như lợi ích của các cấp, ngành trong việc cụ thể hóa các cơ chế, chính sách của Nhà nước về phát triển du lịch vào điều kiện cụ thể của địa phương cũng như trong việc ban hành cơ chế, chính sách thuộc thẩm quyền và trong việc hướng dẫn, tổ chức thực hiện các cơ chế, chính sách đó chưa được làm rõ. Sự phối kết hợp trong quản lý hoạt động du lịch giữa các cơ quan chức năng của tỉnh chưa thực sự chặt chẽ trong khi đó lại chưa phân định một cách rõ ràng trách nhiệm và lợi ích của các cấp, các ngành và cộng đồng dân cư trong quản lý các hoạt động du lịch tại các khu, điểm du lịch.

Trình độ của đội ngũ CBCC trong ngành du lịch còn nhiều bất cập. Cán bộ quản lý kiêm nhiệm, làm trái ngành nghề còn nhiều. Công tác quản lý cán bộ, quy hoạch đào tạo, sử dụng cán bộ QLNN về du lịch của thành phố, nhất là đội ngũ cán bộ cơ sở, tuy có được quan tâm nhưng chưa thường xuyên. Bên cạnh đó, các chính sách tiền lương, chế độ đãi ngộ cán bộ, chính sách thu hút nhân tài chậm được ban hành hoặc chưa được chú trong thực hiện. Việc đào tạo, bồi dưỡng phát triển nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch còn chắp vá, thiếu hệ thống. Mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo nghề du lịch và các doanh nghiệp kinh doanh du lịch phát triển nguồn nhân lực chưa chặt chẽ.

Thứ ba, hoạt động quảng bá, tuyên truyền, xúc tiến du lịch chưa được chú trọng quan tâm đầu tư đầy đủ.

Sản phẩm tuyên truyền, quảng bá du lịch còn nghèo nàn, đơn điệu; hình thức quảng bá kém hấp dẫn, gây ra sự chồng chéo và phiền hà cho các doanh nghiệp. Công tác tạo sự liên kết, hợp tác trong phát triển du lịch và xây dựng hệ thống đảm bảo thông tin du lịch chưa được các cấp chính quyền quan tâm, đầu tư phát triển.

Công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về du lịch và việc nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ quản lý, của cộng đồng dân cư về vai trò của du lịch có hình thức nội dung chưa phong phú, nhiều chủ trương chính sách mặc chưa rõ ràng, tuyên truyền chậm trễ.

Thứ tư, thiếu sự phối, kết hợp trong công tác thanh tra, kiểm tra.. 

Phương thức, trình tự thanh tra, kiểm tra bộc lộ nhiều hạn chế, chưa tạo được sự phối hợp nhịp nhàng giữa các cơ quan QLNN liên quan, gây ra sự chồng chéo và phiền hà cho các doanh nghiệp. Công tác kiểm tra, phối kết hợp quản lý cho các cơ quan QLNN về du lịch chưa toàn diện, chặt chẽ, chưa theo kịp với thực tế phát sinh. Việc xử lý các vi phạm trong công tác QLNN về du lịch còn mang nặng tính hình thức hoặc có xử lý bằng nhiều biện pháp nhưng chưa mang lại hiệu quả nhất định. Sự buông lỏng trong kiểm tra tại các cơ sở và việc hoạt động chỉ dừng ở mức nhắc nhở không đủ sức răn đe và việc vi phạm trong hoạt động kinh doanh du lịch vẫn tiếp diễn. Nhưng vi phạm trên chưa được chấn chỉnh đã làm ảnh hưởng đến hiệu quả QLNN đối với du lịch tại địa phương.

Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

Trong nội dung Chương 2, Luận văn đã tập trung làm rõ thực trạng QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt, cụ thể Luận văn đã đi sâu nghiên cứu và làm rõ các nội dung sau:

  • Thứ nhất, luận văn đã khái quát giới thiệu về vị trí địa lý, tài nguyên thiên nhiên, điều kiện kinh tế – xã hội thành phố Đà Lạt.
  • Thứ hai, luận văn đã trình bày và phân tích thực trạng hoạt động du lịch của thành phố Đà Lạt giai đoạn 2021 – 2025.
  • Thứ ba, luận văn sử dụng lý thuyết ở Chương 1 để phân tích thực trạng hoạt động QLNN về du lịch tại thành phố Đà Lạt, đánh giá những ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế trong hoạt động QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt.

Nhìn chung, công tác QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt đã có những chuyển biến tích cực, góp phần vào việc phát triển kinh tế, xã hội của địa phương. Tuy nhiên, công tác QLNN về du lịch trên địa bàn thành phố Đà Lạt vẫn còn bộc lộ những khiếm khuyết và hạn chế nhất định. Do đó, để nâng cao hiệu quả QLNN về du lịch trong thời gian tới, đòi hỏi UBND thành phố Đà Lạt cần đưa ra phương hướng và các giải pháp hiệu quả để thực hiện. Luận văn: Thực trạng quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Luận văn: Giải pháp quản lý nhà nước về du lịch tại Đà Lạt

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464