Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát về tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Việt Nam có thể coi là bảo tàng về tôn giáo, tín ngưỡng của thế giới. Ở đây có đủ từ các tín ngưỡng truyền thống như đồng, cốt, xem bài, xóc thẻ đến các tôn giáo hiện đại. Có tôn giáo ngoại nhập như Công giáo, Hồi giáo, Tin lành, Phật giáo, Brah’i. Có tôn giáo nội sinh như Cao đài, Hòa hảo, Tứ ân hiếu nghĩa, Bửu sơn kỳ hương. Theo số liệu của Ban tôn giáo Chính phủ thì Việt Nam có 14 tôn giáo, 38 tổ chức tôn giáo, 01 pháp môn tu hành đã được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Nước ta có hơn 25 triệu tín đồ (chiếm hơn 1/4 dân số), trong đó Phật giáo khoảng 10 triệu người; Công giáo 6,1 triệu; Cao đài 2,4 triệu; Hòa hảo 1,2 triệu; Tin lành 1,5 triệu; Hồi giáo khoảng 100.000 tín đồ. Song hầu hết người Việt Nam đều có tâm linh tôn giáo, điều đó thể hiện ở việc thờ cúng ông bà tổ tiên, thành hoàng, vua Hùng…
Mặc dù đức tin, giáo lý và sự thờ phụng của đồng bào theo các tôn giáo khác nhau nhưng đều có điểm tương đồng ở tinh thần dân tộc, truyền thống yêu nước, truyền thống văn hóa và luôn đồng hành cùng dân tộc cả trong cách mạng giải phóng dân tộc trước đây cũng như trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay.
2.1.1. Đặc điểm của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
- Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo
Ở Việt Nam tồn tại nhiều hình thức tín ngưỡng, tôn giáo từ sơ khai đến hiện đại, từ tín ngưỡng, tôn giáo bản địa đến du nhập từ nước ngoài. Bên cạnh những tôn giáo lớn “ngoại nhập” như Phật giáo, Hồi giáo, Công giáo, Tin lành… ở Việt Nam còn có các tôn giáo “nội sinh” như Hòa Hảo, Cao Đài… Cùng với những tín ngưỡng bản địa đã hình thành từ lịch sử ngàn năm của dân tộc như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, các tôn giáo ngoại sinh và nội sinh đã làm phong phú và làm bộ phận không thể thiếu được trong đời sống tâm linh và tinh thần của cộng đồng các dân tộc Việt Nam. Tính đa dạng tôn giáo trong đời sống tôn giáo và xã hội Việt Nam là đặc trưng cơ bản của nền văn hóa Việt Nam, nhất là trong giai đoạn hội nhập và phát triển. Cùng với quá tình hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa sâu sắc mọi mặt của đời sống xã hội, các hình thức tôn giáo mới cũng du nhập vào trong xã hội, được đón nhận và làm giàu thêm tính đa dạng tôn giáo ở Việt Nam.
- Tính đan xen, hòa đồng, khoan dung của tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam
Người Việt Nam vốn cởi mở, bao dung chứ không kỳ thị, hẹp hòi, khép kín. Dù là tín ngưỡng nào, tôn giáo gì, từ đâu đến thì thì cộng đồng người ở đây cũng sẵn sàng tiếp nhận – miễn là nó không vi phạm đến lợi ích quốc gia và đi ngược lại truyền thống văn hóa dân tộc. Tính đan xen, hòa đồng của của tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam được thể hiện ở những điểm sau: (1) Trên điện thờ của một số tôn giáo có sự hiện diện của một số vị thần, thánh, tiên, Phật,… của nhiều tôn giáo. Hiện tượng này thấy rõ ở Phật giáo Đại Thừa và điển hình là đạo Cao Đài; (2) Đối với người Việt Nam, rất khó xác định tiêu chuẩn tôn giáo cụ thể của họ. Không ít người sẵn sàng chấp nhận thờ cúng cả thần, thánh, tiên, Phật, lẫn thổ công, hà bá… Họ có thể đều đặn đến chùa mà vẫn say sưa hầu bóng; có thể vừa chịu đủ những phép bí tích mà vẫn ham bói toán, tử vi; vừa tham gia các nghi lễ tôn giáo lớn mà vẫn chăm chỉ thờ cúng tổ tiên, tổ chức hội làng; (3) Ở Việt Nam có nhiều tăng ni, Phật tử thông thạo giáo lý Phật giáo, đồng thời cũng am hiểu triết thuyết Khổng Mạnh và nghiên cứu cả Đạo giáo. Thực tế có nhiều nhà Ngo nương thân trong chốn cửa thiền và cũng không ít tăng ni có tư tưởng yếm thế, tu tiên.
- Mang đậm tính chất dân tộc, thần thánh hóa những người có công với nước, với gia đình, làng mạc, đặc biệt là đạo thờ Tổ tiên Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Lịch sử Việt Nam là lịch sử chống ngoại xâm và chống thiên tai. Con người Việt Nam vốn có truyền thống yêu nước, trọng đạo lý “uống nước, nhớ nguồn”, “ăn quả nhớ người trồng cây” nên tín ngưỡng, tôn giáo Việt Nam thấm đợm tinh thần ấy. Truyền thống ấy được thể hiện trong tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên và được ghi nhận rõ nét trong hệ thống đền, miếu, lăng, phủ,..ở nước ta. Những người có công với gia đình, làng xóm, đất nước đều được người Việt Nam tôn vinh, sùng kính. Nhiều vị có đóng góp trên các lĩnh vực kinh tết, chính trị, văn hóa, xã hội, giáo dục, y tế đã được hậu thế thờ phụng để ghi tạc công ơn.
- Ở Việt Nam không có tôn giáo nào được coi là quốc đạo
Khác với một số nước phương Tây, ở Việt Nam không có tôn giáo nào giữ vai trò thống trị suốt chiều dài lịch sử dân tộc, mà vị trí, vai trò của từng tôn giáo gắn liền với sự hưng thịnh, suy tàn của các triều đại phong kiến trong tiến trình phát triển nhất định của lịch sử dân tộc. Các tôn giáo đều bình đẳng, hoạt động trong khuôn khổ của pháp luật. Đảng và Nhà nước ta luôn chú trọng đề ra chủ trương, chính sách tôn giáo nhằm tạo điều kiện tốt nhất, công bằng nhất cho tất cả các tôn giáo cùng phát triển phục vụ mục tiêu xây dựng đất nước, xây dựng XHCN ở Việt Nam.
2.1.2. Khái quát về tình hình tín ngưỡng Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Việt Nam là quốc gia đa tín ngưỡng, đa tôn giáo. Theo thống kê chưa đầy đủ thì có khoảng 95% dân số Việt Nam có tín ngưỡng, trong đó tín ngưỡng thờ cúng ông bà, tổ tiên là phổ biến và chiếm phần lớn. Đây là một loại hình tín ngưỡng cổ truyền mang tính phổ quát của người Việt Nam và được hình thành, phát triển từ ngàn năm. Là người Việt Nam thì mọi người đều thờ cúng tổ tiên, thờ cúng ông bà. Tín ngưỡng này ảnh hưởng từ quan niệm đạo Hiếu của đạo Khổng, quan niệm tin rằng: tổ tiên mình là thiêng liêng, họ đi vào cõi vĩnh hằng nhưng vẫn sống cạnh con cháu, họ phù hộ cho con cháu khi gặp tai ách, khó khăn; vui mừng khi con cháu gặp may mắn, khuyến khích cho con cháu khi gặp điều lành và cũng quở trách con cháu khi làm những điều tội lỗi. Ngày nay, tín ngưỡng thờ cúng ông bà tổ tiên đã trở thành một chuẩn mực ứng xử của người Việt Nam và trở thành một đạo lý truyền thống cao đẹp của dân tộc, thể hiện lòng hiếu thảo của con cháu với ông bà, cha mẹ, tổ tiên.
Gắn liền với lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc Việt Nam là hình thức tín ngưỡng thờ các Anh hùng dân tộc. Đây là hình thức thờ thần là các vị tướng dũng cảm, khi còn sống họ có công trạng với dân, với nước như Thánh Gióng, Lý Thường Kiệt, Trần Hưng Đạo; các bậc danh nhân văn hóa như Chu Văn An, Nguyễn Trãi; những ông vua tài đức như Lý Công Uẩn, Trần Thái Tông… Tín ngưỡng này luôn gắn với các lễ hội như: Lễ hội các Vua Hùng, Đức Thánh Gióng, An Dương Vương… với cả hệ thống đình, đền, miếu, phù thờ các vị này. Ngày nay, số lượng người đến hành hương cúng bái ngày càng tăng như Lễ hội giỗ tổ Hùng Vương (mùng 10 tháng 3). Lễ hội Gióng đã được UNESCO công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể đại diện của nhân loại vào tháng 11 năm 2010.
Tín ngưỡng còn là niềm tin của một cộng đồng người vào sự che chở, phù trợ của một vị thần linh trấn giữ, hộ mệnh cho một làng, một vùng hoặc cho một khu vực, đó là tín ngưỡng thờ Thành hoàng. Thành hoàng ngự trị ở ngôi đình của làng, xóm, là chỗ dựa tinh thần và là biểu tượng của sức mạnh cộng đồng. Gắn liền với hình thức tín ngưỡng này là hệ thống lễ hội ở các đình, đền trên phạm vi toàn quốc.
Tín ngưỡng thờ Mẫu Việt Nam là một tín ngưỡng bản địa cùng với những ảnh hưởng ngoại lai từ Đạo giáo, tín ngưỡng lấy việc tôn thờ Mẫu (Mẹ) làm thần tượng với các quyền năng sinh sôi, bảo trữ và che chở cho con người. Tín ngưỡng này tôn thờ, thánh hóa vai trò của người phụ nữ trong xã hội Việt Nam, thể hiện sự ghi nhận công ơn của giới nữ và để tri ân, đối với công sinh thành, dưỡng dục của người Mẹ. Là nơi mà ở đó người phụ nữ Việt Nam đã gửi gắm những ước vọng giải thoát của mình khỏi những thành kiến, ràng buộc của xã hội Nho giáo phong kiến.
Ngoài những hình thức tín ngưỡng dân gian tiêu biểu trên, ở nước ta còn có nhiều loại tín ngưỡng dân gian khác như: Tín ngưỡng phồn thực, thờ thần tạo dựng giống nòi… Tín ngưỡng hồn lúa và các nghi lễ nông nghiệp trong các dân tộc thiểu số như Tày, Mường, Thái; tín ngưỡng thờ cúng thổ thần, thần bảo trợ bản Mường, buôn làng của người Tày, Nùng.
2.1.3. Khái quát về tình hình tôn giáo ở Việt Nam
Tôn giáo là hình thái ý thức xã hội, ra đời và phát triển hàng ngàn năm nay. Trong quá trình tồn tại và phát triển, dù chủ ý hay tự nhiên, tôn giáo đã tác động khá sâu sắc và toàn diện đến đời sống xã hội, từ thiết chế chính trị đến pháp luật; từ văn hóa, xã hội đến tâm lý, đạo đức, lối sống; từ các quan điểm triết học nhận định thế giới đến những ứng xử xã hội; từ các dạng thức nghệ thuật đến phong tục, tập quán của nhiều quốc gia, dân tộc. Ở nước ta, tôn giáo là vấn đề lớn liên quan đến chính sách luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Đồng bào các tôn giáo ở Việt Nam đều có tinh thần yêu nước bởi trước khi là tín đồ các tôn giáo họ đã là người Việt Nam mang trong mình dòng máu Lạc Hồng.
Gắn bó với cuộc đấu tranh xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam, những đường hướng tốt lành của các tôn giáo như “Sống phúc âm trong lòng dân tộc” của Công giáo, “Đạo pháp – dân tộc – Chủ nghĩa xã hội” của Phật Giáo, “Nước vinh, đạo sáng” của Cao Đài, “Sống phúc âm phụng sự thiên chúa, phục vụ Tổ quốc và dân tộc” của Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) … là kết quả nhận thức và hành động thực tiễn lâu dài của các tôn giáo ở Việt Nam. Hơn nữa, chỉ có gắn bó với dân tộc, văn hóa Việt Nam, các tôn giáo mới có cơ hội tồn tại và phát triển. Tuy nhiên, cũng có một số vụ việc về tôn giáo gây bức xúc cho khối đại đoàn kết toàn dân như vụ Tòa khâm sứ 42 nhà Chung.
Một xu thế của các tôn giáo hiện nay là có tính “thế tục” nhiều hơn khi chủ trương nhập thể, đi với người nghèo, đẩy mạnh hoạt động xã hội nhưng cũng rất dễ bị thương mại hóa, vận động quyên cúng quá nhiều, phát hành nhiều “bằng ghi công đức”… Chùa chiền, nhà thờ bây giờ xây dựng to, màu sắc xanh đỏ, tô vàng, dát bạc nhưng ít tính nghệ thuật, nhất là ít mang bản sắc văn hóa dân tộc.
Dưới đây là tình hình hoạt động của một số tôn giáo chính ở Việt Nam.
- Đạo Phật
Phật giáo xuất phát từ Ấn Độ do Đức Phật Thích Ca sáng lập. Từ khi du nhập vào Việt Nam đến nay, Phật giáo đã trải qua bao thăng trầm, lúc thịnh lúc suy, có lúc thống nhất, lúc phân tán, do nhiều nguyên nhân khác nhau, từ đây Phật giáo Việt Nam đã được thống nhất từ Bắc tới Nam. Trong số các tôn giáo ở Việt Nam, Phật giáo có số lượng tín đồ đông đảo nhất. Dân số Việt Nam có tới 80-90% mang thiên hướng Phật giáo. Ngày nay, Phật giáo đã trở thành tôn giáo phổ biến nhất tại Việt Nam, chiếm đa số hầu hết các tỉnh của Việt Nam. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam là một tổ chức duy nhất đại diện cho Phật giáo Việt Nam trong và ngoài nước về mặt pháp lý và được Nhà nước CHXHCNVN nhìn nhận bằng một hiến chương, hoạt động trên phạm vi cả nước, hoạt động dựa trên đường hướng “Đạo pháp – dân tộc – chủ nghĩa xã hội”.
Tính đến cuối năm 2011, số người theo đạo Phật có trên 10 triệu phật tử quy y Tam Bảo, chiếm hơn 12% dân số cả nước. Trong đó có 46.495 tăng ni, 14.778 ngôi chùa (trong đó Phật giáo Nam tông Khơ – me có 1,3 triệu tín đồ, 8.574 tăng ni, 454 ngôi chùa); có 04 Học viện Phật giáo, 08 lớp Cao đẳng, 30 trường Trung cấp Phật học và hàng trăm lớp Phật học tại các chùa. Có các tờ báo và tạp chí lớn như: Tuần báo Giác Ngộ, Tạp chí Nghiên cứu Phật học, Tạp chí Khuông Việt, Phật giáo Nguyên thủy. Phật giáo Việt Nam cũng có quan hệ với nhiều tổ chức Phật giáo ở các nước trong khu vực và trên thế giới.
Với truyền thống gắn đạo với đời, đạo pháp dân tộc, Phật giáo đã tham gia vào nhiều hoạt động xã hội như: Cứu giúp người nghèo, người cô đơn cơ nhỡ, nuôi dạy trẻ mồ côi… Phật giáo Việt Nam ngày càng khởi sắc không chỉ ở số lượng và quy mô các lễ hội, ở việc xây dựng, tu bổ, tôn tạo cơ sở thờ tự mà còn ở việc nâng cao sự nhận thức về Phật học và thê học cho các tăng ni, ở việc tổ chức các hội thảo về Phật giáo trong lịch sử và hiện tại. Sự phát triển lớn mạnh của Phật giáo Việt Nam hiện nay đã vượt ra ngoài phạm vi quốc gia và được thể hiện bằng việc Phật giáo ở Việt Nam được các tăng sĩ truyền bá tới nhiều nước trên thế giới, do vậy vai trò và vị thế của Phật giáo không ngừng được củng cố, nâng cao.
- Công giáo
Công giáo ra đời vào Thế kỷ thứ nhất sau công nguyên, đến nay đã trở thành một tôn giáo lớn trên thế giới, với khoảng 1,2 tỷ người ở khắp các châu lục và ảnh hưởng đến nhiều lĩnh vực trong đời sống chính trị, xã hội các nước.
Công giáo có mặt ở Việt Nam từ năm 1533, có số lượng tín đồ lớn thứ hai ở Việt Nam (sau Phật giáo), có tổ chức chặt chẽ với hơn 6 triệu tín đồ, 47 Giám mục, hơn 3.500 linh mục, hơn 3.000 giáo xứ, khoảng 9.000 giáo họ, hơn 100 dòng tu, tu hội, tu đoàn với trên 15.000 tu sĩ nam, nữ sinh hoạt trong 26 giáo phận thuộc 3 giáo tỉnh là: giáo tỉnh Hà Nội có 10 giáo phận; giáo tỉnh Huế gồm 06 giáo phận; giáo tỉnh TP. Hồ Chí Minh gồ 10 giáo phận. Đứng đầu 03 giáo tỉnh là 03 Tổng giám mục và đứng đầu các giáo phận là các giám mục. Các giám mục làm việc chung trong một tổ chức là Hội đồng Giám mục Việt Nam. Hội đồng Giám mục Việt Nam là một tổ chức có tư cách pháp nhân, được thành lập năm 1980, trụ sở tại Tòa Giám mục Hà Nội, số 40 phố Nhà Chung, thành phố Hà Nội. Theo quy chế, Hội đồng Giám mục Việt Nam 3 năm đại hội 1 lần và hàng năm có hội nghị thường niên. Đại hội lần thứ nhất vào năm 1980 và đến năm 2010 là đại hội lần thứ XI. Giúp việc cho Hội đồng Giám mục có 17 Ủy ban Giám mục đặc trách các vấn đề của Giáo hội.
Từ một tôn giáo ban đầu hoàn toàn xa lạ với xã hội Việt Nam, đến nay đạo Công giáo đã phát triển và trở thành tôn giáo lớn ở Việt Nam, với nhiều hoạt động đa dạng và có ảnh hưởng trong đời sống văn hóa – xã hội Việt Nam.
- Đạo Tin lành Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
So với các tôn giáo có nguồn gốc từ bên ngoài ở Việt Nam thì đạo Tin lành truyền vào muộn hơn cả. Đạo Tin lành đến Việt Nam từ cuối Thế kỷ XIX đầu Thế kỷ
Đạo Tin lành vào Việt Nam chủ yếu qua các hệ phái ở Mỹ. Trải bao thăng trầm, đến nay đạo Tin lành đã trở thành một tôn giáo lớn có ảnh hưởng quan trọng đến đời sống văn hóa, xã hội của đất nước.
Đạo Tin lành có nhiều xu hướng hoạt động rất khác nhau. Các giáo phái có tổ chức độc lập, có sắc thái riêng, mặc dù cùng lấy cơ sở đức tin chung là Kinh thánh, lòng tin và ân điển của Chúa, nhưng lại hiểu khác nhau. Đạo khuyên dạy con người sống có lương tâm, ngăn cản làm những điều tội lỗi.
Xét về số lượng và phạm vi, cho dù chưa có số liệu thống kê chính xác từ phía tôn giáo và cơ quan nhà nước, nhưng đều đưa đến nhận diện ban đầu về đạo Tin lành ở Việt Nam từ năm 1975 đến nay thì số lượng tín đồ tăng lên gấp 06 lần. Đến nay đã có 50 tổ chức, hệ phái Tin lành và có mặt ở tất cả các địa phương trong cả nước (trừ Ninh Bình và Quảng Bình).
Người theo đạo Tin lành rất đa dạng, ở hầu hết các tầng lớp cư dân khác, trong đó đa số là đồng bào dân tộc thiểu số ở khu vực Tây Nguyên và Tây Bắc. Đa số đồng bào ở hai khu vực này đều thờ đa thần và giữ phong tục tập quán truyền thống. Lối sống, văn hóa, phong tục tập quán đều gắn với tín ngưỡng, tôn giáo nên khi theo đạo Tin lành, đồng bào dân tộc thiểu số đã từ bỏ nhiều phong tục, tập quán truyền thống. Họ không chỉ gỡ bỏ mà còn đập phá bàn thờ ông bà tổ tiên, hủy bỏ chiêng, ché… Những hành động phủ nhận mang tính sạch trơn như trên đã dẫn tới xung đột văn hóa, ảnh hưởng tiêu cực đến xã hội.
Những năm gần đây, lối sống văn hóa tích cực của đạo Tin lành ngày càng được phát huy, cùng với việc Nhà nước bình thường hóa hoạt động của đạo Tin lành theo quy định của pháp luật, các tổ chức Tin lành đều xác định cho mình đường hướng hoạt động tiến bộ, tuân thủ pháp luật và gắn bó với dân tộc. Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc), Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) đều có đường hướng “Sống phúc âm, phụng sự Thiên Chúa, phục vụ Tổ quốc và Dân tộc”….
- Hồi giáo
Hồi giáo ra đời ở bán đảo Ả rập vào đầu thế kỷ VII Sau Công Nguyên. Hồi giáo là tôn giáo có tín đồ đông nhất thế giới (trên 1,3 tỷ tín đồ), có mặt ở hơn 100 quốc gia trên tất cả các châu lục. Hồi giáo truyền vào khu vực Đông Nam Á khá sớm, khoảng thế kỷ XI, XII. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Ở Việt Nam chỉ có người Chăm theo Hồi giáo. Vì vậy, Hồi giáo gắn bó với dân tộc Chăm, mà cư dân Chăm là một dân tộc có nền văn hóa đa dạng và phong phú; có truyền thống yêu nước, gắn kết với dân tộc và cách mạng, đã có nhiều đóng góp trong các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm. Là một dân tộc trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam, đồng bào Chăm Hồi giáo luôn phát huy bản sắc văn hóa và truyền thống đoàn kết, yêu nước gắn bó với cộng đồng các dân tộc trong các cuộc kháng chiến chống kẻ thù xâm lược, giành độc lập dân tộc. Hơn nữa, từ khi có Đảng, đồng bào Chăm Hồi giáo luôn đi theo và tin tưởng vào sự lãnh đạo của Đảng, chấp hành nghiêm chỉnh đường lối, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước; làm tốt nghĩa vụ công dân, ủng hộ sự nghiệp đổi mới do Đảng đề xướng và lãnh đạo, góp phần viết tiếp trang sử vẻ vang của dân tộc trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa.
- Đạo Cao đài
Đạo Cao đài hay Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ khai sáng tại Việt Nam vào đầu thế kỷ XX. Đạo Cao Đài thờ Thiên Nhãn – Mắt trời – là một mắt trái mở sáng, tượng trưng Đấng Chí Tôn vô hình, là Cha chung vạn loại. Đấng Chí Tôn chỉ có “Một”, nên biểu tượng Mắt Trời cũng chỉ là Một. Một còn diễn tả cái nhìn nhất quán, nhất lý.
Khi mới thành lập, đạo Cao Đài là một tổ chức tôn giáo thống nhất có Tòa thánh ở Tây Ninh và xây dựng được hệ thống tổ chức Giáo hội hoàn chỉnh từ Trung Ương tới địa phương. Tôn chỉ của đạo Cao đài là “Tam quy nguyên, Ngũ chi hiệp nhất”, lấy sự thương yêu làm nền tảng, lấy nhân nghĩa làm phương châm hành đạo, lấy việc phụng sự chúng sinh làm hành động, lấy sự cứu rỗi các chơn linh làm cứu cánh, phấn đấu xây dựng một xã hội đạo đức, an lạc bằng tinh thần yêu thương đồng đạo. Giáo lý của đạo Cao đài đề cao tính thiêng liêng, sự huyền diệu của cơ bút. Luật lệ của đạo Cao đài thực hiện theo Tân luật, Pháp Chánh truyền. Lễ nghi của đạo Cao đài khá cầu kỳ thể hiện tinh thần Tam giáo đồng nguyên. Cơ sở thờ tự có Tòa thánh ở Trung ương giáo hội và thánh thất ở Họ đạo cơ sở.
Theo thống kê năm 2009 của các tổ chức Cao đài, đến nay đạo Cao đài có trên 1 vạn chức sắc, gần 03 vạn chức việc, khoảng 2,4 triệu tín đồ, với 958 tổ chức Họ đạo cơ sở được công nhận ở 35/38 tỉnh, thành phố có đạo Cao đài, thành lập 65 Ban Đại diện, 1.290 cơ sở thờ tự. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Trong hai cuộc kháng chiến cứu nước, đông đảo chức sắc, tín đồ đạo Cao đài đã tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của vào sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước. Trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc hiện nay, đồng bào đạo Cao đài đang cùng toàn dân tham gia vào công cuộc đổi mới, góp phần xây dựng đất nước.
- Phật giáo Hòa hảo
So với các tôn giáo truyền thống lâu đời, Phật giáo Hòa Hảo là một tôn giáo mới ở Việt Nam. Phật giáo Hòa Hảo được sáng lập bởi Giáo chủ Huỳnh Phú Sổ, quê tỉnh An Giang.
Tên của đạo cũng nói lên tôn chỉ, mục đích là hướng đến sự hòa thuận tốt đẹp. Nền tảng của triết lý Phật giáo Hòa Hảo là từ bi, bác ái, đại đồng và luật nhân quả của nhà Phật. Phật giáo Hòa Hảo bài trừ những điều mê tín, dị đoan. Phật giáo Hòa Hảo không thờ hình tượng nhưng đề cao thuyết “Phật tại tâm” nên phương thức hành đạo giản dị.
Tuy là một tôn giáo mới những Phật giáo Hòa Hảo đã tập hợp được nhiều tín đồ miền Tây Nam Bộ. Hiện nay, Phật giáo Hòa Hảo có một Ban Đại diện được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân; đã tổ chức một đại hội để ban hành Quy chế hoạt động. Giáo hội hiện có khoảng hơn 1 triệu người. Tín đồ Phật giáo Hòa Hảo sống đoàn kết, giúp đỡ lẫn nhau, nhiều người nêu gương chay tịnh và tích cực tham gia những hoạt động xã hội.
Ngoài những tôn giáo lớn kể trên còn có một số tôn giáo nội sinh khác như ở Việt Nam như Bửu Sơn Kỳ Hương, Tứ Ân Hiếu Nghĩa, Tịnh Độ Cư Sĩ Phật hội Việt Nam…
Nhìn chung, các tôn giáo ở Việt Nam dù khác nhau về nguồn gốc, giáo lý nhưng lại không thuần nhất mà đan xen, vay mượn nghi lễ của nhau. Đạo tổ tiên vừa cúng khấn như đạo Lão nhưng chọn ngày rằm, mùng 1 như đạo Phật. Trên bàn thờ của đạo Cao đài có thờ đủ từ Khổng Tử, Lão Tử, Đức Phật, Chúa Giê su và Khương Tử Nha. Đạo Công giáo bây giờ cũng thắp hương trước ảnh người quá cố và ghi điều khấn nguyện ra giấy rồi đốt đi trước bàn thờ Đức Mẹ. Nhiều nữ giáo dân lấy quan thày là Maria, Phật giáo cũng thế. Phật Bà Quan Âm được dựng tượng nhiều hơn và sùng bái hơn ở các chùa chiền. Tín đồ tôn giáo này nhưng cũng tham gia nhiều sinh hoạt của tôn giáo khác. Ví dụ người công giáo vẫn thắp hương ngày rằm, mùng 1 và đi xem bói. Một số tín đồ phật tử vẫn đến xin khấn ở các nhà thờ Công giáo.
2.2. Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong pháp luật Việt Nam Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Việt Nam là quốc gia đa tôn giáo và đa dân tộc, giáo hội các tôn giáo khi được Nhà nước công nhận tư cách pháp nhân đều được chính quyền các cấp quan tâm và tạo thuận lợi để hoạt động tôn giáo bình thường trong khuôn khổ luật pháp.
Trên thực tế, mọi tôn giáo ở Việt Nam đều bình đẳng trước pháp luật, được pháp luật bảo vệ, được tự do hoạt động trong khuôn khổ Hiến pháp và Pháp luật. Tuyệt nhiên không một tôn giáo nào hoạt động đúng pháp luật mà bị chính quyền ngăn cấm. Chức sắc, các tín đồ luôn gắn bó với quốc gia, dân tộc theo phương châm “Đạo pháp dân tộc và CNXH”, thực hiện “Sống phúc âm trong lòng dân tộc”.
2.2.1. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong Hiến pháp Việt Nam
Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận không chỉ trong pháp luật quốc tế về quyền con người, trong pháp luật của nhiều quốc gia trên thế giới mà còn cả trong pháp luật Việt Nam từ Hiến pháp, Luật, Nghị định và các văn bản hướng dẫn.
Điều 10 Hiến pháp năm 1946 ghi rõ: “Công dân Việt Nam có quyền tự do tín ngưỡng” [40, tr.238]. Trên cơ sở quy định của Hiến pháp, Quốc hội Việt Nam đã xây dựng những quy định cụ thể trong nhiều Luật để bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng trong thực tế. Có thể nói, những quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của Việt Nam thể hiện rõ chế độ xã hội ta là một trong những chế độ xã hội tiến bộ so với nhiều nhà nước khác trên thế giới. Hiến pháp 1946 càng cho thấy giá trị thời đại khi hai năm sau (1948), trong Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được ghi nhận tại Điều 18 một cách cụ thể hơn: “Mọi người đều có quyền tự do tư tưởng, tín ngưỡng và tôn giáo, kể cả tự do thay đổi tín ngưỡng hoặc tôn giáo của mình, và tự do bày tỏ tín ngưỡng hay tôn giáo của mình bằng các hình thức như truyền giảng, thực hành, thờ cúng và tuân thủ các nghi lễ, dưới hình thức cá nhân hay tập thể, tại nơi công cộng hoặc nơi riêng tư”.
Hiến pháp năm 1959 tiếp tục khẳng định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo: “Công dân Việt Nam dân chủ Cộng hòa có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào” [40, Điều 26]. Trong Hiến pháp này, quyền tự do tín ngưỡng đã được mở rộng “theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Điều này cho thấy tự do tín ngưỡng không chỉ là quyền theo tôn giáo mà còn có cả quyền không theo một tôn giáo nào. Thực tế cho thấy bên cạnh những người theo tôn giáo, vẫn có không ít những người không theo tôn giáo nào. Quy định như vậy một mặt là sự mở rộng hơn, làm sâu sắc thêm quyền đó, một mặt là cơ sở pháp lý nhằm bảo vệ quyền của những người không có đạo, phòng ngừa trường hợp có những người ép buộc người khác phải theo một tôn giáo nào đó. Điều này cũng tạo ra sự bình đẳng, đoàn kết giữa người có đạo với người không có tín ngưỡng trong khối đại đoàn kết dân tộc. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Kế thừa và phát triển Hiến pháp năm 1946, 1959, Hiến pháp năm 1980 quy định: “Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, theo hoặc không theo một tôn giáo nào; không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước” [40, Điều 68]. Qua đó cho thấy, quyền tự do tín ngưỡng tiếp tục được khẳng định, tuy nghiên có sự quy định rõ ràng hơn: “Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước”. Điều này có ý nghĩa to lớn như: quyền tự do tín ngưỡng bao gồm cả nội dung phòng ngừa hành vi lợi dụng quyền này để chống phá cách mạng; quy định này cũng giới hạn phạm vi hoạt động là trong khuôn khổ pháp luật, chính sách của Nhà nước để tuyên truyền mê tín, dị đoan cũng như các thủ tục lạc hậu nhằm mưu cầu cá nhân phá hoại thành quả cách mạng.
- Hiến pháp 1992 và 1992 sửa đổi cũng quy định một số điểm mới về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như:
Một là, khái niệm tín ngưỡng được đặt độc lập, bên cạnh khái niệm tôn giáo. Như vậy, sự phân biệt hai hiện tượng tín ngưỡng và tôn giáo đã rõ ràng hơn. Đây có thể xem là một bước tiến của nhận thức về các hiện tượng tiêu biểu thuộc đời sống tâm linh ở nước ta. Hiện tượng tín ngưỡng gồm: thờ cúng ông bà, cha mẹ, tổ tiên… khác với hoạt động tôn giáo. Thực tế, hoạt động tín ngưỡng rất phong phú, mang tính truyền thống, phong tục… nó có cả mặt tích cực và tiêu cực. Do vậy, việc bổ sung, làm rõ hiện tượng tín ngưỡng bên cạnh hiện tượng tôn giáo như Hiến pháp 1992 đã đề cập là cần thiết, nó không chỉ mở rộng quyền công dân mà còn thể hiện tính công bằng đối với xã hội từ phương diện chuẩn mực pháp lý.
Hai là, Hiến pháp 1992 đề cập đến sự bình đẳng trước pháp luật của các tôn giáo, qua đó phản ánh khá rõ nét về tính dân chủ của xã hội nước ta. Việt Nam có nhiều tôn giáo khác nhau, tồn tại đan xen. Song, về nguyên tắc, tất cả đều phải bình đẳng trong mối quan hệ với Nhà nước. Hơn thế, quy định về sự bình đẳng trước pháp luật của các tôn giáo ở nước ta trong Hiến pháp 1992 còn là một yếu tố góp phần bảo đảm sự đoàn kết giữa các đồng bào theo các tôn giáo khác nhau, góp phần vào sự nghiệp đoàn kết chung của dân tộc. Quy định nghiêm cấm việc lợi dụng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm đến lợi ích của Nhà nước, của nhân dân là phù hợp với luật pháp quốc tế. Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền năm 1948 cho rằng, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là quyền tuyệt đối, tự do vô nguyên tắc. Tại Điều 29 của Tuyên ngôn nêu rõ: Khi hưởng thụ các quyền và tự do của mình, mọi người chỉ phải tuân thủ những hạn chế do luật định, nhằm mục đích bảo đảm sự công nhận và tôn trọng thích đáng về đạo đức, trật tự công cộng và phúc lợi chung trong một xã hội dân chủ. Trong mọi trường hợp, việc thực hiện các quyền tự do này cũng không được trái với các mục tiêu và nguyên tắc của Liên hợp quốc.
Ba là, Hiến pháp 1992 còn quy định “những cơ sở thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ” [40, Điều 70]. Quy định này thể hiện chính sách trách nhiệm cụ thể của Nhà nước Việt Nam đối với việc bảo đảm quyền của các tôn giáo trong cuộc sống. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Bốn là, Hiến pháp 1992 không chỉ dừng lại ở việc quy định: “Không ai được lợi dụng tôn giáo để làm trái pháp luật và chính sách của Nhà nước, mà còn quy định: “không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo” [40, Điều 70]. Đây là một quy định thể hiện trách nhiệm tôn trọng quyền này đối với mọi người. Quy định này thể hiện một cách nhìn nhận thực tế trong đời sống xã hội. Bởi vì, quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo chỉ được bảo đảm khi mọi người trong xã hội, dù có hay không có tín ngưỡng tôn giáo đều không được làm phương hại đến nó. Trong Điều 25 của Dự thảo sửa đổi Hiến pháp 1992, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được đề cập đó là: (1). Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. (2). Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Nơi thờ tự của tín ngưỡng, tôn giáo được pháp luật bảo hộ. (3). Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật [40].
Về cơ bản thì quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân trong Điều 25 của Dự thảo Hiến pháp 1992 đã được kế thừa và phát triển từ Điều 70 của Hiến pháp 1992. Trong dự thảo này, Hiến pháp đã ghi nhận “Nhà nước tôn trọng và bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo”. Điều này cho thấy thái độ cũng như chính sách dân chủ của Nhà nước ta đối với quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Coi đó là một nhu cầu và là một quyền tất yếu của người dân cần phải được tôn trọng, bảo vệ và tạo điều kiện để họ thực hiện tốt nhất quyền đó. Điều này quy định cũng có những tiến bộ hơn so với các bản Hiến pháp trước đó khi đã có sự ghi nhận: “Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào”. Ở đây, bản chất vấn đề đã có sự thay đổi căn bản với việc ghi nhận là “Mọi người” chứ không phải là “công dân”, điều đó thể hiện chính xác quyền con người đối với vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo. “Công dân” là thể hiện mối quan hệ giữa người dân với Nhà nước, với thể chế chính trị, việc ghi nhận “mọi người” sẽ bao trùm rộng hơn so với “công dân” vì trong thực tế không phải ai cũng có quyền công dân. Ví dụ, một người tù, mặc dù đã mất quyền công dân nhưng vẫn có quyền tự do thờ phụng, thực hành tôn giáo của mình… Việc ghi nhận “mọi người” có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo có ý nghĩa to lớn trong sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc và trong quá trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Đến Hiến pháp 2013 đã kế thừa và sửa đổi, bổ sung quy định của Hiến pháp 1992 về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo như Điều 24: (1) Mọi người có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Các tôn giáo bình đẳng trước pháp luật. (2) Nhà nước tôn trọng và bảo hộ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. (3) Không ai được xâm phạm tự do tín ngưỡng, tôn giáo hoặc lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để vi phạm pháp luật [40, tr.20].
Như vậy, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo là một trong những quyền cơ bản của con người. Đảng và Nhà nước ta đã không ngừng hoàn thiện chủ chương, cơ chế, chính sách, pháp luật về tôn giáo, tạo điều kiện tốt nhất cho nhân dân thực hành quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của mình. Hiến pháp là văn bản có giá trị pháp lý cao nhất qua những lần sửa đổi đều đề cập đến vấn đề quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo theo hướng ngày càng hoàn thiện, dân chủ, tôn trọng, tạo điều kiện tốt nhất cho giáo dân và tổ chức tôn giáo phát triển một cách lành mạnh và công bằng nhất. Thực hiện tốt quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của người dân có ý nghĩa rất lớn trong việc thực hiện sự nghiệp đại đoàn kết dân tộc vì mục tiêu chung là phát triển và bảo vệ Tổ quốc.
2.2.2. Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong các văn bản Luật, Nghị định Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Để thể chế hóa quy định của Hiến pháp về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân và xuất phát từ nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong thời kỳ đổi mới cũng như yêu cầu thực hiện công tác quản lý nhà nước về tín ngưỡng, tôn giáo bảo đảm quán triệt các nguyên tắc, quy định của Hiến pháp năm 1992, Ủy ban Thường vụ Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XI đã ban hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo (thông qua ngày 18/6/2004 và có hiệu lực kể từ ngày 15/11/2004). Để hướng dẫn thi hành Pháp lệnh, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 22/2005/NĐ –CP ngày 01/03/2005 hướng dẫn thi hành một số điều của Pháp lệnh và Nghị định số 92/2012/NĐ- CP ngày 08/11/2012 thay thế nghị định số 22/ NĐ- CP. Đây là những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam hiện nay cũng như quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của Chính phủ trong việc tổ chức thực hiện các chính sách tôn giáo.
Nội dung của Pháp lệnh đã quán triệt, thể chế hóa những quan điểm, chủ trương, chính sách tín ngưỡng, tôn giáo của Đảng và Nhà nước; kế thừa, phát triển những quy định phù hợp, mang tính khả thi của các văn bản về tín ngưỡng, tôn giáo được ban hành trước đó cũng như khắc phục những hạn chế, bất cập của các quy định; bảo đảm tính tương thích với luật pháp quốc tế điều chỉnh về quyền con người trong đó có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo mà đặc biệt là những Điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập.
- Điều 1, Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo khẳng định:
Công dân có quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, theo hoặc không theo một tôn giáo nào. Nhà nước bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân. Không ai được xâm phạm quyền tự do ấy. Các tôn giáo đều bình đẳng trước pháp luật. Công dân có tín ngưỡng, tôn giáo hoặc không có tín ngưỡng, tôn giáo cũng như công dân có tín ngưỡng, tôn giáo khác nhau phải tôn trọng lẫn nhau [43]. Không được phân biệt đối xử vì lý do tín ngưỡng, tôn giáo; vi phạm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân [43].
Điều này tương thích với Điều 18 của UDHR và Điều 18 ICCPR, tuy nhiên, đối tượng tại Điều 1 Pháp lệnh hẹp, phạm vi bị giới hạn bởi hai chữ “công dân” trong khi đối tượng của Luật quốc tế có phạm vi hẹp “mọi người”. Pháp lệnh cũng thể hiện chính sách dân chủ, tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; xác định rõ quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức tôn giáo, trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc bảo đảm quyền và nghĩa vụ của các cá nhân, tổ chức trong hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, tôn trọng và bảo đảm nguyên tắc những việc nội bộ của các tổ chức tôn giáo tự giải quyết theo hiến chương, điều lệ của các tôn giáo. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Để bảo đảm quyền thực hành tín ngưỡng, tôn giáo, Pháp lệnh quy định “Người có tín ngưỡng, tín đồ được tự do bày tỏ đức tin, thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện và tham gia các hình thức sinh hoạt, phục vụ lễ hội, lễ nghi tôn giáo và học tập giáo lý tôn giáo mà mình tin theo” [43, tr.30]. “Chức sắc, nhà tu hành được thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ trách, được giảng đạo, truyền đạo tại các cơ sở tôn giáo [43, tr.30-31].
Việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử trong tôn giáo là một trong những quy định mới có điểm những điểm thay đổi khá cơ bản. Theo quy định mới của Pháp lệnh, tổ chức tôn giáo thực hiện việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử theo Hiến chương, điều lệ của tổ chức mình. Nhà nước chỉ đề ra các điều kiện về mặt công dân để tổ chức tôn giáo có căn cứ lựa chọn quyết định và được Nhà nước thừa nhận về mặt kết quả (Điều 22).
Pháp lệnh cũng quy định khá thông thoáng trong việc thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành. Theo đó, khi thuyên chuyển nơi hoạt động tôn giáo của chức sắc, nhà tu hành thì tổ chức tôn giáo có trách nhiệm thông báo với UBND cấp huyện nơi đi và đăng ký với UBND cấp huyện nơi đến. Đối với những trường hợp vi phạm pháp luật về tôn giáo mà đã bị Chủ tịch UBND cấp tỉnh xử lý hình sự thì khi thuyên chuyển phải được sự chấp thuận của UBND cấp tỉnh nơi đến. Với những quy định này đã tạo điều kiện cho chức sắc, nhà tu hành được thuyên chuyển địa bàn hoạt động một cách dễ dàng hơn.
Pháp lệnh khẳng định “Người đi tu trên cơ sở tự nguyện, không ai được ép buộc, cản trở. Người chưa thành niên đi tu phải được cha, mẹ hoặc người giám hộ đồng ý. Người phụ trách cơ sở tôn giáo khi nhận người vào tu có trách nhiệm đăng ký với Uỷ ban nhân dân cấp xã nơi có cơ sở tôn giáo” (Điều 21).
Tổ chức tôn giáo được mời tổ chức nước ngoài vào Việt Nam để tiến hành các hoạt động trao đổi, hợp tác quốc tế có liên quan đến tôn giáo; tham gia các hoạt động tôn giáo ở nước ngoài, tham gia khóa đào tạo tôn giáo ở nước ngoài. Pháp lệnh và các Nghị định cũng đã quy định cụ thể về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài.
Nhà nước bảo tài sản hợp pháp thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo, tạo điều kiện trong việc quản lý, sử dụng đất, công trình tín ngưỡng, tôn giáo cũng như việc sửa chữa, cải tạo, nâng cấp, xây dựng mới các công trình thuộc cơ sở tín ngưỡng, tôn giáo.
Tổ chức tôn giáo được tổ chức quyên góp, nhận tài sản hiến, tặng, cho trên cơ sở tự nguyện của tổ chức, cá nhân trong nước và tổ chức, cá nhân nước ngoài theo quy định của pháp luật. Không lợi dụng danh nghĩa cơ sở, tổ chức tôn giáo để quyên góp, phục vụ lợi ích cá nhân hoặc những mục đích trái pháp luật.
Việc xuất bản, in, phát hành các loại kinh, sách, báo, tạp chí và các xuất bản phẩm khác về tín ngưỡng, tôn giáo; kinh doanh, xuất khẩu, nhập khẩu văn hóa phẩm về tín ngưỡng, tôn giáo, sản xuất đồ dùng phục vụ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo thực hiện theo quy định của pháp luật về xuất bản, pháp luật về xuất nhập khẩu văn hóa phẩm không thuộc phạm vi kinh doanh và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Tổ chức tôn giáo được khuyến khích, tạo điểu kiện tham gia các hoạt động vì mục đích từ thiện, nhân đạo.
Để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt tín ngưỡng, tôn giáo của công dân, bảo đảm các sinh hoạt tôn giáo bình thường được diễn ra trong khuôn khổ pháp luật, Nghị định 92/2012/ NĐ –CP cũng đã quy định về thủ tục đăng ký sinh hoạt tôn giáo: “công dân có nhu cầu tập trung để thực hành các nghi thức thờ cúng, cầu nguyện, bày tỏ đức tin về tôn giáo mà mình tin theo thì người đại diện gửi hồ sơ đăng ký sinh hoạt tôn giáo đến Ủy ban nhân dân cấp xã” [43].
Nghị định 92/2012/ NĐ –CP quy định các điều kiện để một tổ chức tôn giáo được công nhận là tổ chức tôn giáo tại Điều 6. Theo đó, với các tổ chức tôn giáo chưa được công nhận thì Pháp lệnh đã mở hướng thuận lợi bằng việc đăng ký hoạt động cho tôn giáo đó.
Đối với việc thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo trực thuộc thì Nghị định 92/2012/ NĐ -CP cũng quy định về điều kiện, trình tự, thủ tục thành lập, chia, tách, sáp nhập, hợp nhất tổ chức tôn giáo đó.
Nghị định 92/ 2012/ NĐ – CP cũng quy định các tổ chức tôn giáo được thành lập hội đoàn, dòng tu, tu viện và các tổ chức tu hành tập thể khác. Xuất phát từ nhu cầu hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo của nhân dân trong thời kỳ đổi mới, hội đoàn tôn giáo được xác định là một hình thức tập hợp tín đồ do tổ chức tôn giáo lập ra nhằm phục vụ hoạt động tôn giáo. Những hội đoàn do tôn giáo lập ra nhằm phục vụ lễ nghi như: đội kèn, đội trống, đội con hoa, ca đoàn, đội mai táng, đội nhạc lễ, đội nhi đồng theo quy định tại Điều 12 của Nghị định 92/ 2012/ NĐ –CP khi hoạt động không phải đăng ký với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Tổ chức tôn giáo được mở trường đào tạo, mở những lớp chuyên hoạt động tôn giáo [43, tr.36].
Chức sắc, nhà tu hành được thực hiện lễ nghi tôn giáo trong phạm vi phụ trách, được giảng đạo, truyền đạo tại các cơ sở tôn giáo, trường hợp thực hiện lễ nghi tôn giáo, giảng đạo, truyền đạo ngoài cơ sở tôn giáo có trách nhiệm gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân cấp huyện nơi dự kiến giảng đạo, truyền đạo.
Như vậy, ở Việt Nam mặc dù quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo được Nhà nước tôn trọng, bảo đảm nhưng vẫn còn một số vấn đề sau: Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Giới hạn quyền: Ở Việt Nam, quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo không phải là tuyệt đối, hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo bị định chỉ nếu vi phạm một trong các trường hợp: xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự công cộng hoặc môi trường; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của những người khác hoặc có những hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác. Điều 13, Pháp lệnh cũng quy định: Người đang chấp hành hình phạt tù hoặc đang bị quản chế theo quy định của pháp luật thì không được chủ trì nghi lễ tôn giáo, truyền đạo, giảng đạo, quản lý tổ chức của tôn giáo và chủ trì lễ hội tín ngưỡng. Quy định này không trái với quy định tại Khoản 3, Điều 18 Luật nhân quyền quốc tế về sự giới hạn quyền.
- Nguyên tắc bình đẳng, không phân biệt giữa các tín ngưỡng, tôn giáo cũng được Nhà nước quy định trong các văn bản pháp luật có liên quan
Bộ luật Dân sự 2005 quy định về nguyên tắc bình đằng: “Trong quan hệ dân sự, các bên đều bình đẳng, không được lấy lý do khác biệt về dân tộc, giới tính, thành phần xã hội, hoàn cảnh kinh tế, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp để đối xử không bình đẳng với nhau” [38, Điều 5].
Bộ luật Tố tụng Dân sự quy định bình đẳng về quyền và nghĩa vụ trong tố tụng “Mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, trước Tòa án không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp. Mọi cơ quan, tổ chức đều bình đẳng không phụ thuộc vào hình thức tổ chức, hình thức sở hữu và những vấn đề khác” [39].
Bộ luật Hình sự quy định về tội phá hoại chính sách đoàn kết trong đó có hành vi: “gây chia rẽ người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, chia rẽ các tín đồ tôn giáo với chính quyền nhân dân, với các tổ chức xã hội”, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười lăm năm (Điều 87).
- Bình đẳng trong Hôn nhân và gia đình:
Hôn nhân tự nguyện, tiến bộ, một vợ một chồng, vợ chồng bình đẳng. Hôn nhân giữa công dân Việt Nam thuộc các dân tộc, tôn giáo, giữa người theo tôn giáo với người không theo tôn giáo, giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được tôn trọng và được pháp luật bảo vệ (Điều 2). Vợ, chồng tôn trọng quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của nhau; không được cưỡng ép, cản trở nhau theo hoặc không theo một tôn giáo nào (Điều 22) [42].
- Bình đẳng trong lĩnh vực giáo dục:
Mọi công dân không phân biệt dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng, nam nữ, nguồn gốc gia đình, địa vị xã hội, hoàn cảnh kinh tế đều bình đẳng về cơ hội học tập [41].
- Bình đẳng trong việc tham gia đời sống chính trị:
Công dân nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam không phân biệt dân tộc, nam nữ, thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo, trình độ văn hóa, nghề nghiệp, thời hạn cư trú, đủ mười tám tuổi trở lên có quyền ứng cử đại biểu Hội đồng nhân dân theo quy định của pháp luật [37].
Như vậy, về cơ bản quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam được Đảng và Nhà nước ta đặc biệt quan tâm. Nhìn chung đã thể hiện được các nguyên tắc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Có thể nói, Pháp lệnh Tín ngưỡng, tôn giáo và Nghị định 92 là một bước tiến quan trọng về phương diện pháp lý trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, tạo ra sự thông thoáng cho các hoạt động tín ngưỡng, hoạt động tôn giáo. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều bất cập xuất phát từ quá trình thực tiễn hoạt động hiện nay, do vậy sắp tới Luật Tín ngưỡng và tôn giáo sẽ được ban hành thay thế Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo và cần bổ sung các nội dung cơ bản, phù hợp với thực tiễn.
2.3. Những thành tựu và hạn chế về bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
2.3.1. Thành tựu
Việt Nam là quốc gia có nhiều tôn giáo và có nhiều người tin theo các tôn giáo. Chính sách đối với tôn giáo là một trong những chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước. Việt Nam bước vào thời kỳ đổi mới từ giữa những năm 1980, cụ thể là năm 1986, được đánh dấu bằng nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IV. Đến nay, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn về các mặt kinh tế, văn hóa, xã hội. Trong quá trình đó, đổi mới về chính sách đối với tôn giáo đã đưa lại những thành tựu rất quan trọng, làm thay đổi rất căn bản đời sống tôn giáo ở Việt Nam.
Sự chuyển biến trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam là kết quả của nhận thức mới về tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam, trong đó có hai điểm mới so với trước đây: Một là xác định tôn giáo là nhu cầu tinh thần của một bộ phận nhân dân, từ đó kiên trì chính sách tôn trọng và đảm bảo quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo của công dân; hai là nhìn nhận và phát huy những giá trị tích cực về văn hóa và đạo đức của tôn giáo, khuyến khích các hoạt động tôn giáo tiến bộ vì lợi ích của tổ quốc và của nhân dân.
Dưới đây là một số thành tựu đạt được trong việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam.
- Quyền tự do thực hành tôn giáo, tham gia các hoạt động tôn giáo của người có tín ngưỡng, tôn giáo đặc biệt được tôn trọng và bảo đảm.
Quyền tự do thực hành tôn giáo, tham gia các hoạt động tôn giáo ngày càng mở rộng và tạo điều kiện cho các tín đồ, chức sắc tham gia. Các ngày lễ, hội lớn của các tôn giáo được tổ chức hàng năm như Lễ Giáng sinh của đồng bào Công giáo, Lễ Phật đản của Phật giáo, nhằm đảm bảo đáp ứng đời sống tinh thần của đồng bào các tôn giáo trên cả nước, không phân biệt giữa người theo tôn giáo này với người theo tôn giáo khác, người theo tôn giáo và người không theo tôn giáo. Đại lễ Phật đản Liên hợp quốc Vesak 2014 được tổ chức tại khu du lịch văn hóa tâm linh Bái Đính, Ninh Bình từ 07-10/5/2014 với sự tham dự của hơn 10.000 người trong đó có gần 2.000 đại biểu của 95 quốc gia và vùng lãnh thổ có mặt đầy đủ tham dự sự kiện này. Lễ kỷ niệm 100 năm Tin lành đến Việt Nam (2011) ở Đà Nẵng, Hà Nội, TP.Hồ Chí Minh thu hút hàng vài chục ngàn lượt tín đồ, chức sắc và khách quốc tế tới tham dự; Hội đồng Giám mục Việt Nam đăng cai tổ chức Hội nghị toàn thể Liên hội đồng Giám mục Á châu lần thứ X tại Xuân Lộc và TP.Hồ Chí Minh từ ngày 19-25/11/2012 với sự tham dự của 122 Giám mục và Đại biểu thuộc Hội đồng giám mục các nước Châu Á, một số Châu lục và đại diện Tòa thánh Vatican….
Theo ước tính hiện nay, 95% dân số nước ta có đời sống tín ngưỡng, tôn giáo. Theo thống kê của Bộ văn hóa, Thể thao và Du lịch cả nước hiện nay có gần 8.000 lễ hội, trong đó có 7.039 lễ hội dân gian, 332 lễ hội lịch sử cách mạng, 544 lễ hội tôn giáo, 10 lễ hội du nhập từ nước ngoài vào và hơn 40 lễ hội khác. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
- Các tổ chức tôn giáo được củng cố và hoạt động bình thường.
Theo thống kê của Ban Tôn giáo Chính phủ thì hiện nay nước ta có 14 tôn giáo với 38 tổ chức tôn giáo và 01 pháp môn tu học được Nhà nước công nhận và cấp đăng ký hoạt động. Theo thống kê chưa đầy đủ thì 14 tôn giáo có khoảng 24 triệu tín đồ (chiếm khoảng 27% dân số cả nước), hơn 83.000 chức sắc, hơn 250.000 chức việc, 46 cơ sở đào tạo chức sắc tôn giáo, hơn 25 ngàn cơ sở thờ tự. Từ năm 2004 đến nay, các tổ chức tôn giáo đã thành lập thêm một số cơ sở đào tạo như: Giáo hội Phật giáo thành lập thêm 01 học viện, 02 trường Cao đẳng và 2 trường Trung cấp, nâng tổng số lên 04 học viện, 08 trường Cao đẳng và 32 trường Trung cấp Phật học. Giáo hội Công giáo đã thành lập Cơ sở II Đại chủng viện thánh Giuse Hà Nội tại Tòa Giám mục Bùi Chu và thành lập Đại chủng viện Thánh Giuse Xuân Lộc tại Giáo phận Xuân Lộc, nâng tổng số lên 07 Đại chủng viện và 01 phân hiệu. Tổng hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Bắc) thành lập Viện thánh kinh thần học tại Hà Nội. Một số tổ chức tôn giáo khác cũng đang xúc tiến việc thành lập trường đào tạo những người chuyên hoạt động tôn giáo theo quy định pháp luật [3].
Nhà nước Việt Nam cũng chăm lo đến việc đào tạo các chức sắc tôn giáo để thúc đẩy tổ chức và hoạt động của các tổ chức tôn giáo, tăng cường việc đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng của tầng lớp nhân dân đối với việc thực hiện quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Việc mở trường và đào tạo chức sắc tôn giáo luôn được Nhà nước tạo điều kiện thuận lợi. Nếu như năm 1993, phật giáo có 22 trường Cao cấp và trung cấp Phật học, đến nay đã có 4 Học viện Phật giáo và nhiều trường Cao đẳng, trung cấp Phật học. Giáo hội Công giáo có 6 Đại chủng viện với 1.085 chủng sinh và 1.712 chủng sinh dự bị. Nhà nước còn tạo điều kiện cho các tu sĩ đi học tập, hội thảo nâng cao trình độ ở nước ngoài, một số người đã bảo vệ thành công luận văn, luận án thạc sĩ, tiến sĩ về tôn giáo.
- Các cơ sở thờ tự của tôn giáo được xây dựng, sửa chữa
Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, đến nay đã có khoảng 20.000 cơ sở thờ tự được sửa chữa, xây dựng mới. Cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã cấp hàng trăm ha đất để xây dựng cơ sở thờ tự, trong đó một số trường hợp đáng kể như: giao đất cho Toà Tổng Giám mục TGP thành phố Hồ Chí Minh xây dựng Trung tâm mục vụ; giao 7.500m2 đất cho Tổng Liên hội Hội thánh Tin lành Việt Nam (miền Nam) xây dựng Viện Thánh kinh Thần học; giao 20 ha xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh, 10 ha xây dựng Học viện Phật giáo Việt Nam tại Hà Nội; giao hơn 11.000m2 đất cho Toà Giám mục Buôn Ma Thuột, hơn 9.000m2 đất cho Toà Giám mục Đà Nẵng, 15 ha đất cho Giáo xứ La Vang, Quảng Trị để mở rộng cơ sở tôn giáo [3].
- Việc phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển
Trong việc quản lý hoạt động tôn giáo, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã tạo điều kiện để các tổ chức tôn giáo chủ động thực hiện theo quy định pháp luật trong việc củng cố tổ chức, phong chức, phong phẩm, thuyên chuyển, bổ nhiệm chức sắc, nhà tu hành. Theo báo cáo của các tỉnh, thành phố, có hơn 15.000 lượt người được phong chức, phong phẩm, bổ nhiệm, bầu cử, suy cử, thuyên chuyển, trong đó Toà thánh Vatican phong chức 17 giám mục, giám mục phụ tá các giáo phận. Chỉ tính riêng Công giáo và Phật giáo, năm 2004, Giáo hội Phật giáo Việt Nam có 37.775 tăng, ni, đến năm 2012 đã lên tới 46.699 tăng, ni; Giáo hội Công giáo từ 2.920 linh mục đến nay tăng lên 4.044 linh mục. Có 10.816 con dấu đã được cấp cho các tổ chức tôn giáo sử dụng (riêng Phật giáo Nam tông Khmer 452/452 ngôi chùa đã có con dấu) [3].
- Trong việc in ấn, xuất bản phẩm tôn giáo Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Các tổ chức, cá nhân tôn giáo cơ bản tuân thủ quy định của pháp luật về xuất bản. Theo thống kê, từ năm 2006 đến nay, Nhà xuất bản Tôn giáo đã cấp phép xuất bản hơn 5.841 xuất bản phẩm, trong đó có 4.725 đầu sách với 14.535.464 bản in; 1.118 đĩa MP3, VCD, CD, DVD, ảnh, lịch, cờ với số lượng 2.546.201 bản, với nhiều ngôn ngữ khác nhau như Anh, Pháp và tiếng dân tộc Khmer, Ê Đê, Gia Rai, Ba Na [3].
- Quyền tự do ngôn luận của những người có đạo được pháp luật ghi nhận và bảo đảm trong thực tiễn
Nhà nước luôn bảo đảm rằng các tín đồ và tổ chức tôn giáo cũng có quyền bình đẳng như các công dân không có tôn giáo, hoàn toàn có quyền tự do bày tỏ quan điểm, chính kiến và tư tưởng. Theo đó, quyền tự do biểu đạt, tự do báo chí, xuất bản của các tín đồ và tổ chức tôn giáo đã luôn được bảo đảm hiệu quả như việc xuất bản các ấn phẩm tôn giáo ngày càng tăng, hiện nay Việt Nam có hơn 15 tờ báo và tạp chí của các tổ chức tôn giáo đang hoạt động, trong đó có những tờ báo, tạp chí uy tín như: Văn hóa Phật giáo, Phật học, Khuông Việt, Giác ngộ (của Giáo hội Phật giáo Việt Nam), Hiệp Thông (bản tin của Hội đồng Giám mục Việt Nam), Công giáo và Dân tộc (Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh); Mục vụ, Thông Công (của Tin Lành), Cao Đài (của đạo Cao Đài), Hương Sen (Phật giáo Hòa Hảo).
- Quyền tham gia vào quản lý Nhà nước và xã hội của các tín đồ tôn giáo được tôn trọng và bảo đảm
Các chức sắc, tín đồ tôn giáo có quyền tự do ứng cử vào các cơ quan quyền lực của chính quyền từ trung ương xuống địa phương, đặc biệt là trong việc đại diện vào Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp, hoàn toàn bình đẳng như mọi công dân khác theo quy định tại Điều 53 và 54 của Hiến pháp. Đến nay có 11 chức sắc là Đại biểu quốc hội Việt Nam khóa XIII (05 Đại biểu Phật giáo, 03 đại biểu Công giáo, 01 đại biểu Cao Đài, 01 đại biểu Phật giáo hòa Hảo, 01 đại biểu Hồi giáo). Thực tiễn này cho thấy việc các thế lực thù địch và chống đối chính quyền cách mạng phê phán và xuyên tạc tình hình tự do tôn giáo cũng như đàn áp các chức sắc tín đồ tôn giáo là hoàn toàn vô căn cứ và bịa đặt. Trái lại, thực tiễn ấy khẳng định rõ chính sách nhất quán của Đảng và Nhà nước, sự thừa nhận và bảo đảm bằng pháp luật và thực tiễn hiệu quả đối với việc tôn trọng và hiện thực hóa quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo nói chung và quyền tham gia vào quản lý đời sống chính trị – xã hội của đồng bào có đạo nói riêng. Quyền bình đẳng của các tôn giáo được bảo đảm bằng luật, chính sách và thực tiễn. Các tôn giáo đều được đối xử bình đẳng và được Nhà nước tạo điều kiện vật chất và tinh thần để phát triển tổ chức và sinh hoạt tôn giáo.
- Hoạt động quốc tế của các cá nhân, tổ chức tôn giáo nước ngoài tại Việt Nam
Nhìn chung hoạt động quốc tế của các tôn giáo dần đi vào nề nếp và đúng pháp luật, các tổ chức tôn giáo duy trì và mở rộng mối quan hệ với các tôn giáo trên thế giới. Nhiều hoạt động tôn giáo quốc tế và hoạt động lớn của các tôn giáo được tổ chức, thu hút hàng trăm ngàn người tham dự như Đại lễ Phật đản VESAK 2008, 2014; Hội nghị Nữ giới Phật giáo thế giới lần thứ 11 năm 2009; kỷ niệm 100 năm Tin lành vào Việt Nam năm 2011; Năm Thánh 2010 của Công giáo, kỷ niệm 50 năm thành lập hàng Giáo phẩm Việt Nam và 350 năm thành lập 02 giáo phận Đàng trong và Đàng ngoài, Hội nghị Giám mục Châu Á…
Với chủ trương tích cực, chủ động hội nhập quốc tế của Nhà nước, các tổ chức tôn giáo cũng ngày càng tăng cường hoạt động và ảnh hưởng của mình trên trường quốc tế, nhiều ngôi chùa thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam đã được xây dựng ở nhiều nơi trên thế giới như Nga, Séc, Ba Lan, Ucraina. Giáo hội PGVN đã kết nạp 07 Hội Phật tử Việt Nam tại các nước Pháp, Nga, Đức, Séc, Ba lan, Hungary, Ucraina và một Ban Đại diện Tăng sinh du học ở Ấn Độ; nhiều hoạt động hợp tác quốc tế của Giáo hội Công giáo, các Hội thánh Cao Đài, Tin Lành và Hồi Giáo được đẩy mạnh. Trong 10 năm qua, có 1.178 lượt chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo ra nước ngoài tham gia khóa đào tạo về tôn giáo, tham gia hội nghị, hội thảo với các tổ chức quốc tế về tôn giáo; 175 đoàn khách nước ngoài vào Việt Nam hoạt động tôn giáo với số lượng lên tới hàng trăm lượt người.
- Hoạt động xã hội của tổ chức, cá nhân tôn giáo Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Tập trung vào giáo dục mẫu giáo, dạy nghề, nhân đạo, cứu trợ, y tế…: Với các hình thức và nội dung hoạt động phong phú như mở trường, lớp mầm non, lớp học tình thương, trung tâm dạy nghề, trung tâm bảo trợ xã hội, ủng hộ đồng bào bão lụt, cung cấp cơm, cháo, nước sôi cho người nghèo, người bệnh đã phần nào làm giảm bớt khó khăn cho xã hội, làm vơi nỗi đau về thể xác và tinh thần cho người được thụ hưởng; chia sẻ gánh nặng với Nhà nước và xã hội, góp phần cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội. Theo thống kê chưa đầy đủ, hiện nay có gần 300 cơ sở giáo dục mẫu giáo với hơn 100 điểm trường; hơn 300 cơ sở khám chữa bệnh đông, tây y; hơn 100 cơ sở bảo trợ xã hội chăm sóc người già, người khuyết tật, không nơi nương tựa, nạn nhân chất độc da cam, người nhiễm HIV. Kinh phí tổ chức, cá nhân tôn giáo đóng góp để thực hiện cho các hoạt động này mỗi năm lên tới hàng chục tỉ đồng. Nhìn chung các tổ chức tôn giáo đã bảo đảm yêu cầu, điều kiện của pháp luật chuyên ngành trong khi thực hiện các hoạt động liên quan.
Những thành tựu đó đã chứng minh ở Việt Nam, tín đồ và các chức sắc tôn giáo được tạo mọi điều kiện thuận lợi để hành đạo. Họ gắn bó với quốc gia, dân tộc theo phương châm “Đạo pháp, dân tộc và chủ nghĩa xã hội”, thực hiện “sống phúc âm trong lòng dân tộc”, “nước vinh, đạo sáng”, với tấm lòng “kính chúa, yêu nước”, vừa làm tròn bổn phận của Tín đồ đối với Tôn giáo, vừa hăng hái lao động sản xuất, tham gia các hoạt động xã hội, góp phần thực hiện thắng lợi các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trong sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực tiễn tình hình tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam trong hơn 27 năm đất nước thực hiện công cuộc đổi mới được nhiều cá nhân và tổ chức quốc tế ca ngợi. Những chuyển biến trong đời sống tôn giáo khẳng định chủ trương và chính sách đối với tôn giáo của Đảng và Nhà nước Việt Nam là đúng đắn, tín đồ, chức sắc thêm tin tưởng vào Đảng và Nhà nước cùng sự đổi mới của đất nước. Không những thế, tín đồ, chức sắc các tôn giáo ủng hộ và tham gia tích cực vào công cuộc đổi mới. Chính điều đó đã góp phần vào sự ổn định chính trị và phát triển kinh tế, xã hội của đất nước Việt Nam. Đồng thời cũng đã góp phần giới thiệu với bạn bè và cộng đồng quốc tế về hình ảnh đất nước Việt Nam đổi mới, hòa bình, ổn định và phát triển. Từ đó nâng cao ảnh hưởng và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Những chuyển biến trong đời sống tôn giáo ở Việt Nam là bằng chứng để đấu trang, bác bỏ những luận điệu xuyên tạc về tình hình tôn giáo và chính sách tôn giáo của Việt Nam do các thế lực thù địch trong nước và ngoài nước bịa đặt.
Quyền tự do tôn giáo nói riêng và các quyền con người nói chung chỉ có thể được đảm bảo trên nền tảng của việc tôn trọng, bảo vệ và thúc đẩy sự đa dạng tôn giáo. Đồng thời chính sự đa dạng tôn giáo là điều kiện và phương tiện để hiện thực hóa các quyền tự do tôn giáo và quyền con người.
2.3.2. Hạn chế Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Mặc dù quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo ở Việt Nam luôn được Nhà nước và pháp luật bảo hộ, chăm lo và tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển tốt nhất, song vẫn còn tồn tại một số hạn chế:
- Chủ trương, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước về tự do tín ngưỡng và tự do tôn giáo chậm được thể chế, thiếu cụ thể dẫn đến việc hiểu, vận dụng khác nhau
Mặc dù Hiến pháp đã quy định về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, song việc cụ thể nó trong luật và Nghị định còn chưa rõ ràng, đôi khi còn thiếu sót. Có không ít các vấn đề cụ thể như: vấn đề công nhận tư cách pháp nhân; vấn đề tổ chức, tập hợp quần chúng tôn giáo; vấn đề đất đai, cơ sở thờ tự của tôn giáo; việc tham gia của các tôn giáo trong lĩnh vực y tế, giáo dục… tuy cũng đã được đầu tư nghiên cứu nhưng chưa đề xuất được các chính sách cụ thể để quản lý.
- Một số nội dung chưa được quy định trong Luật
Hiến pháp năm 2013 chưa có quy định về quyền tự do tư tưởng, tự do niềm tin, lương tâm. Đây là những quyền đóng vai trò nền tảng của quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo. Theo ICCPR và Bình luận chung số 22 đã nêu trên, các quyền này cần được ghi nhận và bảo vệ tương tự như với tự do tôn giáo, tín ngưỡng. Đặc điểm cơ bản của nhóm những quyền tự do này là không thể bị đình chỉ thực hiện, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia.
Pháp luật Việt Nam chưa phân biệt giữa tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm, tôn giáo hoặc tín ngưỡng, với tự do thể hiện tôn giáo hay tín ngưỡng. Theo luật nhân quyền quốc tế, quyền tự do thể hiện tôn giáo, tín ngưỡng có thể bị hạn chế (không phải là quyền tuyệt đối), song các quốc gia không được phép áp đặt bất kỳ giới hạn nào đối với tự do tư tưởng, niềm tin lương tâm, tự do được tin hoặc theo một tôn giáo hoặc tín ngưỡng theo lựa chọn của mình. Những quyền tự do này được bảo vệ vô điều kiện, tương tự như với quyền được giữ ý kiến mà không bị can thiệp.
Luật quốc tế cho phép hạn chế quyền tự do bày tỏ tôn giáo, tín ngưỡng chỉ với điều kiện những hạn chế đó được pháp luật quy định và là cần thiết để bảo vệ an toàn, trật tự công cộng, sức khoẻ hoặc đạo đức xã hội, hoặc các quyền và tự do cơ bản của người khác. Trong khi đó, khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 và Điều 15 Pháp lệnh TNTG 2004 quy định một phạm vi rộng hơn nhiều các hành vi có thể dẫn đến đình chỉ hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo, đó là: xâm phạm an ninh quốc gia, ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường; tác động xấu đến đoàn kết nhân dân, đến truyền thống văn hóa tốt đẹp của dân tộc; xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác; có hành vi vi phạm pháp luật nghiêm trọng khác… Các khái niệm này nội hàm quá rộng và trừu tượng, dẫn đến nguy cơ tùy nghi diễn giải và hạn chế quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo trong thực tế. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Thêm vào đó, pháp luật cũng chưa quy định rõ một số điều kiện khác được nêu trong luật nhân quyền quốc tế, cụ thể như những hạn chế về quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo chỉ có thể được áp dụng cho những mục đích đã được nêu ra trong luật, phải liên quan trực tiếp và phù hợp với nhu cầu cụ thể mà những hạn chế đó đã được xác nhận. Các hạn chế cũng không được áp đặt vì mục đích phân biệt đối xử, hoặc áp dụng mang tính phân biệt, và những đối tượng đặc biệt, ví dụ như tù nhân, vẫn tiếp tục được hưởng các quyền về biểu thị tôn giáo hoặc tín ngưỡng trong khả năng cao nhất có thể phù hợp với hoàn cảnh thực tiễn.
Pháp luật chưa quy định quyền tự do của bố mẹ hoặc những người giám hộ pháp lý được quyết định việc giáo dục đạo đức và tôn giáo cho con cái họ phù hợp với đức tin của họ.
Mặc dù Nhà nước công nhận sự hiện diện, tồn tại của các tôn giáo nhưng pháp luật (bao gồm Pháp lệnh TNTG năm 2004 và các văn bản pháp luật khác có liên quan như Bộ luật Dân sự, Luật Đất đai..) vẫn chưa ghi nhận tư cách pháp nhân của các tổ chức tôn giáo. Bất cập này khiến cho các tổ chức tôn giáo hiện chưa được hưởng các quyền pháp nhân như các tổ chức xã hội hợp pháp khác theo Hiến pháp và pháp luật và đã dẫn đến những phản ứng, yêu cầu từ một số tổ chức tôn giáo lớn.
Về giải thích thuật ngữ: Một số cụm từ trong Pháp lệnh chưa được giải thích dẫn đến cách hiểu không đúng, không đầy đủ, gây khó khăn, lúng túng trong quá trình triển khai thực hiện từ phía cơ quan Nhà nước cũng như tổ chức, cá nhân tôn giáo: tín ngưỡng; tôn giáo; sinh hoạt tôn giáo; chức việc; tổ chức tôn giáo trực thuộc; “đạo lạ”, “tà đạo”; truyền đạo; truyền đạo trái pháp luật; mê tín dị đoan; hoạt động tôn giáo ổn định…
Về quản lí hoạt động của các tổ chức chưa được cấp đăng ký hoạt động; hiện tượng tôn giáo mới “đạo lạ”, “tà đạo” chưa phân công rõ ràng cho cơ quan nào có chức năng quản lý. Hiện nay, các hình thức này đã tác động làm lệch chuẩn giá trị văn hóa tín ngưỡng truyền thống.
Về quản lí hoạt động tín ngưỡng: Chưa phân công cho cơ quan nào quản lí. Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch chỉ quản lí lễ hội trong đó có lễ hội tín ngưỡng còn quản lí hoạt động của các cơ sở tín ngưỡng thì chưa được quy định (Điều 3 Nghị định 92/2012/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Pháp lệnh tín ngưỡng, tôn giáo mới chỉ điều chỉnh việc cử người đại diện hoặc Ban quản lý cơ sở tín ngưỡng và đăng ký hoạt động tín ngưỡng hàng năm với Ủy ban nhân dân cấp xã). Vì vậy, đây là lĩnh vực mà vừa chưa có cơ quan quản lý, cũng như chưa có các quy định điều chỉnh các hoạt động tín ngưỡng. Sự định hướng xã hội về tín ngưỡng còn hạn chế dẫn đến tư tưởng duy tâm thần bí lệch chuẩn, phản văn hóa có xu hướng mở rộng trong xã hội. Đa số các địa phương đều gặp khó khăn khi xác định cơ quan có thẩm quyền quản lý và tham mưu quản lí hoạt động này. Bên cạnh đó, hiện nay nhiều cá nhân đã lợi dụng hoạt động tín ngưỡng để hành nghề mê tín dị đoan, trục lợi cá nhân làm ảnh hưởng không nhỏ đến trật tự công cộng, sức khỏe cộng đồng, lợi dụng tôn giáo để xâm hại an ninh trật tự,…. Trong khi đó, Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn thi hành mới chỉ có các quy định mang tính nguyên tắc, chưa quy định thành một chương riêng về cơ sở tín ngưỡng và hoạt động tín ngưỡng, chưa quy định phân cấp thẩm quyền quản lý hoạt động tín ngưỡng. Đây là một vướng mắc cần phải sửa đổi hiện nay. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Về thẩm quyền đình chỉ các hoạt động tôn giáo vi phạm: Pháp lệnh chưa quy định về thẩm quyền đình chỉ hoạt động tôn giáo khi vi phạm pháp luật thuộc các trường hợp theo quy định tại Điều 15 Pháp lệnh. Cần có quy định về đình chỉ hoạt động của chức sắc, nhà tu hành, tổ chức tôn giáo khi vi phạm pháp luật về tôn giáo.
Về cấp đăng ký hoạt động của Hội đoàn, Dòng tu: Pháp lệnh chưa quy định về điều kiện để thành lập Hội đoàn, Dòng tu. Thực tế, Hội đoàn và Dòng tu có cơ cấu tổ chức chặt chẽ, có chức năng, phạm vi hoạt động rộng, liên quan đến các vấn đề xã hội, do vậy, cần quy định các điều kiện cụ thể để bảo đảm hoạt động của các tổ chức này cũng như đáp ứng được yêu cầu quản lí trong thời gian tới.
Chưa có quy định về tổ chức, cá nhân tôn giáo tổ chức hội nghị, Hội thảo, Tọa đàm về các vấn đề liên quan của đời sống xã hội hoặc tổ chức, cá nhân tổ chức hội nghị, hội thảo về tôn giáo.
Vấn đề dựng tượng Chúa, Phật, Thánh, Thần: Thực tế, hiện nay chưa có quy định nào về dựng tượng của các tổ chức, cá nhân tôn giáo, dẫn đến thời gian qua quản lí hoạt động này của các địa phương còn nhiều lúng túng, có nơi buông lỏng, có nơi chặt chẽ. Do vậy, cần phải bổ sung qui định này vào trong Pháp lệnh nhằm chấn chỉnh lại hoạt động dựng tượng nơi công cộng, khuôn viên cơ sở thờ tự và nhà riêng tín đồ.
Vấn đề treo cờ Tổ quốc: Cờ Tổ quốc thể hiện chủ quyền thiêng liêng, niềm tự hào của mỗi người dân Việt Nam, tuy nhiên, thời gian qua, việc treo cờ Tổ quốc mặc dù đã có quy định nhưng chưa được các tổ chức tôn giáo triển khai thực hiện. Đòi hỏi phải đưa quy định này vào văn bản mang tính chuyên ngành và có giá trị pháp lý cao hơn để bảo đảm việc thực hiện, qua đó góp phần vun đắp lòng yêu nước, tự hào dân tộc cho chức sắc, nhà tu hành, tín đồ các tôn giáo.
Về Pháp nhân tôn giáo: Pháp luật chưa quy định tổ chức tôn giáo là loại tổ chức nào theo quy định của Bộ Luật Dân sự về pháp nhân. Chưa có quy định cụ thể về xử lí vi phạm pháp luật của tổ chức, cá nhân tôn giáo trong hoạt động tôn giáo.
- Một số nội dung quy định thiếu cụ thể, không phù hợp với thực tiễn
Về đăng ký, công nhận tổ chức tôn giáo: Việc cho đăng ký, công nhận tổ chức tôn giáo hiện nay còn khó khăn, bất cập khi chưa có cơ sở pháp lý để phân biệt giữa tín ngưỡng với tôn giáo và hoạt động mê tín, dị đoan; điều kiện để được đăng ký, công nhận còn đơn giản, không đáp ứng được yêu cầu quản lý đối với hoạt động tôn giáo của các loại hình tín ngưỡng, tôn giáo đã và đang hình thành hiện nay. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Về đăng ký hoạt động tôn giáo hàng năm: Theo quy định tại khoản 1 Điều 12 Pháp lệnh thì chỉ tổ chức tôn giáo cơ sở phải đăng ký hoạt động tôn giáo hàng năm, còn những tổ chức cấp trên cơ sở như tổ chức tôn giáo cấp huyện, cấp tỉnh và cấp trung ương không phải đăng ký, điều này dẫn đến khó khăn cho cơ quan quản lí nhà nước trong việc quản lí hoạt động tôn giáo diễn ra trên địa bàn.
Về tổ chức tôn giáo tham gia thực hiện các hoạt động xã hội: Quy định tại Điều 33 Pháp lệnh không phù hợp với thực tiễn hoạt động của tổ chức tôn giáo, chưa phát huy được vai trò và tiềm năng của tổ chức, cá nhân tôn giáo trong việc cùng Nhà nước giải quyết các vấn đề xã hội. Mặt khác, quy định này còn mâu thuẫn với một số văn bản pháp luật như Luật Phòng, chống HIV, AIDS; Luật Khám bệnh, chữa bệnh; Luật Hoạt động chữ thập đỏ và một số quy định về bảo trợ xã hội…
Hoạt động từ thiện, nhân đạo của các tôn giáo là một hoạt động mang tính dấn thân, hoạt động phục vụ xã hội và vì con người. Những năm qua, hoạt động xã hội của tổ chức, cá nhân tôn giáo đã đem lại những hiệu quả thiết thực, thu hút nhiều người tham gia; đã khám, chữa bệnh cho hàng ngàn lượt người; tổ chức quyên góp ủng hộ đồng bào bão lụt, khó khăn hàng trăm tỉ đồng và đến được đúng đối tượng, đúng thời điểm, đã phần nào làm giảm bớt khó khăn cho xã hội, làm vơi nỗi đau về thể xác và tinh thần cho người được thụ hưởng; chia sẻ gánh nặng với Nhà nước và xã hội. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tích cực thì các hoạt động này cũng còn một số vấn đề đáng quan tâm như: Một số cơ sở giáo dục, y tế, nhân đạo được thành lập chưa được cấp có thẩm quyền cho phép; không bảo đảm cơ sở vật chất, trang thiết bị, đội ngũ chuyên môn làm công tác liên quan chưa được đào tạo cơ bản và thiếu kinh nghiệm. Thông qua hình thức này, tổ chức, cá nhân tôn giáo mở rộng ảnh hưởng, thu hút, tranh giành tín đồ, truyền bá tôn giáo trái với quy định của pháp luật. Một số người lợi dụng hoạt động này vì mục đích tư lợi, khai thác những mặt trái của đời sống xã hội để tuyên truyền, xuyên tạc chống phá Đảng, Nhà nước. Vì vậy, cần phải có những quy định phù hợp với chủ trương xã hội hóa của Đảng, vừa phát huy được vai trò và tiềm năng của tổ chức, cá nhân tôn giáo đồng thời hạn chế được các mặt tiêu cực nêu trên. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Về sinh hoạt tôn giáo của người nước ngoài tại Việt Nam: Quy định tại Điều 37 Pháp lệnh không còn phù hợp với thực tiễn và chủ trương chính sách của Nhà nước. Hiện nay, với chủ trương hội nhập quốc tế của Nhà nước, người nước ngoài đến Việt Nam làm ăn sinh sống ngày càng nhiều, trong số này, có bộ phận không nhỏ là người theo tôn giáo trong đó có những tôn giáo không có cơ sở thờ tự ở Việt Nam như Chính Thống giáo, đạo Sikh, Thần đạo. Một số tôn giáo khác có cơ sở thờ tự tôn giáo tương ứng nhưng quá chật hẹp không đáp ứng được nhu cầu sinh hoạt tôn giáo của họ; có sự khác biệt về nghi lễ, giáo lý, đức tin nên họ mong muốn Nhà nước cho phép mượn hoặc thuê địa điểm không phải là cơ sở tôn giáo để sinh hoạt tôn giáo riêng và thực tế cũng đã có một số trường hợp Tin lành Hàn Quốc sử dụng nhà ở, thuê khách sạn để nhóm họp tôn giáo.
- Công tác tôn giáo
Nói về nhận thức của cán bộ, công chức: thực tế cho thấy, hiểu biết về quyền con người nói chung, Quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo còn nhiều hạn chế dẫn đến có những hành động cố ý hoặc vô ý vi phạm các Quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo của công dân đặc biệt là ở một số cơ quan công quyền. Thái độ phục vụ nhân dân còn chưa tốt, vẫn còn định kiến với tôn giáo, vẫn giữ thái độ của cơ chế xin –cho. Mà một trong những nguyên nhân là do mặt trái của việc cải cách hành chính, từ ngày sáp nhập ngành tôn giáo về ngành nội vụ, hầu hết đội ngũ cán bộ làm công tác tôn giáo được luân chuyển từ ngành khác sang, không được đào tạo về chuyên ngành tôn giáo, không được chuẩn bị kỹ năng làm công tác tôn giáo, thậm chí kém hiểu biết về tôn giáo, chính những điều này đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến việc bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng, tự do tôn giáo cho người có tín ngưỡng, tôn giáo.
Nhận thức của một bộ phận không nhỏ các tín đồ tôn giáo còn hạn chế, họ chưa hiểu đúng, đầy đủ, thậm chí sai lệch quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước; chưa nhận thức rõ được quyền và nghĩa vụ của một tín đồ tôn giáo cũng như của một công dân của một nước mà họ đang sinh sống, điều này dẫn đến việc họ dễ bị kích động, dụ dỗ, lôi kéo bởi những kẻ phản động lợi dụng tín ngưỡng, tôn giáo để gây rối, vi phạm pháp luật.
Việc hướng dẫn, tuyên truyền, phổ biến pháp luật ở một số nơi cấp ủy Đảng, chính quyền và một số cán bộ làm công tác tôn giáo chưa được tốt, thậm chí còn chưa nắm vững đường lối, chính sách của Đảng, Pháp luật của Nhà nước, thiếu linh hoạt trước vấn đề có tính nhạy cảm về chính trị nên việc giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo còn kém hiệu quả, giải quyết không hợp tình, hợp lý, có nơi còn đi ngược chính sách tôn giáo của Đảng, Nhà nước ta, không đáp ứng được nhu cầu của bà con có tín ngưỡng, tôn giáo. Thực tế đã xảy ra trên các địa bàn tỉnh Tây Nguyên, Tây Nam Bộ, Hà Nội (Nhà Chung, Thái Hà), Nghệ An (Con Cuông). Do đó, việc nhận thức đầy đủ và đúng mức về vấn đề tín ngưỡng, tôn giáo và Quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo là rất cần thiết đối với mỗi cán bộ làm công tác tôn giáo hiện nay.
Nhận thức về tôn giáo và cách cư xử với tôn giáo, với đồng bào có đạo ở mỗi địa phương khác nhau, sự phối hợp của các ngành, tổ chức trong hệ thống chính trị để giải quyết các vấn đề tôn giáo chưa được thường xuyên, chưa thống nhất cách thức, phương pháp, biện pháp giải quyết các vấn đề nảy sinh trong tôn giáo dẫn đến việc kéo dài thời gian giải quyết các vấn đề liên quan đến tôn giáo, làm cho hiệu quả thực hiện các chủ trương, chính sách, đường lối về tôn giáo bị giảm sút.
Ở nước ta hiện nay vẫn chưa có một cơ quan chuyên trách về thúc đẩy và bảo vệ quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo, chưa có một quy chế chặt chẽ trong việc xử lý các khiếu nại, tố cáo và hành vi vi phạm Quyền tự do tín ngưỡng, tôn giáo.
- Hoạt động truyền đạo trái phép; mê tín, dị đoan Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
Các hoạt động này vẫn còn diễn ra khá phổ biến ở nhiều địa bàn, nhất là các tỉnh Tây Bắc, tây Nguyên, Tây Nam Bộ. Số phần tử cực đoan trong một số tôn giáo lớn ở nước ta vẫn tiếp tục câu kết với nước ngoài tìm mọi cách tập hợp lực lượng chống đối, khai thác mọi sơ hở, thiếu sót trong công tác quản lý Nhà nước về tôn giáo để xuyên tạc tình hình, chính sách tôn giáo của Đảng và Nhà nước ta. Các vụ khiếu kiện liên quan đến tôn giáo vẫn đang diễn ra hết sức phức tạp, nhất là đất đai, cơ sở thờ tự có liên quan đến tôn giáo.
Hoạt động mê tín, dị đoan đã, đang có chiều hướng ngày càng tăng và khó kiểm soát ở một số địa phương trong cả nước, diễn ra không chỉ trong nhân dân mà còn trong cả hàng ngũ cán bộ, công chức Nhà nước. Xu hướng thương mại hóa các hoạt động tín ngưỡng, tôn giáo cũng đang gia tăng, làm phát sinh mâu thuẫn giữa các chức sắc với nhau, chức sắc với tín đồ và với chính quyền sở tại.
- Hoạt động tín ngưỡng dân gian
Bên cạnh việc trân trọng những giá trị truyền thống như tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên, hiện nay vẫn còn những tiêu cực trong một số hoạt động như lễ lạt linh đình, tốn kém, nặng tính hình thức vật chất; một số nơi do không có sự hiểu biết về bản thân các di sản văn hóa vật chất liên quan đến tín ngưỡng nên có nhiều công trình, kiến trúc, đồ thờ trong quá trình trùng tu, xây mới đã thực sự mất đi các giá trị di sản của nó. Một số hiện tượng tín ngưỡng đã đáp ứng được một phần nhu cầu đời sống tâm linh của quần chúng nhân dân, tuy nhiên vẫn còn những hiện tượng tín ngưỡng bị bóp méo, biến dạng và bị lợi dụng, bị thương mại hóa nhằm mục đích trục lợi của một số tổ chức, cá nhân gây mất an toàn và an ninh xã hội. Chủ trương, chính sách cụ thể đối với hình thức tín ngưỡng vẫn còn mang tính chung chung, thiếu sự phân tích, đánh giá đâu là yếu tố mê tín dị đoan mặc dù trong một số thông tư, nghị định của Chính phủ và cá bộ ngành đều nói tới việc bài trừ, cấm các hình thức mê tín dị đoan như đồng bóng, bói toán, vàng mã, xóc thẻ, xin xăm, điều đó dẫn đến việc thực thi một cách tùy tiện, hoặc xiết chặt theo kiểu vơ đũa cả nắm hoặc là buông lỏng để phát triển tự do. Luận văn: Thực trạng PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Bảo đảm quyền tự do tín ngưỡng tôn giáo ở Việt Nam