Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng đời sống xã hội, pháp luật của cộng đồng người LGBT ở Việt Nam và vấn đề quyền kết hôn của họ dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Khái quát thực trạng cuộc sống và tình hình phát triển của cộng đồng người LGBT tại Việt Nam

Năm 2012 đánh dấu một năm đặc biệt với rất nhiều chuyển biến trong xã hội Việt Nam về chủ đề người đồng tính, song tính và chuyển giới (LGBT). Khi khởi động dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Các cuộc hội thảo, tọa đàm về vấn đề kết hôn giữa những người cùng giới tính đã được tổ chức và thu hút sự quan tâm của nhiều cơ quan, tổ chức, cá nhân, đặc biệt của những người trong cộng đồng LGBT, trong đó có một số hoạt động đã có những ảnh hưởng lớn đối với cộng đồng LGBT như:

Tháng 5 năm 2012, Bộ Tư pháp ra công văn lấy ý kiến về việc hợp pháp hóa việc chung sống giữa hai người cùng giới. Tháng 12 năm 2012, Bộ đã phối hợp cùng với cơ quan Liên hiệp quốc tại Việt Nam tổ chức hội thảo “Kinh nghiệm quốc tế trong bảo vệ quyền của người LGBT trong quan hệ hôn nhân và gia đình”. Như vậy, năm 2012 là năm đầu tiên pháp luật bắt đầu đề cập đến vấn đề của người LGBT, trong đó có đề cập đến vấn đề kết hôn giữa những người cùng giới tính và vấn đề giải quyết các hệ quả pháp lý về việc chung sống như vợ chồng của những người cùng giới tính.

Năm 2012 cũng là năm mà người chuyển giới bắt đầu được xã hội quan tâm nhiều hơn. Một phóng sự ngắn do Trung tâm ICS thực hiện với clip mang tên “Pê đê” nói về một người chuyển giới nữ được chia sẻ trên Youtube đã thu hút gần 300.000 lượt người xem và nhiều bình luận và chia sẻ tích cực. Trong lĩnh vực văn hóa – nghệ thuật, việc ca sĩ Nguyễn Hương Giang công khai tranh tài tại cuộc thi Vietnam Idol đánh dấu một sự hiện diện cần thiết của người chuyển giới, góp phần để xã hội nhìn nhận công bằng hơn với những người chuyển giới nói chung. Bên cạnh đó, ca sĩ Lâm Chí Khanh cũng công khai thông tin chuyển giới và nhận được sự quan tâm của đông đảo dư luận. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Đây cũng là năm mà các hoạt động xã hội của người đồng tính được biết đến và ủng hộ rộng rãi, từ việc tôn vinh sự đa dạng của cuộc sống cho đến những hành động thiết thực như chung tay với các vấn đề chung của toàn xã hội. Hàng loạt các hoạt động về người LGBT được tổ chức, có thể nói chưa bao giờ các hoạt động đó được tổ chức một cách rộng rãi, sôi nổi và chuyên nghiệp như năm 2012, mở đầu là sự kiện Việt Pride. Hoạt động này diễn ra vào đầu tháng 8, do Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học về giới, gia đình, phụ nữ và vị thành niên (CSAGA), Trung tâm sáng kiến sức khỏe và dân số (CCIHP) cùng Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (ISEE) phối hợp tổ chức. Cũng trong tháng 8, tại thành phố Hồ Chí Minh, sự kiện “Hand in hand” đánh dấu sự hiện diện đông đảo của cộng đồng LGBT với khoảng 1.300 người tham gia. Tiếp đó, tháng 9 năm 2012 Màn nhảy flashmob đã được hưởng ứng bởi hơn 1.000 bạn trẻ trong và ngoài cộng đồng LGBT tại Hà Nội, TP.HCM và Đà Nẵng, nhằm ủng hộ cho cộng đồng LGBT và truyền đi thông điệp: “Tình yêu là dành cho tất cả mọi người, mọi tình yêu đều đáng trân trọng như nhau”. Tháng 11 năm 2012, triển lãm The pink choice – Yêu là yêu của nữ nhiếp ảnh gia Maika Elan, đã thu hút được đông đảo cộng đồng LGBT, giới nhiếp ảnh, báo chí. Lần đầu tiên, những khoảnh khắc nhạy cảm, riêng tư, nhưng chân thực và đặc biệt là đẹp đã được Maika mang đến công chúng.

Bên cạnh các hoạt động xã hội kể trên năm 2012 cũng là năm có nhiều các cặp đôi đồng tính mạnh dạn công khai và tổ chức đám cưới như: đám cưới của hai người đồng tính nữ tại thị trấn Đầm Dơi, Cà Mau; Đám cưới của cặp đôi đồng tính nữ ở Bình Dương; Đám cưới của hai thanh niên tại đường Phương Thành, phường Bình San thị xã Hà Tiên, tỉnh Kiên Giang, đặc biệt là đám cưới của họ được các bậc phụ huynh ủng hộ và cùng tham dự. Đám cưới của các cặp đôi đồng tính luôn thu hút được sự quan tâm của dư luận.

Có thể nói năm 2012 là năm đặc biệt đối với cộng đồng LGBT. Chưa bao giờ cộng đồng người LGBT nhận được sự ủng hộ lớn như vậy từ xã hội cho đến những nhà làm luật và Chính phủ. Và cũng chưa bao giờ cộng đồng này lại lớn mạnh, hiện diện với lòng tự tin, tự hào và đoàn kết đến vậy.

Xã hội Việt Nam ngày càng cởi mở hơn, tự do cá nhân trở thành một nhu cầu tất yếu của cuộc sống. Chính vì vậy, ngày càng có nhiều người LGBT sống là chính mình hơn. Tuy nhiên, hiện nay các thông tin về cộng đồng thiểu số về tính dục này còn rất ít đôi khi là sai lệch, méo mó do những cách hiểu sai lầm, những định kiến còn tồn tại trong xã hội. Vì vậy, việc đánh giá thực trạng người LGBT tại Việt Nam hiện nay là rất khó khăn và thiếu tính chính xác vì nhiều lý do khác nhau trong đó lý do quan trọng nhất là sự kỳ thị của xã hội, những định kiến sai lầm về người LGBT và sự ít công khai vì pháp luật chưa chính thức công nhận quyền bình đẳng của họ như những người dị tính khác. Kết quả của một khảo sát gần đây về đặc điểm tính dục của khoảng 2.500 người LGBT có tỷ lệ như sau [12, tr.8]: Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

  • Bảng 2.1: Đặc điểm tính dục của người LGBT

Bên cạnh đó nghiên cứu này cũng chỉ ra các nhân tố tương quan với việc cởi mở về thiên hướng tính dục của người LGBT như sau:

  • Bảng 2.2: Nhân tố ảnh hưởng đến việc cởi mở về thiên hướng tính dục

Nghiên cứu trên cho thấy trong cộng đồng người LGBT thì người đồng tính chiếm đa số, bởi lẽ chúng ta thường không thể phân định rạch ròi được giữa người song tính với người đồng tính. Như đã phân tích ở trên, người song tính là người có hai thiên hướng tính dục đồng tính và dị tính, tuy nhiên một người song tính không nhất thiết phải có tình cảm với cả hai giới bằng nhau, vì vậy đôi khi họ thiên về đồng tính nhiều hơn nên sẽ bị liệt kê vào những người đồng tính hoặc trường hợp ngược lại họ lại được xem như người dị tính. Bên cạnh đó việc bộc lộ thiên hướng tính dục của người song tính dường như gặp nhiều khó khăn hơn so với những người đồng tính. Người chuyển đổi giới tính hoàn toàn có thể là người đồng tính, song tính hay dị tính.

Cũng theo nghiên cứu trên, việc bộc lộ thiên hướng tính dục chịu tác động của nhiều yếu tố khác nhau như độ tuổi, môi trường sống… Những người trẻ tuổi (độ tuổi từ 16 đến 34) thường bộc lộ thiên hướng tính dục của mình nhiều hơn những người ở độ tuổi lớn hơn. Bên cạnh đó, những người sống ở vùng thành thị sẽ bộc lộ thiên hướng tính dục của mình nhiều hơn so với những người sống ở vùng nông thôn.

2.1.1. Thực trạng người đồng tính và song tính tại Việt Nam hiện nay Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Trước tiên cần phải nhắc lại rằng khó có thể tách bạch được người song tính với người đồng tính. Chính vì vậy khó có thể đánh giá riêng người đồng tính với người song tính. Trong xã hội ít người có thể phân biệt được người đồng tính và người song tính nếu người đó không công khai, bởi lẽ nếu người song tính thiên về đồng tính thì sẽ bị coi là người đồng tính, nếu thiên về dị tính sẽ bị coi là người dị tính. Vì vậy, ở đây tác giả xin đề cập đến “phần đồng tính” của những người song tính.

Hiện nay chưa có cuộc điều tra nào về số lượng người đồng tính ở Việt Nam. Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu khác nhau nhưng cho kết quả với các tỷ lệ khác nhau từ 1% đến 9% người ở độ tuổi sinh hoạt tình dục tự nhận mình là người đồng tính và song tính. Điều tra quốc gia về phát triển gia đình ở Hoa Kỳ năm 2002 cho kết quả 4,1% nam giới và 4,1 % nữ giới tự nhận mình là đồng tính và song tính. Ở Canada, theo kết quả điều tra tháng 6 năm 2012, thì có 5% dân số tự nhận mình là người đồng tính, song tính và chuyển giới. Điều tra quốc gia ở Pháp năm 1991 cho kết quả 10,7% nam giới và 3,3% phụ nữ có hành vi tình dục đồng giới và 8,5% nam với và 11,7% phụ nữ thừa nhận có hấp dẫn tình dục đồng giới nhưng không có hành vi quan hệ tình dục đồng giới. Tại Việt Nam chưa có con số xác định cụ thể, nếu lấy tỷ lệ trung bình “an toàn” mà nhiều nhà khoa học thừa nhận là 3% thì số người đồng tính tạm tính ở Việt Nam vào khoảng 2,66 triệu người (tính theo dân số Việt Nam năm 2012 có 88,78 triệu người) [30].

Hiện nay ở nước ta vấn đề người đồng tính, song tính và chuyển giới đang là một chủ đề nhạy cảm, mới nổi lên và thu hút sự chú ý của dư luận. Trước đấy, do nhiều nguyên nhân khác nhau từ tình hình chính trị, chế độ xã hội hay những quan điểm, quan niệm khắt khe về chế độ, chuẩn mực… mà các vấn đề về quyền cá nhân bị lu mờ trước những vấn đề của xã hội. Những năm gần đây trong xu thế hội nhập quốc tế các vấn đề về quyền cá nhân ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn trong đó có việc công khai thiên hướng tính dục và sống theo thiên hướng tính dục của mình. Hiện nay cùng với sự phát triển mạnh mẽ của mạng internet, nhiều website dành riêng cho cộng đồng người LGBT được thành lập. Đó là diễn đàn để họ tâm sự, chia sẻ, trao đổi thông tin và cất lên tiếng nói bảo vệ mình. Bên cạnh đó, các tổ chức ủng hộ người LGBT cũng ra đời và phát triển mạnh mẽ với việc tổ chức các phong trào nhằm tuyên truyền, kêu gọi sự ủng hộ của xã hội đối với người LGBT. Từ đó dễ hiểu vì sao số lượng người công khai thiên hướng tính dục của mình ngày càng tăng. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Hiện nay việc công khai thiên hướng tính dục của người LGBT vẫn còn gặp phải rất nhiều những khó khăn, do đó số lượng người công khai thiên hướng tính dục của mình trong xã hội còn ít. Theo kết quả điều tra của ISEE năm 2009 với người đồng tính nam, chỉ có 2,5% số người được hỏi là công khai hoàn toàn về thiên hướng tính dục của mình và 5% gần như là công khai. Trong khi đó 32,5% đang hoàn toàn bí mật về thiên hướng tính dục của mình và 35% gần như hoàn toàn bí mật. Số 25% còn lại “lúc thì bí mật lúc thì công khai” tùy thuộc vào môi trường. Theo kết quả điều tra, việc giữ bí mật thiên hướng tính dục chủ yếu do sợ bị xã hội kỳ thị (41%), sợ gia đình không chấp nhận (39%), sợ bị trêu chọc, bắt nạt (29%) hoặc mất việc (10). Bên cạnh đó cũng có 23% số người được hỏi cho rằng họ không công khai thiên hướng tính dục đơn giản vì cho rằng không cần thiết phải công khai. Đặc biệt khi được hỏi trong điều kiện nào họ có thể sống thật với thiên hướng tính dục của mình thì, 44% đồng tính nam cho rằng khi xã hội bớt kỳ thị, 44% nói khi cha mẹ thực sự hiểu và chia sẻ về thiên hướng tính dục của con cái và 44% khẳng định khi họ độc lập về kinh tế và tự lo cho cuộc sống của mình. Điều đặc biệt việc tìm một người bạn đời để gắn bó, chia sẻ và cam kết lâu dài là điều kiện cao nhất để người đồng tính, song tính sống thật (50%). Kết quả điều tra cho thấy cần phải giảm định kiến kỳ thị trong xã hội và nâng cao nhận thức của cha mẹ về thiên hướng tính dục. Hơn nữa, việc thừa nhận quan hệ đồng giới để người đồng tính gắn bó với người mình yêu, nghiêm túc trong quan hệ lâu dài là điều quan trọng cần thực hiện.

Một số nghiên cứu gần đây cho thấy thực trạng của người đồng tính tại Việt Nam hiện nay còn là vấn đề khó khăn trong việc bảo vệ quyền của người đồng tính, cụ thể như sau [33]:

  • Định kiến và kỳ thị xã hội

Ở Việt Nam nước ta quan hệ đồng giới không bị tội phạm hóa như nhiều nước trên thế giới. Tuy nhiên, việc kỳ thị người đồng giới còn phổ biến đặc biệt là qua lời nói. Theo nghiên cứu của iSEE thì 95% người đồng tính nam được hỏi, đã từng nghe người khác nói đồng tính là không bình thường. Bên cạnh đó, khi bị phát hiện là người đồng tính 20% mất bạn, 15% bị gia đình chửi mắng, đánh đập. Nghiêm trọng hơn 4,5% đã từng bị tấn công, 1,5% nói bị đuổi học, 4,1% đã từng bị đuổi ra khỏi chỗ ở và 6,5% bị mất việc vì là người đồng tính. Có lẽ có nhiều nguyên nhân khác nhau nhưng một trong những nguyên nhân quan trọng là hiểu biết về thiên hướng tính dục đồng tính ở Việt Nam còn hạn chế, thậm chí là sai lệch. Theo kết quả nghiêm cứu của ISEE năm 2011 về hiểu biết của xã hội về đồng tính ở Hà Nội, Hà Nam, thành phố Hồ Chí Minh và An Giang thì một phần lớn người dân đang có kiến thức sai về đồng tính hoặc có thái độ tiêu cực về đồng tính, cụ thể như bảng dưới đây:

  • Bảng 2.3: Quan điểm của xã hội về đồng tính Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đã loại đồng tính ra khỏi danh sách bệnh vào năm 1990. Đã không phải là bệnh thì không phải chữa và không thể chữa. Thiên hướng tính dục là tự nhiên, không thể học đòi hoặc thay đổi nên một người là dị tính thì không thể học đòi là người đồng tính và ngược lại. Người đồng tính hoàn toàn là nam giới hoặc nữ giới như những người dị tính, khác biệt duy nhất là thiên hướng tính dục của họ- thay vì yêu người khác giới thì họ yêu người cùng giới. Chính vì, vậy khả năng sinh con của họ là hoàn toàn bình thường như những người dị tính.

Theo kết quả khảo sát của Viện chiến lược và chính sách y tế (Bộ Y tế), “Nghiên cứu về quan hệ cùng giới ở Việt Nam”. Nghiên cứu thực hiện trong năm 2012 với sự tham gia của gần 2.500 người đồng giới. Có 63% cho biết họ đã từng bị kỳ thị bởi một trong các hình thức: chửi mắng, đánh đập bởi gia đình và người ngoài; bị dè bỉu. Ước tính có khoảng 1,6 triệu người đồng giới tại Việt Nam. Nghiên cứu cũng cho biết, 61% người đồng tính trong độ tuổi kết hôn mong muốn có con. Tuy nhiên, việc này đang bị cản trở do định kiến của xã hội, pháp luật chưa thừa nhận kết hôn đồng giới, không hỗ trợ các cặp đồng tính sinh con và nhận nuôi con nuôi. Quy định về thụ tinh trong ống nghiệm, thụ tinh nhân tạo cho phép được xin tinh trùng, xin noãn (trứng), xin phôi mở ra cơ hội cho người đồng giới được sinh con. Tuy nhiên, con của họ về tương lai sẽ khó được bình đẳng vì bố mẹ chưa được kết hôn đồng giới [39]. Đồng thời sự kỳ thị của xã hội sẽ làm cho những đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi những người đồng giới phải gánh chịu những thiệt thòi.

Từ đó cho thấy cần phải có nhiều hoạt động truyền thông, giáo dục để nâng cao nhận thức của xã hội về cộng đồng người LGBT, làm giảm định kiến và kỳ thị tiến tới bảo vệ quyền bình đằng cho cộng đồng người LGBT.

  • Bạo lực gia đình và sức khỏe tinh thần

Theo nghiên cứu của iSEE và trung tâm sáng kiến sức khỏe và dân số (CCIHP), vấn đề bạo lực gia đình với người đồng tính là khá phổ biến. Khi phát hiện con là đồng tính cha mẹ thường sốc, thậm chí là hoảng loạn. Vì không có kiến thức về đồng tính và thậm chí kỳ thị, cho rằng đó là một căn bệnh, một trào lưu đua đòi hoặc lo lắng con mình không có tương lai nên cha mẹ thường có những hành vi không kiểm soát dẫn đến đánh đập, xích, nhốt, sử dụng các biện pháp chữa trị hoặc cấm đoán khác. Nhiều bậc cha mẹ đưa con đi tư vấn tâm lý hoặc thậm chí “chữa trị” vì nghĩ con có vấn đề về tâm thần. Ở nước ta không thiếu những trường hợp cha mẹ thuê thầy cúng hoặc các biện pháp khác nhằm ngăn cách con cái với xã hội, với người đồng tính nhằm chữa trị “bệnh đồng tính” cho con cái họ. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Những hành vi đó đã để lại những hậu quả nghiêm trọng về tâm lý cho những người đồng tính, đặc biệt là đối với trẻ em, như trầm cảm, lo sợ thậm chí là có ý định tự tử hoặc hành vi tự tử. Bên cạnh đó, nhiều em bỏ nhà đi lang thang vì không khí gia đình ngột ngạt hoặc do cha mẹ không chấp nhận, bị rơi vào môi trường đường phố, công viên với nhiều cạm bẫy như sử dụng chất gây nghiệm, mại dâm, trộm cắp, nguy cơ nhiễm HIV và bệnh lây qua đường tình dục.

  • Che dấu, tạo bình phong và hậu quả xã hội

Nhiều người đồng tính chia cuộc sống của mình thành hai thế giới riêng biệt, với cộng đồng của mình họ sống thật, có người yêu hoặc bạn tình cùng giới. Với gia đình, đồng nghiệp và bạn bè họ lại hoàn toàn bí mật, sống với vỏ bọc của một người dị tính. Trong nghiên cứu: “Câu chuyện của bốn mươi người nữ yêu nữ” của iSEE năm 2010 thì một trong những chiến lược phổ biến được sử dụng bởi người đồng tính nữ, đặc biệt khi bị nghi ngờ hoặc ép lấy chồng và yêu một người nam giới. Nhiều người đồng tính đã và muốn lập gia đình với người khác giới để thoát khỏi những sức ép và tạo vỏ bọc dị tính cho mình. Theo kết quả nghiên cứu về nam đồng tính, 19% người được hỏi dự định lập gia đình với người khác giới, 40% không muốn và 41% chưa có ý định rõ ràng. Lý do muốn lập gia đình là người đồng tính muốn có con (66%), vì sức ép gia đình (50%), vì muốn có ai đó để nương tựa (44%) và vì áp lực của xã hội (40%). Nhiều người trong số họ sau khi lập gia đình vẫn duy trì mối quan hệ đồng tính ở nhiều mức độ khác nhau như người yêu, bạn tình hoặc bạn bè. Điều này gây ra nhiều sức ép về tâm lý, lo lắng và có thể dẫn đến những đổ vỡ gia đình khi bị phát hiện. Bên cạnh đó, còn gây ra những tổn thương cho những người mà họ chọn để kết hôn hoặc thậm chí là những đứa con của họ trong cuộc hôn nhân đó.

  • Tương lai quan hệ bất định của người đồng tính

Sức ép từ gia đình, định kiến xã hội và sự cấm đoán kết hôn của pháp luật hiện tại làm cho nhiều người trong cộng đồng người đồng tính không dám tin vào quan hệ lâu dài do không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Tuy nhiên, hiện nay cùng với sự phát triển của xã hội cộng đồng người đồng tính sống công khai, có quan hệ tình cảm với nhau ngày càng tăng. Theo kết quả nghiên cứu đồng tính nữ năm 2012 của iSEE thì tại thời điểm hỏi đang có 62% đang có người yêu là nữ và 87% đang hoặc đã từng có người yêu. Khi các cặp đôi đồng tính sống chung có nhiều vấn đề nảy sinh trong cuộc sống của như sở hữu tài sản, đầu tư chung hoặc sinh con và nuôi con nên nhu cầu mong được pháp luật bảo vệ ngày càng tăng. Chính vì vậy, ngày càng nhiều người đồng tính có nhu cầu sống chung và muốn được pháp luật bảo vệ.

Theo kết quả của “Nghiên cứu mối quan hệ đồng giới” năm 2013 nói trên của iSEE thì người đồng tính ở lứa tuổi kết hôn trung bình hiện nay, phần lớn số người được hỏi xác định lý do, mục tiêu của cuộc sống chung rất cụ thể. 87% người được khảo sát cho rằng sống chung để hỗ trợ lẫn nhau về tình cảm, tạo cảm giác cuộc sống an toàn, thể hiện tình yêu và sự cam kết chung thủy với nhau trong cuộc sống. Những người quyết định sống chung đều có quan niệm rất rõ ràng về sự gắn bó lâu dài và thể hiện mong muốn gìn giữ mối quan hệ này. Việc đi đến cuộc sống chung của mỗi cặp đôi đều không phải là một quyết định chóng vánh mà dựa trên sự cân nhắc kỹ lưỡng. Giống như các cặp đôi dị tính, người đồng tính (và cả người song tính, chuyển giới) bắt đầu cuộc sống chung với cam kết chung thủy, hỗ trợ lẫn nhau và ước vọng hạnh phúc lâu dài. Họ duy trì cuộc sống chung bằng cách chia sẻ gánh nặng kinh tế trách nhiệm với gia đình hai bên và điều chỉnh bản thân để đạt được sự hòa hợp. Những người trong cộng đồng người LGBT trong nghiên cứu đều cho rằng sống chung là chia sẻ, nhường nhịn và tự thay đổi để bản thân hòa hợp với cuộc sống chung. Đặc biệt khi họ nhận thấy rằng mối quan hệ đồng giới khó tìm và khó bền vững. Cuộc sống chung của những người đồng giới hiện nay đang tồn tại và phổ biến trong tất cả các nhóm đồng tính. Hầu hết họ tự sắp xếp cuộc sống chung về tài chính, nhà cửa, sinh hoạt hàng ngày… Tuy nhiên, khi sống chung, người đồng tính vẫn phải trải nghiệm nhiều khó khăn trong cuộc sống chung và tình yêu. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Trong cuộc điều tra về đồng tính nữ của iSEE năm 2012 có 92% người được hỏi (mẫu nghiên cứu trên 2.401 người) muốn pháp luật cho phép kết hôn đồng giới. Trong điều tra tương tự năm 2012 do trung tâm ICS thực hiện với hơn hai nghìn người đồng tính nam và đồng tính nữ tham gia thì 71% mong muốn được pháp luật cho phép kết hôn cùng giới, 25% muốn được sống chung có đăng ký và 4% muốn được sống chung không đăng ký. Trong nghiên cứu đồng tính nữ, nếu pháp luật cho phép, 77% cho rằng họ muốn kết hôn, 3% không muốn, 16% cho rằng kết hôn hay không không quan trọng và số còn lại không rõ mong muốn của mình. Về nhu cầu sinh con, 70% người đồng tính nữ muốn có con, 13% không muốn và 17 % không rõ.

Như vậy, người đồng tính ở Việt Nam rất đa dạng như một xã hội thu nhỏ. Họ đang công tác ở nhiều lĩnh vực khác nhau, họ cũng là con em, họ hàng, bạn bè hay đồng nghiệp. Điều khác biệt duy nhất là thiên hướng tính dục đồng giới, thay vì yêu người khác giới người đồng tính yêu người cùng giới. Tuy nhiên, do còn nhiều định kiến và kỳ thị nên người đồng tính đang gặp phải nhiều khó khăn, trở ngại trong cuộc sống, quyền con người của họ còn bị vi phạm. Do chưa được pháp luật cho phép nên quan hệ đồng giới còn nhiều khó khăn và trên thực tế đang có nhiều hậu quả pháp lý cần phải giải quyết.

2.1.2. Thực trạng người chuyển giới tại Việt Nam

Khái niệm người chuyển giới không chỉ giới hạn là những người đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính, mà cả những người có cảm nhận rõ ràng về giới tính thực của mình khác với giới tính sinh học và có xu hướng, mong muốn được chuyển đổi, mặc dù trên thực tế điều đó có thể chưa hoặc không bao giờ xảy ra. Điều này khiến cho việc xác định số lượng người chuyển giới ở Việt Nam rất khó khăn nếu họ không công khai. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Sự phát triển của xã hội hiện nay làm cho người đồng tính có thể tìm các diễn đàn mạng cho mình một cách dễ dàng, tuy nhiên đối với người chuyển giới lại chưa có một diễn đàn nào dành riêng cho họ. Vì vậy, hiện nay họ đang phải ẩn mình trong các diễn đàn và các câu lạc bộ dành cho đồng tính nam hoặc đồng tính nữ. Mặt khác, một số người chuyển giới cho biết người chuyển giới thường không dám bộc lộ mình ở quê, mà chỉ khi chuyển đến các thành phố lớn như Hà Nội hay thành phố Hồ Chí Minh họ mới dám thể hiện. Ngay cả khi ở các thành phố khác nhau việc bộ lộ của những người chuyển giới cũng khác nhau, phụ thuộc vào môi trường sống và sự chấp nhận của mọi người trong xã hội. Ở Hà Nội, người chuyển giới thường sống dè dặt và ít dám thể hiện mình, cũng như ít xuất hiện đơn lẻ ở nơi công cộng. Vì vậy, trừ những người đã phẫu thuật, nhiều người chuyển giới từ nam sang nữ ở Hà Nội vẫn phải sống hai mặt, ban ngày thì mặc đồ nam và chỉ khi đi chơi hoặc biểu diễn buổi tối mới dám trang điểm và mặc đồ nữ, vì vậy tạo cảm giác ở Hà Nội ít người chuyển giới hơn thành phố Hồ Chí Minh. Mặc dù, vẫn bị kỳ thị nhưng môi trường ở thành phố Hồ Chí Minh dường như cởi mở hơn so với Hà Nội, dễ sống hơn, các hoạt động cộng đồng sôi nổi hơn và người chuyển giới cũng dám thể hiện mình hơn. Những người chuyển giới từ nam sang nữ ở đây khá sôi nổi với các trang diễn đàn, các hoạt động biểu diễn thời trang, hát đám ma. Bên cạnh đó, do môi trường cởi mở hơn cũng là một trong những nguyên nhân thu hút nhiều người chuyển giới tập trung về đây hơn những nơi khác.

Có thể khái quát thực trạng đời sống xã hội của người chuyển giới tại Việt Nam trong thời gian qua một số nét sau:

  • Người chuyển giới ngày càng thể hiện rõ nét khao khát được sống đúng với giới tính của mình

Trước đây do nhiều nguyên nhân khác nhau như sự thiếu hiểu biết, sự kỳ thị của xã hội… mà người chuyển giới thường sống khép kín, giấu diếm thân phận của mình. Hiện nay, xã hội đã phát triển hơn, các quyền cá nhân của con người được đề cao hơn thì người chuyển giới đã mạnh dạn thể hiện bản thân hơn. Pháp luật Việt Nam chưa cho phép phẫu thuật chuyển đổi giới tính nên nhiều người chuyển giới khao khát được sống đúng với giới tính mong muốn của mình. Có nhiều người đã sang các quốc gia khác thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính (nơi pháp luật cho phép chuyển đổi giới tính như: Thái Lan, Hồng Kong). Tuy nhiên, chính bản thân họ cũng phải chịu nhiều điều tiếng của xã hội, cũng như nhiều khó khăn, đau đơn như: phải tiêm hormon suốt đời, giảm tuổi thọ, không thể sinh con, không được quyền kết hôn…

Thực tiễn, tại các bệnh viện của Việt Nam thời gian qua đã có không ít người tìm đến và thể hiện mong muốn được phẫu thuật chuyển đổi giới tính, ví dụ bác sĩ tại Bệnh viện Việt Đức cho biết sau khi bệnh viện thực hiện việc tạo hình bộ phận sinh dục thành công cho em Thành Nhân đã có không ít người tìm đến và thể hiện mong muốn được thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Việt Nam chỉ cho phép chỉnh sửa lại những khiếm khuyết do bộ nhiễm sắc thể gây ra, bất thường ở bộ phận sinh dục, vì vậy các bác sĩ không thể thực hiện việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính cho những người chuyển giới. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

  • Người chuyển giới đang phải gánh chịu sự kỳ thị của xã hội tương đối rõ nét

Bị kỳ thị và phân biệt đối xử là vấn đề nhức nhối đối với cộng đồng người LGBT, tuy nhiên sự kỳ thị đó đối với người chuyển giới dường như nặng nề hơn, rõ nét hơn so với những người đồng tính. Đối với những người đồng tính họ có thể cố gắng che dấu thiên hướng tính dục của mình thì người chuyển giới lại khao khát thể hiện bản dạng giới thông qua thể hiện giới. Người chuyển giới tại Việt Nam bị kỳ thị thông qua cả cách gọi và hành vi.

Về cách gọi, người chuyển giới thường bị gọi là Pê- đê; bóng; đồng cô; thế giới thứ ba…

Về hành vi, người chuyển giới có thể bị kỳ thị xa lánh hoặc đối xử tồi tệ từ gia đình, trường học cho đến không gian công cộng hay cuộc sống bên ngoài xã hội. Trong gia đình người chuyển giới thường bị bố mẹ đánh đập, cho rằng con mình mắc bệnh cần chữa trị hoặc có thể lờ đi không quan tâm. Trong trường học thầy cô, bạn học có thể phân biệt đối xử với người chuyển đổi giới tính vì cho rằng họ lệch lạc, đi ngược lại với truyền thống văn hóa. Đặc biệt đối với trẻ em LGBT nói chung và trẻ em chuyển giới nói riêng phải chịu đựng những sự kỳ thị, phân biệt đối xử rất lớn từ gia đình và xã hội, điều đó đã làm ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình phát triển của trẻ em. Nhiều trẻ em chuyển giới do bị kỳ thị đã bỏ học trở thành trẻ em lang thang đường phố.

Ngoài ra, người chuyển giới còn phải chịu sự kỳ thị và phân biệt đối xử ngay trong cộng đồng LGBT. Vì trong xã hội hiện nay nhiều người thường nhầm lẫn người chuyển giới với người đồng tính nên nhiều người đồng tính cho rằng vì người chuyển giới sống khá lộ liễu, đôi khi hơi thái quá hoặc có những hành vi không đúng đắn nên ảnh hưởng đến người đồng tính. Sự kỳ thị này vô hình chung đã làm gia tăng thêm mâu thuẫn trong cộng đồng người LGBT với nhau.

  • Người chuyển giới phải đối mặt với vấn đề không được công nhận giới tính mới trên giấy tờ

Ngày 05/08/2008, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 88/2008/NĐ-CP về “xác định lại giới tính” cho người liên giới tính (mà Nghị định gọi là “người có khuyết tật bẩm sinh về giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác”). Nghị định này mở ra cơ hội cho những người liên giới tính để phẫu thuật xác định giới tính nhưng đóng lại cơ hội cho những người chuyển giới phẫu thuật thành giới tính mong muốn của mình. Dù không trực tiếp đề cập tới những người chuyển giới, nhưng vô hình chung đây là văn bản duy nhất tới thời điểm hiện tại có quy định một vấn đề của người chuyển giới. Quan điểm ngầm trong Nghị định này là “nếu có khuyết tật bẩm sinh thì mới được phẫu thuật, còn nếu chỉ là mong muốn thì cấm.” Thể hiện ở Điều 4 khoản 1 nghiêm cấm “thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính.” Như vậy, pháp luật Việt Nam “đã cho phép những người liên giới tính xác định giới tính.” Về chính sách pháp luật này, hiện nay đang xảy ra hai vấn đề cơ bản sau:

Thứ nhất, cách dùng từ “xác định lại giới tính” là không chính xác. Không thể gọi là “lại” ở đây được. Người liên giới tính vốn dĩ sinh ra với trạng thái và đặc điểm cơ thể như vậy. Việc nghĩ rằng họ cần phải “xác định lại giới tính” thể hiện sự đóng khung của xã hội trong khuôn khổ “trắng – đen” mà không thừa nhận tồn tại của sự đa dạng. Chưa kể việc cho phẫu thuật sau sinh như vậy cũng là đi trái với xu hướng vận động trên thế giới hiện nay nhằm bảo vệ và tôn trọng quyền được tự quyết định của chính người liên giới tính. Việc phẫu thuật chỉ nên tín hành theo ý chí của người liên giới tính mà thôi, mà không nên căn cứ trên cảm quan của người khác hay mong muốn của cha mẹ, gia đình.

Thứ hai, trong phần nguyên tắc (Điều 3) có một khoản rất quan trọng nói rằng: “Bảo đảm mỗi người được sống theo đúng giới tính của mình.” “Đúng” ở đây nên được hiểu như thế nào? Một đứa trẻ liên giới tính không hoặc chưa có nhu cầu nhưng được cha mẹ cho đi phẫu thuật từ bé, có phải là “sống đúng với giới tính” chưa? Còn một người chuyển giới mong muốn được chuyển đổi giới tính nhưng bị ngăn cấm, có phải là “sống đúng với giới tính” chưa? Nội dung chính sách pháp luật này mang tính chủ quan, theo nhận định khách quan bên ngoài mà không phải tôn trọng ý chí, mong muốn của cá nhân mỗi người. Nói như vậy thì “giới tính đúng” của mỗi người phụ thuộc vào nhận định của những người xung quanh chứ không phụ thuộc vào cảm nhận của họ về giới tính của mình.

2.2. Một số vấn đề pháp lý về quyền kết hôn của người đồng tính, song tính Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

2.2.1. Quyền kết hôn là quyền cơ bản của con người

Như đã phân tích ở trên quyền con người được hiểu là những quyền cơ bản, bẩm sinh vốn có của con người và được áp dụng bình đẳng cho tất cả mọi thành viên trong gia đình nhân loại, không có sự phân biệt đối xử vì bất cứ lý do gì. Quyền con người bao gồm các trụ cột chính như tự do, bình đẳng và đoàn kết. Quyền con người bảo đảm sự bình đẳng, chẳng hạn như bảo vệ quyền bình đẳng chống lại mọi hình thức phân biệt đối xử trong hưởng thụ tất cả các quyền con người, bao gồm quyền bình đẳng đầy đủ giữa nam và nữ. Như vậy, quyền được kết hôn bình đẳng cũng là một trong những quyền cơ bản của con người.

Các quyền con người không thể bị tước bỏ hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, kể cả bởi nhà nước. Mọi sự giới hạn, hạn chế hay tước bỏ quyền của một cá nhân đều phải do pháp luật quy định và chỉ nhằm để bảo vệ lợi ích chính đáng, tương xứng của cộng đồng hay của cá nhân khác.

Như vậy, quyền được kết hôn bình đẳng của những người LGBT là quyền con người và nó cần phải được công nhận để đảm bảo sự bình đẳng cho mọi người, chống lại sự phân biệt đối xử. Mặt khác, quyền kết hôn bình đẳng của người LGBT không làm ảnh hưởng đến lợi ích của cộng đồng hay cá nhân khác, vì vậy nó không thể bị hạn chế.

Năm 1982 Việt Nam đã ký và phê chuẩn hai công ước về quyền con người là:

  • Công ước Quốc tế về các Quyền Kinh tế, Xã hội và Văn hóa; và
  • Công ước Quốc tế về các Quyền Dân sự và Chính trị.

Khi gia nhập vào những công ước này thì đồng nghĩa với việc Việt Nam chấp thuận các nghĩa vụ thúc đẩy và bảo vệ các quyền, đảm bảo sự tôn trọng quyền trong các chính sách, pháp luật và thực thi của nước mình

2.2.2. Thực trạng pháp luật về quyền kết hôn của người đồng tính, song tính Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Cần phải khẳng định lại rằng những cá nhân trong cộng đồng LGBT được hưởng đầy đủ các quyền nhân thân và quyền tài sản do pháp luật dân sự quy định cho mọi cá nhân. Do vậy, họ đều có năng lực pháp luật dân sự đầy đủ và bình đẳng như năng lực pháp luật dân sự của các cá nhân khác. Như vậy, các cá nhân trong cộng đồng người LGBT vẫn là chủ thể trong các quan hệ pháp luật dân sự như quan hệ sở hữu tài sản, quan hệ thừa kế, quan hệ bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng như nghĩa vụ tài sản trong quan hệ hợp đồng. Tuy nhiên, hiện nay do những đặc điểm về thiên hướng tính dục, bản dạng giới riêng của những người trong cộng đồng LGBT, các quy định của pháp luật được quy định cho tất cả mọi người lại vô tình hoặc hữu ý không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu, nguyện vọng cũng như chưa đảm bảo cho cộng đồng LGBT thực hiện được các quyền, lợi ích chính đáng mà pháp luật dân sự (bao gồm cả quan hệ hôn nhân và gia đình) quy định cho họ [2].

  • Về mối quan hệ sống chung của những người đồng tính

Từ trước đến nay gia đình trong quan niệm truyền thống của Việt Nam là sự kết hợp giữa một nam và một nữ và chức năng chủ yếu của hôn nhân vẫn là duy trì nòi giống. Tuy nhiên, trong những năm trở lại đây, thể chế hôn nhân và gia đình đã có những chuyển biến mới mẻ và không ngừng phát triển trong đó có nhiều vấn đề liên quan đến người đồng tính. Trên thế giới hiện nay có ba hình thức sống chung giữa những người đồng tính, đó là: kết hôn bình đẳng như những người dị tính; sống chung có đăng ký (kết hợp dân sự) áp dụng riêng cho các cặp đôi đồng tính và hình thức sống chung không có đăng ký, trong đó một số nước cũng cho phép những người chuyển giới được kết hôn. Tại Việt Nam những năm gần đây cộng đồng người LGBT đang ngày càng hiện diện rõ ràng hơn trong xã hội và nhu cầu cần được thừa nhận quan hệ hôn nhân phát sinh, (từ đó mà các nhu cầu khác như nuôi con nuôi, nhân thân, tài sản chung… cũng phát sinh theo) được thể hiện cụ thể ở các điểm sau:

  • Nhiều đám cưới đồng tính tự phát được tổ chức trong thời gian gần đây tại Việt Nam

Một số cặp đôi đã tổ chức lễ cưới đồng tính tại Việt Nam như: Đồng tính nữ (tháng 12/2012, tại Hà Nội); đồng tính nam (tháng 6/2011, tại thành phố Hồ Chí Minh); đồng tính nữ (2012 tại Cà Mau); đồng tính nam (tháng 5/2012, tại Kiên Giang)….. Việc tổ chức đám cưới chỉ có ý nghĩa về mặt tinh thần, như một thông báo về sự lựa chọn bạn đời và công khai thiên hướng tính dục mà không có ý nghĩa về mặt pháp lý. Tuy nhiên, đám cưới đồng tính tại Kiên Giang (tháng 5/2012) đã bị Ủy ban nhân dân phường xử phạt hành chính [47]. Thực tế hành vi xử phạt này là không đúng quy định của pháp luật vì bản thân cặp đôi này không có đăng ký kết hôn nên không vi phạm quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình (tại thời điểm đó Nghị định số 60/2009/NĐ-CP quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực tư pháp cũng không quy định hành vi đăng ký kết hôn cùng giới bị xử phạt vì nếu quy định như vậy là không thực tế) [3]. Bản thân khoản 5, Điều 10 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 chỉ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính (đăng ký kết hôn) chứ không cấm việc tổ chức đám cưới theo phong tục của Việt Nam. Điều này cho thấy sự tùy tiện trong hoạt động áp dụng pháp luật.

  • Nhu cầu được sống chung có đăng ký, được có quyền kết hôn bình đẳng, quyền được nhận nuôi con nuôi chung…của những người đồng tính ngày càng rõ nét hơn Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Theo khảo sát vào tháng 6 năm 2012 của Vnexpress, với câu hỏi “Là người đồng tính, nếu được Luật cho kết hôn thì bạn sẽ làm gì?”, trong số 1.299 người đồng tính có 856 người chiếm 65.9% sẽ công khai cưới người yêu, 296 người chiếm 22.8% sẽ chỉ đăng ký, không tổ chức cưới, 91 người chiếm 7% sẽ không cưới, không đăng ký mà về sống chung với nhau, có 28 người chiếm 2.2% sẽ không dám sống chung vì sợ lộ thân phận, còn lại 28 người chiếm 2.2% có ý kiến khác. Tương tự như vậy theo một nghiên cứu được công bố với sự tham gia của gần 2.500 người đã cho thấy khá nhiều sự lựa chọn của người đồng tính nếu được pháp luật thừa nhận quan hệ sống chung [40]. Trong đó, tỷ lệ người đồng tính sẽ đăng ký kết hôn ở mức cao nhất (xét trên cả phương diện mong muốn của người đồng tính cũng như dự đoán thái độ của cha mẹ họ khi họ thực hiện việc đăng ký kết hôn nếu pháp luật cho phép. Cụ thể được thể hiện thông qua các bảng sau đây:

  • Bảng 2.4: Lựa chọn của người đồng tính khi được cho phép kết hôn

Việc pháp luật chưa thừa nhận quan hệ sống chung của người đồng tính khiến họ gặp khó khăn trong quan hệ nhân thân, tài sản và các vấn đề an sinh xã hội khác.

Hiện nay pháp luật không cấm hai người đồng tính được sống chung với nhau nhưng cũng không công nhận bằng một hình thức pháp lý nào. Thực tế cho thấy việc sống chung của cặp đôi đồng tính là điều đang diễn ra phổ biến tại Việt Nam. Trong tổng mẫu nghiên cứu định lượng của một nghiên cứu gần đầy, có gần đến 62% người tham gia (trong tổng số gần 2.500 người) cho biết họ đang trong một mối quan hệ gắn kết với một người cùng giới [34]. Trong số này có đến 28,90% cặp đôi đồng tính đang sống chung có sở hữu chung tài sản có giá trị như ô tô, sổ tiết kiệm; 18,40% có góp vốn đầu tư, kinh doanh chung; 7,90% có nhà đất chung (đứng tên cả hai người).

Trên thực, tế hầu hết các cặp đôi tham gia trong nghiên cứu nói trên chưa trải nghiệm những khó khăn liên quan đến các thủ tục hành chính, pháp lý liên quan đến cuộc sống chung. Bản thân khi quyết định sống chung, họ đã hiểu những khó khăn về các quy định pháp lý, do đó đã có những bước chuẩn bị nhất định. Ví dụ, về việc chia tài sản để khi chia tay người có thu nhập thấp hơn vẫn có cuộc sống ổn định, hoặc sử dụng các giao dịch dân sự để cùng đứng tên tài sản. Tuy nhiên, có khá nhiều các vấn đề pháp lý liên quan trong cuộc sống chung nằm ngoài khả năng giải quyết của các cặp đôi, đặc biệt là các phúc lợi và quyền đại diện [34, tr.29]. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Các chế độ phúc lợi liên quan đến các tổ chức công đoàn, bảo hiểm xã hội… của các cơ quan nhà nước dành cho vợ/chồng của các cán bộ hoặc của các doanh nghiệp dành cho người lao động cũng không thể áp dụng đối với các cặp đôi đồng tính (đau ốm, hiếu hỷ…). Điều này cho thấy, thực tế sống chung của người đồng tính là có thật nhưng chưa được pháp luật công nhận nên vô hình chung khiến cho họ không được hưởng những phúc lợi đáng ra phải được hưởng.

Về mặt quan hệ tài sản, mặc dù các cặp đôi cùng giới hoàn toàn có thể đứng tên chung khi mua một mảnh đất, một căn nhà nhưng trong thực tế có nhiều cặp đôi tin tưởng nhau hoặc thiếu hiểu biết pháp luật nên chỉ có một người đứng tên, hoặc đối với những tài sản không đăng ký quyền sở hữu thì khó để xác định được. Mặt khác, trong cuộc sống chung họ đã tin tưởng và xem nhau là vợ chồng nên tài sản khó có thể phân chia rõ ràng. Bên cạnh đó cho dù họ có thể tự sắp xếp, phân chia tài sản trong quá trình chung sống, nhưng người này sẽ không được quyền thừa kế tài sản của người kia nếu một trong hai người qua đời đột ngột (trừ khi người chết có để lại di chúc khác). Trong hoàn cảnh này, sẽ có những tài sản chung phải bán đi để trả phần giá trị đó cho người nhà của người đã mất. Trong cuộc sống chung, nhiều tài sản không chỉ mang ý nghĩa giá trị vật chất mà còn có thể mang giá trị tinh thần, đặc biệt khi một người đã ra đi. Điều này có thể gây ra những trải nghiệm tâm lý rất nặng nề cho người ở lại.

Khi cặp đôi đồng tính khởi kiện ra Tòa án yêu cầu chia tài sản chung thì Tòa án căn cứ vào Luật hôn nhân và gia đình không công nhận quan hệ vợ chồng giữa hai người mà chỉ giải quyết việc chia tài sản theo chế độ chung sống như vợ chồng. Trong trường hợp một trong hai người qua đời thì người còn lại cũng bị tước đi quyền thừa kế di sản của người đã khuất. Bên cạnh đó, do không được thừa nhận quan hệ hôn nhân hợp pháp, cặp đôi cùng giới không có sự ràng buộc của pháp luật một cách chặt chẽ trong việc sử dụng và định đoạt khối tài sản chung này.Từ đó có thể dẫn đến những rủi ro pháp lý khi một trong hai người tự ý định đoạt tài sản chung mà chưa có sự chấp thuận của bên kia, có thể làm ảnh hưởng đến nguồn sống của gia đình, thậm chí xâm hại đến quyền, lợi ích của người kia. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

  • Về quyền đại diện cho nhau của các cặp đôi đồng tính

Theo khoản 1 Điều 139 Bộ luật dân sự năm 2005: “Đại diện là việc một người (sau đây gọi là người đại diện) nhân danh và vì lợi ích của người khác (sau đây gọi là người được đại diện) xác lập, thực hiện giao dịch dân sự trong phạm vi đại diện”. Trong giao lưu dân sự, phần lớn các chủ thể tự mình xác lập, thực hiện các giao dịch. Tuy nhiên, cũng có trường hợp vì nhiều lý do như bệnh tật, ốm đau, điều kiện công tác mà một người cần người khác thay thế mình thực hiện công việc, ta gọi quan hệ đó là quan hệ đại diện. Luật hôn nhân và gia đình đã quy định vấn đề đại diện cho nhau giữa vợ và chồng trên cơ sở phù hợp với Bộ luật dân sự.

Trên thực tế, mặc dù không được pháp luật thừa nhận nhưng những người đồng tính vẫn tự xây dựng cho mình quan hệ tình cảm và chung sống, họ tự coi nhau là vợ chồng. Trong nhiều trường hợp, người bạn đời của họ mới là người gần gũi nhất đối với họ chứ không phải là cha mẹ, anh chị em, họ hàng ruột thịt. Mặc dù pháp luật không thừa nhận nhưng họ vẫn xem nhau như một gia đình, giữa các thành viên có sự yêu thương chăm sóc, là chỗ dựa tinh thần của nhau, gắn bó với nhau không phải bằng nghĩa vụ pháp lý dưới hình thức của giấy tờ đăng ký kết hôn mà bằng sợ dây tình cảm. Vì vậy, cho dù pháp luật về hôn nhân và gia đình chưa thừa nhận việc kết hôn giữa những người cùng giới tính, nhưng họ xứng đáng được pháp luật thừa nhận quyền được đại diện cho nhau trong những trường hợp cần thiết, ví dụ như một người đau ốm phải điều trị tại bệnh viện, bị mất hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự cần có người giám hộ. Quy định như vậy mới bảo đảm tính nhân văn của pháp luật, phản ánh đúng giá trị văn hóa, truyền thống của người việt. Một cặp đôi đồng tính đã bày tỏ mối quan ngại về vấn đề này (khi một người là dân di cư từ tỉnh lên thành phố sinh sống): “Nếu có vấn đề xảy ra với Hằng, ví dụ như phải đi bệnh viện thì em không thể đứng ra ký các giấy tờ đại diện, đảm bảo… chẳng nhẽ mình cứ phải gọi người nhà từ quên lên mới giải quyết được, bọn em cũng không biết nên thế nào” (Thanh, nữ xx tuổi) [34, tr.29].

Để thực hiện được mục tiêu này, pháp luật hôn nhân và gia đình cần có sự ghi nhận mối quan hệ sống chung của các cặp đôi đồng tính dưới các hình thức pháp lý nhất định. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

  • Nhu cầu về con cái của cặp đôi đồng tính

Nhu cầu được sinh con, xin con nuôi chung là một nhu cầu chính đáng của người đồng tính ở Việt Nam. Hiện nay, ở nước ta chỉ quy định hỗ trợ sinh sản cho các vợ chồng hiếm muộn, nếu những người đồng tính nam muốn có con đẻ, họ phải sử dụng đến dịch vụ đẻ thuê (bất hợp pháp). Trong trường hợp này, người nam đồng tính cùng chung sống cũng không thể nhận là bố nuôi vì pháp luật quy định khi mối quan hệ con nuôi đã được xác định thì bố mẹ đẻ không còn quyền và nghĩa vụ với người con này nữa (khoản 4 Điều 24 Luật nuôi con nuôi 2010). Như vậy, rất khó duy trì cả quyền và nghĩa vụ của hai người đồng tính với đứa con. Tương tự như vậy, khi một người đồng tính nữ sinh con, người đồng tính cùng chung sống cũng không thể nhận là mẹ nuôi của đứa con và do đó không thể thực hiện quyền giám hộ khi cần thiết.

Đối với trường hợp nhận nuôi con nuôi chung (không phải con đẻ của hai người) của cặp đôi đồng tính cũng chưa được pháp luật về nuôi con nuôi cho phép. Trong những trường hợp này, tài sản dùng vào việc chăm sóc, nuôi dưỡng con nuôi sẽ là tài sản chung của hai người hay tài sản riêng? Mặt khác, quan hệ cha, mẹ, con, quan hệ thừa kế cũng không phát sinh mà giữa họ chỉ là có quan hệ như những người quen biết bình thường. Điều này không bảo đảm các điều kiện thuận lợi thông thường cho việc trông nom, nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đối với con nuôi, nhất là đối với người chưa thành niên.

Bên cạnh đó, Luật nuôi con nuôi năm 2010 quy định người nhận nuôi con nuôi phải có tư cách đạo đức tốt, có điều kiện thực tế để đảm bảo việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con nuôi. Đây là điều kiện hết sức quan trọng để bảo đảm cho người con nuôi, nhất là người con nuôi chưa thành niên, được nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục tốt, được sống trong một môi trường lành mạnh, thuận lợi cho sự phát triển về thể chất, trí tuệ và đạo đức. Tuy nhiên, trong xã hội nói chung và trong bộ máy chính quyền nói riêng hiện vẫn còn nhiều quan điểm phiến diện, sai lầm và thái độ kỳ thị đối với người đồng tính, cho rằng đây là một loại bệnh có thể ảnh hưởng không tốt đến sự phát triển bình thường của trẻ em, từ đó từ chối việc cho phép người đồng tính nhận nuôi con nuôi.

Qua những thông tin trên cho thấy nhu cầu được công nhận sống chung, được kết hôn, quan hệ tài sản, nhân thân… là những nhu cầu chính đáng của người đồng tính. Tuy nhiên, tại Việt Nam vẫn còn có những quan điểm khác nhau về vấn đề này, điều đó khiến cho những người đồng tính gặp rất nhiều khó khăn trong vấn đề con cái.

  • Quan niệm truyền thống về hôn nhân, gia đình Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Quan điểm truyền thống của Việt Nam bị chi phối bởi tư tưởng Nho giáo, do đó người Việt luôn coi trọng việc xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái để duy trì nòi giống, “trai khôn tìm vợ, gái ngoan tìm chồng”. Đặc điểm này đã chi phối đến các quan điểm của người dân Việt Nam đối với người đồng tính. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập như hiện nay các tư tưởng cởi mở hơn về người đồng tính cũng dần dần hình thành trong suy nghĩ của người dân. Điều này đã làm nên những thay đổi đáng kể trong thái độ của xã hội đối với người đồng tính ở Việt Nam trong thời gian qua.

Một câu hỏi luôn được đặt ra khi xem xét chủ đề hôn nhân cùng giới tại Việt Nam, đó là liệu hôn nhân cùng giới có làm suy thoái đạo đức, thay đổi chuẩn mực truyền thống hay không? Hôn nhân cùng giới liệu có làm suy thoái nòi giống, đi ngược lại giá trị cuộc sống hay không? Tác giả của những câu hỏi này không hề sai khi đặt ra chúng, nhưng nguyên nhân khiến cho mọi người đặt ra những câu hỏi đó là những định kiến, sự kỳ thị của xã hội. Vì vậy, thực chất của việc chấp nhận người đồng tính hay hôn nhân đồng giới là sự thay đổi định kiến, sự kỳ thị chứ không phải thay đổi chuẩn mực sống hay giá trị truyền thống. Mặt khác, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc kết hôn (sống chung) của những người cùng giới hay việc những đứa trẻ được nuôi dưỡng bởi hai người đồng tính hoàn toàn không làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của đứa trẻ, mà chính sự kỳ thị, phân biệt đối xử của những người trong xã hội đã làm ảnh hưởng đến sự phát triển bình thường của chúng.

Trong các quan điểm phản đối hiện nay, có thể thấy rõ nét nhất là quan điểm lo ngại về việc phá vỡ quan niệm “gia đình truyền thống”, phá vỡ chức năng cơ bản của gia đình là duy trì nòi giống. Tuy nhiên, trong thực tiễn vẫn chưa có một khái niệm đồng nhất về gia đình, tùy vào phương pháp tiếp cận và quan điểm người ta có thể đưa ra các quan niệm khác nhau về gia đình. Hiện nay, nhiều quốc gia đồng thuận một cách hiểu chung nhất: “Gia đình là đơn vị cơ bản của tổ chức xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mỗi thành viên nhất là trẻ em” [10]. Ở Việt Nam nước ta gia đình được xem là một tế bào xã hội có tính sản sinh với đầy đủ các yếu tố cấu thành của nó như vợ- chồng-con cái. Gia đình là tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn bó với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có vợ, chồng, cha mẹ, con cái [14]. Bên cạnh đó ở nước ta còn tồn tại khái niệm “hộ gia đình”. Vấn đề đặt ra là hộ gia đình và gia đình khác nhau như thế nào? Hộ gia đình bao gồm cả hộ đơn thân (chỉ có một người), hoặc trường hợp chỉ có hai mẹ con vẫn được gọi là hộ gia đình, nghĩa là hộ gia đình có thể không bao gồm quan hệ hôn nhân. Vậy câu hỏi đặt ra là những người đồng giới sống chung với nhau có được coi là hộ gia đình không? Và tại sao một người sống một mình được coi là hộ gia đình còn hai người sống chung thì không được coi là hộ gia đình? Điều này cho thấy sự bất cập, cũng như là sự gay gắt bởi những quan điểm, quan niệm và sự kỳ thị người đồng tính. Vì vậy, khái niệm gia đình hoàn toàn có thể thay đổi để có sự điều chỉnh phù hợp hơn với những trạng thái khác nhau trong xã hội. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Tại Việt Nam từ trước đến nay, hôn nhân vẫn được hiểu là sự kết hợp giữa nam và nữ, để duy trì nòi giống; gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau [29, Điều 3, Khoản 5]. Từ đó hình thành nên quan niệm hôn nhân chỉ có thể được tạo nên bởi một cặp đôi dị tính. Tuy nhiên, gia đình hiện nay lại là loại hình gia đình ở trong giai đoạn quá độ từ xã hội nông nghiệp sang xã hội công nghiệp hiện đại với nền kinh tế thị trường quốc gia và quốc tế [13]. Gia đình không còn là đơn vị tự thỏa mãn các nhu cầu, mà đã được sự trợ giúp của rất nhiều thiết chế xã hội khác (nhà trẻ, trường học, bệnh viện, nhà dưỡng lão). Ngay cả gia đình dị tính, sinh sản không còn là mục đích tối cao của hôn nhân. Gia đình vẫn hạnh phúc dù không có con, hoặc xin con nuôi. Nếu vô sinh mà muốn có con họ vẫn có thể sử dụng sự trợ giúp của y tế hiện đại, các chức năng đã được tải bớt ra ngoài gia đình. Riêng có một chức năng mà khó có một xã hội nào có thể gánh vác được, đó là chức năng thỏa mãn tình cảm đôi lứa. Chức năng này vốn bị coi nhẹ trong gia đình truyền thống, nay đã được đẩy lên hàng đầu. Như vậy, sự thay đổi về giá trị chức năng của gia đình đã và đang diễn ra ngay ở bản thân các gia đình dị tính. Nguyên nhân cơ bản của sự thay đổi giá trị gia đình lại nằm ở những biến động của đời sống kinh tế- xã hội- văn hóa và không liên quan gì đến liên kết hôn nhân đồng tính hay dị tính. Nếu sự phá vỡ những tiêu chí giá trị truyền thống có thể xảy ra ở cả gia đình dị tính, thì việc nói rằng hôn nhân đồng tính làm xói mòn giá trị truyền thống gia đình, là chưa có căn cứ.

“Quyền được mưu cầu hạnh phúc” là một trong những quyền quan trọng nhất của con người mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu ra trong Bản tuyên ngôn độc lập đầu tiên. Mỗi con người, dù với những bản dạng tính dục khác nhau đều có quyền kiếm tìm hạnh phúc. Nếu thừa nhận nhu cầu tình dục đồng giới không phải là bệnh (như Tổ chức Y tế thế giới đã nhấn mạnh năm 1990), mà là một xu hướng tự nhiên, không thể khuyến khích hay ngăn cản, thì việc hợp pháp hóa nhu cầu kết hôn của người đồng tính là việc nên làm. Trong xu thế phát triển chung của xã hội hiện nay, chúng ta nên chấp nhận sự đa dạng của các kiểu loại gia đình thay cho hình ảnh nhất thể hóa về kiểu loại, về cấu trúc gia đình truyền thống.

Ủy ban nhân quyền Liên hợp quốc đã lưu ý rằng “khái niệm gia đình có thể khác biệt trong vài khía cạnh, giữa các quốc gia và ngay giữa các tôn giáo và vì thế không thể đưa ra một định nghĩa chuẩn mực chung” [31]. Ủy ban Quyền trẻ em Liên hợp quốc đã tuyên bố điều này trong “Nhận định về môi trường gia đình”, rằng cần phản ánh “những cấu trúc gia đình khác nhau phát sinh từ các mẫu hình văn hóa và các quan hệ tình cảm gia đình đa dạng đang nổi lên” [32]. Một trong các quan hệ tình cảm gia đình đa dạng ở đây có thể được hiểu là sự đa dạng về thiên hướng tính dục, là một cơ sở quan trọng cho một gia đình của các cặp đôi đồng tính. Việc thừa nhận hôn nhân cùng giới cũng không thể làm suy thoái nòi giống như ý kiến của nhiều người bởi thực ra người đồng tính chỉ chiếm 3% trong tổng dân số của xã hội, đồng tính là tự nhiên không thể lây lan. Hơn nữa người đồng tính hoàn toàn có thể nhờ mang thai hộ hoặc xin con nuôi. Đây cũng là điều mà các nhà làm luật Việt Nam cần cân nhắc xem xét để bổ sung cho khái niệm về gia đình nhằm tạo ra sự công bằng cũng như thay đổi nhận thức về gia đình tại Việt Nam trong thời gian tới. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

  • Giá trị xã hội của pháp luật về quyền kết hôn giữa những người cùng giới tính

Quyền kết hôn được xem là một quyền thiêng liêng trong đời sống của mỗi cá nhân. Gắn với quyền này, một gia đình sẽ được hình thành, gắn kết với nhau bằng tình cảm, san sẻ giữa những thành viên trong gia đình. Do vậy, bảo vệ quyền của người đồng tính sẽ đảm bảo được giá trị xã hội của pháp luật, hướng đến tính công bằng- mục tiêu cao cả của pháp luật.

Một số quan điểm cũng lo ngại hôn nhân cùng giới sẽ ảnh hưởng đến gia đình và xã hội. Tuy nhiên quan ngại này không hoàn toàn đúng đắn. Thực tế ở các nước thừa nhận hôn nhân đồng giới như Đan Mạch, Hà Lan, Na Uy… đã cho thấy hôn nhân đồng giới không ảnh hưởng đến quan niệm xã hội về tầm quan trọng của hôn nhân truyền thống. Hôn nhân đồng giới có tính bình đẳng tương đối cao vì hai người ít có sự phân công lao động hay trách nhiệm theo giới. Quan sát ở các nước Bắc Âu cho thấy, sau khi thông qua luật cho phép những người đồng giới đăng ký sống chung, sự gắn bó của các cá nhân có tính lâu dài bởi đăng ký sống chung đồng nghĩa với cam kết hành vi chung thủy và do đó giảm lây truyền các bệnh qua đường tình dục. Sau 5 năm kể từ khi luật kết hôn đồng giới được thông qua tại Canada, nghiên cứu trên một nhóm quần thể đăng ký kết hôn đầu tiên cũng chỉ ra, các cặp đôi này có chỉ số thỏa mãn với cuộc sống chung tăng lên, lòng tự tin tăng lên và sự kỳ thị giảm đáng kể. Điều quan trọng là sự thay đổi này không chỉ diễn ra ở các cặp đăng ký sống chung mà còn cho cả cộng đồng những người đồng giới nói chung. Như vậy, các quy định luật pháp cho kết hôn đồng giới có ảnh hưởng rất tích cực đến sức khỏe cộng đồng và chi phí hiệu quả đối với các vấn đề liên quan phúc lợi xã hội. Như vậy, có thể nói hôn nhân đồng giới ảnh hưởng tích cực đến gia đình và xã hội chứ không làm suy thoái truyền thống như một số quan điểm lo ngại trong thời gian qua.

Ở Việt Nam chưa công nhận hình thức sống chung nào của người đồng tính nên chưa có nghiên cứu đánh giá tác động cụ thể của những hình thức này đến gia đình và xã hội. Tuy nhiên, một số nghiên cứu định lượng gần đây đã chỉ ra một loạt các tác động tiêu cực có thể xảy ra cho bản thân cộng đồng LGBT, cho gia đình của họ và cho cả xã hội nói chung khi không có sự công nhận pháp luật về kết đôi đồng giới [40, tr.36]. Những tác động đến cộng đồng LGBT: sự kỳ thị xã hội còn tiếp tục tiếp diễn ra (87%), người LGBT có thể bị trở thành nạn nhân của bạo lực gia đình hoặc bạo lực trường học (87.8%), không dám bộc lộ xu hướng tình dục (95.5%), kéo theo nhiều người kết hôn dị tính giả (89%), không đảm bảo quyền yêu thương và kết đôi (94%), không được đảm bảo sức khỏe tinh thần (93.9%), không có được đời sống và sức khỏe tình dục viên mãn (92.5%). Về các tác động đến gia đình của người LGBT, kết quả điều tra cho thấy: nếu không có sự công nhân của pháp luật, các gia đình của người LGBT sẽ phải chịu sự kỳ thị xã hội nặng nề (74.9%) vấn đề bạo hành gia đình vẫn còn tiếp diễn (62.4%). Với xã hội nói chung khi không có sự công nhân với kết hôn đồng giới, người tham gia trong nghiên cứu này nhận định rằng, sự kỳ thị của xã hội đối với người LGBT sẽ còn tiếp diễn nặng nề (71.2%), từ đó khiến cho người LGBT không tự tin tham gia đóng góp tích cực vào các hoạt động kinh tế – xã hội (78.1%), làm gia tăng nguy cơ lây lan HIV và các bệnh lây truyền qua đường tình dục (82.1%). Bên cạnh đó, bản thân các cặp đôi đồng tính trong nghiên cứu này cũng cho rằng nếu công nhận mối quan hệ sống chung và họ đăng ký kết hôn/ kết hợp dân sự thì sẽ làm cho mối quan hệ với gia đình tốt hơn, gắn kết với gia đình hơn….

Bên cạnh đó cũng có nhiều ý kiến đề xuất không nên cho phép các cặp đôi đồng tính kết hôn và sinh con, nuôi con hay nhận con nuôi chung vì có thể đứa trẻ sẽ không phát triển bình thường. Thời gian qua có nhiều nghiên cứu về việc nuôi con của gia đình đồng tính cho kết quả trái ngược nhau. Những lo ngại về việc nuôi con của người đồng tính là dễ hiểu trong bối cảnh xã hội chưa thực sự cởi mở và chấp nhận với những xu hướng gia đình mới. Hơn nữa, thái độ kỳ thị của xã hội cũng góp phần làm cho người con được nuôi nấng trong gia đình đồng tính có cảm giác bị coi thường, mặc cảm với cuộc sống gia đình của mình. Tuy nhiên, người con trong gia đình có bố mẹ là người đồng tính không vì thế mà trở thành người đồng tính (trừ khi bản chất người đó là người đồng tính). Tại Việt Nam dù chưa có những thống kê cụ thể nhưng qua tìm hiểu cho thấy nhiều cặp đôi đồng tính đã sống chung, cùng nuôi con cái (con riêng của một người) và thực tế người con vẫn phát triển bình thường. Điều mà họ lo ngại nhất là thái độ của xã hội sẽ ảnh hưởng đến tâm lý của người con do mình nuôi nấng.

Cũng theo khảo sát trên trang Dự thảo Online của Quốc hội [41] đến ngày 21/06/2013 thì có đến 17.383 người chiếm 90.4% người hoàn toàn đồng ý việc quy định công dân có quyền kết hôn với người cùng giới tính, có 533 người chiếm 2.8% không đồng ý vì việc quy định như vậy chưa phù hợp với điều kiện ở Việt Nam hiện nay, có 1.304 người chiếm 6.8% đồng ý nhưng cần có những điều kiện đặc biệt kèm theo. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Tuy nhiên, một số kết quả nghiên cứu thực định (khảo sát trực tuyến) thì lại cho thấy nhìn chung, quan niệm của xã hội về đồng tính cũng như hôn nhân đồng giới vẫn chưa được thay đổi một cách đáng kể. Ví dụ như theo nghiên cứu công bố năm 2012, có 77% người dân Việt Nam (ở 4 tỉnh/thành phố) được hỏi đồng ý bảo vệ quyền của người đồng tính nhưng trong số đó chỉ có 36.6% đồng ý cho người đồng tính có quyền kết hôn [20, tr.25,34,44].

Những khảo sát trên đây cho kết quả trái ngược nhau, nhưng cũng là điều dễ hiểu. Hình thức khảo sát qua các trang mạng không hoàn toàn thực chất (vì một người có thể bình chọn nhiều lần, trong đó có nhiều người đồng tính có thể bình chọn liên tục…). Trong khi đó, khi khảo sát qua phiếu hỏi trực tiếp thì sẽ phản ánh đúng thái độ cũng như nhận thức của người dân Việt Nam hiện nay hơn vì thực tế sự lo ngại, băn khoăn về quan hệ sống chung của người đồng tính luôn tồn tại ở bất kỳ quốc gia nào. Trong bối cảnh xã hội Việt Nam sự lo ngại các vấn đề liên quan đến quan hệ sống chung của người đồng tính là có thật. Có thể sự tiếp thu văn hóa mới đã làm cho người dân thay đổi quan điểm, giảm kỳ thị người đồng tính và thấy rằng cần bảo vệ họ nhưng để chấp nhận cho người đồng tính có quyền kết hôn đầy đủ, nhận con nuôi là điều khó khăn.

Bên cạnh đó, qua nhiều phương tiện truyền thông, báo chí cho thấy khá nhiều ý kiến cho rằng nên công nhận hình thức sống chung có đăng ký trước để qua đó có thể xem xét, nghiên cứu, đánh giá thêm việc tiến đến công nhận hôn nhân bình đẳng. Đây cũng là phương thức mà một số quốc gia công nhận hôn nhân bình đẳng đã từng áp dụng trước đây.

Có nhiều nguyên nhân khác nhau dẫn đến sự e ngại về sự gắn kết của cặp đôi đồng tính, phản đối việc công nhận hôn nhân đồng giới và vấn đề nuôi con nuôi của cặp đôi đồng tính, nhưng có lẽ nguyên nhân sâu xa nhất là mối quan hệ đồng giới vẫn chưa thực sự được hiểu, cảm nhận một cách đầy đủ, đúng đắn và phổ biến tại Việt Nam. Điều này cũng được thể hiện qua kết quả khảo sát của Báo người lao động điện tử, khi có 335 người cho rằng cần thận trọng khi cho phép hôn nhân cùng giới vì trình độ nhận thức của người dân về đồng tính còn hạn chế.

Tất cả các vấn đề nêu trên đều được quan tâm, cân nhắc trong quá trình sửa đổi Hiến pháp năm 1992 và Luật hôn nhân và gia đình năm 2000 thời gian qua. Ban soạn thảo cũng đã đưa vấn đề này ra tham vấn, đồng thời cũng đã có khá nhiều ý kiến khi góp ý dự thảo đã đề xuất nên công nhận quyền kết hôn của người đồng tính. Trên trang duthaoonline.quochoi.vn của Quốc hội cũng đã nhận được không ít các ý kiến đóng góp của người dân khắp nơi về vấn đề hôn nhân đồng tính. Bên cạnh đó, các hoạt động nhằm kêu gọi ủng hộ hôn nhân đồng tính cũng được tổ chức trên khắp cả nước như sự kiện Hand and hand; nhảy flashmob; phong trào Tôi đồng ý  từ đó cho thấy đây là nhu cầu thực tế và chính đáng.

2.3. Vấn đề pháp lý liên quan đến người chuyển giới tại Việt Nam hiện nay Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

  • Về các quyền của người chuyển giới

Như đã nêu, pháp luật hiện hành không thừa nhận việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính đối với người đã hoàn thiện về mặt giới tính. Có thể thấy pháp luật mới chỉ quan tâm đến vấn đề giới tính sinh học đã hoàn thiện, chưa bao quát được sự đa dạng về bản dạng giới của con người. Nhiều người chuyển giới Việt Nam vì mong muốn được sống đúng với giới tính của mình nên đã ra nước ngoài (Thái Lan, Hồng Kông) để phẫu thuật. Sau khi phẫu thuật, người chuyển giới phải chịu đựng rất nhiều vấn đề: giảm tuổi thọ, thường xuyên tiêm hormone, không có khả năng sinh sản… Tuy nhiên, bản thân họ vẫn mong muốn được sống với giới tính thật dù chỉ “trong một giờ” [42].

Có thể thấy, nhu cầu được công nhận, có quyền phẫu thuật chuyển đổi giới tính của người chuyển giới Việt Nam là có thật và ngày càng nhiều người chuyển giới thực hiện mong muốn của mình bằng cách phẫu thuật chuyển đổi giới tính. Vì vậy, việc không công nhận quyền này, nhiều người chuyển giới sẽ dễ rơi vào tình trạng hình thể dễ đổi còn hộ tịch khó thay. Gần đây, thông tin về anh Phạm Văn Hiệp sau khi sang Thái Lan phẫu thuật được chính quyền huyện Chơn Thành, tỉnh Bình Phước cho làm lại giấy tờ tùy thân như khai sinh chứng minh nhân dân, giấy phép lái xe… với giới tính mới là nữ và tên mới là Phạm Lê Quỳnh Trâm khiến cộng đồng người chuyển giới rất quan tâm. Thực tế khi siêu âm cho thấy anh Hiệp có buồng trứng và tử cung. Do đó, anh là người liên giới tính (có bất thường bẩm sinh về bộ phận sinh dục) nên được cho phép xác định lại giới tính. Nhiều người chuyển giới không phân biệt được vấn đề này nên đã hy vọng được làm lại giấy tờ như anh Hiệp [43].

Tuy nhiên ngày 21/01/2013, UBND tỉnh Bình Phước trên cơ sở tham mưu của Sở Tư pháp đã ra quyết định thu hồi 2 quyết định số 6876/QĐ- UBND ngày 5/9/2011, Quyết định 5877/QĐ-UBND ngày 06/11/2009 của UBND huyện Chơn Thành về xác định lại giới tính cho anh Phạm Văn Hiệp từ nam sang nữ và đổi tên thành Phạm Lê Quỳnh Trâm. Sở Tư pháp cho rằng anh Hiệp được Bệnh viện đa khoa tỉnh Bình Phước xác nhận mang giới tính nữ là không có giá trị vì bệnh viện này không có chức năng xác định lại giới tính. Hiện nay, ở nước ta mới có bốn cơ sở y tế được thực hiện chức năng phẫu thuật xác định lại giới tính là Bệnh viện Nhi Đồng 2, thành phố Hồ Chí Minh; Bệnh viện Nhi trung ương; Bệnh viện hữu nghị Việt Đức và Bệnh viện Phụ sản trung ương. Do đó anh Hiệp không thuộc đối tượng được xác định lại giới tính theo quy định pháp luật.

Điều mà hầu hết người chuyển giới Việt Nam mong muốn là được pháp luật công nhận, cho phép phẫu thuật chuyển đổi giới tính để họ được sống thật với giới tính mong muốn. Bên cạnh đó, họ cũng mong muốn được có một hạnh phúc, một mái ấm đúng nghĩa, tuy nhiên mong muốn đầu tiên vẫn là được sống đúng với giới tính mà họ mong muốn, chính vì vậy, nhu cầu kết hôn của người chuyển giới mặc dù chắc chắn ai cũng mong muốn nhưng vẫn chưa được thể hiện rõ, chưa được thống kê định lượng trong các nghiên cứu như người đồng tính. Ngoài ra vấn đề con cái đối với người chuyển giới cũng gặp rất nhiều khó khăn, vì kể cả khi họ đã phẫu thuật chuyển đổi giới tính thì cũng sẽ không được nhận con nuôi vì bản thân hình thể và giấy tờ hộ tịch là khác nhau. Nhìn chung, Bộ luật dân sự năm 2005 và Nghị định số 88/2008/NĐ-CP đã cho thấy những bất cập nhất định trong việc áp dụng đối với người chuyển giới ở Việt Nam, chưa đáp ứng được nhu cầu đa dạng của bản dạng giới trong xã hội hiện nay.

Để khắc phục những bất cập của pháp luật hiện hành, khoản 2 Điều 36 dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) (được trình Quốc hội tại kỳ họp thứ 9 quốc hội khóa XIII) có quy định về chuyển đổi giới tính như sau:

  • Nhà nước không thừa nhận việc chuyển đổi giới tính. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Trường hợp cá nhân đã chuyển đổi giới tính thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi hộ tịch và có các quyền nhân thân khác theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Quy định này đã phần nào thể hiện được đòi hỏi, nhu cầu của những người LGBT, tuy nhiên các câu trong khoản 2 này mâu thuẫn nhau, gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật.

2.4. Một vài khoảng trống trong quy định pháp luật và thi hành pháp luật đối với người LGBT

Ngoài những vấn đề đã nêu ở trên, hệ thống pháp luật Việt Nam hiện nay vẫn còn những khoảng trống dẫn đến việc không bảo vệ được quyền của người LGBT.

  • Thứ nhất, các quy định về bí mật đời tư chưa bảo vệ được công dân nói chung và người LGBT nói riêng

Về cơ bản người LGBT được bảo vệ bí mật đời tư trên phương diện pháp luật. Các quy định tại Điều 31, 37, 38 của Bộ luật Dân sự năm 2005 đã quy định các quyền nhân thân của cá nhân: quyền của cá nhân đối với hình ảnh, quyền bí mật đời tư, quyền được bảo vệ danh dự, nhân phẩm, uy tín. Tuy nhiên, trên thực tế, những quyền này đang bị xâm phạm khá phổ biến trong xã hội (cả người dị tính lẫn người LGBT). Đặc biệt, đối với người LGBT, nếu bị xâm phạm, tung tin đồn về thiên hướng tính dục hoặc bản dạng giới của mình, đưa hình ảnh lên mạng, bình phẩm (người chuyển giới) họ thường chịu áp lực lớn hơn so với người dị tính. Khi đó, người LGBT thường rơi vào thế khó xử và khủng hoảng tinh thần,…

Những quyền được nêu ở trên (đối với hình ảnh, bí mật đời tư, danh dự, nhân phẩm…) thực ra vẫn chưa đủ để bảo vệ quyền nhân thân của mọi công dân. Quyền tôn trọng đời sống riêng tư được hiểu như quyền được pháp luật bảo hộ chống lại những can thiệp hay xâm hại đến: sự riêng tư về thông tin cá nhân; sự riêng tư về cơ thể, liên quan đến việc bảo vệ thân thể (vật chất) của người dân. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Quyền bí mật đời tư bao gồm các nội dung sau: (i) Quyền được phép giữ kín thông tin, tư liệu, sự kiện, hoàn cảnh liên quan đến đời tư của mình và không có nghĩa vụ phải công khai; quyền bất khả xâm phạm về thư tín, điện thoại, điện tín và các thông tin điện tử khác; (ii) cá nhân và các chủ thể khác không được tự ý tiếp cận và công bố các thông tin về đời tư cũng như không được kiểm soát thư tín, điện thoại, điện tín, các thông tin điện tử khác của cá nhân khi chưa được sự đồng ý của “chủ sở hữu” hoặc sự cho phép của cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Chúng ta có thể thấy, pháp luật nói chung, pháp luật Việt Nam nói riêng luôn tôn trọng sự riêng tư của cá nhân (quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, quyền lựa chọn công việc cho phù hợp với khả năng và điều kiện của bản thân, quyền tự do ngôn luận, tự do tín ngưỡng…).

Tôn trọng quyền riêng tư là một yêu cầu tất yếu đặt ra cho tất cả mọi người, buộc mọi người phải tuân thủ. Sở dĩ vấn đề này cần được xem xét kỹ lưỡng hơn so với người LGBT vì trong quan điểm chung của xã hội, người LGBT được xem như một hiện tượng kỳ lạ, khác biệt với số đông nhân loại còn lại, đời sống riêng tư của họ không thể tránh khỏi sự tò mò, soi mói của người khác. Đó là hành vi vi phạm quyền riêng tư của con người. Ở một mức độ khác, sự xâm phạm quyền riêng tư trên có thể kèm theo các hành vi tiêu cực như đánh đập, xúc phạm nhân phẩm hoặc cản trở đời sống bình thường của người LGBT. Do vậy, cần có những quy định cụ thể, về tôn trọng quyền riêng tư của người đồng tính để bảo đảm cho người đồng tính sống một cuộc sống bình thường, được tôn trọng và được đối xử bình đẳng như những người khác.

  • Thứ hai, về vấn đề phòng chống bạo lực gia đình đối với người LGBT trong gia đình

Thực tiễn hiện nay có khá nhiều trường hợp cha mẹ kỳ thị, đánh đập, đối xử tệ bạc đối với con cái nếu biết con mình là người đồng tính hay chuyển giới. Nhìn chung đa số các bậc cha mẹ có cảm xúc sốc, thất vọng, tội lỗi, tức giận và mất mát. Nhiều người nghĩ mình là nguyên nhân gây ra lỗi trong thiên hướng tính dục/bản dạng giới của con nên họ xấu hổ, bẽ bàng, tự dằn vặt mình.

Nhiều người lo lắng vì xã hội còn có những biểu hiện kỳ thị đối với người đồng tính, chuyển giới nên lo sợ con của họ sẽ cô đơn và không hạnh phúc, bị ruồng bỏ bởi cộng đồng, phải đối mặt với định kiến và bạo lực, không có khả năng sinh con nối dõi tông đường. Nhiều gia đình tìm mọi cách che đậy và không tiết lộ về thiên hướng tính dục của con với người khác hoặc cho rằng đó là một loại bệnh nên tìm mọi cách để chữa trị. Đó là những vấn đề hết sức đáng báo động, cần phải có những bổ sung về mặt chính sách để bảo vệ người LGBT ngay trong chính gia đình- tế bảo của xã hội. Nếu ngay chính người thân, họ hàng, gia đình không có thái độ thông cảm, thương yêu, động viên từ đó làm cho con cái (người LGBT) rơi vào bế tắc trong tình cảm, cuộc sống, dẫn đến các hậu quả đáng tiếc. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Một thực tế nữa có thể thấy là có những người đồng tính vì sức ép của gia đình, xã hội mà phải lập gia đình với người khác giới khi không có tình yêu để rồi phải sống trái với thiên hướng tính dục và thậm chí là chịu sự bảo hành, nhất là những cô gái lesbian phải chịu sự bạo hành của chồng. Sự bạo hành kể trên xuất phát từ sự kỳ thị của xã hội, nhiều người cho rằng đồng tính là một loại bệnh, một sự sa đọa đạo đức, từ đó dẫn đến việc khinh ghét họ. Nếu mọi người hiểu rõ hơn về bản chất của hiện tượng đồng tính để có sự tôn trọng và thông cảm, những người đồng tính sẽ được sống đúng là mình và những bi kịch do bạo hành cũng giảm đi.

Qua các phân tích trên, có thể thấy pháp luật (đặc biệt là Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007) chưa có tác dụng tích cực trong việc phòng chống bạo lực gia đình cho công dân nói chung và người LGBT nói riêng khỏi những hành động đánh đập, bạo ngược, ngược đãi do sự kỳ thị.

  • Thứ ba, các chính sách bảo vệ trẻ em là người LGBT, nhất là trẻ em LGBT lang thang, cơ nhỡ còn trống vắng trong hệ thống pháp luật Việt Nam

Việc bộc lộ thiên hướng tính dục hay bản dạng giới ở mỗi người khác nhau là khác nhau. Có người nhận thức được đầy đủ thiên hướng tính dục của mình, nhưng có người phải đến khi trưởng thành mới nhận thức rõ ràng. Trong đó, có nhiều trẻ em chưa thành niên cũng đã nhận thức được về sự khác biệt của bản thân mình. Nghiên cứu định tính về trẻ em LGBT đường phố năm 2012 của Viện ISEE cho thấy, trẻ em LGBT đường phố thường bỏ nhà đi vì không chịu nổi sự kỳ thị và bạo lực trong gia đình khi bố mẹ biết về thiên hướng tính dục của các em. Lý do cha mẹ không chấp nhận tình dục đồng giới vì cho rằng đó là “thứ”, bệnh hoạn, băng hoại đạo đức, một bệnh lây truyền cần phải rũ bỏ. Tuy nhiên, cũng nhiều trẻ em bỏ nhà đi vì cảm giác trống trải không có ai chia sẻ, đồng cảm về thiên hướng tính dục của mình. Nhất là ở môi trường nông thôn các em luôn có cảm giác cô độc với cộng đồng xung quanh, luôn thắc mắc, nghi vấn về bản thân mình do hầu như không có cơ hội để tiếp cận thông tin về đa dạng tình dục, không có cơ hội gặp gỡ những người đồng tính như mình. Khi lên thành phố và được gặp gỡ các bạn đồng tính khiến các em có cuộc sống cân bằng hơn, mặc dù túng thiếu và rủi ro nhiều hơn. Cuộc sống lang thang đường phố, túng thiếu buộc các em phải kiếm sống bằng nhiều cách khác nhau trong đó không tránh khỏi các tệ nạn xã hội như trộm cắp, mại dâm… thậm chí các em còn bị hiếp dâm, bị ép bán dâm, bị trấn lột hoặc đói khát, ốm đau.

Có thể thấy sự kỳ thị của gia đình và xã hội đã đẩy trẻ em LGBT ra đường phố, cô lập các em khiến các em phải chịu không ít những rủi ro, đau khổ. Cuộc sống đường phố đã tách các em ra khỏi những quyền cơ bản mà các em đáng được hưởng: quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, được chăm sóc y tế và được học tập; đồng thời đặt các em trước nhiều nguy cơ bị lạm dụng tình dục, bấp bênh về việc làm trong tương lai. Có thể nói, trẻ em lang thang LGBT là những trẻ em “ba lần dễ bị tổn thương”: là trẻ em, sống lang thang và là người LGBT [46]. Có thể thấy các chính sách, chương trình của Chính phủ chưa được ghi nhận một cách rõ ràng về sự tồn tại của trẻ em nói chung và với cộng đồng LGBT nói riêng để đảm bảo quyền bình đẳng cho tất cả mọi người. Có lẽ đã đến lúc ở Việt Nam chúng ta cần bàn lại nhu cầu của trẻ em và những người LGBT. Điều này cho thấy, pháp luật nói chung và Luật bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em năm 2004 cần có sự hoàn thiện hơn các quy định cũng như cơ chế thực thi để có thể thực sự bảo vệ nhóm trẻ em LGBT.

  • Thứ tư, bất cập trong thi hành pháp luật dẫn đến khó khăn trong cơ hội việc làm và rủi ro về sức khỏe, y tế của người LGBT Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

Pháp luật hiện hành không có quy định nào liên quan đến chống phân biệt đối xử, kỳ thị vì thiên hướng tính dục hay bản dạng giới. Hơn nữa, nhận thức, trình độ của nhiều người trong xã hội còn rất hạn hẹp. Vì vậy, thực tế có nhiều trường hợp người LGBT bị từ chối khi đi xin việc; bị sa thải vì là người LGBT (được đưa ra những lý do khác nhau, không đề cập trực tiếp đến vì lý do là người LGBT). Theo một khảo sát gần đây, có 1,3% người đồng tính bị mất việc do thiên hướng tính dục của mình [34].

Riêng đối với người chuyển giới, vừa bị kỳ thị của xã hội và của chính cộng đồng người LGBT, vừa không xin được việc làm nên họ thường co cụm trong cộng đồng nhỏ bé của mình. Về cơ hội việc làm, khác với người đồng tính, người chuyển giới với việc khao khát được chuyển đổi giới tính nên thường có vẻ bề ngoài, ăn mặc khác với giới tính mình đang có. Từ đó, người chuyển giới thường khó có cơ hội xin việc làm do bị kỳ thị. Một số nghề mà người chuyển giới hay làm là để mua vui cho người khác (hát đám ma, phục vụ quán bar, vũ trường hay đi bán dâm…). Thời gian gần đây báo chí Việt Nam đã có khá nhiều bài viết phản ánh những thực tế đáng buồn này. Đặc biệt, đối tượng trẻ em đường phố là người chuyển giới đi làm những công việc này thường gặp những rủi ro rất lớn cho bản thân. Từ đó người chuyển giới thường có nhiều rủi ro về mặt sức khỏe. Một mặt, do sự kỳ thị, xa lánh nên họ thiếu kiến thức về quan hệ tình dục dễ bị lây nhiễm các căn bệnh khó chữa. Mặt khác, người chuyển giới ở Việt Nam, đặc biệt là những người làm nghề như hát đám ma, bán dâm, trẻ em lang thang… thường bị ảnh hưởng sức khỏe rất nhiều do công việc hoặc bị lạm dụng. Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người

One thought on “Luận văn: Thực trạng kết hôn người LGBT về quyền con người

  1. Pingback: Luận văn: Kết hôn giữa những người LGBT về quyền con người

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464