Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch từ thực tiễn Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Tổng quan các yếu tố tự nhiên, kinh tế – xã hội tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Quận 7, thành phố Hồ Chí Minh được thành lập theo Nghị định 03/CP của Chính phủ, ngày 01/04/1997 từ 05 xã phía Bắc và một phần Thị trấn Nhà Bè, Quận 7 đã hình thành với diện tích tự nhiên là 3.576 ha trong đó đất chuyên dùng và xây dựng chiếm 1.171,34 ha, đất nông nghiệp là 1.368,9 ha, phần còn lại là diện tích sông, kênh rạch. Phía Bắc giáp quận 2 và quận 4; Phía Nam giáp huyện Nhà Bè; Phía Đông giáp quận 2, Đồng Nai; Phía Tây giáp quận 8 và huyện Bình Chánh.
Quận 7 có 10 phường bao gồm: Phú Thuận, Phú Mỹ, Tân Thuận Tây, Tân Thuận Đông, Tân Phú, Bình Thuận, Tân Quy, Tân Kiểng, Tân Hưng, Tân Phong; phường diện tích nhỏ nhất là phường Tân Quy có diện tích 86 ha, phường diện tích lớn nhất là phường Phú Thuận có diện tích 829 ha, Tình hình dân cư có đặc điểm: Dân số là 90.920 nhân khẩu kể từ khi được thành lập vào tháng 4 năm 1997, số liệu thống kê đến tháng 12 năm 1997 dân số đã tăng lên 97.806 người, tăng 7,57%; tính đến ngày 01/04/2019 dân số của quận đã lên đến 378.683 người, tốc độ tăng dân số đã lên đến 9,38% so với năm 1997. Dân số có tuổi đời từ 15-34 chiếm 42,3% dân số của toàn quận. Dân cư phân bố không đều, mật độ dân số bình quân là 3.310 người/km2. Dân số có hộ khẩu thường trú, tạm trú tại quận 7 là 71% số hộ và 72% số nhân khẩụ Tỷ lệ số dân ở diện KT2, KT3, KT4 chiếm 36% số hộ và 28% số nhân khẩu.
Quận 7 có điều kiện phát triển kinh tế, xã hội, là nơi có khả năng thu hút đầu tư trong và ngoài nước. Khu chế xuất Tân Thuận trên địa bàn quận là một trong những khu chế xuất lớn và hiệu quả nhất của thành phố. Quận 7 đã và đang hình thành một số khu đô thị mới như khu đô thị Cityland Riverside, khu đô thị Phú Mỹ Hưng, khu đô thị Him Lam – Kênh Tẻ, khu đô thị Nam Phú Villas,…
2.2. Thực trạng thực hiện pháp luật về hộ tịch tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Đăng ký và quản lý hộ tịch là lĩnh vực quan trọng của đời sống xã hội, có ý nghĩa thiết thực đối với đời sống của nhân dân. Trong thời gian vừa qua, với sự phân cấp thẩm quyền mạnh mẽ, cùng với cải cách hành chính và cải cách tư pháp đã làm cho công tác hộ tịch ở Quận 7 đạt kết quả cao. Điều đó góp phần làm tốt công tác quản lý nhà nước về dân số, phản ánh được thực trạng dân số. Từ đó cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền có thể đưa ra những chính sách đúng đắn và hợp lý về dân số.
2.2.1 Kết quả đăng ký hộ tịch trên địa bàn Quận 7
Trong thời gian vừa qua, công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch của Quận 7 luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo của Ủy ban nhân Quận 7 và sự hướng dẫn về chuyên môn của Sở Tư pháp TP Hồ Chí Minh. Nhìn chung công tác hộ tịch được thực hiện tốt, hiệu quả đăng kí hộ tịch ngày càng đáp ứng được yêu cầu, nguyện vọng của nhân dân. UBND Quận đã thực hiện tốt công tác cải cách thủ tục hành chính và thực hiện cơ chế một cửa trong lĩnh vụ đăng ký và quản lý hộ tịch, Quận đã tổ chức triển khai đưa Luật Hộ tịch năm 2014, Nghị định số 123/2015/NĐ-CP và Thông tư 15/2015TT-BTP vào cuộc sống, với những quy định mang tính cải cách mạnh mẽ, sâu rộng và khá triệt để về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, thời gian giải quyết đăng ký hộ tịch, tạo điều kiện thuận lợi hơn trong việc giải quyết đăng ký hộ tịch cho người dân, đồng thời đảm bảo hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác hộ tịch tại địa phương. Do đó, công tác đăng ký và quản lý hộ tịch của Quận 7 đã đi vào nền nếp.
- Về đăng ký kết hôn:
Đối với địa bàn Quận 7 việc đăng ký kết hôn tại các phường chủ yếu là nam, nữ trên cùng địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, một số ít khác địa bàn thành phố; đủ điều kiện và tự nguyện khi đăng ký kết hôn, không có khiếu nại, tố cáo liên quan đến lĩnh vực này.
- Bảng 2.1: Số liệu các trường hợp đăng ký kết hôn từ năm 2015 – 2019
- Biểu đồ 2.1: Các trường hợp đăng ký kết hôn từ năm 2015 – 2019
Từ số liệu thống kê 5 năm từ năm 2015 đến năm 2019 ta thấy hoạt động đăng ký kết hôn trên địa bàn Quận 7 không có biến động nhiều. Một số trường hợp đăng ký lại kết hôn là do đã đăng ký kết hôn trước ngày 01/01/2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại. Căn cứ vào Điều 24 Nghị định 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 quy định về điều kiện đăng ký lại kết hôn như sau:
“Điều 24. Điều kiện đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
- Việc khai sinh, kết hôn, khai tử đã được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam trước ngày 01 tháng 01 năm 2016 nhưng Sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đều bị mất thì được đăng ký lại.
- Người yêu cầu đăng ký lại khai sinh, kết hôn, khai tử có trách nhiệm nộp đầy đủ bản sao giấy tờ, tài liệu có nội dung liên quan đến việc đăng ký lại.
- Việc đăng ký lại khai sinh, kết hôn chỉ được thực hiện nếu người yêu cầu đăng ký còn sống vào thời điểm tiếp nhận hồ sơ”
Về đăng ký khai sinh:
Thực hiện Luật Hộ tịch năm 2014, việc đăng ký khai sinh đã có nhiều chuyển biến tích cực về thủ tục, trình tự, cách thức được thực hiện nhanh chóng, loại bỏ một số giấy tờ không cần thiết, đáp ứng được yêu cầu của người dân trên địa bàn quận 7. Do đó, việc đăng ký khai sinh đúng hạn đạt tỷ lệ ngày càng cao hơn so với những năm trước đó.
- Bảng 2.2: Số liệu kết quả đăng ký khai sinh từ năm 2015 – 2019
- Biểu đồ 2.2: Tỉ lệ đăng ký khai sinh quá hạn và đăng ký lại khai sinh từ năm 2015 – 2019
Từ số liệu thống kê trên ta thấy tỉ lệ đăng ký khai sinh quá hạn ngày một giảm do ý thức chấp hành pháp luật của nhân dân được nâng cao. Công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật thực hiện pháp luật về hộ tịch đã đem lại hiệu quả thiết thực, đi vào đời sống thực tiễn của nhân dân
- Về đăng ký khai tử:
Đăng ký khai tử là việc người thân, hoặc liên quan tiến hành đăng ký khai tử cho người thân chết tại ủy ban nhân dân phường, trực tiếp là làm thủ tục khai với cán bộ công chức hộ tịch – tư pháp phường. Tuy nhiên, trên thực tế số đăng ký khai tử thường không được thực hiện đúng thời gian quy định. Thời gian khai tử đối với người chết là trong 15 ngày, theo quy định tại Nghị định 158/2005/NĐ-CP và hiện nay là Luật Hộ tịch năm 2014. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
- Bảng 2.3: Thống kê số liệu đăng ký khai tử trên địa bàn Quận 7 từ năm 2015 – 2019
- Biểu đồ 2.3: Tỉ lệ khai tử đúng hạn, quá hạn trên địa bàn Quận 7 từ năm 2015 – 2019
Kết quả thống kê số liệu khai tử là cơ sở để cơ quan quản lý nhà nước quản lý sự biến động tự nhiên của dân cư, nắm nguyên nhân chết để có biện pháp nâng cao tuổi thọ của người dân.
Từ số liệu trên ta thấy tỉ lệ chênh lệch quá hạn 37,3% so với tỉ lệ đúng hạn là 62,7% do nguyên nhân đó là: Quyền lợi của công dân chỉ thực hiện đăng ký khai tử khi có liên quan đến quyền lợi của mình. Ví dụ như: chia tài sản thừa kế hoặc kết hôn với người khác … mặc dù được miễn lệ phí, trình tự thực hiện đơn giản, dễ thực hiện, phù hợp với người dân nhưng việc ký khai tử vẫn còn rất ít, việc đăng ký quá hạn nhiều năm, nên rất khó xác định chính xác các của thông tin đăng ký. Hiện tại đối với những trường hợp này, công chức tư pháp- hộ tịch phường cơ bản căn cứ vào tờ khai, bản tường trình trong đó có xác nhận của những người làm chứng hoặc người cam đoan, từ đó xác minh để đăng ký khai tử, công tác đăng ký khai tử trong những năm qua tại các phường trên địa bàn Quận 7 không có khiếu nại, tố cáo, đáp ứng được yêu cầu của người dân.
- Về công tác hộ tịch khác
Bảng 2.4: Thống kê số liệu đăng ký hộ tịch khác trên địa bàn Quận 7 từ năm 2015 – 2019
Công tác đăng ký hộ tịch khác trên địa bàn Quận 7 thực hiện tốt công tác đơn giản hóa về thủ tục giấy tờ trong đăng ký hộ tịch hoàn toàn phù hợp với chủ trương loại bỏ cơ chế xin cho, tránh tình trạng “hách dịch, cửa quyền” chuyển một số hoạt động tư pháp sang cơ chế dịch vụ công. Về hình thức các biểu mẫu hộ tịch có sự thay đổi, các biểu mẫu trước đây có tên là “Đơn” nay đổi thành “Tờ khai” thể hiện sự bình đẳng giữa người có yêu cầu đăng ký và cơ quan có thẩm quyền đăng ký hộ tịch. Các thủ tục, biểu mẫu hộ tịch, thời hạn và lệ phí giải quyết được Ủy ban nhân dân các phường trên địa bàn quận niêm yết công khai, minh bạch, rõ ràng tại địa điểm tiếp công dân của bộ phận mở cửa tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc đăng ký hộ tịch. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Cụ thể như trước đây một bộ hồ sơ đăng ký khai sinh cho trẻ mới sinh gồm có: tờ khai đăng ký khai sinh, giấy chứng sinh, sổ hộ khẩu, giấy chứng nhận kết hôn thì nay thủ tục và giấy tờ được đơn giản đi rất nhiều bao gồm:
- Thủ tục đăng ký khai sinh Trình tự thực hiện
Bước 1: Người có yêu cầu đăng ký khai sinh nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân phường có thẩm quyền.
Bước 2: Cán bộ tiếp nhận hồ sơ có trách nhiệm kiểm tra thông tin, đối chiếu trong Tờ khai xác định tính hợp lệ của giấy tờ trong hồ sơ của người yêu cầu xuất trình nộp.
Trường hợp hồ sơ hợp lệ, đầy đủ, cán bộ tiếp nhận viết giấy biên nhận, nội dung trong giấy ghi rõ ngày, giờ trả kết quả; trường hợp hồ sơ còn thiếu, chưa đủ thì hướng dẫn người nộp hồ sơ hoàn thiện, bổ sung theo quy định; trường hợp không thể hoàn thiện, bổ sung ngay thì phải lập thành văn bản hướng dẫn, trong đó nêu rõ loại giấy tờ, nội dung cần hoàn thiện, bổ sung; ký, ghi rõ tên, họ, chữ đệm của cán bộ tiếp nhận.
Nếu hồ sơ sau khi đã được hướng dẫn mà không được bổ sung đầy đủ, hoàn thiện thì người tiếp nhận từ chối tiếp nhận hồ sơ và lập văn bản từ chối tiếp nhận hồ sơ, trong đó ghi rõ lý do từ chối; ký, ghi rõ họ, chữ đệm, tên của người tiếp nhận.
Khi nhận đầy đủ giấy tờ theo quy định, kiểm tra nội dung thông tin khai sinh đúng thì cán bộ tiếp nhận báo cáo Chủ tịch UBND phường. Trường hợp Chủ tịch Ủy ban nhân dân phường đồng ý giải quyết thì công chức Tư pháp – Hộ tịch cập nhật thông tin khai sinh theo hướng dẫn để lấy Số định danh cá nhân (đối với các địa phương đã triển khai cấp Số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh), ghi nội dung khai sinh vào Số đăng ký khai sinh, cùng người đi đăng ký khai sinh ký tên vào Sổ. Chủ tịch UBND phường ký Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.
- Một số vấn đề lưu ý Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Trường hợp người yêu cầu nộp giấy tờ là bản sao được cấp từ sổ gốc hoặc bản sao được chứng thực từ bản chính thì người tiếp nhận hồ sơ không được yêu cầu xuất trình bản chính; nếu người yêu cầu chỉ nộp bản chụp và xuất trình bản chính thì người tiếp nhận hồ sơ kiểm tra, đối chiếu bản chụp với bản chính và ký vào bản chụp xác nhận về việc đã đối chiếu nội dung giấy tờ đó, không được yêu cầu người đi đăng ký nộp bản sao có chứng thực giấy tờ đó.
Trường hợp pháp luật quy định xuất trình giấy tờ khi đăng ký hộ tịch, người tiếp nhận có trách nhiệm kiểm tra giấy tờ xuất trình, đối chiếu với thông tin trong Tờ khai và trả lại cho người xuất trình, không được yêu cầu người đăng ký hộ tịch nộp thêm bản sao giấy tờ đó. Người tiếp nhận có thể chụp 01 bản giấy tờ xuất trình hoặc ghi lại thông tin của giấy tờ xuất trình để lưu hồ sơ
Người tiếp nhận có trách nhiệm tiếp nhận đúng, đủ hồ sơ đăng ký hộ tịch theo quy định của pháp luật hộ tịch, không được yêu cầu người đang ký hộ tịch nộp thêm giấy tờ mà pháp luật hộ tịch không quy định phải nộp.
Về cách thức thực hiện:
- Người có yêu cầu đăng ký khai sinh trực tiếp thực hiện hoặc ủy quyền cho người khác thực hiện việc đăng ký khai sinh;
- Người thực hiện việc đăng ký khai sinh có thể trực tiếp nộp hồ sơ tại Ủy ban nhân dân phường có thẩm quyền hoặc gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính.
Về thành phần hồ sơ:
- Các loại giấy tờ phải xuất trình:
Chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu hoặc thẻ căn cước công dân, có thể sử dụng các loại giấy tờ khác do cơ quan có thẩm quyền cấp có dán ảnh và thông tin cá nhân còn giá trị sử dụng để minh chứng về nhân thân của người có yêu cầu đăng ký khai sinh; Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Giấy tờ chứng minh nơi cư trú để chứng minh thẩm quyền đăng ký khai sinh; trường hợp cha, mẹ của trẻ đã đăng ký kết hôn thì phải xuất trình Giấy chứng nhận kết hôn (trong giai đoạn Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử toàn quốc chưa được xây dựng xong và thực hiện thống nhất trên toàn quốc).
Trường hợp gửi hồ sơ qua hệ thống bưu chính thì phải gửi kèm theo bản sao có chứng thực các giấy tờ phải xuất trình nêu trên.
Các loại giấy tờ phải nộp
- Tờ khai đăng ký khai sinh theo mẫu.
- Giấy chứng sinh (bản chính), nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh trong trường hợp không có Giấy chứng sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh (Đối với trường hợp trẻ em bị bỏ rơi thì bắt buộc phải có biên bản do cơ quan có thẩm quyền lập về việc trẻ bị bỏ rơi. Trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản xác nhận của cơ sở y tế đã thực hiện kỹ thuật hỗ trợ sinh sản cho việc mang thai hộ. Văn bản ủy quyền theo quy định của pháp luật trong trường hợp ủy quyền thực hiện việc đăng ký khai sinh).
Về số lượng hồ sơ: 1 bộ
Về thời gian giải quyết: Ngay trong ngày tiếp nhận yêu cầu, trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì kết quả được trả trong ngày làm việc tiếp theo.
- Đối tượng thực hiện thủ tục hành chính: Cá nhân
Cơ quan thực hiện thủ tục hành chính: Ủy ban nhân dân phường nơi cư trú của cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh cho trẻ em. Ủy ban nhân dân phường nơi lập biên bản về việc trẻ bị bỏ rơi đối với trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi.
- Cơ quan phối hợp: Không.
- Kết quả thực hiện thủ tục hành chính: Giấy khai sinh
Lệ phí: Không quá 8.000 đồng. (Miễn lệ phí đối với trường hợp khai sinh đúng hạn, người thuộc gia đình có công với cách mạng, người thuộc hộ nghèo, người khuyết tật). Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Mẫu đơn, mẫu tờ khai: tờ khai đăng ký khai sinh Căn cứ pháp lý:
- Luật hộ tịch năm 2014;
- Nghị định số: 123/2015/NĐ-CP của Chính phủ ban hành ngày 15 tháng 11 năm 2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch;
- Thông tư số: 15/2015/TT-BTP của Bộ Tư pháp ban hành ngày 16 tháng 11 năm 2015, Nghị định số: 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch.
- Thông tư số: 179/2015/TT-BTC ngày 13 tháng 11 năm 2015 của Bộ Tài chính hướng dẫn về phí và lệ phí thuộc thẩm quyền quyết định của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương.
Kết quả công tác quản lý hộ tịch trên địa bàn Quận 7
- Một là, Công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về hộ tịch trên địa bàn quận.
Cấp ủy, chính quyền các phường đã triển khai thực hiện tốt các quy định của pháp luật trong công tác tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về thực hiện pháp luật hộ tịch trên địa bàn quận. Thường xuyên tuyên truyền vận động nhân dân nắm chắc các quy định của pháp luật và tổ chức thực hiện tốt pháp luật về hộ tịch đem lại hiệu quả thiết thực, đáp ứng được các nhu cầu của nhân dân, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.
- Hai là, Đội ngũ cán bộ công chức làm công tác hộ tịch Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Biên chế của Quận 7 có 18 công chức Tư pháp – Hộ tịch cấp phường, Phòng Tư pháp quận là 03 lãnh đạo và 03 chuyên môn. Công chức tư pháp – Hộ tịch từng bước được đào tạo chuẩn hóa về công tác chuyên môn nghiệp vụ, đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch phần lớn được ổn định, tham mưu tích cực cho Lãnh đạo UBND cấp phường, đáp ứng được nhu cầu chính đáng của công dân. Cấp phường được sự quan tâm đúng mức của cấp ủy đảng và chính quyền, tạo điều kiện thuận lợi cho công chức Tư pháp – Hộ tịch thực hiện tốt vai trò, trách nhiệm, từ đó công tác tư pháp các phường ngày càng đi vào nền nếp, đảm bảo tính chính xác và thực hiện đúng các quy định của pháp luật về hộ tịch.
Về đội ngũ công chức Tư pháp – Hộ tịch: Hiện nay UBND các phường đã bố trí 02 công chức Tư pháp, có trình độ từ cao đẳng luật trở lên, cơ sở vật chất, kỹ thuật, phương tiện làm việc tương đối đầy đủ đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ được giao. Công tác bố trí, đào tạo cán bộ Tư pháp – Hộ tịch từ cấp phường trở lên có trình độ chuyên môn từ cao đẳng luật trở lên có nhiều kinh nghiệm trong thực tiễn, đã qua công tác nhiều năm; đội ngũ công chức được đào tạo cơ bản, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ; nhiều cán bộ Tư pháp – Hộ tịch có trình độ đại học và sau đại học đã đem lại chất lượng hiệu quả cao trong công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch. Cán bộ Tư pháp – Hộ tịch có tinh thần trách nhiệm cao, thường xuyên nghiên cứu tìm hiểu, tiếp thu ý kiến lãnh đạo địa phương và nâng cao năng lực nghiệp vụ chuyên môn để làm tốt nhiệm vụ phân công, từng bước đưa công tác hộ tịch đi vào nền nếp, đáp ứng ngày càng cao hiệu quả quản lý hành chính nhà nước ở địa phương.
Đội ngũ cán bộ, công chức Tư pháp-Hộ tịch ở Quận 7 ngày càng được củng cố, nâng cao cả về số lượng và chất lượng. Ủy ban nhân dân Quận 7 thường xuyên mở các lớp tập huấn, hội nghị trao đổi các khó khăn, vướng mắc trong công tác hộ tịch. Từ những hoạt động này đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng hiệu quả công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch ở Quận 7.
Đảm bảo các sự kiện hộ tịch được đăng ký kịp thời, đúng quy định của pháp luật, không còn tình trạng cấp tùy tiện các giấy tờ hộ tịch hoặc cấp sai bản quyền như trước đây. Tuy nhiên, mặt bằng chung ở Quận 7 hiện nay đội ngũ Công chức Tư pháp – Hộ tịch vẫn còn những hạn chế nhất định như ngại cập nhật những quy định của pháp luật, trình độ tin học còn hạn chế, còn hiện tượng làm việc theo cảm tính. Do đó, phần nào ảnh hưởng đến chất lượng, hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch.
- Ba là, Công tác quản lý, lưu trữ hồ sơ Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Thực hiện các quy định của pháp luật, việc lưu sổ hộ tịch ở các phường trên địa bàn Quận 7 trong thời gian qua có những bước cải tiến đáng kể. Bên cạnh đó việc áp dụng khoa học, công nghệ thông tin trong quản lý hồ sơ dữ liệu quốc gia đã góp phần đưa công tác quản lý, lưu trữ hồ sơ đạt hiệu quả thiết thực.
Thống kê rà soát hệ thống dữ liệu hộ tịch trong thời gian qua tại địa bàn Quận 7 cho thấy: Quận thực hiện việc lưu trữ sổ kép và nhận sổ gốc hộ tịch từ Sở Tư pháp chuyển giao theo quy định tại Nghị định 158/2005/NĐ-CP đã thực hiện tốt việc lưu trữ sổ và biểu mẫu hộ tịch, được giao cho 01 công chức quản lý. Do đó đã đáp ứng được phần nào công tác tra cứu, tạo thuận lợi cho việc cấp bản sao các giấy tờ hộ tịch từ sổ hộ tịch và cấp lại bản chính giấy khai sinh cho công dân.
Ủy ban nhân dân các phường là nơi trực tiếp đăng ký hộ tịch nên đây là cơ quan lưu trữ sổ gốc hộ tịch. sổ gốc được các phường thực hiện đúng với mẫu sổ của Bộ Tư pháp, lưu trữ hàng năm theo quy định như khóa sổ, chuyển sổ để lưu cấp huyện. Trung bình mỗi năm mỗi phường sử dụng từ 01-02 cuốn sổ hộ tịch, có những loại do phát sinh ít nên dùng 2-3 năm mới phải chuyển sổ như việc nhận cha, mẹ con, thay đổi cải chính hộ tịch…
Trước khi có Luật Hộ tịch năm 2014 ra đời; Việc triển khai thi hành Nghị định 158/2005/NĐ-CP, việc ghi sổ kép và lưu sổ đã được triển khai thực hiện nghiêm túc, nội dung trong sổ được viết rõ ràng, sạch sẽ, ít sai sót, việc sửa chữa cơ bản đã theo hướng dẫn. Các phường đã bố trí trang thiết bị phục vụ lưu trữ sổ, hồ sơ hộ tịch. Thực hiện Luật Hộ tịch 2014, Nghị định số: 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ ra đời đã thay thế Nghị định 158/2005/NĐ-CP. Thông tư số: 15/2015/TT-BTP, ngày 16 tháng 11 năm 2015, Nghị định số: 123/2015/NĐ-CP ngày 15/11/2015 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch. Các phường triển khai việc in, sao sử dụng sổ hộ tịch và biểu mẫu hộ tịch mới theo quy định.
Nhìn chung việc quản lý và lưu giữ sổ hộ tịch, hồ sơ hộ tịch của các đơn vị trên địa bàn Quận 7 đã có những tiến bộ. Tuy nhiên trên thực tế một số phường trong quá trình quản lý sổ hộ tịch và hồ sơ hộ tịch trước đây còn lỏng lẻo, còn để mất mát, không bố trí tủ, kệ, kho đựng; mặt khác đội ngũ tư pháp hộ tịch có thời điểm trình độ nghiệp vụ còn hạn chế, lại thay đổi kiêm nhiệm, vì thế đã ảnh hưởng đến việc lưu trữ quản lý sổ, hồ sơ hộ tịch. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
- Bốn là, Các điều kiện bảo đảm cho việc đăng ký hộ tịch
Thực tế tại địa bàn Quận 7 cơ sở vật chất phục vụ cho đăng ký và quản lý nhà nước về hộ tịch về cơ bản đã được quan tâm nhất định tuy nhiên vẫn chưa bảo đảm đáp ứng yêu cầu đặt ra.
Tại Phòng tư pháp quận đã có phòng riêng để tiếp công dân, bố trí máy tính riêng cho công chức thực hiện công tác hộ tịch, nhiệm vụ đăng ký hộ tịch tại ủy ban nhân dân Quận trong thời gian qua chưa nhiều. Tại ủy ban nhân dân các phường hầu hết các phường chưa có phòng làm việc riêng mà vẫn làm việc tại phòng “một cửa”. Thực hiện hiệu quả Nghị định số: 64/2007/NĐ-CP ngày 10 tháng 4 năm 2007 của Chính phủ về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước, Chỉ thị số: 34/2008/CT-TTg về việc tăng cường sử dụng hệ thống thư điện tử trong hoạt động của cơ quan nhà nước, kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan nhà nước giai đoạn 2009-2010 trong đó có nội dung “tăng cường sử dụng văn bản điện tử thay thế cho các văn bản giấy trong quản lý, chỉ đạo, điều hành; từng bước chuyển sang làm việc dựa trên văn bản điện tử và môi trường mạng; khai thác triệt để các ứng dụng của phần mềm quản lý văn bản và điều hành, hộp thư điện tử được cấp, các phần mềm chuyên ngành phục vụ công tác chuyên môn, nghiệp vụ”. Trên tinh thần đó, ủy ban nhân dân các phường đã quan tâm đầu tư trang thiết bị, máy móc, hạ tầng cơ sở phục vụ cho công tác đăng ký hộ tịch. Các phường đã sử dụng phần mềm trong đăng ký hộ tịch, trong đó có 2 phần mềm phổ biến được áp dụng là Misa và Dtsoft.
Về cơ bản đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch trên địa bàn Quận 7 có trình độ chuyên môn về pháp luật từ trung cấp luật trở lên, ngày càng được chuẩn hóa, có trách nhiệm với công việc, hoạt động chuyên môn có nền nếp, giải quyết các vụ việc hộ tịch đúng quy trình, thủ tục, góp phần quan trọng vào việc hoàn thành nhiệm vụ của ngành, góp phần hoàn thành các chỉ tiêu phát triển kinh tế, xã hội, đảm bảo an ninh, quốc phòng, trật tự xã hội tại địa phương. Tuy nhiên, hiện vẫn còn một số công chức làm công tác hộ tịch chưa qua đào tạo chuyên ngành luật, lại kiêm nhiệm nhiều công việc khác; công chức làm công tác hộ tịch cấp phường phần lớn là cán bộ trẻ, chưa có nhiều kinh nghiệm trong công tác nên phần nào gặp khó khăn cho việc đăng ký và quản lý nhà nước về hộ tịch. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
- Công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra xử lý vi phạm trong quá trình thực hiện quản lý hộ tịch trên địa bàn các phường
Công tác kiểm tra, thanh tra về đăng ký và quản lý hộ tịch được chú trọng thường xuyên thực hiện nghiêm túc. Hàng năm Sở Tư pháp Thành phố, Phòng Tư pháp Quận 7, công chức Tư pháp – Hộ tịch các phường với chức năng, nhiệm vụ được quy định đã tiến hành xây dựng kế hoạch tổ chức kiểm tra định kỳ và đột xuất nhằm phát hiện và giải quyết kịp thời những khó khăn, vướng mắc trong đăng ký và quản lý hộ tịch ở các phường trên địa bàn Quận, kết quả những năm qua việc quản lý nhà nước về hộ tịch ở các phường trên địa bàn được thực hiện nghiêm túc, qua đó để kịp thời phát hiện và chấn chỉnh thiếu sót góp phần đưa công tác đăng ký và quản lý hộ tịch theo đúng Nghị định số: 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và thi hành Luật Hộ tịch. Kết quả qua công tác thanh tra, kiểm tra các phường những năm qua cho thấy hầu hết các phường đều thực hiện việc niêm yết công khai các thủ tục, trình tự, thời gian và lệ phí về hộ tịch đúng quy định pháp luật thuận lợi cho người dân khi có yêu cầu.
Qua việc trực tiếp kiểm tra hồ sơ, sổ sách lưu tại các phường được thanh tra cho thấy, Ủy ban nhân dân đã triển khai thực hiện đúng thẩm quyền, trong các việc: đăng ký khai sinh, kết hôn, khai tử, nhận nuôi con nuôi, thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, xác định lại giới tính, cấp giấy xác nhận tình trạng hôn nhân và trong việc chứng thực các hợp đồng giao dịch dân sự liên quan đến quyền của người sử dụng đất. Về trình tự thủ tục cơ bản đã được thực hiện theo đúng quy định của pháp luật, tạo điều kiện thuận lợi cho nhân dân khi tham gia thực hiện pháp luật về hộ tịch, góp phần đưa chính sách pháp luật vào cuộc sống, nhằm ổn định tình hình an ninh, chính trị tại địa phương, phục vụ và đáp ứng các nhu cầu hợp pháp, chính đáng của nhân dân.
Về hồ sơ, sổ sách được lưu đầy đủ và được bảo bảo quản cẩn thật, sắp xếp khoa học: một số phường đã lập các danh mục giấy tờ cần thiết để lưu trong hồ sơ, tạo điều kiện thuận lợi cho việc tra cứu, thống kê, tổng hợp số liệu; công tác báo cáo, luôn được thực hiện đúng quy định, đảm bảo thời hạn, chất lượng theo yêu cầu nhìn chung công tác đăng ký, quản lý hộ tịch tại một số địa phương về cơ bản đã triển khai thực hiện tốt Luật Hộ tịch năm 2014, Nghị định 123/2015/NĐCP của Chính phủ và Thông tư 05/2015/TT –BTP hướng dẫn thực hiện một số quy định của Luật hộ tịch. Việc đăng ký khai sinh (đúng hạn, quá hạn, đăng ký lại); thay đổi, cải chính hộ tịch cơ bản được thực hiện đúng quy trình, thủ tục chặt chẽ, đảm bảo cơ sở pháp lý theo quy định việc lưu trữ đầy đủ, ngăn nắp. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Các phường đã có đầu tư về cơ sở vật chất, trang thiết bị, đưa ứng dụng công nghệ thông tin vào lĩnh vực đăng ký, quản lý hộ tịch, cũng như tăng cường cán bộ cho công tác Tư pháp từ cấp quận đến cấp phường, đặc biệt là các phường có đầu tư trang thiết bị đem lại hiệu quả thiết thực như Tân Kiểng, Phú Mỹ, Tân Quy…đưa công tác đăng ký và quản lý hộ tịch kịp thời, chặt chẽ, thuận lợi, khoa học và đạt hiệu quả cao.
Bên cạnh đó, việc lưu trữ sổ hộ tịch những năm về trước khi có Luật Hộ tịch chưa được chú trọng, nên dữ liệu hộ tịch của người dân không được lưu giữ. Có phường sổ hộ tịch chỉ lưu giữ từ năm 2000 trở về đây. Theo quy định của Luật Hộ tịch thì không cấp lại bản chính giấy khai sinh, trong khi các lĩnh vực khác như cấp chứng minh thư, căn cước công dân, thủ tục về thừa kế đất đai… đều đòi hỏi giấy khai sinh, mà bản thân người dân cũng không giữ được các giấy tờ hộ tịch của mình, nên các thủ tục đăng ký lại khai sinh tăng đột biến, mà thủ tục này đòi hỏi phải có các giấy tờ chứng minh về họ tên, ngày tháng năm sinh, quan hệ cha mẹ con như: sổ hộ khẩu, chứng minh nhân dân, học bạ, bằng cấp việc này là rất khó khăn vì người dân thường là không còn giấy tờ gì. Vì vậy cán bộ tư pháp gặp nhiều khó khăn trong việc xác minh để làm hồ sơ đăng kí lại khai sinh.
Tuy nhiên, nhìn chung công tác tác thực hiện pháp luật về hộ tịch ở Quận 7 ngày càng được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp, cơ sở vật chất kỹ thuật, trang thiết bị phục vụ cho công tác hộ tịch cũng được đầu tư thỏa đáng, đó là yếu tố tiên quyết để nâng cao hiệu quả thực hiện công tác này.
2.3. Đánh giá thực trạng, hạn chế và nguyên nhân thực hiện pháp luật về hộ tịch tại Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
2.3.1 Đánh giá kết quả đạt được trong thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
Pháp luật về hộ tịch ra đời đó là Luật Hộ tịch năm 2014, đồng thời với sự ra đời của Nghị định số: 123/2015/NĐ-CP ngày 15 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều và biện pháp tiến hành Luật Hộ tịch; Thông tư số: 15/2015/TT-BTP, ngày 16 tháng 11 năm 2015 là cơ sở hành pháp lý đã tạo bước chuyển biến tích cực, tháo gỡ nhiều khó khăn, vướng mắc trong đăng ký hộ tịch trong cả nước, đồng thời là bước đơn giản hóa thủ tục đăng ký hộ tịch qua đó công tác đăng ký hộ tịch tại các địa phương.
Trong những năm qua công tác thực hiện pháp luật trên địa bàn Quận 7 qua khảo sát và số liệu thống kê tại địa phương cho thấy: Việc đăng ký hộ tịch có nhiều sự biến động khác nhau qua các năm. Hầu hết các sự kiện hộ tịch đều có sự biến động qua các năm đặc biệt là các thủ tục về đăng ký khai sinh, đăng ký hộ khẩu và ghi vào sổ hộ tịch các việc hộ tịch khác. Việc đăng ký các sự kiện hộ tịch tăng do ý thức pháp luật của người dân trong việc đăng ký hộ tịch ngày càng tăng, ý thức chấp hành pháp luật về hộ tịch của người dân tại địa phương ngày càng được cải thiện, tỷ lệ đi đăng ký khai sinh, kết hôn đúng hạn… ngày càng cao, vai trò, trách nhiệm của các cơ quan hữu quan ngày càng có quan tâm hơn đến thực hiện pháp luật về hộ tịch.
2.3.2 Những hạn chế Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Thực hiện pháp luật về hộ tịch vẫn còn những yếu kém, hạn chế nhất định trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch. Qua kết quả nghiên cứu thực trạng đăng ký và quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa bàn Quận 7 có thể nhận thấy một số hạn chế như sau:
- Một là, sai sót, vi phạm về đăng ký và quản lý hộ tịch.
Sai sót, vi phạm trong hoạt động đăng ký và quản lý hộ tịch diễn ra trong các sự kiện hộ tịch từ đăng ký khai sinh, đăng ký hộ khẩu, đăng ký khai tử, cải chính hộ tịch… ở nhiều mức độ và hình thức khác nhau, cụ thể là các dạng vi phạm sau:
Ghi chép sổ Hộ tịch theo quy định tại Điều 8 Luật Hộ tịch năm 2014, điều 11, 12 của Nghị định 123/2015/NĐ-CP có những vi phạm. Do hiểu nghiên cứu các quy định về ghi chép sổ hộ tịch của Công chức Tư pháp – Hộ tịch một số phường đã vi phạm các quy định tại điều 58 đó là: Theo quy định, vào ngày 31/12 hàng năm đều phải khóa sổ và việc khóa sổ phải do Công chức Tư pháp – Hộ tịch ghi rõ vào cuối trang, tổng số sự kiện hộ tịch đã đăng ký. Chủ tịch UBND phường ký xác nhận và đóng dấu nhưng một số phường chưa thực hiện nghiêm túc, thậm chí có một số đơn vị có thực hiện việc khóa sổ nhưng do công chức Tư pháp – Hộ tịch ký xác nhận là sai từ đó dẫn đến việc lấy số thứ tự từ năng trước sang năm sau, không lấy số thứ tự theo từng năm và không đóng giáp lai giữa các trang từ trang đầu đến trang cuối của các năm. Một số công chức Tư pháp – Hộ tịch trên thiếu cẩn thận khi tiếp nhận, giải quyết các việc đăng ký hộ tịch không vào sổ ngay, để nhiều trường hợp đăng ký xong mới vào sổ dẫn đến tình trạng ngày đăng ký sau lại vào số trước, ngày đăng ký trước vào số sau. Ví dụ như trường hợp số thứ tự đăng ký khai sinh là 210, đăng ký ngày 16/6/2017 nhưng vào số trước các số thứ tự 198, 199 đăng ký sinh ngày 14/6/2017, cũng chính nguyên nhân này dẫn đến việc chủ quan khi chừa trang trống để vào sổ các trường hợp tồn đọng chưa vào do đó tại sổ hộ tịch các loại còn bỏ trống nhiều trang liên tiếp.
Công chức Tư pháp – Hộ tịch thực hiện chưa đúng theo quy định việc sửa chữa sai sót do ghi chép vào sổ hộ tịch, phải gạch bỏ sai sót, viết lại xuống dòng và phải thể hiện ở cột ghi chú rõ nội dung sửa chữa, họ tên, chữ ký người sửa chữa, ngày, tháng, năm sửa chữa, đóng dấu của UBND phường vào phần đã sửa chữa.
- Hai là, vi phạm về trình tự, thủ tục đăng ký các việc hộ tịch.
Vi phạm về đăng ký khai sinh theo quy định tại điều 16 Luật hộ tịch: Theo quy định tại điều 16 luật hộ tịch thì người đi khai sinh phải nộp giấy chứng sinh do cơ sở y tế nơi trẻ em sinh ra cấp. Trường hợp em không sinh trong cơ sở y tế thì phải có văn bản xác nhận của người làm chứng. Người đi khai sinh phải cam đoan bằng văn bản về việc sinh là có thật trong trường hợp không có người làm chứng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Tuy nhiên khi làm cam đoan việc sinh là có thật thì người cam đoan nêu lý do là trẻ em sinh ra tại bệnh viện Quận hoặc Trạm y tế của phường, nhưng giấy chứng sinh bị thất lạc, công chức Tư pháp – Hộ tịch vẫn tiếp nhận, đăng kí khai sinh, không yêu cầu người đi khai sinh đến bệnh viện quận, Trạm y tế nơi cấp giấy chứng sinh để xin cấp lại hoặc tiến hành thẩm tra xác minh tại nơi sinh để xác định việc sinh, ngày tháng sinh chính xác của đứa trẻ. Việc làm này đã dẫn đến tình trạng đăng ký khai sinh sai ngày, tháng sinh của đứa trẻ, thậm chí tạo điều kiện cho việc cố tình làm sai lệch các sự kiện trên của người đi khai sinh. Nhiều trường hợp chỉ lưu bản phô tô giấy chứng sinh và không lưu bản chính theo quy định. Một số vi phạm do thiếu cẩn thận không đối chiếu với giấy chứng sinh nên đã đăng ký về ngày, tháng sinh của đứa trẻ sai với ngày tháng sinh tại giấy chứng sinh (ví dụ: cháu Nguyễn Mạnh Linh – sinh ngày 13/9/2018 tại giấy chứng sinh nhưng tại sổ đăng ký khai sinh thì sinh ngày 23/9/2018, trường hợp cháu Nguyễn Phương Nga sinh ngày 15/4/2019 tại số đăng ký khai sinh lại là ngày 15/3/2019).
Một số trường hợp giấy chúng sinh đã bị tẩy xóa, sửa chữa tên của người mẹ hoặc ngày tháng năm sinh của trẻ nhưng vẫn cho đăng kí khai sinh, không yêu cầu người đi khai phải cung cấp giấy chứng sinh không bị tẩy xóa, sửa chữa hay tiến hành thẩm tra xác minh tại cơ sở y tế nơi đã cấp giấy chúng sinh đó. Rất nhiều trường hợp đăng ký khai sinh cho trẻ em nhưng không có một giấy tờ nào, chỉ thể hiện tại sổ đăng ký khai sinh.
Theo quy định tại Điều 24 Nghị định số: 123/2015/NĐ-CP quy định về đăng ký lại khai sinh thì những trường hợp đã đăng ký nhưng sổ hộ tịch và bản chính giấy khai sinh đã mất, bị hư hỏng không sử dụng được thì mới cho đăng ký lại, trường hợp đăng ký lại tại cấp xã không phải nơi đương sự đã đăng ký khai sinh trước đây thì tờ khai phải có xác nhận của UBND cấp xã đã đăng ký còn sổ hộ tịch không (trừ trường hợp đương sự xuất trình được bản sao đã cấp hợp lệ trước đây). Trong quá trình thực hiện đối với một số trường hợp như đăng ký lại khai sinh của “Nguyễn Trần Phát, sinh ngày 11/12/2001, Nguyễn Như Phong, sinh ngày 15/2/2006 trước đây đã đăng ký tại UBND phường Tân Kiểng. Cả 2 trường hợp độ tuổi còn nhỏ sinh năm 2001, 2006 thì việc mất sổ đăng ký tại phường Tân Kiểng thông để xảy ra nhưng do cán bộ Tư pháp-Hộ tịch không cập nhật các quy định của pháp luật mà cho rằng cứ mất bản gốc giấy khai sinh là đăng ký lại được nên vẫn cho đăng ký lại khai sinh.
Trường hợp đăng ký lại khai sinh của ủy ban nhân dân phường Tân Phú thiếu chặt chẽ, tại giấy chứng minh nhân dân, hộ khẩu do đương sự cung cấp chỉ có năm sinh, không theo nguyên tắc nếu không có giấy tờ chứng minh ngày, tháng, năm sinh thì lấy theo ngày 01 tháng 01 chứ không tùy tiện lấy theo một ngày tháng sinh bất kỳ mà không có căn cứ để xác định ngày, tháng sinh như trên là đúng. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Riêng đối với các phường được thanh tra thuộc Quận 7 nhận thấy công chức Tư pháp – Hộ tịch trình độ chuyên môn, nghiệp vụ yếu, thiếu nghiên cứu văn bản pháp luật, giải quyết có lúc còn tùy tiện. Đa số giải quyết hồ sơ đăng ký hộ tịch chỉ ghi vào sổ, không lưu trữ hồ sơ. Giải quyết đăng ký khai sinh quá hạn cho nhiều trường hợp mà trước đây đã được khai sinh tại phường và sổ hộ tịch vẫn còn lưu (nếu theo quy định của pháp luật thì cấp bản sao từ sổ khai sinh).
Một số phường giải quyết cho đăng ký lại khai sinh chỉ lưu 1 tờ khai, ngoài ra không lưu loại giấy tờ nào khác. Có trường hợp lại có lưu thêm bản chính giấy khai sinh trước đây vào hồ sơ nhưng cấp giấy khai sinh sai với ngày, tháng sinh theo giấy khai sinh trước (ví dụ trường hợp bà Trần Thanh Hằng được ủy ban nhân dân phường cấp giấy khai sinh ngày 12/2/2016 thể hiện ngày, tháng, sinh của bà Hằng là ngày 17/01/1978 nay cấp lại giấy khai sinh thì sinh ngày 15/01/1978). Trường hợp này đáng ra phải yêu cầu bà Trần Thanh Hằng đến phòng Tư pháp Quận 7 để xin cải chính ngày tháng, sinh nếu ngày tháng sinh đó sai với ngày, tháng sinh thực tế.
- Vi phạm về thủ tục, trình tự, thẩm quyền đăng ký kết hôn theo quy định tại điều 17 và điều 18 Luật Hộ tịch
Khi đăng ký kết hôn bên nam nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu và xuất trình giấy chứng minh nhân dân, nhưng trong quá trình giải quyết ủy ban nhân dân một số phường lại yêu cầu người đăng ký kết hôn làm thêm đơn xin đăng ký kết hôn. Việc yêu cầu này là thừa thủ tục không cần thiết đã gây phiền hà cho nhân dân.
Một số đơn vị thiếu thận trọng đã sử dụng giấy xác nhận tình trạng hôn nhân quá thời hạn, thậm chí có trường hợp cấp giấy chứng nhận kết hôn cho những trường hợp thường trú khác địa phương nhưng không lưu giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của địa phương nơi thường trú của người đó. Cũng có trường hợp cấp Giấy chứng nhận kết hôn cho đương sự trước ngày mà địa phương khác xác nhận tình trạng hôn nhân cho người ở địa phương họ (ví dụ trường hợp của bà Thanh, ông Nghĩa, ngày xác nhận độc thân của bà Thanh là 21/8/2016, ngày cấp chứng nhận kết hôn cho bà Thanh và ông Nghĩa là ngày 19/8/2016).
Hoặc có trường hợp đăng ký kết hôn, không có giấy xác nhận tình trạng hôn nhân của 2 người theo quy định đối với cán bộ, chiến sĩ đang công tác trong lực lượng vũ trang. Tuy nhiên, ủy ban nhân dân phường vẫn cấp giấy chứng nhận kết hôn cho hai trường hợp trên. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Vi phạm về đăng ký khai tử theo quy định tại Điều 32, 33, 34 Luật Hộ tịch: Theo quy định tại điều 32 về thẩm quyền đăng ký khai tử là ủy ban nhân dân phường nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Nếu không xác định được nơi cư trú cuối cùng thì UBND phường nơi người đó mất thực hiện việc đăng ký khai tử. Tuy nhiên, có phường đăng ký khai tử cho trường hợp người chết trước đây có đăng ký thường trú tại địa phương đã chuyển đến địa phương khác sinh sống và chết tại địa phương nơi người đó đang cư trú.
Thời hạn đi khai tử là 15 ngày thế nhưng có rất nhiều trường hợp chết đã lâu, có trường hợp chết từ những năm 1971 về trước nhưng vẫn cấp giấy chứng tử đúng hạn và rất cụ thể phút, giờ, ngày, tháng năm chết mà đáng ra những trường hợp này chỉ cần xác nhận đã chết, những trường hợp này thì phải cho đăng ký khai tử quá hạn mới đúng quy định.
Một số phường cấp giấy chứng tử không lưu lại giấy tờ nào theo quy định nên không thể kiểm tra việc giải quyết đúng hay sai được.
Vi phạm về thay đổi, cải chính hộ tịch theo quy định tại Điều 26 Luật Hộ tịch, phạm vi thay đổi hộ tịch gồm:
- Thay đổi tên, chữ đệm và họ của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi pháp luật dân sự có quy định.
- Thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi.
Điều 27. Thẩm quyền đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung bộ tịch Ủy ban nhân dân phường nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Quy định của Luật Hộ tịch rất rõ ràng nhưng trong quá trình thực hiện còn xảy ra sai sót ở một số phường. Việc thực hiện thay đổi, cải chính rất tùy tiện, thiếu chính xác. Thiết lập hồ sơ đơn giản, thu thập chứng cứ sơ sài, thậm chí không có cơ sở chứng cứ để chứng minh việc thay đổi, cải chính là đúng. Quá trình giải quyết thiếu phối hợp với các cơ quan có liên quan như Công an, ngành giáo dục các cấp dẫn đến tình trạng sau khi ban hành quyết định cho phép thay đổi, cải chính hộ tịch, các cơ quan liên quan không đồng tình, phản ứng quyết liệt, không thực hiện theo quyết định đó.
Ngoài những trường hợp đã giải quyết trên, còn tồn tại một số vi phạm vụ thể như: Nhiều phường giải quyết cho thay đổi cải chính hộ tịch sai thẩm quyền, ban hành quyết định cho phép thay đổi cải chính hộ tịch nhưng thiếu ghi số, ngày, tháng, năm ban hành hồ sơ lưu trữ thiếu thủ tục, thậm chí không lưu hồ sơ, không lưu quyết định cho phép thay đổi cải chính hộ tịch vào hồ sơ, không lưu bản phô tô giấy khai sinh đã được cho phép thay đổi cải chính và ghi chú vào cột ghi chú của sổ đăng ký khai sinh. Theo quy định khi giải quyết cho phép thay đổi cải chính hộ tịch phải gửi thông báo đến cấp quận nếu cấp phường thực hiện và ngược lại gửi cấp phường nếu cấp quận thực hiện nhưng nhiều đơn vị không gửi.
- Ngoài ra trong quá trình thực hiện pháp luật về hộ tịch ở Quận 7 còn tồn tại một số hạn chế sau:
Việc triển khai, xây dựng thực hiện pháp luật về hộ tịch ở một số phường chưa nghiêm túc thực hiện dẫn đến tình trạng một số cán bộ tự đề cao quyền hạn của mình, buông lỏng quản lý Nhà nước, còn biểu hiện quan liêu, mệnh lệnh, xa rời nhân dân, không chịu lắng nghe ý kiến của nhân dân, chưa thực hiện tốt những nội dung của pháp luật về hộ tịch, có tư tưởng cục bộ gây mất đoàn kết trong nội bộ.
Một bộ phận nhân dân chưa nhận thức đúng đắn vấn đề đăng ký hộ tịch gắn với kỷ cương, quyền lợi, gắn với trách nhiệm, nghĩa vụ công dân, chưa chủ động, kịp thời đăng ký các sự kiện hộ tịch nhất là việc khai tử, đến khi có chế độ mới đi đăng ký, hoặc việc công dân không có ý thức bảo quản, giữ gìn các giấy tờ hộ tịch như giấy chứng nhận kết hôn, giấy khai sinh… khi làm lại không đáp ứng được các quy định của pháp luật, cán bộ không đăng ký cho thì gây mất trật tự an ninh nơi công sở, làm ảnh hưởng đến uy tín của Đảng và chính quyền địa phương. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Mặc dù công tác hộ tịch có vị trí, vai trò quan trọng đối với quản lý nhà nước và bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân nhưng cho đến nay, ngoại trừ các quy định mang tính nguyên tắc trong Bộ Luật Dân sự, Luật Hôn nhân và gia đình… văn bản điều chỉnh trực tiếp trong lĩnh vực hộ tịch quá nhiều tên loại gây khó khăn nhất định cho cơ quan tổ chức thực hiện, ngay người dân cũng lúng túng, không hiểu hết đối với trường hợp của mình áp dụng theo văn bản pháp quy nào.
Việc phân cấp thẩm quyền đăng ký hộ tịch chưa triệt để. Chính vì vậy, đã dẫn đến chồng chéo chức năng quản lý và đăng ký; cũng do việc phân cấp chưa triệt để nên từng cấp chủ yếu lo việc đăng ký, ít quan tâm đến nhiệm vụ quản lý, đặc biệt là công tác kiểm tra, chỉ đạo đối với cấp dưới, từ đó không kịp thời uốn nắn những sai sót (nếu có), đồng thời dẫn đến đùn đẩy nhiệm vụ hướng dẫn, chỉ đạo chuyên môn lên cấp trên. Chưa chú trọng định kì tổ chức bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ, chính vì vậy nên số công chức thay mới chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu đối với công việc.
- Chưa tạo điều kiện tốt nhất để bảo đảm quyền đăng ký hộ tịch của công dân cụ thể là:
Còn quá nhiều loại giấy tờ quy định về thủ tục đăng ký, còn lệ thuộc vào nơi cư trú, do đó nhiều trường hợp công dân không không đăng ký được.
Cán bộ trực tiếp giải quyết công việc hộ tịch tự đặt thêm thủ tục giấy tờ khi người dân có yêu cầu đăng ký hộ tịch khi hồ sơ đăng ký hộ tịch chưa đầy đủ, cán bộ hộ tịch không hướng dẫn một lần mà mỗi lần chỉ hướng dẫn một nội dung nên người dân phải đi lại nhiều lần mới được giải quyết.
Có trường hợp không được giải quyết, giải quyết sai quy định do cán bộ hộ tịch áp dụng quy định của pháp luật một cách máy móc ảnh hưởng đến quyền lợi của người dân
Còn trường hợp chưa bảo đảm độ chính xác khi cấp giấy tờ hộ tịch, cá biệt có trường hợp tùy tiện trong cấp đăng ký hộ tịch.
Tình trạng đăng ký thông kịp thời, chưa thay đổi và thiếu chính xác trong đăng ký hộ tịch vẫn còn tồn tại ở một số phường. Sự tùy tiện trong việc đăng kí, cấp giấy tờ hộ tịch được thể hiện như đăng ký sai thẩm quyền, có nhiều trường hợp một người được đăng ký khai sinh 2 lần hoặc đăng ký khai tử 2 lần. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Quy định về lưu sổ hộ tịch chưa được thực hiện nghiêm túc, hạn chế trong cải cách thủ tục hành chính. Mặc dù, việc cải cách thủ tục hành chính trong lĩnh hộ tịch bước đầu đã phát huy hiệu quả tuy nhiên việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong đăng ký hộ tịch đôi khi lại có tác động ngược lại, đặc biệt là tiến độ xử lý hồ sơ. Liên quan đến hộ tịch của từng cá nhân còn nhiều trường hợp không kịp thời cập nhật khi có thông báo về những thay đổi.
Việc vừa phải nhập thông tin vào sổ đăng ký hộ tịch giấy sau đó lại nhập vào phần mềm là rườm rà, chưa khoa học, cần có biện pháp để chỉ nhập 01 lần vào phần mềm sau đó in luôn thành sổ để không phải mất thời gian nhập 02 lần như hiện nay.
Công tác thống kê số liệu đăng ký hộ tịch còn hạn chế, tính chính xác của số liệu còn chưa bảo đảm.
2.3.3 Nguyên nhân của những hạn chế
Nhận thức của người dân còn hạn chế: chưa thấy được tầm quan trọng của các giấy tờ hộ tịch nên khi sự kiện hộ tịch xảy ra thì không đăng ký ngay, để lâu rồi quên thông tin, hoặc không tiến hành đăng ký. Khi làm thủ tục khác bị hỏi đến thì mới tiến hành đăng ký thông tin hộ tịch, lúc đó lại gặp khó khăn do người thân không còn.
Công tác tuyên truyền chưa thật hiệu quả: Chưa thay đổi toàn diện nhận thức của người dân, vẫn còn nhiều người dân chưa nắm được các quy định của pháp luật về hộ tịch. Ví dụ như khai sinh không chính xác, cá biệt còn trường hợp khai man, đăng ký khai sinh trễ hạn, khai báo sai sự thật nhằm mục đích đăng ký kết hôn 2 lần hoặc không đăng ký kết hôn mà vẫn sống chung. Hậu quả như trường hợp man khai năm sinh, dẫn đến tình trạng các giấy tờ tùy thân không nhất quán.
Quản lý dân cư quá hời hợt: Chậm phát hiện các trường hợp chưa có chứng minh nhân dân, chưa có hộ khẩu, chưa có đăng ký hộ tịch do không nắm chắc thông tin của cư dân cư trú trên địa bàn, nên. Có trường người 50 tuổi mà chưa khai sinh lần nào, không hộ khẩu, không chứng minh thư nhân dân. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
Thủ tục chồng chéo nhau: Có trường hợp không thể xử lý được, cán bộ tư pháp đành lách luật. Không chỉ chồng chéo mà còn thiếu thủ tục cho một số tình huống cụ thể. Khi xây dựng quy định, nhà làm luật không hình dung được tình trạng quản lý dân cư lỏng lẻo như hiện tại ở các địa phương. Ví dụ như không lường trước tình huống có người lớn tuổi chưa có khai sinh mà cũng chưa có chứng minh nhân dân hay hộ khẩu. Hơn nữa, họ cũng không lường trước tình huống ly thân và sống chung với người khác có con thì giải quyết vấn đề khai sinh cho trẻ như thế nào. Tất nhiên, pháp luật không cổ xúy việc sống chung không hôn nhân, nhưng đó là một thực tế, cần phải có quy định để áp dụng trong các tình huống không có tranh chấp về con. Tránh trường hợp máy móc ghi tên cha là người chồng (danh nghĩa) mà biết rõ nó không phải con của người ấy, mà người chồng cũng không quan tâm đến thông tin nhân thân của đứa trẻ, để rồi người cha thật phải làm thủ tục yêu cầu Tòa án xác định một người là cha của con mình. Trong khi đó cha thật của đứa trẻ thì muốn nhận con và chỉ có sự xung đột pháp luật giữa các quy định chứ không có tranh chấp giữa các đương sự trong vụ việc.
Công tác đăng ký và quản lý hộ tịch còn thiếu thận trọng: như việc kiểm tra khai báo không kỹ, không thẩm định nội dung người dân khai nên giấy tờ hộ tịch cấp không đúng với thông tin trong thực tế. Quá trình thay đổi, chỉnh sửa ảnh hưởng đến cơ sở dữ liệu hộ tịch.
Cơ sở dữ liệu hộ tịch còn thiếu: do dữ liệu hộ tịch trong sổ bộ được lưu trữ nhiều năm có nơi bị thất lạc hoặc hư hỏng, mất dữ liệu. Cơ sở dữ liệu hộ tịch trong hệ thống thông tin quản lý hộ tịch mới áp dụng từ đầu năm 2016, hệ thống thông tin hộ tịch chưa hoàn chỉnh
- Tiểu kết chương 2
Trên cơ sở các số liệu thống kê tình hình thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh; luận văn đã phân tích rõ trực trạng công tác đăng ký hộ tịch và công tác quản lý hộ tịch của Quận 7, có số liệu so sánh cụ thể về kết quả đăng ký hộ tịch, tình hình đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn…; đồng thời đánh giá, nhận xét những điểm đã làm được, những hạn chế còn tồn tại bất cập. Từ đó đã tìm ra nguyên nhân của những hạn chế trong tổ chức và thực hiện pháp luật về hộ tịch tại địa bàn Quận 7. Từ thực trạng và những hạn chế, tồn tại ở chương 2, luận văn đưa ra những giải pháp và một số kiến nghị ở chương 3. Luận văn: Thực trạng pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về hộ tịch từ Hồ Chí Minh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật về Hộ tịch từ thực tiễn Hồ Chí Minh