Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số kiến nghị nhằm đảm bảo quyền kết hôn của người LGBT dưới góc độ quyền con người dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Sự cần thiết phải thay đổi nhận thức và pháp luật ở Việt Nam về vấn đề kết hôn giữa những người LGBT

Người Việt Nam luôn coi trọng việc xây dựng gia đình, sinh con đẻ cái để duy trì nòi giống và về cơ bản coi gia đình là sự kết hợp giữa một người nam và một người nữ. Tuy nhiên, trong những năm gần đây cùng với sự phát triển và hội nhập, tiếp thu nền văn hóa phương Tây thì một số quan điểm cởi mở về người LGBT và kết hôn giữa họ cũng đã hình thành trong tư tưởng của người dân. Có thể nói chưa bao giờ hoạt động của người LGBT và số lượng xuất bản phẩm về họ lại gia tăng mạnh như thời gian vừa qua, đó là bằng chứng về sự quan tâm của xã hội đối với vấn đề này. Trên báo chí hoặc trên internet, độc giả không khó để tìm thấy các bài báo hay các trang mạng xã hội viết về vấn đề này. Bên cạnh đó các website riêng của cộng đồng người LGBT cũng được thành lập, đó là nơi để họ trao đổi, gặp gỡ nhau. Theo kết quả khảo sát của Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường (iSEE) thì kỳ thị người đồng tính còn khá phổ biến ở Việt Nam, tuy nhiên khác với các nước khác trên thế giới, quan hệ đồng giới ở Việt Nam không bị tội phạm hóa.

Trong những năm gần đây hàng loạt các đám cưới của các cặp đôi đồng tính được tổ chức, mặc dù hôn nhân của những người đồng tính chưa được pháp luật thừa nhận, nhưng việc tổ chức đám cưới là họ đã bày tỏ nguyện vọng được gắn bó lâu dài với nhau và công khai cho xã hội biết họ là những người đồng tính. Đặc biệt các đám cưới đồng tính đó đã nhận được sự ủng hộ của xã hội và của chính những người phụ huynh của họ. Từ đó cho thấy, xã hội đã có cái nhìn đúng đắn hơn về cộng đồng người LGBT.

Đối với người chuyển giới tình trạng của họ trong những năm gần đây cũng đã có những thay đổi đáng kể. Xã hội dần được tiếp cận với người chuyển giới một cách rõ nét hơn vì họ đã mạnh dạn thể hiện bản thân hơn. Tuy pháp luật Việt Nam chưa cho phép phẫu thuật chuyển đổi giới tính nhưng nhiều người trong số họ đã mạnh dạn sang các nước khác như Thái Lan, Hồng Kong thực hiện phẫu thuật chuyển giới với mong muốn được sống thật với giới tính của mình, hoặc thể hiện giới giống như giới tính mà mình mong muốn. Trong giới văn nghệ sĩ đã có nhiều người công khai giới tính thật của mình và thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính như ca sĩ Hương Giang, Lâm Chí Khanh… họ đã nhận được sự ủng hộ của xã hội, điều đó cho thấy xã hội Việt Nam đã dần chấp nhận người chuyển giới. Bên cạnh đó, cùng với sự phát triển của internet và các diễn đàn mạng đã tạo ra sân chơi, giao lưu kết bạn cho những người chuyển giới, đây còn là kênh thông tin đối với các bạn còn mơ hồ về giới tính hoặc với chính những người dị tính để hiểu rõ hơn về người LGBT. Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Xã hội Việt Nam vốn tồn tại nhiều quan điểm kỳ thị người LGBT, tuy nhiên trong những năm gần đây cùng với sự phát triển của các kênh thông tin, xã hội đã hiểu hơn về người LGBT, đồng thời cũng đã có những cái nhìn rộng mở hơn về họ.

Tại Việt Nam thời gian qua đã có một số tổ chức hoạt động vì quyền lợi của cộng đồng LGBT, hướng đến sự tôn trọng sự đa dạng tính dục, bản dạng giới của đời sống xã hội như: Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE); Trung tâm truyền thông sáng tạo, dịch vụ và nghiên cứu về tính dục (ICS). Viện nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường là một tổ chức phi lợi nhuận hoạt động vì quyền của các nhóm thiểu số trong xã hội, nhằm hướng đến một xã hội văn minh, thịnh vượng, tự do, bình đẳng. iSEE được thành lập từ năm 2007 đến nay đã có nhiều hoạt động khá đa dạng và phong phú liên quan đến cộng đồng người LGBT như: các dự án nâng cao nhận thức của cộng đồng về người LGBT, triển lãm ảnh về người đồng tính, cung cấp các kiến thức cơ bản về người LGBT, thực hiện các nghiên cứu, khảo sát về đời sống LGBT… Trung tâm truyền thông sáng tạo, dịch vụ và nghiên cứu về tính dục được thành lập năm 2008, các hoạt động của ICS tập trung vào các lĩnh vực tuyên truyền, vận động nhận thức đúng đắn về cộng đồng người LGBT trong xã hội, tham gia vào quá trình vận động chính sách cho các dự án luật có liên quan, tổ chức các sự kiện như VietPride, Tháng tự hào đồng tính, nhuộm xanh Sài Gòn, Tôi đồng ý… Bên cạnh đó còn có một số câu lạc bộ/nhóm dành cho đồng tính nam được thành lập như câu lạc bộ Hải Đăng ở Hà Nội, Ánh sao đêm ở Đà Nẵng, Muôn sắc màu ở Khánh Hòa… Các câu lạc bộ/nhóm này cung cấp cho những người nam có quan hệ tình dục với nam kiến thức cơ bản về HIV/AIDS và tình dục an toàn. Năm 2009, đường dây tư vấn miễn phí về đồng tính nữ 043.775.9335 ra đời với mục đích cung cấp thông tin và tư vấn tâm lý cho những người đồng tính nữ, gia đình hoặc bạn bè của họ, những người muốn tìm hiểu thêm về đồng tính.

Với sự ra đời và hoạt động của các cơ quan, tổ chức về quyền của cộng đồng LGBT đã giúp cho cộng đồng này thể hiện bản thân rõ ràng hơn và đã có những hoạt động đánh dấu sự hòa nhập của họ với xã hội trong thời gian gần đây như việc tổ chức các hội thảo về người đồng tính, người chuyển giới và quyền của cộng đồng người LGBT đã thu hút được đông đảo người tham gia; Tổ chức các sự kiện “được là chính mình”; nhảy tập thể Flashmob “yêu là yêu”; sự kiện Hand in Hand… Các hoạt động trên không chỉ thu hút đông đảo cộng đồng LGBT mà cả những người dị tính tham gia và ủng hộ.

Năm 2012, Bộ tư pháp gửi công văn số 3460/BTP – PLDSKT ngày 7/5/2012 lấy ý kiến tham vấn vấn đề đánh giá các hạn chế, bất cập trong quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và trong thực tiễn thi hành, có đề cập đến vấn đề kết hôn cùng giới. Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Như vậy, trong những năm gần đây cộng đồng người LGBT đã ngày càng hòa nhập hơn với xã hội, đồng thời xã hội cũng đã có những cái nhìn rộng mở hơn đối với cộng đồng LGBT. Bên cạnh đó, Chính phủ đã bước đầu nghiên cứu chính thức việc hợp pháp hóa hôn nhân giữa hai người cùng giới, điều đó cho thấy sự cần thiết phải thay đổi nhận thức chung của xã hội về người LGBT và các quy định của pháp luật về quyền kết hôn giữa họ.

Tại Việt Nam chưa có nhiều nghiên cứu, điều tra tổng thể về người LGBT nhưng thực tế cho thấy cộng đồng người LGBT Việt Nam cũng là những người bình thường trong xã hội- họ có mặt ở mọi lứa tuổi, ngành nghề, môi trường xã hội và cũng có những cống hiến cho xã hội như những người dị tính. Vì vậy, họ phải được hưởng đầy đủ các quyền con người, trong đó có quyền kết hôn như những người dị tính. Như đã phân tích ở trên quyền kết hôn là quyền tự nhiên vốn có của con người, đã là quyền con người thì mọi người đều bình đẳng như nhau trong việc hưởng các quyền đó.

Người LGBT ở Việt Nam được hưởng đầy đủ các quyền nhân thân và quyền tài sản do pháp luật dân sự quy định chung cho mọi cá nhân: họ đều có năng lực pháp luật dân sự bình đẳng với năng lực pháp luật dân sự của các cá nhân khác. Tuy nhiên, do những đặc điểm xu hướng tính dục và bản dạng giới riêng của những người trong cộng đồng LGBT, các quy định pháp luật được quy định chung cho tất cả mọi người lại vô tình hoặc hữu ý không đáp ứng được đầy đủ nhu cầu, nguyện vọng cũng như chưa đảm bảo cho cộng đồng người LGBT thực hiện được các quyền và lợi ích chính đáng, trong đó có quyền kết hôn. Vì vậy, đòi hỏi phải có những quy định pháp luật riêng nhằm đảm bảo các quyền cơ bản cho cộng đồng người LGBT.

Vấn đề đặt ra là làm thế nào giải quyết hài hòa giữa hai vấn đề: quan niệm truyền thống về hôn nhân và nhu cầu đích thực của những người LGBT. Theo quan niệm truyền thống của người Việt Nam, hôn nhân là sự kết hợp của một nam và một nữ với chức năng chính là duy trì nòi giống. Việc thừa nhận hôn nhân đồng giới là sự tiếp nhận một mô hình gia đình mới, điều này đang gặp không ít khó khăn, bởi lẽ người ta lo sợ hôn nhân đồng giới ảnh hưởng đến phong tục, tập quán của dân tộc. Có thể nhận thấy, yếu tố văn hóa, truyền thống, tư tưởng châu Á ảnh hưởng khá nhiều đến các quan niệm về đồng tính và hôn nhân cùng giới tại Việt Nam hiện nay. Từ đó, hình thành nhiều tư tưởng quan ngại về tính truyền thống hay mô hình gia đình sẽ bị phá vỡ ở Việt Nam. Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Vấn đề luôn được đặt ra khi xem xét chủ đề hôn nhân cùng giới, đó là liệu nó có làm suy thoái đạo đức, thay đổi chuẩn mực truyền thống hay không? Hôn nhân cùng giới liệu sẽ làm suy thoái nòi giống, đi ngược lại giá trị của cuộc sống hay không ? Cho đến thời điểm hiện tại những câu hỏi như thế này vẫn xuất hiện đều đặn tại các diễn đàn, hội thảo khoa học. Tại hội thảo “Quan điểm xã hội về đồng tính và hôn nhân đồng giới” sáng 13 tháng 12 năm 2012 do Viện Nghiên cứu Xã hội, Kinh tế và Môi trường (iSee) tổ chức, PGS. TS Phùng Trung Tập đã phân tích “Gia đình là một tế bào của xã hội. Bản chất của gia đình là sinh con đẻ cái, duy trì nòi giống, phát triển dân tộc. Khi công nhận hôn nhân đồng tính sẽ có ảnh hưởng nhất định đến xã hội bởi hôn nhân đồng tính không thể sinh con đẻ cái. Nếu xã hội nào cũng thừa nhận thì có thể vài trăm năm sau loài người sẽ bị tuyệt chủng”. Chính định kiến, sự kỳ thị trong xã hội đã khiến hầu hết mọi người luôn đặ t ra những câu hỏi đó. Vì vậy, thực chất, việc chấp nhận người đồng tính hay hôn nhân cùng giới là sự thay đổi định kiến, sự kỳ thị chứ không phải là thay đổi chuẩn mực sống hay giá trị truyền thống. Việc thay đổi quan ni ệm, quan điểm hay một hình thái khác là điều tất yếu của xã hội trên thế giới và Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ . Điều cơ bản là ở vấn đề thời gian và các tác nhân tác động đến sự thay đổi đó.

Theo tuyên bố của Liên hợp quốc về tiến bộ xã hội trong phát triển, “Gia đình với tư cách là đơn vị cơ bản của xã hội và là môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của mọi thành viên đặc biệt là trẻ em” [8]. Ở Việt Nam gia đình được coi là một giá trị xã hội quan trọng vào bậc nhất, gia đình được coi là tế bào xã hội, có tính sản sinh với đầy đủ các yếu tố cấu thành của nó như vợ – chồng – con cái. Theo từ điển tiếng Việt – NXB Thanh niên thì “gia đình là tập hợp người cùng sống chung thành một đơn vị nhỏ nhất trong xã hội, gắn với nhau bằng quan hệ hôn nhân và dòng máu, thường gồm có cha mẹ, vợ chồng và con cái” [14], vì vậy mà khái niệm gia đình thường được hiểu là của một cặp đôi dị tính. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay xuất hiện hình thức khác nhau của “gia đình” ví dụ, hai người một nam và một nữ chung sống với nhau, có con cái nhưng không đăng ký kết hôn hoặc một cặp đôi đồng tính chung sống với nhau , cùng nuôi nấng con cái … từ đó cho thấy, khái niệm gia đình vẫn hoàn toàn có thể được thay đổi để có sự điều chỉnh phù hợp hơn với những trạng thái khác nhau trong xã hội.

Trong xã hội hiện nay, với sự phát triển của kinh tế- xã hội, khoa học kỹ thuật, gia đình không còn đơn thuần mang ý nghĩa là một đơn vị sản xuất nữa mà với sự trợ giúp của rất nhiều thiết chế xã hội khác (nhà trẻ, trường học, bệnh viện, nhà dưỡng lão) gia đình đã phát triển thành một đơn vị xã hội đa chức năng. Chức năng sinh sản và duy trì nòi giống không còn là mục đích tối cao của hôn nhân nữa. Các cặp đôi kết hôn có thể không sinh con, hoặc có thể xin con nuôi mà gia đình vẫn hạnh phúc. Bên cạnh đó, việc sinh sản đã được hỗ trợ nhiều bởi sự phát triển của ngành y tế, trường hợp vô sinh có thể sử dụng sự trợ giúp của y tế hiện đại để có con. Từ đó cho thấy trong xã hội hiện nay các chức năng của gia đình đã được giảm tải bớt bởi các thiết chế xã hội khác, chỉ có một chức năng mà khó một thiết chế xã hội nào có thể gánh vác được, đó là chức năng thỏa mãn tình cảm đôi lứa. Như vậy, sự thay đổi các chức năng của gia đình đã và đang diễn ra ngay ở bản thân các gia đình dị tính. Nguyên nhân cơ bản của sự thay đổi này là do những biến động của đời sống kinh tế – xã hội – văn hóa, và không liên quan gì đến liên kết hôn nhân dị tính hay đồng tính. Nếu sự thay đổi các tiêu chí giá trị truyền thống đang xảy ra ở các gia đình dị tính thì không có căn cứ nào để nói rằng hôn nhân đồng tính làm xói mòn giá trị truyền thống gia đình. Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Ngoài ra, quan điểm không thừa nhân hôn nhân giữa những người cùng giới tính bởi quan hệ này không thực hiện được chức năng của gia đình là việc sinh sản và duy trì nòi giống cũng gặp phải một số ý kiến phản biện nêu rằng tại sao không cấm những người vô sinh, người già không còn khả năng sinh sản kết hôn với nhau mà lại cấm người đồng tính kết hôn với nhau [11]. Như đã nói ở trên trong xã hội hiện nay việc kết hôn không phải chỉ để duy trì nòi giống, thứ hai việc sinh sản đã có sự trợ giúp rất nhiều của nền y tế hiện đại, vấn đề quan trọng là phải hướng đến quyền con người, nhu cầu kết hôn của người LGBT.

Bên cạnh vấn đề sinh sản của các cặp đôi cùng giới thì vấn đề nuôi dạy con của những cặp đôi đồng tính cũng đang được rất nhiều người quan tâm, nghiên cứu. Tuy nhiên như đã phân tích ở trên, đồng tính, song tính là thiên hướng tính dục, được hình thành từ rất sớm bởi sự tác động của nhiều yếu tố khác nhau, nó không phải là một sự lựa chọn có ý chí và chưa có nghiên cứu nào chứng minh sống chung với người đồng tính sẽ trở thành đồng tính. Những lo ngại trên xuất phát từ yếu tố truyền thống, tác động của dư luận xã hội đến sự phát triển, nhìn nhận đánh giá về mô hình gia đình cặp đôi đồng tính.

Như vậy, việc thừa nhận quyền kết hôn của người LGBT hiện nay là hết sức cần thiết bởi sự phát triển của kinh tế -xã hội và nhu cầu được pháp luật công nhận quyền kết hôn của người LGBT đang lên cao trong những năm gần đây. Vấn đề đặt ra là sự cần thiết phải thay đổi nhận thức xã hội về người LGBT cũng như về hôn nhân và gia đình.

Từ trước tới nay hầu như người ta chỉ biết đến hai khái niệm cơ bản, hôn nhân và không phải hôn nhân, tuy nhiên pháp luật thế giới còn tồn tại nhiều chế định khác nhau, tương đương hoặc thấp hơn chế định hôn nhân, như: quan hệ gia đình, kết đôi có đăng ký, kết hợp dân sự hay các tên gọi khác. Nhìn chung có thể phân chia các hình thức công nhận pháp lý mối quan hệ giữa hai người cùng giới tính trên thế giới với ba nhóm khác nhau: Hôn nhân; Sống chung có đăng ký và sống chung không có đăng ký. Trong đó, hôn nhân là hình thức đảm bảo đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của các cặp đôi, được nhà nước công nhận dưới hình thức giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; trong khi đó hình thức chung sống không có đăng ký lại là hình thức hạn chế nhiều nhất các quyền và nghĩa vụ của các cặp đôi, không đăng ký với nhà nước, nhà nước không thừa nhận. Hai hình thức trên có thể áp dụng cho cả các cặp đôi đồng tính và dị tính. Hình thức chung sống có đăng ký được áp dụng cho các cặp đôi đồng tính, có thể coi đây là một hình thức thấp hơn so với hình thức kết hôn vì các quyền và nghĩa vụ của các cặp đôi vẫn còn hạn chế. Tuy nhiên, đây lại là hình thức kết đôi của người đồng tính được pháp luật thừa nhận. Các hình thức kết đôi của người đồng tính khá đa dạng trên thế giới, bởi vì vấn đề đồng tính, hôn nhân cùng giới luôn là vấn đề nhạy cảm. Bên cạnh đó, vấn đề của người đồng tính nói riêng và người LGBT nói chung còn chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố như văn hóa, kinh tế xã hội từ đó ảnh hưởng đến việc ghi nhận quyền kết hôn giữa họ. Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Trong ba hình thức kết đôi kể trên thì hình thức chung sống không đăng ký đang là hình thức phổ biến nhất, ngược lại hình thức kết hôn lại là hình thức còn hạn chế nhất. Hình thức chung sống có đăng ký là hình thức kết đôi có đăng ký với nhà nước và được cấp giấy chứng nhận như: “có quan hệ gia đình”; “chung sống có đăng ký” hoặc tên tương tự. Hình thức này được quy định chủ yếu cho các cặp đôi cùng giới, tuy nhiên một vài quốc gia cũng cho phép các cặp đôi dị tính đăng ký theo hình thức này. Hình thức này, quy định cho các cặp các quyền và nghĩa vụ tương tự như hôn nhân (có thể có một số ngoại lệ). Tính tới năm 2012, trong tổng số 207 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới, có 21 quốc gia khác chấp nhận đồng tính chung sống dưới hình thức kết hợp dân sự cùng với đó là một số tiểu bang ở Mỹ, Úc và Mexico.

Hình thức sống chung có đăng ký được coi là một giải pháp, một bước đệm trước khi tiến đến công nhận hôn nhân bình đẳng của những người đồng tính. Với hình thức sống chung có đăng ký các cặp đôi đồng tính bị hạn chế một số quyền như: nhận con nuôi chung; phải đóng thuế cao hơn… (phụ thuộc vào các nước khác nhau). Có thể cho rằng hình thức này sẽ không làm thay đổi quan niệm truyền thống về kết hôn, gia đình và hạn chế được những xáo trộn trong xã hội. Tuy nhiên, những người ủng hộ nhân nhân đồng tính lại cho rằng chế định này chưa đảm bảo hết các quyền cơ bản của người LGBT, vẫn còn phân biệt đối xử. Có lẽ cũng chính vì vậy mà các nước đang dần chuyển từ hình thức kết hợp dân sự hay sống chung có đăng ký sang hình thức kết hôn, ví dụ như Hà Lan (chuyển sang kết hôn bình đẳng năm 2000), Đan Mạch (năm 2012).

Ngày 22 tháng 5 năm 2015, thông qua một cuộc trưng cầu dân ý với hơn 1,2 triệu phiếu thuận tương đương hơn 62% tổng số phiếu, Ireland đã hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới. Đến ngày 26/06/2015, Tòa án Tối cao Mỹ đã chính thức công nhận, mọi công dân Mỹ đều có thể kết hôn, không phân biệt giới tính hay xu hướng tình dục, với tỷ lệ 5/4 số phiếu biểu quyết. Như vậy, tính đến nay đã có 20 quốc gia trên thế giới hợp pháp hóa hôn nhân đồng giới gồm: Argentina, Bỉ, Bồ Đào Nha, Canada, Đan Mạch, Iceland, Ireland, Luxembourg, Hà Lan, New Zealand, Na Uy, Nam Phi, Phần Lan, Pháp, Tây Ban Nha, Thụy Điển, Uruguay, Vương quốc Anh (trừ Bắc Ireland), xứ Wales và Mỹ. Một số quốc gia chỉ công nhận hôn nhân đồng giới trong phạm vi một vài vùng lãnh thổ như: Brazil [44] và Mehico. Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Bên cạnh đó, tại Châu Á vào năm 2013, một số phụ nữ đồng tính Campuchia đã chung sống với nhau hơn 10 năm ở một số tỉnh Campuchia sẽ có thể trở thành những cặp đôi đồng tính đầu tiên ở Châu Á, đây được coi là một sự kiện khá hi hữu.

Như vậy, vấn đề kết hôn của người LGBT trên thế giới khá đa dạng, phụ thuộc vào tình hình kinh tế, xã hội, truyền thống văn hóa của các nước khác nhau thì khác nhau. Tuy nhiên, các nước hiện đại đang hướng dần đến sự công nhận quyền kết hôn của người LGBT, đảm bảo sự bình đẳng về các quyền con người.

Xét một cách khái quát pháp luật Việt Nam chưa thực sự theo kịp với sự thay đổi của các quan hệ xã hội nói chung và các quan hệ xã hội của người LGBT trong nước nói riêng. Các quan hệ sống chung của người đồng tính đặt ra yêu cầu xem xét thừa nhận quan hệ này (từ đó phát sinh các quan hệ về tài sản, nhân thân, con cái…); người chuyển giới bị kỳ thị rất nhiều trong xã hội, cần được thừa nhận quyền phẫu thuật để tránh khỏi một số trường hợp không được bảo vệ đầy đủ (ví dụ như bị hiếp dâm; khi thi hành án phạt tù không biết giam ở phòng nam hay phòng nữ…);

Quan điểm của xã hội cũng như các nhà lập pháp về những vấn đề trên còn khác nhau, thậm chí mâu thuẫn và ở nhiều mức độ khác nhau. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân:

Việt Nam còn giữ quan niệm truyền thống, ăn sâu vào suy nghĩ của nhiều người nên không chấp nhận người LGBT, coi đó là hiện tượng bất thường, sự khiếm khuyết của xã hội. Chủ nghĩa độc tôn dị tính đã ăn sâu vào tâm trí của nhiều người dân Việt Nam. Từ đó, bó hẹp trong khuôn khổ của một “xã hội dị tính” là điều phổ biến.

Một số nhóm trong xã hội hiện nay có cái nhìn tích cực về người LGBT nhưng vẫn chưa ủng hộ họ có quyền đầy đủ như người dị tính. Điều đó cho thấy, việc chấp nhận, công nhận các quyền bình đẳng của người LGBT cần có một thời gian nhất định, không thể ngay lập tức thay đổi toàn bộ quan niệm thông thường của xã hội.

Bản thân những nhà lập pháp trước đây khi xây dựng các văn bản pháp luật có liên quan đến cộng đồng LGBT (ví dụ như Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, Bộ luật dân sự năm 2005, Nghị định số 88/2008/NĐ-CP,…) cũng chưa thực sự hiểu đầy đủ, đúng đắn về người LGBT [1], chưa tiếp cận được với sự đa dạng tính dục, đa dạng bản dạng giới khác nhau của xã hội. Một trong những biểu hiện của việc chưa tiếp cận ngày được thể hiện ở quan niệm về bình đẳng giới của Việt Nam được hình thành theo xu hướng cổ điển.

3.2. Một số kiến nghị chung Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Thứ nhất, các quan điểm về người LGBT chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố khác nhau như chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội… Ở Việt Nam, trong bối cảnh văn hóa, truyền thống còn gặp nhiều rào cản, nhận thức của xã hội còn chưa đầy đủ và còn nhiều kỳ thị thì vấn đề hợp pháp hóa một số quyền của người LGBT Việt Nam cần đi theo một lộ trình hợp lý, để tránh việc gây xáo trộn trong xã hội, đồng thời để người dân hiểu và thông cảm đối với người LGBT. Pháp luật được sử dụng như một công cụ để dần định hướng xã hội theo những giá trị nhân văn chung của thế giới.

Thứ hai, bản chất của yếu tố văn hóa, truyền thống mang tính bối cảnh luôn biến đổi không ngừng. Vậy có nghĩa rằng chúng ta hoàn toàn có thể thay đổi truyền thống. Cũng chính vì vậy, không thể dùng truyền thống, văn hóa để biện minh cho sự kỳ thị, phân biệt đối xử đối với người LGBT. Xã hội Việt Nam đang ngày càng tiếp cận với nền văn hóa hiện đại, các tư tưởng ủng hộ người LGBT đang dần hình thành trong tư tưởng của người dân Việt Nam vì vậy thái độ của cộng đồng đối với người LGBT sẽ dần tích cực hơn. Từ đó những giá trị mới sẽ dần được định hình trong đời sống xã hội và pháp luật nước ta. Các nhà lập pháp sẽ có được cái nhìn đầy đủ, toàn diện và nhân văn hơn, tích cực hơn trong việc thừa nhận những yếu tố đó.

Thứ ba, cần mở rộng quan niệm về bình đẳng giới tại Việt Nam, quan niệm về bình đẳng giới có tác động rất lớn đến việc chống phân biệt đối xử, kỳ thị đối với người LGBT. Trong thời gian gần đây, các quốc gia trên thế giới và tổ chức Liên hợp quốc liên tục ghi nhận nguyên tắc: mọi người đều bình đẳng bất kể thiên hướng tình dục nào; chống hình sự hóa đồng tính, đảm bảo nguyên tắc bình đẳng của cộng đồng LGBT, xem vấn đề quyền của LGBT là một trong những thách thức của nhân quyền hiện đại (Mỹ)… Những động thái đó cho thấy đã đến lúc cần thay đổi quan niệm về bình đẳng giới, bao gồm cả việc chống sự phân biệt về thiên hướng tính dục, bản dạng giới.

Thứ tư, bản thân cộng đồng LGBT cũng cần có những động thái tích cực hơn, xây dựng hình ảnh tốt đẹp hơn trong cộng đồng xã hội. Việc làm cho xã hội thấy được LGBT là những điều hết sức bình thường, tự nhiên của loài người là hết sức quan trọng. Từ đó, làm thay đổi quan niệm về một xã hội chỉ có dị tính và nhường chỗ cho một xã hội đa dạng về tính dục hơn. Hành động tích cực của người LGBT sẽ tác động rất lớn đến quá trình lập pháp, giúp cho các nhà lập pháp có cái nhìn đúng hơn, đủ hơn về người LGBT. Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Thứ năm, các tổ chức báo chí, tuyên truyền và các tổ chức xã hội cần phát huy mạnh mẽ hơn nữa vai trò của mình trong vấn đề bảo vệ người LGBT. Đây là những thiết chế có ảnh hưởng rất lớn đến nhận thức của xã hội về cộng đồng người LGBT. Không thể phủ nhận thời gian qua đã có những thay đổi tích cực trong việc phản ánh các tin tức liên quan đến cộng đồng LGBT trên các phương tiện báo chí, truyền thông. Nhiều tổ chức xã hội cũng có những hoạt động rất tích cực trong việc thúc đẩy, bảo vệ quyền của người LGBT Việt Nam. Trong thời gian tới, cần phát huy hơn nữa các hoạt động này, tuy nhiên việc đưa tin, đăng bài của báo chí, truyền thông cần hướng đến những giá trị xã hội chung, khai thác ở các góc độ tích cực hơn để mọi người có cái nhìn đúng hơn về cộng đồng LGBT; mở rộng phạm vi phổ biến đến các vùng nông thôn, miền núi… không chỉ để mọi người hiểu đúng về người LGBT mà còn giúp những người thuộc cộng đồng LGBT hiểu rõ về bản thân mình. Sức mạnh của truyền thông sẽ góp một phần không nhỏ vào việc xây dựng, thực thi quyền của người LGBT Việt Nam.

Nhà nước cần có những chính sách cụ thể hơn để bảo vệ, chăm sóc trẻ em LGBT và phòng chống bạo lực gia đình. Có thể đặt ra các chính sách, đối xử, tạo điều kiện trong đời sống xã hội cho trẻ em LGBT, tránh tình trạng để chúng lang thang và bị lợi dụng, gia tăng các tệ nạn xã hội; Đặc biệt thực hiện các chính sách tuyên truyền về người LGBT làm giảm thiểu những cách hiểu sai lầm về người LGBT, giảm bạo lực trong gia đình đối với người LGBT.

3.3. Một số kiến nghị cụ thể trong lĩnh vực dân sự Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

3.3.1. Về quyền của người đồng tính, song tính

Thực tế những năm qua ở Việt Nam cho thấy nhu cầu được công nhận quyền kết hôn của người LGBT là có thật và việc ban hành các quy định mới trong luật pháp để hợp pháp hóa quan hệ sống chung của người đồng tính, song tính là thực sự cần thiết. Điều này có tác dụng góp phần ổn định xã hội, đáp ứng nhu cầu của người đồng tính là được sống chung “hợp pháp” làm cho người đồng tính, song tính sống có trách nhiệm hơn.

Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 đã bãi bỏ quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính, thay vào đó là quy định “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” và đưa ra những quy định giải quyết hậu quả do việc sống chung như vợ chồng. Quy định trên đã là một tiến bộ rõ rệt trong tư duy làm luật của Việt Nam trong thời gian qua. Từ chỗ cấm (gây kỳ thị, phân biệt đối xử) đến chỗ “không thừa nhận hôn nhân” cũng có những điểm tích cực nhất định. Tuy nhiên, những quy định này của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 dường như còn gây nhiều băn khoăn trong xã hội:

Thứ nhất, quy định như vậy là nửa vời, đã đẩy người LGBT ra ngoài pháp luật, dẫn đến việc hiểu và giải thích luật gặp khó khăn. Luật chỉ nêu “nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” và các quy định giải quyết hậu quả của việc nam và nữ sống chung với nhau như vợ chồng, còn việc sống chung của người LGBT và giải quyết hậu quả của việc sống chung đó thì không được đề cập đến. Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chỉ quy định việc giải quyết hậu quả của nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không có quy định về giải quyết hậu quả việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính. Quy định như vậy đã vô tình đẩy người LGBT ra ngoài pháp luật, đồng thời cũng gây khó khăn cho việc áp dụng pháp luật, bởi lẽ pháp luật không cấm việc những người cùng giới chung sống với nhau như vợ chồng, vì vậy cần có các quy định giải quyết hậu quả của việc chung sống đó. Nếu áp dụng những quy định về việc nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng để giải quyết việc sống chung của những người đồng tính là chưa thực sự đáp ứng hết yêu cầu đặt ra về vấn đề nhân thân, con cái (đặc biệt là việc nuôi con nuôi), tài sản… Dự thảo Luật hôn nhân và gia đình (sửa đổi) trình Quốc hội tháng 10 năm 2013 có quy định tại điều 17d về việc giải quyết hậu quả của việc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng giới tính. Thiết nghĩ quy định quy định đó là cần thiết, nhằm đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ cho những người LGBT.

Thứ hai, không hợp pháp hóa quan hệ sống chung của người đồng tính dưới hình thức có đăng ký sẽ dễ gây bất ổn trong xã hội và thực thi pháp luật, dễ gây kỳ thị trong xã hội và sự cẩu thả trong việc thi hành pháp luật. Quy định như vậy đã vô hình chung đẩy người LGBT ra ngoài các quy định pháp luật. Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Thứ ba, xét trong bối cảnh kinh tế- xã hội hội nhập như hiện nay, quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 là thiếu tính dự báo. Bởi lẽ tư tưởng ủng hộ người đồng tính đang ngày được mở rộng trong xã hội, đồng thời những người đồng tính sẽ ngày càng hiểu rõ về bản thân mình hơn, dám bộc lộ bản thân nhiều hơn. Các quan hệ xã hội của người đồng tính ngày càng phát triển mạnh mẽ, vì vậy có thể trong vòng 5 năm hay 10 năm nữa chúng ta sẽ phải tiếp tục đặt ra vấn đề sửa đổi Luật hôn nhân và gia đình. Đặc biệt, khi đó chúng ta sẽ không có cơ sở thực tiễn về việc chung sống của những cặp đôi đồng tính để đánh giá, xem xét.

Thứ tư, xét dưới góc độ quyền con người, quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chưa đảm bảo được sự công bằng, đang làm hạn chế quyền con người của người đồng tính. “Luật hôn nhân và gia đình chưa thừa nhận hôn nhân cùng giới ở Việt Nam là một thất bại. Tuy nhiên, đây là thất bại của Quốc hội nói riêng và của xã hội Việt Nam nói chung chứ không phải là thất bại của cộng đồng người đồng tính và những cá nhân, tổ chức ủng hộ họ. Thất bại vì pháp luật đã không bảo vệ được sự bình đẳng cho các công dân là người đồng tính của mình. Thất bại vì Việt Nam vẫn phân biệt đối xử với với những người chỉ vì họ sống là chính họ. Tôi nghĩ, cộng đồng người đồng tính đã cố gắng hết mình, nhiều người dũng cảm vượt qua sợ hãi để sống thật, tham gia vận động chính sách và vận động xã hội. Họ xứng đáng được pháp luật đối xử công bằng hơn hiện tại” (theo Ông Lê Quang Bình – Viện trưởng iSEE) [45].

Ở nước ta quan niệm về hôn nhân, gia đình truyền thống vẫn còn khá nặng nề và thực sự khó để thay đổi ngay trong một thời gian ngắn, bên cạnh đó mối quan hệ đồng giới cũng như những quan điểm về hôn nhân đồng giới cũng chưa thật sự rõ ràng. Từ đó, tác giả cho rằng cần xây dựng một lộ trình nhất định cho việc hợp pháp hóa quan hệ hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Đầu tiên cần thiết phải phải đưa ra các quy định để công nhận việc sống chung có đăng ký (kết hợp dân sự) đối với các cặp đôi cùng giới tại Việt Nam. Việc quy định sống chung có đăng ký (kết hợp dân sự) phải được hiểu là sự kết hợp của hai người cùng giới, bao gồm hai người đồng tính, song tính hoặc người chuyển giới đã phẫu thuật và đăng ký sống chung với người có cùng giới tính sau khi phẫu thuật. Công nhận việc chung sống có đăng ký sẽ tạo ra bước đệm để xem xét, đánh giá thêm về mối quan hệ đồng giới trước khi tiến hành công nhận hôn nhân bình đẳng đối với các cặp đôi đồng giới trong thời gian tới. So với việc chỉ đưa ra các quy định về giải quyết hậu quả do việc sống chung không có đăng ký thì việc ban hành các quy định cho phép sống chung có đăng ký sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho Nhà nước xem xét, đánh giá quan hệ đồng giới một cách chính xác và có cơ sở hơn. Sự thừa nhận của pháp luật sẽ cho phép các cặp đôi cùng giới chung sống công khai, được đảm bảo quyền lợi và nghĩa vụ trong mối quan hệ và đẩy lùi một cách cơ bản những định kiến, kỳ thị của xã hội, tạo điều kiện để họ sống tốt và cống hiến cho xã hội. Bên cạnh đó quy định về chung sống có đăng ký cũng không làm ảnh hưởng đến chế định hôn nhân truyền thống, tránh được sự xáo trộn trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay. Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Bên cạnh việc ban hành chế định về kết hợp dân sự cần bổ sung khái niệm kết hợp dân sự và sửa đổi khái niệm gia đình trong Luật hôn nhân và gia đình, cụ thể: “kết hợp dân sự” được hiểu là một hình thức sống chung có đăng ký cho các cặp đôi cùng giới, một hình thức tương tự như hôn nhân, tuy nhiên các bên trong cặp đôi sẽ không được hưởng đầy đủ các quyền như cặp đôi dị tính khi kết hôn. Khái niệm gia đình nên bổ sung thêm về hình thức sống chung có đăng ký, cụ thể: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân hoặc hình thức sống chung có đăng ký…”

Đồng thời cũng cần bổ sung quy định khác về việc kết hợp dân sự có yếu tố nước ngoài, để tránh tình trạng người đồng giới ở nước ngoài đến Việt Nam đăng ký. Ví dụ quy định việc kết hợp dân sự chỉ áp dụng cho các cá nhân đồng tính là công dân Việt Nam với nhau hoặc việc đăng ký kết hợp dân sự chỉ có hiệu lực trên lãnh thổ Việt Nam. Đồng thời cũng cần sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật có liên quan như Luật hộ tịch về mẫu đăng ký, mẫu hủy đăng ký…

Bên cạnh đó, việc sống chung không có đăng ký của cặp đôi dị tính khác với cặp đôi đồng tính, bởi lẽ hầu hết các cặp đôi dị tính có quyền kết hôn nhưng họ lại sống chung không có đăng ký còn các cặp đôi đồng tính không được đăng ký kết hôn nên họ buộc phải sống chung không có đăng ký. Chính vì vậy áp dụng các quy định giải quyết hậu quả của việc nam, nữ sống chung với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn để giải quyết cho cặp đôi đồng tính là chưa đúng về mặt bản chất và không phù hợp, đặc biệt về vấn đề con cái vì các cặp đôi đồng tính không thể có con chung cũng không được nhận con nuôi chung. Vì vậy, đồng thời với việc thừa nhận việc kết hợp dân sự giữa các cặp đôi đồng tính, cần tiến hành sửa đổi, bổ sung một số quy định có liên quan như:

Về các vấn đề liên quan đến con cái: Quy định về việc nuôi con nuôi, trước mắt vẫn cần hạn chế một số quyền nhất định, chỉ được nhận nuôi con nuôi của một trong hai người, chưa được nhận nuôi con nuôi Theo lộ trình và căn cứ tình hình thực tế của việc sống chung của những cặp đôi đồng tính, nếu họ sống ổn định, gắn bó lâu dài và có trách nhiệm với nhau cũng như với đứa trẻ được họ nuôi dưỡng, có thể xem xét công nhận việc nuôi con nuôi chung.

Hiện nay, pháp luật thừa nhận một người nữ được làm mẹ đơn thân (có con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản), nếu thực hiện kết hợp dân sự lại không thể áp dụng bởi vì không còn là phụ nữ đơn thân. Vì vậy, cần bổ sung quy định cho phép cặp đôi đồng tính nữ có con bằng kỹ thuật hỗ trợ sinh sản. Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Về tài sản, quyền đại diện, quyền giám hộ: Mỗi người trong cặp đôi cùng giới có quyền thừa kế của nhau và có tiền tuất nếu một trong hai bên chết, tuy nhiên để tránh tình trạng một bên bị lừa dối hay lợi dụng nên quy định các điều kiện kèm Ví dụ như thời gian chung sống với nhau từ trên 10 năm sẽ được thừa kế tài sản của nhau. Theo lộ trình, căn cứ trên thực tế cuộc sống chung có đăng ký của các cặp đôi cùng giới để dần lược bỏ các điều kiện trên và quy định một cách đầy đủ như các cặp đôi dị tính. Các cặp đôi cùng giới khi đăng ký kết hợp dân sự có quyền đại diện, giám hộ cho nhau như cặp đôi dị tính. Tuy nhiên, vấn đề về giám hộ đối với con đẻ hoặc con nuôi của cặp đôi đồng tính cần căn cứ vào tình hình thực tế và quyền lợi của trẻ em để xây dựng một lộ trình cụ thể. Hiện tại vẫn nên áp dụng theo quy định của pháp luật hiện hành vì trên thực tế họ không có con đẻ hay con nuôi chung.

Các quy định về người đồng tính nêu trên nên chỉ có hiệu lực trong phạm vi lãnh thổ nước Việt Nam và đối với công dân Việt Nam. Đối với phạm vi ngoài lãnh thổ Việt Nam còn phụ thuộc vào quy định của nước sở tại và các điều ước quốc tế, hiệp định tương trợ tư pháp có liên quan. Hạn chế việc kết hợp dân sự giữa các cặp đôi đồng tính có yếu tố nước ngoài, tránh tình trạng người nước ngoài vào đăng ký tại Việt Nam.

3.3.2. Về quyền của người chuyển giới

Có thể thấy tại Việt Nam người chuyển giới đang bị kỳ thị nhiều nhất trong xã hội. Đã đến lúc xã hội nên thừa nhận và bảo vệ quyền lợi chính đáng của họ trên cả phương diện pháp lý và đời sống xã hội. Người chuyển giới đang phải đối mặt với rất nhiều vấn đề khác nhau: sự kỳ thị xã hội, thiếu quy định pháp lý đặc thù, thiếu chăm sóc y tế, hiếm cơ hội việc làm… người chuyển giới thực sự đang sống bên lề xã hội. Mong muốn được sống là chính mình là điều chính đáng đối với mỗi con người, điều này đã được ghi nhận trong Hiến pháp. Bản thân người chuyển giới cũng là những công dân nên cần được tạo điều kiện nâng cao sự bình đẳng và hưởng đầy đủ các quyền như những công dân khác.

Dự thảo Bộ luật dân sự (sửa đổi) trình Quốc hội đã đưa đề cập đến vấn đề này tại khoản 2 Điều 36 như sau:

  • Nhà nước không thừa nhận việc chuyển đổi giới tính.

Trường hợp cá nhân đã chuyển đổi giới tính thì có quyền yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền thay đổi hộ tịch và có các quyền nhân thân khác theo quy định tại khoản 1 Điều này.

Quy định như vậy là mâu thuẫn gây khó khăn trong công tác quản lý hành chính. Hiện nay, nhà nước không công nhận việc chuyển đổi giới tính nhưng thực tế việc chuyển đổi giới tính vẫn xảy ra và tỷ lệ phẫu thuật chuyển đổi giới tính ngày càng tăng. Vì vậy, nếu pháp luật không thừa nhận việc chuyển đổi giới tính người chuyển giới vô tình phải sống ngoài pháp luật. Để đảm bảo quyền lợi cho người chuyển giới, đồng thời đảm bảo sự đồng nhất của pháp luật cần phải có những thay đổi pháp luật cụ thể như sau: Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Bổ sung quy định về cho phép phẫu thuật chuyển đổi giới tính đối với người chuyển giới với tư cách là một quyền nhân thân, đồng thời bãi bỏ quy định về cấm phẫu thuật chuyển đổi giới tính đối với người hoàn thiện về mặt giới tính. Bổ sung quy định về quy trình chuyển đổi giới tính, từ quá trình thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính; một số điều kiện nhất định đối với người thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính; các hệ quả liên quan đến việc chuyển đổi giới tính của họ như quan hệ hôn nhân, quan hệ tài sản, thay đổi giấy tờ, vấn đề việc làm… Từ đó tạo cơ sở để người chuyển giới có thể thay đổi giấy tờ tùy thân, tham gia bình thường vào các quan hệ dân sự, quan hệ xã hội… Điều này sẽ tạo sự ổn định hơn trong xã hội, đồng thời đây cũng là cách để mọi người có được cái nhìn chính xác và toàn diện hơn về người chuyển giới.

Bên cạnh đó cũng cần sửa đổi các quy định về người liên giới tính như sửa đổi Điều 36 của Bộ luật dân sự năm 2005, Nghị định 88/2008/NĐ-CP và Thông tư số 29/2010/TT-BYT ngày 24/5/2010 ngày 24/05/2010 của Bộ Y tế hướng dẫn thi hành một số điều Nghị định 88/2008/NĐ-CP ngày 05/08/2008 của Chính phủ về xác định lại giới tính và các quy định thủ tục hành chính có liên quan theo hướng quy định đầy đủ hơn về khái niệm liên giới tính. Đồng thời bổ sung thêm quy định về thời điểm thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính, việc phẫu thuật chuyển đổi giới tính nên để chính người phẫu thuật quyết định lựa chọn giới chính, vì vậy có lẽ nên xác định thời điểm phẫu thuật là khi đủ 18 tuổi. Tránh trường hợp khi đứa trẻ sinh ra là người liên giới tính hoặc có khuyết tật về bộ phận sinh dục mà bố mẹ dựa vào cảm quan của mình để thực hiện phẫu thuật xác định giới tính không phù hợp với giới tính mong muốn của những đứa trẻ đó khi chúng lớn lên.

Vấn đề kết hôn của người chuyển giới: Người chuyển giới có thể là người đồng tính, song tính hay dị tính vì vậy họ có thể kết hôn với người có giới tính khác với giới tính sinh học (kể cả trường hợp trước hoặc sau khi tiến hành phẫu thuật chuyển đổi giới tính) hoặc sống chung với người cùng giới tính. Trường hợp họ sống chung với người cùng giới tính thì thực hiện đăng ký kết hợp dân sự, nếu họ kết hôn với người khác giới thì tương tự như cặp đôi dị tính. Tuy nhiên, đối với người chuyển giới trước khi phẫu thuật chuyển đổi giới tính họ có thể đã kết hôn với một người khác giới vì vậy cần xây dựng các quy định về việc giải quyết hậu quả của người phẫu thuật chuyển đổi giới tính sau khi kết hôn về con cái, tài sản và quan hệ nhân thân với người vợ/chồng hiện tại. Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Đồng thời, để đảm bảo thuận lợi cho các nhà hành pháp thì Luật hộ tịch cần có quy định liên quan đến việc cải chính hộ tịch, giấy tờ nhân thân của người chuyển giới. Trên giấy tờ tùy thân có thể có thêm mục “khác” hoặc “chuyển giới” để những người chuyển giới nhưng chưa thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính hoặc người chưa xác định được chắc chắn giới tính của mình có thể ghi.

Các quy định về con cái, quan hệ tài sản, quyền đại diện, giám hộ đối với mỗi trường hợp sống chung của người chuyển giới nêu trên sẽ áp dụng tương tự các quy định của cặp đôi đồng tính nếu đăng ký kết hợp dân sự hoặc cặp đôi dị tính nếu kết hôn. Riêng đối với vấn đề con cái sẽ xảy ra trường hợp người chuyển giới sau khi thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính sẽ không còn khả năng sinh sản vì vậy nên có quy định mở hơn, xem xét cho phép người chuyển giới lưu giữ tinh trùng/trứng của mình trong ngân hàng trước khi thực hiện phẫu thuật chuyển đổi giới tính để sau này có thể nhờ người khác mang thai hộ.

Bên cạnh các quy định về Luật dân sự thì các quy định về Tố tụng dân sự, tố tụng hình sự… cũng cần có những thay đổi theo cho phù hợp.

Bên cạnh đó, Nhà nước cần có những giải pháp thiết thực hơn để giúp cho người LGBT có thể tiếp cận với pháp luật nhiều hơn, biết được các quyền của mình rõ hơn. Ví dụ như các cơ quan nhà nước có thể kết hợp với các tổ chức xã hội hoạt động trong lĩnh vực bảo vệ quyền của người LGBT, tổ chức các phong trào tuyên truyền pháp luật, đưa pháp luật đến với người LGBT, hoặc các phong trào để người LGBT hiểu rõ hơn về bản thân để sống đúng với pháp luật.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

Nếu quyền được kết hôn và mưu cầu hạnh phúc được xem là một trong những quyền cơ bản của con người thì việc cụ thể hóa các quyền đó vào trong hệ thống pháp luật của quốc gia là điều cần được quan tâm thực hiện. Bên cạnh đó, nếu đã là quyền cơ bản của con người thì tất cả mọi người không phân biệt giới tính, tôn giáo, dân tộc… đều được hưởng đầy đủ như nhau. Vì vậy, vấn đề tất yếu được đặt ra là đảm bảo quyền con người cơ bản của cộng động người LGBT, trong đó có quyền được kết hôn bình đẳng. Để đảm bảo được các quyền đó đòi hỏi pháp luật phải có những thay đổi nhất định về việc cho phép kết hôn hoặc kết hợp dân sự đối với người cùng giới, cho phép chuyển đổi giới tính đối với người chuyển giới. Tùy vào điều kiện kinh tế, xã hội của đất nước mà xây dựng lộ trình hợp lý.

Trong Luận văn, tác giả đã tìm hiểu nghiên cứu về cộng đồng người LGBT về các quan điểm, quan niệm của xã hội về cộng đồng người LGBT. Đi sâu, làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay ảnh hưởng đến quyền của người LGBT (dưới góc độ dân sự). Từ đó làm rõ những bất cập giữa đòi hỏi của sự phát triển xã hội với các quy định của pháp luật hiện hành. Từ đó đưa ra những ý kiến nhằm sửa đổi, bổ sung quy định của pháp luật hiện hành nhằm bảo đảm quyền kết hôn của cộng đồng người LGBT dưới góc độ quyền con người tại Việt Nam trong thời gian tới. Luận văn: Giải pháp kết hôn người LGBT về quyền con người.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Kết hôn giữa những người LGBT về quyền con người

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464