Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân
2.1.1. Quy định về chủ đầu tư bệnh viện tư nhân
Theo quy định của pháp luật hiện hành, bệnh viện tư nhân là một cơ sở y tế do cá nhân, tổ chức góp vốn thành lập và làm chủ sở hữu. Các quy định về chủ đầu tư của bệnh viện tư nhân được xác định tương ứng với đầu tư tạo lập doanh nghiệp. Theo đó, cá nhân, tổ chức muốn thành lập bệnh viện phải thuộc đối tượng được quyền thành lập doanh nghiệp. Tất cả tổ chức, cá nhân đều có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam trừ các trường hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014, bao gồm:
Các cán bộ, lãnh đạo trong cơ quan nhà nước và các đơn vị thuộc quân đội:
- Cơ quan Nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản Nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
- Cán bộ, công chức, viên chức. Viên chức được góp vốn nhưng không tham gia quản lý, điều hành công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, hợp tác xã, bệnh viện tư, trường học tư và tổ chức nghiên cứu khoa học tư [15] ;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp thuộc Công an nhân dân Việt Nam ;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước ;
Chủ thể không được thành lập theo quy định của Luật phá sản 2014: Người giữ chức vụ quản lý của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản mà cố ý vi phạm quy định liên quan có thể bị cấm thành lập, quản lý doanh nghiệp trong thời hạn 03 năm [18];
Chủ thể không được thành lập theo quy định của Luật phòng, chống tham nhũng: Người có chức vụ, quyền hạn không được thành lập, tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh [19].
- Chủ thể khác:
Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc; đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ, làm công việc nhất định liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Có thể thành lập bệnh viện theo các hình thức doanh nghiệp như công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Pháp luật không quy định về việc thành lập bệnh viện theo hình thức doanh nghiệp nào. Nhưng trên thực tế bệnh viện tư nhân chủ yếu được thành lập dưới dạng công ty TNHH và công ty Cổ phần. Đối với công ty hợp danh là công ty đối nhân, hoạt động dựa trên sự tin cậy của các thành viên về nhân thân, sự góp vốn chỉ là thứ yếu thường không được lựa chọn để thành lập bệnh viện tư nhân do bệnh viện tư nhân cần nguồn vốn lớn, cần sự đầu tư nhiều của các chủ đầu tư. Bệnh viện tư nhân không được thành lập dưới dạng doanh nghiệp tư nhân do doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân.
Đối với chủ đầu tư là người nước ngoài, theo quy định tại Biểu cam kết thương mại dịch vụ của Việt Nam trong WTO số WT/ACC/48/Add.2, ngày 27/10/2006, và Hiệp định tự do thương mại song phương và đa phương mà Việt Nam tham gia (FTAs) đối với dịch vụ y tế và xã hội thì: Dịch vụ bệnh viện (CPC 9311): Nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài được cung cấp dịch vụ thông qua thành lập bệnh viện 100% vốn đầu tư nước ngoài, liên doanh với đối tác Việt Nam hoặc thông qua hợp đồng hợp tác kinh doanh.Vốn đầu tư tối thiểu cho một bệnh viện là 20 triệu đô la Mỹ. Hiệp định khung ASEAN về dịch vụ (AFS) cũng không hạn chế điều kiện đầu tư nước ngoài trong lĩnh vực bệnh viện. Pháp luật Việt Nam không quy định điều kiện về phạm vi đầu tư, hình thức đầu tư, vốn đầu tư với đối tác đầu tư nước ngoài.
Các quy định trên dựa trên tinh thần của Hiến pháp 2013 “Mọi người có quyền tự do kinh doanh trong những ngành, nghề mà pháp luật không cấm” [16]. Theo đó mọi cá nhân, tổ chức đều có quyền thành lập bệnh viện tư nhân nếu có đủ tư cách pháp lý và không thuộc vào đối tượng pháp luật cấm. Việc quy định như vậy thể hiện pháp luật Việt Nam hết sức tạo điều kiện đối với các chủ thể có nhu cầu thành lập bệnh viện tư. Các cá nhân, tổ chức trong nước hoặc nước ngoài khi tham gia vào thị trường kinh doanh của Việt Nam đều được quyền và bình đẳng trước pháp luật.
2.1.2. Quy định về góp vốn Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Xây dựng, thành lập và duy trì hoạt động của bệnh viện tư nhân cần nguồn vốn rất lớn do phải chuẩn bị về cơ sở hạ tầng, trang thiết bị máy móc hiện đại theo quy định của pháp luật và nhu cầu của xã hội, đảm bảo cho việc chẩn đoán, điều trị nhanh chóng, chính xác đem lại hiệu quả cao. Việc góp vốn vào bệnh viện tư có thể căn cứ vào các quy định pháp luật về góp vốn vào doanh nghiệp của Luật doanh nghiệp 2014.
Khoản 13 điều 4 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về góp vốn như sau: “Góp vốn là việc góp tài sản để tạo thành vốn điều lệ của công ty. Góp vốn bao gồm góp vốn để thành lập doanh nghiệp hoặc góp thêm vốn điều lệ của doanh nghiệp đã được thành lập”. Việc góp vốn là sự cam kết mức trách nhiệm vật chất của các thành viên doanh nghiệp với khách hàng, đối tác.
Đồng thời, đây là vốn đầu tư cho hoạt động của doanh nghiệp và cũng là cơ sở để phân chia lợi nhuận và xử lý rủi ro trong kinh doanh đối với các thành viên góp vốn. Tài sản góp vốn được quy định tại Điều 35 Luật doanh nghiệp 2014. Theo đó tài sản góp vốn có thể là có thể là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng, giá trị quyền sử dụng đất, giá trị quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ, bí quyết kỹ thuật, các tài sản khác có thể định giá được bằng Đồng Việt Nam. Chỉ các cá nhân, tổ chức là chủ sở hữu hợp pháp đối với các quyền này mới có quyền sử dụng các tài sản đó để góp vốn. Đối với tài sản là quyền sử dụng đất, người góp vốn phải là người có quyền sở hữu và sử dụng đất hợp pháp được pháp luật công nhận. Trước khi góp vốn vào công ty phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu, sử dụng đất tại cơ quan có thẩm quyền, không phải chịu lệ phí trước bạ cho doanh nghiệp.
Về thời hạn góp vốn, chủ sở hữu, thành viên phải góp đủ, đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với công ty TNHH một thành viên và công ty TNHH hai thành viên trở lên. Đối với doanh nghiệp là công ty cổ phần các cổ đông phải thanh toán đủ số cổ phần đã đăng ký mua trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trừ trường hợp Điều lệ công ty hoặc hợp đồng đăng ký mua cổ phần quy định một thời hạn khác ngắn hơn. Thời hạn góp vốn điều lệ khi mới thành lập doanh nghiệp được quy định tại các khoản 2 điều 74, khoản 2 điều 48 và khoản 1 điều 112 của Luật doanh nghiệp 2014. Theo quy định tại Điều 32 Luật Doanh nghiệp 2014 thì khi doanh nghiệp tăng vốn điều lệ cần nộp ngay và đủ số tiền vốn tăng sau đó mới thực hiện thủ tục thay đổi đăng ký doanh nghiệp với Sở Kế họach và Đầu tư. Thời hạn thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh không quá 10 ngày kể từ ngày có thay đổi. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
- Về trình tự, thủ tục góp vốn:
Trình tự, thủ tục góp vốn gồm các bước định giá tài sản góp vốn, lập hồ sơ góp vốn và giao nhận tài sản góp vốn. Định giá tài sản góp vốn được quy định tại điều 37 Luật doanh nghiệp 2014. Tất cả các thành viên sáng lập có quyền tự định giá, định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc theo một tổ chức định giá chuyên nghiệp định giá. Không bắt buộc phải có xác nhận của cơ quan nhà nước hoặc công chứng. Tài sản góp vốn không phải là Đồng Việt Nam, ngoại tệ tự do chuyển đổi, vàng phải được các thành viên, cổ đông sáng lập hoặc tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá và được thể hiện thành Đồng Việt Nam. Khi có thành viên mới góp vốn, người định giá phải là Hội đồng thành viên hoặc Hội đồng quản trị. Nếu định giá cao hơn so với mức giá thực tế tại thời điểm góp vốn, người góp vốn và người định giá phải góp đủ số vốn như đã được định giá. Nếu gây thiệt hại cho người khác thì phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường.
Soạn thảo hồ sơ góp vốn, lập bản cam kết góp vốn: là sự thỏa thuận giữa các bên về nội dung liên quan đến tài sản góp vốn, giá trị tài sản góp vốn, thời hạn góp vốn, quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia, đăng ký thay đổi vốn điều lệ của công ty với phòng đăng ký kinh doanh – Sở kế hoạch đầu tư nếu góp thêm vốn điều lệ vào công ty đã thành lập.
Giao nhận tài sản góp vốn: Việc này phải được thực hiện trong thời hạn cam kết trong bản cam kết hoặc theo quy định của pháp luật với từng loại hình doanh nghiệp. Về việc chuyển quyền sở hữu tài sản góp vốn được pháp luật quy định cụ thể tại Điều 36 Luật doanh nghiệp 2014. Đối với tài sản phải đăng ký quyền sở hữu thì thủ tục giao và nhận tài sản có thể thực hiện trước hoặc sau khi làm thủ tục chuyển quyền sở hữu. Tuy nhiên, doanh nghiệp chỉ trở thành chủ sở hữu khi đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu. Sau khi hoàn thành thủ tục đăng ký quyền sở hữu thì tài sản thuộc về doanh nghiệp.
Cá nhân, tổ chức góp vốn làm thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản hoặc quyền sử dụng đất cho công ty tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bao gồm các bước: ký hợp đồng góp vốn bằng tài sản phải đăng ký quyền sở hữu có công chứng, chứng thực; bàn giao tài sản trên thực tế, thực địa; Nộp hồ sơ sang tên trước bạ; Khai thuế, và đóng các khoản phí, lệ phí liên quan; nhận Giấy đăng ký phương tiện hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đứng tên Công ty. Việc chuyển quyền sở hữu đối với tài sản góp vốn không phải chịu lệ phí trước bạ.
Đối với tài sản không phải làm thủ tục chuyển quyền sở hữu thì việc giao và nhận tài sản được coi là hoàn thành khi doanh nghiệp nhận được tài sản đó với tình trạng, số lượng đúng như những gì mà người góp vốn đã cam kết góp trong hợp đồng. Góp vốn đối với các tài sản không đăng ký quyền sở hữu thì phải được thực hiện bằng việc giao nhận tài sản góp vốn có xác nhận bằng biên bản giao nhận. Nội dung biên bản phải ghi rõ tên và địa chỉ trụ sở chính của công ty; họ, tên, địa chỉ thường trú, số thẻ căn cước công dân, giấy CMND, hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác, số quyết định thành lập hoặc đăng ký của người góp vốn; loại tài sản và số đơn vị tài sản góp vốn; tổng giá trị tài sản góp vốn và tỷ lệ của tổng giá trị tài sản đó trong vốn điều lệ của công ty; ngày giao nhận; chữ ký của người góp vốn hoặc đại diện theo ủy quyền của người góp vốn và người đại diện theo pháp luật của công ty. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Hiện nay quy định của pháp luật không yêu cầu mức vốn tối thiểu để thành lập bệnh viện tư. Vậy nên có thể đăng ký mức vốn tương đối, phù hợp với tình hình thực tế để thuận tiện cho việc kinh doanh.
2.1.3. Quy định về thành lập bệnh viện tư nhân
- Điều kiện thành lập bệnh viện tư nhân
Việc thành lập bệnh viện tư nhân chưa có quy định cụ thể mà chủ yếu tuân theo các quy định thành lập cơ sở khám chữa bệnh trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 và các Nghị định liên quan. Bệnh viện tư nhân để thành lập phải đáp ứng các điều kiện quy định tại điều 42 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009:
Có quyết định thành lập của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh do Nhà nước thành lập hoặc giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư theo quy định của pháp luật đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác.
Có giấy phép hoạt động do Bộ trưởng Bộ Y tế, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng hoặc Giám đốc Sở Y tế cấp.”
Như vậy chủ đầu tư của bệnh viện tư nhân phải có giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư nếu bệnh viện đó có vốn đầu tư nước ngoài. Giấy phép hoạt động của bệnh viện tư nhân được cấp theo quy định tại khoản 1 điều 43 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 và điều 23 Nghị định 109/2016/NĐ-CP Quy định cấp chứng chỉ hành nghề đối với người hành nghề và cấp giấy phép hoạt động đối với cơ sở khám, chữa bệnh, phải đáp ứng các yêu cầu sau, cụ thể:
Về quy mô bệnh viện:
- Đối với bệnh viện đa khoa phải có ít nhất 30 giường bệnh trở lên;
- Đối với bệnh viện chuyên khoa, bệnh viện y học cổ truyền phải có ít nhất 20 giường bệnh; riêng đối với bệnh viện chuyên khoa mắt sử dụng kỹ thuật cao phải có ít nhất 10 giường bệnh.
Về cơ sở vật chất: Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
- Bệnh viện phải được thiết kế, xây dựng theo Tiêu chuẩn xây dựng Việt Nam số 365: 2007. Riêng đối với các khoa cấp cứu, khoa điều trị tích cực và chống độc, khoa phẫu thuật, khoa chẩn đoán hình ảnh, khoa xét nghiệm thì việc thiết kế, xây dựng phải thực hiện đúng các quy định tại các Quyết định số 32, 33, 34/2005/QĐ – BYT ngày 31 tháng 10 năm 2005 và số 35/2005/QĐ – BYT ngày 15 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Y tế;
- Bảo đảm các điều kiện về an toàn bức xạ, quản lý chất thải y tế, phòng cháy chữa cháy theo quy định của pháp luật;
- Bảo đảm có đủ điện, nước và các điều kiện khác để phục vụ chăm sóc người bệnh.
Về trang thiết bị y tế, bệnh viện tư nhân phải có:
- Đủ thiết bị, dụng cụ y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn mà bệnh viện đăng ký;
- Đủ phương tiện vận chuyển cấp cứu trong và ngoài bệnh viện. Trường hợp không có phương tiện cấp cứu ngoài bệnh viện, bệnh viện phải có hợp đồng với cơ sở có phương tiện cấp cứu ngoài bệnh viện.
Về cơ cấu tổ chức:
Cơ cấu tổ chức bệnh viện bao gồm: Ban giám đốc, các phòng chức năng, các khoa.
- Các phòng chức năng bao gồm:
Phòng Kế hoạch tổng hợp Phòng Y tá (điều dưỡng) Phòng Chỉ đạo tuyến Phòng Vật tư – thiết bị y tế Phòng Hành chính quản trị Phòng Tổ chức cán bộ Phòng Tài chính kế toán.
- Các khoa theo phạm vi đăng ký hoạt động của bệnh viện. Về nhân sự của bệnh viện:
Số lượng người hành nghề làm việc toàn thời gian (cơ hữu) trong từng khoa phải đạt tỷ lệ ít nhất là 50% trên tổng số người hành nghề trong khoa.
Ngoài ra, người chịu trách nhiệm chuyên môn chính của bệnh viện, trưởng các khoa phải đáp ứng điều kiện phù hợp với chuyên khoa đó.
Về phạm vi hoạt động chuyên môn: Bệnh viện tư nhân được thực hiện các kỹ thuật chuyên môn theo danh mục được Bộ trưởng Bộ Y tế hoặc Giám đốc Sở Y tế tỉnh phê duyệt. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Giấy phép hoạt động của bệnh viện được cấp một lần bao gồm các nội dung tên, hình thức tổ chức, địa điểm hoạt động; phạm vi hoạt động chuyên môn, thời gian làm việc hàng ngày. Trường hợp bệnh viện cần thay đổi quy mô, phạm vi hoạt động chuyên môn, thay đổi hình thức, tổ chức, chia tách, hợp nhất, sáp nhập, thay đổi địa điểm hoặc giấy cấp phép bị mất hoặc hư hỏng, thu hồi cần làm các thủ tục theo quy định tại điều 44 Luật Khám bệnh, chữa bệnh.
Có thể nói điều kiện hoạt động bệnh viện tư nhân tương tự như thành lập bệnh viện nói chung. Ngoài các điều kiện về cơ sở vật chất, cá nhân, tổ chức cần đảm bảo các yếu tố về chuyên môn kĩ thuật theo quy định của pháp luật
- Trình tự, thủ tục thành lập bệnh viện tư nhân
Vì hoạt động trong lĩnh vực y tế, vì mục đích công cộng nên trước khi tiến hành thành lập bệnh viện, cá nhân, tổ chức thành lập cần xin quy hoạch. Xin quy hoạch để biết để biết được với nhu cầu xây dựng và thành lập bệnh viện có phù hợp với quy hoạch chung của địa phương hay không, đảm bảo các vấn đề về, mặt bằng, diện tích, môi trường… Hồ sơ xin quy hoạch thành lập bệnh viện căn cứ theo điều 38 Nghị định 37/2010/NĐ-CP về lập, thẩm định, phê duyệt và quản lý quy hoạch đô thị:
Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép quy hoạch bao gồm:
- Đơn đề nghị cấp giấy phép quy hoạch.
- Sơ đồ vị trí địa điểm đề nghị cấp giấy phép quy hoạch.
- Dự kiến phạm vi, ranh giới khu đất, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch.
- Dự kiến nội dung đầu tư, quy mô dự án và tổng mức đầu tư.
- Báo cáo về pháp nhân và năng lực tài chính để triển khai dự án.
Trình tự và thời hạn cấp giấy phép quy hoạch được quy định tại điều 37 của Nghị định này. Cụ thể chủ đầu tư nộp hồ sơ xin quy hoạch về Ủy ban nhân dân tỉnh,thành phố trực thuộc trung ương của địa điểm xin quy hoạch. Căn cứ vào đề xuất của chủ đầu tư, UBND tỉnh/ thành phố giao sở quy hoạch phối hợp với các sở, ban ngành liên quan xem xét và thẩm định hồ sơ. Trên cơ sở đó quyết định việc cấp hay không cấp quy hoạch cho tổ chức đề nghị. Hết thời hạn xử lý hồ sơ (không quá 45 ngày làm việc), cơ quan có thẩm quyền trả kết quả cho tổ chức đề nghị.
Sau khi có văn bản trả lời cho phép quy hoạch thành lập bệnh viện, đơn vị chuẩn bị hồ sơ và nộp tới Bộ y tế để xin giấy phép hoạt động. Hồ sơ đề nghị cấp giấy phép của bệnh viện tư nhân bao gồm:
- Đơn đề nghị cấp phép hoạt động (theo mẫu);
- Bản sao hợp lệ giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy chứng nhận đầu tư đối với cơ sở khám bệnh, chữa bệnh có vốn đầu tư nước ngoài (bản sao chứng thực); Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Bản sao hợp lệ chứng chỉ hành nghề của người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật, người phụ trách bộ phận chuyên môn (bản sao chứng thực);
- Danh sách ghi rõ họ tên, số chứng chỉ, phạm vi hoạt động chuyên môn của từng người hành nghề của bệnh viện;
- Bản kê khai cơ sở vật chất, thiết bị y tế, bản mô tả mô hình tổ chức bệnh viện;
- Hồ sơ nhân sự của những người làm việc tại bệnh viện gồm: CMND/CCCD, sổ hộ khẩu, các văn bằng, chứng chỉ (trường hợp pháp luật có yêu cầu), sơ yếu lý lịch và hợp đồng lao động ;
- Tài liệu chứng minh đáp ứng điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị y tế, tổ chức nhân sự
- Điều lệ tổ chức và hoạt động, phương án hoạt động ban đầu.
Nội dung hồ sơ, mẫu các văn bản đề nghị được quy định tại điều 46 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 và giải thích cụ hơn trong khoản 1, điều 43 Nghị định 109/2016/NĐ-CP. Một trong những tài liệu quan trọng trong bộ hồ sơ thành lập bệnh viện chính là Điều lệ tổ chức và hoạt động, phương án hoạt động ban đầu hay cách gọi thông thường là đề án thành lập. Đây là văn bản thể hiện tinh thần chung nhất về mục tiêu, phương hướng cũng như phương thức hoạt động của bệnh viện, là căn cứ để cơ quan cấp phép nhận định ý nghĩa, tầm quan trọng cũng như tính khả thi của bệnh viện khi thành lập trên thực tế.
Đề án thành lập bệnh viện đa khoa tư nhân cần đảm bảo thể hiện các nội dung:
- Nhận định về sự cần thiết của việc xây dựng bệnh viện nói chung và tại địa điểm cơ sở dự kiến thành lập nói riêng trong bối cảnh hiện tại và tương lai;
- Căn cứ xây dựng đề án bao gồm căn cứ pháp lý, căn cứ thực tiễn và căn cứ dự báo.
- Quy mô, cơ cấu của bệnh viện: địa điểm, diện tích xây dựng bệnh; nguồn vốn, cơ sở vật chất, máy móc, trang thiết bị phục vụ; về tổ chức, bố trí các khoa trong bệnh viện; nhân sự bệnh viện; phạm vi hoạt động chuyên môn của bệnh viện. Ngoài ra phải đáp ứng các yêu cầu chung như yêu cầu đảm bảo an toàn bức xạ, an toàn phòng cháy chữa cháy, yêu cầu về bảo vệ môi trường, xử lý nước thải, chất thải y tế, yêu cầu về tuân thủ quy định an toàn lao động.
- Dự kiến về tính khả thi của đề án.
Hồ sơ được lập thành 01 bộ và nộp trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến Bộ Y tế. Đối với trường hợp nộp hồ sơ qua đường bưu điện thì cần lưu lại biên lai chuyển phát để phục vụ cho quá trình thực hiện thủ tục về sau và ghi rõ ràng, đầy đủ các thông tin. Bộ Y tế xem xét, thẩm định hồ sơ, sau khi kiểm tra hồ sơ đã đầy đủ và hợp lệ về mặt giấy tờ pháp lý, Bộ Y tế thành lập đoàn thẩm định và tiến hành thẩm tra tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh để cấp giấy phép hoạt động. Trường hợp không cấp giấy phép Bộ Y tế có văn bản trả lời nêu lý do và hướng dẫn hoàn thiện. Người làm thủ tục đến nhận kết quả như trên phiếu hẹn. Thời gian thực hiện cấp giấy phép: 90 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì không quá 10 ngày làm việc, kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, Bộ Y tế có văn bản thông báo cho cơ sở xin cấp giấy phép hoàn thiện lại hồ sơ theo quy định. Thời gian giải quyết thủ tục sẽ tính từ ngày nhận đủ hồ sơ bổ sung. Về phí, lệ phí xin cấp giấy phép được quy định: Phí thẩm định cấp giấy phép hoạt động cho Bệnh viện: 10.500.000 đồng và lệ phí cấp giấy phép hoạt động: 350.000 đồng.
Sau khi cấp giấy phép hoạt động, cơ quan đã cấp giấy phép hoạt động phải thực hiện các thủ tục sau đây:
- Bộ Y tế gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân tỉnh và Sở Y tế nơi bệnh viện đã được cấp giấy phép hoạt động đặt trụ sở trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động;
- Sở Y tế gửi văn bản thông báo cho Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh (cấp huyện) và phòng y tế cấp huyện nơi bệnh viện đã được cấp giấy phép hoạt động đặt trụ sở trong thời gian 30 ngày, kể từ ngày cấp, cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động; Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
- Bộ Y tế đăng tải thông tin cơ sở bệnh viện được cấp, giấy phép hoạt động thuộc thẩm quyền lên Cổng thông tin điện tử của Bộ Y tế. Sở Y tế đăng tải thông tin cơ sở bệnh viện được cấp giấy phép hoạt động thuộc thẩm quyền lên Trang thông tin điện tử của Sở Y tế.
Trình tự thủ tục thành lập bệnh viện tư nhân căn cứ vào điều 47 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009 và điều 43 Nghị định 109/2016/NĐ-CP. Ngoài ra trình tự, thủ tục cấp lại, điều chỉnh giấy phép hoạt động cũng được quy định cụ thể trong Nghị định này. Tuy chưa có những quy định riêng nhưng Luật KCB và Nghị định 109/2016/NĐ-CP là cơ sở pháp lý cụ thể, phù hợp cho viêc thành lập tổ chức, hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Ngoài ra, do nhu cầu khám chữa bệnh của người dân ngày càng gia tăng, những người có nhu cầu ra nước ngoài điều trị bệnh trở nên phổ biến. Vậy nên sẽ thuận lợi hơn rất nhiều nếu nhà đầu tư nước ngoài trực tiếp mở bệnh viện đa khoa tại Việt Nam. Chủ trương xã hội hóa y tế, Việt Nam đã có nhiều chính sách khuyến khích đầu tư, việc thành lập bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài hiện nay không còn nhiều khó khăn. Để thành lập bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, nhà đầu tư phải tìm địa điểm để thuê phù hợp với quy hoạch tổng thể của tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương. Nhà đầu tư có thể liên hệ với sở tài nguyên và môi trường của tỉnh, thành phố để được giới thiệu. Sau khi đã có chấp thuận chủ trương về việc cho thuê đất, địa điểm để xây dựng bệnh viện, nhà đầu tư sẽ tiến hành thủ tục thành lập công ty 100% vốn nước ngoài để vận hành và xây dựng bệnh viện. Cụ thể nhà đầu tư cần xin giấy chứng nhận đăng kí đầu tư, giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp và giấy phép hoạt động khám, chữa bệnh đối với bệnh viện. Căn cứ theo khoản 1, điều 33, Luật đầu tư 2014, nhà đầu tư chuẩn bị hồ sơ thực hiện thủ tục đăng kí đầu tư tại Sở kế hoạch và đầu tư như sau:
Văn bản đề nghị thực hiện dự án đầu tư;
- Bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân; bản sao Giấy chứng nhận thành lập hoặc tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý đối với nhà đầu tư là tổ chức;
- Đề xuất dự án đầu tư bao gồm các nội dung: nhà đầu tư thực hiện dự án, mục tiêu đầu tư, quy mô đầu tư, vốn đầu tư và phương án huy động vốn, địa điểm, thời hạn, tiến độ đầu tư, nhu cầu về lao động, đề xuất hưởng ưu đãi đầu tư, đánh giá tác động, hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án;
- Bản sao một trong các tài liệu sau: báo cáo tài chính 02 năm gần nhất của nhà đầu tư; cam kết hỗ trợ tài chính của công ty mẹ; cam kết hỗ trợ tài chính của tổ chức tài chính; bảo lãnh về năng lực tài chính của nhà đầu tư; tài liệu thuyết minh năng lực tài chính của nhà đầu tư;
- Đề xuất nhu cầu sử dụng đất; trường hợp dự án không đề nghị Nhà nước giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thì nộp bản sao thỏa thuận thuê địa điểm hoặc tài liệu khác xác nhận nhà đầu tư có quyền sử dụng địa điểm để thực hiện dự án đầu tư.
Thời hạn và thẩm quyền cấp giấy phép đầu tư được quy định tại điều 37 và điều 38 của Luật này. Trong vòng 15 ngày kể từ ngày nhận được đủ hồ sơ, Sở Kế hoạch Đầu tư cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư, trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư và nêu rõ lý do.
Sau khi có giấy phép đầu tư, nhà đầu tư tiến hành xin giấy phép đăng kí doanh nghiệp và con dấu. Doanh nghiệp tự quyết định loại dấu, hình thức và số lượng con dấu của mình. Luật Doanh nghiệp 2020 được Quốc hội thông qua vào kì họp thứ 9 ngày 17/06/2020 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021 đã bãi bỏ thủ tục thông báo mẫu dấu, đồng thời quy định doanh nghiệp có thể sử dụng dấu “số” thay cho dấu “truyền thống”. Đồng thời, luật mới cũng thiết lập cơ chế đăng ký doanh nghiệp qua mạng thông tin điện tử với bộ hồ sơ điện tử mà không phải nộp thêm bộ hồ sơ giấy như hiện nay. Hồ sơ trình tự, thủ tục cấp giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp thực hiện tương tự doanh nghiệp vốn Việt Nam theo Luật doanh nghiệp 2014. Hồ sơ cần chuẩn bị gồm: Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
- Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp;
- Điều lệ công ty;
- Danh sách thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc danh sách cổ đông của công ty cổ phần;
Bản sao hợp lệ một trong các giấy tờ chứng thực:
- Giấy CMND, còn hiệu lực hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực đối với cá nhân;
- Giấy Chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đối với tổ chức và kèm theo giấy tờ chứng thực cá nhân, văn bản uỷ quyền của người đại diện theo uỷ quyền của tổ chức ;
- Quyết định góp vốn đối với thành viên công ty, cổ đông công ty là tổ chức. Sau khi nhận đủ hồ sơ hợp lệ, cơ quan đăng ký kinh doanh xem xét cấp
Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho nhà đầu tư trong thời hạn 03 – 05 ngày làm việc.
Trường hợp từ chối cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Sở Kế hoạch và đầu tư phải có văn bản thông báo và nêu rõ lý do cho nhà đầu tư.
Sau khi được cấp giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, nhà đầu tư phải thực hiện thủ tục công bố nội dung đăng ký kinh doanh trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày công khai. Hoàn tất việc thành lập công ty, lấy được giấy chứng nhận đầu tư và giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, công ty sẽ tiến hành ký kết hợp đồng thuê đất/thuê địa điểm, xây dựng bệnh viện theo thiết kế đã được phê duyệt. Việc xin cấp giấy phép hoạt động khám, chữa bệnh đối với bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài cũng được tiến hành theo quy định của Luật Khám bệnh, chữa bệnh và Nghị định 109/2016/NĐ-CP.
Các nhà đầu tư nước ngoài có thể đầu tư theo hình thức liên doanh hoặc hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng hợp tác kinh doanh bên cạnh hình thức đầu tư 100% vốn nước ngoài. Hợp đồng BCC được ký kết giữa nhà đầu tư trong nước với nhà đầu tư nước ngoài hoặc giữa các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư theo quy định tại Điều 37 của Luật này. Nội dung của hợp đồng BBC được quy định tại Điều 29 của Luật này, cụ thể:
“Hợp đồng BCC gồm những nội dung chủ yếu sau đây: Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
- Tên, địa chỉ, người đại diện có thẩm quyền của các bên tham gia hợp đồng; địa chỉ giao dịch hoặc địa chỉ nơi thực hiện dự án;
- Mục tiêu và phạm vi hoạt động đầu tư kinh doanh;
- Đóng góp của các bên tham gia hợp đồng và phân chia kết quả đầu tư kinh doanh giữa các bên;
- Tiến độ và thời hạn thực hiện hợp đồng;
- Quyền, nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng;
- Sửa đổi, chuyển nhượng, chấm dứt hợp đồng;
- Trách nhiệm do vi phạm hợp đồng, phương thức giải quyết tranh chấp.
- Trong quá trình thực hiện hợp đồng BCC, các bên tham gia hợp đồng được thỏa thuận sử dụng tài sản hình thành từ việc hợp tác kinh doanh để thành lập doanh nghiệp theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.
- Các bên tham gia hợp đồng BCC có quyền thỏa thuận những nội dung khác không trái với quy định của pháp luật.”
Nhà đầu tư nước ngoài là cá nhân người nước ngoài, doanh nghiệp, tổ chức nước ngoài góp vốn, mua cổ phần tại công ty 100% vốn Việt Nam. Việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp dẫn đến nhà đầu tư nước ngoài nắm giữ từ 51% vốn điều lệ trở lên của công ty Việt Nam. Để nhà đầu tư nước ngoài cùng góp vốn với người Việt Nam thì cần thành lập công ty 100% vốn Việt Nam để có giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp và con dấu, 100% vốn phải là của người hoặc tổ chức Việt Nam. Sau đó làm thủ tục để cổ đông nước ngoài mua hoặc góp thêm vốn vào công ty Việt Nam. Đối với công ty cổ phần, nhà đầu tư thực hiện đầu tư thông qua thông qua việc mua cổ phần của công ty hoặc cổ đông được phát hành lần đầu hoặc cổ phần phát hành thêm của công ty. Đối với Công ty TNHH thì thông qua việc mua phần vốn góp của các thành viên công ty để trở thành thành viên của công ty.
- Hồ sơ đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp gồm:
Văn bản đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp gồm những nội dung: thông tin về tổ chức kinh kế mà nhà đầu tư nước ngoài dự kiến góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp; tỷ lệ sở hữu vốn điều lệ của nhà đầu tư nước ngoài sau khi góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp vào tổ chức kinh tế
- Bản sao chứng minh nhân dân, thẻ căn cước hoặc hộ chiếu đối với nhà đầu tư là cá nhân; bản sao giấy chứng nhận thành lập hoặc tài liệu tương đương khác xác nhận tư cách pháp lý đối với nhà đầu tư là tổ chức.
Thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp: Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
- Nhà đầu tư nộp hồ sơ quy định tại Sở Kế hoạch và Đầu tư nơi tổ chức kinh tế đặt trụ sở chính
- Trường hợp việc góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của nhà đầu tư nước ngoài đáp ứng điều kiện, Sở Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ để nhà đầu tư thực hiện thủ tục thay đổi cổ đông, thành viên theo quy định của pháp luật. Trường hợp không đáp ứng điều kiện, Sở Kế hoạch và Đầu tư thông báo bằng văn bản cho nhà đầu tư và nêu rõ lý do.
Nếu như hồ sơ hợp lệ, được cấp văn bản đủ điều kiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp, tiếp tục thực hiện thủ tục chuyển nhượng vốn từ cá nhân, tổ chức Việt Nam sang cho cá nhân/ tổ chức nước ngoài. Chuẩn bị hồ sơ bao gồm:
- Biên bản họp, quyết định (đối với công ty TNHH 2 thành viên trở lên, công ty cổ phần), Quyết định của chủ sở hữu (đối với công ty TNHH 1 thành viên) về việc chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp cho người nước ngoài
- Hợp đồng chuyển nhượng + biên bản thanh lý hợp đồng chuyển nhượng
- Hộ chiếu công chứng (cá nhân), đăng ký kinh doanh hợp pháp hóa lãnh sự (đổi với tổ chức)
- Văn bản ủy quyền thực hiện thủ tục (trong trường hợp người đại diện không trực tiếp thực hiện thủ tục)
- Chứng minh thư công chứng (người được ủy quyền, trong trường hợp người đại diện không trực tiếp thực hiện thủ tục)
- Văn bản đủ điều kiện góp vốn/ mua cổ phần, phần vốn góp (bản gốc)
Thủ tục: Nộp hồ sơ qua mạng: Doanh nghiệp tiến hành scan các văn bản giấy tờ trên và nôp qua trang dangkykinhdoanh.
Thời gian: Sau 3 ngày làm việc, phòng đăng ký kinh doanh sẽ trả kết quả xử lý hồ sơ, nếu hồ sơ ra thông báo bổ sung, doanh nghiệp sửa hồ sơ và nộp lại từ đầu. Trong trường hợp hồ sơ hợp lệ, doanh nghiệp nộp hồ sơ bản cứng trực tiếp tại Sở kế hoạch đầu tư và lấy giấy phép đăng ký doanh nghiệp trong ngày.
Thủ tục đầu tư theo hình thức góp vốn mua cổ phần căn cứ theo khoản 1, điều 23 Luật đầu tư và điều 46 Nghị định 118/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật đầu tư. Với cách thức này, nhà đầu tư sẽ không cần chứng minh số vốn góp, có nghĩa là không cần xác nhận số dư trong tài khoản ngân hàng có đủ số vốn đầu tư. Nhà đầu tư cũng không cần thực hiện xin giấy phép đầu tư, giảm thiểu thủ tục khi có sự thay đổi các nội dung đăng ký doanh nghiệp với cơ quan nhà nước. Cụ thể: Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Thủ tục thay đổi đơn giản: Khi doanh nghiệp chỉ có Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ phải thực hiện khi có sự thay đổi tên công ty, địa chỉ công ty, thông tin chủ sở hữu,…thực hiện thủ tục giống như doanh nghiệp Việt Nam;
- Không phải thực hiện nghĩa vụ báo cáo tình hình thực hiện dự án, báo cáo giám sát đầu tư…;
- Không phải thực hiện các thủ tục cập nhật thông tin đầu tư trên hệ thống quản lý về đầu tư.
Các yếu tố quan trọng khiến Việt Nam có thể thu hút đầu tư nước ngoài vào ngành y tế nói chung và việc thành lập bệnh viện nói riêng là do dân số, tăng trưởng kinh tế, lối sống thay đổi, mô hình chăm sóc sức khỏe và nhu cầu bảo hiểm y tế đặc biệt là hành lang pháp lý liên quan đến đầu tư. Nhìn chung các quy định của Luật đầu tư 2014, Luật doanh nghiệp 2014 phù hợp với Hiến pháp 2013 và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, vừa tạo điều kiện tốt nhất cho các nhà đầu tư nước ngoài vừa là cơ sở vững chắc cho Nhà nước quản lý hiệu quả hoạt động đầu tư. Nhiều văn bản quy phạm pháp luật được Chính phủ và các bộ, ngành ban hành để quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành luật nhằm giảm thiểu các khó khăn, vướng mắc của các nhà đầu tư nước ngoài khi tiếp cận thị trường Việt Nam. Tuy nhiên hoạt động đầu tư nhất là đầu tư trong lĩnh vực y tế, lĩnh vực thu hút nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (vốn FDI) chưa cao, vẫn còn là một trong những hoạt động còn mới trong nền kinh tế của Viêt Nam và trong bối cảnh nước ta đang mở cửa về kinh tế, đẩy nhanh tiến độ hội nhập toàn cầu thì các quy định về đầu tư cũng cần thường xuyên phải thay đổi cho phù hợp, tránh tình trạng các quy định chồng chéo, mâu thuẫn hay lạc hậu, không còn phù hợp với thực tế. Vì thế ngày 17/06/2020 Quốc hội đã thông qua Luật đầu tư (sửa đổi) và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2021. Mục tiêu hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Luật đã có nhiều sửa đổi, bổ sung tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp trong đó có cả các doanh nghiệp có vốn FDI. Luật điều chỉnh trường hợp các nhà đầu tư nước ngoài phải đăng kí góp vốn, mua cổ phần, mua phần góp vốn của doanh nghiệp. Bổ sung quy định về nguyên tắc, điều kiện áp dụng chính sách ưu đãi đầu tư để bảo đảm hiệu quả, chất lượng của việc thực hiện chính sách này (như: áp dụng ưu đãi có thời hạn, theo kết quả thực hiện dự án; nhà đầu tư phải bảo đảm đáp ứng điều kiện ưu đãi trong thời gian được hưởng ưu đãi theo quy định của pháp luật). Đặc biệt, Luật Đầu tư (sửa đổi) bổ sung quy định cho phép Thủ tướng Chính phủ áp dụng ưu đãi đặc biệt để tạo cơ chế, chính sách đủ sức hấp dẫn, kịp thời thu hút dòng vốn FDI đang dịch chuyển nhanh chóng trong bối cảnh hiện nay. Cho phép áp dụng ưu đãi tối đa thêm 50% so với mức cao nhất theo quy định của Luật hiện hành. Thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực y tế sẽ tạo được sức bật trong phát triển cơ sở hạ tầng, trang thiết bị giúp giảm tải, chăm sóc sức khỏe nhân dân được tốt.
2.1.4. Quy định về tổ chức, hoạt động của bệnh viện tư nhân
- Về tổ chức của bệnh viện tư nhân Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Tổ chức của bệnh viện tư nhân căn cứ theo mẫu điều lệ bệnh viện tư nhân tại phụ lục XI Nghị định 109/2016/NĐ-CP. Theo điều lệ, cơ cấu tổ chức bệnh viện tư nhân bao gồm: hội đồng quản trị hoặc hội đồng thành viên đối với bệnh viện; Giám đốc, các Phó Giám đốc bệnh viện; các Hội đồng trong bệnh viện; các phòng chức năng; các khoa, bộ phận chuyên môn.
Hội đồng thành viên là cơ quan quyền lực cao nhất trong bệnh viện thành lập theo mô hình công ty TNHH và công ty hợp danh. Hội đồng thành viên là cơ quan mang tính tập thể, thực hiện chức năng thông qua cuộc họp và quyết định trên cơ sở biểu quyết của các thành viên tại cuộc họp hội đồng thành viên.
Bệnh viện tư thành lập theo hình thức công ty cổ phần sẽ có hội đồng quản trị. Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý bệnh viện, thực hiện chức năng quản lý thay cho đại hội đồng cổ đông khi đại hội đồng cổ đông không họp. Hội đồng quản trị thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty không thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông. Hội đồng quản trị có từ 3 đến 11 thành viên, nhiệm kỳ không quá 5 năm và có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế.
Hội đồng thành viên hay hội đồng quản trị có quyền quyết định chiến lược và kế hoạch phát triển hàng năm của doanh nghiệp; quyết định về vốn, về dự án đầu tư phát triển doanh nghiệp; quyết định về cơ cấu tổ chức, tổ chức lại; bầu, miễn nhiệm, bãi nhiệm Chủ tịch Hội đồng thành viên, Chủ tịch Hội đồng quản trị; quyết định bổ nhiệm, miễn nhiệm, bãi nhiệm, ký và chấm dứt hợp đồng đối với Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, và người quản lý khác quy định tại Điều lệ công ty. Hội đồng thành viên hay hội đồng quản trị có các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật doanh nghiệp đối với từng loại hình doanh nghiệp cụ thể (Phụ lục).
Nhiệm vụ quyền hạn của giám đốc, phó giám đốc, trưởng khoa căn cứ vào Quyết định 1895/1997/QĐ-BYT về việc ban hành quy chế bệnh viện. Trong đó, giám đốc chịu trách nhiệm trước cấp trên trực tiếp về mọi hoạt động của bệnh viện, Phó giám đốc là người giúp giám đốc về từng mặt công tác do giám đốc phân công và chịu trách nhiệm trước giám đốc về những quyết định của mình. Phó giám đốc được quyền thay giám đốc giải quyết những công việc theo giấy uỷ quyền của giám đốc và phải báo cáo lại những công việc đã giải quyết với giám đốc. Vì là doanh nghiệp nên trong ban giám đốc bệnh viện tư nhân sẽ có giám đốc điều hành, giám đốc tài chính, giám đốc hoặc phó giám đốc y khoa. Hội đồng thành viên, hội đồng quản trị hay các giám đốc tài chính, điều hành là điểm khác biệt so với tổ chức bệnh viện công lập. Cơ cấu tổ chức này sẽ đảm bảo đồng thời hiệu quả hoạt động kinh doanh và hoạt động chuyên môn của bệnh viện tư. Tổ chức bệnh viện không đơn thuần như một doanh nghiệp, mà là tổ chức chuyên sâu về chuyên môn, trưởng khoa chịu toàn bộ trách nhiệm pháp lý về những hoạt động chuyên môn do vậy cách quản lý kinh doanh cũng khác với doanh nghiệp thông thường. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Nhân sự bệnh viện được quy định tại khoản 5 điều 23 Nghị định 109/2016/NĐ-CP. Người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện phải đáp ứng các điều kiện sau: Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với ít nhất một trong các chuyên khoa mà bệnh viện đăng ký hoạt động; Có thời gian khám bệnh, chữa bệnh ít nhất là 54 tháng, việc phân công, bổ nhiệm người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của bệnh viện phải được thể hiện bằng văn bản. Trưởng khoa lâm sàng phải đáp ứng các điều kiện sau: Là bác sỹ có chứng chỉ hành nghề phù hợp với chuyên khoa đó; có thời gian khám bệnh, chữa bệnh tại chuyên khoa đó ít nhất là 54 tháng, việc phân công, bổ nhiệm trưởng khoa phải được thể hiện bằng văn bản. Trưởng các khoa cận lâm sàng, khoa chẩn đoán hình ảnh, khoa X-quang phải có chứng chỉ hành nghề chuyên môn, có thời gian hành nghề chuyên khoa ít nhất 36 tháng và phải đáp ứng các yêu cầu cụ thể về điều kiện theo quy định tại Nghị định 109/2016/NĐ-CP. Trưởng khoa khác không thuộc đối tượng cấp chứng chỉ hành nghề phải đáp ứng các điều kiện sau: Tốt nghiệp đại học và có thời gian làm việc tại chuyên khoa đó ít nhất là 36 tháng kể từ ngày được cấp bằng tốt nghiệp đại học đến ngày được phân công, bổ nhiệm làm trưởng khoa. Việc phân công, bổ nhiệm trưởng khoa phải được thể hiện bằng văn bản. Trưởng khoa dược phải đáp ứng các quy định tại Khoản 1 Điều 7 Thông tư số 22/2011/TT-BYT ngày 10 tháng 6 năm 2011 của Bộ trưởng Bộ Y tế quy định tổ chức và hoạt động của khoa Dược bệnh viện. Các trưởng khoa là người hành nghề cơ hữu tại bệnh viện.
Chứng chỉ hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh là văn bằng của cơ quan nhà nước cấp cho cá nhân trong nước và cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, có đủ chuyên môn và kinh nghiệm để hoạt động trong lĩnh vực Khám bệnh, chữa bệnh. Bác sỹ, y sỹ, điều dưỡng viên, kỹ thuật viên, hộ sinh viên làm việc tại bệnh viện tư nhân phải có chứng chỉ hành nghề và phải đáp ứng các yêu cầu quy định tại điều 18 Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 để được cấp chứng chỉ hành nghề: có văn bằng chuyên môn liên quan đến y tế, được cấp hoặc công nhận tại Việt Nam; có văn bản xác nhận quá trình thực hành; Có giấy chứng nhận đủ sức khỏe để hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh; không thuộc các trường hợp bị cấm hành nghề, bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị kỷ luật, mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự. Việc cấp chứng chỉ hành nghề đối với người nước ngoài hành nghề ngoài việc có đủ điều kiện quy định tại điều 18 Luật Khám bệnh, chữa bệnh, phải đáp ứng yêu cầu về sử dụng ngôn ngữ trong Khám bệnh, chữa bệnh quy định tại điều 23 Luật Khám bệnh, chữa bệnh, có lí lịch tư pháp được cơ quan có thẩm quyền của nước sở tại xác nhận và có giấy phép lao động được cấp theo quy định của pháp luật Việt Nam về lao động.
Hồ sơ đề nghị cấp lần đầu chứng chỉ hành nghề đối với người Việt Nam, người nước ngoài được thực hiện theo quy định tại điều 5, điều 6 Nghị định 109/2016/NĐ-CP đáp ứng các yêu cầu về điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh. Việc điều chỉnh, cấp lại chứng chỉ cũng thực hiện theo quy định của Nghị định này. Trình tự, thủ tục cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề căn cứ vào điều 10 Nghị định 109/2016/NĐ-CP như sau:
Sau khi nhận được hồ sơ đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề, Bộ Y tế hoặc Sở Y tế cấp cho người đề nghị phiếu tiếp nhận hồ sơ theo mẫu quy định tại Phụ lục II ban hành kèm theo Nghị định này. Trường hợp nộp hồ sơ trực tiếp tại cơ quan tiếp nhận hồ sơ, nếu hồ sơ đầy đủ theo quy định thì cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi ngay cho người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề phiếu tiếp nhận hồ sơ. Trường hợp hồ sơ gửi theo đường bưu điện thì trong thời hạn 02 ngày, tính từ thời điểm nhận được hồ sơ (tính theo dấu bưu điện đến), cơ quan tiếp nhận hồ sơ gửi Phiếu tiếp nhận cho người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề. Trong thời hạn 20 ngày, kể từ ngày ghi trên Phiếu tiếp nhận hồ sơ, cơ quan tiếp nhận hồ sơ phải tiến hành thẩm định hồ sơ và có biên bản thẩm định. Trường hợp hồ sơ hợp lệ, thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày có biên bản thẩm định, cơ quan tiếp nhận hồ sơ cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề. Trường hợp hồ sơ chưa hợp lệ thì trong thời hạn 5 ngày làm việc, kể từ ngày ghi trên phiếu tiếp nhận hồ sơ, cơ quan phải có văn bản thông báo cho người đề nghị cấp chứng chỉ hành nghề để hoàn chỉnh hồ sơ. Trường hợp cơ quan tiếp nhận hồ sơ đã có yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ mà trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày cơ quan tiếp nhận hồ sơ có văn bản yêu cầu nhưng người đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề không bổ sung, sửa đổi hồ sơ thì phải thực hiện lại từ đầu hồ sơ, thủ tục đề nghị cấp, cấp lại chứng chỉ hành nghề.
Các quy định về cấp chứng chỉ hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh hiện nay nhìn chung đã đầy đủ, cụ thể và phù hợp với điều kiện thực tiễn tại Việt Nam. Tuy nhiên Luật khám bệnh, chữa bệnh không quy định thời hạn giá trị của chứng chỉ hành nghề. Việc không xác định thời hạn không tạo ra cơ chế để giúp cơ quan quản lý nhà nước theo dõi, giám sát việc quản lý chất lượng người hành nghề khi chuẩn hóa các điều kiện chuyên môn, cập nhật kiến thức y khoa liên tục và quá trình hành nghề của người hành nghề. Bên cạnh đó, chứng chỉ hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh không xác định thời hạn không phù hợp với pháp luật cũng như thông lệ quốc tế, gây khó khăn cho việc hội nhập của y tế Việt Nam với các nước trong khu vực và trên thế giới.
- Về hoạt động của bệnh viện tư nhân Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Trên cơ sở Danh mục kỹ thuật ban hành kèm theo Thông tư 43/2013/TT-BYT, bệnh viện tư nhân căn cứ vào các điều kiện sau đây để xây dựng Danh mục kỹ thuật thực hiện tại cơ sở mình trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, phê duyệt:
- Phạm vi hoạt động chuyên môn, hình thức tổ chức, quy mô hoạt động của bệnh viện đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt.
- Điều kiện thực tế về cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhân lực và trình độ chuyên môn của bệnh viện. [3]
Phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong chứng chỉ hành nghề của người đứng đầu bệnh viện và những người chịu trách nhiệm về chuyên môn đối với từng chuyên khoa của bệnh viện và giấy phép hoạt động của bệnh viện.
Đối với bác sĩ đa khoa: Được phép thực hiện khám bệnh, chữa bệnh các bệnh thông thường, các kỹ thuật chuyên môn thuộc tuyến 4 và một số kỹ thuật chuyên môn thuộc tuyến 3 theo quy định của Thông tư 43/2013/TT – BYT.
Đối với các bác sĩ chuyên khoa: Bác sỹ được cấp chứng chỉ hành nghề có phạm vi hoạt động chuyên môn thuộc chuyên khoa nào thì được phép thực hiện toàn bộ các dịch vụ chuyên môn kỹ thuật của chuyên ngành đó theo danh mục chuyên khoa, chuyên ngành quy định tại Thông tư 43/2013/TT-BYT. Bác sỹ chuyên khoa này có thể được thực hiện 1 số kỹ thuật của chuyên ngành khác thì kỹ thuật đó phải được ghi hoặc bổ sung phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề hoặc danh mục kỹ thuật kèm theo chứng chỉ hành nghề. Người hành nghề là bác sĩ khám bệnh, chữa bệnh bằng dinh dưỡng, tiết chế được phép thực hiện các kỹ thuật chuyên môn trong lĩnh vực dinh dưỡng, tiết chế. Người làm việc tại khoa hoặc đơn vị kiểm soát nhiễm khuẩn đồng thời trực tiếp khám bệnh, chữa bệnh thì phạm vi hoạt động chuyên môn trong chứng chỉ hành nghề ghi khám bệnh, chữa bệnh chuyên khoa đó.
- Đối với bác sĩ y học dự phòng: Phát hiện và xử trí các bệnh thông thường theo danh mục kèm theo Thông tư 43 và xử trí ban đầu một số trường hợp cấp cứu tại cộng đồng.
- Đối với y sỹ: Được phép tham gia sơ cứu ban đầu, khám bệnh, chữa bệnh thông thường theo quy định tại Thông tư liên tịch 10/2015/TTLT-BYT-BNV. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
- Đối với điều dưỡng viên và hộ sinh viên: Thực hiện theo quy định tại Thông tư 26/2015/TTLTBYT-BNV.
- Đối với kỹ thuật viên: Phạm vi hoạt động chuyên môn nào thì được thực hiện các kỹ thuật y học của kỹ thuật viên chuyên ngành đó theo quy định tại Thông tư liên tịch 26/2015/TTLTBYT-BNV.
Bệnh viện tư nhân hoạt động trong phạm vi hoạt động chuyên môn có quyền và trách nhiệm được quy định tại điều 52 và 53 Luật khám bệnh, chữa bệnh 2009. Bệnh viện được thực hiện các hoạt động khám, chữa bệnh theo quy định của Luật này; được từ chối khám bệnh, chữa bệnh nếu trong quá trình khám bệnh, chữa bệnh mà tiên lượng bệnh vượt quá khả năng hoặc trái phạm vi hoạt động chuyên môn được ghi trong giấy phép hoạt động nhưng phải giới thiệu người bệnh đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác để giải quyết, phải thực hiện việc sơ cứu, cấp cứu, theo dõi, chăm sóc, điều trị cho người bệnh cho đến khi người bệnh được chuyển đi cơ sở khám bệnh, chữa bệnh khác. Bệnh viện được thu các khoản chi phí khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật và được hưởng chế độ ưu đãi khi thực hiện các hoạt động khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật.
Bệnh viện tư nhân có trách nhiệm tổ chức việc cấp cứu, khám bệnh, chữa bệnh kịp thời cho người bệnh; thực hiện quy định về chuyên môn kỹ thuật và các quy định khác của pháp luật có liên quan; công khai thời gian làm việc, niêm yết giá dịch vụ và thu theo đúng giá đã niêm yết; báo cáo cơ quan cấp giấy phép hoạt động trong trường hợp thay đổi người chịu trách nhiệm chuyên môn kỹ thuật của cơ sở khám bệnh, chữa bệnh hoặc người hành nghề là người nước ngoài theo quy định của Bộ trưởng Bộ Y tế; bảo đảm việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ của người bệnh, người hành nghề theo quy định của Luật khám, chữa bệnh; bảo đảm các điều kiện cần thiết để người hành nghề thực hiện khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi hoạt động chuyên môn được phép; chấp hành quyết định huy động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong trường hợp xảy ra thiên tai, thảm họa, dịch bệnh nguy hiểm; trường hợp dừng hoạt động, bệnh viện có trách nhiệm chuyển người bệnh, hồ sơ bệnh án đến cơ sở khám bệnh, chữa bệnh phù hợp và quyết toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh với người bệnh.
Trong hoạt động Khám bệnh, chữa bệnh, Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế được triển khai ngày càng nhiều tại các bệnh viện tư nhân. Theo khoản 1 Điều 2 Luật bảo hiểm y tế 2008 sửa đổi, bổ sung 2014: Bảo hiểm y tế là hình thức bảo hiểm bắt buộc được áp dụng đối với các đối tượng theo quy định của Luật này để chăm sóc sức khỏe, không vì mục đích lợi nhuận do Nhà nước tổ chức thực hiện. Bảo hiểm y tế (bảo hiểm sức khỏe) là loại hình bảo hiểm thuộc lĩnh vực chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Theo đó, người mua bảo hiểm y tế sẽ được chi trả một phần hoặc toàn bộ chi phí thăm khám, điều trị, phục hồi sức khỏe,… nếu không may xảy ra tai nạn, ốm đau. Bảo hiểm y tế của nhà nước cơ cấu và tổ chức nhằm phục vụ, bảo vệ nhu cầu chăm sóc sức khỏe của người dân. Bảo hiểm y tế do nhà nước cung cấp không nhằm mục đích lợi nhuận mà là một chính sách xã hội. Vì thế, người dân sẽ có trách nhiệm và quyền lợi khi tham gia bảo hiểm theo quy định của luật bảo hiểm mà nhà nước ban hành. Hiện bảo hiểm y tế có 2 hình thức tham gia là bảo hiểm y tế bắt buộc và bảo hiểm y tế tự nguyện.
Theo Nghị định 146/2018/NĐ-CP, quy định chi tiết về nhóm 06 đối tượng tham gia BHY bắt buộc bao gồm:
- Nhóm do người lao động và người sử dụng lao động đóng;
- Nhóm do cơ quan bảo hiểm xã hội đóng;
- Nhóm do ngân sách Nhà nước đóng;
- Nhóm được ngân sách Nhà nước hỗ trợ mức đóng;
- Nhóm tham gia Bảo hiểm y tế theo hộ gia đình;
- Nhóm do người sử dụng lao động đóng.
Theo quy định mới nhất tại Nghị định 146/2018/NĐ-CP, đối tượng tham gia của bảo hiểm y tế tự nguyện là những người không thuộc 6 nhóm tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Nếu như trước đây những người có thẻ bảo hiểm y tế chỉ được khám chữa bệnh ở bệnh viện công lập thì nay họ có thêm cơ hội khám chữa bệnh ở các cơ sở y tế tư. Các bệnh viện tư tham gia Bảo hiểm y tế ngày càng đông, do nhu cầu bệnh nhân Bảo hiểm y tế muốn được khám, chữa bệnh tại bệnh viện tư ngày càng tăng. Quy định chung về Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế tại các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh tư nhân cũng như tại các cơ sở y tế công lập đều phải tuân thủ theo đúng Luật Bảo hiểm y tế, Luật Khám bệnh, chữa bệnh và các văn bản hướng dẫn hiện hành. Điều kiện để ký hợp đồng Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế đối với cơ sở y tế tư nhân gồm: Có đủ điều kiện để ký hợp đồng Khám bệnh, chữa bệnh theo quy định của pháp luật về Khám bệnh, chữa bệnh và đã được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép hoạt động Khám bệnh, chữa bệnh; có giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư theo quy định của pháp luật; đảm bảo việc cung ứng thuốc, hóa chất, vật tư y tế phù hợp với phạm vi hoạt động chuyên môn của cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh. Ngoài ra, cần có quyết định tuyến chuyên môn kỹ thuật, quyết định phê duyệt danh mục kỹ thuật của cấp có thẩm quyền để làm cơ sở thanh quyết toán Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế. Điều kiện, nội dung hồ sơ đăng kí Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế được quy định tại điều 16, điều 17 Nghị định 146/2018/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn biện pháp thi hành một số điều của luật Bảo hiểm y tế. Khoản 3, điều 7 Thông tư liên tịch 41/2014/TTLT-BYT-BTC Hướng dẫn thực hiện Bảo hiểm y tế quy định thu tục Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế.
Người dân được đăng ký nơi Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế ban đầu tại các bệnh viện tư nhân có đăng ký Khám bệnh, chữa bệnh ban đầu và đã ký hợp đồng Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế với cơ quan Bảo hiểm xã hội, và được hưởng quyền lợi theo đúng quy định của Luật Bảo hiểm y tế. Người dân khi đi Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế đúng tuyến tại các bệnh viện tư nhân sẽ được quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán chi phí Khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng với mức hưởng tùy theo từng đối tượng tham gia Bảo hiểm y tế (100%, 95%, 80%) theo quy định tại khoản 15, Điều 1 Luật bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014. Nếu đi Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế trái tuyến tại các bệnh viện tư nhân sẽ được quỹ Bảo hiểm y tế thanh toán chi phí Khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng theo tỷ lệ: tại bệnh viện tuyến trung ương là 40% chi phí điều trị nội trú; tại bệnh viện tuyến tỉnh là 60% chi phí điều trị nội trú; tại bệnh viện tuyến huyện là 100% chi phí Khám bệnh, chữa bệnh căn cứ vào khoản 15, điều 1 Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Tháng 11-2017, Bảo hiểm Xã hội Việt Nam đã có văn bản về việc ký hợp đồng và thanh toán chi phí khám, chữa bệnh Bảo hiểm y tế năm 2018, trong đó nêu rõ: Cơ sở y tế tư nhân phải có thêm quyết định phân tuyến chuyên môn kỹ thuật của cấp có thẩm quyền và biên bản thống nhất áp dụng mức giá theo hạng bệnh viện công lập tương đương. Đáp ứng yêu cầu của Bảo hiểm xã hội Việt Nam đảm bảo thực hiện chi trả khám chữa bệnh Bảo hiểm y tế cho các cơ sở y tế tư nhân theo đúng quy định, Bộ Y tế đã ban hành Quyết định 6062/QĐ-BYT về Ban hành tiêu chí phân tuyến chuyên môn kỹ thuật và xếp hạng tương đương đối với các cơ sở khám, chữa bệnh tư nhân. Trong năm 2018 Bộ Y tế đã duyệt chủ trương thành lập mới 16 bệnh viện tư nhân, tổ chức xét phân tuyến và phân hạng tương đương cho 219 bệnh viện tư nhân. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Giá Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế tại bệnh viện tư nhân căn cứ theo quy đinh tại Thông tư liên tịch số 39/2018/TT-BYT Quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng giá, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong một số trường hợp (sửa đổi bổ sung ngày 05/07/2019). Tuy nhiên có một số vướng mắc trong việc thực hiện và thanh toán chi phí Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế. Việc thanh toán chi phí dịch vụ phẫu thuật, thủ thuật sử dụng phương pháp gây tê, gây mê đã được quy định tại Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009, Luật giá 2012, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế ngày 13/6/2014; Nghị định 146/2018/NĐ-CP ngày 17/10/2018 của Chính phủ. Bộ Y tế cũng đã có Công văn số 6439/BYT-KH-TC ngày 31/10/2019 đề nghị Bảo hiểm xã hội Việt Nam chỉ đạo cơ quan Bảo hiểm xã hội các cấp tiếp tục thực hiện việc thanh toán chi phí Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế cho các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh theo đúng mức giá đã quy định tại Thông tư số 39/2018/TT-BYT và Thông tư số 13/2019/TT-BYT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư số 39/2018/TT-BYT.
Tuy nhiên, Bảo hiểm xã hội Việt Nam không thống nhất theo đề nghị của Bộ Y tế mà cho rằng, hai phương pháp vô cảm gây tê, gây mê khác nhau về kỹ thuật và chi phí thực hiện, chính vì vậy trong Thông tư số 39/2018/TT-BYT có những phẫu thuật, thủ thuật được quy định mức giá riêng khi áp dụng phương pháp vô cảm gây mê hoặc gây tê. Do đó, việc Bộ Y tế yêu cầu cơ quan Bảo hiểm xã hội và người dân thanh toán chi phí của các loại phẫu thuật, thủ thuật sử dụng phương pháp vô cảm gây tê bằng mức giá của phẫu thuật, thủ thuật có kết cấu thuốc gây mê là không hợp lý. Để đảm bảo tiến độ quyết toán chi phí Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế của năm 2019 theo đúng quy định của Luật Bảo hiểm y tế và các văn bản hướng dẫn thi hành, ngày 14/4/2020, Bảo hiểm xã hội Việt Nam đã có Công văn số 1163/BHXH-CSYT về việc hướng dẫn thanh toán tạm thời đối với phẫu thuật sử dụng phương pháp vô cảm gây tê chưa được quy định giá. Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện, một số nội dung hướng dẫn tại Công văn số 1163/BHXH-CSYT không không phù hợp và nếu có thực hiện sẽ tiếp tục gây khó khăn, vướng mắc cho cơ sở y tế, cụ thể: Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Tại mục 2 Công văn số 1163/BHXH-CSYT yêu cầu: “Đối với các phẫu thuật trong cơ cấu giá có kết cấu chi phí các thuốc, hóa chất, vật tư y tế sử dụng trong gây mê: thanh toán bằng mức giá quy định tại Thông tư số 39/2018/TT-BYT hoặc Thông tư số 13/2019/TT-BYT trừ đi (-) toàn bộ chi phí thuốc được kết cấu trong cơ cấu giá (Phụ lục số 03 kèm theo). Bảo hiểm xã hội các tỉnh phối hợp với cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh xác định và thanh toán phần chi phí các thuốc dùng trong phẫu thuật theo thực tế sử dụng. Trường hợp chưa xác định được phần chi phí thuốc theo thực tế sử dụng thì tổng hợp vào quyết toán năm 2020”.
Với nội dung như vậy thì toàn bộ 311 phẫu thuật thuộc Phụ lục số 3 sẽ được trừ bớt một khoản tiền tương ứng với số thuốc cơ cấu trong gói giá và được liệt kê trong Phụ lục số 3. Tuy nhiên việc rà soát sau đó rất phức tạp bởi thực tế hàng ngày có rất nhiều các phẫu thuật thực hiện, các phẫu thuật đều sử dụng thuốc mê. Việc tách riêng số thuốc mê sử dụng cho 311 phẫu thuật trong Phụ lục số 3 là rất bất cập. Do vậy, việc thanh toán chi phí thuốc theo thực tế sử dụng cho 311 phẫu thuật này cũng sẽ rất khó thực hiện. Trường hợp chưa xác định được thì cũng không thể tổng hợp vào quyết toán năm 2020.
Bên cạnh đó, trong thực tế lâm sàng, việc quyết định phương pháp vô cảm nào phụ thuộc cụ thể vào tình hình bệnh nhân, trình độ nguồn nhân lực và trang thiết bị y tế. Ngoài ra, có nhiều trường hợp phải thực hiện cùng lúc cả hai phương pháp vô cảm, hoặc trong hướng dẫn chuyên môn chỉ cần gây tê nhưng thực tế phải sử dụng phương pháp gây mê cho các bệnh kèm theo. Việc quy định cứng nhắc chỉ được vô cảm và sau đó thanh toán cố định theo một phương pháp vô cảm có thể sẽ làm gia tăng nguy cơ xuất hiện tai biến y khoa, hạn chế việc áp dụng những phương pháp kỹ thuật hiện đại vừa rút ngắn thời gian điều trị, thời gian phục hồi nhanh vừa giúp tiết kiệm chi phí cho cơ sở khám, chữa bệnh.[25]
Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội đã ban hành nhiều văn bản nhằm giải quyết những vấn đề về thanh toán chi phí Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế cụ thể: Công văn 3385/BYT-KH-TC ngày 17/06/2019 về việc thanh toán chi phí Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế theo giá dịch vụ y tế; Công văn số 6403/BYT-KCB ngày 30/10/2019 hướng dẫn giải quyết một số vướng mắc trong thực hiện và thanh toán chi phí Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế; Công văn 7691/BYT-BH ngày 31/12/2019 về việc hướng dẫn xác định tổng mức thanh toán chi phí Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế năm 2019 của Bộ Y tế và Công văn số 285/BHXH-CSYT ngày 25/01/2019 hướng dẫn thực hiện Thông tư số 39/2018/TT-BYT; Công văn số 4295/BHXH-CSYT ngày 15/11/2019 về việc giải quyết khó khăn vướng mắc thực hiện chính sách Bảo hiểm y tế của Bảo hiểm xã hội. Tuy nhiên hiện nay việc thanh toán chi phí Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế cho các bệnh viện tư còn chậm trễ, một số nội dung thanh toán chưa được Bảo hiểm xã hội giải quyết do chưa có sự thống nhất trong thi hành chính sách pháp luật về Bảo hiểm y tế giữa Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội. “Sự thiếu thống nhất giữa hai cơ quan này dễ dẫn đến việc nhân viên y tế phải cân nhắc lựa chọn dịch vụ kỹ thuật, ảnh hưởng đến quá trình điều trị và tính mạng của bệnh nhân. Bên cạnh đó, việc tạm ngưng thanh toán dịch vụ kéo dài cũng dẫn đến việc bệnh viện thiếu hụt kinh phí hoạt động, đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, các cơ sở y tế đã, đang chịu tác động và gặp vô vàn khó khăn do dịch bệnh Covid-19 gây ra” [25].
Ngoài ra, hiện nay nhiều người dân tham gia bảo hiểm sức khỏe tự nguyện do các công ty bảo hiểm kí hợp đồng với bệnh viện tư nhân. Người dân sẽ được sử dụng dịch vụ y tế chất lượng cao, được công ty bảo hiểm thanh toán viện phí lớn khi điều trị tại bệnh viện tư nhân đã kí hợp đồng.
Hoạt động khám, chữa bệnh tại bệnh viện tư nhân được thực hiện theo các quy định chung đối với bệnh viện trong Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Bảo hiểm y tế và các văn bản có liên quan. Luật Khám bệnh, chữa bệnh, Luật Bảo hiểm y tế và các văn bản dưới luật là cơ sở pháp lý quan trọng cho hoạt động chuyên môn của bệnh viện tuy nhiên vẫn còn những khó khăn trong việc thực hiện các quy định pháp luật.
2.1.5. Quy định về tổ chức lại Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Tổ chức lại là hoạt động tái cấu trúc lại doanh nghiệp bao gồm chia, tách, hợp nhất, sáp nhập hoặc chuyển đổi doanh nghiệp sao cho phù hợp hơn với mục tiêu doanh nghiệp hướng tới, xuất phát từ các nguyên nhân như chiến lược kinh doanh của doanh nghiệp bị thay đổi, nhu cầu quản trị của công ty thay đổi, các chủ sở hữu công ty phát sinh mâu thuẫn hoặc không thể tiếp tục tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh, số thành viên công ty không còn đủ giới hạn tối thiểu… Có thể xem như tổ chức lại là việc làm cần thiết để thúc đẩy doanh nghiệp đi lên sau một quá trình hoạt động. Các biện pháp tổ chức lại nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho chủ đầu tư, tạo cơ hội cho chủ đầu tư thay đổi hình thức kinh doanh phù hợp với với xu thế phát triển của kinh tế, xã hội. Đối với bệnh viện tư nhân, hiện chưa có văn bản nào hướng dẫn quy định cụ thể về việc tổ chức lại. Do vậy có thể căn cứ vào Luật doanh nghiệp 2014 để tiến hành tổ chức lại cho bệnh viện tư. Tổ chức lại doanh nghiệp được quy định cụ thể từ 192 đến điều 199 trong Luật doanh nghiệp 2014.
Chia doanh nghiệp được quy định tại điều 192 Luật doanh nghiệp. Việc chia doanh nghiệp là giảm quy mô nhưng làm tăng số lượng doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể chia các cổ đông, thành viên và tài sản công ty để thành lập hai hoặc nhiều công ty mới trong một trong các trường hợp sau đây:
- Một phần phần vốn góp, cổ phần của các thành viên, cổ đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị phần vốn góp, cổ phần được chia sang cho các công ty mới theo tỷ lệ sở hữu trong công ty bị chia và tương ứng giá trị tài sản được chuyển cho công ty mới;
- Toàn bộ phần vốn góp, cổ phần của một hoặc một số thành viên, cổ đông cùng với tài sản tương ứng với giá trị cổ phần, phần vốn góp họ được chuyển sang cho các công ty mới;
Tách doanh nghiệp được quy định tại điều 193 của Luật này. Công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần có thể tách bằng cách chuyển một phần tài sản, quyền và nghĩa vụ của công ty hiện có (sau đây gọi là công ty bị tách) để thành lập một hoặc một số công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần mới (sau đây gọi là công ty được tách) mà không chấm dứt tồn tại của công ty bị tách. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Hợp nhất doanh nghiệp được quy định tại điều 194. Đối tượng áp dụng là công ty TNHH, công ty cổ phần, công ty hợp danh. Hai hoặc một số công ty (công ty bị hợp nhất) có thể hợp nhất thành một công ty mới (công ty bị hợp nhất) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty hợp nhất.
Sáp nhập doanh nghiệp được quy định tại điều 195. Một hoặc một số công ty (công ty bị sáp nhập) có thể sáp nhập vào một công ty khác (công ty nhận sáp nhập) bằng cách chuyển toàn bộ tài sản, quyền, nghĩa vụ và lợi ích hợp pháp sang công ty nhận sáp nhập, đồng thời chấm dứt sự tồn tại của công ty bị sáp nhập.
Hệ quả pháp lý: Doanh nghiệp bị chia, hợp nhất hoặc chuyển đổi sẽ chấm dứt tồn tại kể từ thời điểm các doanh nghiệp mới được đăng ký kinh doanh. Trong khi đó, việc tách một doanh nghiệp không làm chấm dứt hoạt động của công ty bị tách. Các công ty sau khi tổ chức lại chịu trách nhiệm về các khoản nợ chưa thanh toán, hợp đồng lao động và các nghĩa vụ tài sản khác theo quy định của pháp luật.
Tổ chức lại bằng hình thức chuyển đổi loại hình doanh nghiệp được quy định từ điều 196 đến điều 199. Sau khi đăng ký kinh doanh, công ty được chuyển đổi chấm dứt sự tồn tại; công ty chuyển đổi kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của công ty được chuyển đổi.
2.1.6. Quy định về chuyển nhượng vốn, mua bán doanh nghiệp đối với bệnh viện tư nhân
Việc chuyển nhượng vốn của bệnh viện tư nhân có thể căn cứ theo quy định về chuyển nhượng vốn của Luật doanh nghiệp tùy theo hình thức doanh nghiệp thành lập bệnh viện.
Đối với bệnh viện được thành lập theo hình thức công ty TNHH một thành viên chủ sở hữu công ty có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phấn vốn góp của mình căn cứ điểm h, khoản 1 Điều 75 Luật doanh nghiệp và Quyết định tăng vốn điều lệ, chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của công ty cho tổ chức, cá nhân khác theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 75. Căn cứ vào khoản 5, điều 76 nghĩa vụ chủ sở hữu công ty chỉ được quyền rút vốn bằng cách chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ cho tổ chức hoặc cá nhân khác. Trường hợp rút một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ đã góp ra khỏi công ty dưới hình thức khác thì chủ sở hữu và cá nhân, tổ chức có liên quan phải liên đới chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Đối với bệnh viện tư nhân được thành lập theo hình thức công ty TNHH hai thành viên trở lên. Căn cứ khoản 2 Điều 51 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định đối với loại hình công ty này, thành viên không được rút vốn đã góp ra khỏi công ty dưới mọi hình thức, trừ trường hợp quy định tại các Điều 52 (Mua lại phần vốn góp), Điều 53 (Chuyển nhượng phần vốn góp), Điều 54 (Xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt) và Điều 68 (Thay đổi vốn điều lệ) của Luật. Thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên có thể rút vốn bằng cách yêu cầu công ty mua lại phần vốn góp của mình hoặc chuyển nhượng phần vốn góp đó cho người khác theo quy định tại điều 52 (Mua lại phần góp vốn), 53 Luật Doanh nghiệp 2014.
- Điều 53 quy định về việc Chuyển nhượng phần vốn góp như sau:
Trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 52, khoản 5 và khoản 6 Điều 54 (Xử lý phần vốn góp trong một số trường hợp đặc biệt) của Luật này, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên có quyền chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ phần vốn góp của mình cho người khác theo quy định sau đây:
- Phải chào bán phần vốn đó cho các thành viên còn lại theo tỷ lệ tương ứng với phần vốn góp của họ trong công ty với cùng điều kiện;
- Chỉ được chuyển nhượng với cùng điều kiện chào bán đối với các thành viên còn lại quy định tại điểm a khoản này cho người không phải là thành viên nếu các thành viên còn lại của công ty không mua hoặc không mua hết trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày chào bán.
Thành viên chuyển nhượng vẫn có các quyền và nghĩa vụ đối với công ty tương ứng với phần vốn góp có liên quan cho đến khi thông tin về người mua quy định tại các điểm b, c và d khoản 1 Điều 49 của Luật này được ghi đầy đủ vào sổ đăng ký thành viên. Thành viên còn lại trong công ty có quyền ưu tiên mua lại phần vốn góp của tương ứng với tỷ lệ góp vốn của họ trong công ty, thời hạn là trong vòng 30 ngày kể từ ngày phần vốn chuyển nhượng được chào bán. Quyền ưu tiên được chuyển nhượng phần vốn góp mang ý nghĩa quan trọng trong việc tổ chức, quản lý doanh nghiệp. Việc quy định quyền ưu tiên như vậy nhằm hạn chế việc tiếp nhận thêm thành viên mới vào công ty, một thành viên chỉ có quyền chuyển nhượng cho một người khác không phải là thành viên công ty trong trường hợp các thành viên công ty từ chối quyền ưu tiên mua. Bên cạnh đó, quyền ưu tiên chuyển nhượng không áp dụng trong các trường hợp nêu tại khoản 1 Điều 53 Luật doanh nghiệp 2014. Thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn tặng cho phần vốn góp, quyền ưu tiên chuyển nhượng của các thành viên khác không được áp dụng trong trường hợp người được tặng cho là vợ, chồng, cha, mẹ, con hay người có quan hệ họ hàng đến hàng thừa kế thứ ba. Người được tặng cho sẽ đương nhiên là thành viên mới của công ty. Các trường hợp tặng cho khác thì người được tặng cho chỉ trở thành thành viên công ty khi có sự chấp thuận của Hội đồng thành viên. Quyền ưu tiên cũng không được áp dụng trong trường hợp trả nợ bằng vốn góp. Thành viên có thể trả nợ bằng phần vốn góp của mình, và người nhận trả nợ có thể trở thành thành viên công ty nếu được chấp thuận bởi hội đồng thành viên. Trường hợp người nhận trả nợ không muốn trở thành thành viên công ty hay không được hội đồng thành viên chấp thuận, người được trả nợ có thể chuyển nhượng phần vốn góp của nhưng phải ưu tiên chuyển nhượng cho các thành viên khác trước khi chào bán cho bên thứ ba. Trường hợp công ty không mua lại phần vốn góp thì thành viên đó có quyền tự do chuyển nhượng phần vốn góp của mình mà không phụ thuộc vào quyền ưu tiên được chuyển nhượng của thành viên khác. Bên cạnh các quy định của Luật doanh nghiệp 2014, điều lệ của công ty hoặc thỏa thuận thành viên có thể quy định chi tiết về các điều kiện và hạn chế chuyển nhượng khác ngoài quyền ưu tiên.
Đối với bệnh viện thành lập theo hình thức công ty cổ phần việc chuyển nhượng cổ phần căn cứ vào điều 126 Luật doanh nghiệp. Chuyển nhượng cổ phần là việc cổ đông góp vốn trong công ty cổ phần chuyển nhượng lại phần góp vốn, vốn góp của mình cho một cổ đông khác trừ một số trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 119 và Điều lệ công ty có quy định hạn chế chuyển nhượng cổ phần. Nhìn chung, cổ phần được tự do chuyển nhượng, không bị giới hạn về đối tượng được nhận chuyển nhượng cũng như giới hạn về số lượng cổ phần được chuyển nhượng. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Cổ đông chưa thanh toán số cổ phần đã đăng ký mua sẽ đương nhiên không còn là cổ đông của công ty và không được chuyển nhượng quyền mua cổ phần đó cho người khác. Cổ đông chỉ thanh toán một phần số cổ phần đã đăng ký mua sẽ có quyền biểu quyết, nhận lợi tức và các quyền khác tương ứng với số cổ phần đã thanh toán; không được chuyển nhượng quyền mua số cổ phần chưa thanh toán cho người khác theo quy định tại khoản 3 Điều 112. Cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết không được chuyển nhượng cổ phần đó cho người khác theo quy định tại khoản 3, Điều 116. Quy định như vậy vì cổ phần ưu đãi biểu quyết là cổ phần có số phiếu biểu quyết nhiều hơn so với cổ phần phổ thông mà quyền của cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết bao gồm quyền biểu quyết các vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại hội đồng cổ đông. Hạn chế chuyển nhượng cổ phần ưu đãi biểu quyết chính là nhằm nâng cao trách nhiệm đối với công ty của cổ đông sở hữu cổ phần ưu đãi biểu quyết và không làm xáo trộn vị trí quản lý của công ty.
Đối với cổ đông sáng lập trong thời hạn 03 năm, kể từ ngày doanh nghiệp được cấp giấy phép đăng ký kinh doanh, cổ đông sáng lập có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho cổ đông sáng lập khác; chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông của mình cho người không phải là cổ đông sáng lập nếu được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Nếu cổ đông sáng lập còn lại không đồng ý việc chuyển nhượng cổ phần cho người ngoài thì cổ đông dự định chuyển nhượng có quyền yêu cầu các cổ đông còn lại hoặc công ty mua lại số cổ phần dự định chuyển nhượng đó.Cổ đông nhận chuyển nhượng cổ phần từ cổ đông sáng lập của công ty không được coi là cổ đông sáng lập. Việc hạn chế chuyển nhượng theo pháp luật áp dụng với đối tượng là cổ đông sáng lập trong thời hạn 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp. Quyền tự do chuyển nhượng bị thu hẹp về đối tượng nhận chuyển nhượng là các cổ đông sáng lập khác, nếu đối tượng nhận chuyển nhượng không phải là cổ đông sáng lập, thì chỉ được chuyển nhượng cổ phần phổ thông khi được sự chấp thuận của Đại hội đồng cổ đông. Quy định như vậy nhằm mục đích ổn định tổ chức của công ty trong 03 năm đầu – khi công ty mới thành lập, bên cạnh đó cũng nhằm buộc cổ đông sáng lập phải chịu trách nhiệm với công ty khi công ty vừa được thành lập và đang trong giai đoạn phát triển. Sau 03 năm kể từ ngày công ty được cấp Giấy chứng nhận đăng kí doanh nghiệp thì mọi hạn chế đối với cổ đông sáng lập được bãi bỏ. Việc hạn chế chuyển nhượng đối với cổ phần của cổ đông sáng lập một phần cũng nhằm để bảo vệ lợi ích cho người mua cổ phần là người không tham gia thành lập công ty cổ phần, không biết được thực trạng công ty khi mới thành lập. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Phương thức chuyển nhượng cổ phần được quy định tại khoản 2 điều 126 bao gồm hai phương thức là thông qua hợp đồng chuyển nhượng, hoặc là thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán. Chuyển nhượng cổ phần theo hợp đồng chuyển nhượng cần đảm bảo tuân theo các quy định của pháp luật về hồ sơ chuyển nhượng và thủ tục chuyển nhượng. Với việc chuyển nhượng bằng tặng cho thì phải dùng hợp đồng tặng cho, hoặc chuyển nhượng cổ phần khi cổ đông chết thì lại cần những hợp đồng cá biệt khác.Việc chuyển nhượng thông qua giao dịch trên thị trường chứng khoán được quy định trong pháp luật về chứng khoán. Chuyển nhượng cổ phần trên thị trường chứng khoán được biểu hiện bằng việc mua bán cổ phiếu. Giao dịch này dựa trên nguyên tắc thỏa thuận tự do giữa bên mua và bên bán, tuy nhiên việc mua bán diễn ra trên thị trường chứng khoán. Người mua cổ phần cần tìm hiểu kĩ về công ty mình mua cổ phần cũng như các vấn đề liên quan đến cổ phần mình định mua, các quyền và nghĩa vụ để tránh rủi ro.
Hệ quả pháp lý sau khi chuyển nhượng cổ phần: Cổ đông sau khi đã chuyển nhượng toàn bộ cổ phần của mình cho người khác hoặc chết sẽ không còn là cổ đông của công ty, tức là không còn tên trong Sổ đăng kí cổ đông. Vốn điều lệ của công ty không có sự thay đổi bởi số lượng cổ phần được bảo toàn, không tăng lên hay giảm đi mà chỉ chuyển từ đối tượng sở hữu này sang đối tượng sở hữu khác.
- Về mua bán doanh nghiệp
Khoản 4 điều 29 Luật cạnh tranh quy định: “Mua lại doanh nghiệp là việc một doanh nghiệp trực tiếp hoặc gián tiếp mua toàn bộ hoặc một phần vốn góp, tài sản của doanh nghiệp khác đủ để kiểm soát, chi phối doanh nghiệp hoặc một ngành, nghề của doanh nghiệp bị mua lại”. Khi một công ty mua lại hoặc thôn tính một công ty khác và đặt mình vào vị trí chủ sở hữu mới thì thương vụ đó được gọi là mua bán. Về pháp lý, công ty bị mua lại không còn tồn tại, còn công ty tiến hành mua lại sẽ ‘tiếp quản” toàn bộ hoạt động kinh doanh của công ty kia. Đối với các loại hình doanh nghiệp như công ty TNHH, công ty cổ phần thì không có quy định về việc được bán lại doanh nghiệp mà là quy định về việc chuyển nhượng toàn bộ hoặc chuyển nhượng một phần vốn hoặc cổ phần sang cho người khác, hoặc thủ tục hợp nhất, sáp nhập, chia tách doanh nghiệp. Hiện nay đầu tư vào bệnh viện tư nhân được thể hiện qua các thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A). Nhiều thương vụ diễn ra gần đây như tập đoàn y khoa Hoàn Mỹ (gồm 15 bệnh viện tư nhân và 11 phòng khám) hoàn tất việc mua lại Bệnh viện quốc tế Hạnh Phúc; nha khoa Mỹ sáp nhập vào Sun Medical Center; tập đoàn Fortis Healthcare mua lại 65% cổ phần của Hoàn Mỹ với giá 64 triệu USD và sau hai năm chính thức nhượng lại 65% cổ phần của công ty cổ phần y khoa Fortis Hoàn Mỹ cho Richard Chandler, tập đoàn đầu tư New Zealand có trụ sở tại Singapore. “Hoạt động M&A được quan tâm kể từ khi Luật doanh nghiệp năm 1999 ra đời và trở nên sôi động hơn trong những năm gần đây với sự phát triển nhanh về cả số lượng và quy mô” [13] đặc biệt là M&A bệnh viện.
2.1.7. Quy định pháp luật về hỗ trợ tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Căn cứ vào đặc điểm của bệnh viện tư nhân là chủ thể kinh doanh đặc biệt thực hiện những chức năng xã hội nhất định, phục vụ cho các đối tượng trong xã hội vậy nên bệnh viện tư cần có các quy định pháp luật hỗ trợ trong quá trình hoạt động. Bệnh viện tư nhân nằm trong danh mục lĩnh vực ưu đãi đầu tư của Chính phủ vậy nên bệnh viện tư được hưởng những ưu đãi về thuế. Hiện nay nước ta đã có chính sách ưu đãi đặc biệt về thuế dành cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y tế, theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp, Luật đầu tư. Pháp luật quy định hoạt động trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh, doanh nghiệp sẽ được áp dụng mức thuế suất Thuế thu nhập doanh nghiệp thấp hơn mức thuế suất thông thường có thời hạn hoặc toàn bộ thời gian thực hiện dự án đầu tư; miễn, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp căn cứ khoản 1, điều 15 và điểm k, khoản 1, điều 16 Luật đầu tư 2014. Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực y tế là lĩnh vực xã hội hóa được áp dụng mức Thuế thu nhập doanh nghiệp 10% trong suốt thời gian hoạt động quy định tại khoản 2 điều 13 Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp. Doanh nghiệp mới thành lập còn được miễn thuế tối đa 4 năm thay vì 2 năm như các doanh nghiệp khác và giảm 50% thuế trong 5 năm hoặc 9 năm tiếp theo tùy theo địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn quy định tại điều 16 Nghị định 218/2013/NĐ-CP. Các dự án đầu tư, mở rộng, xây mới bệnh viện cũng được ưu đãi hơn về mức vốn vay, tối đa tới 70% tổng vốn của dự án. Các chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về đất đai và đầu tư xây dựng bệnh viện cũng được Chính phủ quy định khá cụ thể. Nghị định về khuyến khích các cơ sở cung ứng ngoài công lập đang được áp dụng đã dành ưu đãi về lệ phí trước bạ nhà, đất cho các bệnh viện tư nhân. Theo Điều 9 Nghị định 140/2016/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 20/2019/NĐ-CP) được hướng dẫn bởi Điều 5 Thông tư 301/2016/TT-BTC (sửa đổi, bổ sung bởi Thông tư 20/2019/TT-BTC) bệnh viện tư nhân là đối tượng miễn lệ phí trước bạ “ Nhà, đất của cơ sở ngoài công lập đăng ký quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà phục vụ cho các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo; y tế; văn hóa; thể dục thể thao; khoa học và công nghệ; môi trường; xã hội; dân số, gia đình, bảo vệ chăm sóc trẻ em theo quy định của pháp luật”. Tuy nhiên một số chính sách khuyến khích đầu tư y tế tư nhân theo chủ trương xã hội hóa những năm gần đây không còn được quan tâm. Đặc biệt, đầu tư bệnh viện tư nhân không còn nằm trong danh mục các lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo Nghị định 118/2015/NĐ-CP hướng dẫn Luật Đầu tư. Các ưu đãi về mặt bằng, tiền sử dụng đất không còn được thực hiện theo Nghị định 69/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách xã hội hóa.
Có thể thấy Chính phủ đã có sự quan tâm nhất định đối với bệnh viện tư nhân bằng các chính sách, nghị định về ưu đãi đầu tư, ưu đãi thuế nhằm khuyến khích sự phát triển của khối bệnh viện ngoài công lập trong sự nghiệp y tế nói chung. Các chính sách này không những thể hiện sự đúng đắn trong chủ trương, đường lối của Đảng, Nhà nước mà còn thể hiện vai trò của Nhà nước trong việc chăm sóc sức khỏe cộng đồng. Tuy nhiên cần có sự quan tâm hơn của Nhà nước trong việc đầu tư bệnh viện tư nhân bằng các quy định hỗ trợ cho hoạt động của bệnh viện. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
2.1.8. Quy định về cạnh tranh trong hoạt động bệnh viện tư nhân
Hưởng ứng tích cực chính sách xã hội hóa y tế của chính phủ, nhiều doanh nhân và doanh nghiệp đã bỏ vốn hàng nghìn tỷ đồng để xây dựng bệnh viện tư nhân. Đến nay, các bệnh viện tư nhân đã không ngừng phát triển và lớn mạnh về mọi mặt, đóng góp vào nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe toàn dân. Bệnh viện tư không những góp phần làm giảm sự quá tải tại các bệnh viện công mà còn kích thích bệnh viện công thay đổi, cải tổ lại lề lối làm việc.
Tuy nhiên cũng đã xuất hiện những bất bình đẳng giữa hai khối bệnh viện công tư. Bệnh viện tư nhân được hình thành theo chủ trương xã hội hóa y tế trong cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa của Đảng, Nhà Nước, phải tự lực đầu tư từ cơ sở vật chất, trả lương cho người lao động và tự xây dựng thương hiệu. Nếu xét trong môi trường kinh doanh thì sự phát triển của bệnh viện tư còn gặp khá nhiều khó khăn so với các bệnh viện công vốn có thương hiệu từ lâu đời, được nhà nước đầu tư về cơ sở vật chất. Từ vốn đầu tư, tiền thuê đất, giá viện phí cho đến cơ hội kí hợp đồng Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế tất cả mặt thuận lợi đều nghiêng về phía bệnh viện công. “Bệnh viện công được vay ưu đãi vốn ODA với lãi suất thấp, được Nhà nước đứng ra bảo lãnh, còn bệnh viện tư không được, phải vay vốn thương mại với lãi suất cao hơn nhiều, điều kiện vay cũng khó hơn”[7]. Việc đầu tư của các doanh nghiệp vào bệnh viện tư tại một số địa phương chưa được khuyến khích, chưa có cơ chế ưu đãi. Trong hoạt động, nếu như tai biến y khoa xảy ra tại các bệnh viện công, bệnh viện được cơ quan quản lý chỉ đạo thành lập hội đồng thẩm định, được ngành Y tế đứng sau hỗ trợ, còn bệnh viện tư phải tự giải quyết… Các chính sách về Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế, thanh quyết toán Bảo hiểm y tế cũng chưa được thực hiện rộng rãi tại các BV ngoài công lập. Cá biệt có những nơi phân bổ Bảo hiểm y tế chưa hợp lý, chưa căn cứ vào điều kiện và năng lực của cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh để phân bổ đăng ký Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế ban đầu cho các bệnh viện, số lượng thẻ chưa thể hiện sự bình đẳng giữa bệnh viện công và bệnh viện tư nhân. Bệnh viện công cùng hạng tương đương với BV tư nhân nhưng số lượng thẻ Bảo hiểm y tế được phân hàng năm lớn gấp 3-4 lần. Bệnh viện tư nhân phân tuyến chuyên môn kỹ thuật tương đương hạng II xếp tuyến tỉnh nên không được thông tuyến Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế nhưng bệnh viện nhà nước tuyến huyện được xếp hạng II thì được. Hiện nay thông tuyến bảo hiểm y tế được áp dụng đối với các bệnh viện tuyến huyện, là việc người bệnh đi khám, chữa bệnh tại bất cứ bệnh viện tuyến huyện nào trên cùng địa bàn tỉnh đều được hưởng quyền lợi như nhau, như mức hưởng khám chữa bệnh đúng tuyến theo cơ sở đăng kí Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế ban đầu tại bệnh viện tuyến huyện theo Luật Bảo hiểm y tế sửa đổi, bổ sung 2014. Từ 01/01/2021, sẽ áp dụng thông tuyến tỉnh, mức hưởng bằng mức như khi đi đúng tuyến đối với chi phí điều trị nội trú ở tất cả bệnh viện tuyến tỉnh trên toàn quốc theo quy định tại khoản 15 điều 1 Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Bảo hiểm y tế. Như vậy quy định mới được thi hành có thể sẽ tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động của bệnh viện tư nhân thay cho tình trạng xin xuống hạng của một số bệnh viện tư hiện nay để được thông tuyến Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Ngoài ra còn nhiều vấn đề chưa có sự công bằng giữa hai khối bệnh viện công và tư trong hoạt động nghề nghiệp như về đào tạo và chính sách của ngành y tế đối với các cơ sở khám chữa bệnh: Có những chương trình đào tạo lại, nhiều chương trình đào tạo có kinh phí của nhà nước, nhưng chỉ có bệnh viện công lập mới được tham gia, còn các bệnh viện tư nhân không được quan tâm. Về sự hỗ trợ của các tổ chức phi chính phủ. Thực tế nhiều tổ chức phi chính phủ muốn hỗ trợ cơ sở vật chất cho các bệnh viện tư nhân, nhưng cơ chế để bệnh viện tư nhân được nhận hỗ trợ thì hầu như không có, mà chỉ có đầu tư cho các cơ sở của nhà nước. Bên cạnh đó ngành y tế có chủ trương phối hợp mô hình hợp tác công tư theo Nghị quyết 93/2014 của Chính phủ về một số cơ chế, chính sách phát triển y tế. Tuy nhiên, chủ trương này gây ra nhiều bất cập. Đó là sự mất công bằng trong đầu tư, không rõ ràng giữa công và tư [1].
Nguyên nhân dẫn tới sự bất bình đẳng trên là do các bệnh viện tư nhân luôn bị đánh giá, nhìn nhận trong tương quan so sánh với cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh nhà nước như chữa bệnh tư nhân thiếu kinh nghiệm quản trị, thiếu nhân lực trình độ cao nên không thu hút được bệnh nhân, không sử dụng hết công suất giường bệnh, một số bệnh viện phá sản, gây lãng phí đầu tư… Có quan điểm cho rằng bệnh viện tư là doanh nghiệp thực hiện hoạt động kinh doanh nên mục tiêu lợi nhuận đặt lên hàng đầu còn bệnh viện công thì phục vụ cộng đồng, vì nhiệm vụ chính trị. Quan điểm so sánh này chưa thực sự thỏa đáng vì bệnh viện tư cũng thực hiện chức năng xã hội như bệnh viện công, lấy người bệnh và sự hài lòng của người bệnh là mục tiêu phát triển. Trong khi cũng có những dịch vụ như mổ dịch vụ, khám dịch vụ chứ không phải là hoàn toàn miễn phí hay người bệnh được Bảo hiểm y tế chi trả 100% khi khám, chữa bệnh ở viện công. Do vậy để bệnh viện tư nhân hoạt động hiệu quả, thể hiện hết vai trò, chức năng, nhiệm vụ của mình cần có những chính sách, quy định phù hợp, tạo môi trường bình đẳng giữa hai khối bệnh viện công tư, tháo gỡ những rào cản chính sách không còn phù hợp với thực tiễn và nhu cầu của xã hội.
Bên cạnh việc hướng tới một môi trường kinh doanh bình đẳng cho bệnh viện tư, Chính phủ cũng hướng tới chủ trương đẩy mạnh nâng cao hợp tác công tư thể hiện trong Nghị quyết 20/NQ-TW và Nghị quyết 93/NQ-CP.
Khối bệnh viện công lập hay tư nhân cũng là những bộ phận của hệ thống cơ sở y tế cùng thực hiện chức năng, nhiệm vụ là chăm sóc, đảm bảo sức khỏe cho nhân dân. Khối bệnh viện công lập đã có từ thương hiệu từ lâu đời nhưng thường xuyên trong tình trạng quá tải. Trong khi đó khối bệnh viện tư nhân ra đời muộn, kinh nghiệm còn non trẻ mặc dù đang dần dần khẳng định vai trò của mình trong sự nghiệp y tế tuy nhiên không ít bệnh viện tư được đầu tư với nguồn vốn lớn, trang thiết bị y tế hiện đại lại sử dụng không hết công suất giường bệnh gây ra tình trạng lãng phí cả về nhân lực và vật lực. Để giảm tải cho bệnh viện công lập và tăng năng lực cho bệnh viện tư nhân, việc tăng cường hợp tác giữa công và tư là hết sức cần thiết. Hơn nữa trước những vấn đề phi truyền thống đang xảy ra rất nhiều hiện nay như dịch bệnh, thiên tai, thảm họa… phối hợp công tư càng quan trọng hơn cả. Trong tình hình dịch bệnh covid-19 đang diễn biến phức tạp trên toàn thế giới, phòng chống dịch bệnh không phải là trách nhiệm riêng của hệ thống bệnh viện công hay tư mà cần có sự phối hợp góp sức của cả hai khối bệnh viện này. Sự kết hợp giữa điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật hiện đại, đội ngũ bác sĩ trẻ nhiệt huyết của bệnh viện tư và các bác sỹ đầu ngành của bệnh viện công sẽ là giải pháp tối ưu khắc phục những hậu quả của dịch bệnh. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Trong quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có những quy định cụ thể về liên thông trong tổ chức hoạt động của khối bệnh viện tư nhân với khối bệnh viện công lập. Các bệnh viện công và tư chủ yếu liên kết bằng hợp đồng hợp tác kinh doanh BCC. Ngoài ra sự phối hợp công tư còn thể hiện qua việc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh công được cử công chức, viên chức (gọi tắt là người lao động) làm việc tại bệnh viện tư theo chủ trương của Chính phủ quy định tại khoản 2 điều 1 Nghị quyết 93/NQ-CP. Việc tạo ra cơ sở pháp lý cho việc liên thông giữa hai khối bệnh viện là vô cùng cần thiết bởi liên thông không những là chia sẻ trách nhiệm, hỗ trợ nhau trong công tác hoạt động, mà còn là mang lại lợi ích tốt nhất cho người bệnh.
2.1.9. Các quy định về kiểm tra, giám sát và xử lý vi phạm đối với bệnh viện tư nhân
Để đảm bảo chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh, hạn chế các tai biến, sai sót chuyên môn, sự cố y khoa bên cạnh việc bệnh viện tư nhân thực hiện theo đúng các quy định pháp luật, Nhà nước cũng cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát đối với các hoạt động của bệnh viện tư nhân. Kiểm tra là một biện pháp để tăng cường hiệu lực quản lý Nhà nước trong công tác khám bệnh, chữa bệnh. Có hai hình thức kiểm tra là kiểm tra tại các khoa, phòng hoặc toàn bệnh viện và kiểm tra từ bên ngoài, kiểm tra của cấp trên do Bộ Y tế hoặc Sở Y tế trực tiếp hoặc uỷ nhiệm các đoàn đến kiểm tra bệnh viện. Việc kiểm tra căn cứ Thông tư 19/2013/TT-BYT hướng dẫn thực hiện quản lý chất lượng dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh tại bệnh viện,Quyết định 6858/QĐ-BYT về việc ban hành bộ tiêu chí chất lượng bệnh viện Việt Nam và quyết định ban hành nội dung kiểm tra đánh giá chất lượng bệnh viện và khảo sát hài lòng người bệnh, nhân viên y tế hàng năm của Bộ Y tế như Quyết định 3936/QĐ-BYT năm 2019, Quyết định 6328/QĐ-BYT năm 2018, Đối với hình thức tự kiểm tra, Giám đốc bệnh viện ra Quyết định thành lập các đoàn kiểm tra của bệnh viện để kiểm tra từng vụ, việc hoặc việc thực hiện nội quy, quy định và các hoạt động trong bệnh viện. Đoàn kiểm tra bao gồm những cá nhân có đủ phẩm chất, đủ năng lực và nhiệt tình trong công tác kiểm tra, giám sát, nâng cao chất lượng chuyên môn trong bệnh viện.
Đối với hình thức kiểm tra từ bên ngoài, Sở Y tế hoặc Bộ Y tế thành lập đoàn kiểm tra đánh giá chất lượng bệnh viện thông qua kiểm tra thực tế và báo cáo kết quả tự kiểm tra của bệnh viện. Thành viên tham gia Đoàn kiểm tra, đánh giá chất lượng bệnh viện của Sở Y tế bao gồm lãnh đạo Sở Y tế, lãnh đạo và chuyên viên các phòng chức năng của Sở Y tế, chuyên gia quản lý bệnh viện – quản lý chất lượng của các bệnh viện hạng I, được Bộ Y tế cấp mã “Đánh giá viên”. Thành viên tham gia Đoàn kiểm tra của Bộ Y tế gồm lãnh đạo Cục Quản lý Khám, chữa bệnh hoặc lãnh đạo Vụ, Cục, đơn vị được Bộ trưởng Bộ Y tế phân công, chuyên viên các Vụ, Cục của Bộ Y tế, quan sát viên là thành viên của các cơ quan, ban ngành, tổ chức khác (Bảo hiểm xã hội Việt Nam, các hội, tổ chức dân sự, quốc tế, cơ quan truyền thông). Thành viên đoàn kiểm tra đăng ký đầy đủ mã đánh giá viên theo quy định của Cục quản lý khám, chữa bệnh. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Đoàn kiểm tra tiến hành kiểm tra về hoạt động chuyên môn, hoạt động tài chính, cơ cấu tổ chức, danh mục dịch vụ và bảng giá kĩ thuật, danh sách người hành nghề, đăng kí hành nghề, thôi hành nghề… Bên cạnh đó có thể kiểm tra công tác phòng chống dịch trong thời điểm dịch covid-19 bùng phát như hiện nay. Hoạt động kiểm tra nhằm đánh giá việc thực hiện chuyên môn, thực trạng chất lượng hoạt động và cung cấp dịch vụ khám chữa bệnh của bệnh viện. Ngoài ra việc kiểm tra còn là căn cứ xét thi đua, khen thưởng, căn cứ xếp loại chất lượng dịch vụ khám, chữa bệnh.
Bên cạnh công tác kiểm tra, pháp luật cũng có những quy định cụ thể về thanh tra y tế mà bệnh viện tư nhân chịu sự điều chỉnh. Pháp luật đã ban hành nghị định 122/2014/NĐ-CP về tổ chức và hoạt động của thanh tra y tế. Theo đó, thanh tra y tế là thanh tra việc thực hiện các chính sách pháp luật như chính sách pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh, chính sách pháp luật về Bảo hiểm y tế, thực hiện chính sách pháp luật trong xã hội hóa công tác y tế. Thanh tra chuyên ngành về khám, chữa bệnh là thanh tra việc thực hiện các quy định của pháp luật về lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh; thanh tra việc thực hiện quy chế, quy trình, hướng dẫn về chuyên môn, kỹ thuật và quy tắc quản lý chuyên ngành lĩnh vực khám, chữa bệnh; thanh tra việc cấp, thu hồi giấy phép hoạt động đối với bệnh viện; thanh tra việc thực hiện quy định về thông tin, quảng cáo khám bệnh, chữa bệnh; thanh tra việc thực hiện quy định về quản lý chất lượng xét nghiệm; quy định về dinh dưỡng, tiết chế người bệnh; thanh tra việc thực hiện quy định về ứng dụng bức xạ ion hóa trong khám, chữa bệnh. Đội ngũ thanh tra cần đáp ứng những yêu cầu về chuyên môn, trình độ, kinh nghiệm, tính khách quan để hoạt động thanh tra diễn ra hiệu quả. Thanh tra bệnh viện tư nhân còn căn cứ vào Quyết định 40/2007/QĐ-BYT về việc ban hành quy trình và danh mục thanh tra hành nghề y tư nhân. Theo Nghị định này cơ quan thanh tra sẽ tiến hành thanh tra về giấy phép đăng ký kinh doanh (đối với doanh nghiệp trong nước), danh sách Hội đồng quản trị, giấy phép đầu tư (đối với doanh nghiệp nước ngoài); điều lệ tổ chức và hoạt động của bệnh viện; chứng chỉ hành nghề khám chữa bệnh của Giám đốc bệnh viện; giấy chứng nhận đủ điều kiện hành nghề y tư nhân; hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật về lao động; phạm vi hoạt động chuyên môn; giấy chứng nhận về phòng cháy chữa cháy; giấy phép sử dụng thiết bị X quang y tế; hồ sơ hệ thống xử lý rác thải bệnh viện (rác thải lỏng và rắn); giấy tờ khác liên quan (Biên bản thẩm định cơ sở, …)
Việc thanh tra, kiểm tra giám sát là để phát hiện những sai sót trong quá trình hoạt động, thực thi pháp luật của bệnh viện tư và có những biện pháp xử lý kịp thời. Sau quá trình thanh tra, kiểm tra, khi phát hiện các vi phạm pháp luật về y tế, cơ quan nhà nước có thẩm quyền phải xử phạt theo đúng quy định của pháp luật, xử lý nghiêm các trường hợp sai phạm để đảm bảo tính công bằng, nghiêm minh của pháp luật, hiệu quả hoạt động khám, chữa bệnh và thể hiện vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực y tế. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Việc xử lý vi phạm hành chính căn cứ vào Nghị định 176/2013/NĐ-CP quy định xử phạt hành chính trong lĩnh vực y tế. Nghị định này đã quy định khá chi tiết, cụ thể về các trường hợp vi phạm, hình thức xử phạt và mức độ xử phạt. Tuy nhiên còn một số vướng mắc tồn tại của Nghị định này gây khó khăn, lúng túng cho cơ quan thi hành. Tại khoản 5, Điều 4 của Nghị định nêu rõ mức phạt tiền quy định tại Chương II Nghị định này là mức phạt tiền đối với cá nhân. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với tổ chức bằng 02 lần mức phạt tiền đối với cá nhân. Tuy nhiên lại chưa quy định rõ cách xác định tổ chức và cá nhân trong xử phạt. Một số biện pháp khắc phục hậu quả chưa sâu sát với thực tế triển khai hoặc chưa có quy định cụ thể về cách thức, quy trình cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan có liên quan trong thực hiện. Như biện pháp buộc hoàn trả số tiền thu chênh lệch đối với các hành vi thu giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh cao hơn giá đã niêm yết, hoàn trả số tiền thu được trong các hành vi bán thuốc đã được bảo hiểm y tế chi trả, thuốc nhập khẩu phi mậu dịch, thuốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng hoặc thuốc đã hết hạn sử dụng. Nghị định quy định trường hợp không hoàn trả được cho đối tượng thì nộp vào ngân sách nhà nước. Tuy nhiên, hiện nay việc phối hợp giữa các cơ quan có liên quan như Sở Y tế, Kho bạc Nhà nước,… để thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả này còn chưa rõ ràng. Nghị định này đã đưa ra các mức nộp phạt đối với các hành vi vi phạm hành chính về khám, chữa bệnh từ 200 nghìn đồng đến 80 triệu đồng ở mục 2, từ Ðiều 28 đến Ðiều 36. Nhưng trên thực tế, con số này còn thấp so với lợi nhuận thu về nên dù bị xử phạt một số bệnh viện vẫn tiếp tục tái phạm.
2.2. Thực tiễn thi hành pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Sau hơn 10 năm thi hành luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009, hệ thống bệnh viện tư nhân phát triển nhanh chóng, nhiều tập đoàn và doanh nghiệp lớn đã có kế hoạch đầu tư mới bệnh viện có quy mô lớn, tại một số tỉnh thành đã có bệnh viện quốc tế do tư nhân đầu tư. Ước tính vào năm 2011, nước ta chỉ có hơn 100 bệnh viện tư nhân và bán công với gần 6000 giường bệnh thì tới tháng 12/2019, đã có tới hơn 248 bệnh viện tư nhân. Luật Khám bệnh, chữa bệnh 2009 đã tạo hành lang pháp lý cho hoạt động khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện tư nhân, đáp ứng yêu cầu điều chỉnh các mối quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực khám bệnh, chữa bệnh. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện pháp luật, một số bệnh viện tư nhân đã gặp phải khó khăn, vướng mắc cũng như để xảy ra sai phạm.
Thực hiện Quyết định số 216/QĐ-TTrB ngày 22/11/2019 của Chánh Thanh tra Bộ Y tế, từ ngày 04/12/2019 đến ngày 12/02/2020, đoàn thanh tra đã tiến hành thanh tra tại 11 cơ sở khám bệnh, chữa bệnh tư nhân trên địa bàn TP.HCM. Kết quả thanh tra cho thấy, các cơ sở được thanh tra đều vi phạm quy định về Khám bệnh, chữa bệnh. Tại thời điểm thanh tra, Bệnh viện đa khoa Triều An (bệnh viện tư nhân) có lập danh sách đăng ký người hành nghề Khám bệnh, chữa bệnh. Tuy nhiên, chưa đúng theo mẫu quy định tại Phụ lục IV của Nghị định số 109/2016/NĐ-CP ngày 01/7/2016 của Chính phủ. Bệnh viện cũng chưa công khai bảng giá dịch vụ Khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế. Bệnh án không lưu Phiếu chỉ định cận lâm sàng (xét nghiệm, chẩn đoán hình ảnh), chỉ lưu kết quả cận lâm sàng; một số bác sỹ, điều dưỡng chỉ ký tên mà ko ghi rõ họ tên. Một số bệnh án ngoại trú được kiểm tra cho thấy, mục diễn biến chỉ ghi cấp toa, mục y lệnh bác sỹ điều trị chỉ ký và đóng dấu tên, không ghi chép triệu chứng và diễn biến bệnh.Sổ ghi biên bản hội chẩn của Bệnh viện đa khoa Triều An được làm theo mẫu của Bộ Y tế. Tuy nhiên, việc ghi chép trong sổ còn sơ sài, không đầy đủ, như: Không ghi ngày, tháng hội chẩn; không ghi đầy đủ họ tên bác sỹ tham gia hội chẩn; không đầy đủ chữ ký của bác sỹ tham gia hội chẩn. Tại thời điểm thanh tra, Bệnh viện có trang thông tin điện tử trên mạng Internet là http://www.trieuanhospital.vn để quảng cáo dịch vụ Khám bệnh, chữa bệnh, nhưng chưa có Giấy phép quảng cáo.Tương tự, bệnh viện đa khoa Hồng Đức III cũng được Thanh tra Bộ Y tế đã chỉ ra những tồn tại, hạn chế tại. Việc ghi chép nội dung trong bệnh án còn chưa đầy đủ cột mục, chữ viết xấu, viết ngoáy, viết tắt, nhiều nội dung không đọc được, bác sỹ, điều dưỡng chỉ ký tên mà ko ghi rõ họ tên hoặc sử dụng dấu chữ ký. Việc ghi chép trong sổ ghi Biên bản hội chẩn còn sơ sài, không đầy đủ, như: Không ghi ngày, tháng hội chẩn; không ghi đầy đủ họ tên bác sỹ tham gia hội chẩn; không đầy đủ chữ ký của bác sỹ tham gia hội chẩn. Bệnh viện quảng cáo dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh trên mạng Internet khi chưa có Giấy phép quảng cáo. Tại Bệnh viện đa khoa Mắt Sài Gòn, bên cạnh việc không đảm bảo về cơ sở vật chất trong quá trình hoạt động và biển hiệu thực hiện không đúng theo quy định, thì bệnh án ghi chép chưa đầy đủ các cột mục, như: Tờ điều trị không ghi nhận xét triệu chứng khi người bệnh ra viện, mẫu Phiếu xét nghiệm không đúng theo quy định. Tất cả các bệnh án người bệnh điều trị nội trú không có tờ kết quả chụp phim Xquang tim phổi. Còn có Bệnh án được kiểm tra dùng bút xóa tẩy, xóa nội dung trong bệnh án. [14]
Tại Hà Nội, thanh tra Bộ Y tế đã phát hiện những sai phạm trong việc chấp hành quy định của pháp luật về khám bệnh, chữa bệnh của bệnh viện Đa khoa Bảo Sơn. Bệnh viện Đa khoa Bảo Sơn thuộc công ty TNHH Bệnh viên đa khoa Bảo Sơn, được BYT cấp phép hoạt động từ tháng 12/2017 nhưng vẫn chưa có Giấy chứng nhận thẩm duyệt và Giấy chứng nhận đủ điều kiện về PCCC theo mô hình bệnh viện. Giấy chứng nhận thẩm duyệt PCCC năm 2013, Sở Cảnh sát PCCC TP.Hà Nội cấp cho Phòng khám đa khoa Bảo Sơn chứ không phải mô hình bệnh viện hiện tại. Hồ sơ theo dõi và quản lý về PCCC chưa thay đổi phù hợp với người đứng đầu. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Về hồ sơ quản lý nhân lực, tại thời điểm thanh tra, Bảo Sơn có 157 nhân viên, trong đó có 107 nhân viên làm công tác chuyên môn các vị trí bác sỹ, điều dưỡng, hộ sinh… Tuy nhiên có 17 người không có chứng chỉ hành nghề gồm 6 điều dưỡng, 4 kỹ thuật viên, 2 nữ hộ sinh và 2 dược sỹ. Tại kết quả kiểm tra thực tế 14 hồ sơ nhân lực thuộc Bảo Sơn cho thấy, 1 hồ sơ bác sỹ, 2 hồ sơ kỹ thuật viên được ký hợp đồng trước lúc có chứng chỉ hành nghề. Hồ sơ 1 nữ hộ sinh, 2 kỹ thuật viên chưa có chứng chỉ hành nghề, Bảo Sơn đã ký hợp đồng thực hành nhưng chưa rõ là thực hành, còn hợp đồng lao động các điều khoản được thể hiện vị trí làm việc theo văn bằng chuyên môn, vi phạm Nghị định 109/2016/NĐ-CP. Thanh tra Bộ Y tế còn ghi nhận một số tồn tại khác tại Bệnh viện đa khoa Bảo Sơn về bệnh án chữ viết xấu, tấy xóa, nhiều nội dung không đọc được. Một số bệnh án không thực hiện đánh số theo dõi thuốc hướng dẫn theo quy định, bác sỹ chỉ ký không ghi rõ họ tên. Phiếu ghi kết quả xét nghiệm cận lâm sàng dán trong bệnh án không có chữ ký của khoa xét nghiệm, nội soi hoặc có nhưng sử dụng photocopy là sai quy định. Bệnh cạnh đó, hồ sơ cũng không có chỉ định xét nghiệm cận lâm sàng dán trong bệnh án. [6]
Có trường hợp bệnh viện tư nhân xây dựng khi chưa được cơ quan có thẩm quyền cấp phép như bệnh viện đa khoa An Sinh ở Hà Nội. dự án Bệnh viện đa khoa tư nhân An Sinh của Công ty TNHH Bệnh viện đa khoa tư nhân An Sinh – Phúc Trường Minh là một trong những bệnh viện tư nhân hàng đầu về quy mô xây dựng với 500 giường bệnh. Bệnh viện có tổng mức đầu tư hàng nghìn tỷ đồng xây dựng trên tổng diện tích đất 2,5 ha tại địa bàn phường Phú Đô, quận Nam Từ Liêm, TP Hà Nội. Mặc dù chưa có giấy phép xây dựng nhưng vẫn tổ chức thi công. Ngày 26/9/2019, UBND quận Nam Từ Liêm tiếp tục có văn bản về việc đôn đốc xử lý vi phạm trật tự xây dựng của Công ty TNHH Bệnh viện đa khoa tư nhân An Sinh – Phúc Trường Minh. Trong đó, Quận Nam Từ Liêm yêu cầu Công ty TNHH Bệnh viện đa khoa tư nhân An Sinh – Phúc Trường Minh dừng mọi hoạt động thi công xây dựng công trình, khẩn trương thực hiện khắc phục hậu quả theo Quyết định xử phạt hành chính số 2853/QĐ-XPHC ngày 5/8/2019 của UBND quận Nam Từ Liêm. Đồng thời UBND quận Nam Từ Liêm yêu cầu UBND phường Phú Đô phối hợp với Đội quản lý trật tự xây dựng đô thị áp dụng các biện pháp ngăn chặn, đình chỉ có hiệu lực hoạt động xây dựng công trình tại dự án Bệnh viện đa khoa tư nhận An Sinh. Mặc dù UBND quận Nam Từ Liêm đã yêu cầu dừng mọi hoạt động thi công công trình tại dự án Bệnh viện đa khoa tư nhân An Sinh nhưng chủ đầu tư vẫn tiếp tục cho công nhân thi công. Hiện tại dự án BV cơ bản đã hoàn thiện xong phần móng thô ban đầu. Như vậy, có thể thấy rằng, các cơ quan chức năng của quận Nam Từ Liêm đã phát hiện hành vi xây dựng không phép tại công trình BV tư nhân An Sinh từ cuối tháng 7/2019 nhưng đến nay chưa có biện pháp xử lý quyết liệt, hiệu quả. [9] Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Một số bệnh viện gặp vướng mắc trong công tác Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế như bệnh viện Đa khoa Cửa Đông. Trong công tác khám, chữa bệnh bảo hiểm xã hội (KCB Bảo hiểm y tế) đã có nhiều thay đổi theo Luật Bảo hiểm y tế, các văn bản hướng dẫn của liên bộ, Bộ Y tế, Bảo hiểm xã hội Việt Nam chưa kịp thời, chưa cụ thể, khi cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh có vướng mắc trong thanh toán chi phí Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế về giá một số dịch vụ kỹ thuật. Trong giai đoạn 2016-2018, Bệnh viện ký kết hợp đồng Khám bệnh, chữa bệnh Bảo hiểm y tế với cơ quan Bảo hiểm xã hội, phương thức thanh toán theo giá dịch vụ. Các dịch vụ kỹ thuật được bệnh viện thanh toán cho người bệnh theo đúng giá quy định tại Thông tư số 37 của Bộ Y tế, nhưng cơ quan Bảo hiểm xã hội vẫn chưa thanh toán cho bệnh viện như: phẫu thuật, thủ thuật thực hiện bằng phương pháp vô cảm gây tê tại chỗ, gây tê tủy sống.Việc chưa thanh toán các chi phí nêu trên là không đúng các quy định hiện hành, cho nên gây nhiều khó khăn cho các cơ sở Khám bệnh, chữa bệnh trong việc đảm bảo kinh phí để hoạt động.[11]
Nhiều cơ sở không tổ chức lựa chọn nhà thầu mà mua thuốc theo quy định của Luật Đấu thầu nhưng việc lựa chọn cũng không hợp lý, không thông báo và phối hợp với cơ quan Bảo hiểm xã hội trong quá trình mua sắm. Việc lựa chọn sử dụng thuốc còn chưa phù hợp [23]. Một số bệnh viện tư chưa thu hút được người bệnh. “Ước tính chỉ khoảng 1/3 bệnh viện tư hoạt động có lợi nhuận, 1/3 tiếp tục cầm chừng, 1/3 đang gặp khó khăn. Đa số công suất giường bệnh của bệnh viện tư chỉ đạt dưới 50%. Để có lãi trong việc mở bệnh viện tư, cần thời gian 5-7 năm để có lãi, sớm nhất là 5 năm mới đủ khấu hao”[7]. Nhiều bệnh viện tư nhân đã phải đóng cửa sớm vì lãi không ổn định.Theo Hiệp hội bệnh viện tư nhân nhiều chủ doanh nghiệp đầu tư bệnh viện còn mới mẻ, thiếu kinh nghiệm, công tác điều hành có những cái chưa sát thực tế. Khó khăn chính là thiếu vốn đầu tư, chưa có thương hiệu, ở vị trí không thuận tiện, giá khám chữa bệnh còn cao do phải tự chủ. “Về tài chính, chỉ những bệnh viện từ 100 giường trở lên mới được hỗ trợ lãi suất vay. Trong khi phần lớn bệnh viện tư do các nhà đầu tư nhỏ, lẻ, vốn ít nên số giường bệnh thường dưới 100 giường. Nhà đầu tư bệnh viện tư phải bỏ vốn đầu tư thiết bị y tế khá cao, trong khi phải tính hiệu suất thu hồi vốn và khấu hao nhanh (thường 5 năm). Tất cả chi phí đầu tư này đều tính vào bệnh nhân, đây là yếu tố bất lợi vì không phải ai cũng có khả năng trả chi phí cao”[7]. Đối với các bệnh viện tư, khi đầu tư một thiết bị nào đó, bệnh viện phải tính toán kinh phí, cân nhắc mua loại máy nào phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh của việc khám chữa bệnh ở đơn vị mình, sử dụng hết công suất của máy móc. Tuy nhiên, để tính khấu hao máy móc bắt buộc tính vào chi phí giá của bệnh nhân. Do vậy, giá Khám bệnh, chữa bệnh của bệnh nhân sẽ tăng lên, đây là khó khăn, hạn chế đối với các bệnh viện tư hiện nay. Nếu xảy ra tình trạng nợ lương, nợ Bảo hiểm xã hội sẽ làm mất uy tín của bệnh viện.
Ngoài ra, quy định không được xây bệnh viện trong nội ô TP.HCM khiến các bệnh viện tư phải ra quận ven, ngoại thành, trong khi bệnh nhân đến bệnh viện tư là người có yêu cầu cao, có khả năng chi trả nhưng ngại đi xa. Về khám chữa bệnh cho người nghèo, theo Quyết định số 14/2012/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, chỉ quy định hỗ trợ chi phí đi lại, ăn khi bệnh nhân nghèo điều trị nội trú tại các bệnh viện công. Điều này khiến nhiều người thuộc diện hộ nghèo không muốn đăng ký điều trị nội trú tại bệnh viện tư. Họ chỉ đến xét nghiệm, khám thông thường khi việc điều trị nội trú không được hỗ trợ. Về nhân lực, một số bệnh viện tư phát triển và có đủ nguồn lực để đưa bác sĩ đi học ở nước ngoài, mời đoàn chuyên gia nước ngoài về đào tạo cho bác sĩ tại Việt Nam, nhưng con số này còn nhỏ.[7] Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Nguyên nhân các bệnh viện tư nhân gặp nhiều khó khăn, trong đó đa phần đều bắt nguồn từ cơ chế, chính sách của nhà nước, chưa có hành lang pháp lý cụ thể cho bệnh viện tư nhân. Những cơ chế không rõ ràng này đã vô tình tạo ra những rào cản, hạn chế sự phát triển của bệnh viện tư nhân.
Về mặt đầu tư cơ sở vật chất, hạ tầng: Các bệnh viện tư nhân (đặc biệt là bệnh viện tư nhân ở miền Bắc) không được hỗ trợ về tiền thuê đất hay các khoản thuế, phí khác theo giá ưu đãi. Bệnh viện tư nhân ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh được hưởng nhiều ưu đãi hơn trong vấn đề này. Việc lựa chọn vị trí xây dựng bệnh viện tư nhân cũng rất quan trọng vì liên quan đến thị trường và thói quen của người khám chữa bệnh. Bệnh viện tự lo quỹ đất trong khi quỹ đất trong nội thành lại hạn hẹp. Xây dựng và thành lập bệnh viện tư nhân cần tổng mức đầu tư lớn hơn nữa cơ chế đầu tư, ưu đãi đầu tư cho lĩnh vực y tế ở các tỉnh, thành phố là khác nhau nên đầu tư bệnh viện tư nhân tập trung chủ yếu ở các đô thị lớn.
Về chính sách bảo hiểm: Nhà nước chưa tạo điều kiện hỗ trợ cho các đối tượng Bảo hiểm xã hội được chi trả khi đến khám, chữa bệnh và điều trị tại hệ thống bệnh viện tư nhân. Điều này dẫn đến rất nhiều bệnh nhân có Bảo hiểm xã hội muốn được điều trị tại bệnh viện tư nhân nhưng vì không được hoặc được thanh toán một phần bảo hiểm rất nhỏ khiến chi phí điều trị lên quá cao gây bất lợi cho chính bệnh nhân. Bệnh viện mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác hỗ trợ, tuy nhiên họ vẫn phải cân đối bài toán thu chi cho hợp lý.
Về vấn đề nhân sự: Nhiều bệnh viện tư thiếu nguồn nhân lực. Ngành Y là ngành đặc thù liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người nên thời gian đào tạo nhân lực dài. Bên cạnh đó, mặc dù có chế độ đãi ngộ rất tốt, mức lương các bệnh viện tư chi trả gấp nhiều lần số tiền lương được hưởng từ các bệnh viện công nhưng các bác sĩ trẻ mới ra trường, những người có trình độ chuyên môn khác không “mặn mà” với y tế tư nhân. Nhiều người coi bệnh viện tư nhân là một nơi công tác tạm thời, không ổn định và gắn bó.
Bệnh viện tư nhân rất cần sự phối hợp chuyên môn của các bác sĩ có tay nghề, bác sĩ giỏi có chuyên môn sâu hiện đang làm việc tại bệnh viện công để thực hiện những ca mổ khó, những phạm vi chuyên môn bệnh viện tư chưa đảm nhiệm được. Tuy nhiên cơ chế phối hợp này đang gặp nhiều khó khăn, vướng mắc đặc biệt trong thủ tục hành chính.
Bên cạnh cơ chế chính sách, hành lang pháp lý hiện nay còn nhiều rào cản, chưa thực sự rõ ràng, thông thoáng cho hệ thống bệnh viện tư nhân phát triển thì vấn đề khó khăn nữa mà các bệnh viện tư nhân đang gặp phải chính là tâm lý của bệnh nhân. Bệnh nhân chưa thực sự đặt niềm tin vào hệ thống y tế tư nhân, bên cạnh việc có một số bệnh viện vì bài toán kinh tế, có sự cạnh tranh không lành mạnh nên đã đánh mất niềm tin từ phía bệnh nhân thì vấn đề truyền thông cũng đang tác động tiêu cực đến hệ thống bệnh viện tư nhân.
2.3. Những vấn đề pháp lý đặt ra đối với pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
- Cơ sở pháp lý cho tổ chức, hoạt động của bệnh viện tư nhân hiện nay còn có một số vấn đề như sau:
Hiện chưa có quy định cụ thể về loại hình doanh nghiệp thành lập bệnh viện tư nhân. Các quy định về chủ đầu tư tuy đã tạo điều kiện mở cho việc thành lập bệnh viện nhưng việc quy định chưa chi tiết có thể gây lúng túng cho chủ đầu tư trong lựa chọn loại hình doanh nghiệp phù hợp. Xác định được loại hình doanh nghiệp phù hợp sẽ xác định được phương hướng tổ chức hoạt động đảm bảo hiệu quả và duy trì hoạt động lâu dài.
Thủ tục thành lập bệnh viện tư nhân phải thực hiện nhiều bước như xin quy hoạch, xin cấp giấy phép hoạt động, xin giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với nhà đầu tư nước ngoài, xin giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tuy đảm bảo cho việc thành lập bệnh viện diễn ra đúng quy trình nhưng chưa phù hợp với đề án đơn giản hóa thủ tục hành chính. Do vậy cũng cần có những chỉnh sửa phù hợp trong thủ tục, hướng tới sự đơn giản, thuận tiện để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Bên cạnh đó thể thấy việc đầu tư, góp vốn, chuyển nhượng vốn, sáp nhập, mua bán doanh nghiệp đối với bệnh viện tư đang được quy định như thông thường, không có gì khác biệt. Việc thực hiện quy định ấy nghĩa là viện tư đang được coi là những chủ thể kinh doanh thông thường, xếp hàng cùng với các doanh nghiệp khác trong một môi trường chung. Tuy nhiên vì mang những đặc điểm riêng biệt nên những quy định này chưa thực sự phù hợp đối với viện tư, tạo ra nhiều khó khăn đối với hoạt động của viện tư như thiếu vốn đầu tư, chưa thu hút được sự quan tâm của các nhà đầu tư.
Các quy định về hoạt động M&A đang được quy định tại nhiều luật và văn bản quy phạm pháp luật khác nhau như Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư hơn nữa mới chỉ quy định chung chung, chưa có hệ thống chi tiết nên chưa hỗ trợ thuận lợi cho cả quỹ đầu tư cũng như bên nhận vốn. Điều này vừa làm cho các chủ thể tham gia hoạt động M&A gặp khó khăn trong việc thực hiện, vừa làm cho các cơ quan quản lý nhà nước khó kiểm soát các hoạt động M&A. Hiện chưa có khái niệm mua bán doanh nghiệp, khái niệm M&A, trường hợp mua bán cổ phần thì tham gia quản trị điều hành như thế nào… không có quy định mà hoàn toàn qua thỏa thuận, tự nguyện. Chưa có các quy định chi tiết về thủ tục, nguyên tắc, phương pháp định giá. Các doanh nghiệp định giá quá cao khi bán ảnh hưởng lớn đến sự thành công của các thương vụ M&A do hai bên khó thống nhất được giá. Trong mua bán doanh nghiệp, có thể mua đến 90% cổ phần nhưng luật lại quy định cổ đông sở hữu cổ phần trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng thì mới có các quyền đề cử người vào hội đồng quản trị, ban kiểm soát, yêu cầu triệu tập đại hội đồng cổ đông [17]. Quy định như vậy có ý nghĩa giúp doanh nghiệp phát triển ổn định, tránh bị xáo trộn trong hợp tác song ít nhiều đã hạn chế quyền của cổ đông trong quản trị. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Trong hoạt động chuyên môn của bệnh viện tư nhân, các quy định pháp luật còn chưa thống nhất. Bộ Y tế và Bảo hiểm xã hội Việt Nam chưa thống nhất được quy định về thanh toán chi phí dịch vụ phẫu thuật, thủ thuật sử dụng phương pháp gây tê, gây mê. Hơn nữa việc ban hành liên tục các văn bản pháp luật như Thông tư 39/2018/TT-BYT Quy định thống nhất giá dịch vụ khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế giữa các bệnh viện cùng hạng trên toàn quốc và hướng dẫn áp dụng, thanh toán chi phí khám bệnh, chữa bệnh bảo hiểm y tế trong một số trường hợp ban hành ngày 30/11/2018 thay thế cho Thông tư 15/2018/TT-BYT ban hành ngày 30/05/2018, Thông tư 13/2019/TT-BYT sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 39/2018/TT-BYT ban hành ngày 05/07/2019 mặc dù thể hiện sự điều chỉnh, cập nhật kịp thời của pháp luật theo thực tiễn nhưng có thể khiến các bệnh viện tư nhân khó tiếp cận, nắm bắt và thực hiện các quy định pháp luật.
Pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân còn chưa cụ thể, tản mạn. Bệnh viện tư nhân là chủ thể kinh doanh đặc biệt nhưng chịu sự điều chỉnh của Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật Xây dựng như các chủ thể kinh doanh thông thường. Các quy định vễ hỗ trợ, cạnh tranh đối với bệnh viện tư nhân còn ít, chưa theo kịp với tình hình thực tại. Do vậy cần có các giải pháp hoàn thiện hệ thống pháp luật để bệnh viện tư nhân phát huy được năng lực, làm tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng của mình.
- Nguyên nhân dẫn tới những vấn đề đặt ra đối với pháp luật về tổ chức và hoạt động của bệnh viện tư nhân là do:
Một là: Do bệnh viện tư nhân ra đời muộn nên pháp luật về bệnh viện tư nhân hình thành muộn, chưa đầy đủ, chưa có đủ thời gian tổng kết thực tiễn thi hành pháp luật.
Hai là: Nhận thức của cơ quan nhà nước, của người dân, của doanh nghiệp về vị trí, vai trò của bệnh viện tư nhân chưa đầy đủ, toàn diện, chưa có cái nhìn khách quan đối với bệnh viện tư nhân, còn coi bệnh viện tư nhân chỉ là một đơn vị làm kinh tế, do đó chưa có sự quan tâm sâu sắc về bệnh viện tư nhân và pháp luật bệnh viện tư nhân.
Ba là: Bệnh viện tư nhân chịu sự điều chỉnh của nhiều luật, các văn bản dưới luật do đó không có sự thống nhất, đồng bộ giữa các quy định pháp luật. Hơn nữa các quy định chỉ coi bệnh viện tư nhân như một chủ thể kinh doanh thông thường nên gây khó khăn cho việc thực hiện pháp luật của bệnh viện tư.
TIỂU KẾT CHƯƠNG II
Từ các quy định đã phân tích ở trên, có thể thấy pháp luật đã có những quy định cụ thể về điều kiện thành lập, tổ chức bệnh viện tư nhân. Tuy nhiên, nhìn chung pháp luật về bệnh viện tư nhân còn chưa có sự đồng bộ, các quy định còn rải rác, tản mạn ở các luật như Luật doanh nghiệp, Luật đầu tư, Luật khám bệnh, chữa bệnh, Luật Bảo hiểm y tế. Do vậy việc thực hiện các quy định pháp luật của bệnh viện tư cũng ít nhiều gặp khó khăn, vướng mắc. Từ thực tiễn thi hành pháp luật có còn sai phạm, các bệnh viện tư nhân còn lúng túng trong quá trình hoạt động vậy nên cần có sự điều chỉnh, bổ sung các quy định pháp luật đối với bệnh viện tư. Cũng dễ dàng nhận thấy Nhà nước cần có sự quan tâm hơn bằng các chính sách ưu đãi, hỗ trợ đối với chủ thể kinh doanh đặc biệt này. Luận văn: Thực trạng Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân.
Dù còn gặp khó khăn trong hoạt động nhưng bệnh viện tư nhân đã phát triển nhanh chóng cả về số lượng, chất lượng, hỗ trợ, nỗ lực giảm quá tải cho bệnh viện công, cùng bệnh viện công thực hiện tốt nhiệm vụ chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật hoạt động của bệnh viện tư nhân ở Việt Nam