Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nội dung quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 Lịch sử hình thành và phát triển của pháp luật Việt Nam về chế định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
2.1.1 Giai đoạn thứ nhất.
Ngày 21/12/1990, Luật Công ty ra đời, hình thức công ty cổ phần mới chính thức được quy định cụ thể. Theo Điều 30 Luật Công ty 1990, công ty cổ phần có đặc điểm sau:
- Số thành viên cổ đông công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là 7.
- Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần.
- Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiếu.
- Cổ phiếu được phát hành có thể ghi tên hoặc không ghi tên. Cổ phiếu của sáng lập viên, của thành viên Hội đồng quản trị phải là những cổ phiếu có ghi tên.
- Cổ phiếu không ghi tên được tự do chuyển nhượng. Cổ phiếu ghi tên chỉ được chuyển nhượng nếu được sự đồng ý của Hội đồng quản trị, trừ trường hợp quy định tại Điều 39 của Luật này.
Sau khi Luật Công ty ra đời, nhiều văn bản pháp luật khác nhau đã được Ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các doanh nghiệp hoạt động trong các lĩnh vực khác nhau nhưng được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần. Hoạt động của các doanh nghiệp này một mặt phải tuân thủ các quy định của Luật Công ty, mặt khác, do đặc thù riêng của các ngành nghề kinh doanh, hoạt động của các doanh nghiệp này còn phải tuân thủ theo quy định của các luật chuyên ngành. Chẳng hạn như trong Luật các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ ngày 01/10/1998 tại Điều 12 quy định về các loại hình tổ chức tín dụng có hình thức tổ chức tín dụng cổ phần của Nhà nước và nhân dân, hay nói cách khác các Ngân hàng thương mại cổ phần chính là các công ty cổ phần hoạt động trong lĩnh vực tài chính – tiền tệ.
Cơ cấu công ty cổ phần theo Luật công ty năm 1990 bao gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc điều hành. Khái niệm Ban kiểm soát lần đầu tiên được ra đời và ghi nhận trong Luật. Quy định về Ban kiểm soát của công ty cổ phần được quy định trong Luật Công ty 1990 cụ thể ở các Điều 41, 42, 43:
- “Điều 41.
Công ty có hai kiểm soát viên do Đại hội đồng bầu ra, trong đó ít nhất một kiểm soát viên phải có chuyên môn về kế toán. Kiểm soát viên có nhiệm vụ và quyền hạn sau đây: Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
- Kiểm tra sổ sách kế toán, tài sản, các bảng tổng kết năm chính của công ty và triệu tập Đại hội đồng, khi xét thấy cần thiết;
- Trình Đại hội đồng báo cáo thẩm tra các bảng tổng kết năm tài chính của công ty;
- Báo cáo về những sự kiện tài chính bất thường xảy ra; về những ưu, khuyết điểm trong quản lý tài chính của Hội đồng quản trị.”
“Điều 42.
Kiểm soát viên được hưởng thù lao do Đại hội đồng quyết định và chịu trách nhiệm trước Đại hội đồng về những sai phạm của mình trong quá trình thực hiện nhiệm vụ gây thiệt cho công ty.”
- “Điều 43.
Kiểm soát viên không thể đồng thời là thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty; không thể là vợ, chồng của các thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty.”
Theo Luật Công ty năm 1990, Ban kiểm soát gồm hai thành viên do đại hội đồng cổ đông bầu ra, trong đó có ít nhất một kiểm soát viên phải có chuyên môn về kế toán. Ban kiểm soát thực hiện các công việc kiểm toán nội bộ công ty, họ nhận các báo cáo do Giám đốc công ty chuẩn bị, kiểm tra sổ sách kế toán, trình Đại hội đồng cổ đông khi có bất thường. Thành viên Ban kiểm soát được bổ nhiệm, bãi miễn bởi Đại hội đồng cổ đông theo Khoản 3 Điều 37 Luật Công ty năm 1990. Qua đó có thể thấy những quy định về Ban kiểm soát thời kì này còn khá sơ sài, đã bộc lộ nhiều bất cập và lạc hậu so với cách thức tổ chức theo cơ chế thị trường và thông lệ quốc tế. Ban kiểm soát chưa có được vai trò chủ động mà chỉ hoạt động một cách bị động.
2.1.2 Giai đoạn thứ hai. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Ngày 12/6/1999, Quốc hội đã thông qua Luật Doanh nghiệp số 13/1999/QH10 (Luật Doanh nghiệp 1999) để thay thế cho Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân. Có thể nói, Luật Doanh nghiệp 1999 là bước tiến lớn trong công cuộc cải cách của đất nước. Luật Doanh nghiệp 1999 đã dành 45 điều để quy định chi tiết hơn về công ty cổ phần và hoạt động của công ty cổ phần. Đặc biệt, Luật đã quy định cụ thể hơn về quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát. Ngoài ra, Luật Doanh nghiệp 1999 cũng đã phân định rõ trách nhiệm của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban Kiểm soát.
Theo Luật Doanh nghiệp năm 1999, Ban kiểm soát là chế định bắt buộc trong công ty cổ phần có trên 11 cổ đông. Số lượng thành viên Ban kiểm soát từ ba đến năm người, trong đó ít nhất một người phải có chuyên môn kế toán. Thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc (Tổng giám đốc); người có liên quan của thành viên Hội đồng quản trị, của Giám đốc (Tổng giám đốc), kế toán trưởng của công ty đó không được làm thành viên Ban kiểm soát. Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc đang phải chấp hành hình phạt tù hoặc bị Tòa án tước quyền hành nghề vì phạm các tội buôn lậu, làm hàng giả, buôn bán hàng giả, kinh doanh trái phép, trốn thuế, lừa dối khách hàng và các tội khác theo quy định của pháp luật cũng không được làm thành viên Ban kiểm soát. Trưởng Ban kiểm soát được các thành viên Ban kiểm soát bầu lên, người này phải là cổ đông của công ty. Quyền và nghĩa vụ của Trưởng Ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định.
Quyền và nhiệm vụ của Ban kiểm soát được quy định cụ thể tại Khoản 2 Điều 88 Luật Doanh nghiệp năm 1999, cụ thể như sau:
Ban kiểm soát có các quyền và nhiệm vụ sau đây:
- Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong ghi chép sổ kế toán và báo cáo tài chính;
- Thẩm định báo cáo tài chính hàng năm của công ty; kiểm tra từng vấn đề cụ thể liên quan đến quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết hoặc theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông, theo yêu cầu của cổ đông, nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 53 của Luật này;
- Thường xuyên thông báo với Hội đồng quản trị về kết quả hoạt động; tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình các báo cáo, kết luận và kiến nghị lên Đại hội đồng cổ đông;
- Báo cáo Đại hội đồng cổ đông về tính chính xác, trung thực, hợp pháp của việc ghi chép, lưu giữ chứng từ và lập sổ kế toán, báo cáo tài chính, các báo cáo khác của công ty; tính trung thực, hợp pháp trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty; Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
- Kiến nghị biện pháp bổ sung, sửa đổi, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty;
- Các quyền và nhiệm vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công
Việc kiểm tra quy định tại các điểm a và b khoản này không được cản trở hoạt động bình thường của Hội đồng quản trị, không gây gián đoạn trong điều hành hoạt động kinh doanh hàng ngày của công ty.”
Nhiệm kỳ Ban kiểm soát, chế độ làm việc và thù lao cho thành viên Ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định hoặc do Đại hội đồng cổ đông quyết định. Ban kiểm soát sẽ phải chịu trách nhiệm về những sai phạm gây thiệt hại cho công ty trong khi thực hiện nhiệm vụ trước Đại hội đồng cổ đông.
So với Luật công ty năm 1990, Luật Doanh nghiệp 1999 đã có những quy định cụ thể, rõ ràng hơn về quyền hạn và trách nhiệm của Ban kiểm soát. Ban kiểm soát lúc này đã chủ động hơn trong việc thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của mình. Bên cạnh chức năng kiểm toán nội bộ, Ban kiểm soát đã tham gia kiến nghị cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.
2.1.3 Giai đoạn thứ ba.
Luật Doanh nghiệp năm 1999 được triển khai thực hiện, góp phần phát huy được nội lực trong việc xây dựng và phát triển nền kinh tế xã hội của đất nước. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 1999 vẫn còn những khiếm khuyết, tồn tại, thiếu tính nhất quán. Trước sự thay đổi phát triển của đất nước, Luật Doanh nghiệp năm 2005 được Quốc hội khóa XI thông qua ngày 29 tháng 11 năm 2005.
Chế định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 được quy định từ Điều 121 đến Điều 127. Theo đó, Công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát (Điều 95); Ban kiểm soát phải có từ ba đến năm thành viên trừ trường hợp điều lệ công ty có quy định khác; Nhiệm kỳ Ban kiểm soát không quá năm năm, thành viên Ban kiểm soát có thể được bầy lại với nhiệm kỳ không hạn chế. Công việc chủ yếu của Ban kiểm soát mang tính nghề nghiệp do đó họ phải có chuyên môn về quản lý tài chính, bởi vậy Luật quy định Ban kiểm soát phải có ít nhất một thành viên là kế toán viên hoặc kiểm toán viên.
Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã nâng cao, tăng cường và quy định cụ thể hơn vai trò, vị trí và trách nhiệm của Ban kiểm soát so với Luật Doanh nghiệp năm 1999. Các chế định Ban kiểm soát theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 cơ bản được hoàn thiện, phù hợp với nhu cầu thực tiễn khách quan của nền kinh tế.
2.1.4 Giai đoạn hiện nay. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Ngày 26/11/2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 chính thức được Quốc hội Ban hành với mục tiêu cao nhất là đưa doanh nghiệp trở thành một công cụ kinh doanh rẻ hơn, an toàn hơn và hấp dẫn hơn cho các nhà đầu tư để qua đó tăng cường thu hút và huy động hơn nữa mọi nguồn lực và vốn đầu tư vào sản xuất, kinh doanh. Trên cơ sở kế thừa và phát huy những kết quả đã đạt được của Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp 2005, đồng thời khắc phục những điểm hạn chế, bất cập của quy định hiện hành và thể chế hóa các vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn, Luật Doanh nghiệp 2014 đã có những quy định mới nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh thuận lợi hơn nữa cho doanh nghiệp.
Chế định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần được quy định từ Điều 163 đến Điều 169 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Chế định Ban kiểm soát theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 so với Luật Doanh nghiệp năm 2005 có nhiều điểm tiến bộ hơn, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp nói chung và loại hình công ty cổ phần nói riêng. Chế định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần được Luật Doanh nghiệp 2014 điều chỉnh với nhiều quy định mới, trong đó, đáng chú ý là những quy định về sự tồn tại và sức ảnh hưởng của Ban kiểm soát trong cơ cấu tổ chức, quản lý của công ty cổ phần. Những điểm mới của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về chế định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần bao gồm:
Về quy định thành lập Ban kiểm soát, so với Luật Doanh nghiệp năm 2005, bắt buộc công ty cổ phần có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty phải có Ban kiểm soát. Luật Doanh nghiệp năm 2014 cho phép công ty cổ phần được tự do lựa chọn theo hai mô hình: Ở mô hình thứ nhất, gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc Ban kiểm soát. Còn ở mô hình thứ hai, gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty.
Pháp luật quy định cho phép tự do lựa chọn mô hình quản trị đối với công ty cổ phần vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa phù hợp với thực tế đa dạng của doanh nghiệp về quy mô, tính chất sở hữu và sự đa dạng của cách thức quản trị công ty như hiện nay ở Việt Nam. Mặt khác, quy định mới này cũng phù hợp với thực tế hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần hiện nay. Mặc dù về lý thuyết, việc tồn tại Ban kiểm soát có vẻ mang đến nhiều lợi ích cho công ty, nhưng khi hoạt động, Ban kiểm soát khó có thể thực hiện được hết chức năng, nhiệm vụ của mình. Hội đồng quản trị, tổng giám đốc hoặc giám đốc thường tìm cách và đủ điều kiện để hạn chế vai trò của Ban kiểm soát. Đó là chưa kể, có thể một phần do tâm lý “người nhà” nên rất khó để cho các thành viên Ban kiểm soát hoạt động một cách công tâm. Do vậy, giao quyền tự quyết có thành lập Ban kiểm soát hay không là hoàn toàn hợp lý theo nguyện vọng, mong muốn và nhu cầu của công ty cổ phần.
Về quyền của Ban kiểm soát, so với Luật Doanh nghiệp 2005, Luật Doanh nghiệp 2014 đã quy định bổ sung quyền của Ban kiểm soát như sau: Ban kiểm soát có quyền tham gia các cuộc họp của Hội đồng thành viên, các cuộc tham vấn và trao đổi chính thức và không chính thức của cơ quan đại diện chủ sở hữu với Hội đồng thành viên; có quyền chất vấn Hội đồng thành viên, thành viên Hội đồng thành viên và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty về các kế hoạch, dự án hay chương trình đầu tư phát triển và các quyết định khác trong quản lý điều hành công ty.
Về việc bầu thành Ban kiểm soát, Luật Doanh nghiệp năm 2014 không còn quy định việc bầu thành viên Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu, mà có thể chọn phương thức bầu bình thường.
Về điều kiện đối với Trưởng Ban kiểm soát, Điều 163 về “Ban kiểm soát”, Luật Doanh nghiệp quy định: “Trưởng Ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn.”
2.2 Thành lập, tổ chức Ban kiểm soát trong công ty cổ phần. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Theo quy định Luật Doanh nghiệp năm 2014 tại khoản 1 Điều 134, công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau:
- Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;
- Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty.
Việc thành lập Ban kiểm soát trong công ty cổ phần dựa trên tiêu chí số lượng về cổ đông hoặc số lượng cổ phần của công ty mà tổ chức sở hữu. Quy định này là điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 cho phép công ty cổ phần có quyền lựa chọn mô hình tổ chức quản lý của mình. Đối chiếu với Luật Doanh nghiệp năm 2005 thì cơ cấu tổ chức của công ty cổ phần bắt buộc phải có Ban kiểm soát khi có trên mười một cổ đông là cá nhân hoặc cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty. Quy định theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 đồng nghĩa với việc nếu số lượng cổ đông là cá nhân từ mười một người trở xuống và không có tổ chức sở hữu trên 50% số cổ phần thì không bắt buộc phải thành lập Ban kiểm soát, việc thành lập Ban kiểm soát trong trường hợp này là do Đại hội đồng cổ đông quyết định căn cứ vào nhu cầu và thực tế hoạt động của công ty.
Luật Doanh nghiệp 2014 cho chép công ty cổ phần lựa chọn việc có Ban kiểm soát hay không trong cơ cấu tổ chức, quản lý công ty của mình. Theo đó, trừ trường hợp có quy định khác từ pháp luật chứng khoán, công ty cổ phần có quyền không thành lập Ban kiểm soát trong trường hợp: nếu lựa chọn mô hình tổ chức công ty bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc (trong trường hợp này công ty phải đảm bảo ít nhất 20% số thành viên hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có ban kiểm toán nội bộ trực thuộc hội đồng quản trị để thực hiện chức năng kiểm soát hoạt động của công ty). Hoặc công ty cổ phần có dưới mười một cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty.
Quy định cho phép tự do lựa chọn mô hình quản trị đối với công ty cổ phần vừa phù hợp với thông lệ quốc tế, vừa phù hợp với thực tế đa dạng của doanh nghiệp về quy mô, tính chất sở hữu và sự đa dạng của cách thức quản trị công ty như hiện nay ở Việt Nam. Mặt khác, quy định mới này cũng phù hợp với thực tế hoạt động của ban kiểm soát trong công ty cổ phần hiện nay. Mặc dù về lý thuyết, việc tồn tại ban kiểm soát có vẻ mang đến nhiều lợi ích cho công ty, nhưng khi hoạt động, Ban kiểm soát khó có thể thực hiện được hết chức năng, nhiệm vụ của mình. Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc hoặc Giám đốc thường tìm cách và đủ điều kiện để hạn chế vai trò của Ban kiểm soát. Đó là chưa kể, có thể một phần do tâm lý “người nhà” nên rất khó để cho các thành viên ban kiểm soát hoạt động một cách công tâm. Do vậy, giao quyền tự quyết có thành lập ban kiểm soát hay không là hoàn toàn hợp lý theo nguyện vọng, mong muốn và nhu cầu của công ty cổ phần.
Quy định về việc thành lập Ban kiểm soát theo Luật Doanh nghiệp 2005 và Luật Doanh nghiệp 2014 còn chưa rõ ràng, cụ thể gây ra nhiều cách hiểu khác nhau như: Nếu số lượng cổ đông là tổ chức và số lượng cổ đông là cá nhân trên mười một nhưng không có tổ chức nào nắm giữ 50% cổ phần công ty; hoặc số lượng cổ đông là cá nhân dưới mười một người nhưng có cổ đông chiếm tỷ lệ cổ phần trên 50% tức là có khả năng chi phối và điều hành hoạt động của công ty; hoặc khi thành lập, công ty cổ phần không rơi vào những trường hợp luật định phải thành lập Ban kiểm soát nhưng nếu trong quá trình hoạt động mà công ty hội đủ các điều kiện phải thành lập Ban kiểm soát thì trình tự thủ tục và thời gian tiến hành như thế nào. Từ những trường hợp kể trên ta thấy được quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về việc thành lập Ban kiểm soát chưa quy định cụ thể, chi tiết vì vậy trong hoạt động thực tiễn khó tránh khỏi việc cổ đông có ảnh hưởng (Sở hữu số cổ phần cao trong công ty) lợi dụng kẽ hở của Luật để thao túng gây thiệt hại cho những cổ đông khác, ngoài ra quy định về việc thành lập Ban kiểm soát còn làm cho các nhà đầu tư phải suy nghĩ rằng có sự phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư là tổ chức và nhà đầu tư là cá nhân vì Luật quy định thành lập Ban kiểm soát khi tổ chức nắm giữ trên 50% cổ phần còn cá nhân thì không bắt buộc, trong khi đó cá nhân có thể dễ dàng thao túng gây ảnh hưởng đến công ty nói chung và các cổ đông khác nói riêng bởi cá nhân thể hiện ý chí chủ quan của một người nên quyết định của cá nhân thiếu tính khách quan còn tổ chức khi đưa ra một quyết định cần có sự bàn bạc, thống nhất ý kiến của Ban lãnh đạo. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Về cơ cấu tổ chức của Ban kiểm soát của công ty cổ phần được quy định tại khoản 1 Điều 163 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Theo đó Ban kiểm soát có từ 03 đến 05 thành viên nhiệm kỳ của Kiểm soát viên không quá 05 năm và Kiểm soát viên có thể được bầu lại với số nhiệm kỳ không hạn chế. Quy định này đã khắc phục được quy định về cơ cấu Ban kiểm soát ở Luật Doanh nghiệp năm 2005. Luật Doanh nghiệp năm 2005 tại khoản 1 Điều 121 quy định nếu Điều lệ công ty không có quy định khác thì Ban kiểm soát có từ 03 đến 05 thành viên, tuy nhiên nếu điều lệ công ty có quy định khác về số lượng thành viên Ban kiểm soát thì có được hay không. Quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã khắc phục được vấn đề đó. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì thành viên Ban kiểm soát tối thiểu là 03 người và tối đa là 05 năm người, quy định rõ ràng về số lượng thành viên Ban kiểm soát. Nhiệm kỳ của Ban kiểm soát là 05 năm và không hạn chế nhiệm kỳ làm thành viên Ban kiểm soát, thời gian tại vị của thành viên Ban kiểm soát phụ thuộc vào hiệu quả công việc và uy tín của họ đối với cổ đông.
Ban kiểm soát sẽ có một trưởng Ban kiểm soát. Các thành viên Ban kiểm soát sẽ bầu một người trong số họ làm Trưởng Ban kiểm soát trên nguyên tắc đa số. Trưởng Ban kiểm soát phải có chuyên môn kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn.
2.3 Nhiệm vụ, quyền hạn Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Điều 165 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định rõ quyền và nghĩa vụ của Ban kiểm soát, gồm:
- Ban kiểm soát thực hiện giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty.
- Kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh; tính hệ thống, nhất quán và phù hợp của công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính.
- Thẩm định tính đầy đủ, hợp pháp và trung thực của báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hằng năm và 06 tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị và trình báo cáo thẩm định tại cuộc họp thường niên Đại hội đồng cổ đông.
- Rà soát, kiểm tra và đánh giá hiệu lực và hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi ro và cảnh báo sớm của công ty.
- Xem xét sổ kế toán, ghi chép kế toán và các tài liệu khác của công ty, các công việc quản lý, điều hành hoạt động của công ty khi xét thấy cần thiết hoặc theo nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông hoặc theo yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Khi có yêu cầu của cổ đông hoặc nhóm cổ đông quy định tại khoản 2 Điều 114 của Luật này, Ban kiểm soát thực hiện kiểm tra trong thời hạn 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu. Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày kết thúc kiểm tra, Ban kiểm soát phải báo cáo giải trình về những vấn đề được yêu cầu kiểm tra đến Hội đồng quản trị và cổ đông hoặc nhóm cổ đông có yêu cầu.
Việc kiểm tra của Ban kiểm soát quy định tại khoản này không được cản trở hoạt động bình thường của Hội đồng quản trị, không gây gián đoạn điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.
- Kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, giám sát và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.
- Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc vi phạm quy định tại Điều 160 của Luật này thì phải thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.
- Có quyền tham dự và tham gia thảo luận tại các cuộc họp Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và các cuộc họp khác của công ty.
- Có quyền sử dụng tư vấn độc lập, bộ phận kiểm toán nội bộ của công ty để thực hiện các nhiệm vụ được giao.
- Ban kiểm soát có thể tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị trước khi trình báo cáo, kết luận và kiến nghị lên Đại hội đồng cổ đông.
- Thực hiện các quyền và nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này, Điều lệ công ty và nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Từ quy định cụ thể của Luật, ta có thể phân chia nhiệm vụ và quyền hạn của Ban kiểm soát thành các nhóm như sau:
Quyền kiểm tra, giám sát: Ban kiểm soát có trách nhiệm thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hằng năm và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị. Báo cáo của Ban kiểm soát là tài liệu để so sánh các báo cáo tài chính của công ty từ đó giúp nhà đầu tư và các cơ quan quản lý Nhà nước có cái nhìn tổng thể về hoạt động kinh doanh của công ty. Tuy nhiên, các báo cáo thẩm tra của Ban kiểm soát thường là sự sao chép ít có thông tin phản biện hay lập luận chỉ ra những mâu thuẫn trong báo cáo tài chính. Do đó, báo cáo của Ban kiểm soát thường chỉ có giá trị lưu hành nội bộ chứ không có nhiều giá trị.
Việc quy định Ban kiểm soát có quyền kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính. Tuy nhiên trên thực tế người điều hành công ty có nhiều lý do biện minh cho rằng khi thực hiện quyết định họ đã đảm bảo cho quyết định của mình là hợp lý, hợp pháp, không vụ lợi và có mức độ cẩn trọng cần thiết.
Quyền được cung cấp đầy đủ, kịp thời các văn bẳn thuộc về chủ trương, chính sách, các văn bản của Công ty và tiếp cận tài liệu có liên quan đến hoạt động Công ty theo yêu cầu. Quyền được cung cấp thông tin của Ban kiểm soát được quy định tại Điều 166 Luật Doanh nghiệp năm 2014, cụ thể như sau:
Thông báo mời họp, phiếu lấy ý kiến thành viên Hội đồng quản trị và các tài liệu kèm theo phải được gửi đến các Kiểm soát viên cùng thời điểm và theo phương thức như đối với thành viên Hội đồng quản trị.
Các nghị quyết và biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị phải được gửi đến cho các Kiểm soát viên cùng thời điểm và theo phương thức như đối với cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị.
Báo cáo của Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trình Hội đồng quản trị hoặc tài liệu khác do công ty phát hành được gửi đến các Kiểm soát viên cùng thời điểm và theo phương thức như đối với thành viên Hội đồng quản trị.
Kiểm soát viên có quyền tiếp cận các hồ sơ, tài liệu của công ty lưu giữ tại trụ sở chính, chi nhánh và địa điểm khác; có quyền đến các địa điểm làm việc của người quản lý và nhân viên của công ty trong giờ làm việc.
Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc, người quản lý khác phải cung cấp đầy đủ, chính xác và kịp thời thông tin, tài liệu về công tác quản lý, điều hành và hoạt động kinh doanh của công ty theo yêu cầu của thành viên Ban kiểm soát hoặc Ban kiểm soát. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Luật Doanh nghiệp năm 2014 so với Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã khắc phục được những hạn chế về việc thực hiện quyền cung cấp thông tin của Ban kiểm soát. Cụ thể, trong Luật Doanh nghiệp năm 2005 tại khoản 1, 2 Điều 124 chưa quy định về các tài liệu khác được gửi đến nào? Ban kiểm soát phải yêu cầu hay không? Thời gian và phương thức gửi? Chế tài đối với việc không gửi, không cung cấp hoặc cung cấp không đầy đủ, không đúng thời gian, không chính xác cản trở việc tiếp nhận thông tin thì xử lý như thế nào? Quyền cung cấp các thông tin của Ban kiểm soát trong Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã khắc phục được những vấn đề kể trên, thể hiện cụ thể hơn góp phần thuận lợi cho Ban kiểm soát thực hiện chức năng và nhiệm vụ của mình. Đây là điểm mới quan trọng và cần thiết bởi các nghị quyết và biên bản họp của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị sẽ giúp Ban kiểm soát nắm rõ được chủ trương, đường lối hoạt động của công ty cho nên việc quy định phương thức và thời điểm gửi các văn bản trên phải được thực hiện như đối với cổ đông, thành viên Hội đồng quản trị. Pháp luật quy định điều này gió phần tăng cường hơn nữa địa vị pháp lý của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần, đồng thời tiếp tục nâng cao hoạt động kiểm tra, giám sát của Ban kiểm soát trong công ty.
Quyền được sử dụng tư vấn độc lập để thực hiện các nhiệm vụ được giao, tham khảo ý kiến các uỷ viên Hội đồng quản trị về hoạt động của Ban kiểm soát cũng như nội dung báo cáo của Ban kiểm soát trước khi trình lên Đại hội đồng cổ đông. So với Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật hiện hành có điểm mới đó là quy định thêm việc Ban kiểm soát được quyền sử dụng bộ phận kiểm toán nội bộ của công ty để thực hiện các nhiệm vụ được Quy định mới này nhằm tiết kiệm chi phí cho công ty, tận dụng được những nguồn lực sẵn có của công ty. Quyền được sử dụng tư vấn độc lập giúp cho Ban kiểm soát khắc phục được điểm yếu của mình khi không phải thành viên Ban kiểm soát nào cũng có đủ kỹ năng và chuyên môn thẩm định các báo cáo. Quyền được sử dụng tư vấn độc lập đảm bảo cho Ban kiểm soát thực hiện tốt các nhiệm vụ của mình.
Quyền được tham dự họp Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và các cuộc họp khác của công Thông qua việc tham dự cuộc họp sẽ giúp Ban kiểm soát nắm bắt được các nghị quyết, quyết định từ đó có cách nhìn nhận và đánh giá kịp thời về tính hợp pháp và hợp lý của các quyết định này, qua đó sớm phát hiện những quyết định có khả năng gây thiệt hại cho công ty. Quy định này phù hợp với thực tiễn, việc có mặt Ban kiểm soát tại các cuộc họp quan trọng của công ty cổ phần sẽ góp phần làm tăng chất lượng cuộc họp. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Quyền yêu cầu, kiến nghị: Khi phát hiện có thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty thì phải “thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả”. Tuy nhiên cơ chế để thực thi quyền này như thế nào chưa được Luật hiện hành đề cập đến khi người vi phạm không chấm dứt hành vi vi phạm cũng như không đưa ra giải pháp khắc phục hậu quả hoặc thời gian để người vi phạm chấm dứt hành Quy định này rất khó thực thi trên thực tế.
Về lý thuyết khi phát hiện vi phạm, nếu Ban kiểm soát đã báo cáo Hội đồng quản trị và yêu cầu chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục nhưng họ không thực hiện thì Ban kiểm soát có quyền yêu cầu Hội đồng quản trị triệu tập họp bất thường Đại hội đồng cổ đông theo quy định tại điểm d khoản 3 Điều 136 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Tuy nhiên quy định này khó thực hiện, không phải là giải pháp tối ưu.
Ở Luật Doanh nghiệp năm 2005 ngoài quyền yêu cầu thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đốc vi phạm nghĩa vụ của người quản lý công ty chấm dứt hành vi vi phạm Điều 107 cho phép Ban kiểm soát yêu cầu Toà án hoặc Trọng tài xem xét, huỷ bỏ quyết định của Đại hồi đồng cổ đông trong thời hạn 90 ngày kể từ ngày nhận biên bản họp Đại hội đồng cổ đông hoặc biên bản kết quả kiểm phiếu lấy ý kiến Đại hội đồng cổ đông trong các trường hợp trình tự và thủ tục triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông không thực hiện đúng theo quy định của Luật Doanh nghiệp và Điều lệ công ty hoặc trình tự, thủ tục ra quyết định và nội dung quyết định vi phạm pháp luật hoặc Điều lệ công ty trừ trường hợp “các quyết định được thông qua tại cuộc hợp Đại hội đồng cổ đông với số cổ đông trực tiếp và uỷ quyền tham dự đại diện 100% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết là hợp pháp” (Khoản 4 Điều 104 Luật doanh nghiệp năm 2005). Quy định này chứng tỏ tính độc lập trong hoạt động của Ban kiểm soát tuy nhiên Luật Doanh nghiệp năm 2014 lại không còn quy định này, tước đi quyền yêu cầu Toà án hoặc Trọng tài xem xét huỷ bỏ quyết định hoặc một phần nội dung quyết định của Đại hội đồng cổ đông, điều này đã vô tình hạ thấp vị thế của Ban kiểm soát.
Ban kiểm soát có quyền kiến nghị những giải pháp để từ đó nâng cao hiệu quả hoạt động quản lý và điều hành công ty. Ban kiểm soát có quyền kiến nghị “các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý, giám sát và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty”,quy định này nâng cao vai trò của Ban kiểm soát trong quá trình thực thi quyền và nhiệm vụ của mình.
Kết luận, Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã có nhiều điểm tiến bộ hơn so với Luật Doanh nghiệp năm 2005 trong việc quy định quyền của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần. Tuy nhiên trong thức tế thi hành Ban kiểm soát thường không làm tròn nhiệm vụ quyền hạn của mình. Nguyên nhân một phần là do Ban kiểm soát yếu về nhân lực, năng lực do các thành viên Ban kiểm soát thường kiêm nhiệm, thiếu kiến thức quản lý rủi ro về kế toán kiểm toán. Hiệu quả hoạt động của Ban kiểm soát chưa cao do cơ chế như bị hạn chế quyền trong quá trình thực hiện hoạt động kiểm soát của mình, việc phối hợp với các bộ phận liên quan còn yếu. Điều này dẫ đến hậu quả vô cùng lớn trong công tác quản lý điều hành công ty, ảnh hưởng nghiêm trọng tới năng suất, hiệu quả và sự phát triển công ty.
2.4 Thành viên Ban kiểm soát trong công ty cổ phần. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
- Tiêu chuẩn trở thành thành viên Ban kiểm soát.
Theo quy định tại Điều 164 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thành viên Ban kiểm soát công ty cổ phần phải thoả mãn được các điều kiện và tiêu chuẩn sau:
Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và không thuộc đối tượng bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014.
Khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định các tổ chức, cá nhân sau đây không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam:
- Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình;
- Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức;
- Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp;
- Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;
- Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sự; tổ chức không có tư cách pháp nhân;
Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự, chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Trường hợp Cơ quan đăng ký kinh doanh có yêu cầu, người đăng ký thành lập doanh nghiệp phải nộp Phiếu lý lịch tư pháp cho Cơ quan đăng ký kinh doanh.
- Không phải là vợ hoặc chồng, cha đẻ, cha nuôi, mẹ đẻ, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi, anh ruột, chị ruột, em ruột của thành viên Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc và người quản lý khác;
- Không được giữ các chức vụ quản lý công ty; không nhất thiết phải là cổ đông hoặc người lao động của công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác;
Ngoài ra, kiểm soát viên công ty cổ phần niêm yết, công ty do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ phải là kiểm toán viên hoặc kế toán viên.
Khoản 2 Điều 163 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thành viên Ban kiểm soát sẽ bầu một người bầu một người trong số họ làm Trưởng Ban kiểm soát theo nguyên tắc đa số. Quyền và nghĩa vụ của Trưởng Ban kiểm soát do Điều lệ công ty quy định. Ban kiểm soát phải có hơn một nửa số thành viên thường trú ở Việt Nam. Trưởng Ban kiểm soát phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp và phải làm việc chuyên trách tại công ty, trừ trường hợp Điều lệ công ty quy định tiêu chuẩn khác cao hơn. Luật Doanh nghiệp 2014 đã áp đặt quy định cứng về tiêu chuẩn của Trưởng Ban kiểm soát nhằm tăng cường kinh nghiệm về chuyên môn đến hoạt động tài chính (một vấn đề quan trọng nhất của công ty), đồng thời yêu cầu Trưởng Ban kiểm soát làm việc chuyên trách tại công ty để tập trung cho công việc, góp phần đảm bảo hiệu quả công việc cao. Quy định về chất lượng Trưởng Ban kiểm soát nhằm tăng cường hơn nữa về chuyên môn của Ban kiểm soát, đảm bảo cho Ban kiểm soát thực hiện đúng chức năng nhiệm vụ của mình. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Về cơ bản Luật Doanh nghiệp năm 2014 kế thừa các điều kiện và tiêu chuẩn về thành viên Ban kiểm soát được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2005. Tuy nhiên Luật Doanh nghiệp năm 2014 có điểm mới là không cấm thành viên Ban kiểm soát là người lao động của công ty nên khả năng một người lao động đồng thời là cổ đông sẽ được Đại hội đồng cổ đông bầu làm thành viên Ban kiểm soát. Trên thực tế, thành viên Ban kiểm soát được bầu từ những người được cổ đông lớn đề cử và có quan hệ thân quen với các thành viên Hội đồng quản trị bởi vậy hoạt động giám sát dễ bị chi phối bởi quan hệ quan hệ phụ thuộc sẽ có khả năng làm giảm tính khách quan trong hoạt động của Ban kiểm soát. Pháp luật cũng quy định “thành viên Ban kiểm soát không được giữ chức vụ quản lý công ty” (Điều 164 Luật Doanh nghiệp năm 2014). Quy định trên chưa hoàn toàn phù hợp bởi nếu thành viên Ban kiểm soát không được giữ các chức vụ quản lý công ty nghĩa là thành viên Ban kiểm soát chỉ là một người lao động bình thường, một nhân viên cấp thấp trong công ty. Trong vai trò kiểm soát, họ cần độc lập với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, còn trong vai trò người lao động, họ chịu sự quản lý của Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc. Chính điều này khiến Ban kiểm soát khó độc lập kiểm soát hoạt động trong công ty cổ phần bởi sự mâu thuẫn giữa hai vai trò vừa giám sát hoạt động vừa chịu sự quản lý của những người mình giám sát khiến cho Ban kiểm soát chịu nhiều áp lực.
- Biểu quyết bầu thành viên Ban kiểm soát.
Việc bầu thành viên Ban kiểm soát theo quy định tại điểm a khoản 2 và điểm b khoản 4 Điều 114 Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì chỉ có cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 10% tổng số cổ phần phổ thông trong thời hạn liên tục ít nhất sáu tháng hoặc một tỷ lệ khá nhỏ hơn quy định tại Điều lệ công ty mới được quyền đề cử một hoặc một số người làm ứng cử viên vào Ban kiểm soát, trường hợp số ứng cử viên được đề cử thấp hơn số ứng cử viên mà họ được quyền đề cử theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông thì số ứng cử viên còn lại do Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và các cổ đông khác đề cử.
Luật Doanh nghiệp năm 2014 không quy định việc bầu thành viên Ban kiểm soát phải thực hiện theo phương thức bầu dồn phiếu mà có thể chọn phương thức bầu khác. Quy định cũ theo Luật Doanh nghiệp năm 2005, thành viên Ban kiểm soát được bầu theo phương thức bầu dồn phiếu, hình thức bầu dồn phiếu góp phần bảo vệ quyền lợi của nhóm cổ đông thiểu số. Có nhiều quan điểm khác nhau về việc thay đổi quy định bầu dồn phiếu như sau: quan điểm thứ nhất, đồng tình với sự thay đổi của luật vì việc quy định bắt buộc bầu dồn phiếu có thể dẫn đến tình trạng các cổ đông lớn của công ty lợi dụng để lựa chọn phương án có lợi cho mình thay vì lợi ích chung của công ty cổ phần; quan điểm thứ hai, không đồng tình với sự thay đổi này bởi như vậy sẽ tước bỏ một công cụ quan trọng để bảo vệ nhóm cổ đông thiểu số. Theo quan điểm cá nhân, tác giả đồng tình với quan điểm thứ hai, cần xem xét điều chỉnh quy định việc bầu thành viên Ban kiểm soát để góp phần bảo vệ cổ đông thiểu số trong công ty cổ phần. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
- Miễn nhiệm, bãi nhiệm thành viên Ban kiểm soát.
Luật Doanh nghiệp 2005 gộp chung miễn nhiệm, bãi nhiệm vào Điều 127, có thể hiểu rằng việc miễn nhiệm và bãi nhiệm là một và dẫn đến các điều kiện kiểm soát viên bị miễn nhiệm và bãi nhiệm là một. Quy định như vậy chưa phù hợp bởi miễn nhiệm và bãi nhiệm là hai khái niệm hoàn toàn khác nhau. Miễn nhiệm là cho thôi chức vụ do không hoàn thành nhiệm vụ, do thiếu trách nhiệm, do nhu cầu của nhiệm vụ hoặc theo đề nghị của người bị miễn nhiệm vì lí do sức khoẻ hoặc lí do khác. Còn bã nhiệm là một chế tài kỷ luật buộc thôi giữ chức vụ do bầu trước khi hết nhiệm kỳ đối với người đang được giao giữ chức vụ có hành vi vi phạm pháp luật hay Điều lệ công ty. Do vậy, Luật Doanh nghiệp năm 2014 các nhà làm luật đã tách bạch rõ hai phạm trù miễn nhiệm và bãi nhiệm thể hiện qua quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 169.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 169 Luật Doanh nghiệp 2014, thành viên Ban kiểm soát bị miễn nhiệm trong các trường hợp:
- Không còn đủ tiêu chuẩn và điều kiện làm Kiểm soát viên theo quy định tại Điều 164 của Luật này;
- Không thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình trong 06 tháng liên tục, trừ trường hợp bất khả kháng;
- Có đơn từ chức và được chấp thuận;
- Các trường hợp khác do Điều lệ công ty quy định.
Cũng tại Điều 169, khoản 2 quy định các trường hợp thành viên Ban kiểm soát bị bãi nhiệm gồm:
- Không hoàn thành nhiệm vụ, công việc được phân công;
- Vi phạm nghiêm trọng hoặc vi phạm nhiều lần nghĩa vụ của Kiểm soát viên quy định của Luật này và Điều lệ công ty;
- Theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông.
- Trách nhiệm của Kiểm soát viên
Quy định về nghĩa vụ, trách nhiệm của Kiểm sát viên theo Luật Doanh nghiệp năm 2014 kế thừa các quy định Luật Doanh nghiệp năm 2005. Điều 168 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định trách nhiệm mà kiểm sát viên phải tuân thủ khi thực hiện nhiệm vụ của mình bao gồm: Tuân thủ đúng pháp luật, Điều lệ công ty, nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông và đạo đức nghề nghiệp trong thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao; Thực hiện các quyền và nghĩa vụ được giao một cách trung thực, cẩn trọng, tốt nhất nhằm bảo đảm lợi ích hợp pháp tối đa của công ty; Trung thành với lợi ích của công ty và cổ đông; không sử dụng thông tin, bí quyết, cơ hội kinh doanh của công ty, địa vị, chức vụ và sử dụng tài sản của công ty để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác; Các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và Điều lệ công ty.
Trường hợp vi phạm quy định nêu trên gây thiệt hại cho công ty hoặc người khác thì Kiểm soát viên phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới bồi thường thiệt hại đó. Mọi thu nhập và lợi ích khác mà Kiểm soát viên có được phải hoàn trả cho công ty. Trách nhiệm vật chất của kiểm soát viên khi vi phạm nghĩa vụ của mình đã được Luật quy định rất cụ thể, tuỳ vào mức độ và sự tham gia của thành viên Ban kiểm soát trong việc gây thiệt hại cho công ty mà có sự phân hoá trách nhiệm khác nhau, đó có thể là trách nhiệm cá nhân hoặc trách nhiệm liên đới. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Trường hợp phát hiện có Kiểm soát viên vi phạm trong thực hiện quyền và nghĩa vụ được giao thì Hội đồng quản trị phải thông báo bằng văn bản đến Ban kiểm soát; yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả.
- Chế độ thù lao và lợi ích khác của Kiểm soát viên.
Điều 167 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định về tiền lương và quyền lợi khác của Kiểm soát viên. Theo đó, trong trường hợp Điều lệ công ty không có quy định khác, thì tiền lương và quyền lợi khác của Kiểm soát viên được thực hiện theo quy định sau đây:
- Kiểm soát viên được trả tiền lương hoặc thù lao và được hưởng các quyền lợi khác theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông. Đại hội đồng cổ đông quyết định tổng mức lương, thù lao và ngân sách hoạt động hằng năm của Ban kiểm soát;
- Kiểm soát viên được thanh toán chi phí ăn, ở, đi lại, chi phí sử dụng dịch vụ tư vấn độc lập với mức hợp lý. Tổng mức thù lao và chi phí này không vượt quá tổng ngân sách hoạt động hằng năm của Ban kiểm soát đã được Đại hội đồng cổ đông chấp thuận, trừ trường hợp Đại hội đồng cổ đông có quyết định khác;
- Tiền lương và chi phí hoạt động của Ban kiểm soát được tính vào chi phí kinh doanh của công ty theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, pháp luật có liên quan và phải được lập thành mục riêng trong báo cáo tài chính hằng năm của công ty.
Bên cạnh những quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm của thành viên Ban kiểm soát thì quy định về chế độ thù lao và quyền lợi khác mà Ban kiểm soát được hưởng là điều hợp lý, chế định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần sẽ hoàn thiện hơn.
Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định chế độ thù lao của Ban kiểm soát theo công việc, dựa trên số ngày làm việc, số lượng và tính chát công việc mà không quy định về hiệu quả trong công việc. Quy định như vậy gián tiếp thừa nhận hoạt động của Ban kiểm soát mang tính bán chuyên trách gây nên sự thiếu chuyên nghiệp, thành viên Ban kiểm soát chưa nâng cao trình độ chuyên môn và chưa hết lòng với công việc được giao. Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã khắc phục được thiếu sót và hạn chế trên, Luật quy định thành viên Ban kiểm soát được trả lương hoặc thù lao cũng như ngân sách hoạt động của Ban kiểm soát sẽ do Đại hội đồng cổ đông quyết định mà không cần căn cứ vào những tiêu chí cụ thể như Luật Doanh nghiệp 2005.
2.5 Thực tiễn áp dụng các quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Theo các chế định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014, Ban kiểm soát có vị trí độc lập, chuyên trách có chức năng giám sát Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính cũng như thẩm định báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hằng năm và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị. Về mô hình, Ban kiểm soát có thể ngang cấp với Hội đồng quản trị và trên cả Ban lãnh đạo công ty song thực tế, Ban kiểm soát gặp rất nhiều khó khăn để thực hiện được chức năng, nhiệm vụ của và đạt được vị thế của mình.
Thực tiễn áp dụng các quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần ở Việt Nam cho thấy Ban kiểm soát chưa thể hiện đầy đủ vai trò bảo vệ cổ đông và các nhà đầu tư. Trong thời gian qua, có rất nhiều việc làm sai của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc ảnh hưởng nghiêm trọng đến lợi ích của cổ đông nhưng không hề có tiếng nói cảnh báo nào từ Ban kiểm soát cho đến khi bị phát hiện. Hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần còn nhiều vấn đề bất cập, chủ yếu gồm những vấn đề như sau:
- Ban kiểm soát chưa phát huy được vai trò của mình trong công ty cổ phần.
Các báo cáo của Ban kiểm soát thường chỉ mang tính hình thức, nội dung tương tự như báo cáo của Hội đồng quản trị và Ban lãnh đạo công ty, không đánh giá khách quan được tình hình hoạt động của công ty. Điều này dẫn tới hậu quả Ban kiểm soát không nắm được hoạt động của công ty gây rủi ro cho các nhà đầu tư và cổ đông của công ty.
Trong công ty cổ phần đặc biệt là các công ty đại chúng, vai trò của Ban kiểm soát là rất quan trọng và cần thiết. Bên cạnh chức năng giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty, Ban kiểm soát còn đóng vai trò quan trọng trong việc đề xuất các biện pháp, giải pháp khắc phục, cải tiến để hoạt động quản lý, điều hành công ty đạt hiệu quả cao nhất. Trong một công ty hoạt động minh bạch, Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc công ty sẽ nhận định vai trò của Ban kiểm soát nhằm ngăn chặn và phát hiện những sai phạm, thiếu sót, bất hợp lý, xung đột lợi ích trong việc quản lý, điều hành công ty. Tuy nhiên thực tế Ban kiểm soát chưa thực hiện được hết quyền hành của mình mà mới chỉ thực hiện được những yêu cầu, đề nghị của Hội đồng quản trị, chưa khẳng định được tính độc lập của mình. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Ngoài tâm lý “dĩ hòa vi quý” của các thành viên Ban kiểm soát, trong nhiều trường hợp, các thành viên Ban kiểm soát còn có sự câu kết với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc để hưởng lợi bất chính.Vai trò của Ban kiểm soát chưa được các văn bản luật đề cao. Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, văn bản do Ban kiểm soát ban hành về việc kiểm tra, giám sát chỉ có ý nghĩa cảnh báo. Ngay cả khi phát hiện hành vi vi phạm nghĩa vụ quản lý công ty của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, Ban kiểm soát chỉ có quyền yêu cầu các cá nhân liên quan chấm dứt hành vi vi phạm và có giải pháp khắc phục hậu quả. Ban kiểm soát không có quyền sa thải người lao động nếu họ sai phạm. Tại Việt Nam, các cơ quan nhà nước, hoặc bên thứ ba chỉ quan tâm đến người nào là đại diện theo pháp luật của công ty chứ không quan tâm ai là thành viên hoặc trưởng Ban kiểm soát của công ty.
Ban kiểm soát được thành lập bởi Đại hội đồng cổ đông nhằm bảo vệ lợi ích của cổ đông nhưng chính những cổ đông lại chưa hiểu được tầm quan trọng của Ban kiểm soát. Hằng năm công ty cổ phần tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông ít nhất là một lần, mỗi phiên họp diễn ra trong một đến hai ngày. Trong thời gian làm việc của Đại hội đồng cổ đông phải hoàn thành rất nhiều việc, có trường hợp gấp rút về thời gian Đại hội đồng cổ đông tiến hành bầu ra Ban kiểm soát một cách qua loa và trao quyền cho Chủ tịch Hội đồng quản trị Ban hành quy chế hoạt động của Ban kiểm soát. Ban kiểm soát là cơ quan kiểm tra, giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, do đó Chủ tịch Hội đồng quản trị khi được trao quyền sẽ giới hạn quyền lực Ban kiểm soát, mở rộng quyền của mình. Thậm chí nhiều công ty cổ phần còn để Hội đồng quản trị bổ nhiệm Ban kiểm soát, lúc này lẽ dĩ nhiên thành viên được bổ nhiệm sẽ là những người có lợi cho Hội đồng quản trị.
Ngoài ra, sự có mặt của Ban kiểm soát trong công ty thường bị xem như là một phòng Ban chuyên môn cần phải có trong công ty do vậy Ban kiểm soát hoạt động dưới sự điều hành của Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Sự tồn tại của Ban kiểm soát lúc này chỉ mang tính hình thức, thực hiện giám sát các phòng Ban trong công ty chứ không phải giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trong công ty. Vấn đề này cũng do quy định của luật, Ban kiểm soát không được giữ chức vụ quản lý trong công ty. Điều này có nghĩa thành viên Ban kiểm soát cũng chỉ là một nhân viên, một lao động bình thường trong công ty, họ được Đại hội đồng cổ đông bầu vào Ban kiểm soát thì sẽ kiêm nhiệm thêm chức trách này. Lúc này, thành viên Ban kiểm soát vừa là người lao động làm công ăn lượng chịu sự điều hành và quản lý của người sử dụng lao động ở đây là Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty; vừa là người được cổ đông uỷ quyền thực hiện chức năng giám sát việc sử dụng vốn của cổ đông, tách biệt hoàn toàn với Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty. Do vậy, Ban kiểm soát không thể công tâm, khách quan mà thực hiện đúng chức năng, vai trò của mình theo quy định của pháp luật. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Ban kiểm soát bị lép vế, có quyền nhưng không thực hiện được, không dám phản biện, tranh luận với Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty. Mặt khác các số liệu mà Ban kiểm soát được cung cấp từ các phòng Ban trong công ty thường phải thông qua sự cho phép của Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc; những vấn đề phát hiện ra trong quá trình thẩm định báo cáo của Ban kiểm soát cũng được trao đổi với Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc trước khi trình Đại hội đồng cổ đông. Đây là điều phi lý trong quy trình hoạt động của mình, Ban kiểm soát phải báo cáo và tham khảo ý kiến của đối tượng được giám sát là Hội đồng quản trị về kết quả giám sát. Vì vậy mà tại Đại hội đồng cổ đông vai trò của Ban kiểm soát chỉ là đọc bản báo cáo hoàn chỉnh và tham dự đại hội trên hình thức mà thôi.
Vấn đề quyền được cung cấp thông tin của Ban kiểm soát còn rất thụ đông. Chỉ khi có yêu cầu thì Ban kiểm soát mới có quyền lấy thông tin, không phải bất cứ thông tin nào yêu cầu Ban kiểm soát cũng được cung cấp. Như vậy, Ban kiểm soát không thể nào theo dõi, giám sát được hết các hoạt động của người quản lý công ty.
Hơn nữa, Ban kiểm soát thường xuyên bị Hội đồng quản trị chi phối bởi thành viên Hội đồn quản trị, đồng thời những cổ đông lớn, họ quyết định về địa vi, tiền lương của thành viên Ban kiểm soát. Điều phi lý trong quy định hoạt động của mình, Ban kiểm soát phải báo cáo và tham khảo ý kiến của đối tượng được giám sát là Hội đồng quản trị về kết quả giám sát. Bên cạnh đó, mặc dù các quy định pháp luật đã trao cho Ban kiểm soát quyền được triệu tập họp Đại hội đồng cổ đông khi Hội đồng quản trị không triệu tập họp hoặc có vi phạm nghĩa vụ quản lý, nhưng trên thực tế ở Việt Nam hiện nay, thực tế cho thấy rất hiểm trường hợp Ban kiểm soát thực thi quyền này.
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến việc Ban kiểm soát chưa thực sự phát huy được vai trò, trách nhiệm của mình đối với các cổ đông. Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc thường không ưa Ban kiểm soát vì nếu có họ, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc sẽ không thể quyết định các vấn đề mà luôn phải dè chừng Ban kiểm soát với tư cách là cơ quan tư pháp. Vì thế, Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc luôn tìm cách để tránh khỏi sự kiểm soát. Đây là nguyên nhân khiến hoạt động của Ban kiểm soát không hiệu quả, không phát huy được vai trò của mình trong công ty cổ phần.
- Hoạt động của Ban kiểm soát chưa độc lập. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Theo Luật định, thành viên Ban kiểm soát không được giữ các chức vụ quản lý công ty. Nghĩa là thành viên Ban kiểm soát sẽ chỉ là một người lao động bình thường trong công ty. Trong vai trò kiểm soát viên họ cần độc lập với Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc; còn trong vai trò người lao động họ chịu sự quản lý của Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc. Vì vậy, Ban kiểm soát thường xuyên bị Hội đồng quản trị chi phối bởi họ quyết định cả về địa vị, tiền lương của thành viên Ban kiểm soát.Theo luật định, thành viên Ban kiểm soát không được giữ các chức vụ quản lý công ty. Nghĩa là thành viên Ban kiểm soát sẽ chỉ là một người lao động bình thường, một nhân viên cấp thấp trong công ty. Trong vai trò kiểm soát viên, họ cần độc lập với Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, còn trong vai trò người lao động, họ chịu sự quản lý của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc. Chính sự mâu thuẫn này khiến cho thành viên Ban kiểm soát cùng lúc chịu nhiều áp lực và theo lẽ thường, họ sẽ lựa chọn vai trò người lao động vì hàng tháng họ vẫn phải nhận tiền lương của công ty. Ban kiểm soát phải phụ thuộc nhiều vào Hội đồng quản trị cho nên hoạt động kiểm tra, giám sát chưa mang tính độc lập với Hội đồng quản trị. Chức năng, nhiệm vụ của Ban kiểm soát là thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý, điều hành tức là sẽ có quyền hành giám sát Hội đồng quản trị do đó quy định Ban kiểm soát phải thường xuyên thông báo và tham khảo ý kiến Hội đồng quản trị là không phù hợp và ảnh hưởng đến tính độc lập trong hoạt động của Ban kiểm soát.
Báo cáo của Ban kiểm soát thường được trình cho Đại hội cổ đông vào mỗi kỳ họp. Thời gian giữa các kỳ họp lại quá xa và như vậy, báo cáo của Ban kiểm soát không còn tính thời sự. Bên cạnh đó, các quy định hiện hành về chế độ kế toán, các báo cáo hàng năm của Công ty cổ phần phải nộp cho cơ quan thuế chỉ gồm bản cân đối kế toán; báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh; báo cáo lưu chuyển tiền tệ và bản thuyết minh báo cáo tài chính. Trong quy định về công bố thông tin của công ty đại chúng, nội dung công bố thông tin về báo cáo tài chính năm cũng chỉ bao gồm các tài liệu trên.
Như vậy, báo cáo của Ban kiểm soát không phải là tài liệu bắt buộc phải nộp cho cơ quan quản lý hoặc công bố thông tin theo quy định. Như đã nêu ở trên, báo cáo của Ban kiểm soát là một tài liệu quan trọng, giúp nhà đầu tư và cơ quan quản lý nhà nước có được cái nhìn toàn diện về doanh nghiệp từ góc độ mà các bản báo cáo tài chính không đề cập đến. Thông tin trong báo cáo của Ban kiểm soát có tầm quan trọng không kém các báo cáo tài chính. Do đó, cần phải xem xét việc yêu cầu Công ty cổ phần, nhất là công ty đại chúng, phải công bố báo cáo của Ban kiểm soát cùng với báo cáo tài chính.
Nếu toàn bộ quyền lực trong Công ty cổ phần đều tập trung vào Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc, thì không ai dám khẳng định rằng họ không lạm quyền và khi đó cổ đông sẽ không được bảo vệ. Ban kiểm soát là một cơ chế phù hợp để cổ đông tự bảo vệ mình. Muốn như thế, hoạt động của Ban kiểm soát cần được điều chỉnh bởi một khung pháp lý rõ ràng hơn, đồng thời chính cổ đông phải hiểu rõ và sử dụng vai trò của Ban kiểm soát một cách thông minh và phù hợp. Ngoài ra, khi được cổ đông tin tưởng và trao quyền, Ban kiểm soát phải có đủ khả năng và dũng khí thực thi nhiệm vụ, các báo cáo của Ban kiểm soát phải thể hiện được tính độc lập và chính xác. Chỉ có như vậy quyền lợi của cổ đông mới được bảo vệ và xã hội mới tránh được những thiệt hại từ sự sụp đổ của các Công ty cổ phần.
- Hoạt động Ban kiểm soát thiếu tính chuyên nghiệp.
Ban kiểm soát thực hiện kiểm tra, giám sát hoạt động quản lý, điều hành nói chung tức là sẽ có quyền hành trong vấn đề giám sát Hội đồng quản trị. Do đó, quy định Ban kiểm soát phải thường xuyên thông báo và tham khảo ý kiến Hội đồng quản trị không phù hợp và ảnh hưởng đến tính độc lập trong hoạt động của Ban kiểm soát.
Ở không ít các công ty cổ phần, Ban kiểm soát chỉ đóng vai trò như bù nhìn, được chính Hội đồng quản trị và các cổ đông lớn dựng lên cho có và hoàn toàn bị vô hiệu hoá, thậm chí còn được xem là lực lượng hẫu thuận, đứng sau tiếp tay cho những hành vi vi phạm của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc công ty.
Một vấn đề thực tế nữa đó là kiểm soát viên của các công ty cổ phần thường là kiêm nhiệm, trình độ chuyên môn không cao, thiếu nhiệt tình trong đấu tranh cho công bằng, lẽ phải. Từ phương diện mô hình song song về quyền lực của Ban kiểm soát và Hội đồng quản trị theo mô hình về cơ cấu quản lý trong công ty cổ phần có Ban kiểm soát, giờ đây mô hình đó bị biến dạng như sau: sự tồn tại của Ban kiểm soát trong nội bộ công ty cổ phần bị phụ thuộc rất nhiều yếu tố, tính độc lập bị hạn chế rất nhiều, vị trí của Ban kiểm soát còn thấp hơn Hội đồng quản trị, chịu sự chi phối của Hội đồng quản trị. Quy định về việc hoạt động kiểm tra, giám sát của Ban kiểm soát không được cản trở gây gián đoạn hoạt động bình thường của công ty có thể là một công cụ để các cơ quan bị kiểm tra trong công ty dễ dàng từ chối yêu cầu của Ban kiểm soát.
Hơn nữa, Ban kiểm soát không được trang bị một hệ thống thông tin quản lý đặc thù cho công việc giám sát, họ chỉ dựa vào các báo cáo định kỳ của công ty và chỉ tiếp cận những thông tin chung mà công ty cung cấp cho họ. Rất ít kiểm soát viên làm việc toàn thời gian, phần lớn là bán thời gian, kiêm nhiệm thêm chức vụ khác nên Ban kiểm soát chỉ làm việc định kỳ. Như vậy làm sao mà họ có thể dự đoán, nhận ra những thiếu sót, sai phạm trong hoạt động quản lý điều hành công ty của Hội đồng quản trị và Ban Giám đốc.
- Sự can thiệp của Nhà nước trong giám sát điều hành đối với các công ty cổ phần hình thành sau quá trình cổ phần doanh nghiệp nhà nước.
Các doanh nghiệp là công ty con của các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước sau quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước đều có Ban kiểm soát nhưng nhiều năm liền các quyết định làm trái của Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc công ty đưa ra lại không được Ban kiểm soát phát hiện và công bố. Tình trạng lỗ/lãi tại những tổ chức này cũng trở nên mập mờ, đồng tiền luận chuyển không được công khai, minh bạch.
Tại các Tập đoàn, tổng công ty nhà nước, các doanh nghiệp sau quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước đều có Ban kiểm soát, kiểm soát viên thường là người được giới thiệu, đề cử. Ban kiểm soát sẽ là nơi được gài người của cơ quan nhà nước muốn tham gia trong hoạt động của công ty, thành viên Ban kiểm soát ít thuộc trường hợp bị hạn chế do có mối quan hệ với người quản lý, điều hành công ty. Quá trình cổ phần hoá diễn ra nhằm thay đổi bộ mặt của công ty trên phương diện quản lý, vấn đề tác động của cơ quan nhà nước trong công ty không hề thay đổi. Công ty không còn vốn Nhà nước nhưng vẫn bị cơ quan Nhà nước chủ quản trước đây chi phối, bắt phải xin ý kiến về nhân sự, về kế hoạch đầu tư, mở rộng công ty. Nhiều công ty, thành viên Hội đồng quản trị thường do cơ quan nhà nước giới thiệu dù không còn phải là người đại diện phần vốn góp của nhà nước trong công ty nữa điều nay gây cản trở quá trình cơ cấu, thay đổi công ty. Thực trạng này là một nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần hình thành sau quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước ở nước ta. Cần đổi mới quy chế giám sát quản lý các Tập đoàn kinh tế, Tổng công ty nhà nước, đổi mới hệ thống giám sát, thiết lập hệ thống kiểm soát nội bộ chặt chẽ mà bước đầu là đổi mới Ban kiểm soát, khiến Ban kiểm soát thực sự là đại diện của chủ sở hữu, tức là đại diện của Nhà nức để kiểm tra, giám sát, bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu phần vốn.
- Việc tổ chức ra Ban kiểm soát bị ảnh hưởng bởi quản trị gia đình. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Một tỷ lệ lớn các doanh nghiệp ở Việt Nam là các công ty gia đình, công ty gia đình là công ty có các thành viên trong một gia đình nắm mức sở hữu đủ để quyết định cơ cấu thành viên Hội đồng quản trị. Thông thường, ở công ty gia đình, đại diện của gia đình sẽ nắm giữ chức vụ Chủ tịch Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Các thành viên của gia đình vừa là cổ đông, vừa là người quản lý, điều hành công ty. Vì quyền sở hữu nắm trong tay một hoặc một vài thành viên trong gia đình nên công ty gia đình có xu hướng cá nhân hoá, thống nhất quyền lực vào tay một người chủ gia đình.
Tuy nhiên, các công ty cổ phần gia đình phải đối mặt với một thực tế đó là theo số liệu thống kê cho thấy tỷ lệ thành công dài hạn của các công ty gia đình là rất thấp. Theo điều tra, chỉ có 5% các công ty gia đình quy mô lớn tiếp tục phát triển tốt sau thế hệ thứ ba. Còn hầu hết các công ty gia đình bắt đầu với một người đặt nền móng, sáng lập kiêm luôn việc quản trị, là chủ sở hữu toàn quyền và là người điều hành công ty. Sáng lập viên của công ty gia đình thường giữ toàn quyền ra quyết định mọi vấn đề của công ty. Nhìn chung, khi một công ty gia đình thành công rơi vào quyền kiểm soát của con cháu người sáng lập công ty thì cũng là lúc công ty gia đình đi xuống. Tới thời điểm thế hệ thứ ba tiếp quản công ty, bối cảnh doanh nghiệp đã được đặt sẵn cho những vụ cãi lộn giữa các thành viên trong gia đình. Thay vì tập trung vào điều hành doanh nghiệp, họ sẽ tranh giành các phần lợi nhuận và các vị trí lãnh đạo công ty theo ý mình. Một nguyên nhân rất lớn dẫn đến sự yếu kém trong hoạt động của công ty gia đình đó là thiếu vắng sự kiểm soát cần thiết đối với mô hình quản trị công ty và toàn bộ cơ cấu tổ chức, hoạt động của công ty.
Công ty gia đình do số ít người kiểm soát, hoạt động kiểm soát lại không đủ mạnh mẽ, người thực hiện hoạt động giám sát không phải chịu sức ép từ bên ngoài và công ty thiếu cơ chế kiểm soát, phản biện hợp lý, có nguy cơ trì trệ về mặt tổ chức, nguy cơ đưa ra chiến lược kinh doanh không phù hợp thực tiễn thị trường. Một công ty gia đình phát triển sẽ ngày càng trở nên phức tạp, đòi hỏi phải có cơ cấu tổ chức và quản trị chuẩn mực hơn. Khi công ty gia đình phát triển, mở rộng, nảy sinh nhu cầu cần phải có một Hội đồng quản trị chuyên nghiệp có thể hoạch định chiến lược và cần có một cơ chế kiểm soát hiệu quả hoạt động của bộ máy điều hành công ty.
- Trách nhiệm pháp lý của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần chưa được quy định cụ thể. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Quy định của Luật Doanh nghiệp 2014 hiện hành không nêu rõ trách nhiệm mà Ban kiểm soát phải chịu khi không làm tròn vai trò của mình. Luật chỉ đưa ra trách nhiệm nếu kiểm soát viên vi phạm các vấn đề liên quan đến đạo đức nghề nghiệp. Quy định về trách nhiệm pháp lý hiện hành đối với Ban kiểm soát gần như không được thực thi trên thực tế tại các công ty cổ phần. Theo đó khi xảy ra các thiệt hại đối với công ty, trách nhiệm pháp lý trước hết là Hội đồng quản trị, Giám đốc, Tổng giám đóc còn Ban kiểm soát gần như không được xem xét để chịu trách nhiệm.
Trách nhiệm pháp lý đối với Ban kiểm soát được quy định chung tại khoản 5 Điều 168 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Theo đó, trường hợp vi phạm nghĩa vụ quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 gây thiệt hại cho công ty hoặc người khác thì các thành viên Ban kiểm soát phải chịu trách nhiệm cá nhân hoặc liên đới bồi thường thiệt hại đó. Mọi thu nhập và lợi ích khác mà thành viên Ban kiểm soát trực tiếp hoặc gián tiếp có được do vi phạm nghĩa vụ đều thuộc sở hữu của công ty.
Quy định về trách nhiệm pháp lý đối với Ban kiểm soát nêu trên gần như không được thực thi trên thực tế tại các công ty cổ phần. Theo đó khi xảy ra các thiệt hại đối với công ty, trách nhiệm pháp lý trước hết và chủ yếu được hướng đến Hội đồng quản trị, Ban Giám đốc công ty, còn đối với vai trò là cơ quan “giám sát” mang tính hình thức, Ban kiểm soát gần như không được xem xét để chịu trách nhiệm.
Đa số các công ty cổ phần không xem trọng vai trò Ban kiểm soát mà chỉ thành lập Ban kiểm soát tuân theo quy định của pháp luật. Hoạt động Ban kiểm soát chỉ mang tính hình thức không có chất lượng. Từ những phân tích nêu trên về thực tiễn chế định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014, có thể kết luận được những bất cập chủ yếu sau: Ban kiểm soát chưa thực hiện được đúng và đầy đủ vai trò của mình trong công ty cổ phần; hoạt động Ban kiểm soát chưa độc lập, thiếu tính chuyên nghiệp; Ban kiểm soát chưa bảo vệ được quyền lợi của cổ đông và các nhà đầu tư. Sự yếu kém trong hoạt độn của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần có nhiều nguyên nhân, một số nguyên nhân có thể kể tới như: Thiếu nguồn nhân lực, Ban kiểm soát không đủ nguồn nhân lực, phần lớn thành viên Ban kiểm soát làm việc kiêm nhiệm hoặc bán thời gian, ngoài ra trình độ chuyên môn của họ không cao, thiếu kinh nghiệm; Thiếu bộ máy giúp việc, ví dụ như lĩnh vực ngân hàng có quy định cụ thể về chức năng kiểm toán nội bộ độc lập trực thuộc Ban kiểm soát còn thì Ban kiểm soát trong công ty cổ phần hiện nay chưa có quy định cụ thể nào về bộ máy giúp việc; Thiếu công cụ, phương tiện làm việc, Ban kiểm soát không được trang bị hệ thống quản lý thông tin đặc thù cho công việc của mình mà chỉ dựa vào báo cáo định kỳ của công ty và chỉ tiếp cận với những thông tin chung mà công ty cung cấp. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Để làm rõ hơn về thực trạng áp dụng chế định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần, tác giả xin phân tích các quy định liên quan đến quy chế pháp lý về Ban kiểm soát trong Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty Cổ phần đầu tư, thương mại và dịch vụ – Vinacomin (được viết tắt là V-ITASCO). Cụ thể:
Quy chế hoạt động Ban kiểm soát trong V-ITASCO được ra đời lần đầu tiên năm 2005 và có sửa đổi bổ sung qua các năm nhằm phù hợp với tình hình thực tế và áp dụng các quy định hiện hành của pháp luật.
Ban kiểm soát của V-ITASCO bao gồm 3 thành viên, trong đó có 1 thành viên không thường trực (đây là đại diện của tập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam), 2 thành viên còn lại là nhân viên của công ty, có trình độ chuyên môn ngành kế toán. Tại V-ITASCO, Ban kiểm soát là một phòng Ban độc lập, không chịu sự quản lý điều hành của Tổng giám đốc và Ban lãnh đạo công ty, nhưng các thành viên trong Ban kiểm soát là nhân viên của công ty, hưởng lương như người lao động bình thường trong công ty. Thành viên Ban kiểm soát không thể công tâm, khách quan thực hiện đúng nhiệm vụ, chức năng của mình vì họ bị chi phối, tác động bởi người trả lương hàng tháng cho họ ở đây lại là người mà họ thực hiện kiểm tra, giám sát dưới sự uỷ thác của Đại hội đồng cổ đông.
Thực tế, V-ITASCO ra đời là công ty con của Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (VINACOMIN). Thực hiện quá trình cổ phần hoá Doanh nghiệp nhà nước, tập đoàn tiến hành thoái vốn dần khỏi V-ITASCO và cử người đại diện phần vốn của Tập đoàn tại V-Itasco. Ban kiểm soát của V-ITASCO có một thành viên không thường trực là người của tập đoàn, đây được xem như là hành động “gài người của cơ quan nhà nước muốn tham gia trong hoạt động của công ty, thành viên ít thuộc trường hợp hạn chế do có mối quan hệ với người quản lý, điều hành công ty. Quá trình cổ phần hoá diễn ra nhằm thay đổi bộ mặt của công ty trên phương diện quản lý, vấn đề tác động của cơ quan nhà nước trong công ty không hề thay đổi. Công ty không còn vốn Nhà nước nhưng vẫn bị cơ quan Nhà nước chủ quản trước đây chi phối, bắt phải xin ý kiến về nhân sự, về kế hoạch đầu tư, mở rộng công ty. Thực trạng này là một nguyên nhân dẫn đến sự yếu kém của Ban kiểm soát trong công ty.
Với một thành viên không thường trực trong Ban kiểm soát, các thành viên Ban kiểm soát không cùng thường xuyên làm việc với nhau, các cuộc họp Ban kiểm soát hàng năm diễn ra không được đầy đủ và thường là chỉ họp trên hình thức. Cuộc họp Ban kiểm soát kém chất lượng dẫn đến không có sự thống nhất ý kiến, chủ trương giữa các thành viên Ban kiểm soát. Thực tế, tại công ty V-ITASCO Ban kiểm soát chưa thực hiện được đúng và đủ chức năng, quyền hạn của mình như chức năng giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty; đề xuất các biện pháp, giải pháp khắc phục, cải tiến để hoạt động quản lý, điều hành công ty đạt hiệu quả cao nhất. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Theo quy chế hoạt động nội bộ của V-ITASCO, Ban kiểm soát thực hiện nhiệm vụ tuân thủ theo Quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành, bên cạnh đó còn phải thực hiện một số nhiệm vụ khác mà công ty quy định. Quy chế hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty đã quy định cụ thể đối tượng chịu sự giám sát của Ban kiểm soát và nội dung cụ thể trong việc giám sát của Ban kiểm soát như: giám sát Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong việc quản lý và điều hành công ty, giám sát việc chấp hành các nghị quyết của Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị,… Có thể nhận thấy, việc quy định như trên của V-ITASCO là một biện pháp cần thiết nhằm cụ thể hoá các quy định pháp luật, đồng thời giúp cho Ban kiểm soát có căn cứ làm việc rõ ràng, chủ động xây dựng kế hoạch, thực hiện nhiệm vụ được giao. Ngoài ra, V-ITASCO còn quy định cụ thể về các nội dung liên quan nhằm hướng dẫn, giúp Ban kiểm soát cũng như các thành viên trong Ban kiểm soát thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ như: trình tự thực hiện nhiệm vụ, nhiệm vụ của Trưởng Ban kiểm soát, nhiệm vụ của thành viên Ban kiểm soát.
Các quy định về nghĩa vụ của Ban kiểm soát tốt, cụ thể như vậy nhưng trong thực tế, Ban kiểm soát không thực hiện được đúng chức năng nhiệm vụ của mình. Nguyên nhân xuất phát từ chất lượng của thành viên Ban kiểm soát, trình độ chuyên môn không cao, thiếu nhiệt tình trong đấu tranh cho công bằng, lẽ phải.
Cũng như các quy định của công ty về nghĩa vụ của Ban kiểm soát, bên cạnh việc quy định Ban kiểm soát có các quyền theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện hành, công ty đã giao cho Ban kiểm soát một số quyền khác được Quy định cụ tại Quy chế công như: quyền được sử dụng tư vấn độc lập, được đảm bảo công cụ hỗ trợ và điều kiện cần thiết. Song thực tế Ban kiểm soát chưa thực hiện được quyền của mình mà mới chỉ thục hiện theo yêu cầu, đề nghị của Hội đồng quản trị. Qua đó có thể khẳng định Ban kiểm soát V-ITASCO hoạt động chưa độc lập, thiếu tính chủ động.
Vai trò của Ban kiểm soát là vô cùng quan trọng trong việc kiểm tra thực hiện các quy định của Nhà nước, của công ty với các bộ phận trong công ty, góp phần nâng cao hiệu quả quản lý, điều hành của công ty và Đại hội đồng cổ đông. Tuy nhiên thực tế hoạt động Ban kiểm soát còn khá mờ nhạt, chưa làm tròn vai trò kiểm soát của mình. Hiệu quả hoạt động Ban kiểm soát công ty chưa cao một phần bởi lí do liên quan đến cơ chế, cụ thể: bị hạn chế quyền trong giá trị thực hiện hoạt động kiểm soát của mình, việc phối hợp của các bộ phận liên quan còn yếu dẫn đến gặp nhiều khó khăn,… Bên cạnh đó, còn có những lí do xuất phát từ chính những kiểm soát viên như: tính trung thực, khách quan trong báo cáo kết quả kiểm soát, chưa làm hết trách nhiệm kiểm soát của mình, thiếu ý thức, trình độ chuyên môn năng lực hạn chế,… Điều này dẫn đến hậu quả vô cùng nghiêm trọng trong công tác quản lí điều hành công ty ảnh hưởng tới năng suất kinh doanh, và sự phát triển của công ty.
Tiểu kết chương 2 Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
Luật Doanh nghiệp năm 2014 có những quy định về việc thành lập Ban kiểm soát trong công ty cổ phần. Với chức năng nhiệm vụ được quy định trong Luật Doanh nghiệp 2014 và Điều lệ của công ty cổ phần, Ban kiểm soát thực hiện việc giám sát trong quản lý điều hành công ty, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh, trong tổ chức công tác kế toán, thống kê và lập báo cáo tài chính hàng năm và sáu tháng của công ty, báo cáo đánh giá công tác quản lý của Hội đồng quản trị.
Tại chương 2, tác giả đã tiến hành phân tích những quy định của Luật Doanh nghiệp năm 2014 về chế định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần cùng với đó là phân tích thực tiễn áp dụng những quy định đó trong công ty cổ phần tại Việt Nam. Qua đó nhận thấy, pháp luật Việt Nam đã có những quy định cơ bản về tổ chức, thành lập và hoạt động của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần. Tuy nhiên, những quy định còn nhiều điều chưa phù hợp với nền kinh tế thị trường, với thông lệ quốc tế. Thực tiễn hoạt động của chế định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần đã phần nào gây trở ngại, ảnh hưởng đến sự phát triển của công ty cổ phần nói riêng và nền kinh tế nói chung.
Để Ban kiểm soát trở thành trụ cột góp phần thúc đẩy sự phát triển bền vững của công ty cổ phần, phát huy được vai trò và khẳng định địa vị pháp lý độc lập của mình, hoạt động hiệu quả trong quá trình thực hiện chức năng, nhiệm vụ được luật định thì việc sửa đổi, bổ sung những quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần cần phải được thực hiện một cách toàn diện và cụ thể. Với những phân tích tại chương 2, tác giả sẽ đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện hơn nữa chế định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần tại Việt Nam ở chương 3. Luận văn: Quy định về Ban kiểm soát trong công ty cổ phần.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp chế định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Chế định Ban kiểm soát trong công ty cổ phần