Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về trách nhiệm sản phẩm tại tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm

2.1.1. Quy định của pháp luật hiện hành về trách nhiệm sản phẩm

Pháp luật Việt Nam hiện nay chưa có một chế định riêng về trách nhiệm sản phẩm. Mặc dù chế định trách nhiệm sản phẩm còn khá mới mẻ, song trong pháp luật hiện hành của Việt Nam đã có nhiều quy định về trách nhiệm sản phẩm nhưng chủ yếu có ba văn bản chính có nhắc đến trách nhiệm của chủ thể chịu trách nhiệm pháp lý là Bộ luật Dân sự, Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa và Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Trong đó, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là văn bản quy định trực tiếp cơ chế bảo vệ quyền lợi người bị thiệt hại do sản phẩm khuyết tật gây ra. Trong phạm vi bàn về yêu cầu khởi kiện, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng là văn bản pháp luật chuyên ngành gần với các quy định của các nước nhất sẽ được phân tích cụ thể.

  • Quy định của Bộ luật Dân sự về trách nhiệm sản phẩm

Bộ luật Dân sự đầu tiên của Việt Nam được ban hành năm 1995 khi đất nước đang trong tiến trình chuyển đổi kinh tế từ nên kinh tế kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường. Luật pháp của Việt Nam đã quan tâm đến quy tắc quy trách nhiệm của nhà sản xuất trước những thiệt hại mà người tiêu dùng phải gánh chịu từ những sản phẩm kém chất lượng do nhà sản xuất gây ra.

Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 1995 quy định “cá nhân, pháp nhân và các chủ thể khác sản xuất, phân phối do không bảo đảm tiêu chuẩn chất lượng lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, các hàng hóa khác mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng, thì phải bồi thường”. Nguyên tắc này tiếp tục được khẳng định trong Bộ luật Dân sự năm 2015 tại Điều 608. Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng: “Cá nhân, pháp nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ không bảo đảm chất lượng hàng hoá, dịch vụ mà gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì phải bồi thường”. Tuy nhiên, quy định này vẫn không ràng buộc tuyệt đối trách nhiệm của người sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ với tính an toàn của sản phẩm do họ bán ra.

  • Quy định của Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa về trách nhiệm sản phẩm Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa số 05/2007/QH12 ban hành ngày 21 tháng 11 năm 2007 có quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trong Luật này, trách nhiệm “hoàn lại hoặc đổi hàng mới, nhận lại hàng có khuyết tật” được quy định đối với tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình sản xuất và phân phối hàng hóa tới tay người tiêu dùng, bao gồm nhà sản xuất (khoản 7 Điều 10), nhà nhập khẩu (khoản 8 Điều 12), người bán hàng (khoản 10 Điều 16). Thông qua những quy định trên có thể thấy, sự ra đời của Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa năm 2007 đã tạo ra một bước tiến trong chế định trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam khi đặt các yêu cầu về trách nhiệm đối với sản phẩm của doanh nghiệp dưới góc độ bảo vệ người tiêu dùng. Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa cho phép người tiêu dùng khiếu nại, kiện đòi bồi thường cho thiệt hại gây ra bởi sản phẩm, hàng hóa không đảm bảo chất lượng. Thời hiệu khiếu nại, khởi kiện đòi bồi thường do sản phẩm, hàng hóa không bảo đảm chất lượng gây thiệt hại cho người, động vật, thực vật, tài sản, môi trường là 02 năm kể từ thời điểm các bên được thông báo về thiệt hại với điều kiện thiệt hại xảy ra trong thời hạn sử dụng của sản phẩm, hàng hóa có ghi hạn sử dụng, và 05 năm kể từ ngày giao hàng đối với sản phẩm, hàng hóa không ghi hạn sử dụng. Các thiệt hại được yêu cầu bồi thường có thể là: (i) Thiệt hại về giá trị hàng hóa, tài sản bị hư hỏng hoặc bị hủy hoại, (ii) thiệt hại về tính mạng, sức khỏe con người, (iii) thiệt hại về lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác hàng hóa, tài sản và (iv) chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế và khắc phục thiệt hại.

Có thể thấy rằng, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa ra đời đã tiếp cận gần hơn đối với chế định trách nhiệm sản phẩm. Tuy nhiên, hạn chế của luật này ở khía cạnh bảo vệ người tiêu dùng là cách tiếp cận từ góc độ quản lý chất lượng. Cụ thể là Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa tiếp cận vấn đề từ góc độ chất lượng “mức độ của các đặc tính của sản phẩm, hàng hóa đáp ứng yêu cầu trong tiêu chuẩn công bố áp dụng, quy chuẩn kỹ thuật tương ứng”. Như vậy, không đảm bảo chất lượng đồng nghĩa với không đáp ứng được tiêu chuẩn, quy chuẩn tương ứng. Cách tiếp cận này chưa thực sự giúp bảo vệ người tiêu dùng một cách hiệu quả. Quy định về thời hiệu cũng thiếu nhất quán so với Bộ luật Dân sự, do vậy khi đưa vào thực thi sẽ gây ra những khó khăn.

  • Quy định của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng về trách nhiệm sản phẩm Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ra đời năm 2010 được đánh giá là có nhiều bước tiến vượt bậc trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Được xây dựng trên cơ sở Pháp lệnh Bảo vệ người tiêu dùng năm 1992, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng được trông đợi là sẽ tạo ra những thay đổi đáng kể, nhằm đảm bảo tốt hơn quyền lợi của người tiêu dùng, cũng như ràng buộc nhà sản xuất chịu trách nhiệm nhiều hơn với các sản phẩm mà họ đưa ra thị trường.

Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có quy định: “Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật”. Như vậy, có thể khẳng định rằng, pháp luật Việt Nam có những điểm tiến bộ đáng kể khi quy định tương tự chế định trách nhiệm sản phẩm nghiêm ngặt như bản Chỉ thị của Liên minh châu Âu. So với nhiều nước trên thế giới, việc thừa nhận nguyên tắc này được xem là một điểm tiến bộ trong pháp luật Việt Nam. Để thực hiện nguyên tắc này, người tiêu dùng sẽ phải có nghĩa vụ chứng minh để phù hợp quy định của pháp luật. Các Điều 25, 26, 42 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 quy định về nghĩa vụ chứng minh của các bên. Với ba điều luật này phát sinh nhiều điểm bất hợp lý nếu như trong thực tế áp dụng vào các vụ kiện liên quan đến trách nhiệm sản phẩm. Theo đó, khoản 2 Điều 25 có quy định: “Người tiêu dùng, tổ chức xã hội có nghĩa vụ cung cấp thông tin, bằng chứng có liên quan đến hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”. Ngoài ra, khoản 1 Điều 26 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có quy định: “Khi nhận được yêu cầu của người tiêu dùng, cơ quan quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cấp huyện có trách nhiệm yêu cầu các bên giải trình, cung cấp thông tin, bằng chứng hoặc tự mình xác minh, thu thập thông tin, bằng chứng để xử lý theo quy định của pháp luật”. Với những quy định này, cơ quan quản lý sẽ yêu cầu bên thiệt hại cung cấp chứng cứ liên quan đến hành vi vi phạm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Việc này đồng nghĩa với việc nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng liên quan đến cả việc chứng minh lỗi của nhà sản xuất. Khoản 1 Điều 42 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có quy định: “Người tiêu dùng có nghĩa vụ cung cấp chứng cứ và chứng minh trong vụ án dân sự để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình theo quy định của pháp luật về tố tụng dân sự, trừ việc chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ”. Với cách quy định này, người tiêu dùng chỉ phải chứng minh thiệt hại, khuyết tật và mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và khuyết tật. Việc chứng minh không có lỗi lại thuộc nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Ngoài ra, với khái niệm rủi ro phát triển, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 có quy định điều khoản miễn trừ trách nhiệm và nội dung điều luật phản ánh được tinh thần của khái niệm này. Theo quy định tại Điều 24 của Luật này, tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá và dịch vụ được miễn trừ trách nhiệm bồi thường khi chứng minh được “khuyết tật của hàng hóa không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa cung cấp cho người tiêu dùng”. Có thể thấy được rằng, quy định này gần giống với bản Chỉ thị số 85/374/EEC khi dựa vào trình độ khoa học kỹ thuật để đưa ra yếu tố loại trừ trách nhiệm. Những quy định trên của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 dẫn đến những khó khăn và phức tạp trong việc áp dụng trong thực tiễn liên quan đến sản phẩm khuyết tật. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Thứ nhất, theo quy định, cơ quan nhận chứng cứ từ người tiêu dùng có bao gồm việc chứng minh vi phạm của tổ chức hay không? Nếu bao gồm cả việc chứng minh vi phạm thì Điều 42 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 không còn ý nghĩa khi đưa ra quy định người tiêu dùng không cần chứng minh lỗi của nhà sản xuất. Bởi lẽ, ngay từ giai đoạn đầu tiên lúc khởi kiện, người tiêu dùng đã gặp khó khăn và trở ngại khi chứng minh vi phạm, đặc biệt là lỗi của nhà sản xuất. Trong thực tiễn gần đây đã có rất nhiều hành vi vi phạm xảy ra nhưng với quy trình tố tụng như trên đã gây trở ngại rất lớn cho người tiêu dùng. Ví dụ như vụ việc nhãn hàng C2, ngày 31/5/2016, 1184 thùng C2 tương đương với 10 tấn sản phẩm vừa bị thu hồi bởi quyết định của Thanh tra Bộ Y tế do hàm lượng chì trong nước giải khát này vượt quá mức cho phép. Theo các chuyên gia y tế, nếu lượng chì ngấm 1mg/ngày trong vòng 1 tháng thì bệnh bắt đầu trông thấy là “lợi” đen, thay đổi vị giác và nguy hiểm đến tính mạng. Nếu như người tiêu dùng thông thường thì không thể nào đủ tiềm lực để cung cấp chứng cứ về việc vi phạm của tổ chức được. Nói cách khác, người tiêu dùng phải chứng minh việc hàm lượng chì quá mức cho phép trong sản phẩm C2 của nhà sản xuất URC tại Hà Nội và việc này tốn rất nhiều thời gian và tiền bạc của họ. Cho nên chưa có một tiền lệ hay một nguyên tắc nào để một cá nhân khởi kiện trong trường hợp này và quyền lợi người tiêu dùng vẫn bị vi phạm hằng ngày mà chưa có một cơ chế bảo vệ hữu hiệu.

Thứ hai, so sánh với pháp luật châu Âu, bản Chỉ thị số 85/374/EEC có quy định dựa theo nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt kèm với quy định không quan tâm đến việc nhà sản xuất có lỗi hay không. Trái lại, với pháp luật Việt Nam dường như có sự pha trộn giữa nguyên tắc trách nhiệm nghiêm ngặt và trách nhiệm dựa vào lỗi. Nói cách khác, theo quy định tại Điều 23 Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010, không quan trọng nhà sản xuất hay kinh doanh có lỗi hay không nhưng trong Điều 42 của Luật này thì yêu cầu nhà sản xuất, kinh doanh phải chứng minh mình không có lỗi. Với cách quy định như vậy rất khó khăn trong việc xem xét chứng cứ của các bên trong vụ việc liên quan đến sản phẩm khuyết tật.

Thứ ba, khi phân tích kỹ về mặt nội dung rủi ro phát triển, điều luật này khác với bản Chị thị số 85/374/EEC. Theo đó, việc chứng minh trình độ khoa học kỹ thuật trong pháp luật Việt Nam phụ thuộc ý chí chủ quan của nhà sản xuất. Nếu như bản Chỉ thị 85/374/EEC sử dụng cụm từ “được phát hiện” nhằm nhấn mạnh kiến thức để nhận biết khuyết tật và không chỉ ra chủ thể nào phát hiện, thì pháp luật Việt Nam lại hướng đến việc cá nhân, tổ chức kinh doanh sản phẩm phát hiện khuyết tật. Nói cách khác, bản Chỉ thị này đưa ra tình trạng khách quan của khoa học kỹ thuật khi phát hiện ra khuyết tật còn Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 hướng đến việc chứng minh mang tính chủ quan của bị đơn. Điều này dẫn đến tình trạng nhà sản xuất sẽ dựa vào kiến thức chủ quan của mình để chứng minh không có lỗi đối với sản phẩm có khuyết tật và quyền lợi người tiêu dùng sẽ không được đảm bảo một cách hiệu quả. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Tuy nhiên, hiệu lực thực tế của luật còn phụ thuộc khá nhiều vào các văn bản dưới luật. Nghị định 99/2011/NĐ-CP ngày 27-10-2011 về “Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật bảo vệ người tiêu dùng” đã được ban hành. Đối với hàng hóa có khuyết tật, Nghị định cũng quy định rõ khi phát hiện hàng hóa có khuyết tật, tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hoá có trách nhiệm kịp thời tiến hành mọi biện pháp cần thiết để ngừng việc cung cấp hàng hóa có khuyết tật trên thị trường. Đồng thời, cá nhân, tổ chức này phải thông báo công khai về việc thu hồi hàng hóa và tiến hành thu hồi theo nội dung đã thông báo công khai. Tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp hàng hóa có khuyết tật do mình cung cấp gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả khi tổ chức, cá nhân đó không biết hoặc không có lỗi trong việc phát sinh khuyết tật, trừ trường hợp được miễn trách nhiệm khi chứng minh được khuyết tật của hàng hoá không thể phát hiện được với trình độ khoa học, kỹ thuật tại thời điểm tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá cung cấp cho người tiêu dùng. Qua đó có thể thấy, quy định của pháp luật Việt Nam đã tiếp cận được nhiều nội dung tiến bộ, cụ thể và sát với thực tiễn hơn so với các văn bản luật đã ban hành trước đó.

Như vậy, Bộ luật Dân sự, Luật chất lượng sản phẩm, hàng hóa, Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng cùng với một số luật khác đã xác định trách nhiệm của nhà cung cấp trong việc cung cấp cho người mua sản phẩm không có khiếm khuyết, các trường hợp miễn trừ trách nhiệm đối với người bán, người cung ứng sản phẩm khiếm khuyết. Quy định này có ý nghĩa quan trọng trong việc khẳng định chính sách bảo vệ người tiêu dùng của nhà nước. Tuy nhiên, những quy định này chưa thể tạo thành chế định trách nhiệm sản phẩm do không được xây dựng dựa trên các nền tảng của chế định trách nhiệm sản phẩm và do tiếp cận chủ yếu từ góc độ quản lý ngành, lĩnh vực. Các quy định hiện hành mới chỉ dừng lại ở những bước đi ban đầu đến chế định trách nhiệm sản phẩm, mà chưa thể là một công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng. Khi áp dụng chế độ trách nhiệm sản phẩm dựa vào yếu tố lỗi của nhà sản xuất thì quy định này gây rất nhiều khó khăn cho người tiêu dùng khi khởi kiện để yêu cầu bồi thường thiệt hại. Vì vậy, khi có thiệt hại do sản phẩm khiếm khuyết gây ra thì người tiêu dùng Việt Nam vẫn khó thực hiện quyền được khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại một cách hiệu quả. Ngoài ra, sự tồn tại của nhiều quy định về trách nhiệm sản phẩm như hiện nay cũng gây ra sự tản mạn, chồng chéo và thậm chí là mâu thuẫn trong hệ thống các quy định pháp luật, khiến cho mục tiêu bảo vệ người tiêu dùng chưa thực sự hữu hiệu.

2.1.2. Thực trạng các quy định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Trong thời đại ngày nay, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng bằng chế định trách nhiệm sản phẩm là một giải pháp khá tối ưu, nhưng hiện nay pháp luật Việt Nam hiện hành chưa quy định về trách nhiệm sản phẩm. Nguồn gốc trách nhiệm sản phẩm bắt nguồn từ trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng không dựa trên yếu tố lỗi. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra sau khi phát sinh các điều kiện cần và đủ sau:

  • Có tồn tại hàng hóa khuyết tật:

Hàng hóa có khuyết tật là hàng hóa không đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng, có khả năng gây thiệt hại cho tính mạng, sức khỏe, tài sản của người tiêu dùng, kể cả trường hợp hàng hóa có được sản xuất đúng theo tiêu chuẩn hoặc quy chuẩn kỹ thuật hiện hành nhưng chưa phát hiện ra được khuyết tật tại thời điểm hàng hóa được cung cấp cho người tiêu dùng, bao gồm: Hàng hóa sản xuất hàng loạt có khuyết tật phát sinh từ thiết kế kỹ thuật; Hàng hóa đơn lẻ có khuyết tật phát sinh từ quá trình sản xuất, chế biến, vận chuyển, lưu giữ; Hàng hóa tiềm ẩn nguy cơ gây mất an toàn trong quá trình sử dụng nhưng không có hướng dẫn, cảnh báo đầy đủ cho người tiêu dùng.

Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hàng hóa có khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng là những hậu quả bất lợi về mặt vật chất mà tổ chức, cá nhân phải gánh chịu do cung cấp hàng hóa có khuyết tật gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng, không phụ thuộc vào tổ chức, cá nhân đó có lỗi hay không trong việc tạo ra hàng hóa khuyết tật. Điều này phản ánh tính bảo vệ người tiêu dùng một cách toàn vẹn và chặt chẽ cũng như đề cao tinh thần trách nhiệm trong sản xuất của doanh nghiệp.

  • Có thiệt hại xảy ra đối với người tiêu dùng: Bao gồm thiệt hại cả về tài sản và tinh thần cho người tiêu dùng.

Thiệt hại về tài sản được biểu hiện cụ thể là những mất mát về tài sản, giảm sút tài sản, những chi phí để ngăn chặn, hạn chế, sữa chữa, thay thế, những lợi ích gắn liền với việc sử dụng, khai thác công dụng của tài sản. Thiệt hại về tính mạng, sức khỏe bao gồm các chi phí cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc, phục hồi chức năng bị mất, thu nhập thực tế bị mất, bị giảm sút do thiệt hại về tính mạng, sức khỏe. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Thiệt hại về tinh thần theo quy định hiện hành của pháp luật Việt Nam đó là những thiệt hại do danh dự, nhân phẩm, uy tín bị xâm phạm hoặc những suy sụp tình cảm, tâm lý của người tiêu dùng do ảnh hưởng từ việc sử dụng sản phẩm, hàng hóa.

Trong trường hợp hàng hóa, sản phẩm gây thiệt hại cho người tiêu dùng được xác định là trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Theo điều 604 Bộ luật Dân sự, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại áp dụng cả lỗi cố ý và vô ý. Cụ thể, nghĩa vụ bồi thường thiệt hại phát sinh do lỗi cố ý khi một người nhận thức rõ ràng về hành vi của mình sẽ gây ra thiệt hại cho người khác mà vẫn thực hiện và mong muốn hoặc tuy không mong muốn nhưng để mặc cho thiệt hại xảy ra. Như trường hợp người bán biết hàng hóa đã hết hạn sử dụng nhưng vẫn bán cho người tiêu dùng, hoặc trường hợp dùng hàng hết hạn để làm từ thiện. Trong trường hợp gây thiệt hại do lỗi vô ý là khi một người không thấy trước được hành vi của mình là có khả năng gây thiệt hại, mặc dù phải biết hoặc có thể biết trước hành vi của mình có khả năng gây thiệt hại, nhưng cho rằng thiệt hại không xảy ra hoặc có thể ngăn chặn được.

  • Trường hợp xảy ra có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại và hàng hóa khuyết tật:

Thiệt hại xảy ra là kết quả từ việc người tiêu dùng sử dụng hàng hóa có khuyết tật hay ngược lại khuyết tật của hàng hóa là nguyên nhân xảy ra thiệt hại. Trách nhiệm sản phẩm được hiểu là người sản xuất phải chịu trách nhiệm nếu như sản phẩm bị kém chất lượng và việc sử dụng sản phẩm kém chất lượng này trong điều kiện bình thường gây ra những thiệt hại cho người sử dụng. Trong quá trình sử dụng, sản phẩm đã gây ra những tổn thất, thiệt hại cho người tiêu dùng, thiệt hại này được chứng minh do chính quá trình sử dụng sản phẩm gây ra.

Đánh giá thực trạng các quy định pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất.

  • Tổ chức, cá nhân sản xuất hàng hóa:

Đây chính là người chế biến nguyên liệu thô và là người xuất bán sản phẩm, chủ thể này có thể có mối liên hệ trực tiếp với người tiêu dùng hoặc không có mối liên hệ trực tiếp. Điều kiện cần để xác định một chủ thể có thuộc diện phải chịu trách nhiệm chỉ phụ thuộc vào việc người đó trực tiếp có mối liên hệ trực tiếp đối với sản phẩm mà người tiêu dùng đã sử dụng hay không. Mối liên hệ trực tiếp đối với sản phẩm có thể là một trong các hình thức sau: là người sản xuất ra sản phẩm, người sản xuất ra sản phẩm bao gồm cả người sản xuất ra sản phẩm hoàn chỉnh hoặc là người sản xuất ra một phần, một bộ phận trong sản phẩm hoàn chỉnh đó. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

  • Tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa:

Do chuỗi cung ứng hàng hóa gồm nhiều chủ thể, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm quyền lợi người tiêu dùng không hề dễ dàng. Có thể hình dung chu trình tiêu dùng được phân làm ba công đoạn: Trước khi giao dịch; trong giao dịch và trong quá trình sử dụng hàng hóa, dịch vụ. Vai trò của tổ chức, cá nhân nhập khẩu hàng hóa trong từng công đoạn của chu trình tiêu dùng là khác nhau và hoàn toàn có thể là đối tượng có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại khi có tranh chấp phát sinh. Các chủ thể này liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do hàng hóa khuyết tật gây ra cho người tiêu dùng, và chỉ được loại trừ trách nhiệm hình sự trong một số trường hợp nhất định

  • Tổ chức, cá nhân gắn tên thương mại lên hàng hóa hoặc sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại:

Việc sử dụng nhãn hiệu, chỉ dẫn thương mại cho phép nhận biết đó là tổ chức, cá nhân sản xuất, nhập khẩu hàng hóa cũng là chủ thể có liên quan tới việc chịu trách nhiệm sản phẩm trong trường hợp người tiêu dùng phải chịu thiệt hại trong quá trình sử dụng sản phẩm. Đây là chủ thể trung gian, nhưng cũng là chủ thể trong chuỗi cung ứng sản phẩm đến tay người tiêu dùng, trong quá trình tiếp nhận sản phẩm đã không hoặc cố ý không kiểm tra chất lượng sản phẩm, mà vẫn sử dụng sản phẩm lỗi để bán ra thị trường, bởi vậy trong việc xác định trách nhiệm sản phẩm không thể bỏ qua chủ thể trung gian này.

  • Tổ chức, cá nhân trực tiếp cung cấp hàng hóa khuyết tật cho người tiêu dùng:

Đây chính là mắt xích quan trọng, cần có những chế tài riêng để quản lý nhóm cá nhân, tổ chức này. Bởi đây là đối tượng trực tiếp giao hàng cho người tiêu dùng, mọi thắc mắc về sản phẩm của người tiêu dùng do chủ thể này tiếp nhận, xử lý và làm hài lòng người tiêu dùng. Trong khi ngày càng nhiều sản phẩm cạnh tranh nhau, việc đưa ra chế tài cụ thể cho các chủ thể chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại, có ý thức hơn trong việc lựa chọn sản phẩm để cung cấp cho người tiêu dùng. Nếu quy định chặt chẽ thì khâu chuyển tải tới người tiêu dùng sẽ giảm thiểu những lỗi trách nhiệm về sản phẩm rất nhiều.

Việc ghi nhận các chủ thể trên có thể coi là một hướng dẫn quan trọng, mở rộng đáng kể phạm vi một bên chủ thể cung ứng hàng hóa có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do hàng hóa khuyết tật gây ra. Tạo điều kiện thuận lợi trong việc xác định trách nhiệm sản phẩm, từ đó có cái nhìn sâu sát, xác định đúng trách nhiệm cho ai, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong thời kỳ số hóa, công nghiệp hóa ngày càng nhanh và mạnh. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

  • Được quy định cụ thể trong văn bản luật:

Trước hết nói đến từ chỗ ghi nhận trách nhiệm của doanh nghiệp đối với chất lượng sản phẩm hàng hóa như một loại trách nhiệm dân sự cụ thể đã phát triển thành một chế định pháp luật được tách ra khỏi Bộ Luật dân sự để điều chỉnh trong văn bản pháp luật chuyên ngành đó chính là Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010. Có thể nhận thấy ở giai đoạn trước năm 2010, mặc dù đã có những yếu tố nội dung nền tảng nhưng pháp luật Việt Nam vẫn chưa thực sự định hình chính thức chế định trách nhiệm sản phẩm (chưa quy định rõ khái niệm trách nhiệm sản phẩm, sản phẩm khuyết tật, nguyên tắc áp dụng trách nhiệm sản phẩm, thu hồi sản phẩm có khuyết tật…). Điều này đã dẫn đến thực tế các vi phạm về trách nhiệm sản phẩm không có đủ cơ sở để xử lý, áp đặt trách nhiệm cho các doanh nghiệp.

Một trong những nội dung đáng chú ý của Luật Bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng năm 2010 là quy định người tiêu dùng không có nghĩa vụ phải chứng minh lỗi sản phẩm. Cụ thể, Điều 42 của Luật quy định nghĩa vụ chứng minh trong vụ án dân sự về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Nhưng việc quy định người tiêu dùng không có nghĩa vụ chứng minh lỗi trong vụ án dân sự không có nghĩa là miễn trừ tất cả nghĩa vụ chứng minh của người tiêu dùng. Để thực hiện việc khởi kiện, người tiêu dùng vẫn phải chứng minh thiệt hại, cung cấp chứng cứ về thiệt hại cũng như hành vi gây ra thiệt hại mà không cần phải chứng minh lỗi của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ gây ra thiệt hại đó. Quy định này xuất phát từ vị trí yếu thế của người tiêu dùng trong mối quan hệ với tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ. Vì vậy, căn cứ phát sinh trách nhiệm chính là khuyết tật sản phẩm và thiệt hại đã xảy ra. Ở đây, người tiêu dùng không cần chứng minh lỗi này, mà nghĩa vụ chứng minh mình có lỗi hay không là ở phía các nhà sản xuất, nhà cung ứng nếu họ muốn miễn trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Việc xác định căn cứ, dựa trên đó xác định khuyết tật sản phẩm là yếu tố vô cùng quan trọng để xác định trách nhiệm nghiêm ngặt. Một sản phẩm bị coi là có khuyết tật khi sản phẩm đó không đảm bảo an toàn ở mức độ mà người ta có thể trông chờ được một cách hợp lí.

  • Quy định trách nhiệm bồi thường không phụ thuộc vào yếu tố lỗi:

Theo quy định tại Điều 275 Bộ luật Dân sự 2015 (BLDS 2015), một trong những căn cứ làm phát sinh nghĩa vụ dân sự là sự kiện “gây thiệt hại do hành vi trái pháp luật” và tương ứng với căn cứ này là các quy định tại Chương XX, Phần thứ ba BLDS 2015 về “Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng”. Trong trường hợp này, trách nhiệm được hiểu là bổn phận, nghĩa vụ của người gây thiệt hại phải bồi thường cho người bị thiệt hại. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng làm phát sinh nghĩa vụ bồi thường và từ nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại tạo ra quan hệ nghĩa vụ tương ứng. Căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại là cơ sở pháp lý mà dựa vào đó, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, BLDS 2015 đã được sửa đổi và có sự tiến bộ so với BLDS 2005. Cụ thể, khoản 1 Điều 584 quy định: “Người nào có hành vi xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác của người khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường, trừ trường hợp Bộ luật này, luật khác có liên quan quy định khác”. Như vậy, trong BLDS 2015, căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là “hành vi xâm phạm của người gây thiệt hại”. Theo quy định tại Điều 604 BLDS 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng yêu cầu người gây thiệt hại phải có “lỗi cố ý hoặc vô ý”. Với quy định như vậy, ngoài việc chứng minh người gây thiệt hại có hành vi trái pháp luật, người bị thiệt hại cần phải chứng minh người gây thiệt hại có lỗi. BLDS 2015 đã quy định về căn cứ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo hướng có lợi cho người bị thiệt hại.

Ngoài ra, BLDS 2015 đã mở rộng phạm vi áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. BLDS 2005 quy định về các đối tượng bị xâm phạm trong căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo hướng liệt kê. Cụ thể, khoản 1 Điều 604 quy định: “Người nào có lỗi cố ý hoặc vô ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, xâm phạm danh dự, uy tín, tài sản của pháp nhân hoặc chủ thể khác mà gây thiệt hại thì phải bồi thường”. Với quy định như trên, đối với cá nhân, BLDS 2005 có phạm vi điều chỉnh rất rộng. Tuy nhiên, đối với pháp nhân, BLDS 2005 chỉ liệt kê ba đối tượng bị xâm phạm là “danh dự, uy tín, tài sản”. Quy định mới tại khoản 1 Điều 584 BLDS 2015 đã khắc phục được nhược điểm trên, theo đó, đối tượng bị xâm phạm làm phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cá nhân và pháp nhân bao gồm “tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, uy tín, tài sản, quyền, lợi ích hợp pháp khác”.

2.2. Thực thi pháp luật trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp Việt Nam Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

2.2.1. Mức độ tuân thủ quy định về trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp hiện nay

Việt Nam đang trên con đường xây dựng và hoàn thiện nền kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân, người tiêu dùng Việt Nam vẫn chưa thực sự được hưởng những lợi ích từ nền kinh tế thị trường, quyền lợi vẫn bị xâm phạm, chất lượng cuộc sống cũng chưa được nâng lên một cách rõ rệt. Có thể dễ dàng nhận thấy so với nhiều quốc gia trong khu vực, hầu hết các mặt hàng tiêu dùng, hàng điện tử, máy móc, thiết bị… trên thị trường Việt Nam đều có chất lượng thấp hơn, hiện tượng này xuất hiện cả với hàng hóa sản xuất trong nước và hàng hóa nhập khẩu. Các sản phẩm sản xuất trong nước “Người Việt Nam ưu tiên dùng hàng Việt Nam” (trước đây khẩu hiệu này là “Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam”), nếu thực hiện được điều này thì không những sẽ giúp thúc đẩy nền sản xuất trong nước phát triển mà còn giúp tiết kiệm lượng ngoại tệ dành cho nhập khẩu. Không thể phủ nhận nền sản xuất nội địa của Việt Nam hiện nay đã phát triển hơn trước rất nhiều, hàng loạt khu công nghiệp, khu chế xuất, các nhà máy lớn được xây dựng dựa trên vốn đầu tư từ nước ngoài và huy động trong nước. Nhiều công ty lựa chọn Việt Nam để đặt nhà máy sản xuất, thuê gia công sản phẩm của họ vì giá thuê nhân công tương đối rẻ: vừa qua Intel đã đầu tư tới một tỷ đô la để xây dựng nhà máy sản xuất chip máy tính lớn nhất thế giới tại thành phố Hồ Chí Minh; hiện nay kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may của Việt Nam đã vượt qua xuất khẩu dầu mỏ để chiếm vị trí cao nhất trong số các mặt hàng xuất khẩu đóng góp nhiều cho tổng thu nhập quốc dân. Các mặt hàng điện tử, sản phẩm gia dụng, dược phẩm, mỹ phẩm… cũng được sản xuất với quy mô lớn, có thể đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nước.

Tuy nhiên, người tiêu dùng Việt Nam vẫn không đánh giá cao sản phẩm được sản xuất trong nước, ngoài nguyên nhân tâm lý tiêu dùng thì bản thân chất lượng những sản phẩm nội địa cũng là một yếu tố tác động đến sự đánh giá của người tiêu dùng. Điển hình như trong lĩnh vực thực phẩm, hàng loạt các loại thực phẩm bị phát hiện là không an toàn, đặc biệt là trong những năm gần đây như một số loại rau có dư lượng thuốc bảo vệ thực vật vượt mức cho phép, nước tương, nước mắm chứa chất gây ung thư, mắm tôm là nguyên nhân của dịch tả… Chất lượng của các sản phẩm máy móc, thiết bị điện tử sản xuất tại Việt Nam cũng không được đánh giá cao khi so sánh với các sản phẩm được sản xuất tại Thái Lan, Nhật Bản… Ngay cả nhãn hiệu xe máy thường được đánh giá là bền, an toàn và tiết kiệm như Honda cũng bị không ít người tiêu dùng phàn nàn về chất lượng. Nhìn chung, mặc dù sức sản xuất đã được nâng cao nhưng chất lượng hạn chế và sự thiếu thông tin trong kinh doanh vẫn khiến người tiêu dùng Việt Nam không an tâm khi sử dụng các sản phẩm nội địa.

  • Các sản phẩm nhập khẩu Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Chính vì những trường hợp như trên mà người tiêu dùng Việt Nam thường có tâm lý tin tưởng vào chất lượng và thích sử dụng hàng hóa nhập khẩu, đặc biệt là các mặt hàng điện tử, dược phẩm, mỹ phẩm… dù các mặt hàng này thường có giá cao hơn hàng nội địa khá nhiều. Thực tế thì các sản phẩm nhập khẩu thường có chất lượng khá tốt vì phải đáp ứng một số tiêu chuẩn nhất định cho từng loại mặt hàng thì mới được phép xuất khẩu hay nhập khẩu vào bất cứ quốc gia nào. Nhưng trong thực tế, rất nhiều các loại hàng hóa được vận chuyển qua đường tiểu ngạch vào Việt Nam, mà nguồn gốc chủ yếu của những mặt hàng này là từ Trung Quốc, Lào, Campuchia, nơi trình độ sản xuất và chất lượng sản phẩm cũng không được đánh giá cao. Rất nhiều sản phẩm nhập lậu vào Việt Nam từ Trung Quốc là hàng không rõ nguồn gốc xuất xứ và chứa những hóa chất độc hại với sức khỏe con người và môi trường.

Một thực tế khác trong hoạt động buôn bán kinh doanh tại Việt Nam là lợi dụng tâm lý thích các sản phẩm nhập khẩu để kiếm lợi. Ví dụ như trong ngành dược phẩm, cùng một công dụng chữa bệnh, cùng sử dụng những thành phần tương tự nhau nhưng các loại thuốc ngoại thường có giá gấp đôi, gấp ba giá các loại thuốc nội. Các sản phẩm gắn liền với sinh hoạt hàng ngày như hóa mỹ phẩm, thực phẩm, đồ gia dụng cũng thường được quảng cáo với chất lượng và giá thành vượt hơn hẳn so với các sản phẩm cùng loại được sản xuất trong nước. Tính đến nay, những vụ việc gian lận, ảnh hưởng đến sức khỏe của nhiều người tiêu dùng như trên vẫn chỉ được xử lý nặng nhất là phạt hành chính, chưa có sức răn đe.

  • Các sản phẩm xuất khẩu

Khi xem xét thực trạng trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam, ngoài tình hình hàng hóa sản xuất và tiêu dùng trong nước, cũng như hàng hóa được nhập khẩu vào Việt Nam, không thể không đề cập đến những sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường lớn, có quy định nghiêm ngặt như Mỹ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản…

Mặc dù Mỹ, Nhật Bản và Liên minh châu Âu là những thị trường lớn, chiếm tới 49% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam, nhưng với những tiêu chuẩn chất lượng cực kỳ khắt khe của những thị trường này, số lô hàng xuất khẩu của Việt Nam bị trả lại ở ba thị trường này cũng là lớn nhất. Những lô hàng bị trả lại vì chúng có nguy cơ gây tác hại đối với sức khỏe người tiêu dùng ở các nước đó do dư lượng các loại thuốc kháng sinh, chất độc, chất bẩn có trong sản phẩm. Đối với việc chăn nuôi thủy sản thì những loại kháng sinh này có tác dụng quan trọng trong việc diệt khuẩn ao nuôi, trị bệnh cho tôm, cá… Chloramphenicol là thành phần chính trong nhiều loại thuốc chữa bệnh cho các loại tôm, cá như bệnh nhiễm trùng máu ở cá, bệnh phát sáng, bệnh đốm nâu cho tôm, bệnh mòn vỏ kitin cho các loài giáp xác… Flouroquinolones cũng là một loại kháng sinh phổ rộng, được dùng để chữa bệnh nhiễm trùng ở người, đã bị cấm sử dụng trong thực phẩm ở Mỹ. Nếu người tiêu dùng sử dụng các loại thực phẩm chứa hàm lượng thuốc kháng sinh cao trong thời gian dài thì có thể bị nhờn thuốc với các loại kháng sinh, thậm chí có thể gây rối loạn nội tiết nếu tích tụ lâu dài. Như vậy, nếu các sản phẩm này được tiêu thụ và gây ảnh hưởng tới sức khỏe của người tiêu dùng ở các nước nhập khẩu thì doanh nghiệp Việt Nam rất có thể sẽ phải đối mặt với những khiếu nại liên quan đến trách nhiệm sản phẩm. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Chỉ riêng với thị trường Nhật Bản, hệ thống kiểm dịch và tiêu chuẩn nhập khẩu nông sản thực phẩm ở Nhật Bản hết sức ngặt nghèo, có yêu cầu cao về chất lượng và kiểm dịch. Cũng bởi vậy, cơ cấu xuất khẩu nông sản sang thị trường lớn thứ 4 của Việt Nam này lại vẫn còn khiêm tốn so với chính nhu cầu thị trường. Cụ thể, nhu cầu nhập khẩu rau của Nhật hiện là 2,5 tỷ USD/năm, nhưng năm 2018, Việt Nam mới chỉ xuất khẩu được khoảng 34 triệu USD. Đặc biệt, trong 3,4 tỷ USD/năm nhu cầu nhập trái cây của Nhật, Việt Nam đến nay mới chỉ xuất khẩu được 36 triệu USD.

Đặc biệt, việc thiếu quan tâm đúng mực tới sản xuất quy trình đảm bảo về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật cũng như chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm mà nhiều thị trường phát triển đã có cảnh bảo với sản phẩm nông sản Việt như EU, Mỹ… điều này khiến không thể thâm nhập thị trường, kéo theo giá trị gia tăng của nông sản cũng kém. Mới đây, EU cũng trả về 17 lô nông, thủy sản của Việt Nam do không đáp ứng các tiêu chuẩn về an toàn vệ sinh thực phẩm. Bộ Công thương cho biết: Từ ngày 1/1 đến 1/5/2019, Hệ thống Cảnh báo Nhanh của EU đối với mặt hàng thức ăn và thực phẩm nguy cơ gây rủi do cho sức khỏe cộng đồng (RASFF) thông báo có 09 lô hàng thủy sản và 08 lô hàng nông sản của Việt Nam bị từ chối hoặc giám sát khi nhập vào EU. Nguyên nhân là những lô hàng này không đáp ứng yêu cầu về an toàn vệ sinh thực phẩm của EU do chứa các chất vượt mức cho phép hoặc bị cấm sử dụng trong thực phẩm. Cụ thể, Tây Ban Nha từ chối nhập khẩu 08 lô hạt hạnh nhân có xuất xứ từ Australia và được chế biến tại Việt Nam do chứa chất aflatoxin vượt mức cho phép. Bỉ từ chối một lô hàng cá da trơn đông lạnh của Việt Nam.

Áo, Thụy Sĩ và Na Uy đưa sản phẩm cá tra philê, tôm và cá rô phi đông lạnh của Việt Nam vào diện giám sát với mức độ cảnh báo “chưa nghiêm trọng”. Pháp cảnh báo 1 lô hàng nhiễm chất cấm nghiêm trọng với một lô cá ngừ từ Việt Nam… Tuy nhiên, điểm đáng chú ý là, số lô hàng bị cảnh báo đã giảm rõ rệt, từ 128 lô trong năm 2016 còn 125 lô trong năm 2017. Tính riêng quý I năm 2018, con số bị cảnh báo chỉ là 23 lô. Nếu trên cơ sở qúy I để tính chung cả năm 2018, dự kiến số lô hàng bị cảnh báo khoảng trên 80 lô. Tình hình các lô hàng thủy sản xuất khẩu bị cảnh báo vi phạm các quy định về an toàn thực phẩm tại các thị trường nhập khẩu mặc dù đã giảm nhưng vẫn ở mức cao, ảnh hưởng không tốt đến hình ảnh, uy tín sản phẩm thủy sản Việt Nam trên thị trường thế giới, làm giảm hiệu quả kinh tế của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản và tác động tiêu cực đến đời sống của ngư dân và người nuôi trồng thủy sản. Nguyên nhân xảy ra tình trạng trên có thể kể đến là: (1) Một số hóa chất, kháng sinh bị cấm sử dụng trong nuôi trồng thủy sản nhưng vẫn được sử dụng trong y tế, công nghiệp và chăn nuôi động vật trên cạn. Việc phối hợp để kiểm soát chưa chặt chẽ, các hộ nuôi thủy sản có thể dễ dàng tiếp cận và lạm dụng trong nuôi trồng thủy sản, (2) vẫn còn hiện tượng nhập lậu hóa chất, kháng sinh, thuốc thú y không rõ nguồn gốc xuất xứ và bị lạm dụng trong nuôi trồng thủy sản, (3) Việc quản lý, cấp phép cũng như kiểm tra, giám sát lưu thông, mua bán, sử dụng các sản phẩm thuốc thú y, sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường trong nuôi trồng thủy sản chưa chặt chẽ, dẫn đến việc các hộ nuôi lạm dụng dẫn đến gây tồn dư trong sản phẩm, (4) Phần lớn các cơ sở nuôi trồng, cơ sở thu mua thủy sản của Việt Nam nhỏ lẻ, chưa đáp ứng đầy đủ quy định về điều kiện bảo đảm an toàn thực phẩm. Bên cạnh đó, vẫn còn một số cơ sở vì lợi ích trước mắt đã sử dụng hóa chất, kháng sinh để bảo quản thủy sản, (5) Chương trình quản lý chất lượng của các doanh nghiệp chế biến xuất khẩu thủy sản chưa được thường xuyên rà soát, cập nhật để kiểm soát hiệu quả vệ sinh, an toàn thực phẩm. Để xử lý dứt điểm vấn đề các lô hàng thủy sản bị cảnh báo các chỉ tiêu an toàn thực phẩm đặc biệt là tồn dư hóa chất, kháng sinh vượt mức quy định tại các thị trường nhập khẩu, Thủ tướng Chính phủ đã phải ban hành Chỉ thị 09/CT-TTg năm 2018 ngày 04-4-2018 về khắc phục tình trạng các lô hàng thủy sản Việt Nam bị nước ngoài trả về. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Những sự việc như trên ảnh hưởng rất lớn đến công việc kinh doanh cũng như danh tiếng của các loại hàng hóa xuất xứ từ Việt Nam. Các loại thủy hải sản của Việt Nam, đặc biệt là cá tra, cá ba sa, tôm, cua… là một trong những mặt hàng xuất khẩu nổi tiếng, mang lại giá trị kinh tế lớn của Việt Nam vào thị trường các nước phát triển, đặc biệt là Mỹ. Nếu gây tai tiếng và bị từ chối tại thị trường này thì việc tìm đầu ra cho các loại sản phẩm này sẽ rất khó khăn, gây thiệt hại cho doanh nghiệp xuất khẩu, doanh nghiệp chế biến và người chăn nuôi thủy sản trong nước. Tuy nhiên, hiện nay, do trình độ sản xuất còn hạn chế, quy mô sản xuất nhỏ nên việc áp dụng các quy trình sản xuất khép kín, đáp ứng các tiêu chuẩn nghiêm ngặt của các nước nhập khẩu đối với các hộ nuôi thủy sản là rất khó. Như vậy, ngoài việc người nuôi trồng, chế biến, kinh doanh sản phẩm thủy sản của Việt Nam phải ý thức được trách nhiệm của mình, tìm hiểu quy định pháp luật của các thị trường nhập khẩu thì người nuôi trồng thủy sản cũng đặc biệt cần tới sự hướng dẫn, đào tạo, giúp đỡ về vốn cũng như quy trình kỹ thuật để có thể sản xuất được những sản phẩm sạch, đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh.

2.2.2. Mức độ quan tâm của doanh nghiệp đến việc thực thi trách nhiệm sản phẩm

Thực trạng vi phạm chất lượng hàng hóa, dịch vụ của doanh nghiệp vẫn xảy ra cho thấy doanh nghiệp Việt Nam chưa thực sự quan tâm đến việc thực thi trách nhiệm sản phẩm. Nhiều doanh nghiệp vẫn chưa chú trọng lắng nghe và tiếp thu ý kiến của người tiêu dùng. Trong thực tế, khi nhận được khiếu nại của người tiêu dùng liên quan đến hàng hóa, dịch vụ do mình cung cấp, một số doanh nghiệp chưa có biện pháp xử lý một cách kịp thời và hợp lý, thậm chí tìm nhiều cách để thoái thác trách nhiệm của mình. Điển hình như vụ việc sản phẩm kém chất lượng của Công ty Tân Hiệp Phát. Bên cạnh đó, hầu hết các doanh nghiệp chưa nhận thức được trách nhiệm sản phẩm không chỉ là vấn đề tuân thủ pháp luật mà còn liên quan đến trách nhiệm đạo đức, trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp cũng chưa hiểu được nếu thực hiện đúng các quy định về pháp luật nói chung và các quy định liên quan đến trách nhiệm sản phẩm nói riêng là đồng thời doanh nghiệp đang nâng cao uy tín, danh dự của chính đơn vị mình.

Ở các nước phát triển, một hình thức mà các doanh nghiệp thể hiện việc thực thi pháp luật một cách có hiệu quả là sản phẩm khuyết tật được phát hiện sẽ bị thu hồi một cách tự giác. Điều này thể hiện ý thức đạo đức và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp mà cả ở góc độ kinh tế và pháp luật, nếu sản phẩm đó gây thiệt hại cho người tiêu dùng thì nguy cơ phải đối mặt với kiện tụng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn lớn hơn nhiều so với việc doanh nghiệp tự thu hồi sản phẩm. Thời gian gần đây, một số doanh nghiệp tại Việt Nam cũng đã thể hiện được tinh thần và thái độ tuân thủ pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, ví dụ như: Công ty Lenovo (Singapore) Pte. Ltd. (Công ty Lenovo) đã tổ chức chương trình Thu hồi sản phẩm máy tính xách tay Lenovo ThinkPad X1 Carbon vào tháng 02 năm 2018 do trên các sản phẩm thuộc chương trình có một chiếc ốc chưa được vặn chặt có khả năng khiến pin của máy tính xách tay nóng lên và có khả năng dẫn đến nguy cơ cháy. Tuy nhiên, về vấn đề này, hiện nay doanh nghiệp Việt Nam vẫn chưa thể hiện ý thức cao, việc tự thu hồi sản phẩm trên thị trường còn rất ít. Việc thu hồi hầu như chỉ xảy ra đối với các công ty nước ngoài tại Việt Nam. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

  • Bảng 2.2: 09 chương trình thu hồi sản phẩm khuyết tật năm 2018

Trong thực tiễn, các doanh nghiệp Việt Nam thường không có tiêu chuẩn riêng về chất lượng góp phần bổ sung hoặc thu hẹp lỗ hổng trong quy định của pháp luật về tiêu chuẩn chất lượng hàng hóa trong những ngành nghề nhất định. Điều này cũng phản ánh ý thức của doanh nghiệp trong việc tuân thủ và tôn trọng quyền lợi của khách hàng còn hạn chế. Nếu các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thường có bộ phận luật sư, tư vấn pháp luật, bộ phận này có thể tư vấn, rà soát, kiểm tra tính hợp pháp của các hoạt động của doanh nghiệp thì các doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ thường thiếu vắng bộ phận này. Sự thiếu vắng đó làm cho quá trình nâng cao nhận thức tôn trọng pháp luật, việc kiểm tra, rà soát các hoạt động tuân thủ chất lượng ít hiệu quả. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến trên thị trường còn xuất hiện nhiều những sản phẩm không đảm bảo an toàn nhưng cũng thiếu cơ chế thực hiện trách nhiệm sản phẩm, chẳng hạn như thu hồi sản phẩm khuyết tật (Tăng Văn Nghĩa, 2019).

Phần lớn các doanh nghiệp hiện nay chưa nhận diện hết các rủi ro, chưa chuẩn bị phòng ngừa và sẵn sàng đối mặt với môi trường kinh doanh quốc tế. Do chưa có sự am hiểu đầy đủ về các yếu tố pháp luật nước ngoài và quốc tế, việc quản lý rủi ro pháp lý của các DN Việt Nam trên thị trường quốc tế chưa được bảo đảm, nhiều doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nguy cơ thiệt hại không đáng có. Nếu không hiểu biết đầy đủ các quy định về trách nhiệm sản phẩm, DN Việt Nam sẽ không thâm nhập được vào thị trường quốc tế kéo theo hàng loạt hệ quả không mong đợi khác.

2.2.3. Ý thức tự bảo vệ của người tiêu dùng liên quan đến trách nhiệm sản phẩm Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Trong mối quan hệ giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng, khi xảy ra việc hàng hóa có khuyết tật, người tiêu dùng vẫn là chủ thể chịu thiệt hại đầu tiên. Tuy nhiên, việc người tiêu dùng vẫn chưa nhận thức, ý thức được việc tự bảo vệ mình trước những rủi ro nhất định. Thực trạng đó đang diễn ra như sau:

Thứ nhất, người tiêu dùng là tất cả mọi người, là số đông trong xã hội nhưng khi hành động thì chủ yếu là hành động riêng lẻ. Trong quan hệ giao dịch với doanh nghiệp, người tiêu dùng thường đứng ở thế yếu và thường chịu thiệt thòi, nhiều khi bất bình nhưng không biết cách để đấu tranh bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Mặt khác, tình trạng ngại va chạm, ngại đến cơ quan công quyền của người tiêu dùng. Người tiêu dùng cho rằng các lợi ích thường từ các giao dịch nhỏ, giá trị tài sản thường chỉ phục vụ đời sống hàng ngày. Do đó, họ thường lựa chọn thái độ im lặng, không sử dụng sản phẩm đó nữa thay vì khiếu nại đến cơ quan Nhà nước; ít có những phản ứng quyết liệt trước những vi phạm của doanh nghiệp, chưa biết sử dụng pháp luật để bảo vệ quyền lợi của mình. Vì vậy, việc xâm phạm quyền lợi người tiêu dùng của doanh nghiệp, cá nhân kinh doanh không bị phát hiện, không được xử lý nên không được ngăn chặn kịp thời.

Thứ hai, là do người tiêu dùng thường có thói quen sử dụng sản phẩm rẻ, phù hợp với túi tiền. Tuy nhiên, bên cạnh một số ít sản phẩm có chất lượng tốt nhưng giá rẻ thì số lượng hàng nhái, hàng giả tràn lan trên thị trường với giá thành thấp hơn nhiều lần hàng thật là một sự hấp dẫn đối với người tiêu dùng. Thói quen sinh hoạt trong thời đại nền kinh tế thị trường, áp lực công việc nên nhiều người dân thường lựa chọn những sản phẩm tiện dụng, có sẵn mặc cho chất lượng thấp, không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (đồ ăn sẵn, hàng quán vỉa hè,…) cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến việc vi phạm quyền lợi người tiêu dùng vẫn còn phổ biến. Bởi vì bên cạnh việc bất chấp của các doanh nghiệp, cá nhân sản xuất kinh doanh thì việc người tiêu dùng chấp nhận, sử dụng sản phẩm, dịch vụ đó cũng vô tình tạo nên thị trường tiêu thụ cho sản phẩm, dịch vụ kém chất lượng.

Thứ ba, khi người tiêu dùng tiến hành khiếu nại, khiếu kiện (tự mình hoặc thông qua Văn phòng khiếu nại của người tiêu dùng trực thuộc VINASTAS và các Hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở các tỉnh thành) thì việc giải quyết khiếu nại, khiếu kiện của người tiêu dùng không hề đơn giản do nhiều nguyên nhân, trong đó có thể kể đến thái độ coi thường người tiêu dùng, vô tình hoặc cố ý vi phạm pháp luật về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng từ phía doanh nghiệp.

Thứ tư, các vấn đề liên quan đến trách nhiệm sản phẩm như chất lượng, độ an toàn, đo lường…thường là vấn đề khó chứng minh thiệt hại hoặc không phải lúc nào cũng có khoa học kĩ thuật chứng minh. Do đó, người tiêu dùng luôn ở vị thế yếu không thể thực hiện được việc khởi kiện để đòi bồi thường thiệt hại do các sản phẩm, dịch vụ của nhà sản xuất gây ra.

Dưới giác độ quyền lợi của người tiêu dùng, nếu có nhận thức đầy đủ về trách nhiệm sản phẩm, người tiêu dùng có thể thực hiện được quyền tự bảo vệ quyền lợi chính đáng thông qua sự phản ứng nhất định trước những trường hợp sản phẩm đưa vào sử dụng gây tổn thất cho bản thân họ. Ý thức tự bảo vệ của người tiêu dùng/khách hàng thông qua phát luật sẽ là áp lực buộc doanh nghiệp phải có nhận thức tốt hơn về trách nhiệm của doanh nghiệp trước những sản phẩm bị lỗi. Điều này sẽ làm giảm đi những nguy cơ không tuân thủ các yêu cầu chặt chẽ và nghiêm ngặt về đảm bảo chất lượng. Những hàng hóa đặc biệt có ý nghĩa trong việc thực hiện yêu cầu tuân thủ chất lượng và trách nhiệm như dược phẩm, thực phẩm, các hàng hóa là phương tiện kiểm tra, điều trị bệnh nhân, những hàng hóa có yêu cầu chính xác về thành phần hóa học nguy hiểm… Nhóm hàng hóa này thường đi kèm với những nguy cơ cao về đòi bồi thường thiệt hại do tính chất nhạy cảm về chất lượng, dễ dẫn đến không đảm bảo an toàn cho người sử dụng (Tăng Văn Nghĩa. 2019). 

Cùng với quá trình toàn cầu hóa, phong trào bảo vệ người tiêu dùng cũng đã có bước tiến mới. Người tiêu dùng dần ý thức được quyền lực kinh tế của mình qua hành động mua sắm và thiết lập quyền kiểm soát rộng khắp của họ đối với việc sản xuất. Thực tế hiện nay, người tiêu dùng không chỉ quan tâm đến chất lượng sản phẩm mà còn coi trọng cách thức các công ty sản xuất sản phẩm đó như thế nào, hàng hóa đó có thân thiện với môi trường, cộng đồng, có tính nhân đạo và lành mạnh hay không… Nhiều phong trào bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng và môi trường phát triển rất mạnh, chẳng hạn phong trào tẩy chay chất phụ gia gây ung thư nhằm vào các công ty sản xuất bột ngọt, công ty sản xuất sữa; phong trào tẩy chay sản phẩm bóc lột lao động trẻ em nhằm vào hãng Nike hay Gap; phong trào đòi công bằng cho người lao động nhằm bảo đảm điều kiện an toàn lao động và giá mua nguyên liệu của nông dân ở các nước Thế giới thứ ba…

2.3 Thực trạng tại tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

2.3.1. Năng lực quản trị và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp tại Quảng Ninh

Nếu như năm 2017, Quảng Ninh đưa sáng kiến ứng dụng mạng xã hội trong đối thoại giữa chính quyền và doanh nghiệp (vận hành fanpage DDCI Quảng Ninh kết nối với fanpage của 19 cơ quan, ban, ngành và địa phương), thì năm 2018, DDCI Quảng Ninh tiếp tục bổ sung ý tưởng thu thập thông tin dữ liệu về doanh nghiệp để đánh giá năng lực quản trị và trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp.

Trong bảng chỉ số năng lực quản trị doanh nghiệp (CMI) vừa công bố tháng 1, cộng đồng doanh nghiệp TP Hạ Long được đánh giá có năng lực quản trị tốt nhất với 9,18 điểm và các chỉ tiêu đánh giá CMI của thành phố nằm trong hầu hết nhóm xếp đầu. Đó là: Cơ sở sử dụng dữ liệu, cơ sở dữ liệu cho việc ra quyết định thị trường; việc thực thi chính sách quản lý rủi ro từ thiên tai và các hiện tượng bất thường; khía cạnh doanh nghiệp công bố, công khai các thông tin liên quan đến tầm nhìn, chiến lược, quy tắc đạo đức kinh doanh, kế hoạch và chế độ, nội quy bên trong công ty.

Đứng thứ 2, thứ 3 trong bảng CMI lần lượt là TP Móng Cái và TP Cẩm Phả. Đáng chú ý, cộng đồng doanh nghiệp TP Móng Cái có chỉ tiêu về cơ sở thu thập và quản lý dữ liệu, cơ sở dữ liệu cho việc kinh doanh xếp thứ nhất. Cộng đồng doanh nghiệp TP Cẩm Phả có 2 chỉ tiêu đánh giá xếp thứ nhất là: Năng lực quản trị doanh nghiệp trên cơ sở doanh nghiệp đề bạt và thăng chức cho cán bộ dựa trên kết quả công việc; khía cạnh quản lý rủi ro với các doanh nghiệp đối tác trong chuỗi cung ứng mà doanh nghiệp có thể ảnh hưởng.

Với từng chỉ tiêu, mỗi địa phương lại có thế mạnh khác nhau. Cụ thể như doanh nghiệp tại TP Uông Bí dù xếp hạng trong bảng CMI đứng thứ 8/14 địa phương, song được đánh giá cao nhất xét từ góc độ vận hành theo nguyên tắc điều chỉnh quy trình thay vì chạy theo sự vụ. Thành phố này có tới 71% doanh nghiệp khi gặp các vấn đề phát sinh trong quá trình kinh doanh, doanh nghiệp tập trung rà soát và điều chỉnh quy trình làm việc để ngăn ngừa tình trạng tương tự tái diễn chứ không chỉ lo khắc phục hậu quả.

Đối với bảng chỉ số trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp (CSR), cộng đồng doanh nghiệp TP Cẩm Phả có chỉ số cao nhất với 7,65 điểm. Chỉ tiêu về doanh nghiệp yêu cầu các đối tác trong chuỗi cung ứng phải tuân thủ các quy chế, quy định của doanh nghiệp về lao động, bảo vệ môi trường của cộng đồng doanh nghiệp Cẩm Phả cũng xếp thứ nhất. Kế đó là huyện Hoành Bồ và TP Hạ Long. Cộng đồng doanh nghiệp Hoành Bồ có 2 chỉ tiêu xếp thứ nhất là: Doanh nghiệp có phân công cán bộ chịu trách nhiệm các vấn đề xã hội, nhân đạo và thiện nguyện; doanh nghiệp tiến hành kiểm toán nội bộ các vấn đề và chính sách trách nhiệm xã hội…

2.3.2. Thực thi trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Quảng Ninh là tỉnh hội tụ đầy đủ các tiện ích về vị trí địa lý, tự nhiên, xã hội, con người. Đây là một trong những trung tâm kinh tế phát triển bậc nhất ở Bắc Bộ. Đó là lý do vì sao nơi đây thu hút rất nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước tới sản xuất kinh doanh, hợp tác làm ăn. Tuy nhiên, hiện nay tại Quảng Ninh, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm vẫn chưa được quan tâm đúng mức  . Công tác giám sát của địa phương vẫn chưa chặt chẽ. Quan trọng nhất là trách nhiệm, ý thức nâng cao chất lượng sản phẩm của một số doanh nghiệp, hợp tác, cơ sở sản xuất còn chưa cao. Điều này sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của sản phẩm, doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất. Các sản phẩm được sản xuất tại Quảng Ninh về chất lượng tốt, chủng loại, đặc trưng. Tuy nhiên, phần lớn sản phẩm đang thiếu các thủ tục pháp lý. Thời gian qua, các doanh nghiệp đã nỗ lực hướng dẫn, hỗ trợ, giúp đỡ doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất hoàn thiện thủ tục để đưa sản phẩm vào tiêu thụ trong siêu thị. Song, đến nay, mới chỉ có một số rất ít sản phẩm đáp ứng đầy đủ điều kiện được đưa vào tiêu thụ tại các siêu thị do chưa có đủ điều kiện bảo đảm chất lượng sản phẩm. Thêm vào đó, nguồn gốc của sản phẩm trong và ngoài tỉnh được đưa vào các hội chợ chưa được kiểm soát chặt chẽ. Nếu không khắc phục điều này, chất lượng và giá trị của các sản phẩm của Quảng Ninh sẽ bị hạ thấp và không quảng bá rộng rãi đến người tiêu dùng.

Để cạnh tranh được với thị trường hiện nay, các sở, ngành, địa phương cần hỗ trợ cơ sở sản xuất hoàn thiện thủ tục pháp lý, tăng cường giám sát, đồng thời các doanh nghiệp, hợp tác xã, cơ sở sản xuất phải chú trọng đến mẫu mã, bao bì, chất lượng đảm bảo uy tín sản phẩm của mình.

Những năm qua, thực hiện xây dựng nông thôn mới, Quảng Ninh đã tạo ra nhiều sự đổi thay trong khu vực nông thôn. Để phát huy những tiềm năng, thế mạnh trong phát triển sản phẩm nông nghiệp, nâng cao thu nhập cho người dân, Quảng Ninh nhận thấy chương trình OCOP là một trong những giải pháp phù hợp để giải quyết vấn đề nêu trên.

Theo Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Quảng Ninh, trong quá trình tìm hiểu, Quảng Ninh nhận thấy chương trình OVOP (mỗi làng một sản phẩm) của Nhật Bản và OTOP (mỗi cộng đồng một sản phẩm) của Thái Lan có thể áp dụng vào địa phương, nên ngay từ năm 2013, UBND tỉnh Quảng Ninh đã phê duyệt và triển khai Chương trình “Mỗi xã, phường một sản phẩm” (gọi tắt là OCOP), đến cuối năm 2016 tỉnh tiến hành sơ kết đánh giá hiệu quả của Đề án OCOP giai đoạn I (2013-2016) và tiếp tục phê duyệt Đề án OCOP giai đoạn II (2017-2020) với những quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp được nâng tầm cao mới phù hợp định hướng phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Theo đó, Quảng Ninh xác định OCOP là phát triển sản phẩm nông nghiệp, phi nông nghiệp, dịch vụ có lợi thế ở mỗi địa phương theo chuỗi giá trị do các thành phần kinh tế tư nhân và kinh tế tập thể, góp phần tái cơ cấu nền kinh tế nông thôn theo hướng phát triển nội sinh và gia tăng giá trị, hạn chế tình trạng di cư từ nông thôn ra thành phố, thực hiện có hiệu quả nhóm tiêu chí kinh tế và hình thức tổ chức sản xuất trong Bộ tiêu chí quốc gia về xây dựng nông thôn mới. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Sản phẩm OCOP liên tục phát triển. Năm 2018 có 322 sản phẩm, trong đó 138 sản phẩm đạt sao từ 3-5 sao (75 sản phẩm đạt 3 sao, 56 sản phẩm đạt 4 sao, 7 sản phẩm đạt 5 sao); trên 90% sản phẩm OCOP được dán tem điện tử thông minh để truy xuất nguồn gốc. Tổng doanh số bán hàng OCOP của các tổ chức kinh tế, cơ sở hộ sản xuất OCOP năm 2018 đạt 311 tỷ đồng, tạo trên 2.600 việc làm, thu nhập bình quân của người dân khu vực nông thôn được cải thiện đáng kể, từ 10 triệu đồng/người (năm 2010) lên 38,5 triệu đồng/người (năm 2018).

Có thể kể đến một số sản phẩm tiêu biểu của Chương trình OCOP, như: Mô hình trồng cây trà hoa vàng tại huyện Ba Chẽ. Trước đây, cây trà hoa vàng chủ yếu mọc rải rác tự nhiên trong rừng, người dân thu hái, chặt bán theo yêu cầu của thương lái Trung Quốc ở dạng thô nên lợi nhuận kinh tế không ổn định, thiếu tính bền vững. Tuy nhiên, nhờ có OCOP, hộ gia đình anh Nịnh Văn Trắng đã đưa trà hoa vàng thành sản phẩm OCOP được trồng và chế biến sâu. Đến nay, huyện Ba Chẽ bắt đầu quy hoạch vùng sản xuất trà hoa vàng với diện tích 500 ha. Việc ứng dụng, sản xuất được cây giống đã đáp ứng nhu cầu cho các hộ tham gia trồng và tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập cho người dân địa phương, góp phần cho xã Đạp Thanh là xã thuộc diện đặc biệt khó khăn (xã 135) hướng tới hoàn thành xây dựng nông thôn mới.

Hoặc như gà Tiên Yên, từ xưa đến nay được biết đến là đặc sản nổi tiếng của Quảng Ninh với đặc tính thịt thơm ngon, được Trung tâm sách kỷ lục Việt Nam công bố nằm trong Top 50 món ăn đặc sản nổi tiếng Việt Nam. Nhưng qua thời gian, gà Tiên Yên cũng lai tạp, mai một dần và cũng nhờ có Chương trình OCOP, gà Tiên Yên đã được khôi phục từng bước theo tiêu chuẩn VietGap, nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm, đeo nhẫn truy xuất nguồn gốc sản phẩm OCOP ở chân gà trước khi xuất bán. Đến hết năm 2018, sản lượng gà Tiên Yên đạt 424 tấn thịt hơi, với giá bán từ 150 đến 250 ngàn đồng/kg; tổng giá trị đạt trên 84 tỷ đồng, tăng trên 10 tỷ đồng so với tổng mức đầu tư, sản phẩm đã được thị trường đón nhận.

Ngoài ra còn các sản phẩm như: Lợn Móng Cái, ba kích Ba Chẽ…, đây là minh chứng cách làm mới để phát huy sản phẩm thế mạnh của địa phương nâng cao thu nhập cho người dân góp phần xây dựng nông thôn mới.

Những kết quả của Chương trình OCOP được triển khai thành công bước đầu và là hiệu ứng lan tỏa trong cả nước, sẽ có các bước tiến quan trọng trong thúc đẩy phát triển sản xuất sản phẩm, giúp xây dựng nông thôn mới đi vào thực chất hơn. Ðể khuyến khích phát triển sản phẩm, từ ý tưởng cũng như nhu cầu, khả năng thực tế của mỗi cơ sở sản xuất, chương trình đề ra một “sân chơi” mở, không đóng khuôn và chưa có tiền lệ, nhưng theo một chu trình, được kiểm soát chặt chẽ (gọi là Chu trình OCOP) được thực hiện theo sáu bước (gồm: Tuyên truyền, hướng dẫn; nhận ý tưởng sản phẩm; kế hoạch kinh doanh; triển khai kế hoạch kinh doanh; đánh giá, xếp hạng sản phẩm cấp huyện, tỉnh; xúc tiến thương mại), theo nguyên tắc dân biết, dân bàn, dân làm và dân thụ hưởng. Nhà nước đóng vai trò kiến tạo, ban hành khung pháp lý và chính sách để hỗ trợ các khâu đào tạo, tập huấn, hướng dẫn kỹ thuật, ứng dụng khoa học công nghệ, xây dựng thương hiệu, xúc tiến thương mại, quảng bá sản phẩm và định hướng quy hoạch các vùng sản xuất hàng hóa, dịch vụ, khuyến khích, hỗ trợ cho các tổ chức kinh tế phát triển sản xuất sản phẩm hướng theo chuỗi giá trị hoàn chỉnh. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Quy định đã rõ, song thực tế là có rất nhiều sản phẩm chưa được xếp hạng, mới đưa vào sản xuất, đăng ký tham gia chương trình OCOP đã sử dụng nhãn hiệu OCOP-QN. Trong đó, có thể kể đến một số sản phẩm như: Nem chua Quang Dần, bánh gio Tiên Yên, bánh ngải Ba Chẽ, đỗ tương Đầm Hà… Tình trạng này không chỉ gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng mà còn ảnh hưởng đến uy tín của nhãn hiệu OCOP nói riêng và các sản phẩm OCOP nói chung.

Ngoài ra, công tác quản lý, kiểm tra, giám sát chất lượng sản phẩm sau khi được xếp hạng vẫn chưa được quan tâm. Sự vào cuộc của địa phương trong công tác giám sát chưa chặt chẽ. Quan trọng nhất là trách nhiệm, ý thức nâng cao chất lượng sản phẩm của một số doanh nghiệp, HTX, cơ sở sản xuất còn chưa cao. Điều này sẽ làm ảnh hưởng không nhỏ tới uy tín của sản phẩm, doanh nghiệp, HTX, cơ sở sản xuất và thương hiệu OCOP.

Nhằm bảo vệ thương hiệu cho các sản phẩm OCOP Quảng Ninh, tháng 8-2017, Ban Xây dựng Nông thôn mới tỉnh triển khai thí điểm dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc VNPT check cho các sản phẩm OCOP. Với những đón nhận tích cực của các doanh nghiệp, hợp tác xã cũng như người tiêu dùng, việc dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc xuất xứ đang tiếp tục được triển khai rộng rãi đến tất cả các sản phẩm tham gia chương trình OCOP của tỉnh.

Hiện nay, vấn đề truy xuất nguồn gốc có vai trò hết sức quan trọng đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp nói riêng, đời sống xã hội toàn dân nói chung. Trong hệ thống truy xuất nguồn gốc, tem truy xuất nguồn gốc là yếu tố quan trọng giúp liên kết dữ liệu và truy cứu thông tin truy xuất trong suốt chuỗi cung ứng. Tuy là hoạt động còn khá mới, song việc dán tem truy xuất nguồn gốc hàng hóa đang được tỉnh Quảng Ninh triển khai tích cực.

Được thí điểm triển khai từ tháng 8-2017, đến năm 2018, toàn tỉnh đã có 233/291 (đạt 80%) sản phẩm OCOP được dán tem điện tử truy xuất nguồn gốc VNPT check với tổng số trên 162.000 tem. Kể tên những sản phẩm thuộc chương trình OCOP đặt niềm tin với VNPT Check và đạt doanh thu lớn khi xuất ra thị trường thì không thể không nhắc tới: gốm sứ Đông Triều, ngọc trai Hạ Long, rượu ba kích Hoành Bồ, mật ong Tiên Yên… Tất cả những sản phẩm đó với tiêu chí chất lượng sẵn có, cùng với những hoạch định đúng đắn và sự hỗ trợ tuyệt vời từ VNPT Check thì danh tiếng không chỉ còn ở lãnh thổ Việt Nam mà sẽ vươn xa tầm châu lục trong tương lai.

Thông qua VNPT check, các đơn vị cung cấp tới người tiêu dùng các thông tin về sản phẩm như: Nguồn gốc, đặc điểm, chủng loại, giá bán, doanh nghiệp sản xuất… Ngoài ra, VNPT check còn có công cụ hỗ trợ quản lý việc phân phối hàng hóa theo vị trí địa lý. Để sử dụng ứng dụng truy xuất nguồn gốc sản phẩm, người tiêu dùng chỉ cần tải ứng dụng VNPT check trên điện thoại thông minh để quét mã tem trên sản phẩm, thẩm định chất lượng trước khi mua hàng. Qua đó, hạn chế việc mua phải những sản phẩm giả và cũng biết thêm các khuyến cáo về hàng hết hạn sử dụng. Ngoài ra, khách hàng còn có thể được tiếp cận nhanh nhất các chính sách khuyến mãi của nhà sản xuất.

2.4. Nhận xét chung Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

Chế định về trách nhiệm sản phẩm là chế định pháp luật quan trọng đảm bảo cho quyền lợi, sự an toàn của người tiêu dùng, người sử dụng sản phẩm. Khi nhắc đến các vấn đề liên quan đến trách nhiệm pháp lý của doanh nghiệp trong mối tương quan với trách nhiệm xã hội, nhiều ý kiến đều nhìn nhận một cách khái quát rằng doanh nghiệp Quảng Ninh chưa thực sự quan tâm đến hai loại trách nhiệm quan trọng này. Với vấn đề trách nhiệm sản phẩm – một vấn đề liên quan đến nhiều mặt của doanh nghiệp như: lợi nhuận của doanh nghiệp, chất lượng hàng hoá, chất lượng dịch vụ, độ an toàn của sản phẩm, trách nhiệm xã hội, đạo đức kinh doanh thì bức tranh càng phức tạp hơn. Trong những năm qua, doanh nghiệp Quảng Ninh đã có những sự thay đổi đáng ghi nhận về mặt nhận thức đối với vấn đề trách nhiệm sản phẩm, chuyển từ hướng ít quan tâm sang có quan tâm, và một số ít trong đó thực sự phấn đấu để đạt được những chuẩn về trách nhiệm sản phẩm. Tuy nhiên, ở bình diện chung thì sự chuyển biến đó vẫn chỉ là những khởi đầu nhỏ so với những thay đổi nhanh chóng của nền kinh tế thị trường như hiện nay. Có thể nói rằng mức độ tuân thủ pháp luật trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp Quảng Ninh còn thấp so với yêu cầu chung và so với các địa phương khác trong cả nước.

Tiêu biểu như trong lĩnh vực xuất khẩu thủy sản, một lĩnh vực cũng được coi là thế mạnh của tỉnh Quảng Ninh. Tuy nhiên, việc xuất khẩu thủy sản trên địa bàn Quảng Ninh đang trên đà giảm mạnh từ ngày Trung Quốc siết chặt chính sách biên mậu.

Theo báo cáo của Sở NN&PTNT Quảng Ninh, trong 6 tháng đầu năm 2019, trị giá xuất khẩu hàng hóa thủy sản qua cửa khẩu, lối mở tỉnh Quảng Ninh chỉ đạt 79,6 triệu USD (giảm 32,1% so với cùng kỳ năm 2018). Hiện nay, nhiều lô hàng thủy sản bị tồn đọng tại Móng Cái do không thể thông quan. Cụ thể, 130 tấn tôm Khánh Hòa; khoảng 35 tấn mực, cá từ Vũng Tàu; 60 tấn cá chỉ vàng Tiền Giang; khoảng 14 tấn tép khô Phan Thiết…

Ngoài ra, trên địa bàn tỉnh còn khoảng 8.000 tấn tôm thẻ chân trắng chưa thu hoạch. Nguyên nhân được cho là do phía Trung Quốc siết chặt chính sách biên mậu, nhất là việc thực hiện hàng rào phi thuế quan nhằm kiểm duyệt chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ, nhãn mác các mặt hàng nhập khẩu, khiến cho nhiều doanh nghiệp bị động. Điển hình như với mặt hàng tôm, hiện chỉ có cấp đông, không có ướp đá, đã khiến cho nhiều người nuôi tôm điêu đứng. Bởi lẽ, sau khi bảo quản tôm thẻ chân trắng bằng đông lạnh, doanh nghiệp Trung Quốc phải rã đông để chế biến, dẫn đến chất lượng tôm và giá bán ra thị trường giảm nhiều (mất khoảng 20-35% giá) nên giá nhập tôm nguyên liệu cũng giảm, kéo theo giá mua tôm của người dân giảm mạnh (theo nhận định giá mua sẽ dưới giá vốn), gây thua lỗ cho người nuôi.

Được biết, để đáp ứng được những yêu cầu từ thị trường Trung Quốc, Việt Nam chỉ có 5/680 cơ sở chế biến được cấp mã số và chỉ có 02 cơ sở đã được cấp mã số vùng nuôi. Do vậy, số doanh nghiệp, hộ nuôi trên địa bàn Quảng Ninh đáp ứng yêu cầu thì gần như không có. Nếu không đáp ứng được quy định nghiêm ngặt đối với việc đảm bảo chất lượng, nguồn gốc, xuất xứ thì trong thời gian tới, việc xuất khẩu các mặt hàng thủy sản của Quảng Ninh vào thị trường Trung Quốc sẽ rơi vào cảnh bế tắc.

Mặc dù các cơ quan chức năng đã hướng dẫn những thay đổi trong chính sách kiểm soát xuất nhập khẩu sản phẩm thủy sản, nhưng nhiều doanh nghiệp vẫn không biết hoặc không đầu tư nhà xưởng, xin cấp mã và các yêu cầu khác của phía Trung Quốc, vẫn đưa hàng ra Móng Cái và bị phía Trung Quốc kiên quyết trả về, gây ra hiện tượng ùn ứ, tồn đọng. Việc doanh nghiệp và người nuôi trồng bị động đối với các chính sách của Trung Quốc là do các hộ nuôi trồng quen với việc phát triển tự phát, phụ thuộc quá nhiều vào thương lái, quen tiêu thụ qua đường tiểu ngạch; cán bộ cơ sở ở địa phương chưa quan tâm đến công tác tuyên truyền, quản lý…

Do vậy, các sở, ngành, địa phương liên quan cần tập trung tuyên truyền cho người nuôi trồng, doanh nghiệp chế biến thủy sản nắm được chính sách nhập khẩu của Trung Quốc để có chiến lược kinh doanh phù hợp. Đồng thời, tuân thủ nghiêm túc quy định, tiêu chuẩn, kỹ thuật nuôi trồng, chế biến, xuất khẩu hàng thủy sản Việt Nam và yêu cầu nhập khẩu mặt hàng này ở thị trường quốc tế, trong đó có thị trường Trung Quốc, nhất là kiểm soát chặt chẽ dư lượng kháng sinh, chất bảo quản. Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Hoàn thiện pháp luật trách nhiệm sản phẩm

One thought on “Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm”

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464