Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quá trình hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Giai đoạn từ năm 1975 đến năm 1990

Trong giai đoạn này, trên lãnh thổ nước Việt Nam thống nhất chỉ có các doanh nghiệp quốc doanh, cơ sở sản xuất sở hữu tập thể và các hợp tác xã, các doanh nghiệp dân doanh hầu như không tồn tại.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (12-1986) đã mở ra một thời kỳ mới, đổi mới toàn diện cả kinh tế và xã hội, có ý nghĩa như cuộc cách mạng toàn diện, triệt để và rất sâu sắc. Đại hội chỉ rõ: “Phương hướng đổi mới cơ chế quản lý kinh tế đã được khẳng định là xoá bỏ tập trung quan liêu, bao cấp, xây dựng cơ chế mới phù hợp với quy luật khách quan và với trình độ phát triển của nền kinh tế”. Với sự thay đổi to lớn trong chính sách kinh tế, các loại hình công ty được hình thành và phát triển, như vậy pháp luật về doanh nghiệp dân doanh dần hình thành và phát triển.

2.2. Giai đoạn từ năm 1990 đến 1999

Giai đoạn này với sự xuất hiện của Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990, kết thúc bằng việc ban hành Luật Doanh nghiệp năm 1999 trên cơ sở hợp nhất 2 luật trên. Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân được Quốc hội thông qua tháng 12 năm 1990 (được sửa đổi một số điều vào tháng 6 năm 1994) đã đánh dấu một mốc quan trọng việc hình thành khuôn khổ pháp lý, tạo điều kiện để các doanh nghiệp dân doanh phát triển.

2.2.1. Quy định về điều kiện, thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp dân doanh

  • Đối với nội dung về điều kiện thành lập Luật Công ty năm 1990 quy định điều kiện thành lập đối với cá nhân như sau:

Theo điều 1 Luật công ty 1990 thì: “Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi; tổ chức kinh tế Việt Nam có tư cách pháp nhân thuộc các thành phần kinh tế, tổ chức xã hội, có quyền góp vốn đầu tư hoặc tham gia thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần”. Điều 6, Điều 7 Luật công ty 1990 quy định: Nghiêm cấm cơ quan nhà nước, đơn vị thuộc lực lượng vũ trang nhân sử dụng tài sản của nhà nước và công quỹ để góp vốn vào công ty hoặc tham gia thành lập công ty nhằm thu lợi riêng cho cơ quan hoặc đơn vị mình; Viên chức tại chức trong bộ máy nhà nước, sĩ quan tại ngũ trong các lực lượng vũ trang nhân dân; Người bị mất trí, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, người bị kết án tù mà chưa được xoá án. Đó là những người bị hạn chế năng lực hành vi và bị hạn chế quyền công dân.

Việc hạn chế viên chức tại chức và sĩ quan tại ngũ là nhằm tách bạch chức năng quản lý nhà nước ra khỏi các hoạt động kinh doanh.

Như vậy những người không có quốc tịch Việt Nam dù cư trú lâu dài trên lãnh thổ Việt Nam cũng không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp dân doanh. Quy định như trên đã không tạo điều kiện để huy động được các nguồn vốn của người nước ngoài cư trú tại Việt Nam vừa không tận dụng được kinh nghiệm kinh doanh và quản trị doanh nghiệp của nhóm người này.

Đối với nội dung về thủ tục thành lập doanh nghiệp dân doanh còn phức tạp, Điều 14 Luật công ty năm 1990 quy định phải qua 2 bước như sau: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Xin phép thành lập: Đơn phải kèm theo phương án kinh doanh ban đầu và dự thảo điều lệ công ty. Luật công ty 1990 còn quy định đơn xin phép thành lập công ty phải có chương trình xây dựng công ty.

Trong thời hạn 60 ngày kể từ ngày nhận đơn, Uỷ ban nhân dân tỉnh nơi nhận đơn phải cấp giấy phép thành lập doanh nghiệp, nếu thấy có đủ các điều kiện mà pháp luật quy định.

Đăng ký kinh doanh: Sau khi được cấp giấy phép thành lập nếu công ty muốn tiến hành hoạt động kinh doanh thì công ty phải đăng kí kinh doanh. Đăng kí kinh doanh đây là thủ tục pháp lý bắt buộc đây là bước không thể thiếu, đăng kí kinh doanh nhằm khai sinh về mặt pháp lý cho doanh nghiệp hay công ty.Theo quy định của luật công ty 1990 việc đăng kí kinh doanh của công ty được thực hiện tại Trọng tài kinh tế tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương.

Hồ sơ đăng kí kinh doanh bao gồm: Giấy phép thành lập; Điều lệ công ty; Giấy tờ chứng thực trụ sở giao dịch của công ty. Việc đăng ký kinh doanh của công ty trách nhiệm hữu hạn phải được tiến hành trong thời hạn 180 ngày kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập. Việc đăng kí kinh doanh của công ty cổ phần phải được tiến hành trong thời hạn 1 năm kể từ ngày được cấp giấy phép thành lập.

Như vậy, theo quy định của Luật Công ty năm 1990 thì thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp dân doanh qua nhiều khâu, nhiều công đoạn, với các điều kiện rườm rà, gây khó khăn cho cá nhân, tổ chức muốn thành lập doanh nghiệp dân doanh, tạo điều kiện cho các tiêu cực nảy sinh, kìm hãm sự phát triển của các doanh nghiệp dân doanh, ảnh hưởng đến nền kinh tế nói chung.

2.2.2. Quy định về cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp dân doanh Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Luật Công ty năm 1990 chưa quy định về loại hình Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên mà chỉ có quy định về Công ty trách nhiệm hữu hạn từ 2 thành viên trở lên và Công ty cổ phần.

Trong trường hợp có không quá mười một thành viên, việc thành lập và tổ chức hoạt động của công ty phải tuân theo quy định sau đây: Sau khi nhận được giấy phép thành lập và phần vốn góp của mỗi thành viên đã được đóng đủ, toàn thể thành viên họp để xem xét, chấp thuận và định giá các phần vốn góp bằng hiện vật, bằng bản quyền sở hữu công nghiệp và thông qua điều lệ công ty; phân công nhau đảm nhận các chức trách quản lý và kiểm soát công ty; cử một người trong số họ hoặc thuê người khác làm giám đốc công ty;

Điều 28 Luật Công ty năm 1990 quy định Công ty có mười hai thành viên trở lên phải tiến hành các đại hội đồng, bầu hội đồng quản trị và các kiểm soát viên. Ban kiểm soát có hai kiểm soát viên do đại hội đồng bầu ra, trong đó ít nhất một kiểm soát viên phải có chuyên môn về kế toán.

Đối với Công ty cổ phần Theo Điều 38 Luật công ty năm 1990, Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý công ty, gồm từ ba đến mười hai thành viên.

Hội đồng quản trị bầu một thành viên làm chủ tịch. Chủ tịch hội đồng quản trị có thể kiêm giám đốc (tổng giám đốc) công ty, nếu điều lệ công ty không quy định khác.

Chủ tịch hội đồng quản trị có thể kiêm giám đốc (tổng giám đốc) công ty, nếu điều lệ công ty không quy định khác.

Kiểm soát viên không thể đồng thời là thành viên hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc) công ty; không thể là vợ, chồng của các thành viên hội đồng quản trị, giám đốc (tổng giám đốc) công ty.

Trong trường hợp chủ tịch hội đồng quản trị không kiêm giám đốc (tổng giám đốc) công ty, thì hội đồng quản trị cử một người trong số họ hoặc thuê người khác làm giám đốc (tổng giám đốc).

2.2.3. Quy định về các loại vốn và cơ cấu về vốn của doanh nghiệp dân doanh

Luật công ty năm 1990 quy định vốn pháp định là một trong các điều kiện bắt buộc để thành lập doanh nghiệp dân doanh. Số vốn này không được thấp hơn mức vốn tối thiểu mà pháp luật quy định tùy thuộc vào ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh và loại hình doanh nghiệp dân doanh. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn: Phần vốn góp của tất cả các thành viên phải được đóng đủ ngay khi thành lập công ty. Các phần vốn góp được ghi rõ trong điều lệ công ty. Công ty không được phép phát hành bất kỳ một loại chứng khoán nào.

Đối với công ty cổ phần: Vốn điều lệ của công ty được chia thành nhiều phần bằng nhau gọi là cổ phần. Giá trị mỗi cổ phần gọi là mệnh giá cổ phiếu. Mỗi cổ đông có thể mua một hoặc nhiều cổ phiểu; Các sáng lập viên phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% số cổ phiếu dự tính phát hành của công ty. Trong trường hợp các sáng lập viên không đăng ký mua tất cả cổ phiếu công ty, thì họ phải công khai gọi vốn từ những người khác.

2.2.4. Quy định chế độ pháp lý về thành viên của doanh nghiệp dân doanh

  • Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn: có thành viên góp vốn ban đầu, ngoài ra công ty có thể gọi thêm vốn bằng cách kết nạp thêm thành viên mới.
  • Đối với Công ty cổ phần quy định phải có số thành viên gọi là cổ đông mà công ty phải có trong suốt thời gian hoạt động ít nhất là bảy. Các sáng lập viên phải cùng nhau đăng ký mua ít nhất 20% số cổ phiếu dự tính phát hành của công ty.

2.2.5. Quy định về điều kiện và thủ tục giải thể doanh nghiệp dân doanh Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Theo quy định của Luật Công ty năm 1990, Công ty chỉ được giải thể trong các trường hợp sau đây: Kết thúc thời hạn hoạt động đã ghi trong điều lệ công ty; Hoàn thành mục tiêu đã định; Mục tiêu của công ty không thể thực hiện được nữa hoặc không còn có lợi; Công ty bị lỗ 3/4 số vốn điều lệ hoặc đang gặp khó khăn không thể vượt qua; Có yêu cầu chính đáng của nhóm thành viên đại diện 2/3 số vốn điều lệ.

Việc giải thể công ty trong bất kỳ trường hợp nào đều phải được sự đồng ý của nhóm thành viên đại diện cho ít nhất 3/4 số vốn điều lệ của công ty.

Thủ tục giải thể: Đơn xin giải thể công ty phải gửi đến Uỷ ban nhân dân đã cấp giấy phép thành lập, đồng thời phải đăng báo địa phương và báo hàng ngày của trung ương năm số liên tiếp. Đơn và thông báo phải ghi rõ trình tự và thủ tục thanh lý tài sản, thời hạn thanh toán các khoản nợ của công ty, thanh lý các hợp đồng mà công ty đã ký kết.

Uỷ ban nhân dân chỉ chấp thuận đơn xin giải thể nếu sau mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn thanh toán các khoản nợ và thanh lý các hợp đồng đã ghi trong đơn và thông báo việc xin phép giải thể mà không có đơn khiếu nại. Việc giải thể của công ty được bắt đầu khi đơn xin giải thể được chấp thuận.

2.2.6. Quy định về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp dân doanh với tư cách là một chủ thể kinh doanh

Theo quy định của Luật Công ty năm 1990 (Điều 12), công ty có quyền: Lựa chọn ngành, nghề và quy mô kinh doanh; Lựa chọn hình thức và cách thức huy động vốn; Lựa chọn khách hàng; trực tiếp giao dịch, ký kết hợp đồng với khách hàng; Tuyển dụng và thuê mướn lao động theo yêu cầu kinh doanh; Sử dụng ngoại tệ thu được; Quyết định việc sử dụng phần thu nhập còn lại; Chủ động trong mọi hoạt động kinh doanh đã đăng ký. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Công ty có nghĩa vụ (Điều 13): Kinh doanh theo ngành, nghề ghi trong giấy phép; Ưu tiên sử dụng lao động trong nước; bảo đảm quyền, lợi ích của người lao động theo quy định của pháp luật lao động; tôn trọng quyền của tổ chức công đoàn theo Luật công đoàn; Bảo đảm chất lượng hàng hoá theo tiêu chuẩn đã đăng ký; Tuân thủ quy định của Nhà nước về bảo vệ môi trường, bảo vệ di tích lịch sử, văn hoá, danh lam thắng cảnh và trật tự, an toàn xã hội; Ghi chép sổ sách kế toán và quyết toán theo quy định của pháp luật về kế toán, thống kê và chịu sự kiểm tra của cơ quan tài chính; Nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ khác theo quy định của pháp luật; Trích 5% lãi ròng hàng năm để lập quỹ dự trữ bắt buộc cho đến mức bằng 10% vốn điều lệ của công ty.

Qua quá trình thực hiện, Luật công ty năm 1990 đã góp phần quan trọng vào việc động viên, khuyến khích nhân dân yên tâm bỏ vốn đầu tư, thành lập doanh nghiệp để sản xuất kinh doanh làm ra nhiều của cải vật chất cho xã hội; tiềm năng của các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh bước đầu được phát huy; đồng thời tạo công ăn việc làm cho một bộ phận không nhỏ người lao động, đóng góp nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Tuy nhiên, cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường, một số quy định của Luật công ty năm 1990 đã không còn phù hợp với tình hình mới, chưa đáp ứng được sự phát triển đa dạng của các thành phần kinh tế, như về thủ tục xin phép thành lập doanh nghiệp, thủ tục đăng ký kinh doanh, về quản lý Nhà nước, về loại hình doanh nghiệp… Điều đáng lưu ý là do được ban hành từ năm 1990, nên Luật công ty năm 1990 chưa thể chế hoá các quy định của Hiến pháp năm 1992 về đổi mới kinh tế.

2.3. Giai đoạn từ năm 2000 đến năm 2005 Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Để đáp ứng yêu cầu của việc xây dựng một đạo luật thể chế hoá đường lối, chủ trương của Đảng về động viên phát huy tối đa nội lực của mọi thành phần kinh tế, tạo lập khuôn khổ pháp lý thuận lợi, hạn chế các hiện tượng tiêu cực, quan liêu, gây phiền hà cho hoạt động sản xuất, kinh doanh và tăng cường quản lý Nhà nước, tạo điều kiện cho quá trình hội nhập kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới; bảo đảm tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật về kinh tế, tại kỳ họp thứ 5, Quốc hội khoá X đã thông qua Luật doanh nghiệp năm 1999, trên cơ sở hợp nhất Luật công ty và Luật doanh nghiệp tư nhân thành một luật chung, Luật doanh nghiệp 1999 đã được mở rộng theo hướng bám sát vào thực tiễn kinh doanh, tạo thuận lợi cho hoạt động của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dân doanh nói riêng.

2.3.1. Quy định về điều kiện, thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp dân doanh

Luật doanh nghiệp năm 1999 quy định về thủ tục thành lập doanh nghiệp dân doanh theo hướng tiệm cận với các quan điểm làm luật tiên tiến trên thế giới.

Đối tượng được quyền góp vốn, thành lập, thành lập doanh nghiệp dân doanh trong Luật Doanh nghiệp 1999 được mở rộng hơn so với Luật công ty 1990. Việc mở rộng này tạo ra sự thống nhất với các luật liên quan đến vấn đề này như Bộ Luật dân sự, Luật khuyến khích đầu tư trong nước, Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam, đồng thời cũng góp phần huy động tối đa mọi nguồn lực hiện có trong xã hội vào đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh.

Thêm vào đó, vấn đề người được quyền góp vốn thành lập và quản lý doanh nghiệp dân doanh cũng được quy định một cách khoa học hơn. Luật Doanh nghiệp quy định vấn đề này theo phương pháp loại trừ, theo đó mọi tổ chức cá nhân đều có quyền thành lập, quản lý và góp vốn vào công ty, trừ các trường hợp bị cấm được liệt kê trong luật.

Theo quy định của luật doanh nghiệp năm 1999 “mọi tổ chức cá nhân không thuộc đối tượng bị cấm thành lập công ty đều có quyền thành lập công ty tại Việt Nam”. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Các chế định về thủ tục thành lập công ty quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 được đơn giản hóa đi rất nhiều so với các quy định của Luật công ty 1990 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Luật doanh nghiệp năm 1999 đã bỏ đi giai đoạn xin phép thành lập doanh nghiệp dân doanh, chỉ còn giai đoạn đăng ký kinh doanh với hồ sơ gọn nhẹ và thủ tục đơn giản hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư muốn thành lập mới doanh nghiệp dân doanh.

Việc đơn giản hoá thủ tục thành lập doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dân doanh nói riêng trong Luật doanh nghiệp 1999 đã thể hiện một bước tiến đáng kể trong quá trình cải cách thủ tục hành chính so với Luật công ty 1990. Những quy định mới này đã hạn chế tối đa được sự can thiệp không cần thiết của các cơ quan Nhà nước đối với hoạt động kinh doanh của công ty, đồng thời vẫn đảm bảo được tính chặt chẽ, giám sát được hoạt động của công ty sau khi đăng kí kinh doanh.

2.3.2. Quy định về cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp dân doanh Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Nhằm khuyến khích các doanh nghiệp dân doanh và dân cư bỏ vốn đầu tư để kinh doanh hoặc mở rộng quy mô, ngành nghề kinh doanh tạo điều kiện cho các nhà đầu tư lựa chọn loại hình kinh doanh phù hợp với điều kiện và lợi ích của họ, Luật Doanh nghiệp bổ sung hai loại hình doanh nghiệp mới là loại hình công ty hợp danh và công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, như vậy Luật doanh nghiệp 1999 điều chỉnh đối với 4 loại hình doanh nghiệp là công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân.

  • Công ty trách nhiệm hữu hạn có hai thành viên.

Luật Doanh nghiệp 1999 không quy định phải có Hội đồng quản trị đối với công ty trách nhiệm hữu hạn như trong Luật công ty 1990, tức loại hình công ty này chỉ có Hội đồng thành viên, Chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Điều này xuất phát từ việc công ty trách nhiệm hữu hạn là công ty nhỏ, không nhất thiết phải có bộ máy quản lý điều hành độc lập, có tính tập trung cao.

  • Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Có thể lựa chọn một trong hai mô hình Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc) hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc (Tổng giám đốc) cho công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.

Cũng xuất phát từ nguyên tắc coi việc tổ chức quản lý, phương thức điều hành quản lý trước hết và chủ yếu là công việc nội bộ của công ty, Luật doanh nghiệp chỉ đưa ra các khung cơ bản, các giới hạn bắt buộc cần thiết và trên cơ sở đó các thành viên công ty sẽ tự xác định các mức độ, tỷ lệ cụ thể ghi trong điều lệ công ty.

  • Công ty cổ phần Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Về cơ bản cơ cấu tổ chức quản lý của công ty cổ phần bao gồm Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (Tổng giám đốc). Công ty cổ phần có 12 cổ đông trở lên bắt buộc phải có Ban kiểm soát. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp 1999 quy định đầy đủ và rõ ràng hơn thẩm quyền cơ chế hoạt động của mỗi cơ quan trong cơ cấu quản lý của công ty cổ phần.

Về Ban kiểm soát, đối với công ty cổ phần có 12 thành viên trở lên bắt buộc phải có Ban kiểm soát. Ban kiểm soát có từ ba đến năm thành viên gọi là kiểm soát viên trong đó ít nhất một thành viên có chuyên môn về kế toán. Ban kiểm soát bầu một thành viên làm trưởng ban và Trưởng ban kiểm soát phải là cổ đông.

  • Công ty hợp danh

Cơ cấu tổ chức quản lý công ty hợp danh do các thành viên hợp danh thỏa thuận trong Điều lệ công ty. Các thành viên hợp danh có quyền ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.

  • Doanh nghiệp tư nhân

Điều 101, Luật doanh nghiệp năm 1999 quy định: Chủ doanh nghiệp tư nhân có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp; có toàn quyền quyết định việc sử dụng lợi nhuận sau khi đó nộp thuế và thực hiện các nghĩa vụ tài chính khác theo quy định của pháp luật.

2.3.3. Quy định về các loại vốn và cơ cấu về vốn của doanh nghiệp dân doanh

Luật Doanh nghiệp 1999 đã bỏ yêu cầu về vốn pháp định trong thủ tục thành lập công ty đối với mọi ngành nghề nói chung. Điều này không có nghĩa là không có vốn vẫn được thành lập công ty. Việc quản lý của Nhà nước về vấn đề vốn công ty được thực hiện theo một phương thức khác. Cụ thể là các doanh nghiệp dân doanh phải đăng ký số vốn đã có khi thành lập và định kỳ báo cáo, cập nhật thông tin về số vốn đó với cơ quan đăng ký kinh doanh để cơ quan này cung cấp cho các cơ quan quản lí Nhà nước có thẩm quyền và những người khác có nhu cầu. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

2.3.4. Quy định chế độ pháp lý về thành viên của doanh nghiệp dân doanh

Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn: Thành viên có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng thành viên không vượt quá năm mươi.

Đối với Công ty cổ phần: Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là ba và không hạn chế số lượng tối đa. Gồm có cổ đông phổ thông, cổ đông ưu đãi. Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp.

Công ty hợp danh là doanh nghiệp, trong đó: Phải có ít nhất hai thành viên hợp danh; ngoài các thành viên hợp danh, có thể có thành viên góp vốn. Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có trình độ chuyên môn và uy tín nghề nghiệp và phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty. Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do một cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

2.3.5. Quy định về điều kiện và thủ tục giải thể doanh nghiệp dân doanh Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Theo Điều 111 Luật doanh nghiệp năm 1999 bổ sung thêm các trường hợp giải thể doanh nghiệp: Theo quyết định của chủ doanh nghiệp đối với doanh nghiệp tư nhân, của tất cả các thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh, của Hội đồng thành viên, chủ sở hữu công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, của Đại hội đồng cổ đông đối với công ty cổ phần; Công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo quy định của Luật này trong thời hạn sáu tháng liên tục; Bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Luật doanh nghiệp 1999 cũng quy định trình tự, thủ tục tiến hành giải thể rõ ràng, cụ thể hơn. Trong thời hạn bảy ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ về giải thể doanh nghiệp, cơ quan đăng ký kinh doanh phải xóa tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh.

2.3.6. Quy định về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp dân doanh với tư cách là một chủ thể kinh doanh

Luật doanh nghiệp năm 1999 chưa công nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh.

Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định cụ thể và đầy đủ hơn quyền và nghĩa vụ của người đầu tư. Luật Doanh nghiệp đưa ra các quy định giúp các nhà đầu tư thiết lập cơ chế vốn linh hoạt đa dạng, qua đó các nhà đầu tư có thể cùng nhau thoả thuận và lựa chọn cách thức góp vốn phù hợp với điều kiện và lợi ích của họ. Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp cụ thể cơ chế và cách thức để người góp vốn có thể tham gia vào việc quyết định các vấn đề quản lí doanh nghiệp, giám sát việc quản lý doanh nghiệp. Do vậy, quyền tham gia quyết định và giám sát của nhà đầu tư với việc quản lý, kinh doanh ở doanh nghiệp, được đảm bảo, lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư ở danh nghiệp được bảo vệ và bảo đảm thực hiện. Đồng thời bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của chủ nợ.

Luật Doanh nghiệp 1999 được xây dựng trên nguyên tắc người dân được quyền tự do kinh doanh những gì mà pháp luật không cấm; cải cách thủ tục hành chính đã tạo ra những kết quả rất tích cực, là công cụ quan trọng để đảm bảo quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp. Tuy nhiên, bên cạnh những mặt tiến bộ, Luật doanh nghiệp 1999 cũng có những vấn đề cần được tiếp tục hoàn thiện.

2.4 Giai đoạn từ 2005 đến năm 2014 Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Xuất phát từ vai trò của doanh nghiệp dân doanh – là một trong những chủ thể kinh doanh thương mại chủ yếu của nền kinh tế, việc ban hành một nền tảng pháp luật vững chắc cho doanh nghiệp dân doanh chính là cách thức tốt nhất để có thể cải thiện hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp dân doanh, từ đó cải thiện nền kinh tế – xã hội của Việt Nam. Có thể nói, sự ra đời của Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã đáp ứng một số yêu cầu quan trọng của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh nói trên.

2.4.1. Quy định về điều kiện, thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp dân doanh

Luật Doanh nghiệp 2005 quy định khá rõ ràng và cụ thể các điều kiện về chủ thể khi thành lập doanh nghiệp dân doanh. Điều này giúp các nhà đầu tư nhận thức được quyền năng của mình khi tiến hành đăng ký kinh doanh một cách hợp pháp.

Theo quy định tại Điều 13 Luật doanh nghiệp 2005 các chủ thể được thành lập và quản lý doanh nghiệp, được góp vốn vào doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dân doanh nói riêng bao gồm: “Tổ chức, cá nhân Việt Nam, tổ chức, cá nhân nước ngoài có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định của luật này” Do đó, theo Luật doanh nghiệp năm 2005 quy định đối tượng được quyền thành lập doanh nghiệp dân doanh khá rộng. Mọi tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước đều có thể thành lập và quản lý doanh nghiệp dân doanh tại Việt Nam nếu như họ không thuộc trường hợp pháp luật cấm.

  • Trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp dân doanh theo Luật doanh nghiệp 2005:

Trước bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, quy định về trình tự thủ tục đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp năm 1999 còn tồn tại nhiều bất cập. Do đó, Luật doanh nghiệp năm 2005 ra đời với những quy định về trình tự thủ tục mang tính đột phá được kỳ vọng là mang lại những tác động lớn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp dân doanh.

Trình tự, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp dân doanh được quy định cụ thể tại Điều 15 Luật Doanh nghiệp 2005, theo đó, việc đăng ký doanh nghiệp được tiến hành tại cơ quan đăng ký kinh doanh, rút gọn trình tự, thủ tục, ứng dụng quy trình đăng ký kinh doanh qua mạng làm giảm thời gian, chi phí, nâng cao tính công khai, minh bạch về thông tin đăng ký kinh doanh.

2.4.2. Quy định về cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp dân doanh Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

  • Luật Doanh nghiệp 2005 bổ sung loại hình: Công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên là cá nhân.

Đối với công ty Trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân:

Cơ cấu tổ chức của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là cá nhân gồm: Chủ tịch công ty, Giám đốc hoặc Tổng Giám đốc. Chủ sở hữu công ty đồng thời là Chủ tịch công ty. Chủ tịch công ty hoặc Giám đốc (Tổng Giám đốc) là người đại diện theo pháp luật của công ty theo quy định tại điều lệ công ty. Chủ tịch công ty có thể kiêm nhiệm hoặc thuê người khác làm Giám đốc (Tổng Giám đốc).

  • Công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên.

Cơ cấu tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên được pháp luật quy định tùy thuộc vào số lượng thành viên của công ty. Các quy định về tổ chức quản lý nói chung, tổ chức quản lý công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên nói riêng phần lớn là những quy định mang tính tùy nghi, trên cơ sở công ty lựa chọn và áp dụng.

  • Công ty cổ phần:

Luật doanh nghiệp 2005 quy định Hội đồng quản trị có không ít hơn 3 thành viên và không quá 11 thành viên nếu Ðiều lệ công ty không có quy định khác, quy định như trên đảm bảo tính chặt chẽ và phù hợp với thông lệ quốc tế. Luật doanh nghiệp 2005 quy định rõ : “Thành viên hội đồng quản trị không nhất thiết phải là cổ đông công ty”

Luật doanh nghiệp 2005 quy định đối với những công ty cổ phần có trên 11 cổ đông là cá nhân phải có Ban kiểm soát. Tuy nhiên, cũng theo Luật doanh nghiệp 2005 thì cả trong trường hợp công ty cổ phần có cổ đông là tổ chức sở hữu trên 50% tổng số cổ phần của công ty thì cũng bắt buộc phải có Ban kiểm soát. Đây là một điểm mới và khác biệt của Luật doanh nghiệp 2005 so với Luật doanh nghiệp 1999.

Luật doanh nghiệp 2005 quy định loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần chỉ có 1 người đại diện theo pháp luật. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

2.4.3. Quy định về các loại vốn và cơ cấu về vốn của doanh nghiệp dân doanh

Điều 80 Luật Doanh nghiệp 2005 quy định thời hạn góp vốn của cổ đông sáng lập và các cổ đông phổ thông khác đã đăng ký mua trong công ty cổ phần là 90 ngày kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, trong khi đó, thời hạn góp vốn đối với thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn lại là trong vòng 36 tháng kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Việc quy định thời hạn góp vốn của thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn quá dài như trên dẫn đến việc nhiều công ty trách nhiệm hữu hạn không trung thực trong việc góp vốn bằng cách “khai khống”, “khai ảo” vốn điều lệ, lợi dụng kẽ hở này để tham gia các dự án, giao dịch có giá trị lớn, gây hậu quả nghiêm trọng. Vì vậy, Luật doanh nghiệp 2005 cần sửa đổi theo hướng hạn chế thời hạn góp vốn của các công ty trách nhiệm hữu hạn, có thể áp dụng thời hạn 90 ngày như đối với công ty cổ phần.

2.4.4. Quy định chế độ pháp lý về thành viên của doanh nghiệp dân doanh

  • Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên.
  • Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên là doanh nghiệp do một tổ chức hoặc một cá nhân làm chủ sở hữu (được gọi là chủ sở hữu công ty);
  • Chủ sở hữu công ty chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn điều lệ của công ty.

2.4.5. Quy định về điều kiện và thủ tục giải thể doanh nghiệp dân doanh

Luật doanh nghiệp 2005 quy định đối với các trường hợp giải thể doanh nghiệp dân doanh vẫn theo các quy định của Luật doanh nghiệp 1999.

2.4.6. Quy định về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp dân doanh với tư cách là một chủ thể kinh doanh

Luật doanh nghiệp năm 2005 đã công nhận tư cách pháp nhân của công ty hợp danh, điều này tạo thuận lợi hơn cho hoạt động kinh doanh của loại hình doanh nghiệp được coi là khá mới và chưa phổ biến này ở Việt Nam.

Các quy định của Luật doanh nghiệp năm 2005 vẫn tiếp tục thể hiện nguyên tắc tôn trọng và bảo đảm quyền tự do kinh doanh, quyền tự quyết trong quản lý của doanh nghiệp dân doanh. Nhà nước Việt Nam thừa nhận quyền tự do kinh doanh, thành lập doanh nghiệp dân doanh của mọi tổ chức, cá nhân thông qua việc áp dụng cơ chế đăng ký thành lập doanh nghiệp dân doanh, tạo sự thông thoáng trong việc đăng ký kinh doanh cho các doanh nghiệp dân doanh; đồng thời, Luật doanh nghiệp năm 2005 cũng khẳng định quyền tự do lựa chọn ngành, nghề kinh doanh; tăng cường tính tự chủ và tự quyết của doanh nghiệp dân doanh trong tổ chức quản lý nội bộ doanh nghiệp dân doanh.

Các quy định của Luật cùng thể hiện sự bình đẳng các quyền và nghĩa vụ của các nhà đầu tư và các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp dân doanh nói riêng.

Kế thừa và phát huy cải cách quan trọng của Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 tiếp tục mở rộng quyền tự do kinh doanh, rút ngắn thời gian đăng ký doanh nghiệp, cho phép thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên là cá nhân; thống nhất quy định về tổ chức quản lý các loại hình doanh nghiệp, không phân biệt nguồn gốc và cơ cấu sở hữu; khắc phục những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật hiện hành về doanh nghiệp, đặc biệt là sự chia cắt, tách biệt áp dụng theo thành phần kinh tế. Mặc dù không tạo ra tác động đột biến như Luật Doanh nghiệp 1999, Luật Doanh nghiệp 2005 tiếp tục có những tác động tích cực vào phát triển doanh nghiệp dân doanh.

2.5. Giai đoạn từ 2014 đến 2019 Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Sau cuộc đột phá về thể chế của văn bản mang tên “Luật Doanh nghiệp 1999”, thì Luật Doanh nghiệp 2014 được coi là cuộc đột phá thể chế lần hai, thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanh nghiệp, theo đó, những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh.

Luật Doanh nghiệp 2014 hướng tới sự phù hợp với thực tế kinh doanh hiện tại của doanh nghiệp và tháo gỡ nhiều khó khăn, hạn chế góp phần tạo điều kiện mở ra một môi trường kinh doanh thuận lợi phù hợp với xu hướng chung của thế giới.

2.5.1. Quy định về điều kiện, thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp dân doanh

Trước khi Luật Doanh nghiệp 2014 được ban hành, thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dân doanh nói riêng là 5 ngày làm việc trong đó có 2 ngày để cơ quan thuế cấp mã số doanh nghiệp, 3 ngày để cơ quan đăng ký kinh doanh tiếp nhận, xử lý hồ sơ và cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Với cơ chế này, việc cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp phải phụ thuộc vào việc chờ cấp mã số doanh nghiệp từ cơ quan thuế, làm kéo dài thời gian thực hiện thủ tục hành chính. Để tạo thuận lợi tối đa cho người dân, doanh nghiệp tham gia thị trường, Luật Doanh nghiệp 2014 đã giảm thời gian xử lý hồ sơ đăng ký doanh nghiệp xuống còn tối đa 3 ngày làm việc.

Luật doanh nghiệp 2014 đã bỏ quy định có trụ sở chính theo quy định trong điều kiện cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

2.5.2. Quy định về cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp dân doanh

  • Công ty cổ phần Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Điều 134 Luật Doanh nghiệp 2014 quy định về cơ cấu tổ chức quản lý công ty cổ phần như sau: Công ty cổ phần có quyền lựa chọn tổ chức quản lý và hoạt động theo một trong hai mô hình sau đây, trừ trường hợp pháp luật về chứng khoán có quy định khác:

  • Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp công ty cổ phần có dưới 11 cổ đông và các cổ đông là tổ chức sở hữu dưới 50% tổng số cổ phần của công ty thì không bắt buộc phải có Ban kiểm soát;
  • Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Tổng giám đốc. Trường hợp này ít nhất 20% số thành viên Hội đồng quản trị phải là thành viên độc lập và có Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị. Các thành viên độc lập thực hiện chức năng giám sát và tổ chức thực hiện kiểm soát đối với việc quản lý điều hành công ty.”

Luật doanh nghiệp 2005 quy định về nhiệm vụ của Đại hội đồng cổ đông có quyền Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 50% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ khác. Tuy nhiên Luật doanh nghiệp 2014 đã sửa lại Đại hội đồng cổ đông Quyết định đầu tư hoặc bán số tài sản có giá trị bằng hoặc lớn hơn 35% tổng giá trị tài sản được ghi trong báo cáo tài chính gần nhất của công ty nếu Điều lệ công ty không quy định một tỷ lệ hoặc một giá trị khác.

Luật doanh nghiệp 2014 bỏ quy định Giám đốc hoặc Tổng giám đốc công ty cổ phần không được đồng thời làm Giám đốc hoặc Tổng giám đốc của doanh nghiệp khác.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định mở rộng hơn về số lượng người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp. Công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có thể có một hoặc nhiều người đại diện theo pháp luật. Đây là một trong những điểm mới của Luật Doanh nghiệp 2014 so với Luật Doanh nghiệp 2005. Với quy định này, Luật Doanh nghiệp 2014 đã tháo gỡ những hạn chế trong quy định của pháp luật cũ, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, giúp Doanh nghiệp dân doanh chủ động hơn trong hoạt động kinh doanh. Tuy nhiên, doanh nghiệp dân doanh phải đảm bảo luôn có ít nhất một người đại diện theo pháp luật cư trú tại Việt Nam. Trường hợp doanh nghiệp dân doanh có một người đại diện theo pháp luật thì người đó phải cư trú tại Việt Nam. Khi người đại diện theo pháp luật xuất cảnh khỏi Việt Nam thì họ phải ủy quyền bằng văn bản cho người khác thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình; họ vẫn phải chịu trách nhiệm về việc thực hiện quyền và nghĩa vụ đã ủy quyền.

2.5.3. Quy định về các loại vốn và cơ cấu về vốn của doanh nghiệp dân doanh Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định các nguyên tắc để xác định, đăng ký vốn thực góp của công ty, giải quyết tình trạng vốn không có thực (ảo) nhưng không thể xử lý được như hiện nay. Trong đó điểm mới nhất là cho phép Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần được giảm vốn điều lệ. Theo đó, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên nếu không góp đủ vốn điều lệ trong thời hạn quy định như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp thì được quyền đăng ký điều chỉnh giảm vốn bằng giá trị số vốn thực góp. Trong trường hợp này, chủ sở hữu, thành viên, cổ đông chưa thanh toán hoặc chưa thanh toán đủ vốn điều lệ đã đăng ký góp, số cổ phần đã đăng ký mua phải chịu trách nhiệm tương ứng với tổng giá trị phần vốn góp, mệnh giá cổ phần đã đăng ký mua đối với các nghĩa vụ tài chính của công ty phát sinh trong thời hạn cam kết góp. Trong quá trình hoạt động, doanh nghiệp cũng có thể điều chỉnh giảm vốn bằng cách hoàn trả một phần vốn góp trong vốn điều lệ của công ty theo các điều kiện quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Luật Doanh nghiệp năm 2014 áp dụng thống nhất thời hạn phải thanh toán đủ phần vốn góp khi thành lập công ty, quy định rút ngắn thời hạn góp vốn đối với chủ sở hữu, thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn phải góp đủ và đúng loại tài sản như đã cam kết khi đăng ký thành lập doanh nghiệp trong thời hạn 90 ngày, kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp trong khi quy định cũ về thời hạn góp vốn tối đa đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và hai thành viên trở lên là 36 tháng.

Thay đổi vốn điều lệ của Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên: Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày hoàn thành việc tăng hoặc giảm vốn điều lệ, công ty phải thông báo bằng văn bản đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, trong Luật doanh nghiệp 2005 quy định là 7 ngày.

2.5.4. Quy định chế độ pháp lý về thành viên của doanh nghiệp dân doanh

Hội đồng thành viên của Công ty trách nhiệm hữu hạn 2 thành viên trở lên: Thành viên Hội đồng thành viên do chủ sở hữu công ty bổ nhiệm, miễn nhiệm gồm từ 03 đến 07 thành viên với nhiệm kỳ không quá 05 năm.

Đối với Công ty cổ phần: Cổ đông có thể là tổ chức, cá nhân; số lượng cổ đông tối thiểu là 03 và không hạn chế số lượng tối đa.

Cổ đông phổ thông: Người sở hữu cổ phần phổ thông là cổ đông phổ thông.

Cổ đông ưu đãi: Người sở hữu cổ phần ưu đãi gọi là cổ đông ưu đãi. Cổ phần ưu đãi gồm các loại sau đây: Cổ phần ưu đãi biểu quyết; Cổ phần ưu đãi cổ tức; Cổ phần ưu đãi hoàn lại; Cổ phần ưu đãi khác do Điều lệ công ty quy định.

Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp; Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Đối với doanh nghiệp tư nhân: Nội dung thay đổi cơ bản là xác định rõ hạn chế đối với chủ doanh nghiệp tư nhân: không được đồng thời là chủ hộ kinh doanh, thành viên công ty hợp danh; doanh nghiệp tư nhân không được quyền góp vốn thành lập hoặc mua cổ phần, phần vốn góp trong công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoặc công ty cổ phần.

2.5.5. Quy định về điều kiện và thủ tục giải thể doanh nghiệp dân doanh

Luật doanh nghiệp 2014 bổ sung quy định giải thể doanh nghiệp trong trường hợp bị thu hồi đăng ký kinh doanh. Đây là quy định nhằm bổ sung hướng dẫn giải thể doanh nghiệp trong trường hợp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Luật doanh nghiệp 2005 không có hướng dẫn thủ tục giải thể trong trường hợp này.

Thay đổi cơ bản trong quy định thủ tục giải thể là xác định rõ hơn và hợp lý hơn so với trước đây. Trình tự giải thể được quy định theo các bước: (i) quyết định giải thể, (ii) công bố tình trạng doanh nghiệp đang giải thể, (iii) yêu cầu xóa tên doanh nghiệp. Sau thời hạn 180 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định giải thể và không nhận được thông tin phản đối việc giải thể từ doanh nghiệp hoặc bên có liên quan hoặc trong năm ngày làm việc kể từ ngày nhận hồ sơ giải thể, cơ quan đăng ký kinh doanh xoá tên doanh nghiệp trong sổ đăng ký kinh doanh và thông báo trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

2.5.6. Quy định về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp dân doanh với tư cách là một chủ thể kinh doanh

Luật doanh nghiệp 2014 quy định về nghĩa vụ của doanh nghiệp dân doanh bỏ nội dung hoạt động kinh doanh theo đúng ngành, nghề đã ghi trong Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh. Nhưng cũng như quy định luật cũ doanh nghiệp dân doanh có nghĩa vụ đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh khi kinh doanh ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện theo quy định của Luật đầu tư. Bỏ quy định đăng ký mã số thuế , bổ sung nghĩa vụ thực hiện đầy đủ, kịp thời các nghĩa vụ về đăng ký doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, công khai thông tin về thành lập và hoạt động, báo cáo và các nghĩa vụ khác theo quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan; Chịu trách nhiệm về tính trung thực, chính xác của thông tin kê khai trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp và các báo cáo; trường hợp phát hiện thông tin đã kê khai hoặc báo cáo thiếu chính xác, chưa đầy đủ thì phải kịp thời sửa đổi, bổ sung các thông tin đó.

2.6. Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

2.6.1. Quan điểm của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước

Năm 1986 là một dấu mốc quan trọng đánh dấu sự chuyển đổi từ một nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung theo kiểu quan liêu bao cấp sang nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, đặt nền móng cho việc xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. Đảng Cộng sản Việt Nam ban hành nhiều Nghị quyết trong đó gần nhất là Nghị quyết phát triển kinh tế tư nhân trở thành động lực của nền kinh tế.

Giai đoạn từ 1986 đến 1992, pháp luật doanh nghiệp Việt Nam đã hiện thực hóa chính sách Đổi mới với những thay đổi có tính bước ngoặt với những nhân tố đầu tiên, quan trọng cho việc xây dựng nền kinh tế thị trường, góp phần giải phóng sức lao động và khơi nguồn cho tư tưởng kinh doanh và các quy luật kinh tế thị trường. Luật Công ty và Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990… lần đầu tiên thể chế hóa các hình thức doanh nghiệp dân doanh và chủ thể kinh tế. Tuy vậy pháp luật về doanh nghiệp dân doanh trong giai đoạn này vẫn còn nhiều hạn chế. Các hình thức sở hữu và chủ thể sở hữu vẫn bị bó hẹp trong khung khổ Hiến pháp 1980 với “chế độ sở hữu xã hội chủ nghĩa về tư liệu sản xuất” và “một nền kinh tế quốc dân chủ yếu có hai thành phần: thành phần kinh tế quốc doanh thuộc sở hữu toàn dân và thành phần kinh tế hợp tác xã thuộc sở hữu tập thể” (Điều 18 Hiến pháp 1980). Các chủ thể kinh doanh chỉ có những quyền kinh doanh hạn chế, bị bó buộc bởi các yêu cầu bắt buộc mang tính can thiệp của Nhà nước trong thủ tục thành lập, xác định vốn tối thiểu, chỉ định vị trí lãnh đạo, ra quyết định kinh doanh, ký kết hợp đồng giao dịch, phân bổ và sử dụng lợi nhuận. Thông qua các quy định này, pháp luật điều chỉnh hoạt động kinh tế thể hiện rõ tính hành chính (với sự can thiệp khá sâu của Nhà nước vào những hoạt động kinh tế và sử dụng nhiều biện pháp quản lý hành chính). Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Giai đoạn từ 1992-2001, Hiến pháp 1992 được Quốc hội Việt Nam thông qua tháng 11/1992, chính thức hiến định thể chế kinh tế thị trường. Luật doanh nghiệp 1999 có thể được xem là một thành tựu nổi bật của hệ thống pháp luật doanh nghiệp nói chung và pháp luật về doanh nghiệp dân doanh nói riêng ở Việt Nam giai đoạn này, với việc thiết lập một khung pháp lý an toàn, tổng thể và hiện đại về các chủ thể kinh tế trong nền kinh tế thị trường ở Việt Nam trong đó các hình thức doanh nghiệp chính yếu đã được ghi nhận, thủ tục thành lập doanh nghiệp dân doanh thuận lợi hơn, các vấn đề về quản trị và vận hành doanh nghiệp dân doanh được xây dựng gần hơn với thông lệ quản trị doanh nghiệp quốc tế.

Giai đoạn từ 2001-2013: Năm 2001, Việt Nam sửa đổi, bổ sung một số điều của Hiến pháp 1992, trong đó có các điều chỉnh về chế độ kinh tế. Lần đầu tiên quyền tự do kinh doanh được thừa nhận, dù vẫn bị ràng buộc bởi giới hạn “theo quy định của pháp luật”. Luật Doanh nghiệp 2005 ra đời đảm bảo quyền tự do kinh doanh và phù hợp với thông lệ quốc tế.

Giai đoạn từ sau 2013: Hiến pháp 2013 đánh dấu một bước phát triển mới trong thể chế pháp luật về kinh tế của Việt Nam với việc ghi nhận mạnh mẽ quyền tự do kinh doanh của người dân ở tất cả những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Và mặc dù vẫn tiếp tục quy định kinh tế nhà nước là chủ đạo, phù hợp với định hướng xã hội chủ nghĩa của nền kinh tế thị trường, Hiến pháp 2013 khẳng định quyền được đối xử bình đẳng của các chủ thể kinh tế. Cùng với đó Luật doanh nghiệp 2014 ra đời được coi là bước đột phá trong việc tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện quyền tự do kinh doanh (Nguyễn Vũ Hoàng- Những đặc điểm cơ bản của pháp luật về kinh tế Việt Nam trong 30 năm đổi mới).

Có thể thấy, trong tổng thể, từ năm 1986 đến nay hệ thống pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp đã có những thay đổi cơ bản, làm cơ sở cho sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế Việt Nam trong giai đoạn này. Mặc dù vậy, pháp luật về doanh nghiệp dân doanh Việt Nam vẫn chưa hoàn toàn thoát khỏi một số đặc điểm cố hữu của nền kinh tế kế hoạch hóa trước đây vì vậy chưa thực sự đáp ứng một cách hoàn hảo các yêu cầu của nền kinh tế thị trường. Hơn thế nữa, nền kinh tế Việt Nam lại đang đứng trước những bước hội nhập mới, đòi hỏi thế chế pháp luật về doanh nghiệp dân doanh của Việt Nam phải tiếp tục hoàn thiện để đáp ứng các chuẩn mực mới về tự do hóa thương mại trong nền kinh tế toàn cầu

2.6.2. Trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Ba mươi năm đổi mới là một giai đoạn lịch sử quan trọng có ý nghĩa trọng đại trong sự nghiệp phát triển của đất nước, đánh dấu sự trưởng thành về mọi mặt của Đảng, Nhà nước và nhân dân, là quá trình cải biến sâu sắc, toàn diện, triệt để, là sự nghiệp cách mạng to lớn của toàn Đảng, toàn dân vì mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.” So với thời kỳ trước đổi mới, diện mạo đất nước có nhiều thay đổi, kinh tế duy trì tốc độ tăng trưởng khá, tiềm lực và quy mô nền kinh tế tăng lên (đạt ngưỡng thu nhập trung bình), đời sống nhân dân từng bước được cải thiện; đồng thời tạo ra nhu cầu và động lực phát triển cho tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đội ngũ doanh nghiệp, doanh nhân đã thực sự trở thành lực lượng quan trọng để thực hiện đường lối công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.

Trước đổi mới chúng ta chỉ thừa nhận nền kinh tế có 03 thành phần (quốc doanh, tập thể và cá thể), 03 hình thức sở hữu (toàn dân, hợp tác xã và tư nhân đối với tư liệu tiêu dùng và tư liệu sản xuất nhỏ). Sau đổi mới, chúng ta đã khẳng định, nền kinh tế nước ta bao gồm, nhiều hình thức sở hữu, thành phần kinh tế và tổ chức kinh doanh. Trong đó doanh nghiệp dân doanh ngày càng phát triển và đã khẳng định được tầm quan trọng, đóng vai trò là động lực thúc đẩy trong nền kinh tế quốc dân.

Các hình thức sở hữu, thành phần kinh tế và chế độ phân phối đã phát triển đa dạng, từng bước tuân thủ các quy luật của kinh tế thị trường phù hợp với điều kiện của đất nước. Các chủ thể kinh tế được tự do kinh doanh và cạnh tranh lành mạnh theo quy định của pháp luật, ngày càng phát huy vai trò tích cực trong nền kinh tế quốc dân.

Qua hơn 30 năm đổi mới, đất nước cũng đã đạt được những thành tựu rất quan trọng về hoàn thiện thể chế, phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, tư tưởng, đường lối phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa đã được thể chế hóa thành pháp luật, tạo hành lang pháp lý cho nền kinh tế vận hành có hiệu quả. Hiến pháp 2013 và hàng loạt bộ luật để thể chế hóa Hiến pháp 2013 cơ bản đã tạo cơ sở pháp lý hình thành và thúc đẩy việc hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

2.6.3 Trình độ, kỹ thuật lập pháp

Lập pháp là một trong những chức năng cơ bản của Quốc hội nước ta. Với tư cách là cơ quan đại biểu cao nhất của nhân dân, cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất, Quốc hội là cơ quan duy nhất có quyền lập hiến và lập pháp. Hoạt động lập pháp của Quốc hội đã tạo cơ sở pháp lý phục vụ công cuộc đổi mới toàn diện đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta hướng vào việc giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, thực hiện quyền con người, quyền tự do, dân chủ của công dân, góp phần đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020.

Về kỹ thuật lập pháp, Quốc hội đã áp dụng hình thức ban hành một luật để sửa đổi, bổ sung nội dung của một số luật nhằm đáp ứng kịp thời yêu cầu của cuộc sống, tiết kiệm thời gian, đơn giản thủ tục mà vẫn bảo đảm chất lượng của dự án luật.

Các văn bản luật về doanh nghiệp được sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành mới, bảo đảm phù hợp với điều kiện, mục tiêu phát triển đất nước, yêu cầu thực hiện các cam kết quốc tế, thúc đẩy tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, nhất là việc Việt Nam gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Bên cạnh những kết quả nêu trên, công tác lập pháp của Quốc hội trong thời gian qua đối với hệ thống pháp luật về doanh nghiệp cũng đã bộc lộ một số bất cập, hạn chế nhất định. Từ năm 1990 đến nay nước ta đã 5 lần ban hành các Luật liên quan đến doanh nghiệp, gây tốn kém kinh phí, nguồn lực cho việc sửa đổi, bổ sung. Có thời điểm nước ta có ba văn bản pháp luật điều chỉnh về các loại hình doanh nghiệp khác nhau, tạo ra sự bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp.

2.6.4. Quan điểm lập pháp Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Thể chế hóa Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung phát triển năm 2011), Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam (Hiến pháp năm 2013) đã bổ sung một nguyên tắc mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước ta. Đó là “quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Theo điều 70 Hiến pháp năm 2013, Nhân dân chỉ trao cho Quốc hội ba nhóm quyền hạn và nhiệm vụ: quyền hạn và nhiệm vụ về lập hiến, lập pháp; quyền hạn và nhiệm vụ về giám sát tối cao và quyền hạn và nhiệm vụ về quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước.

Đối với quyền lập pháp là quyền đại diện cho Nhân dân thể hiện ý chí chung của quốc gia. Những người được Nhân dân trao cho quyền này là những người do phổ thông đầu phiếu bầu ra hợp thành cơ quan gọi là Quốc hội. Thuộc tính cơ bản, xuyên suốt mọi hoạt động của quyền này là đại diện cho Nhân dân, bảo đảm cho ý chí chung của Nhân dân được thể hiện trong các đạo luật mà mình là cơ quan duy nhất được Nhân dân giao quyền biểu quyết thông qua luật. Quyền biểu quyết thông qua luật là quyền lập pháp, chứ không phải là quyền đưa ra các mô hình xử sự cho xã hội. Vì vây, quyền lập pháp không đồng nghĩa với quyền làm ra luật. Quyền hạn và nhiệm vụ của Quốc hội thực hiện quyền lập hiến, lập pháp được quy định ở Điều 70 và Điều 120 của Hiến pháp năm 2013.

2.6.5. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam

Từ sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (năm 1986), Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, với mục tiêu xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, chấp nhận và tôn trọng các qui luật của nền sản xuất hàng hóa, chấp nhận tự do kinh doanh và sự phát triển của kinh tế tư bản tư nhân. Chủ trương hội nhập kinh tế quốc tế đã được khẳng định trong nhiều nghị quyết của Đảng. Sau khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành trung ương Đảng khóa X đã ra Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 5/2/2007 về một số chủ trương, chính sách lớn để nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Khi gia nhập WTO, thể chế kinh tế thị trường ở Việt Nam ngày càng hoàn thiện, môi trường đầu tư, kinh doanh trong nước ngày càng thuận lợi, thúc đẩy mạnh mẽ đầu tư của các thành phần kinh tế. Gia nhập WTO sẽ thúc đẩy nền kinh tế nước ta phát triển, chính sách kinh tế, cơ chế quản lý ngày càng minh bạch hơn, môi trường kinh doanh thuận lợi hơn…Hiện nay, Việt Nam đã thiết lập quan hệ đối tác chiến lược toàn diện, đối tác chiến lược, đối tác toàn diện, và quan hệ đặc biệt với nhiều nước (Bùi Xuân Hải, Pháp luật doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện hội nhập).

Thể chế hóa quan điểm của Đảng trong Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về hội nhập quốc tế, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 40/QĐ-TTg ngày 07/01/2016 về việc phê duyệt Chiến lược tổng thể hội nhập quốc tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Việc ký kết nhiều điều ước, hiệp định song phương và đa phương về thương mại, đầu tư, đặc biệt là việc gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới đã tạo cơ sở pháp lý và tiền đề, điều kiện quan trọng về thể chế để nền kinh tế nước ta hội nhập ngày càng sâu rộng và toàn diện vào nền kinh tế quốc tế; để pháp luật trong nước phù hợp và tương thích với pháp luật quốc tế; đồng thời, đảm bảo tính quốc tế của sự phát triển kinh tế thị trường nước ta.

Trong thời gian qua, Quốc hội đã ban hành, sửa đổi, bổ sung nhiều đạo luật quan trọng nhằm thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII, triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013, trong đó có Luật doanh nghiệp năm 2014, góp phần xóa bỏ rào cản về đầu tư, kinh doanh không phù hợp với kinh tế thị trường và cam kết hội nhập của Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý cho việc cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh theo hướng ngày càng thuận lợi, minh bạch và bình đẳng giữa các nhà đầu tư. Bên cạnh kết quả đạt được, đặt ra yêu cầu phải tiếp tục hoàn thiện hơn nữa do Luật doanh nghiệp có quy mô và mức độ cải cách lớn liên quan đến nhiều ngành, lĩnh vực quản lý nhà nước và được triển khai trong bối cảnh một số luật khác được ban hành với những cách tiếp cận khác nhau nên quá trình thực hiện đã không tránh khỏi một số vướng mắc phát sinh từ sự thiếu đồng bộ về phạm vi điều chỉnh giữa Luật này với các luật có liên quan. Bên cạnh đó mặc dù đã có nhiều cải cách theo hướng tạo thuận lợi cho hoạt động đầu tư, kinh doanh nhưng một số quy định của Luật doanh nghiệp còn thiếu cụ thể, chưa thật sự bảo đảm tính khả thi.

2.7. Đánh giá thực trạng pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam

Các quy định của pháp luật hiện hành về doanh nghiệp dân doanh được đánh giá cao, đã có những bước đột phá lớn về thể chế, thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do kinh doanh, theo đó, những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh. Nhiều quy định mới, như: Đăng ký kinh doanh; con dấu doanh nghiệp; điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông công ty;…theo hướng thông thoáng hơn, nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của luật cũ, tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với xu hướng chung của thế giới.

2.7.1. Những mặt tích cực Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam hiện nay nhìn chung phù hợp với chuẩn mực và thông lệ quốc tế, đề cập tới nhiều vấn đề về quản trị doanh nghiệp hiện đại, như trách nhiệm tiền công ty, bảo vệ cổ đông thiểu số, doanh nghiệp xã hội…

Đường lối, quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp dân doanh cơ bản đã được thể chế hóa đầy đủ trong chính sách, pháp luật của Nhà nước.

Đã hình thành một hệ thống các quy phạm pháp luật về doanh nghiệp dân doanh tương đối đầy đủ để điều chỉnh các vấn đề phát sinh do thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp.

Thủ tục hành chính thuận lợi, thân thiện, Luật đã đơn giản hóa trình tự, thủ tục đăng ký kinh doanh, áp dụng thống nhất chế độ đăng ký thay cho “cấp phép”, xóa bỏ những quy định “xin – cho”, “phê duyệt”, “chấp thuận” bất hợp lý, gây phiền hà cho doanh nghiệp dân doanh, hạn chế tối đa rào cản gia nhập thị trường không cần thiết, tạo thuận lợi cho những người có khả năng thành lập doanh nghiệp dân doanh, biến nguyện vọng kinh doanh của mình thành hiện thực. Đặc biệt, Luật doanh nghiệp năm 2014 đã bãi bỏ các yêu cầu, điều kiện tại thời điểm thành lập doanh nghiệp dân doanh, góp phần đơn giản hóa thủ tục và rút ngắn thời gian thành lập doanh nghiệp dân doanh, tạo điều kiện cho doanh nghiệp dân doanh chủ động trong quá trình hoạt động kinh doanh và tổ chức quản lý doanh nghiệp.

Các quy định của pháp luật doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dân doanh nói chung ghi nhận và đảm bảo quyền tự do kinh doanh. Luật Doanh nghiệp năm 2014 có thể xem là bước “đột phá” khi thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanh nghiệp, theo đó, những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh, tạo ra môi trường kinh doanh lành mạnh, công bằng cho các doanh nghiệp, tăng tính khả thi cho một “sân chơi bình đẳng”.

Các quy định về cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp dân doanh đã gần và phù hợp hơn với thông lệ quốc tế, đặc biệt các quy định về công ty cổ phần là tương đối chặt chẽ, góp phần phát triển loại hình doanh nghiệp vốn được coi là khắc phục được cơ bản các hạn chế của loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh.

Các quy định về quyền và nghĩa vụ của doanh nghiệp dân doanh đã cơ bản đầy đủ, trong đó doanh nghiệp dân doanh được tự chủ trong họat động kinh doanh và phát triển thị trường; trong việc quản lý, điều hành nội bộ, doanh nghiệp được quyền tự quyết nhằm nâng cao khả năng kinh doanh và năng lực cạnh tranh; các doanh nghiệp dân doanh được quyền họat động trong môi trường kinh doanh lành mạnh, bình đẳng và ổn định. Doanh nghiệp dân doanh được tự quyết định nội dung, hình thức và số lượng con dấu trên cơ sở đảm bảo con dấu có hai nội dung tối thiểu là tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp. Doanh nghiệp dân doanh tự chịu trách nhiệm trong việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu. Cải cách liên quan đến con dấu của doanh nghiệp không chỉ giúp nâng cao chất lượng môi trường kinh doanh ở nước ta, mà còn phù hợp với xu hướng giao dịch thương mại và thực hiện thủ tục hành chính qua mạng thông tin điện tử.

Nâng cao mức độ minh bạch hóa và công khai hóa về quản trị và hoạt động của doanh nghiệp dân doanh; tạo thuận lợi cho các cổ đông, thành viên công ty tham gia giám sát trong nội bộ doanh nghiệp dân doanh. Tạo cơ chế vận hành linh hoạt, hiệu quả cho tổ chức quản trị doanh nghiệp dân doanh, cơ cấu lại doanh nghiệp dân doanh, bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, cổ đông, thành viên công ty: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Nội dung về vốn và cơ cấu về vốn đã giúp các chủ thể kinh doanh phân chia quyền, lợi ích và nghĩa vụ giữa các thành viên, cổ đông trong công ty.đã xử lý được những bất cập về vốn “ảo” cũng như tạo ra cơ sở pháp lý để doanh nghiệp có thể điều chỉnh được vốn điều lệ về đúng với số vốn thực góp trong quá trình hoạt động; giải quyết những tranh chấp giữa các thành viên, cổ đông công ty về tỷ lệ góp vốn, tỷ lệ sở hữu cổ phần trong công ty. Tạo điều kiện lành mạnh thông tin và sử dụng hợp lý, hiệu quả vốn kinh doanh của doanh nghiệp dân doanh.

Quy định rõ hơn và hợp lý hơn trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp dân doanh, thống nhất một đầu mối và tăng cường phối hợp giữa các cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan có liên quan trong thủ tục giải thể doanh nghiệp dân doanh.

2.7.2. Các mặt hạn chế

Tuy nhiên, qua nghiên cứu cũng như từ thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về doanh nghiệp dân doanh cũng vẫn còn tồn tại một số hạn chế cần khắc phục:

Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam chưa có thống nhất và còn nhiều bất cập. Đôi khi các quy phạm pháp luật còn mâu thuẫn, chồng chéo lẫn Số lượng văn bản quá nhiều dẫn đến khó khăn cho việc áp dụng trong thực tế.

Năng lực xây dựng pháp luật của các cơ quan chức năng chưa hoàn toàn đáp ứng yêu cầu của sự phát triển đời sống xã hội; nhu cầu điều chỉnh bằng pháp luật ngày càng cao của xã hội; nhu cầu xây dựng nền kinh tế thị trường và hội nhập quốc tế.

Tính khả thi và hiệu quả của pháp luật còn thấp. Các văn bản quy phạm pháp luật được ban hành ngày càng nhiều hơn nhưng thường xuyên bị thay đổi, gây tốn kém kinh phí, nguồn lực cho việc sửa đổi, bổ sung.

Sự hiểu biết và ý thức pháp luật của các doanh nghiệp, nhất là pháp luật về cạnh tranh, hội nhập quốc tế còn thấp.

Thiếu sót trong quy định của Luật doanh nghiệp 2014 về các đối tượng không được quyền thành lập doanh nghiệp, cụ thể Luật doanh nghiệp 2014 đã không đề cập tới người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Đây là một điểm bất hợp lý của Luật cần phải được khắc phục, bởi vì tuy chưa đến mức bị mất năng lực hành vi dân sự nhưng người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi vẫn là những người không đủ khả năng nhận thức, làm chủ hành vi của mình và cần phải có người giám hộ. Do đó họ không thể có đủ điều kiện để thành lập hay quản lý doanh nghiệp. Sẽ không hợp lý và thiếu sót nếu người mất năng lực hành vi dân sự hoặc người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp, còn người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì không được đề cập tới.

Quyền tự do kinh doanh của các chủ thể trong một số trường hợp chưa được đảm bảo: Quy định các ngành nghề có điều kiện còn chưa chuẩn có thể gây ảnh hưởng quyền tự do kinh doanh. Theo báo cáo của Tổ Công tác thi hành Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư, hiện có 16 ngành, nghề trong 267 ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện chưa ban hành điều kiện đầu tư kinh doanh tương ứng. Như vậy, chưa bảo đảm thực thi quyền tự do kinh doanh cho doanh nghiệp.

Quy định bỏ đăng ký ngành nghề kinh doanh còn mâu thuẫn. Ngành nghề kinh doanh là một trong những nội dung doanh nghiệp dân doanh bắt buộc phải thông báo theo quy định của Luật doanh nghiệp. Như vậy, liệu có phải là sự cản trở quyền tự do kinh doanh của doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dân doanh nói riêng quy định tại Điều 7 của Luật Doanh nghiệp năm 2014 hay không? Vấn đề đặt ra là doanh nghiệp dân doanh có được hoạt động ở các ngành nghề mà mình không thông báo khi tiến hành đăng ký kinh doanh hay không? hoặc doanh nghiệp dân doanh có được phép hoạt động các ngành nghề không quy định trong điều lệ doanh nghiệp hay không?

Sự trùng lắp giữa thủ tục đăng ký kinh doanh và thủ tục đăng ký đầu tư (quy định tại Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư) tạo ra tình trạng chồng chéo về thủ tục, gây phiền hà. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

  • Luật doanh nghiệp năm 2014 chưa thống nhất quy định về trách nhiệm tài sản của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh.

Trách nhiệm tài sản của thành viên góp vốn trong công ty hợp danh được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 172. Theo đó, thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty. Bên cạnh đó, tại điểm a khoản 2 Điều 182 lại có quy định theo đó thành viên góp vốn chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi số vốn đã cam kết góp.

Như vậy, thành viên góp vốn sẽ phải chịu trách nhiệm tài sản theo quy định tại Điều 172 hay Điều 182 Luật DN năm 2014? Đặc biệt, quy định mâu thuẫn trên đã tồn tại từ Luật DN năm 2005 đến nay vẫn chưa được khắc phục. Vì vậy trách nhiệm tài sản của thành viên góp vốn công ty hợp danh phải được quy định thống nhất.

Về chủ thể bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dân doanh nói riêng tại Việt Nam, theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 18 Luật doanh nghiệp 2014 thì “Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự,….” không được thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam. Đây là quy định mới về chủ thể bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp so với LDN 2005. Tuy nhiên, theo tác giả, quy định này không phù hợp với thực tế cũng như mâu thuẫn với quy định của Hiến pháp năm 2013, chưa bảo đảm được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp chính đáng của công dân.

Chưa có quy định, cụ thể về trách nhiệm liên đới khi định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế của tài sản.

Trong thực tế, không ít trường hợp tài sản góp vốn vào doanh nghiệp được các bên có quyền định giá định giá cao hơn so với giá trị thực tế của tài sản. Để giải quyết tình trạng này, khoản 2 và khoản 3 Điều 37 LDN 2014 đã có quy định: “2. Tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp phải được các thành viên, cổ đông sáng lập định giá theo nguyên tắc nhất trí hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được đa số các thành viên, cổ đông sáng lập chấp thuận. Trường hợp tài sản góp vốn được định giá cao hơn so với giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế.

Tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động do chủ sở hữu, Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần và người góp vốn thỏa thuận định giá hoặc do một tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá. Trường hợp tổ chức thẩm định giá chuyên nghiệp định giá thì giá trị tài sản góp vốn phải được người góp vốn và doanh nghiệp chấp thuận. Trường hợp nếu tài sản góp vốn được định giá cao hơn giá trị thực tế tại thời điểm góp vốn thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Theo quy định nêu trên, thì tài sản góp vốn khi thành lập doanh nghiệp nếu được định giá cao hơn so với giá trị thực tế thì các thành viên, cổ đông sáng lập cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế. Còn nếu tài sản góp vốn trong quá trình hoạt động (do các thành viên, cổ đông hiện hữu góp thêm vốn hoặc do công ty tiếp nhận vốn góp từ thành viên mới) được định giá cao hơn so với giá trị thực tế thì người góp vốn, chủ sở hữu, thành viên Hội đồng thành viên đối với công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần cùng liên đới góp thêm bằng số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm kết thúc định giá; đồng thời, liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2014 chỉ dừng lại ở việc quy định các chủ thể trên phải liên đới chịu trách nhiệm vật chất bằng cách góp thêm tài sản để bù vào số chênh lệch giữa giá trị được định giá và giá trị thực tế của tài sản góp vốn tại thời điểm được định giá, đồng thời liên đới chịu trách nhiệm đối với thiệt hại do việc cố ý định giá tài sản góp vốn cao hơn giá trị thực tế nhưng căn cứ để xác định mức trách nhiệm vật chất cụ thể mà mỗi một thành viên Hội đồng thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty hợp danh, mỗi một cổ đông sáng lập, thành viên Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần, người góp vốn phải chịu là bao nhiêu thì Luật doanh nghiệp 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không quy định. Điều này rất dễ gây ra những mâu thuẫn, xung đột và dẫn đến tranh chấp giữa chủ sở hữu, các thành viên Hội đồng thành viên, các cổ đông sáng lập, các thành viên Hội đồng quản trị, người góp vốn với nhau khi thực hiện trách nhiệm vật chất của mình. Điều này đòi hỏi luật cần phải có quy định dự liệu các căn cứ để xác định trách nhiệm vật chất của các chủ thể trong trường hợp trên nếu như Điều lệ công ty không có quy định.

2.7.3. Nguyên nhân của các hạn chế Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

Công tác dự báo, nghiên cứu lý luận phục vụ việc xây dựng và hoạch định chính sách và pháp luật chưa theo kịp yêu cầu của thực tiễn.

Trình độ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức làm công tác xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật còn hạn chế. Kinh phí để xây dựng pháp luật và tổ chức thực hiện pháp luật chưa thực sự tương xứng với nhiệm vụ.

Mô hình Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được hình thành và phát triển theo cách thức “vừa thiết kế, vừa thi công”, vừa làm, vừa tổng kết rút kinh nghiệm, khái quát thành lý luận, sau đó chắt lọc xây dựng thành đường lối, chính sách, thể chế hóa và thực hiện trên thực tế, sau khi kiểm chứng lại chỉnh sửa, bổ sung đường lối và pháp luật. Các quan hệ kinh tế – xã hội mà pháp luật điều chỉnh đang phát triển, tính ổn định chưa

Chưa phát huy đầy đủ được vai trò, trách nhiệm của các chủ thể tham gia vào quá trình xây dựng văn bản, nhất là cơ quan chủ trì, cơ quan tham gia soạn thảo trong việc chuẩn bị, trình, tiếp thu ý kiến, hoàn thiện dự thảo trình thông qua; sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học vào quá trình chuẩn bị văn bản còn hạn chế.

Hiệu quả công tác tuyên truyền pháp luật chưa cao và doanh nghiệp dân doanh chưa thực sự coi trọng việc tìm hiểu pháp luật. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN

One thought on “Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh”

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464