Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện các quy định của pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Doanh nghiệp là các chủ thể quyết định chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế. Tổng sản phẩm kinh tế quốc dân chủ yếu là do các doanh nghiệp trong nước tạo ra. Vì thế sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp sẽ trực tiếp tác động đến sự phát triển về quy mô cũng như chất lượng tăng trưởng của nền kinh tế quốc dân. Doanh nghiệp là đội quân chủ lực trong phát triển kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế. Trong nền kinh tế thị trường không ai có thể phủ nhận được vai trò của doanh nghiệp trong sự phát triển của mỗi quốc gia. Nền kinh tế Việt Nam hiện nay cũng không thể phát triển được nếu không có các loại hình doanh nghiệp khá năng động. Chúng ta đã phải trả giá quá đắt cho khoảng thời gian không thừa nhận nền kinh tế thị trường, không thừa nhận sự tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau, nhất là các doanh nghiệp ngoài nhà nước. Sau Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI, cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, thừa nhận nền kinh tế nhiều thành phần, chúng ta đã bắt đầu thừa nhận và tạo điều kiện để các loại hình doanh nghiệp khác nhau tồn tại và phát triển. Nhờ sự thay đổi đó mà nền kinh tế bắt đầu khởi sắc và dần phát triển. Các bài học về vai trò và vị trí của nền doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường của các nước phát triển dần được áp dụng ở Việt Nam. Vì thế để cho nền kinh tế tiếp tục phát triển năng động hơn nữa thì nhà nước cần tiếp tục tạo môi trường và điều kiện thuận lợi cho sự ra đời và hoạt động có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, đặc biệt là các doanh nghiệp dân doanh.
Thời gian qua, nước ta đã ký kết và thực thi các hiệp định thương mại quan trọng, trong đó tiêu biểu là Hiệp định thương mại song phương Việt Nam – Hoa Kỳ (năm 2000), gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) (năm 2007), tham gia đàm phán và ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) quan trọng khác như: Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EU) (EVFTA), Hiệp định thương mại tự do Việt Nam – Hàn Quốc; thành viên của Cộng đồng Kinh tế ASEAN (AEC).
Việc tham gia vào các hiệp định FTA mở ra con đường hội nhập thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam cũng như toàn bộ nền kinh tế với các đối tác thương mại lớn. Đồng thời, thông qua việc thực thi các cam kết trong đó môi trường đầu tư, kinh doanh của Việt Nam cũng được cải thiện mạnh mẽ, tạo điều kiện để doanh nghiệp tự do sáng tạo, kinh doanh, làm giàu cho mình và cho đất nước. Tính đến 20/4/2017, cả nước có khoảng 612.000 doanh nghiệp đang hoạt động.
Các doanh nghiệp dân doanh Việt Nam đã thực hiện tính năng động, linh hoạt thích ứng với điều kiện hội nhập, sự tự tin và ý chí kinh doanh cao… và kết quả hoạt động là tích cực rất đáng khích lệ. Trong đó, một số doanh nghiệp đã khẳng định được uy tín, chất lượng, hiệu quả và thương hiệu của mình trên thị trường trong nước và quốc tế. Hoàn toàn có cơ sở khẳng định rằng, các doanh nghiệp dân doanh Việt Nam đang và sẽ trở thành đội quân chủ lực trong sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của đất nước.
Với quan điểm xây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa, những năm gần đây Nhà nước ta rất quan tâm xây dựng và hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp. Việc ban hành Luật Doanh nghiệp 2014 được xem như một bước phát triển quan trọng, với những tư duy pháp lý mới trong xây dựng pháp luật về doanh nghiệp ở Việt Nam. Tuy nhiên, hệ thống pháp luật hiện hành về doanh nghiệp dân doanh vẫn chưa đạt được mức độ hoàn thiện cần thiết, chưa đáp ứng được tốt các yêu cầu mà thực tiễn kinh doanh đang đặt ra. Những vấn đề pháp lý về tổ chức doanh nghiệp dân doanh được quy định trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau. Nội dung của các văn bản pháp luật này bộc lộ nhiều bất cập cả về nội dung pháp lý và kỹ thuật lập pháp. Tính phức tạp, mâu thuẫn, chồng chéo là những biểu hiện không hiếm thấy trong pháp luật hiện hành về doanh nghiệp dân doanh. Thực tế này là nguyên nhân không nhỏ dẫn đến kìm hãm sự pháp triển của hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp dân doanh; tạo ra sự phân bổ các nguồn lực không hợp lý, tác động tiêu cực đến sản xuất kinh doanh và tính công bằng trong môi trường kinh doanh. Vì thế, việc nghiên cứu đề tài “Hoàn thiện các quy định của pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn trong việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam nhằm đưa ra giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
2.1 Tình hình nghiên cứu ngoài nước:
Trên thế giới hiện nay có rất nhiều các nhà nghiên cứu viết về doanh nghiệp dân doanh, như cuốn “COMPANY LAW” của tác giả Peter JohnSon; hay cuốn “ COMPANY LAW HANDBOOK” của tác giả Buttreworths … và rất nhiều công trình nghiên cứu khác.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước:
Ở nước ta, pháp luật về doanh nghiệp dân doanh là một nội dung quan trọng của pháp luật kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, đang được nhiều nhà khoa học thuộc các lĩnh vực khác nhau quan tâm nghiên cứu. Ở phạm vi và mức độ khác nhau, có một số công trình khoa học đã được công bố, đề cập đến một vài khía cạnh của pháp luật về doanh nghiệp dân doanh. Có thể kể đến một số tác giả đã nghiên cứu như: Luật sư Trương Thanh Đức – Trọng tài viên VIAC, Luận giải về Luật doanh nghiệp hiện hành (36 kế sách pháp lý của doanh nghiệp); Trương Nhật Quang, 2016, Pháp luật về doanh nghiệp-Các vấn đề pháp lý cơ bản…Từ việc đánh giá tình hình nghiên cứu pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam, cho phép khẳng định, cho đến nay, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống các vấn đề lý luận và thực tiễn về doanh nghiệp dân doanh và pháp luật về doanh nghiệp dân doanh, để trên cơ sở đó chỉ ra cơ sở khoa học của việc hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam hiện nay. Vì vậy tôi chọn đề tài này mong muốn tìm hiểu sâu thêm về vấn đề này ở nước ta.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu của luận văn là đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh tại Việt Nam trong những năm sắp tới. Để đạt được mục đích đó, đề tài đã thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Làm rõ quá trình hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh tại Việt Nam thông qua phân tích, so sánh qua Luật Công ty năm 1990, Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp 2005 và Luật doanh nghiệp 2014.
- Trên cơ sở những vấn đề lý luận và phân tích quá trình hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp dân doanh, luận văn đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh tại Việt Nam trong thời gian tới.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Đối tượng nghiên cứu chủ yếu của luận văn là các vấn đề liên quan đến pháp luật doanh nghiệp dân doanh và việc hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam. Kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp dân doanh ở một số nước trên thế giới cũng là đối tượng nghiên cứu của luận văn.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về thời gian: Luận văn chủ yếu nghiên cứu quá trình hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp dân doanh của Việt Nam từ năm 1990 trở lại đây, thời gian Luật Công ty năm 1990 chính thức ra đời.
- Về không gian: Luận văn nghiên cứu quá trình hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam, bên cạnh đó cũng nghiên cứu kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.
- Về nội dung, luận văn nghiên cứu các nội dung liên quan đến doanh nghiệp dân doanh được quy định trong Luật Công ty năm 1990, Luật doanh nghiệp năm 1999, Luật doanh nghiệp năm 2005 và Luật doanh nghiệp năm 2014 và một số văn bản pháp luật có liên quan.
5. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện Luận văn, tác giải đã áp dụng các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau đây:
- Phương pháp hệ thống hóa và phương pháp phân tích được áp dụng tại Chương 1.
- Phương pháp thống kê và phương pháp so sánh luật học được áp dụng ở Chương 2.
- Phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp được áp dụng ở Chương 3 nhằm luận giải cho những giải pháp cụ thể về hoàn thiện các quy định của pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:
- Chương I. Khái quát chung về pháp luật doanh nghiệp dân doanh
- Chương II. Quá trình hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam
- Chương III. Giải pháp nhằm tiếp tục hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ DOANH NGHIỆP DÂN DOANH Ở VIỆT NAM
1.1. Khái quát chung doanh nghiệp dân doanh và pháp luật doanh nghiệp dân doanh
1.1.1. Khái niệm, phân loại, đặc điểm doanh nghiệp dân doanh
Ở Việt Nam hiện tại việc phân loại các doanh nghiệp cũng được thực hiện theo nhiều tiêu chí khác nhau. Một trong các tiêu chí phổ biến thường được sử dụng là hình thức sở hữu vốn.
Theo hình thức sở hữu vốn, có thể phân chia các doanh nghiệp thành bốn loại chính: Doanh nghiệp quốc doanh hay doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh hay doanh nghiệp ngoài nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, doanh nghiệp tập thể. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Doanh nghiệp dân doanh (hay còn gọi là doanh nghiệp ngoài nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh) là những doanh nghiệp do các cá nhân, tổ chức trong xã hội thành lập. Các các loại hình doanh nghiệp dân doanh được quy định trong luật doanh nghiệp năm 2014, bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân.
- Khái niệm doanh nghiệp dân doanh
Trong quá trình hình thành và phát triển kinh tế ở bất kì quốc gia nào, doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp dân doanh nói riêng cũng là đơn vị cơ sở, một tế bào của nền kinh tế tạo ra của cải vật chất cho xã hội, trực tiếp phối hợp các yếu tố sản xuất một cách hợp lý nhằm tạo ra những sản phẩm hoặc dịch vụ một cách có hiệu quả nhất.
- Chúng ta có thể đưa ra khái niệm về doanh nghiệp dân doanh như sau:
Doanh nghiệp dân doanh hay còn là doanh nghiệp ngoài nhà nước là thuật ngữ dùng để chỉ các loại hình doanh nghiệp do các tổ chức, cá nhân là người Việt Nam hoặc các tổ chức, cá nhân là người nước ngoài thường trú tại Việt Nam góp vốn thành lập. Thực chất đây là các loại doanh nghiệp được thành lập và hoạt động theo Luật Công ty năm 1990 và Luật Doanh nghiệp năm 1999, Luật Doanh nghiệp năm 2014. Cách gọi này có tác dụng để phân biệt các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước (tức là các doanh nghiệp chủ yếu do các tổ chức, cá nhân là người Việt Nam bỏ vốn thành lập) với các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, đồng thời cũng để phân biệt các doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước nói chung với doanh nghiệp tư nhân vì doanh nghiệp tư nhân chỉ là một loại hình doanh nghiệp dân doanh.
- Với cách nhìn nhận như trên, doanh nghiệp dân doanh có các đặc điểm pháp lý cơ bản như sau:
Thứ nhất, thành viên của các doanh nghiệp dân doanh là các tổ chức, cá nhân – người nước ngoài nhưng phải thường trú ở Việt Nam.
Thứ hai, khi thành lập doanh nghiệp dân doanh, các sáng lập viên được quyền tự quyết định lựa chọn loại hình doanh nghiệp dân doanh, lựa chọn ngành nghề, mặt hàng kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Thứ ba, vốn của doanh nghiệp dân doanh hoàn toàn do các tổ chức hoặc cá nhân đóng góp, không có sự tham gia góp vốn của Nhà nước hoặc nhà đầu tư nước ngoài. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Thứ tư, phần lớn các doanh nghiệp dân doanh có phạm vi và quy mô hoạt động nhỏ hẹp hơn so với các doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ).
Các loại hình doanh nghiệp dân doanh:
- Công ty trách nhiệm hữu hạn có từ hai thành viên trở lên:
Ở Việt Nam, công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) được chính thức thừa nhận từ năm 1990 khi Nhà nước ban hành Luật Công ty. Từ đó đến nay, các quy định về loại hình công ty này đã được hoàn thiện dần qua các lần sửa đổi, bổ sung các đạo luật liên quan.
- Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên:
Luật Công ty năm 1990 chưa quy định loại hình công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên. Loại hình công ty này chỉ xuất hiện từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 1999. Tuy nhiên, Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên phải là một tổ chức. Từ năm 2005, luật Doanh nghiệp thống nhất đã cho phép chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên có thể là một cá nhân hoặc một tổ chức.
- Công ty cổ phần:
Ở Việt Nam, công ty cổ phần được chính thức thừa nhận từ năm 1990 khi Nhà nước ban hành Luật Công ty. Từ đó cho đến nay, các quy định về loại hình công ty này đã được hoàn thiện dần qua các lần sửa đổi bổ sung các đạo luật liên quan.
- Công ty hợp danh: Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Ở Việt Nam, công ty hợp danh được thừa nhận từ khi có Luật Doanh nghiệp năm 1999. Tuy nhiên, trong đạo luật này các quy định về công ty hợp danh còn rất sơ sài, chỉ bao gồm 4 điều luật, từ Điều 95 đến Điều 98. Nội dung của từng Điều luật cũng chưa chi tiết. Từ năm 2005, Luật Doanh Nghiệp đã quy định đầy đủ hơn và chi tiết hơn về loại hình công ty này. Một trong những sự khác biệt quan trọng giữa hai đạo luật này là Luật Doanh nghiệp năm 1999 quy định công ty hợp danh không có tư cách pháp nhân nhưng Luật Doanh nghiệp năm 2005 và gần đây nhất là Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã quy định công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.
- Doanh nghiệp tư nhân:
Ở Việt Nam, doanh nghiệp tư nhân là loại hình doanh nghiệp được thừa nhận từ khi có Luật Doanh nghiệp tư nhân 1990. Từ năm 1999, Luật Doanh nghiệp tư nhân được hợp nhất với Luật Công ty thành Luật Doanh nghiệp. Hiện nay, các vấn đề liên quan đến doanh nghiệp tư nhân được quy định trong Luật Doanh nghiệp năm 2014. Nhìn chung qua một số lần sửa đổi bổ sung các văn bản quy phạm pháp luật về doanh nghiệp, các quy định về doanh nghiệp tư nhân không còn có sự thay đổi nhiều như một số loại doanh nghiệp khác. Sự thay đổi lớn nhất là việc bãi bỏ quy định về vốn pháp định.
- Vai trò của doanh nghiệp dân doanh trong nền kinh tế thị trường
Qua hơn 30 năm chuyển đổi từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, quan liêu, bao cấp sang kinh tế thị trường, đã diễn ra quá trình thay đổi to lớn trong việc phát triển doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Từ chỗ nền kinh tế dựa chủ yếu vào doanh nghiệp nhà nước và hợp tác xã nông nghiệp, hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp, hợp tác xã mua bán, hiện nay nước ta đã có trên 620.000 doanh nghiệp tư nhân, hơn 20.000 doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI). Phần lớn doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hóa, số doanh nghiệp 100% vốn nhà nước chủ yếu là những tập đoàn lớn.
Nghị quyết lần thứ IV của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (Khóa XII) nhận định: “Môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện và thông thoáng hơn; quyền tự do kinh doanh và cạnh tranh bình đẳng giữa các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế được bảo đảm hơn”. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Nhà nước đã có định hướng và chính sách phát triển đối với từng loại hình doanh nghiệp như doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp dân doanh và doanh nghiệp FDI. Việc thực hiện cổ phần hóa và nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nước đã được triển khai trong hơn hai thập niên, đang ở vào giai đoạn cuối để định hình khu vực kinh tế nhà nước trong nền kinh tế thị trường.
Vai trò của doanh nghiệp dân doanh thể hiện ở các nội dung chủ yếu sau:
- Là lĩnh vực chính thu hút lao động xã hội, tạo công ăn việc làm cho người lao động
Trong những năm gần đây, số doanh nghiệp dân doanh tăng nhanh đã giải quyết được nhiều việc làm với thu nhập cao hơn cho người lao động. Thu nhập cao và tăng nhanh của lao động khối doanh nghiệp dân doanh góp phần cải thiện và nâng cao mức sống chung của toàn xã hội và tham gia vào quá trình chuyển dịch cơ cấu lao động từ nông nghiệp sang các ngành phi nông nghiệp.
- Góp phần quan trọng để tạo ra thành tựu tăng trưởng kinh tế chung, đổi mới bộ mặt kinh tế xã hội
Lợi ích cao hơn mà tăng trưởng doanh nghiệp dân doanh đem lại là tạo ra khối lượng hàng hoá và dịch vụ lớn hơn, phong phú hơn, chất lượng tốt hơn, thay thế được nhiều mặt hàng phải nhập khẩu, góp phần quan trọng cải thiện và nâng cao mức tiêu dùng trong nước và tăng xuất khẩu, đó cũng là yếu tố giữ cho nền kinh tế ổn định và phát triển những năm qua.
- Doanh nghiệp dân doanh phát triển góp phần chuyển dịch cơ cấu trong nền kinh tế quốc dân
Doanh nghiệp dân doanh phát triển nhanh trong tất cả các ngành và ở khắp các địa phương đã tạo ra cơ hội phân công lại lao động giữa các khu vực nông lâm nghiệp, thủy sản và sản xuất kinh doanh nhỏ của hộ gia đình là khu vực lao động có năng suất thấp, thu nhập không cao, chiếm số đông, thiếu việc làm sang khu vực doanh nghiệp dân doanh, nhất là công nghiệp và dịch vụ có năng suất cao và thu nhập khá hơn. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
- Phát triển doanh nghiệp dân doanh góp phần giải quyết tốt hơn các vấn đề xã hội
Những năm gần đây, sản phẩm hàng hoá và dịch vụ do khối doanh nghiệp dân doanh tạo ra ngày càng phong phú, đa dạng về chủng loại mặt hàng, chất lượng hàng hoá, dịch vụ được nâng lên, do đó đã góp phần giải quyết cơ bản nhu cầu tiêu dùng hàng hoá, dịch vụ ngày càng cao của toàn xã hội, nâng cao mức sống vật chất của dân cư và tăng nhanh lượng hàng hoá xuất khẩu.
Doanh nghiệp dân doanh là một bộ phận quan trọng góp phần tạo ra nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, nguồn thu này tăng nhanh trong những năm qua là điều kiện để đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, phát triển các hoạt động xã hội công (y tế, giáo dục, xoá đói giảm nghèo…).
- Phát triển doanh nghiệp dân doanh giúp tạo môi trường cạnh tranh, nâng cao tính năng động hiệu quả cho nền kinh tế
Các doanh nghiệp dân doanh ngày càng phát triển về số lượng và lĩnh vực kinh doanh, chất lượng sản phẩm và dịch vụ, do đó đã góp phần tạo ra môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh cao giữa các loại hình doanh nghiệp. Mặt khác, đa số các doanh nghiệp dân doanh là doanh nghiệp vừa và nhỏ nên vô cùng năng động trong việc chuyển đổi lĩnh vực kinh doanh, góp phần nâng cao tính năng động, hiệu quả cho nền kinh tế.
1.1.2. Khái niệm chung về pháp luật doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Trước năm 1986, với đặc thù của nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung, luật pháp nước ta vẫn chỉ thừa nhận hai thành phần kinh tế chủ yếu là “Kinh tế quốc doanh” và “Kinh tế tập thể” các công ty theo đúng nghĩa của nó không tồn tại và vì thế, ở nước ta giai đoạn này cũng chưa có pháp luật về doanh nghiệp dân doanh.
Tháng 12 năm 1986, Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ VI đã quyết định chuyển đổi cơ chế quản lý kinh tế từ quan liêu bao cấp sang kinh tế thị trường. Luật pháp nước ta từ chỗ không thừa nhận nền kinh tế đa thành phần đã chuyển sang thừa nhận nền kinh tế có nhiều thành phần khác nhau, trong đó có thành phần kinh tế tư bản tư nhân và kinh tế cá thể.
Từ đó Việt Nam bắt đầu thực hiện công cuộc đổi mới, với mục tiêu xây dựng nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo cơ chế thị trường, chấp nhận và tôn trọng các quy luật của nền sản xuất hàng hóa, chấp nhận tự do kinh doanh. Đồng thời, hệ thống pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam cũng chính thức hình thành.
Luật Công ty 1990 và Luật doanh nghiệp tư nhân 1990 là những văn bản pháp lý đầu tiên quy định về việc thành lập và hoạt động của các chủ thể kinh doanh thuộc thành phần kinh tế tư nhân. Lúc này, khối kinh tế tư nhân được pháp luật quy định gồm các loại hình: Công ty TNHH, Công ty cổ phần (theo Luật Công ty 1990) và Doanh nghiệp tư nhân (theo Luật Doanh nghiệp tư nhân năm 1990).
Qua gần 10 năm áp dụng, hai đạo luật này đã góp phần đáng kể vào việc xây dựng nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Chúng ta không thể phủ nhận những thành tựu mà hai đạo luật mang lại, song trong quá trình thi hành cũng xuất hiện các bất cập lớn cần phải sửa đổi, bổ sung: Thủ tục thành lập doanh nghiệp rườm rà, trải qua hai giai đoạn thành lập và đăng ký kinh doanh đã tạo ra một cơ chế xin – cho gây nhiều phiền hà cho các nhà đầu tư; các quy định về vốn pháp định, đã ngăn cản số lượng lớn những người muốn thành lập doanh nghiệp và tham gia vào nền kinh tế; việc quy định một cách thiếu rõ ràng về trách nhiệm của các cơ quan quản lý Nhà nước cũng như sự phối hợp giữa các cơ quan này tạo ra một cơ chế quản lý nhà nước không chặt chẽ và gây nhiều khó khăn cho doanh nghiệp. Chính vì những bất cập lớn mà hai đạo luật doanh nghiệp mang lại cùng với yêu cầu phát triển kinh tế chính yếu của nước ta lúc bấy giờ, đòi hỏi cần phải ban hành một đạo luật về doanh nghiệp có phạm vi điểu chỉnh rộng hơn, nội dung đẩy đủ, bao quát hơn và phù hợp hơn với yêu cầu quản lý Nhà nước và yêu cầu đa dạng hóa hình thức kinh doanh, thúc đẩy, huy động phát triển nội lực phát triển kinh tế trong thời đại mới. Từ đó, Luật doanh nghiệp năm 1999 ra đời trên cơ sở hợp nhất hai đạo Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty 1990. Luật Doanh nghiệp 1999 có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2000 dưới thời Thủ tướng Phan Văn Khải được cho là một trong những đột phá lớn về đổi mới thể chế và thay đổi cung cách điều hành phát triển đất nước. Luật Doanh nghiệp 1999 ra đời với 02 nội dung quan trọng và nổi bật: mọi tổ chức và công dân đều có quyền tự do kinh doanh theo pháp luật, nhà nước tổ chức quản lý, giám sát theo nguyên tắt công khai, minh bạch. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử, Chính phủ mời đại diện cộng đồng doanh nghiệp tham gia soạn thảo luật cho chính mình. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Đến Luật Doanh nghiệp 2005, tiếp tục là những cải cách quan trọng để phù hợp với tình hình hình xã hội và nhu cầu phát triển kinh tế. Cải cách quan trọng của luật là thống nhất các quy định về tổ chức quản lý các loại hình doanh nghiệp, khắc phục những khiếm khuyết của hệ thống pháp luật hiện hành về doanh nghiệp. Luật Doanh nghiệp 2005 đã kế thừa và phát huy tinh thần của Luật Doanh nghiệp năm 1999, tiếp tục mở rộng quyền tự do kinh doanh, rút ngắn thời gian đăng ký doanh nghiệp, cho phép thành lập công ty TNHH MTV do cá nhân làm chủ, hoàn thiện quy định về quản trị doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế. Mặc dù, không tạo ra nhiều đột phá ngoạn ngục như Luật Doanh nghiệp 1999, nhưng Luật Doanh nghiệp 2005 đã tiếp tục có những tác động tích cực vào phát triển khu vực kinh tế tư nhân, cải cách doanh nghiệp nhà nước và thu hút đầu tư nước ngoài.
Sau rất nhiều lần sửa đổi ngày 26/11/2014, Quốc hội ban hành Luật doanh nghiệp năm 2014 quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại, giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp nói chung (trong đó có cả doanh nghiệp dân doanh), bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; quy định về nhóm công ty. Luật Doanh nghiệp năm 2014, được đánh giá như bước đột phá lớn về thể chế, thể hiện đúng tinh thần Hiến pháp năm 2013 về quyền tự do kinh doanh của công dân, của doanh nghiệp, theo đó, những gì luật pháp không cấm thì người dân, doanh nghiệp được tự do đầu tư, kinh doanh. Nhiều quy định mới, như: Đăng ký kinh doanh; con dấu doanh nghiệp; điều kiện tiến hành họp Đại hội đồng cổ đông công ty…theo hướng thông thoáng hơn, nhằm tháo gỡ những hạn chế, bất cập của luật cũ, tiếp tục tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, phù hợp với xu hướng chung của thế giới.
Như vậy pháp luật doanh nghiệp dân doanh là những quy định bảo đảm nhu cầu quản lý nhà nước, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp dân doanh cũng như sự phát triển của nền kinh tế – xã hội.
1.2. Những nội dung cơ bản của pháp luật về doanh nghiệp dân doanh Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Nội dung của pháp luật về doanh nghiệp dân doanh chủ yếu là những quy phạm ghi nhận và đảm bảo quyền, đồng thời xác định trách nhiệm của nhà đầu tư trong việc tổ chức, vận hành doanh nghiệp dân doanh. Các nhóm quy phạm của pháp luật Việt Nam về doanh nghiệp dân doanh bao gồm:
1.2.1. Quy định về điều kiện, thủ tục thành lập, đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp dân doanh
Thành lập doanh nghiệp dân doanh có ý nghĩa xác lập tư cách pháp lý cho doanh nghiệp dân doanh. Trong nền kinh tế thị trường, với yêu cầu của nguyên tắc tự do kinh doanh, thành lập doanh nghiệp dân doanh được coi là một trong những quyền cơ bản của nhà đầu tư. Tuy nhiên, sự hiện diện của doanh nghiệp dân doanh trên thương trường luôn tiềm ẩn nguy cơ ảnh hưởng đến những lợi ích của các chủ thể có liên quan, vì vậy việc thành lập doanh nghiệp dân doanh phải được thực hiện trên khuôn khổ pháp luật. Chế định thành lập doanh nghiệp dân doanh thường bao gồm những nội dung cơ bản là những trường hợp được thành lập doanh nghiệp dân doanh hoặc bị cấm thành lập doanh nghiệp dân doanh; các thủ tục để xin phép thành lập doanh nghiệp dân doanh; cơ quan có thẩm quyền đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp dân doanh; Trình tự, thủ tục cần thiết các giấy tờ nộp cho cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kinh doanh cho doanh nghiệp dân doanh.
1.2.2. Quy định về cơ cấu tổ chức quản lý của doanh nghiệp dân doanh
Với yêu cầu của nguyên tắc tự do kinh doanh, việc tổ chức quản lý (nội bộ) doanh nghiệp dân doanh trước hết và chủ yếu thuộc quyền quyết định của chủ sở hữu các doanh nghiệp dân doanh. Pháp luật chỉ quy định ràng buộc những vấn đề cơ bản, mang tính nguyên tắc, xác lập khung pháp lý cho việc tổ chức quản lý doanh nghiệp dân doanh.
Nội dung này gồm các quy định về các loại hình doanh nghiệp dân doanh được phép thành lập; cơ cấu tổ chức của mỗi loại hình doanh nghiệp dân doanh phải bao gồm những cơ quan tối thiểu nào; những loại hình doanh nghiệp dân doanh nào thì bắt buộc phải có cơ quan kiểm soát; điều kiện để các thành viên doanh nghiệp dân doanh có thể tham gia vào các cơ quan của doanh nghiệp dân doanh như hội đồng thành viên, hội đồng quản trị, ban kiểm soát…; chủ tịch hội đồng quản trị hoặc chủ tịch hội đồng thành viên có đồng thời làm giám đốc doanh nghiệp dân doanh được hay không; ai là người đại diện theo pháp luật cho doanh nghiệp dân doanh.
1.2.3. Quy định về các loại vốn và cơ cấu về vốn của doanh nghiệp dân doanh Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Vốn là cơ sở vật chất không thể thiếu cho sự tồn tại và hoạt động của doanh nghiệp dân doanh. Vốn của doanh nghiệp dân doanh được quan niệm là vốn kinh doanh, là giá trị của toàn bộ tài sản được đầu tư vào hoạt động của doanh nghiệp dân doanh nhằm mục đích sinh lời. Việc xác định cấu trúc vốn của doanh nghiệp dân doanh phải tuân thủ những ràng buộc của pháp luật ở các mức độ khác nhau, tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp dân doanh và lĩnh vực hoạt động của doanh nghiệp dân doanh.
Quy định này gồm các nội dung chủ yếu: Mỗi loại doanh nghiệp dân doanh cần tối thiểu mấy loại vốn; doanh nghiệp dân doanh có cần vốn pháp định hay không; loại doanh nghiệp dân doanh nào cần vốn pháp định; tỷ lệ giữa các loại vốn là bao nhiêu; điều kiện góp vốn của các thành viên trong doanh nghiệp dân doanh.
1.2.4. Quy định chế độ pháp lý về thành viên của doanh nghiệp dân doanh
Quy định này gồm các nội dung: mỗi loại hình doanh nghiệp dân doanh có mấy thành viên; các điều kiện tối thiểu để được trở thành thành viên của doanh nghiệp dân doanh; các thành viên cần có những điều kiện gì để được tham gia quản lý, điều hành doanh nghiệp dân doanh; phạm vi trách nhiệm vật chất của các thành viên trong doanh nghiệp dân doanh.
1.2.5 Quy định về điều kiện và thủ tục giải thể doanh nghiệp dân doanh
Giải thể doanh nghiệp dân doanh là một trong những thủ tục pháp lý dẫn đến chấm dứt tồn tại của doanh nghiệp dân doanh. Các quy định pháp luật về giải thể doanh nghiệp dân doanh bao gồm hai nội dung cơ bản là: các trường hợp giải thể dân doanh và thủ tục giải thể doanh nghiệp dân doanh. Về nguyên tắc, việc quyết định giải thể doanh nghiệp dân doanh thuộc quyền của chủ sở hữu doanh nghiệp dân doanh. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp dân doanh không còn thỏa mãn các điều kiện tồn tại theo quy định của pháp luật hoặc kinh doanh vi phạm pháp luật thì doanh nghiệp dân doanh sẽ bị bắt buộc phải giải thể.
Quy định này gồm các nội dung: khi nào các doanh nghiệp dân doanh bắt buộc phải giải thể; thủ tục tiến hành giải thể doanh nghiệp dân doanh như thế nào; cơ quan nào có quyền ra quyết định giải thể doanh nghiệp dân doanh.
1.2.6. Quy định về các quyền và nghĩa vụ cơ bản của doanh nghiệp dân doanh với tư cách là một chủ thể kinh doanh
Chế định quyền và nghĩa vụ là nội dung cơ bản cấu thành địa vị pháp lý cho doanh nghiệp dân doanh nên có ảnh hưởng lớn đến các chế định còn lại như việc thành lập, tổ chức quản lý nội bộ … của doanh nghiệp dân doanh. Theo đó, các quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp dân doanh được luật doanh nghiệp ghi nhận một cách khái quát và có tính nguyên tắc thể hiện mối quan hệ giữa quyền tự do kinh doanh với vai trò quản lý nhà nước và là cơ sở để giải quyết hài hòa lợi ích của các chủ thể tham gia thị trường. Trên cơ sở đó, các chế định khác của luật doanh nghiệp quy định về doanh nghiệp dân doanh nói riêng và pháp luật kinh doanh nói chung sẽ cụ thể và tôn trọng khi giải quyết các quan hệ mà chúng điều chỉnh. Có thể nói rằng, chế định quyền nghĩa vụ của doanh nghiệp dân doanh là sản phẩm nhận thức của nhà làm luật về giới hạn của tự do mà doanh nghiệp dân doanh có thể có. Sự ra đời và tồn tại của chúng là bằng chứng cho từng giai đoạn phát triển của thị trường với những điều kiện nhất định. Các quy định trong luật doanh nghiệp về quyền, nghĩa vụ của doanh nghiệp dân doanh là cơ sở để hình thành chức năng kinh doanh cho doanh nghiệp dân doanh trên tinh thần tự chủ và trách nhiệm. Pháp luật cần quan tâm phát triển và mở rộng quyền của doanh nghiệp dân doanh, trong đó, nên nghiên cứu cơ chế mở rộng khả năng kinh doanh của doanh nghiệp dân doanh không chỉ trong phạm vi ngành nghề đăng ký, mà có thể thừa nhận tính hợp pháp của hoạt động kinh doanh thực tế. Mặt khác, nhà nước cần thiết phải xây dựng và vận hành các cơ chế cần thiết để bảo đảm giá trị thực tế của các quyền của doanh nghiệp dân doanh mà pháp luật quy định.
Quy định này gồm các nội dung: những doanh nghiệp dân doanh nào được coi là một pháp nhân, doanh nghiệp dân doanh nào không được coi là pháp nhân; doanh nghiệp dân doanh có những quyền và nghĩa vụ cơ bản nào trong kinh doanh.
1.3. Các yếu tố ảnh hưởng đến việc hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp dân doanh Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
1.3.1. Quan điểm đường lối của Đảng, chính sách pháp luật của Nhà nước
Đường lối chính sách của Đảng bao gồm những quan điểm tư tưởng, định hướng chung nhất, có tính chất chiến lược đối với sự phát triển của đất nước và xã hội trên tất cả các lĩnh vực quan trọng như kinh tế, văn hóa, xã hội…Đường lối, chính sách của Đảng chỉ đạo nội dung, quá trình xây dựng, áp dụng, bảo vệ pháp luật. Do vậy khi đường lối, chính sách của Đảng thay đổi, nội dung pháp luật cũng thay đổi theo.
1.3.2. Trình độ phát triển kinh tế
Phát triển kinh tế là một quá trình hoàn thiện về mọi mặt của nền kinh tế bao gồm kinh tế, xã hội, môi trường, thể chế trong một thời gian nhất định nhằm đảm bảo tổng sản phẩm trong nước cao hơn.
1.3.3. Trình độ, kỹ thuật lập pháp
Năng lực lập pháp của đại biểu Quốc hội là khả năng của đại biểu Quốc hội trong việc lựa chọn phương án hợp lý nhất để hướng tới hoàn thành chức năng lập pháp hiến định của mình. Cụ thể đó là năng lực ban hành những đạo luật không chỉ khả thi, áp dụng có hiệu quả trên thực tế mà còn phải tạo ra động lực cho sự phát triển. Đây là năng lực từ góc nhìn thẩm định, phản biện chính sách lập pháp để ban hành những chính sách có lợi cho cử tri, cho quốc gia.
Kỹ thuật lập pháp là phương pháp tiến hành xây dựng luật với khả năng và trình độ cao nhằm đưa các văn bản luật có chất lượng. Kỹ thuật lập pháp có vai trò quan trọng trong lập pháp. Trước hết kỹ thuật lập pháp ảnh hưởng đến việc xây dựng bố cục và nội dung của dự án luật; là yếu tố góp phần hoàn thiện cho hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất và có hiệu quả thực thi trong thực tế.
1.3.4. Quan điểm lập pháp Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Quyền lập pháp có nghĩa là quyền lực chế định, sửa đổi và xóa bỏ pháp luật. Điều này có thể hiểu là quyền lực nhà nước đưa ý chí của giai cấp thống trị lên thành pháp luật.
Ở các nước tư bản thường thực hiện chế độ tam quyền phân lập. Quyền lập pháp do nghị viện nắm, nhưng cũng có lúc chịu sự can thiệp của chính phủ hoặc gián tiếp, hoặc trực tiếp. Ở các nước xã hội chủ nghĩa thì cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất nắm quyền lập pháp.
1.3.5. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
Hội nhập kinh tế quốc tế là quá trình gắn kết nền kinh tế của các quốc gia vào các tổ chức kinh tế khu vực và toàn cầu, trong đó các nước thành viên chịu sự ràng buộc theo những quy định chung của cả khối. Hội nhập kinh tế quốc tế đã trở thành một xu thế lớn và một đặc trưng quan trọng của thế giới hiện nay. Xu thế này chi phối toàn bộ các mối quan hệ quốc tế và làm thay đổi to lớn cấu trúc của hệ thống thế giới cũng như bản thân các chủ thể và mối quan hệ giữa chúng. Xu thế hội nhập kinh tế quốc tế đang là xu thế tất yếu toàn cầu bởi những lợi ích to lớn mà nó mang lại. Bất kỳ một quốc gia, một địa phương nào muốn phát triển, muốn nâng cao đời sống của mỗi người dân đều phải nỗ lực hết mình nhằm đạt được hiệu quả cao nhất của tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế.
1.4. Kinh nghiệm của một số nước trên thế giới về hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp dân doanh
1.4.1. Kinh nghiệm của Singapore
Singapore áp dụng khá triệt để hệ thống pháp luật Anh. Một trong những nguyên tắc của việc áp dụng hệ thống pháp luật Anh ở Singapore là áp dụng đến chừng mực mà chưa mâu thuẫn với tập quán và pháp luật của Singapore. Chính vì vậy, nguồn luật công ty của Singapore chủ yếu dựa vào các văn bản pháp luật về công ty của Anh và Úc. Tuy nhiên, luật công ty của Singapore hiện nay cũng chứa đựng nhiều điểm khác so với luật công ty hai nước trên. Nguồn chủ yếu của luật công ty của Singapore là Paprtnership Act 1890 và Compaines Act, Business Registration Act, Security Act. Theo các văn bản pháp luật này thì ở Singapore có các loại hình doanh nghiệp sau: Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
- Doanh nghiệp tư nhân (doanh nghiệp một chủ); Hợp danh; Công ty
Công ty trong hệ thống pháp luật của Singapore: Theo Luật công ty (Luật số 50) thì 2 hay nhiều người có thể thành lập công ty hoạt động vì mục đích hợp pháp thông qua việc họ ký vào thoả thuận thành lập công ty và tuân thủ quy định đăng ký. Trong mọi trường hợp một công ty phải có ít nhất 2 thành viên, trừ khi công ty này là một công ty con thuê 100% sở hữu của một công ty khác (Phạm Trí Hùng-Luật Công ty của Singapore).
- Luật quy định có 3 hình thức công ty:
Công ty trách nhiệm hữu hạn theo cổ phiếu: trách nhiệm của các thành viên công ty là hữu hạn và chỉ hạn chế tới giá đã được thanh toán hay chưa được thanh toán cổ phiếu mà họ nắm giữ (nếu có). Đây là hình thức công ty thông thường được thành lập để thực hiện công việc kinh doanh vì mục đích sinh lợi.
Công ty trách nhiệm hữu hạn theo bảo lãnh: trách nhiệm của các thành viên công ty là hữu hạn và chỉ hạn chế tới giá trị mà họ cam kết cá nhân đóng góp vào tài sản của công ty trong trường hợp giải thể.
Công ty trách nhiệm vô hạn: các thành viên công ty chịu trách nhiệm vô hạn đối với hoạt động của công ty.
Luật công ty Singapore chia các công ty thành công ty cổ phiếu giao dịch hạn chế (private company) và công ty cổ phiếu giao dịch rộng rãi (public company). Công ty cổ phiếu giao dịch hạn chế không được quá 50 thành viên, không được phát hành cổ phiếu và trái nợ cho công chúng và không được nhận tiền gửi của công chúng. Công ty này cũng có thể hạn chế quyền chuyển nhượng cổ phiếu. Ngược lại, công ty có cổ phiếu giao dịch rộng rãi không bị ràng buộc bởi những quy định này. Pháp luật Singapore cho phép một công ty có cổ phiếu giao dịch hạn chế có thể chuyển đổi thành công ty có cổ phiếu giao dịch rộng rãi và ngược lại, khi công ty thoả mãn các điều kiện và yêu cầu về thủ tục chuyển đổi. Theo luật công ty, các công ty nước ngoài có thể cũng có thể chọn việc thành lập chi nhánh công ty để kinh doanh thay việc phải thành lập một công ty (Phạm Trí Hùng-Luật Công ty của Singapore). Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Về danh nghĩa, các thành viên là người có quyền lực lớn trong công ty. Bộ máy quản lý, điều hành công ty phải chịu trách nhiệm trước các thành viên của công ty. Các vấn đề quan trọng nhất của công ty sẽ do đại hội cổ đông quyết định hoặc cho phép. Với tư cách là sở hữu chủ đối với công ty trong phạm vi phần vốn góp vào công ty, các thành viên có những quyền, lợi ích và nghĩa vụ gắn liền với tư cách của chủ sở hữu. Bên cạnh đó, các thành viên của công ty có quyền kiện phát sinh, tức là kiện nhân danh công ty trong những trường hợp nhất định; quyền tiếp cận các tài liệu, sổ sách của công ty.
Luật công ty của Singapore quy định tất cả các công ty được thành lập tại Singapore phải có ít nhất hai giám đốc và một trong hai giám đốc đó phải là người có nơi cư trú thường xuyên ở đây. Các công ty thành lập ở Singapore cũng phải có ít nhất một thư kí là người có nơi cư trú thường xuyên ở Singapore. Giám đốc công ty ở Singapore có nhiều loại. Giám đốc điều hành (executive directors); giám đốc không điều hành (nonexecutive directors); giám đốc thế vị (alternate directors) và giám đốc “de- facto”. Giám đốc điều hành là loại giám đốc phổ biến nhất trong bộ máy điều hành của công ty.Giám đốc không điều hành là giám đốc không làm việc đầy đủ thời gian cho công ty và không tham gia điều hành công ty. Những chức danh này thường mang tính chất danh dự. Giám đốc thế vị là người được thay giám đốc trong các phiên họp và hành động nhân danh giám đốc. Giám đốc “de- fatco” là người hành động với tư cách là giám đốc mặc dù chưa bao giờ được bầu hoặc được cử làm giám đốc. Các giám đốc đầu tiên phải được ghi rõ trong văn bản thành lập công ty. Cách thức bầu giám đốc hoặc chỉ định giám đốc điều lệ công ty quy định.
Trong các công ty của Singapore vốn được cấu trúc từ vốn góp và vốn vay. Vốn góp của công ty thể hiện trong các cổ phần. Cổ phiếu là phần góp vốn của thành viên công ty, là phần sở hữu của họ được xác định theo tỉ lệ trong toàn bộ tài sản của công ty.
Cổ phiếu trong công ty của Singapore được chia thành hai loại: Cổ phiếu dự phần (equyty share) và cổ phiếu ưu thế (preferential share) tương đương với cổ phiếu phổ thông và cổ phiếu ưu tiên trong luật công ty ở một số nước. Theo định nghĩa của luật công ty Singapore, cổ phiếu ưu tiên là cổ phiếu không chứa đựng quyền bỏ phiếu và chỉ cho phép hưởng lợi tức hạn chế theo tỷ lệ đã xác định. Cổ phiếu cổ phần là cổ phiếu không thuộc diện cổ phiếu ưu tiên. Vốn cổ phần của công ty ở Singapore được phân loại thành vốn điều lệ (authorized capital), vốn phát hành (issued capital) và vốn đã nộp (paid-up capital). Vốn điều lệ là giá trị tối đa của các cổ phiếu mà công ty được phép phát hành. Vốn điều lệ này có thể thay đổi trong trường hợp công ty phát hành thêm cổ phiếu mới hoặc mệnh giá của cổ phiếu bị tăng hoặc giảm.Vốn phát hành là giá trị toàn bộ của cổ phiếu đã phát hành và đang lưu hành (Phạm Trí Hùng-Luật Công ty của Singapore). Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Doanh nghiệp tư nhân trong luật của Singapore: Doanh nghiệp tư nhân trong luật của Singapore không được điều chỉnh bởi các quy định cụ thể, riêng biệt. Doanh nghiệp tư nhân được coi là doanh nghiệp của cá nhân. Tài sản của doanh nghiệp tư nhân không có sự tách bạch với tài sản khác của chủ doanh nghiệp. Khi tham gia các quan hệ kinh tế, dân sự, chủ doanh nghiệp tư nhân được đối xử như thể nhân. Vì vậy, không có những quy định riêng cho chủ doanh nghiệp tư nhân.
Khi tham gia các quan hệ kinh tế, dân sự, chủ doanh nghiệp tư nhân được đối xử như thể nhân. Vì vậy, không có những quy định riêng cho chủ doanh nghiệp tư nhân. Khi chủ doanh nghiệp tư nhân chết thì doanh nghiệp đương nhiên chấm dứt sự tồn tại.
Doanh nghiệp hợp danh: Theo Luật đăng ký kinh doanh (Luật số 32) thì một cá nhân nào hay một nhóm những cá nhân có thể thành lập doanh nghiệp một chủ (công ty), hợp danh thông qua cơ chế đăng ký với cơ quan đăng ký được máy tính hoá. Các thông tin đăng ký tại đây đều được cung cấp cho bất kỳ ai quan tâm. “Công ty ” hợp danh không được có quá 20 thành viên, loại trừ đối với các (Công ty) hợp doanh hành nghề được điều chỉnh theo luật. Để đăng ký thì chủ sở hữu duy nhất hay thành viên (công ty) hợp danh phải có đơn tới cơ quan đăng ký để được kiểm tra xem tên dự tính của doanh nghiệp hay (công ty) hợp danh có thích hợp không. Doanh nghiệp một chủ và (công ty ) hợp danh không là pháp nhân. Chủ sở hữu và thành viên của thành viên hợp danh chịu trách nhiệm cá nhân đối với hoạt động của doanh nghiệp và (công ty) hợp danh. Doanh nghiệp một chủ và (công ty) hợp danh không có nghĩa vụ phải nộp báo cáo tài chính hàng năm. Nhưng thời hạn đăng ký của 2 loại hình doanh nghiệp này là 01 năm và được gia hạn hàng năm. Một công ty có thể tham gia với tư cách là thành viên hợp danh.
1.4.2. Kinh nghiệm của Malaysia Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Công ty được điều chỉnh bởi Luật công ty 1965, trong đó quy định bốn loại hình công ty: Công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần; Công ty trách nhiệm hữu hạn bảo đảm; Công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần và bảo đảm; Công ty trách nhiệm vô hạn.
Trên thực tế, hầu hết các công ty là công ty trách nhiệm hữu hạn cổ phần, với chế độ chịu trách nhiệm hữu hạn của mỗi thành viên công ty trong giới hạn giá trị cổ phần của họ. Công ty có thể được thành lập dưới hình thức công ty tư nhân hay công ty đại chúng.
Công ty tư nhân có điều lệ cấm việc phát hành cổ phần ra công chúng và cấm việc nhận tiền đầu tư từ công chúng. Số cổ đông/thành viên của công ty tư nhân không vượt quá năm mươi và việc chuyển nhượng cổ phần của họ trong công ty bị hạn chế. Loại hình công ty đại chúng cho phép phát hành cổ phần, trái phiếu ra công chúng hoặc thu hút đầu tư bằng tiền gửi từ công chúng.
Công ty trách nhiệm hữu hạn hợp danh được điều chỉnh bởi Luật công ty trách nhiệm hữu hạn hợp danh năm 2012, là sự kết hợp các đặc điểm của công ty và hợp danh truyền thống. Công ty trách nhiệm hữu hạn hợp danh có tư cách pháp nhân độc lập với các thành viên hợp danh của chính công ty đó. Trách nhiệm của các thành viên là hữu hạn trong khi trách nhiệm của công ty là vô hạn trong việc tiến hành các hoạt động kinh doanh và sở hữu tài sản. Ít nhất hai cá nhân hoặc tổ chức có thể thành lập một công ty trách nhiệm hữu hạn hợp danh để thực hiện bất kỳ ngành nghề kinh doanh hợp pháp nào theo điều lệ hợp danh hoặc để cung cấp các dịch vụ chuyên ngành mà thành viên cá nhân của hợp danh đó có đủ năng lực và điều kiện pháp lý để thực hiện cùng với việc mua bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp hợp lệ của Cơ quan đăng ký doanh nghiệp. Việc thay đổi thành viên hợp danh dẫn đến việc hình thành công ty trách nhiệm hữu hạn hợp danh mới. Công ty mới này sẽ không thừa kế và tiếp tục tư cách pháp lý, quyền và trách nhiệm của công ty trách nhiệm hữu hạn hợp danh trước đó.
Tất cả các Công ty hợp danh hoặc công ty một chủ sở hữu cá nhân (ngoại trừ công ty trách nhiệm hữu hạn hợp danh) không có tư cách pháp nhân và phải đăng ký với Cơ quan đăng ký Thể chế pháp luật kinh tế một số quốc gia trên thế giới và đặt dưới sự kiểm soát của Ủy ban Doanh nghiệp Malaysia. Công ty hợp danh hoặc công ty một chủ sở hữu cá nhân chịu trách nhiệm vô hạn. Các thành viên hợp danh hoặc người sở hữu chịu trách nhiệm liên đới và riêng rẽ đối với các khoản nợ và nghĩa vụ của công ty. Loại hình công ty một chủ sở hữu cá nhân tương tự như hình thức doanh nghiệp tư nhân của Việt Nam.
Ngoài ra, ở Malaysia còn tồn tại chi nhánh công ty nước ngoài và văn phòng đại diện, văn phòng khu vực của công ty nước ngoài. Một công ty nước ngoài là một công ty thành lập ngoài phạm vi lãnh thổ Malaysia. Công ty nước ngoài muốn lập một cơ sở kinh doanh hoặc tiến hành hoạt động kinh doanh ở Malaysia có thể thành lập một chi nhánh bằng việc gửi hồ sơ theo quy định đến cơ quan đăng ký kinh doanh Malaysia. Công ty nước ngoài hoạt động trong lĩnh vực bán buôn và bán lẻ không được khuyến khích kinh doanh tại Malaysia dưới hình thức chi nhánh. Doanh nghiệp hoặc tổ chức nước ngoài không hoạt động kinh doanh thương mại tại Malaysia mà chỉ muốn có cơ sở đại diện để thực hiện một số chức năng nhất định có thể đăng ký với Cơ quan Đăng ký Văn phòng đại diện/Văn phòng khu vực tương ứng. Văn phòng đại diện, văn phòng khu vực không được tiến hành hoạt động kinh doanh và chỉ làm đại diện cho doanh nghiệp để tiến hành một số hoạt động, chức năng được chỉ định. Văn phòng đại diện, văn phòng khu vực hoạt động hoàn toàn bằng nguồn tài chính từ nước ngoài. Theo Luật công ty năm 1965, văn phòng đại diện và văn phòng khu vực không cần phải có tư cách pháp nhân; tuy nhiên, việc thành lập văn phòng đại diện, văn phòng khu vực vẫn phải được Chính phủ Malaysia phê duyệt (Thường trực Ủy ban Kinh tế-Thể chế pháp luật kinh tế một số Quốc gia trên thế giới). Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
1.4.3. Kinh nghiệm của Hàn Quốc
Bộ luật thương mại, phần công ty quy định 5 loại hình công ty là: (1) Công ty hợp danh; (2) Công ty hợp danh hữu hạn; (3) Công ty trách nhiệm hữu hạn; (4) Công ty cổ phần; (5) Công ty hữu hạn (limited company).
Công ty hợp danh được thành lập bởi ít nhất 2 thành viên và nếu không có sự đồng ý của các thành viên còn lại thì thành viên không thể chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác hoặc tiến hành các loại giao dịch thuộc phạm vi hoạt động của công ty hoặc trở thành thành viên có trách nhiệm vô hạn hoặc người điều hành của công ty khác mà mục đích kinh doanh giống với loại hình kinh doanh mà công ty đang tiến hành. Nếu công ty không chỉ định thành viên điều hành thì mỗi thành viên của công ty đều có thể đại diện cho công ty và nếu tài sản công ty không đủ để trả nợ, mỗi thành viên phải liên đới chịu trách nhiệm trả nợ. Khi tất cả các thành viên công ty hợp danh đồng ý thì công ty có thể chuyển đổi thành công ty hợp danh hữu hạn.
Công ty hợp danh hữu hạn là công ty hợp danh có 2 loại thành viên: thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn và thành viên chịu trách nhiệm vô hạn. Thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn không được quyền cung cấp các dịch vụ nhân danh công ty. Thành viên chịu trách nhiệm vô hạn có trách nhiệm và bổn phận quản lý công việc chung của công ty, trừ trường hợp điều lệ có quy định khác. Thành viên chịu trách nhiệm hữu hạn có thể chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác nếu được tất cả các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn đồng ý. Công ty hợp danh hữu hạn có thể chuyển đổi thành công ty hợp danh nếu được tất cả các thành viên trong công ty đồng ý.
Công ty cổ phần có thể được thành lập bởi một người, tuy nhiên số lượng cổ phần của công ty đã được ấn định sẵn tại thời điểm thành lập. Tại thời điểm thành lập, số cổ phần được phát hành (chào bán cho người khác) không được ít hơn 1/4 số cổ phần có thể phát hành. Vốn pháp định tối thiểu của công ty cổ phần không được thấp hơn 50 triệu Won. Mỗi cổ phần có mệnh giá tối thiểu là 100 Won.
Công ty trách nhiệm hữu hạn được thành lập ít nhất bởi một người và có số lượng thành viên không quá 50 người với số vốn pháp định tối thiểu là 10 triệu Won. Vốn công ty cũng được chia thành những phần góp vốn bằng nhau với giá trị tối thiểu của một phần là 500 ngàn Won. Công ty có thể có một người điều hành hoặc một Hội đồng điều hành để đại diện cho công ty trong các giao dịch.
Muốn thành lập một doanh nghiệp tại Hàn Quốc, nhìn chung, nhà đầu tư cần lập hồ sơ đề nghị thành lập doanh nghiệp với các loại giấy tờ cơ bản sau: (1) Điều lệ doanh nghiệp; (2) Đăng ký mua cổ phần, phần vốn góp trong doanh nghiệp; (3) Việc bầu thành viên hội đồng điều hành hoặc hội đồng quản trị cùng các kiểm soát viên.
Việc đăng ký thành lập được tiến hành tại Cơ quan Đăng ký Thương mại (Commercial Registry) có thẩm quyền. Thời hạn giải quyết hồ sơ đăng ký doanh nghiệp là 2 tuần kể từ khi hoàn thiện hồ sơ đăng ký. Sau đó, doanh nghiệp phải tiến hành làm thủ tục đăng ký mã số thuế với cơ quan thuế địa phương. Pháp luật không có quy định bắt buộc thành viên Hội đồng quản trị phải có quốc tịch Hàn Quốc (Thường trực Ủy ban Kinh tế-Thể chế pháp luật kinh tế một số Quốc gia trên thế giới).
1.4.4. Bài học kinh nghiệm cho Việt Nam Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
Từ những phân tích trên có thể rút ra một số bài học cho việc hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam như sau:
Tiếp tục đề cao quyền tự do, bình đẳng trong kinh doanh, tạo thuận lợi hơn cho việc thành lập, gia nhập thị trường và hoạt động của doanh nghiệp dân doanh cũng như việc doanh nghiệp dân doanh rút lui khỏi thị trường; giảm chi phí quản trị, chi phí tuân thủ, chi phí giao dịch của doanh nghiệp dân doanh; bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của các nhà đầu tư, cổ đông, thành viên của doanh nghiệp dân doanh; nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp dân doanh.
Hoàn thiện pháp luật, cơ chế, chính sách để tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế, kể cả đầu tư nước ngoài đầu tư xây dựng và kinh doanh kết cấu hạ tầng bằng nhiều hình thức, nhất là hợp tác công tư phù hợp thông lệ quốc tế.
Nghiên cứu bỏ quy định về số cổ đông tối thiểu trong công ty cổ phần. Điều đó có nghĩa là sự thay đổi cổ đông không ảnh hưởng đến sự tiếp tục tồn tại của công ty cổ phần. Nếu công ty bắt buộc phải có ba cổ đông thì khi số lượng cổ đông không đạt được mức tối thiểu, công ty cổ phần có thể có nguy cơ phải chuyển đổi loại hình doanh nghiệp và chấm dứt tồn tại với tư cách là công ty cổ phần. Ngoài ra không nên khống chế số lượng thành viên Hội đồng quản trị mà nên để các công ty tự quyết định số lượng thành viên Hội đồng quản trị.
Tiếp tục nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật về nghĩa vụ và trách nhiệm của người quản lý công ty cổ phần để các quy định này trở thành các công cụ hiệu quả, bảo vệ quyền và lợi ích của công ty và cổ đông công ty. Đặc biệt trong các quy định về quản trị doanh nghiệp có nhiều học thuyết pháp lý và các quy định pháp luật về nghĩa vụ và trách nhiệm của người quản lý công Pháp luật Việt Nam cũng có quy định về nghĩa vụ và trách nhiệm của người quản lý công ty. Nhưng các quy định này vẫn chỉ là các nguyên tắc, các quy định khung mà chưa phải là các quy định chi tiết, cụ thể nên khó có khả năng thi hành. Luận văn: Pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở Việt Nam.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện pháp luật về doanh nghiệp dân doanh

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật về doanh nghiệp dân doanh ở VN