Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong pháp luật Việt Nam hiện hành dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng đối với giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình.
Kế thừa và phát huy những điểm tiến bộ trong pháp luật dân sự hiện hành, pháp luật về HN&GĐ của nước ta đã đề ra những quy định rất tiến bộ về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng đối với gia đình, tài sản nói chung và trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình nói riêng.
Điều 25 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng như sau: “Vợ hoặc chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với giao dịch dân sự hợp pháp do một trong hai người thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình”. Quy định này cũng khẳng định quyền tự chủ của vợ, chồng trong việc thực hiện các giao dịch dân sự nhằm bảo đảm nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngày của gia đình cũng chính là nhằm bảo vệ lợi ích của gia đình, đồng thời cũng khẳng định trách nhiệm của bên kia đối với hành vi dân sự hợp pháp do vợ hoặc chồng mình thực hiện vì lợi ích chính đáng của gia đình. Vợ chồng sử dụng tài sản chung của hai vợ chồng đương nhiên coi đó là có sự thỏa thuận của cả hai vợ chồng. Theo Điều 28, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: tài sản chung của vợ chồng “được chi dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện các nghĩa vụ chung của vợ, chồng”. Quy định này cũng rất phù hợp với Điều 25, Luật HN&GĐ năm 2000 nói trên. Việc quy định về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng nói riêng và các quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng nói chung trong pháp luật HN&GĐ cũng phần nào thể hiện sự tiến bộ trong cách tiếp cận với vấn đề bình đẳng giới ở nước ta [44].
Theo quy định tại điều 25, Luật HN&GĐ nói trên, chúng tôi có thể rút ra một số điều kiện phát sinh trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng như sau:
Thứ nhất: trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng chỉ được đặt ra khi quan hệ hôn nhân giữa hai bên nam nữ được tiến hành một cách hợp pháp, đáp ứng đủ điều kiện mà pháp luật đặt ra như về độ tuổi, về năng lực hành vi dân sự, về ý chí tự nguyện… không vi phạm những điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội. Việc kết hôn phải được đăng ký do cơ quan có thẩm quyền thực hiện theo đúng nghi thức đã được Luật HN&GĐ năm 2000 quy định. Sau quy trình, thủ tục đó, quan hệ hôn nhân mới bắt đầu tồn tại giữa hai bên, cụ thể: theo quy định tại Điều 8, Luật HN&GĐ năm 2000: hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi đã kết hôn. Từ đây trở về sau đã hình thành một gia đình mà theo giải thích tại Điều 8 của Luật này thì: “Gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc do quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau theo quy định của Luật này”. Vì vậy, chúng ta có thể khẳng định: tình trạng liên đới được xác lập trên cơ sở quan hệ hôn nhân chứ không dựa vào quan hệ chung sống của vợ chồng. Bởi vậy, sự liên đới không tồn tại giữa hai người chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn; trái lại, sự liên đới tồn tại cả trong trường hợp vợ chồng kết hôn hợp pháp nhưng lại có nơi ở khác nhau (nghĩa là không chung sống cùng nhau trên thực tế): vợ (chồng), về mặt lý thuyết, phải chịu trách nhiệm thanh toán các chi phí cho việc đáp ứng các nhu cầu cần thiết đối với cuộc sống của chồng (vợ) cư trú ở nơi khác. Như vậy, trách nhiệm dân sự liên đới được áp dụng trong quan hệ vợ chồng trước pháp luật, không áp dụng cho các trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
Thứ hai: Đối với các giao dịch dân sự do một bên vợ hoặc chồng thực hiện thì vợ hoặc chồng chỉ phải chịu trách nhiệm liên đới khi: giao dịch đó phải hợp pháp, cụ thể: Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Giao dịch dân sự hợp pháp là giao dịch thỏa mãn các điều kiện có hiệu lực theo Điều 122, BLDS năm 2005:
- Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:
- Người tham gia giao dịch có năng lực hành vi dân sự;
- Mục đích và nội dung của giao dịch không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội;
- Người tham gia giao dịch hoàn toàn tự nguyện.
- Hình thức giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch trong trường hợp pháp luật có quy định [48].
Đối với những giao dịch thông thường, liên quan đến những tài sản không có giá trị lớn nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình thì các giao dịch này luôn được coi là đã có sự thỏa thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng, mặc dù giao dịch đó chỉ do một trong hai người thực hiện. Đối với những giao dịch được thiết lập liên quan tới tài sản có giá trị lớn, về nguyên tắc, cần có sự thỏa thuận của hai vợ chồng nhưng trong trường hợp đặc biệt dù cho việc tham gia giao dịch của một bên vợ hoặc chồng liên quan đến tài sản có giá trị lớn nhưng vẫn nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình thì vẫn có thể phát sinh trách nhiệm liên đới.
Thứ ba: về “nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình”: theo quy định tại Điều 25 Luật HN & GĐ năm 2000 thì vợ hoặc chồng chỉ phải chịu trách nhiệm liên đới đối với những giao dịch dân sự hợp pháp do một bên thực hiện khi giao dich dân sự đó nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình [44]. Có thể hiểu “nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” là những đòi hỏi tối thiểu cần thiết trong cuộc sống gia đình, liên quan mật thiết đến sự tồn tại và phát triển của gia đình; đáp ứng những nhu cầu thiết yếu về vật chất và tinh thần, cụ thể như nhu cầu về ăn, ở, học hành, chữa bệnh, nuôi dạy con cái,…Các tiêu chí của “nhu cầu sinh hoạt thiết yếu” có thể thay đổi theo sự phát triển của xã hội ở từng thời kỳ khác nhau, tùy thuộc vào từng điều kiện cụ thể tại mỗi vùng, miền, mỗi quốc gia, lãnh thổ khác nhau. Có những nhu cầu rất cơ bản, cần thiết cho cả gia đình ở mọi nơi và trong mọi thời đại: thức ăn, quần áo của các thành viên, thuốc men, chi phí giáo dục con cái, bảo quản nhà cửa,… Có những nhu cầu đặc trưng của cuộc sống đô thị hiện đại: chi phí điện, nước, điện thoại, xăng xe,…
Việc quy định trách nhiệm liên đới của vợ chồng phù hợp với quan điểm của BLDS năm 2005, cụ thể: Điều 298 BLDS năm 2005 đều chứa nội dung: “Nghĩa vụ dân sự liên đới là nghĩa vụ do nhiều người cùng phải thực hiện và bên có quyền có thể yêu cầu bất cứ ai trong số những người có nghĩa vụ phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Nghĩa vụ liên đới phát sinh do các bên thỏa thuận hoặc do quy định của pháp luật” [48]. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Để quyền dân sự của các chủ thể được bảo đảm, trong một số trường hợp nghĩa vụ nhiều người sẽ được xác định là nghĩa vụ dân sự liên đới nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định khác. Khi nghĩa vụ dân sự liên đới đó không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng như đã thỏa thuận với bên có quyền thì những người có nghĩa vụ dân sự liên đới với nhau sẽ phải chịu trách nhiệm liên đới với bên có quyền. Mục đích của việc xác định nghĩa vụ dân sự liên đới và trách nhiệm liên đới là buộc những người có nghĩa vụ phải cùng nhau gánh vác toàn bộ nghĩa vụ và trách nhiệm nhằm đảm bảo quyền lợi cho chủ thể có quyền được trọn vẹn, kể cả khi có một số người có nghĩa vụ, trách nhiệm không có khả năng thực hiện nghĩa vụ, trách nhiệm đó thì những người khác vẫn phải cùng nhau gánh chịu nghĩa vụ và trách nhiệm với bên có quyền. Trong quan hệ nghĩa vụ dân sự có nhiều người có quyền thì họ được gọi là người có quyền dân sự liên đới. Vì vậy, một trong số những người đó đều có thể yêu cầu bên có nghĩa vụ dân sự phải thực hiện toàn bộ nghĩa vụ cũng như gánh chịu trách nhiệm liên đới cùng nhau nếu không thực hiện hoặc thực hiện không đúng theo thỏa thuận đã giao kết mà không cần có sự ủy quyền của những người có quyền liên đới khác. Nghĩa là người có quyền không những có quyền yêu cầu bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đối với phần quyền của mình mà còn có quyền yêu cầu bên đó phải thực hiện trước mình phần nghĩa vụ đối với người có quyền khác cũng như gánh chịu trách nhiệm nếu thực hiện không đúng, không đầy đủ hoặc không thực hiện thỏa thuận đã được giao kết.
Vậy, khi phát sinh trách nhiệm liên đới của vợ chồng thì vợ chồng sẽ cùng nhau gánh chịu nghĩa vụ bằng tài sản thuộc sở hữu chung hợp nhất của vợ chồng. Người có quyền có thể yêu cầu vợ chồng hoặc yêu cầu vợ hoặc yêu cầu chồng thực hiện toàn bộ nghĩa vụ. Nếu tài sản chung của vợ chồng không đủ thực hiện nghĩa vụ thì vợ, chồng phải có trách nhiệm dùng tài sản riêng của mình thực hiện cho đủ và không có quyền đòi lại tài sản. Tức là giữa vợ và chồng không phát sinh nghĩa vụ hoàn lại tài sản cho nhau sau khi đã thực hiện trách nhiệm liên đới đối với giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Ngoài những điểm tiến bộ nêu trên, còn những bất cập liên quan tới những quy định về trách nhiệm liên đới của vợ chồng. Cụ thể: trong quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 còn chưa thực sự rõ ràng, cụ thể, đặc biệt về khái niệm “nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” – xác định trong giao dịch dân sự có nhằm đáp ứng “nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” hay không và “nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình” bao gồm những gì? dẫn đến một số trường hợp một trong hai bên đã lợi dụng quy định của pháp luật để trốn tránh trách nhiệm hoặc gây thiệt hại, làm ảnh hưởng đến quyền lợi về tài sản của vợ hoặc chồng [64].
2.2. Xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong trường hợp vợ, chồng thực hiện các giao dịch liên quan đến tài sản có giá trị lớn, tài sản là nguồn sống duy nhất của gia đình, tài sản đầu tư kinh doanh, tài sản riêng mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình.
Khoản 3 Điều 28 của Luật HN&GĐ năm 2000 có quy định: Việc xác lập, thực hiện và chấm dứt giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc nguồn sống duy nhất của gia đình, việc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh phải được vợ chồng bàn bạc, thỏa thuận, trừ tài sản chung đã được chia để đầu tư kinh doanh riêng theo quy định của pháp luật [44].
Khoản 5 Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định “trong trường hợp tài sản riêng của một bên vợ, chồng đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì việc định đoạt tài sản riêng đó phải được sự thỏa thuận của cả vợ chồng.” [44]
Theo Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03 tháng 10 năm 2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000, thì việc xác lập, thực hiện, chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản của vợ, chồng được quy định như sau:
- Trong trường hợp việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng hoặc tài sản chung là nguồn sống duy nhất của gia đình, việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch liên quan đến định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng tài sản đó đã đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh là nguồn sống duy nhất của gia đình mà pháp luật quy định thì sự thỏa thuận của vợ chồng cũng phải tuân theo hình thức đó (lập thành văn bản có chữ ký của vợ, chồng hoặc phải có công chứng, chứng thực…)
- Đối với các giao dịch dân sự mà pháp luật không có quy định phải tuân theo hình thức nhất định, nhưng giao dịch đó có liên quan đến việc định đoạt tài sản thuộc sở hữu riêng của một bên vợ hoặc chồng nhưng đã đưa vào sử dụng chung và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản đó là nguồn sống duy nhất của gia đình, thì việc xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch đó cũng phải có sự thỏa thuận bằng văn bản của vợ chồng.
- Tài sản chung có giá trị lớn của vợ chồng nói tại khoản 1, khoản 2 Điều này được xác định căn cứ vào phần giá trị của tài sản đó trong khối tài sản chung của vợ chồng. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
- Trong trường hợp vợ chồng xác lập, thực hiện hoặc chấm dứt các giao dịch dân sự liên quan đến tài sản chung quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà không có sự đồng ý của một bên, thì bên đó có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu theo quy định tại Điều 139 của Bộ luật Dân sự” (nay là Điều 127, BLDS năm 2005) “và hậu quả pháp lý được giải quyết theo quy định tại Điều 146 của Bộ luật Dân sự”(nay là Điều 137, BLDS 2005) [13].
Như vậy, khi tham gia vào giao dịch dân sự nói chung cũng như hợp đồng dân sự nói riêng đối với tài sản chung của vợ và chồng đều phải có sự thỏa thuận, đồng ý của cả vợ và chồng. Nếu một bên vợ hoặc chồng không có sự đồng ý, thì giao dịch dân sự hay hợp đồng dân sự đó là bất hợp pháp, bị coi là vô hiệu.
Do tính cộng đồng của quan hệ hôn nhân và cuộc sống chung của vợ chồng đòi hỏi (tất yếu) vợ chồng phải có quan hệ giao dịch với những người khác (ngoài gia đình) liên quan tới tài sản chung nhằm đảm bảo nhu cầu của gia đình, của vợ chồng và cùng nhau chịu trách nhiệm liên đới đối với những giao dịch đã được thiết lập. Chính vì thế mà nhà làm luật phải dự liệu:
Đối với những giao dịch thông thường, liên quan đến những tài sản không có giá trị lớn nhằm đáp ứng các nhu cầu sinh hoạt thiết yếu hàng ngày của gia đình, thì hành vi xử sự của vợ, chồng khi định đoạt tài sản chung đó để sử dụng vào mục đích đầu tư cho sản xuất, kinh doanh, hoặc chuyển nhượng, mua bán…luôn được pháp luật coi là có sự thỏa thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng (mặc dù chỉ có một bên vợ hoặc chồng định đoạt tài sản đó). Ví dụ: hàng ngày vợ, chồng dùng tiền bạc, tài sản chung để đảm bảo nhu cầu về ăn, ở, học hành, chữa bệnh, …thì các giao dịch này luôn được coi là có sự thỏa thuận đương nhiên của cả hai vợ chồng. Người chồng hoặc người vợ phải cùng gánh chịu trách nhiệm đối với những giao dịch đó vì một bên vợ hoặc chồng hành động vì cả gia đình chứ không vì mưu cầu lợi ích cho riêng họ. Vì thế, một trong hai bên không thể viện lý do không biết hay giao dịch, hợp đồng đó không có giá trị vì chưa có sự bày tỏ ý chí (sự đồng ý) của họ.
Đối với những tài sản chung có giá trị lớn thì khi định đoạt đầu tư vào sản xuất kinh doanh, mục đích từ thiện, giúp đỡ người nghèo…thì phải có sự thỏa thuận và đồng ý của cả hai vợ chồng. Nếu pháp luật quy định hợp đồng, giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn phải được ký kết bằng văn bản và có công chứng, chứng thực như: hợp đồng mua bán nhà, chuyển quyền sử dụng đất, mua bán xe máy hoặc ô tô… thì hình thức của hợp đồng, giao dịch cũng phải tuân thủ những quy định đó. Vợ, chồng phải cùng ký trực tiếp vào văn bản (hợp đồng, giao dịch) trước mặt công chứng viên; nếu chỉ có một bên ký thì phải có văn bản ủy quyền cho vợ hoặc chồng ký thay thì hợp đồng, văn bản đó mới có hiệu lực pháp luật. Đó cũng chính là bằng chứng để buộc vợ chồng phải chịu trách nhiệm liên đới đối với những giao dịch dân sự hợp pháp đã được ký kết nhằm đảm bảo quyền lợi của bên thứ ba tham gia giao dịch. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Chúng ta cần thấy rằng, sở hữu chung hợp nhất về tài sản của vợ chồng với những đặc điểm riêng biệt, khác với sở hữu chung theo phần hay sở hữu riêng. Tài sản chung của vợ chồng được sử dụng nhằm đảm bảo nhu cầu thiết yếu của gia đình; một bên vợ, chồng không thể tự ý định đoạt những tài sản chung có giá trị lớn nếu không có sự thỏa thuận và đồng ý của bên kia. Hình thức các giao dịch do một bên vợ hoặc chồng thực hiện cũng được pháp luật quy định chặt chẽ, buộc phải tuân theo. Quy định tại Điều 27, 28 Luật HN&GĐ năm 2000, Nghị định số 70/2001/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý rất quan trọng trong thực tiễn áp dụng Luật HN&GĐ liên quan tới các quy định về giao dịch dân sự trong BLDS. Khi vợ, chồng tham gia ký kết hợp đồng, giao dịch dân sự với người khác mà cả hình thức và nội dung của văn bản đều tuân theo quy định của pháp luật thì văn bản đã giao kết đó đó là cơ sở để Tòa án dựa vào đó giải quyết tranh chấp giữa vợ chồng (nếu có) và quy kết trách nhiệm cho từng người. Thực tế cho thấy, nhiều năm qua khi có tranh chấp về tài sản chung giữa vợ chồng liên quan tới quyền lợi của những người khác, khi ký kết hợp đồng vê mua, bán, tặng cho, để lại thừa kế, đầu tư sản xuất, kinh doanh…xuất phát từ khối tài sản chung của vợ chồng, việc áp dụng luật ở các cấp Tòa án đã có những quan điểm không thống nhất liên quan tới khối tài sản chung của vợ, chồng và việc quy kết trách nhiệm của mỗi bên đối với tài sản chung được thực hiện trong các giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu của gia đình. Vì thế, quy định tại Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP đã tạo cơ sở pháp lý chặt chẽ và thống nhất trong thực tiễn áp dụng luật liên quan đến quyền định đoạt tài sản chung của vợ chồng và nghĩa vụ, trách nhiệm của vợ, chồng đối với việc định đoạt tài sản chung đó, góp phần nâng cao ý thức pháp luật trong nhân dân và ổn định các quan hệ tài sản chung của vợ chồng đồng thời nâng cao hơn nữa trách nhiệm của vợ, chồng đối với cuộc sống của gia đình [13, 44, 64].
Những giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh hoặc tài sản chung đó là nguồn sống duy nhất của gia đình mà vợ chồng không trực tiếp tham gia giao dịch được thì phải có ủy quyền bằng văn bản cho một bên vợ hoặc chồng thực hiện giao dịch đó. Khi phát sinh nghĩa vụ thì cả hai vợ chồng vẫn phải liên đới chịu trách nhiệm.
Những giao dịch liên quan đến tài sản riêng của một bên vợ, chồng nhưng do tài sản riêng đó đã được đưa vào sử dụng chung và hoa lợi, lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình thì những giao dịch đó phải có sự thỏa thuận của vợ chồng, vậy, khi phát sinh trách nhiệm trong các giao dịch đó cũng được xác định là trách nhiệm liên đới của vợ chồng.
Những giao dịch liên quan đến tài sản chung có giá trị lớn hoặc dùng tài sản chung đầu tư kinh doanh hoặc tài sản chung đó là nguồn sống duy nhất của gia đình hoặc tài sản riêng đã đưa vào sử dung chung và hoa lợi lợi tức từ tài sản riêng đó là nguồn sống duy nhất của gia đình mà một bên vợ, chồng tự ý sử dụng để tham gia các giao dịch dân sự, kinh tế mà không có sự thể hiện ý chí của bên kia thì giao dịch đó bị coi là vô hiệu, và khi phát sinh trách nhiệm phải xác định đó không phải là trách nhiệm liên đới của vợ chồng. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong những trường hợp này, về nguyên tắc, là khá dễ dàng đối với những tài sản mà việc mua bán, trao đổi, tặng cho tài sản có giá trị lớn là bất động sản hoặc hình thức giao dịch bắt buộc phải được lập thành văn bản. Chẳng hạn, vợ chồng thực hiện hợp đồng mua bán nhà là tài sản chung của vợ chồng hoặc vợ chồng chuyển quyền sử dụng đất là tài sản chung của vợ chồng, hoặc nhà ở, quyền sử dụng đất là tài sản riêng của một bên vợ, chồng thì hình thức giao dịch luôn phải lập thành văn bản có chữ ký của vợ chồng. Vậy khi phát sinh nghĩa vụ liên quan đến hợp đồng sẽ xác định được ngay tính liên đới của vợ chồng trong các giao dịch đó. Còn những trường hợp vợ chồng định đoạt tài sản chung có giá trị lớn như tiền, vàng hay xe ô tô và những tài sản khác không phải là bất động sản, hoặc việc giao kết hợp đồng không bắt buộc phải qua công chứng, chứng thực thì việc xác định trách nhiệm liên đới trong các trường hợp này là rất khó khăn và phức tạp. Nhiều khi một bên vợ hoặc chồng còn lại không biết chồng hoặc vợ mình đã thực hiện giao dịch đó, hoặc họ biết và họ không muốn chồng hoặc vợ mình thực hiện giao dịch đó nhưng người kia vẫn cố tình thực hiện. Chủ thể thứ ba khi tham gia giao dịch với chồng hoặc vợ họ cũng không cần biết người vợ hoặc người chồng còn lại có đồng ý hay không. Nhưng khi phát sinh nghĩa vụ thì họ lại yêu cầu cả vợ chồng phải liên đới chịu trách nhiệm với họ. Tất nhiên, trong thực tế không loại trừ những trường hợp vợ chồng đều thỏa thuận tham gia vào giao dịch đó nhưng khi phát sinh nghĩa vụ thì một trong hai bên lại nại ra lý do là mình không biết chồng mình hoặc vợ mình đã thực hiện giao dịch đó để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ.
Đặc biệt, khi vợ chồng hoặc một bên vợ chồng dùng tài sản chung để đầu tư kinh doanh, thành lập các loại hình doanh nghiệp, tham gia thị trường bất động sản, chứng khoán thì việc xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong các trường hợp này lại càng khó khăn hơn bao giờ hết.
- Trường hợp vợ, chồng thành lập doanh nghiệp và dùng tài sản đầu tư kinh doanh
Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã quy định: việc thành lập, tổ chức, quản lý và hoạt động của công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp doanh và doanh nghiệp tư nhân thuộc mọi thành phần kinh tế. Mỗi loại hình doanh nghiệp đều có nét đặc thù riêng về cơ cấu tổ chức, hoạt động sản xuất kinh doanh, tính chịu trách nhiệm…do đó, khi tham gia vào hoạt động sản xuất kinh doanh, vợ chồng với tư cách là chủ thể của hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải chịu sự chi phối của Luật Doanh nghiệp. Điều này sẽ dẫn tới việc xác định tài sản chung, tài sản riêng của vợ, chồng và trách nhiệm liên đới của vợ chồng có nhiều thay đổi nhất định [49]. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp, thủ tục đăng ký thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh quy định khá cụ thể và chặt chẽ, tuy nhiên trong hồ sơ thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh không bắt buộc phải có văn bản thỏa thuận về việc sử dụng tài sản chung của vợ chồng để sản xuất, kinh doanh (nếu người đứng tên xin thành lập doanh nghiệp đang có vợ/chồng và dùng tài sản chung để đầu tư sản xuất kinh doanh). Hơn nữa có một số trường hợp đặc biệt, một số chủ thể không được phép thành lập doanh nghiệp như cán bộ, công chức trong cơ quan nhà nước theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức. Do đó, có thể vợ chồng cùng muốn thành lập doanh nghiệp để sản xuất, kinh doanh nhưng do một bên vợ hoặc chồng là cán bộ, công chức nên vợ, chồng đã thỏa thuận để một bên đứng ra thành lập doanh nghiệp. Mặt khác, trong hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, việc tái đầu tư, mở rộng sản xuất phụ thuộc vào quyết định của hội đồng thành viên, hội đồng quản trị, ban giám đốc của doanh nghiệp. Do vậy, việc xác định thỏa thuận của vợ chồng trong việc định đoạt phần vốn góp vào doanh nghiệp là không thể thực hiện được. Trong khi đó, theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000 thì khi định đoạt tài sản có giá trị lớn hoặc khi dùng tài sản để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh phải được vợ chồng bàn bac, thỏa thuận theo một hình thức nhất định là bằng văn bản; Điều 4 Nghị định số 70/2001/NĐ-CP ngày 03/10/2001 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000. Cũng theo hướng dẫn của Nghị định số 70/2001/NĐ-CP, nếu một bên định đoạt tài sản chung của vợ chồng có giá trị lớn không có sự đồng ý của bên vợ hoặc chồng kia…thì bên kia có quyền yêu cầu tòa án tuyên bố giao dịch đó vô hiệu [13, 44]. Trong thực tế, việc thỏa thuận giữa vợ chồng thường là bằng miệng hoặc khi một bên dùng tài sản chung của gia đình để sản xuất, kinh doanh, bên kia cũng biết điều đó và im lặng chấp nhận việc sản xuất, kinh doanh đó của vợ hoặc chồng mình. Chính việc quy định của pháp luật không thống nhất trong các lĩnh vực khác nhau đã dẫn tới việc xác định tài sản chung của vợ chồng, tài sản riêng của mỗi bên và trách nhiệm tài sản của vợ, chồng cũng không đảm bảo được lợi ích của gia đình và xã hội.
Vấn đề cần lưu ý ở đây là việc quy kết trách nhiệm của vợ, chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn vướng mắc. Nếu thiệt hại xảy ra thì vấn đề xác định trách nhiệm của một bên vợ hoặc chồng sẽ như thế nào. Thực tế diễn ra, nếu có sự đồng thuận của vợ chồng khi một bên tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh vì “nuôi sống”, đáp ứng nhu cầu của gia đình thì đương nhiên đi đôi với việc hưởng lợi ích từ hoạt động đó là trách nhiệm của cả hai vợ chồng nếu không may có khó khăn, thiệt hại xảy ra. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Còn nếu một bên dùng tài sản chung của gia đình có giá trị lớn để phục vụ cho hoạt động sản xuất, kinh doanh thu lợi nhuận mà chưa có sự đồng ý của bên vợ hoặc chồng thì tùy từng trường hợp khi thiệt hại thực tế xảy ra, bên chưa đồng ý đó có thể phải chịu trách nhiệm liên đới hay không. Vì thực tế nếu họ đã biết vợ hoặc chồng dùng tài sản chung của gia đình để tham gia hoạt động sản xuất, kinh doanh nhưng vẫn chấp nhận, không ngăn cản và thậm chí còn hưởng lợi ích từ hoạt động đầu tư vào sản xuất, kinh doanh đó thì khi có thiệt hại xảy ra, cả hai vợ chông đều phải liên đới chịu trách nhiệm. Lúc đó, bên không tham gia vào hoạt động sản xuất, kinh doanh không thể chốn tránh trách nhiệm liên đới với bên kia hay viện lý do là không hay biết hoặc không đồng ý để chối bỏ trách nhiệm. Tuy nhiên, phạm vi chịu trách nhiệm về tài sản của vợ chồng được xác định đến đâu cũng là vấn đề còn bỏ ngỏ, gây nhiều tranh cãi trong giới làm luật và tốn nhiều giấy mực dẫn đến sự tùy nghi giải quyết của Tòa án. Thực tế đã xảy ra sự bất bình đẳng về tính chịu trách nhiệm liên đới giữa vợ chồng cũng như khó tránh khỏi hành vi tẩu tán tài sản của vợ, chồng để trốn tránh nghĩa vụ tài sản. Còn nếu thực tế, ngay từ đầu họ đã biết và phản đối việc một bên vợ, chồng dùng tài sản chung của gia đình có giá trị lớn để đầu tư sản xuất, kinh doanh thì họ có thể kiện ra tòa tuyên giao dịch đó vô hiệu theo quy định tại Điều 139 của BLDS và hậu quả pháp lý được giải quyết theo quy định tại Điều 146 của BLDS hậu quả không hay xảy ra như kinh doanh thua lỗ, thị trường “đóng băng”; không thể tiêu thụ được hàng hóa đã sản xuất hoặc thậm chí là phá sản doanh nghiệp thì bên đã phản đối đó sẽ không phải chịu trách nhiệm liên đới. Có thể bên đã đơn phương tham gia giao dịch sẽ phải dùng tài sản riêng để bồi thường, bù đắp thiệt hại xảy ra hoặc chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân để lấy tài sản đó giải quyết vụ việc…Do đó, vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để dung hòa được lợi ích và trách nhiệm về tài sản của vợ chồng trong hoạt động sản xuất kinh doanh? [48, 62]
- Trường hợp vợ, chồng tham gia vào hợp đồng bảo hiểm
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm được điều chỉnh bởi Luật Kinh doanh bảo hiểm hiện hành. Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó, doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường thiệt hại cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm là tổ chức, cá nhân giao kết hợp đồng bảo hiểm với doanh nghiệp bảo hiểm và đóng phí bảo hiểm. Bên mua bảo hiểm có thể đồng thời là người được thụ hưởng hoặc người được bảo hiểm. Người được bảo hiểm là tổ chức, cá nhân có tài sản, trách nhiệm dân sự, tính mạng được bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm. Người được bảo hiểm có thể đồng thời là người thụ hưởng; người thụ hưởng có thể là tổ chức, cá nhân được bên mua chỉ định để nhận tiền bảo hiểm theo hợp đồng bảo hiểm con người.Quyền lợi có thể được bảo hiểm là quyền chiếm hữu, quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền, nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được bảo hiểm [51, Điều 3]. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Trong Luật Kinh doanh bảo hiểm có đề cập tới một số hình thức bảo hiểm như: bảo hiểm nhân thọ, bảo hiểm sinh kỳ, bảo hiểm tử kỳ…Hợp đồng bảo hiểm là sự thỏa thuận giữa bên mua bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm, theo đó, bên mua bảo hiểm phải đóng phí bảo hiểm, doanh nghiệp bảo hiểm phải trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm. Nếu vợ chồng với tư cách là người mua bảo hiểm cho nhau hoặc được người khác mua bảo hiểm cho mình thì số tiền mà vợ, chồng được thụ hưởng được xác định là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng của mỗi bên vợ hoặc chồng. Hoặc vợ chồng vừa là người được bảo hiểm vừa là người thụ hưởng. Trong hợp đồng bảo hiểm thì số tiền bảo hiểm sẽ được xác định là tài sản chung hay riêng của mỗi bên vợ, chồng? Từ đó sẽ xác định được trách nhiệm của vợ chồng khi tham gia vào giao dịch liên quan tới bảo hiểm này.
Nếu số tiền đóng phí bảo hiểm lấy từ tài sản chung thì vợ chồng với tư cách là người mua bảo hiểm cho chính mình hay cho vợ hoặc chồng mình sẽ nhập số tiền được thụ hưởng đó vào tài sản chung của vợ chồng khi sự kiện bảo hiểm xảy ra và được trả tiền bảo hiểm. Ở đây, trách nhiệm sẽ đặt trên vai cả hai người nếu phải gánh chịu thiệt hại. Nếu số tiền đóng phí bảo hiểm là tài sản riêng của vợ hoặc chồng thì người thụ hưởng là một bên đã đóng phí bảo hiểm đó và số tiền bảo hiểm được chi trả thuộc tài sản riêng. Và trách nhiệm đặt ra là của người đã thụ hưởng số tiền bảo hiểm ấy, không có quyền đòi hỏi bên kia phải cùng chịu trách nhiệm với mình.
- Trường hợp vợ chồng tham gia vào hoạt động kinh doanh bất động sản.
Tại Điều 1- Luật Kinh doanh bất động sản quy định về hoạt động kinh doanh bất động sản; quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản và giao dịch bất động sản có liên quan đến hoạt động kinh doanh bất động sản [50].
Theo Luật Kinh doanh bất động sản quy định tại Điều 3: trong trường hợp đặc thù về hoạt động kinh doanh bất động sản quy định tại luật khác thì áp dụng quy định của luật đó [50].
Theo quy định của Luật Kinh doanh bất động sản thì hoạt động kinh doanh bất động sản bao gồm kinh doanh bất động sản và kinh doanh dịch vụ bất động sản. Kinh doanh bất động sản là việc bỏ vốn đầu tư tạo lập mua, nhận, chuyển nhượng, thuê, thuê mua bất động sản để bán, chuyển nhượng, cho thuê, thuê mua bất động sản để bán, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, cho thuê nhằm mục đích sinh lợi. Kinh doanh dịch vụ bất động sản là các hoạt động hỗ trợ kinh doanh bất động sản và thị trường bất động sản, bao gồm các dịch vụ môi giới bất động sản, định giá bất động sản, sàn giao dịch bất động sản, quản lý bất động sản; mua bán nhà, công trình xây dựng hình thành trong tương lai là việc mua bán nhà, công trình xây dựng mà tại thời điểm ký hợp đồng nhà, công trình xây dựng đó chưa hình thành hoặc đang hình thành theo hồ sơ dự án, thiết kế bản vẽ thì công và tiến độ cụ thể [50]. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Nguyên tắc trong hoạt động kinh doanh bất động sản là bình đẳng trước pháp luật, tự do thỏa thuận trên cơ sở tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên tham gia hoạt động kinh doanh bất động sản thông qua hợp đồng, không trái với quy định của pháp luật. Tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp hoặc hợp tác xã, phải có vốn pháp định và đăng ký kinh doanh bất động sản theo quy định của pháp luật [50].
Như vậy, nếu vợ chồng thực hiện việc kinh doanh bất động sản thì họ không chỉ chịu sự chi phối bởi Luật Kinh doanh bất động sản mà còn chịu sự chi phối bởi hệ thống pháp luật doanh nghiệp, Luật Đất đai. Theo quy định của pháp luật thì quyền sử dụng đất mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân là tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, trong hoạt động kinh doanh bất động sản thì những bất động sản mà doanh nghiệp có được trước hết được coi là tài sản của doanh nghiệp. Vợ, chồng với tư cách là chủ sở hữu của doanh nghiệp hoặc là thành viên góp vốn cho doanh nghiệp hoạt động kinh doanh bất động sản chỉ được sở hữu trên cơ sở tiền lương hàng tháng và phần lợi tức tương đương với phần vốn góp theo nguyên tắc chung về xác định tài sản chung, tài sản riêng theo Luật HN&GĐ hiện hành. Có thể vợ chồng dùng tài sản chung để mua bất động sản đã hiện hữu hoặc bất động sản hình thành trong tương lai rồi dùng vào mục đích kinh doanh, mua bán, chuyển nhượng kiếm lời. Vấn đề đặt ra ở đây là nếu kinh doanh có lời thì vợ chồng và toàn thể gia đình đều được hưởng lợi ích từ việc kinh doanh đó còn nếu thiệt hại, thua lỗ xảy ra thì cả hai đều phải chịu trách nhiệm liên đới đối với những thiệt hại đó nhất là khi tài sản chung đó dùng để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của gia đình. Trách nhiệm liên đới sẽ không đặt ra nếu vợ hoặc chồng kinh doanh bất động sản bằng tài sản riêng.
Nói tóm lại, pháp luật hiện hành chủ yếu chỉ điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh, đầu tư của các doanh nghiệp, hầu như không có quy phạm nào quy định về mối liên hệ giữa hoạt động sản xuất kinh doanh và gia đình của các chủ thể khi tham gia vào các hoạt động sản xuất, kinh doanh hay đầu tư thương mại. Do vậy, có sự không thống nhất giữa pháp luật dân sự, HN&GĐ với pháp luật về kinh doanh thương mại. Điều quan trọng là cần xác định nguyên tắc chung cơ bản dung hòa giữa lợi ích chung của gia đình với lợi ích cá nhân, cũng như tạo ra cơ chế thống nhất đảm bảo việc xác định trách nhiệm về tài sản của vợ chồng khi vợ, chồng với tư cách là chủ thể trong các lĩnh vực kinh doanh nhất định vì mục đích cao cả là đáp ứng nhu cầu sinh hoạt thiết yếu, thường ngày của gia đình.
2.3. Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong trường hợp bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng “là trách nhiệm của người có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại cho người khác về tài sản, sức khỏe, tính mạng, các quyền nhân thân mà trước đó giữa những người gây thiệt hại và người bị thiệt hại không có giao kết hợp đồng hoặc giữa họ có giao kết hợp đồng nhưng hành vi gây thiệt hại không phụ thuộc vào hành vi vi phạm hợp đồng” [57]
Như vậy, người gây thiệt hại cho dù là lỗi cố ý hay vô ý gây thiệt hại cho người khác về tài sản, tính mạng, sức khỏe và các quyền nhân thân khác thì phải bồi thường theo nguyên tắc của trách nhiệm dân sự theo Điều 605 BLDS 2005 là:
- Thiệt hại phải bồi thường là toàn bộ và kịp thời. Các bên có thỏa thuận về mức bồi thường, hình thức bồi thường bằng tiền, bằng hiện vật hoặc thực hiện một công việc, phương thức bồi thường một lần hoặc nhiều lần, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Người gây thiệt hại có thể được giảm mức bồi thường, nếu do lỗi vô ý mà gây thiệt hại quá lớn so với khả năng kinh tế trước mắt và lâu dài của mình.
- Khi mức bồi thường không còn phù hợp với thực tế thì người bị thiệt hại hoặc người gây thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án hoặc cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác thay đổi mức bồi thường [48]
Ngoài ra, trong trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng trong một số trường hợp pháp luật quy định người gây thiệt hại phải bồi thường ngay cả trong trường hợp không cần điều kiện lỗi. Đó là trách nhiệm bồi thường do nguồn nguy hiểm cao độ gây ra; trách nhiệm của chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do tài sản của mình gây ra; trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người gây ô nhiễm môi trường cho dù không có lỗi.
2.3.1. Trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong việc bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng do tài sản của vợ, chồng gây ra Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ, chồng gây ra là một dạng của bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng là một hình thức cụ thể của trách nhiệm dân sự. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của BLDS khi được áp dụng thì người có hành vi xâm phạm đến tài sản, sức khỏe, tính mạng, danh dự, nhân phẩm, uy tín, các quyền và lợi ích hợp pháp của người khác mà gây thiệt hại thì có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại do mình gây ra. Như vậy, bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra cũng là trách nhiệm bồi thường thiệt hại, song là một loại trách nhiệm dân sự đặc biệt. Vì vậy, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này, bên cạnh việc xem xét các yếu tố để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại còn phải căn cứ vào các loại tài sản cụ thể để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Chính vì vậy, trách nhiệm liên đới của vợ chồng trong bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng gây ra cần phải được xem xét trên những khía cạnh sau:
Thứ nhất: Cần phải xác định có căn cứ phát sinh trách nhiệm liên đới của vợ chồng phải bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng hay không, khi tài sản của vợ chồng gây thiệt hại. Điều này được xác định dựa trên các căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Cụ thể là phải được xem xét dựa trên các yếu tố: Có thiệt hại thực tế xảy ra, hành vi gây thiệt hại là hành vi trái pháp luật, có lỗi và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra.
Thứ hai: Cần phải xác định, tài sản gây thiệt hại là tài sản cụ thể nào. Vì tính chất đặc thù của trường hợp bồi thường thiệt hại do tài sản chung của vợ chồng gây ra, BLDS đã dự liệu cụ thể những trường hợp tài sản gây thiệt hại và quy định việc bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trong những trường hợp cụ thể. Bởi lẽ đó, để xác định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng gây ra còn phải xem xét cụ thể tài sản đó là tài sản gì, là nguồn nguy hiểm cao độ hay là súc vật, cây cối hoặc là nhà cửa, các công trình xây dựng khác.
Thứ ba: Cần phải xác định xem tài sản gây thiệt hại là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng. Đây là vấn đề quan trọng để chúng ta xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm của một bên vợ, chồng hoặc của cả hai vợ chồng cùng liên đới chịu trách nhiệm bồi thường. Chính vì thế, việc xác định một cách chính xác trách nhiệm của vợ chồng đối với việc bồi thường thiệt hại trong trường hợp này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích về tài sản của vợ chồng, đồng thời bảo vệ lợi ích chính đáng của người bị thiệt hại. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Thứ tư: Do tính chất cộng đồng trong quan hệ hôn nhân nên nhiều trường hợp, mặc dù là trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định là của một bên vợ, chồng nhưng bên kia đã tự nguyện dùng tài sản chung của vợ chồng để bồi thường hoặc có khi dùng tài sản riêng của mình để bồi thường cho phía người bị thiệt hại, điều này hoàn toàn được chấp nhận, miễn là thiệt hại được bồi thường toàn bộ và kịp thời theo đúng quy định của pháp luật.
- Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong việc bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng là nguồn nguy hiểm cao độ gây ra.
Theo quy định tại khoản 3, Điều 623 BLDS hiện hành, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ gây ra được xác định trước hết là thuộc về chủ sở hữu tài sản. Chính vì vậy khi tài sản của vợ chồng gây thiệt hại cần phân định rõ tài sản gây thiệt hại đó là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng để xem xét áp dụng trách nhiệm bồi thường thiệt hại [48].
- Trách nhiệm dân sự liên đới bồi thường thiệt hại trong trường hợp nguồn nguy hiểm cao độ là tài sản chung của vợ chồng
Như đã trình bày ở phần trên, theo quy định của BLDS năm 2005, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này được xác định theo nguyên tắc là trách nhiệm thuộc về chủ sở hữu tài sản. Xét dưới góc độ của Luật HN&GĐ năm 2000, điều này cũng hoàn toàn phù hợp. Bởi vì, đối với tài sản chung hợp nhất của vợ chồng thì vợ, chồng hoàn toàn bình đẳng về căn cứ tạo lập tài sản, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ. Vì lẽ đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại phải được xác định là trách nhiệm liên đới của vợ chồng. Theo Luật HN&GĐ hiện hành thì vợ chồng phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản chung của mình [44, Điều 28]. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra là có nên xác định yếu tố lỗi của người gây thiệt hại ở đây không? Chẳng hạn, người chồng thường xuyên say xỉn và dù vợ ngăn cản nhưng cứ lái xe ô tô là tài sản chung của vợ chồng ra đường và gây thiệt hại cho người thứ ba, nếu xác định trách nhiệm liên đới trong trường hợp này thì có lẽ rất thiệt thòi cho người vợ.
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp tài sản là nguồn nguy hiểm cao độ thuộc sở hữu riêng của vợ, chồng.
Theo quy định của pháp luật dân sự và Luật HN&GĐ hiện hành, trước hết xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này thuộc về “chủ sở hữu tài sản”. Như vậy, người vợ, người chồng có tài sản riêng là nguồn nguy hiểm cao độ gây thiệt hại cho người khác thì phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, trong đời sồng HN&GĐ, thiệt hại này cũng có thể được vợ chồng thỏa thuận bồi thường bằng tài sản chung của vợ chồng . Trường hợp tài sản riêng của vợ chồng là nguồn nguy hiểm cao độ nhưng vợ chồng giao cho người kia chiếm hữu, sử dụng và trong thời gian đó gây thiệt hại cho người khác thì theo quy định của pháp luật dân sự, bên vợ, chồng chiếm hữu, sử dụng tài sản riêng của chồng, vợ có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại. Tuy nhiên, khi nhìn nhận vấn đề này dưới góc độ Luật HN&GĐ năm 2000, chúng ta nhận thấy, việc vợ chồng giao tài sản riêng của mình cho người kia chiếm hữu, sử dụng là một trường hợp khá đặc thù, thông thường hai bên không có thỏa thuận cụ thể về vấn đề này mà một bên để mặc cho bên kia sử dụng tài sản này vì lợi ích chung. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Ví dụ: A và B là vợ chồng, A có một chiếc xe ô tô từ trước khi kết hôn. Sau khi kết hôn, do B phải đi làm xa, cho nên B thường sử dụng chiếc xe này làm phương tiện đi lại. Một lần, B lái xe đi trên đường và gây tai nạn. Qua điều tra được biết, xe gây tai nạn là do sự cố kỹ thuật của xe. Nhưng theo quy định của pháp luật dân sự, xe đang do B chiếm hữu và sử dụng nên trách nhiệm bồi thường thiệt hại này phải thuộc về B. Xét dưới góc độ của Luật HN&GĐ năm 2000, có thể thấy nhu cầu đi lại để phục vụ cho công việc của B thực chất cũng được coi là nhu cầu chung, thiết yếu của gia đình, mặt khác, khi B cần phương tiện đi lại lấy xe là tài sản riêng của A để đi nhưng A cũng không có ý kiến gì mà để mặc cho B sử dụng chiếc xe này. Thực tế cho thấy khi vợ chồng có cuộc sống bình thường thì tất cả mọi người đều ứng xử như vậy mà không phân định rõ đó là tài sản riêng của một bên. Vì lẽ đó, chúng tôi cho rằng trong trường hợp tài sản của một bên vợ, chồng giao cho bên kia chiếm hữu, sử dụng mà gây thiệt hại cũng nên xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm chung của vợ chồng có nghĩa là cả hai vợ chồng đều phải liên đới gánh trách nhiệm này trừ trường hợp người kia sử dụng tài sản riêng của một bên không vì nhu cầu chung của gia đình mà gây thiệt hại hoặc bên vợ, chồng có tài sản riêng thỏa thuận người sử dụng tài sản sẽ phải bồi thường thiệt hại khi tài sản gây thiệt hại cho người khác.
Trường hợp tài sản riêng của một bên đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản này là nguồn sống duy nhất của gia đình, theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, trong trường hợp này khi định đoạt tài sản riêng đó phải có sự thỏa thuận của vợ chồng. Vậy, khi tài sản riêng ấy gây thiệt hại có xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm chung của vợ chồng hay không?
Ví dụ: A và B là vợ chồng (A có tài sản riêng là một chiếc xe gắn máy). A làm nghề chạy xe chở khách để kiểm sống. Cả nhà A và B đều sống nhờ thu nhập có được từ nghề chạy xe của A. Khi xe của A gây tai nạn và phải bồi thường thiệt hại cho người bị thiệt hại một khoản tiền được xác định là 50 triệu đồng, qua điều tra, được biết, nguyên nhân gây tai nạn là do sự cố của phanh xe. Vậy, có xác định vợ của A (là B) cũng phải liên đới bồi thường thiệt hại do xe gắn máy của A gây ra hay không?
Rõ ràng, đứng dưới góc độ Luật HN&GĐ năm 2000, nhìn nhận tính chất của quan hệ hôn nhân thì khi tài sản riêng của một bên đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản này là nguồn sống duy nhất của gia đình, nhằm phục vụ nhu cầu sinh hoạt thiết yếu của gia đình và tài sản riêng đó gây thiệt hại thì nên chăng phải xác định vợ, chồng cùng phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Sở dĩ nên xác định như vậy vì quy định đó rất phù hợp, mặc dù là tài sản riêng nhưng chủ sở hữu tài sản (người chồng) đã sử dụng tài sản đó để phục vụ cho nhu cầu thiết yếu của gia đình, là nguồn sống chủ yếu của gia đình thì khi tài sản đó vì lý do nào khác mà gây thiệt hại thì bên kia (vợ hoặc chồng) sẽ phải cùng gánh chịu trách nhiệm bồi thường cho người bị gây thiệt hại chứ không thể viện lý do rằng đó là tài sản riêng của bên kia không liên quan gì tới mình để trốn tránh trách nhiệm. Hơn ai hết, người vợ hoặc người chồng đều biết rất rõ tầm quan trọng cũng như những thành quả mà tài sản riêng ấy mang lại cho cả gia đình. Điều này mặc dù không giống như trường hợp một bên vợ chồng tham gia giao dịch nhằm đáp ứng nhu cầu thiết yếu của gia đình, nhưng thiết nghĩ, có thể áp dụng tương tự để xác định trách nhiệm liên đới của vợ chồng. Khi một bên vợ hoặc chồng đã sử dụng tài sản nhằm tạo ra tài sản khác để đáp ứng nhu cầu cơ bản, thiết yếu của gia đình, người chồng – người chủ sở hữu tài sản đó chưa có thỏa thuận gì với bên vợ nhưng khi người vợ và cả gia đình đều biết việc này và không có ý kiến gì thì chúng ta có thể coi đó là đương nhiên có sự thỏa thuận giữa hai vợ chồng. Vì vậy, khi thiệt hại xảy ra do tài sản đó gây ra thì cả hai vợ, chồng đều phải gánh trách nhiệm với bên bị gây thiệt hại. Từ đó, quyền lợi của người thứ ba- người bị tài sản gây thiệt hại trong trường hợp này mới được bảo đảm dù trước đó các bên không có giao kết gì với nhau.
- Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong việc bồi thường thiệt hại do súc vật là tài sản của vợ, chồng gây ra Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Súc vật là thú dữ được thuần hóa, chúng hoạt động theo bản năng, con người phải kiểm soát hoạt động của chúng để tránh tình trạng chúng gây thiệt hại cho người khác. Tuy nhiên, trong trường hợp con người không kiểm soát được và chúng gây thiệt hại cho người khác thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại sẽ được đặt ra. Ở trường hợp này, người chủ sở hữu tài sản được suy đoán là có lỗi.
- Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong việc bồi thường thiệt hại do súc vật là tài sản chung của vợ chồng gây thiệt hại “Chủ sở hữu súc vật phải bồi thường thiệt hại do súc vật gây ra cho người khác…” [48, Điều 625]
Như vậy, theo quy định của Bộ luật Dân sự, nếu tài sản gây thiệt hại là tài sản thuộc sở hữu chung của vợ chồng thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định là trách nhiệm chung của vợ chồng hay nói cách khác là cả hai vợ chồng cùng liên đới chịu trách nhiệm đó.
- Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong việc bồi thường thiệt hại do súc vật là tài sản riêng của vợ chồng gây thiệt hại
Trước hết, phải xác định theo nguyên tắc, khi tài sản riêng của vợ, chồng là súc vật gây thiệt hại thì người có tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản đó gây ra. Nếu vợ chồng cùng thỏa thuận bồi thường thiệt hại này bằng tài sản chung của vợ chồng thì thỏa thuận ấy của vợ chồng được chấp nhận. Như vậy, để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng gây ra thì điều thực sự có ý nghĩa chính là việc phân định rõ tài sản gây thiệt hại là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng. Trên thực tế, việc xác định tài sản là súc vật thuộc tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng rất phức tạp. Trong nhiều trường hợp nếu không nhìn nhận một cách thấu đáo có thể sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi về tài sản của vợ chồng.
Ví dụ: Trước khi kết hôn, A có một đàn trâu 10 con, sau khi kết hôn với B đàn trâu này nhân lên thành 25 con, vì 10 con trâu đó đến độ sinh sản và liên tục đẻ nghé con. Một lần, một con trâu trong đàn húc phải một em bé và gây thiệt hại về sức khỏe, làm cho em bé phải vào viện điều trị dài ngày cho nên A phải bồi thường thiệt hại cho em bé 40 triệu động.
Như vậy, nếu chỉ nhìn vào đàn trâu này một cách chung chung thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại được đặt ra đối với A, vì rằng đàn trâu này ban đầu được xác định là của A. Tuy nhiên, chỉ một con trâu trong số đó gây thiệt hại và người ta xác định được đó là con trâu nào thì vấn đề đặt ra sẽ khác, chẳng hạn con trâu đó không phải là con trâu nằm trong số 10 con trâu ban đầu thì lại được xác định là tài sản chung của vợ chồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm của chung vợ chồng. Bởi vì, những con trâu được nhân lên sau này từ đàn trâu 10 con chính là “ hoa lợi” mà vợ chồng có được trong thời kỳ hôn nhân nên được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng cần được xác định là trách nhiệm chung của vợ chồng trong trường hợp tài sản riêng của vợ, chồng đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản này là nguồn sống duy nhất của gia đình. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
- Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong việc bồi thường thiệt hại do cây cối là tài sản của vợ chồng gây ra. “Chủ sở hữu tài sản phải bồi thường thiệt hại do cây cối đổ, gãy gây ra, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại hoặc do sự cố bất khả kháng” [48, Điều 626].
Như vậy, theo quy định của BLDS hiện hành thì nguyên tắc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại trước hết được xem xét đối với chủ sở hữu. Vì vậy, nếu tài sản là cây cối thuộc sở hữu chung của vợ chồng gây thiệt hại thì vợ chồng phải liên đới chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại bằng tài sản thuộc sở hữu chung.
Trường hợp cây cối là tài sản riêng của vợ, chồng gây thiệt hại cho người khác, theo nguyên tắc này, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trước hết cũng được xác định là trách nhiệm của người có tài sản. Vì lẽ đó, trách nhiệm bồi thường thiệt hại là trách nhiệm của bên vợ, chồng có tài sản gây thiệt hại. Nếu bên chồng, vợ kia (không phải là chủ sở hữu tài sản này) đồng ý bồi thường thiệt hại bằng tài sản chung của vợ chồng thì lấy tài sản chung của vợ, chồng để bồi thường.
Trường hợp tài sản riêng của vợ, chồng là cây cối gây thiệt hại nhưng tài sản này đưa vào sử dụng chung và hoa lợi, lợi tức là nguồn sống duy nhất của gia đình thì khi cây cối gây thiệt hại có phải bồi thường thiệt hại hay không? Đây là vấn đề hiện nay chưa được quy định cụ thể. Theo quan điểm của chúng tôi, xuất phát từ cơ sở của việc ghi nhận vấn đề hạn chế quyền tự định đoạt của vợ chồng trong trường hợp này cũng nên xác định đây là trường hợp đặc biệt xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đó là trách nhiệm chung của vợ chồng.
Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong việc bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng là nhà cửa, công trình xây dựng khác gây ra. “ Chủ sở hữu, người được chủ sở hữu giao quản lý, sử dụng nhà cửa, công trình xây dựng khác phải bồi thường thiệt hại nếu để nhà cửa, công trình xây dựng khác bị sụp đổ, hư hỏng, sụt lở gây thiệt hại cho người khác, trừ trường hợp thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi cuả người bị thiệt hại hoặc do sự kiện bất khả kháng” [48, Điều 626]
- Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong việc bồi thường thiệt hại do tài sản chung của vợ chồng là nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Khi tài sản chung của vợ chồng gây thiệt hại mà được xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại là của chủ sở hữu thì trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp này là trách nhiệm liên đới của vợ chồng. Vợ chồng phải bồi thường thiệt hại bằng tài sản chung của vợ chồng. Như vậy, chỉ cần xác định tài sản gây thiệt hại là tài sản chung của vợ chồng , trên cơ sở này, căn cứ vào quy định của pháp luật dân sự, chúng ta sẽ xác định được trách nhiệm bồi thường thiệt hại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bên bị thiệt hại cũng như lợi ích của các bên vợ chồng.
- Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng trong việc bồi thường thiệt hại do tài sản riêng của vợ, chồng là nhà cửa, công trình xây dựng khác gây thiệt hại.
Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại của vợ, chồng trong trường hợp này cho đến nay còn khá nhiều phức tạp. Như chúng tôi đã phân tích trong các nội dung trên. Bình thường, trong cuộc sống vợ chồng, ranh giới giữa tài sản chung và tài sản riêng rất “mờ nhạt”. Khi cuộc sống vợ chồng hạnh phúc, người ta ít phân định “của anh, của tôi” mà thường “ hòa làm một” vì lợi ích của gia đình. Tuy nhiên, khi động chạm đến quyền lợi, người ta cũng lại ý thức rất rõ về cái chung, cái riêng để tránh thua thiệt. chính vì lẽ đó, việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tài sản riêng của vợ, chồng gây thiệt hại cần phải được xem xét một cách thấu đáo và đặt trong từng trường hợp cụ thể.
Tài sản riêng của vợ, chồng là nhà ở, công trình xây dựng khác gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại trước hết được xác định đối với bên vợ, chồng là chủ sở hữu tài sản theo nguyên tắc chung của Luật Dân sự, người bồi thường thiệt hại là chủ sở hữu tài sản.
Trường hợp tài sản này được giao cho bên vợ, bên chồng quản lý, sử dụng. Bên cạnh việc áp dụng nguyên tắc chung của Luật Dân sự là xác định trách nhiệm bồi thường thuộc về người trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản cũng cần phải xem xét một số khía cạnh từ góc độ HN&GĐ để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho thấu tình, đạt lý. Chẳng hạn, đối với trường hợp tài sản riêng của một bên giao cho người kia quản lý, sử dụng vì lợi ích chung của gia đình mà gây thiệt hại; nên chăng cần xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại này là trách nhiệm chung của vợ chồng, trách nhiệm này chỉ đặt ra đối với người trực tiếp quản lý, sử dụng tài sản khi tài sản ấy không được sử dụng vì nhu cầu chung của gia đình, hoặc trường hợp vợ chồng có thỏa thuận trước về việc người quản lý, sử dụng tài sản phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại khi tài sản này gây thiệt hại cho người khác.
Trường hợp tài sản riêng đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản này là nguồn sống duy nhất của gia đình thì khi tài sản này gây thiệt hại, trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng phải được xác định là trách nhiệm liên đới của vợ chồng. Bởi vì, nếu chỉ đơn thuần áp dụng các quy định của Bộ luật Dân sự, trong trường hợp này trách nhiệm bồi thường thiệt hại được xác định cho chủ sở hữu tài sản, điều này là không công bằng đối với bên có tài sản riêng. Vì rằng, tài sản của họ đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức thu được từ tài sản đó được dùng để đảm bảo nhu cầu chung của gia đình nhưng tài sản này gây thiệt hại lại chỉ bên có tài sản phải gánh chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Do tính chất cộng đồng trong quan hệ hôn nhân nên Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2000 thể hiện: do tính chất cộng đồng trong quan hệ hôn nhân, người có tài sản riêng còn phải sử dụng tài sản riêng để đáp ứng những nhu cầu chung của gia đình trong trường hợp tài sản chung của vợ chồng không đủ để đáp ứng [44].Chính vì vậy, vì tính chất cộng đồng của quan hệ hôn nhân, chúng tôi cho rằng cũng phải xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản riêng của vợ, chồng gây ra trong trường hợp này cũng là trách nhiệm chung của vợ chồng.
2.3.2 Một số vấn đề còn tồn tại xung quanh việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng gây ra. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
Từ sự phân tích trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng gây ra là một vấn đề có ý nghĩa sâu sắc, không chỉ là cơ sở quan trọng để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp đối với người bị thiệt hại do tài sản của vợ chồng gây ra; mà còn bảo vệ quyền lợi về tài sản cho các bên vợ, chồng. Chính vì lẽ đó, để xác định một cách chính xác trách nhiệm tài sản đó thuộc về bên vợ, bên chồng hoặc cả hai vợ chồng thì trước hết phải xác định tài sản gây thiệt hại là tài sản riêng của vợ, chồng hay là tài sản chung của vợ chồng. Luật HN & GĐ hiện hành đã quy định các căn cứ xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng làm cơ sở phân định giữa tài sản chung và tài sản riêng. Vì vậy, phải dựa vào căn cứ này để xác định tài sản chung và tài sản riêng của vợ, chồng. Theo quy định của Luật HN & GĐ hiện hành, vợ chồng có quyền nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng. Vì thế, cần phải xác định rõ hành vi nào được coi là đã nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung của vợ chồng, từ đó, có cơ sở để xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng gây ra. Tuy nhiên, do tính chất của cuộc sống vợ chồng, tài sản của vợ chồng gây thiệt hại dù là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ, chồng trong nhiều trường hợp việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại cũng phải được xem xét đến những nét đặc thù của đời sống HN&GĐ mà không thể áp dụng một cách dập khuôn các căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản gây ra trong BLDS. Vì thế, trong phạm vi vấn đề này chúng tôi xin trao đổi một vài nội dung sau:
Thứ nhất: Xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng gây ra là một trường hợp xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại khá đặc thù, bên cạnh các quy định chung của pháp luật dân sự về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại, cần phải có các quy định cụ thể về căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản chung của vợ chồng gây ra. Tuy nhiên, pháp luật HN&GĐ hiện hành không quy định cụ thể về vấn đề này. Vì vậy, việc áp dụng các căn cứ về bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng gây ra gặp không ít khó khăn. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến quyền lợi của người bị thiệt hại mà còn ảnh hưởng đến lợi ích tài sản của vợ chồng. Vì vậy, theo chúng tôi, Luật HN&GĐ năm 2000 nên có các quy định mang tính nguyên tắc về việc xác định trách nhiệm liên đới bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng gây ra. Các quy định này cùng với quy định của Luật Dân sự sẽ là cơ sở để chúng ta áp dụng vào việc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ chồng gây ra trong các trường hợp cụ thể.
Thứ hai: Do tính chất của cuộc sống vợ chồng, cho nên khi tài sản của vợ chồng gây thiệt hại, ngay cả trong trường hợp tài sản gây thiệt hại là tài riêng của một bên vợ, chồng (nhưng như chúng tôi đã phân tích trong các nội dung trên), có những trường hợp tài sản riêng của một bên gây thiệt hại, nếu áp dụng căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại thuần túy của pháp luật dân sự sẽ thật là thiếu công bằng và khách quan đối với người có tài sản riêng. Chẳng hạn, trường hợp tài sản riêng được đưa vào sử dụng chung mà hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản này là nguồn sống duy nhất của gia đình, theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, ở trường hợp này, khi định đoạt tài sản riêng, người vợ, người chồng có tài sản riêng không thể tự mình định đoạt tài sản đó mà phải có sự thỏa thuận, đồng ý của người kia. Bởi thế, khi tài sản này gây thiệt hại, nên chăng cần phải xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại đó cũng là trách nhiệm chung của vợ chồng hay nói cách khác: vợ chồng cùng liên đới chịu trách nhiệm đó. Tương tự, trường hợp tài sản riêng của vợ, chồng được đưa vào sử dụng chung vì nhu cầu sinh hoạt thiết yếu chung của gia đình, khi tài sản này gây thiệt hại cũng phải xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại này là trách nhiệm chung của vợ chồng. Bởi vậy, theo chúng tôi, Luật HN&GĐ cần phải quy định nguyên tắc xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do tài sản của vợ, chồng gây ra theo hướng này nhằm bảo vệ quyền và lợi ích về tài sản cho các bên vợ, chồng. Luận văn: Thực tiễn trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật về trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Xác định trách nhiệm dân sự liên đới của vợ chồng