Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng vai trò của pháp luật tố tụng hình sự với việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 VAI TRÒ CỦA CÁC MÔ HÌNH VÀ NGUYÊN TẮC TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

2.1.1. Mô hình tố tụng hình sự với việc bảo đảm quyền con người

Mô hình Tố tụng Hình sự là cách thức tổ chức, cấu trúc hoạt động tố tụng phù hợp với những đặc thù của tổ chức chính trị, phù hợp với bản chất và cách thức tổ chức quyền lực Nhà nước cũng như các yếu tố khác trong phạm vi một kiểu Nhà nước nhất định. Với khái niệm này thì mô hình Tố tụng Hình sự là hình thức thể hiện ra bên ngoài những quy định, nguyên tắc, cách thức tổ chức và trình tự tiến hành quá trình Tố tụng Hình sự của một kiểu Nhà nước nào đó. Các mô hình Tố tụng Hình sự tồn tại trong các thời kỳ trong lịch sử, đó là: mô hình Tố tụng Hình sự thẩm vấn (xét hỏi), mô hình Tố tụng Hình sự tranh tụng và mô hình Tố tụng Hình sự pha trộn (kết hợp giữa mô hình xét hỏi và tranh tụng). Ngoài ra, có quan điểm cho rằng còn có mô hình buộc tội (bị cáo) [50, tr. 15].

Mô hình Tố tụng Hình sự ở Việt Nam đã tiếp thu đậm nét những yếu tố của mô hình Tố tụng Hình sự thẩm vấn, được thể hiện trong Bộ luật Tố tụng Hình sự đầu tiên của nước ta năm 1988 và vẫn tiếp tục ảnh hưởng trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, thể hiện thông qua hoạt động tố tụng được chia thành các giai đoạn tố tụng (điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án), có sự phân chia các chủ thể Tố tụng Hình sự thành các chủ thể tiến hành tố tụng và các chủ thể tham gia tố tụng, sự bình đẳng trong giai đoạn tố tụng còn nhiều hạn chế do sự cách biệt về địa vị tố tụng của các bên, hạn chế tính công khai của kết quả điều tra, kết quả điều tra được phản ảnh trong hồ sơ và là cơ sở cho hoạt động xét xử của Tòa án. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, chúng ta đã tiếp thu một số nội dung tiến bộ của mô hình Tố tụng Hình sự tranh tụng, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội cụ thể của Việt Nam. Những quy định mang tính đặc trưng của mô hình Tố tụng Hình sự tranh tụng trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, đó là: các nguyên tắc “không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [42, Điều 9], nguyên tắc xác định sự thật vụ án [42, Điều 10], nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo [42, Điều 11], nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án [42, Điều 19] và người bị tạm giữ, bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa cho mình [42, Điều 11, 48, 49 và 50]; người bào chữa được tham gia tố tụng từ khi bị khởi tố bị can hoặc từ khi có quyết định tạm giữ, được quyền có mặt lấy lời khai, có mặt khi hỏi cung, được thu thập tài liệu, chứng cứ, đồ vật có liên quan đến việc bào chữa, được đọc, sao chép những tài liệu phục vụ cho việc bào chữa [42, Điều 56, 58]. Các bên tham gia trong quá trình giải quyết vụ án hình sự đều có quyền bình đẳng trước pháp luật. Ngoài ra, các chức năng tố tụng được phân định tương đối rõ ràng hơn, hoạt động tranh tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố, xét xử tội phạm đã được quan tâm, quán triệt trên cả phương diện lý luận và thực tiễn. Tranh tụng tại phiên tòa được đẩy mạnh, góp phần bảo đảm cho việc giải quyết vụ án hình sự được khách quan, đúng người, đúng tội.

Tuy nhiên, mô hình Tố tụng Hình sự nước ta chưa thực sự lấy việc bảo đảm quyền con người làm mục đích tối thượng của mình, vẫn còn những hạn chế như sau: Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

  • Việc tổ chức các hoạt động Tố tụng Hình sự ở nước ta có sự mâu thuẫn, chồng lấn giữa các chức năng cơ bản của Tố tụng Hình sự. Toà án ở nước ta có vai trò quá chủ động, tích cực trong việc buộc tội (vốn thuộc về Viện kiểm sát) và đang được giao thực hiện một số thẩm quyền không phù hợp với chức năng xét xử như Toà án có quyền trả lại hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung; có quyền xét xử bị cáo vượt ra ngoài giới hạn truy tố của Viện kiểm sát; có quyền tiếp tục xét xử trong trường hợp Viện kiểm sát đã rút toàn bộ quyết định truy tố tại phiên toà…
  • Quá nhấn mạnh phương pháp điều tra, Thẩm phán còn phụ thuộc nhiều vào hồ sơ vụ án.
  • Thiếu các cơ chế để người bào chữa thực hiện đầy đủ, có hiệu quả các quyền năng tố tụng đã được luật định.
  • Tranh tụng tại các phiên toà xét xử chưa thực sự được xem trọng.

Trước yêu cầu đặt ra từ thực tiễn xét xử, Đảng và Nhà nước ta yêu cầu phải cải cách mạnh mẽ thủ tục tư pháp theo hướng tôn trọng và bảo đảm quyền con người; phân định hợp lý quyền và nghĩa vụ của các chủ thể cho phù hợp với các chứng năng cơ bản của Tố tụng Hình sự; bảo đảm sự bình đẳng giữa bên buộc tội và bên bào chữa trong suốt quá trình giải quyết vụ án, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa; tăng cường tính công khai, minh bạch, dân chủ, khả năng tiếp cận công lý; bảo đảm hiệu lực, hiệu quả các cơ chế kiểm tra, giám sát các hoạt động Tố tụng Hình sự. Để thực hiện các yêu cầu này, đòi hỏi phải đổi mới mô hình Tố tụng Hình sự Việt Nam theo hướng tiếp thu những yếu tố tích cực của Tố tụng Hình sự tranh tụng, chú trọng đến chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự [31].

2.1.2. Các nguyên tắc tố tụng hình sự với việc bảo đảm quyền con người

Theo Từ điển tiếng Việt thì nguyên tắc là “Điều cơ bản định ra, nhất thiết phải tuân theo trong một loạt việc làm” [38, tr.859]. Nguyên tắc của Tố tụng Hình sự được hiểu là những quan điểm, tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt toàn bộ các chế định pháp luật, các quy phạm pháp luật cụ thể về Tố tụng Hình sự hoặc là những phương châm, định hướng chi phối toàn bộ hoạt động Tố tụng Hình sự và được các văn bản pháp luật Tố tụng Hình sự ghi nhận. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã dành hẳn một chương là Chương II (từ điều 3 đến điều 32) quy định về những nguyên tắc cơ bản của hoạt động Tố tụng Hình sự. Trong đó, có một loạt nguyên tắc phản ánh tư tưởng bảo đảm quyền con người như:

Nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa [42, Điều 3, 12 và 13]: Là những quy định cơ bản chung nhất, được ghi nhận trong Bộ luật Tố tụng Hình sự và mang ý nghĩa chỉ đạo đối với toàn bộ hoạt động Tố tụng Hình sự, theo đó các cơ quan Tiến hành tố tụng, những người Tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng khi thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng phải triệt để tuân theo những quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự. Nguyên tắc này bảo đảm quyền con người, quyền công dân, ngăn chặn việc kết án oan người vô tội và ngăn ngừa việc hạn chế vi phạm các quyền con người khi tham gia Tố tụng Hình sự nhưng các quy định về thẩm quyền của các cơ quan và người Tiến hành tố tụng chưa đầy đủ, thiếu nhất quán.

Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ nhân phẩm cá nhân, các quyền về tự do của công dân [42, Điều 4, 6, 7 và 8]: Pháp luật Tố tụng Hình sự bảo đảm các quyền cơ bản của con người được tôn trọng và bảo đảm, tránh khỏi những hành vi trái pháp luật, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các cá nhân. Nguyên tắc này nhằm bảo đảm cho các hoạt động Tố tụng Hình sự đi đúng hướng, loại trừ mọi sự hạn chế hoặc xâm pháp trái pháp luật của những người Tiến hành tố tụng, là cơ chế bảo đảm cho các quyền cơ bản của con người được tôn trọng trong Tố tụng Hình sự. Tuy nhiên, trên thực tế nguyên tắc này chưa được thực hiện triệt để, vẫn còn hạn chế khi áp dụng các biện pháp cưỡng chế còn sai quy định, sai thủ tục, vi phạm các quyền cơ bản của con người, công dân. Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật và Tòa án [42, Điều 5 và Điều 19]: Bảo đảm mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, không phân biệt dân tộc, giới tính, tín ngưỡng, tôn giáo, thành phần, địa vị xã hội. Đồng thời, họ có quyền bình đẳng trong việc đưa ra chứng cứ, tài liệu, đồ vật, đưa ra yêu cầu và tranh luận dân chủ trước Tòa án. Đây là bảo đảm pháp lý quan trọng để Viện kiểm sát bảo vệ lợi ích Nhà nước, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, trên thực tế Tòa án với tư cách chủ trì, điều khiển việc phiên tòa nhưng chưa tạo mọi điều kiện để các bên buộc tội và bên gỡ tội trình bày hết ý kiến của mình, chưa đảm bảo việc bình đẳng giữa bên buộc tội và bên gỡ tội trong việc đưa ra chứng cứ và trình bày ý kiến.

Nguyên tắc không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật [42, Điều 9]: Đây là nguyên tắc quan trọng không chỉ được quy định trong Tố tụng Hình sự mà còn được quy định trong Hiếp pháp: “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật” [44, Điều 31]. Nguyên tắc này thể hiện vai trò trung tâm, đặc biệt quan trọng của Tòa án trong việc bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, nguyên tắc suy đoán vô tội này chưa được chưa chính thức thừa nhận trong Bộ luật Tố tụng Hình sự. Do đó, cần ghi nhận suy đoán vô tội thành một nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng Hình sự và cụ thể hóa nội dung của các điều luật đã nêu vào trong nguyên tắc này để bảo đảm trách nhiệm của các cơ quan, người Tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội, qua đó tôn trọng quyền con người đã được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận. Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Nguyên tắc xác định sự thật khách quan của vụ án [42, Điều 10]: Quy định các cơ quan Tiến hành tố tụng phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm của bị can, bị cáo và trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan Tiến hành tố tụng. Bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp, pháp luật Tố tụng Hình sự quy định họ có quyền đưa ra các chứng cứ và yêu cầu chứng minh mình không phạm tội. Các cơ quan Tiến hành tố tụng phải tạo điều kiện để bị can, bị cáo đưa ra các chứng cứ và giải quyết các yêu cầu mà họ đưa ra, phải xem xét một cách khách quan các chứng cứ và yêu cầu đó không được có thái độ thiên vị hoặc bỏ qua.

Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can và bị cáo [42, Điều 11]: Đây là một nguyên tắc rất quan trọng trong Tố tụng Hình sự nhằm bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Nguyên tắc này khẳng định bị can, bị cáo có quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa. Đồng thời nguyên tắc cũng quy định trách nhiệm của cơ quan Tiến hành tố tụng bảo đảm cho bị can, bị cáo thực hiện quyền bào chữa. So với Bộ luật Tố tụng Hình sự 1988, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 có một bổ sung quan trọng là bổ sung quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa của người bị tạm giữ. Tuy nhiên, các quy định về quyền bào chữa của người bị tạm giữ, bị can và bị cáo còn nhiều hạn chế dẫn đến việc trên thực tế quyền này chưa được thực hiện một cách triệt để.

Nguyên tắc hai cấp xét xử và giám đốc việc xét xử [42, Điều 20, 21]: Là tư tưởng chủ đạo, có tính bắt buộc chung thể hiện quan điểm có tính định hướng của Nhà nước nhằm bảo đảm quan trọng cho việc tìm ra sự thật khách quan của vụ án, để Tòa án xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, đồng thời tạo cơ hội cho bị cáo bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của minh bằng các yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại bản án, nhằm khắc phục những sai lầm thiếu sót đó là cần thiết, góp phần vào bảo vệ pháp chế XHCN, xử lý công minh, không để lọt tội phạm hoặc làm oan người vô tội.

Nguyên tắc dân chủ [42, Điều 24, 25 và 32], nguyên tắc công khai [42, Điều 14, 26 và 27], nguyên tắc minh oan [42, Điều 29, 30]: Đây là những nguyên tắc được bổ sung trong Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 liên quan đến bảo đảm quyền con người trong Tố tụng Hình sự. Các nguyên tắc này không chỉ nâng cao trách nhiệm của cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án hình sự, mà còn là biện pháp để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân trong Tố tụng Hình sự, lĩnh vực mà quyền con người có nguy cơ bị xâm phạm rất cao. Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại và tố cáo trong Tố tụng Hình sự [42, Điều 31]: Bảo đảm quyền khiếu nại, tố cáo là một trong những biện pháp quan trọng để phát hiện, sửa chữa những thiếu sót, sai lầm trong hoạt động của người cũng như cơ quan Tiến hành tố tụng, đồng thời là biện pháp hữu hiệu để công dân, cơ quan, tổ chức bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 đã dành một chương riêng để cụ thể hóa nguyên tắc này, quy định cụ thể thẩm quyền, trình tự, thủ tục giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Tố tụng Hình sự. Điều này làm cho nguyên tắc có sức sống hơn, đảm bảo cho nó đi vào cuộc sống thực tế chứ không phải chỉ mang tính tuyên ngôn như Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988.

Ngoài ra, các nguyên tắc tố tụng khác ở mức độ này hay mức độ khác, góc độ này hay góc độ khác đều trực tiếp hay gián tiếp phản ánh được vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người, nhất là bảo đảm quyền người bị tạm giữ, bị can, bị cáo nói riêng trong Tố tụng Hình sự. Tuy nhiên, một số nguyên tắc trong Bộ luật Tố tụng Hình sự chưa phản ánh được đầy đủ những quan điểm chỉ đạo về đổi mới hoạt động tư pháp nói chung và các hoạt động Tố tụng Hình sự nói riêng trong bối cảnh việc bảo đảm quyền con người không chỉ là vấn đề của một quốc gia mà còn là mối quan tâm của cả thế giới.

2.2 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CỦA NGƯỜI THAM GIA TỐ TỤNG Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

2.2.1. Bảo đảm quyền của người bị tạm giữ, tạm giam

  • Người bị tạm giữ

Theo điều 48 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, người bị tạm giữ là người bị bắt trong trường hợp khẩn cấp, phạm tội quả tang, người bị bắt theo quyết định truy nã hoặc người phạm tội tự thú, đầu thú và đối với họ đã có quyết định tạm giữ.[42]

Quyền con người của người bị tạm giữ trong Tố tụng Hình sự được bảo vệ trước hết thông qua cơ chế quy định quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân, quy định về thời hạn bị tạm giữ, các quyền của người bị tạm giữ như: Được biết lý do mình bị tạm giữ; Được giải thích về quyền và nghĩa vụ; Trình bày lời khai; Tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Khiếu nại về việc tạm giữ, quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng [42, Điều 48, Khoản 2]. Đây là bước phát triển mới của pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, đã bảo vệ được quyền con người trong Tố tụng Hình sự của người bị tạm giữ.

Bên cạnh đó, bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ cũng là trách nhiệm cơ quan Tiến hành tố tụng, đặc biệt là của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát. Vì thế, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định rõ những người có quyền ra quyết định tạm giữ, tạm giam [42, Điều 86, Khoản 2], quyền hạn, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát tạm giữ, tạm giam [42, Điều 86, Khoản 3], quyền quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giữ khi không còn cần thiết [42, Điều 112, Khoản 4], chế độ tạm giữ [42, Điều 89], việc chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản của người bị tạm giữ [42, Điều 90], hủy bỏ và thay thế biện pháp ngăn chặn [42, Điều 94].

Cơ quan điều tra là chủ thể được pháp luật cho phép tiến hành các hoạt động điều tra nhằm thu thập, kiểm tra, đánh giá chứng cứ để làm sáng tỏ những vấn đề cần chứng minh trong vụ án hình sự. Với nhiệm vụ xác định sự thật vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ làm rõ chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định vô tội và chứng cứ làm tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Cơ quan điều tra và Điều tra viên phải tuân thủ các nguyên tắc về hoạt động điều tra được quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, Pháp lệnh Tổ chức điều tra hình sự và các văn bản khác. Việc điều tra phải tuân thủ các nguyên tắc như: tôn trọng sự thật khách quan, toàn diện, đầy đủ; phát hiện kịp thời, chính xác mọi hành vi phạm tội, làm rõ cả chứng cứ buộc tội và gỡ tội, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ hình phạt, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội. Trên thực tế các quy định về người bị tạm giữ được các cơ quan Tiến hành tố tụng vận dụng đúng pháp luật và có những tiến bộ rõ rệt, bảo đảm tạm giữ đúng đối tượng, đúng thẩm quyền, thủ tục và thời gian. Tuy nhiên, việc bảo đảm quyền con người của người tạm giữ vẫn còn nhiều hạn chế, vi phạm Tố tụng Hình sự từ phía cơ quan Tiến hành tố tụng như: Tạm giữ người có hành vi vi phạm hành chính, tạm giữ người sau khi lạm dụng bắt khẩn cấp hoặc sau khi bắt quả tang không đúng pháp luật, sau đó trả tự do, chuyển xử lý hành chính chiếm tỷ lệ cao; tạm giữ người có hành vi phạm tội ít nghiêm trọng, có nơi cư trú rõ ràng không có dấu hiệu bỏ trốn, cản trở hoạt động điều tra; tạm giữ người bị tạm giữ khi chưa có lệnh, hoặc có lệnh nhưng chưa có giá trị pháp lý; tạm giữ người bị tạm giữ chung với người bị tạm giam, không phân loại các đối tượng bị tạm giữ, thời hạn tạm giữ quá hạn; các chế độ đối với người bị tạm giữ không được thực hiện đúng theo quy định của quy chế tạm giữ, gây nhiều tổn thất cho người bị tạm giữ, vi phạm các quyền con người trong Tố tụng Hình sự của người bị tạm giữ.

  • Người bị tạm giam Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Theo điều 88 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì người bị tạm giam trong các trường hợp bị can, bị cáo phạm tội đặc biệt nghiêm trọng; phạm tội rất nghiêm trọng hoặc bị can, bị cáo phạm tội nghiêm trọng, phạm tội ít nghiêm trọng mà Bộ luật hình sự quy định hình phạt tù trên hai năm và có căn cứ cho rằng người đó có thể trốn hoặc cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử hoặc có thể tiếp tục phạm tội [42]. Bắt bị can, bị cáo để tạm giam là biện pháp thường được áp dụng trong đấu tranh chống tội phạm, để ngăn chặn hành vi phạm tội và việc lẩn trốn pháp luật của bị can, bị cáo. Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giam, pháp luật Tố tụng Hình sự quy định khi bắt bị can, bị cáo để tạm giam phải căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của người phạm tội và thái độ của họ khi và sau khi thực hiện hành vi phạm tội, chỉ được bắt người để tạm giam khi có đủ căn cứ để xác định người đó đã thực hiện hành vi phạm tội và nếu xét thấy cần phải bắt để tạo điều kiện thuận lợi cho việc điều tra, xử lý tội phạm. Khi có những điều kiện, dấu hiệu cho thấy người phạm tội không có ý trốn tránh pháp luật, không gây khó khăn cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thì không nên bắt (thậm chí không được bắt) mà có thể áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác. Chẳng hạn, người phạm tội lần đầu, tính chất ít nghiêm trọng hoặc phạm tội do vô ý, không có hành động cản trở hoạt động điều tra, truy tố, xét xử thì không cần bắt để tạm giam hoặc đối với bị can, bị cáo là phụ nữ có thai hoặc đang nuôi con dưới ba mươi sáu tháng tuổi, là người già yếu, người bị bệnh nặng mà nơi cư trú rõ ràng thì không tạm giam mà áp dụng biện pháp ngăn chặn khác [42, Điều 88, Khoản 2].

Bắt bị can, bị cáo để tạm giam có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân nên pháp luật Tố tụng Hình sự quy định rất rõ những người có thẩm quyền mới có quyền ra lệnh bắt như Viện trưởng, phó viện trưởng Viện kiểm sát và Viện kiểm sát quân sự các cấp hoặc Chánh án, phó chánh án Tòa án nhân dân và Toà án quân sự các cấp hoặc Thẩm phán giữ chức vụ chánh Toà, Phó chánh Toà Toà phúc thẩm Tòa án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử hoặc Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành [42, Điều 80, Khoản 1]. Ngoài ra, pháp luật Tố tụng Hình sự còn quy định rất chặt chẽ về trình tự, thủ tục bắt, đề cao trách nhiệm cá nhân của người ra lệnh bắt, người thi hành lệnh bắt, bảo đảm bắt đúng người phạm tội, những quyền và lợi ích chính đáng của người bị bắt như lệnh bắt phải ghi rõ ngày, tháng, năm; họ, tên; chức vụ của người ra lệnh; họ, tên, địa chỉ của người bị bắt và lý do bắt phải thật rõ ràng, có cơ sở pháp lý…. Lệnh bắt nếu thiếu sự phê chuẩn của Viện kiểm sát sẽ bị coi là không có giá trị và công dân có quyền không chấp hành. Bên cạnh đó, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 còn quy định rõ quyền hạn, nhiệm vụ của Viện kiểm sát trong việc kiểm sát tạm giam [42, Điều 88, Khoản 3], quyền quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam khi không còn cần thiết [42, Điều 112, Khoản 4], chế độ tạm giam [42, Điều 89], việc chăm nom người thân thích và bảo quản tài sản của người bị tạm giam [42, Điều 90], hủy bỏ và thay thế biện pháp ngăn chặn [42, Điều 94]. Các văn bản khác cũng hướng dẫn về chế độ tạm giam, chế độ ăn uống, khám chữa bệnh của người tạm giam như Nghị định số 89/1998/NĐ-CP ngày 07/11/1998 của Chính Phủ được sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 09/2011/NĐ-CP ngày 25/01/2011 của Chính phủ.

Những năm gần đây công tác tạm giam người đã trở thành một vấn đề thu hút sự chú ý của cơ quan Nhà nước, nhiều tổ chức xã hội, và đông đảo các tầng lớp nhân dân. Việc người bị tạm giam oan sai tuy chưa phải là hiện tượng phổ biến nhưng đã xảy ra ở nhiều địa phương, gây nên sự bất bình trong dư luận xã hội. Ví dụ như trường hợp Công an tỉnh Sóc Trăng bắt tạm giam gần 1 năm đối với ông Trần Hol, Trần Cua, Trần Văn Đỡ, Thạch Sô Phách, Thạch Mươl, Khâu Sóc và bà Nguyễn Thị Bé Diễm vì tình nghi giết anh Lý Văn Dũng (làm tài xế xe ôm, ngụ huyện Trần Đề, Sóc Trăng), sau đó những người trên đã được thả vì xác định được hung thủ giết anh Lý Văn Dũng là Lê Thị Mỹ Duyên và Nguyễn Kim Xuyến [2]. Việc tạm giam oan người vô tội, không đúng thủ tục, sai thẩm quyền, tạm giam quá hạn đã xâm phạm quyền bất khả xâm phạm thân thể và sứ mạng chính trị của con người, của công dân, đồng thời làm giảm sút lòng tin của quần chúng đối với các cơ quan có trách nhiệm thi hành pháp luật.

2.2.2. Bảo đảm quyền của bị can, bị cáo Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Trong Tố tụng Hình sự, bị can, bị cáo là những người tham gia tố tụng có vị trí trung tâm trong quá trình giải quyết vụ án hình sự. Tùy theo giai đoạn tố tụng khác nhau mà tên gọi cũng như địa vị pháp lý (quyền và nghĩa vụ Tố tụng Hình sự) của người đó cũng khác nhau.

  • Bị can

Theo Điều 49 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, bị can là người đã có quyết định khởi tố về hình sự. Kể từ thời điểm có quyết định khởi tố bị can, người bị khởi tố về hình sự được gọi là bị can trong vụ án hình sự [42]. Trước khi khởi tố bị can, cơ quan có thẩm quyền phải xác định được có sự kiện phạm tội xảy ra, tội phạm gì, quy định tại điều, khoản nào của Bộ luật hình sự, lỗi của người thực hiện hành vi đó (cố ý hay vô ý) và không có các tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự đối với người đã thực hiện hành vi đó. So với người bị tạm giữ, bị can có mức độ bị tình nghi thực hiện tội phạm cao hơn, do vậy, mức độ hạn chế quyền con người cũng cao hơn; thời hạn bị cách ly khỏi xã hội do bị tạm giam dài hơn; các biện pháp cưỡng chế Tố tụng Hình sự, đặc biệt là ngăn chặn có mức độ nghiêm khắc cao hơn; chế độ giam giữ cũng như chế độ thăm nuôi của người nhà cũng nghiêm khắc và chặt chẽ hơn.

Bảo đảm các quyền con người của bị can, pháp luật Tố tụng Hình sự quy định bị can có các quyền: biết mình bị khởi tố về tội gì; được giải thích quyền và nghĩa vụ; được trình bày lời khai, được đưa ra đồ vật, tài liệu, yêu cầu; được đề nghị thay đổi người Tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; được bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; được nhận các quyết định tố tụng của các cơ quan Tiến hành tố tụng như quyết định truy tố …[42, Điều 49, Khoản 2]. Để đảm bảo cho các quyền trên đây được tôn trọng Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 còn quy định thời hạn tạm giam, thẩm quyền ra lệnh tạm giam và cách thức thực hiện lệnh tạm giam [42, Điều 88], thẩm quyền điều tra [42, Điều 119], sự tham dự của người chứng kiến [42, Điều 123]; biên bản điều tra; căn cứ và cơ sở để khởi tố bị can [42, Điều 126]; các yêu cầu của các hoạt động điều tra như hỏi cung bị can [42, Điều 131], đối chất [42, Điều 138], nhận dạng [42, Điều 139], kê biên tài sản [42, Điều 146], xem xét dấu vết trên thân thể [42, Điều 152], thực nghiệm điều tra [42, Điều 153]; đình chỉ điều tra [42, Điều 164], thời hạn quyết định truy tố [42, Điều 166]… Bên cạnh đó, bị can có quyền được khiếu nại quyết định tố tụng và hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi các quyền của họ bị vi phạm. Đặc biệt, Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định việc nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình đối với bị can, bị cáo [42, Điều 18] nhằm ngăn chặn sự vi phạm quyền con người của bị can có thể có từ phía cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng.

Bảo đảm quyền con người của bị can còn là trách nhiệm của hai cơ quan Tiến hành tố tụng trong giai đoạn điều tra, truy tố là Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát. Theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự thì các quyết định khởi tố bị can, thay đổi hoặc bổ sung quyết định khởi tố bị can, đình chỉ vụ án hình sự, tạm đình chỉ vụ án hình sự, bản kết luận điều tra cũng như bản cáo trạng của Cơ quan điều tra phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát, phê chuẩn. Tương tự, các quyết định thay đổi, hủy bỏ hoặc áp dụng biện pháp ngăn chặn, đình chỉ, tạm đình chỉ, đưa vụ án ra xét xử của Tòa án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử cũng phải được gửi cho Viện kiểm sát cùng cấp để kiểm sát. Ngoài hình thức gián tiếp bảo đảm quyền con người của bị can thông qua việc phê chuẩn hoặc không phê chuẩn các quyết định tố tụng nêu trên, Viện kiểm sát còn trực tiếp tham gia vào các hoạt động của Cơ quan điều tra cùng cấp như khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi… Với sự tham gia trực tiếp của Viện kiểm sát cùng cấp và các hoạt động điều tra, hoạt động của Cơ quan điều tra được tiến hành đúng pháp luật, không vi phạm thô bạo quyền và lợi ích hợp pháp của bị can. Bằng những hoạt động đó, những vi phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bị can trong giai đoạn điều tra, truy tố bị loại trừ. Bị can chỉ trở thành bị cáo khi Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử nên Tòa án có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người của bị can. Trong khi chuẩn bị xét xử sơ thẩm, Tòa án có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ vụ án, trong thời hạn luật định ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có một trong những căn cứ mà pháp luật quy định [42, Điều 178] hoặc quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án hình sự [42, Điều 105 và Điều 107] hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử [42, Điều 176]. Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Thực tế việc bảo đảm quyền con người trong Tố tụng Hình sự của bị can đã được những người có thẩm quyền tôn trọng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra các vụ án hình sự, không phải lúc nào và không phải quyền nào của bị can cũng đều được tôn trọng một cách đúng đắn. Thực tế, có trường hợp những người có thẩm quyền điều tra đã bức cung, nhục hình bị can. Ví dụ: vụ án 5 công an gồm ông Nguyễn Minh Quyền (thiếu tá, Đội phó Đội trinh sát Phòng CSĐT tội phạm về trật tự xã hội- PC45, Công an tỉnh Phú Yên), ông Nguyễn Tấn Quang (thiếu tá, Đội phó Đội điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an TP Tuy Hòa), ông Phạm Ngọc Mẫn (thượng úy), ông Đỗ Như Huy (trung úy), ông Nguyễn Thân Thảo Thành (thiếu úy, đều là cán bộ điều tra, trinh sát của Công an TP Tuy Hòa) dùng nhục hình đánh chết anh Ngô Thanh Kiều (sinh năm 1982, trú tại thôn Mỹ Thuận Ngoài, xã Hòa Đồng, huyện Tây Hòa, Phú Yên), nghi can của một vụ trộm [3].

Ngoài ra, các quyền của bị can dễ bị xâm phạm nhất là quyền được trình bày lời khai, quyền được giải thích các quyền của mình để được sử dụng cũng như nghĩa vụ của họ phải thực hiện. Còn xảy ra tình trạng vi phạm các quyền nêu trên của bị can vì do trình độ hiểu biết của bị can quá thấp hoặc do cơ quan Tiến hành tố tụng gây khó khăn, cản trở hoạt động của người bào chữa vì quan điểm cho rằng người bào chữa tham gia Tố tụng Hình sự có thể tác động đến lời khai của bị can, gây khó khăn cho hoạt động điều tra. Đặc biệt, trong trường hợp bị can phạm tội theo khung hình phạt cao nhất là tử hình, bị can là người chưa thành niên, người có nhược điểm về tâm thần hoặc thể chất mà họ hoặc người đại diện hợp pháp của họ không mời người bào chữa nhưng cơ quan Tiến hành tố tụng cũng không yêu cầu người bào chữa cho họ là vi phạm nghiêm trọng pháp luật Tố tụng Hình sự và quyền con người trong Tố tụng Hình sự của bị can.

  • Bị cáo

Theo điều 50 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, bị cáo là người đã bị Tòa án quyết định đưa ra xét xử. Sau khi Cơ quan điều tra kết thúc điều tra, thấy rằng có đủ chứng cứ để khẳng định rằng bị can đã phạm tội do Bộ luật hình sự quy định thì đề nghị Viện kiểm sát truy tố ra trước Tòa án [42]. Trong quá trình chuẩn bị xét xử, Thẩm phán được phân công chủ tọa phiên tòa thấy rằng có đủ điều kiện để đưa vụ án ra xét xử mà không phải trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung, không có căn cứ để đình chỉ hay tạm đình chỉ vụ án thì ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Từ thời điểm này, bị can trở thành bị cáo trong vụ án hình sự.

Bị cáo là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự, bị buộc tội nên có khả năng bị áp dụng các biện pháp cưỡng chế do pháp luật Tố tụng Hình sự quy định, có nguy cơ bị xâm phạm các quyền con người nên cần các quyền tương ứng và các biện pháp bảo đảm. Việc quy định quyền con người của bị cáo chính là cơ chế bảo vệ quyền con người trong Tố tụng Hình sự của bị cáo. Pháp luật Tố tụng Hình sự quy định bị cáo có các quyền như được tham gia phiên tòa; được giải thích về quyền và nghĩa vụ; được đề nghị thay đổi người Tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; được đưa tài liệu; được tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa; được trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa; được nói lời sau cùng trước khi bị nghị án; được kháng cáo bản án, quyết định của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng [42, Điều 5]; được nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định áp dụng thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp ngăn chặn, quyết định đình chỉ vụ án, bản án, quyết định của tòa án, các quyết định tố tụng khác theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003. Nếu tại phiên tòa phát hiện vắng mặt người bào chữa mà vụ án thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 57 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, do trước đây bị can (nay là bị cáo) hoặc người đại diện hợp pháp của họ (thuộc trường hợp bị cáo là người chưa thành niên hoặc người có nhược điểm về thể chất hoặc tâm thần) không mời được người bào chữa và Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng không đề nghị Đoàn luật sự yêu cầu Văn phòng luật sư cử người bào chữa cho bị can, nay là bị cáo thì Tòa án phải hoãn phiên tòa và đề nghị Đoàn luật sự yêu cầu Văn phòng luật sư cử người bào chữa để bào chữa cho bị cáo. Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Đặc biệt, thể chế hóa tinh thần tranh tụng của Nghị quyết 08-NQ/TW của Bộ Chính trị, pháp luật Tố tụng Hình sự quy định bị cáo có quyền trình bày ý kiến về luận tội của Viện kiểm sát và đưa ra đề nghị của mình; Kiểm sát viên phải đưa ra những lập luận của mình đối với từng ý kiến; chủ tọa phiên tòa không được hạn chế thời gian tranh luận, tạo điều kiện cho những người tham gia tranh luận trình bày hết ý kiến và có quyền đề nghị Kiểm sát viên phải đáp lại những ý kiến tranh luận của những người tham gia tố tụng [42, Điều 218]. Đồng thời, pháp luật Tố tụng Hình sự cũng quy định khi nghị án, Hội đồng xét xử chỉ được căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người bào chữa và những người tham gia tố tụng khác tại phiên tòa [42, Điều 222]. Các quy định này nhằm khắc phục tình trạng Kiểm sát viên không tham gia tranh luận đầy đủ khi thực hành quyền công tố và bản án của Tòa án không hoàn toàn dựa trên kết quả tranh luận tại phiên tòa.

  • Thống kê các vụ án hình sự của Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp từ năm 2007-2013:

Năm 2007, Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp đã giải quyết theo thủ tục sơ thẩm, phúc thẩm và giám đốc thẩm 75.191 vụ án hình sự với 128.126 bị cáo trong tổng số 77.198 vụ với 132.425 bị cáo đã thụ lý, đạt 97,4% số vụ và 96,7% số bị cáo; tăng hơn 0,4% so với cùng kỳ năm trước và vượt 7,4% so với chỉ tiêu đề ra. Tỷ lệ các bản án quyết định về hình sự bị huỷ là 0,63% (do nguyên nhân chủ quan là 0,4% và do nguyên nhân khách quan là 0,23%), bị sửa là 4,43% (do nguyên nhân chủ quan là 1,05% và do nguyên nhân khách quan là 3,38%). So với năm 2006, tỷ lệ các bản án, quyết định hình sự bị hủy tăng 0,03% và bị sửa tăng 0,33% [54].

Năm 2008, Tòa án nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã thụ lý 79.291 vụ án hình sự với 135.976 bị cáo; đã giải quyết, xét xử được 77.407 vụ án với 131.893 bị cáo, đạt 97,6% số vụ và 97% số bị cáo (vượt 5,6% so với chỉ tiêu đề ra). Trong đó, giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm 63.040 vụ với 109.338 bị cáo; theo thủ tục phúc thẩm 14.165 vụ với 22.259 bị cáo và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 202 vụ với 296 bị cáo. Tỷ lệ các bản án quyết định về hình sự bị huỷ là 0,6% (do nguyên nhân chủ quan là 0,17% và do nguyên nhân khách quan là 0,43%), bị sửa là 4,6% (do nguyên nhân chủ quan là 0,7% và do nguyên nhân khách quan là 3,9%). So với năm trước, số vụ án bị huỷ do nguyên nhân chủ quan giảm 0,83%, bị sửa do nguyên nhân chủ quan giảm 0,35% [55] Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Năm 2009, Tòa án nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã thụ lý 80.104 vụ án với 138.823 bị cáo; đã giải quyết, xét xử được 78.343 vụ án với 134.717 bị cáo, đạt 97.8% số vụ và 97% số bị cáo. Trong đó, giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm 65.462 vụ với 114.344 bị cáo; theo thủ tục phúc thẩm 12.687 vụ với 20.079 bị cáo và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 194 vụ với 294 bị cáo. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ là 0,71% (do nguyên nhân chủ quan là 0,38% và do nguyên nhân khách quan là 0,33%), bị sửa là 4,21% (do nguyên nhân chủ quan là 0,54% và do nguyên nhân khách quan là 3,67%). So với năm trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ do nguyên nhân chủ quan tăng 0,21%, tỷ lệ bị sửa giảm 0,16% [56].

Năm 2010, Tòa án nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã thụ lý 71.680 vụ án với 121.793 bị cáo; đã giải quyết, xét xử được 68.381 vụ án với 114.988 bị cáo (đạt 95% số vụ và số bị cáo). Trong đó, giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm 55.221 vụ với 95.241 bị cáo (có 2.178 vụ án với 5.342 bị cáo Toà án trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung); theo thủ tục phúc thẩm 12.971 vụ với 19.417 bị cáo và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 189 vụ với 330 bị cáo.

Tỷ lệ các bản án quyết định bị huỷ là 0,75% (do nguyên nhân chủ quan là 0,44% và do nguyên nhân khách quan là 0,31%); bị sửa là 5,1% (do nguyên nhân chủ quan là 0,45% và do nguyên nhân khách quan là 4,65%). So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị huỷ do nguyên nhân chủ quan tăng 0,06%, bị sửa do nguyên nhân chủ quan giảm 0,09% [57].

Năm 2011, Các Tòa án nhân dân và Tòa án quân sự các cấp đã giải quyết, xét xử được 75.014 vụ án với 127.247 bị cáo, đại 97%, tăng hơn so với cùng kỳ năm trước 6.633 vụ với 12.259 bị cáo, trong đó giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm 60.925 vụ với 107.000 bị cáo; theo thủ tục phúc thẩm 13.896 vụ với 19.989 bị cáo và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 193 vụ với 258 bị cáo. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 0.5% (do nguyên nhân chỉ quan 0,4% và do nguyên nhân khách quan 0,1%); bị sửa là 4,8% (do nguyên nhân chủ quan 0,4% và do nguyên nhân khách quan 4,4%). So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy do nguyên nhân chủ quan giảm 0,04%, bị sửa do nguyên nhân chủ quan giảm 0,05% [58].

Năm 2012, Tòa án nhân dân và Toà án quân sự các cấp đã thụ lý 83.116 vụ với 146.968 bị cáo, tăng 6.222 vụ với 15.540 bị cáo so với cùng kỳ năm trước; đã giải quyết, xét xử được 81.643 vụ án với 144.448 bị cáo (đạt 98% số vụ và số bị cáo), tăng 6.629 vụ với 17.241 bị cáo; cụ thể: Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Giải quyết, xét xử theo thủ tục sơ thẩm 67.369 vụ với 122.960 bị cáo (trong đó có 27 vụ án với 68 bị cáo về các tội xâm phạm an ninh quốc gia, 321 vụ án với 733 bị cáo về các tội tham nhũng, 15.285 vụ án với 19.260 bị cáo về các tội ma túy, 11.637 vụ án với 19.674 bị cáo về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm của con người, 26.617 vụ án với 45.866 bị cáo về các tội xâm phạm sở hữu, còn lại là các tội phạm khác). Các Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên phạt tử hình và tù chung thân đối với 530 bị cáo; xử phạt tù có thời hạn 81.843 bị cáo; xử phạt tù nhưng cho hưởng án treo 25.458 bị cáo, bằng 22% (trong đó có 155 bị cáo phạm các tội về tham nhũng), còn lại là các hình phạt khác.

Giải quyết, xét xử theo thủ tục phúc thẩm 14.119 vụ với 21.239 bị cáo và theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm 155 vụ với 249 bị cáo. Tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy là 0,5% (do nguyên nhân chủ quan 0,3% và do nguyên nhân khách quan 0,2%); bị sửa là 4,9% (do nguyên nhân chủ quan 0,3% và do nguyên nhân khách quan 4,6%). So với cùng kỳ năm trước, tỷ lệ các bản án, quyết định bị hủy, sửa do nguyên nhân chủ quan giảm 0,2%.

Trong tổng số 81.643 vụ án với 144.448 bị cáo mà toàn ngành đã giải quyết, các Tòa án quân sự giải quyết, xét xử 293 vụ với 514 bị cáo theo thủ tục sơ thẩm; 47 vụ án với 88 bị cáo theo thủ tục phúc thẩm; 01 vụ với 07 bị cáo theo thủ tục giám đốc thẩm. Tỷ lệ giải quyết các vụ án hình sự của các Tòa án quân sự đạt 92% [59].

Qua các số liệu trên, có thể thấy rằng số bị cáo, vụ án hình sự mà Tòa án nhân dân tối cao xét xử ngày gia tăng, năm sau cao hơn năm trước nhưng tỷ lệ án bị hủy lại giảm [Xem thêm phụ lục biểu đồ 2.1 đến 2.3]. Về cơ bản việc xét xử các vụ án hình sự cơ bản đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Đối với các vụ án lớn, trọng điểm, các Tòa án đều phối hợp chặt chẽ với các Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát để sớm hoàn tất hồ sơ đưa ra xét xử kịp thời, nghiêm minh, đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ chính trị của các địa phương, cũng như cả nước. Điển hình như các vụ phá hoại chính quyền đại đoàn kết dân tộc ở một số tỉnh Tây Nguyên và gần đây là các vụ án tuyên truyền chống nhà nước hoặc hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân xảy ra ở thành phố Hồ Chí Minh, Hà Nội, Hải Phòng, Thái Bình, vụ án Lê Văn Luyện phạm tội “Giết người” và “Cướp tài sản” ở tỉnh Bắc Giang; vụ án Trần Hoàng Anh và các đồng phạm phạm tội “Mua bán người”, “Mua bán trẻ em” có quy mô lớn nhất từ trước đến nay; vụ án do Tạ Văn Ưu và Nguyễn Văn Hồng cầm đầu trong đường dây mua bán 88 bánh heroin liên tỉnh tại Bắc Giang. Đặc biệt, Tòa án nhân dân các cấp đã tăng cường và xét xử nghiêm minh các tội về tham những, từ khi thực hiện Nghị quyết 49, các Tòa án nhân dân đã xét xử 2.781 vụ án với 6.671 bị cáo phạm các tội về tham nhũng, trong đó điển hình là vụ án Mai Văn Dâu và các đồng phạm khác ở Bộ Thương Mại, vụ án Mai Tiến Dũng – nguyên Tổng giám đốc ban quản lý các dự án –PMU18 và các đồng phạm khác bị kết án về tội đánh bạc, tổ chức đánh bạc và đưa hối lộ; vụ án Phạm Thanh Bình phạm tội “Cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng” tại tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (Vinashin) [61].

Việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người cũng được thể hiện rõ nét trong văn hóa xét xử tại phiên tòa. Trong giai đoạn xét hỏi, người tham gia tố tụng, đặc biệt là bị cáo đã được tạo điều kiện để trình bày đầy đủ về các tình tiết của vụ án, tình trạng dụ cung, mớm cung đã được hạn chế, các tài liệu của vụ án, các nhận xét, báo cáo của cơ quan, tổ chức mà Hội đồng xét xử dùng làm căn cứ cho bản án, quyết định đều được công bố trong quá trình xét hỏi. Ngoài ra, Tòa án đã thực hiện nghiêm chỉnh Nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về trang phục của bị cáo tại phiên tòa; các bị cáo bị tạm giam không phải mặc đồng phục phạm nhân. Việc xưng hô tại phiên tòa đã có tiến bộ đáng kể; các đại từ mang tính mạt sát, coi thường như “y”, “thị”, “đồng bọn”… cơ bản đã được bãi bỏ và thay vào đó là các thuật ngữ pháp lý theo địa vị tố tụng (bị cáo, người bị hại, người làm chứng…) hoặc theo phong tục giao lưu thông thường (anh, chị, ông, bà). Thái độ của những người Tiến hành tố tụng trong điều khiển, xét hỏi, tranh luận nhìn chung được thực hiện theo mực thước văn hóa pháp lý, phù hợp với truyền thống dân tộc, tình trạng quát nạt, mạt sát, hù doạ bị cáo, người tham gia tố tụng càng ngày càng được hạn chế. Tuy nhiên, một số quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự còn hạn chế, dẫn đến việc quyền con người của bị cáo vẫn chưa đảm bảo. Trong nhiều phiên tòa, kiểm sát viên không tranh luận với người bào chữa mà chỉ kiên quyết bảo lưu quan điểm, tranh tụng tại phiên tòa bị xem nhẹ và mang tính áp đặt, thiếu dân chủ, một số người Tiến hành tố tụng chưa nhận thực rõ trách nhiệm của mình cũng như vai trò của người tham gia tố tụng như người bảo chữa, dẫn đến tình trạng hạn chế bảo đảm quyền con người trong pháp luật Tố tụng Hình sự của bị cáo. Vẫn còn xảy ra trường hợp kết án oan người không có tội, ví dụ: vụ án ông Nguyễn Thanh Chấn (Nghĩa Trung, Việt Yên, Bắc Giang) vừa được thả sau 10 năm ngồi tù, ngày 25/10/2013, thủ phạm thật sự của vụ án là Lý Nguyễn Chung ra đầu thú, thừa nhận hành vi giết người của mình.

2.2.3. Bảo đảm quyền của người bị kết án, chấp hành bản án Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Người bị kết án là người đã bị một bản án của Tòa án kết tội đã có hiệu lực pháp luật. Ranh giới của bị cáo và người bị kết án có thể hiểu là thời điểm trước và sau khi bản án kết tội họ đã có hiệu lực pháp luật. Tuy nhiên, nhằm bảo đảm không kết án oan cho người vô tội, Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định người bị kết án có quyền gửi đơn đến người có thẩm quyền đề nghị xem xét lại bản án phúc thẩm theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm [42, Điều 290, 272]; thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm và tái thẩm không bị hạn chế thời gian, được tiến hành bất cứ lúc nào, nếu theo hướng lợi cho người bị kết án, kể cả trong trường hợp người bị kết án đã chết mà cần minh oan cho họ, còn ngược lại thì được quy định cụ thể trong khoản 1 Điều 278 và khoản 1 Điều 295; quy định các trường hợp hoãn chấp hành hình phạt tù [42, Điều 261]; giảm thời hạn hoặc miễn chấp hành hình phạt [42, Điều 268] và xóa án tích [42, Điều 270].

Người chấp hành án là người bị kết tội và phải chịu hình phạt theo bản án đã có hiệu lực pháp luật [45, tr.1]. Đối với người chấp hành bản án tử hình là hình phạt nghiêm khắc nhất, tước đi quyền được sống của người phạm tội nên pháp luật Tố tụng Hình sự quy định rất chặt chẽ các trình tự đặc biệt về hình phạt tử hình. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (chương XXVI Thi hành hình phạt tử hình), Luật thi hành án hình sự năm 2010, Nghị quyết số 02/2007/NQ-HĐTP ngày 2/10/2007 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao (mục II), và các văn bản hướng dẫn khác quy định thủ tục xem xét lại bản án tử hình trước khi đưa ra thi hành án; hoãn thi hành án hoặc không áp dụng hình phạt tử hình được quy định tại Điều 35 của Bộ luật hình sự; được gửi đơn xin ân giảm lên Chủ tịch nước và các quyền của người chấp hành bản án tử hình như: Được hưởng các tiêu chuẩn về ăn, uống, khám, chữa bệnh, gửi, nhận thư, quà thăm nuôi, cũng như quyền khiếu nại, tố cáo như người bị tạm giữ, tạm giam; sau khi đã bị tử hình thì tiền bạc và tài sản gửi lưu ký ở trại giam của họ được trả lại đầy đủ cho người thân hoặc người được ủy thác của họ.

Đối với những người chấp hành án là hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân mặc dù bị hạn chế các quyền công dân nhất định nhưng vẫn được pháp luật bảo vệ và bảo đảm các quyền và tự do cơ bản, đồng thời đề cao việc giáo dục, cải tạo họ trở thành những người lương thiện cho xã hội. Pháp luật Tố tụng Hình sự quy định những biện pháp mang tính tổng thể, đồng bộ trong việc giáo dục, cải tạo người bị kết án nhằm hoàn trả cho xã hội những người lao động có ích. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, Luật thi hành án hình sự năm 2010 quy định người bị kết án đang bị tạm giam được quyền gặp người thân thích trước khi thi hành án và Ban giám thị trại giam phải thông báo cho gia đình người bị kết án biết nơi người đó chấp hành hình phạt. Đồng thời, trong thời gian đang chấp hành hình phạt tù họ được hưởng các quyền của công dân mà không bị Tòa án tước theo bản án kết tội như: được học văn hóa, học nghề, hưởng chế độ khám, chữa và điều trị bệnh, được gửi, nhận thư, bưu kiện, bưu phẩm, gặp gỡ thân nhân và nhận quà thăm nuôi theo quy định chung; nếu chết hoặc bị thương tật do tai nạn lao động thì được hưởng chế độ bảo hiểm; được quyền khiếu nại, tố cáo về những quyết định hoặc hành vi trái pháp luật của cán bộ, cơ quan thi hành án phạt tù hoặc cán bộ, cơ quan khác; được xét giảm thời hạn chấp hành theo các quy định tương ứng trong Bộ luật hình sự. Sau khi đã chấp hành hình phạt tù xong, họ được trả lại đầy đủ tiền bạc và tài sản đã ký gửi ở trại giam; được cấp tiền tàu xe, tiền ăn trên đường về nơi cư trú … Bên cạnh đó, Nghị định 117/2011/NĐ-CP ngày 15 tháng 12 năm 2011 của Chính phủ quy định việc tổ chức quản lý phạm nhân và đảm bảo chế độ đối với phạm nhân tại các trại giam, qua đó phạm nhân đã được nâng cao các chế độ về ăn, mặc, ở, sinh hoạt và chăm sóc y tế; Nghị định số 80/2011/NĐ-CP ngày 16/9/2011 quy định các biện pháp đảm bảo tái hòa nhập cộng đồng đối với người chấp hành xong án phạt tù, qua đó giúp đỡ, tạo điều kiện cho những người này nhanh chóng ổn định cuộc sống. Đặc biệt, Luật Đặc xá năm 2007, thể hiện sự khoan hồng đặc biệt của Nhà nước do Chủ tịch nước quyết định tha tù trước thời hạn cho người bị kết án phạt tù có thời hạn, tù chung thân nhân sự kiện trọng đại, ngày lễ lớn của đất nước hoặc trong trường hợp đặc biệt. Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Năm 2009, Các Toà án cấp sơ thẩm đã ra quyết định thi hành án hình sự đối với 96.349 người bị kết án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đạt tỷ lệ 97%; ra quyết định hoãn, tạm đình chỉ thi hành án phạt tù đối với 6.689 trường hợp; xét miễn, giảm thời gian chấp hành hình phạt tù cho 51.637 phạm nhân đang chấp hành hình phạt tù đã cải tạo tốt [56].

Năm 2010, các Toà án cấp sơ thẩm đã ra quyết định thi hành án hình sự đối với 80.072 người bị kết án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đạt tỷ lệ 99%; ra quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho 51.897 phạm nhân do cải tạo tốt [57].

Năm 2011, các Toà án cấp sơ thẩm đã ra quyết định thi hành án hình sự đối với 96.609 người bị kết án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đạt tỷ lệ 98%; ra quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho 46.571 phạm nhân do cải tạo tốt [58].

Năm 2012, các Toà án cấp sơ thẩm đã ra quyết định thi hành án hình sự đối với 112.673 người bị kết án mà bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật, đạt tỷ lệ 99%; ra quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù cho 56.535 phạm nhân do cải tạo tốt [59].

Về cơ bản, việc thi hành án bảo đảm các quy định của pháp luật. Trong các trại giam, phạm nhân được học tập trong thời gian chấp hành án, trong đó có các chương trình học tập về chính trị, pháp luật, thời sự, phổ cập tiểu học và xóa mù chữ, học nghề. Công tác phòng, chữa bệnh cho phạm nhân được quan tâm, nhiều phạm nhân ốm đau, mắc bệnh hiểm nghèo được tạm đình chỉ thi hành án để chữa bệnh… Đặc biệt, công tác đặc xá được thực hiện chặt chẽ, khách quan, không xảy ra tình trạng sai sót, tiêu cực, khẳng định chính sách khoan hồng của Đảng và Nhà nước ta đối với người phạm tội. Bên cạnh những thành tựu đạt được thì vẫn còn những hạn chế như chất lượng giáo dục, cải tạo phạm nhân còn thấp, chương trình giáo dục cải tạo còn nhiều bất cập; hiệu quả dạy nghề chưa thích hợp với nhu cầu lao động xã hộp lao động sản xuất ở trại giam chủ yếu là nông nghiệp, lâm nghiệp và một số ngành nghề thủ công đơn giản, hiệu quả kinh tế thấp. Điều kiện giam giữ, cải tạo phạm nhân chấp hành hình phạt tù có thời hạn tuy được cải thiện, nhưng còn khó khăn, cơ sở vật chất của trại giam chưa được đầu tư đúng mức, cơ sở y tế kinh phí chưa đáp ứng được nhu cầu vì số lượng phạm nhân được đưa đến các trại giam tiếp tục tăng, thành phần và tính chất đa dạng, phức tạp, nhiều trại giam đang trong tình trạng quá tải, chỗ ở chật chội, không bảo đảm quy định, tình hình thiên tai, dịch bệnh đã tác động không nhỏ đến hoạt động của trại giam. Trong khi đó, đội ngũ làm công tác quản lý các phạm nhân còn thiếu, yếu, nhiều cán bộ chưa qua đào tạo cơ bản …

2.2.4. Bảo đảm quyền của những người tham gia tố tụng khác Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Ngoài người bị tạm giữ, bị can, bị cáo thì pháp luật Tố tụng Hình sự quy định những người tham gia tố tụng gồm người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, người giám định, người phiên dịch.

  • Người bào chữa

Trong Bộ luật Tố tụng Hình sự không nêu khái niệm thế nào là người bào chữa, nhưng căn cứ vào quy định tại các Điều 56, 57 và 58 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì người bào chữa là người được người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người đại diện hợp pháp của họ, những người khác mời hay được cơ quan Tiến hành tố tụng yêu cầu Đoàn Luật sư phân công Văn phòng luật sư cử hoặc đề nghị Uỷ ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức thành viên của Mặt trận cử người để bào chữa cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, nhằm làm sáng tỏ những tình tiết gỡ tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và giúp đỡ họ về mặt pháp lý. Các quy định về người bào chữa được quy định cụ thể trong Luật luật sư (sửa đổi, bổ sung năm 2012), Luật trợ giúp pháp lý năm 2006 và các văn bản hướng dẫn có liên quan.

Người bào chữa có một vị trí quan trọng trong thủ tục Tố tụng Hình sự, là người tham gia tố tụng để chứng minh sự vô tội hoặc làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của người bị buộc tội giúp người bị buộc tội về mặt pháp lý nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ thông qua đó góp phần bảo về pháp chế xã hội chủ nghĩa. Vì thế, người bào chữa có địa vị pháp lý riêng không phụ thuộc vào địa vị pháp lý của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo. Pháp luật Tố tụng Hình sự quy định người bào chữa có quyền có mặt khi lấy lời khai của người bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu Điều tra viên đồng ý thì được hỏi người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và có mặt trong những hoạt động điều tra khác, xem các biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình và các quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa; đề nghị thay đổi người Tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch; thu thập tài liệu, đồ vật, yêu cầu gặp người bị tam giam, bị can, bị cáo đang bị tạm giam; đọc, ghi chép và sao chép các tài liệu có trong hồ sơ vụ án liên quan đến việc bào chữa; tham gia hỏi và tranh luận tại phiên tòa, khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng… Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Trong những năm qua tỷ lệ luật sư tham gia tố tụng trong các vụ án hình sự đã có bước chuyển nhất định [Xem phụ lục biểu đồ 2.4 đến 2.7]. Trong 5 năm (2007 – 2011) đội ngũ luật sư đã tham gia 64.173 vụ án hình sự (trong đó có 32.752 vụ án do khách hàng mời và 31.421 vụ án theo yêu cầu của cơ quan Tiến hành tố tụng). Theo Báo cáo của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao về công tác của các tòa án nhiệm kỳ 2007-2011: Đối với các vụ án hình sự thì luật sư đã tham gia hơn 64.000 vụ án trên tổng số 299.574 vụ án hình sự tòa đã xét xử (chiếm 21,44%); đặc biệt 100% các vụ án theo yêu cầu của cơ quan Tiến hành tố tụng đều có luật sư tham gia [5, tr.5]. Trong việc tham gia tố tụng án hình sự thì tỉ lệ số việc bào chữa cho công dân mời ngày càng tăng so với việc bào chữa do cơ quan Tiến hành tố tụng yêu cầu. Việc bào chữa cho bị can, bị cáo theo yêu cầu của cơ quan Tiến hành tố tụng được các luật sư tích cực tham gia, đáp ứng được yêu cầu và nhiệm vụ chính trị tại địa phương. Tuy nhiên, vai trò của người bào chữa trong Tố tụng Hình sự vẫn chưa được coi trọng đúng mức, cơ quan Tiến hành tố tụng thường quan niệm rằng người bào chữa tham gia từ đầu làm phức tạp thêm công việc của họ, làm ảnh hưởng không ít đến hoạt động của người bào chữa. Một trong số khó khăn của người bào chữa gặp phải khi tham gia các vụ án là thủ tục hành chính liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận bảo chữa, thủ tục gặp bị can, bị cáo. Thời gian để cơ quan Tiến hành tố tụng xem xét cấp giấy chứng nhận bảo chữa cho người bào chữa hầu như đều dài hơn luật định. Pháp luật Tố tụng Hình sự quy định người bào chữa được tham gia tố tụng từ giai đoạn đầu tiên của quá trình điều tra nhưng thực tế người bào chữa ít khi được tạo điều kiện để tham gia vào từ giai đoạn khởi tố bị can. Nhiều phiên tòa sự hiện diện của người bào chữa chỉ mang tính hình thức vì vai trò của người bào chữa chưa được coi trọng. Pháp luật Tố tụng Hình sự quy định khi xét xử, Hội đồng xét xử phải căn cứ vào những chứng cứ được xem xét tại phiên tòa và dựa vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa nhưng thực tế xét xử nhiều khi cho thấy điều ngược lại, nhiều tình tiết quan trọng được người bào chữa đưa ra nhằm gỡ tội cho bị cáo nhưng không được lập luận trong bản án. Vì vậy, để đưa chế định người bào chữa thực sự trở thành phương thức hữu hiệu để bảo vệ quyền con người mà cụ thể là bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người bị buộc tội thì cần có những biện pháp cũng như những giải pháp hữu hiệu để sớm khắc phục những nguyên nhân yếu kém, sự bất cập nói trên.

  • Người bị hại

Theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì người bị hại là người bị thiệt hại về thể chất, tinh thần, tài sản do tội phạm gây ra [42]. Ở phương diện quyền con người nói chung người bị hại đã bị tội phạm xâm phạm bằng cách gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe, danh dự nhân phẩm và tài sản cũng như các quyền lợi ích hợp pháp khác.

Việc xác định người bị hại định trong vụ án hình sự căn cứ vào các tiêu chí sau:

  • Trước hết, họ phải là con người cụ thể chứ không phải là cơ quan, tổ chức;
  • Họ phải là người bị thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản;
  • Các thiệt hại về thể chất, về tinh thần hoặc về tài sản phải là thiệt hại do tội phạm gây ra. Nếu đó là những thiệt hại xảy ra nhưng không phải do tội phạm gây ra thì người bị thiệt hại cũng không phải là người bị hại trong vụ án hình sự.

Bảo đảm các quyền của người của người bị hại, pháp luật Tố tụng Hình sự quy định họ có quyền: Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Được thông báo về kết quả điều tra; Đề nghị thay đổi người Tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường; Tham gia phiên toà; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường cũng như về hình phạt đối với bị cáo [42, Điều 51, Khoản 2]. Đặc biệt, người bị hại có quyền được bảo vệ an toàn trong quá tình tiến hành tố tụng, được bảo vệ danh dự nhân phẩm, thông tin cá nhân, bí mật đời tư, đồng thời được tham gia, giám sát các hoạt động Tố tụng Hình sự của các cơ quan TTHT. Quyền con người của người bị hại ngày càng được bổ sung, sửa đổi đầy đủ và hoàn thiện hơn. Chẳng hạn phạm vi kháng cáo của người bị hại không chỉ giới hạn trong phạm vi tăng hình phạt mà còn cho phép người bị hại kháng cáo theo hướng giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo hoặc chế định khởi tố vụ án theo yêu cầu của người bị hại ngày càng mở rộng…Tuy nhiên, trong quá trình tham gia tố tụng, vị trí vai trò của người bị hại còn hạn chế, chưa được các cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng xem là một mắt xích quan trọng giải quyết đúng đắn vụ án hình sự. Ngoại trừ những trường hợp khởi tố theo yêu cầu của người bị hại thì mọi sự tham gia của chủ thể này vào việc giải quyết vụ án hình sự hầu hết là bị động (được xem là nghĩa vụ nhiều hơn là quyền). Sự có mặt của họ trong các khâu, qui trình giải quyết vụ án (như khởi tố, điều tra, thu thập chứng cứ hay quá trình xét xử tại tòa…) chỉ đóng vai trò là một bên tham gia thụ động. Trong khi đó, cơ chế bảo vệ người bị hại chưa quy định cụ thể, nhất là về việc bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, các quyền và lợi ích hợp pháp khi tham gia tố tụng của người bị hại như thế nào, trách nhiệm của cơ quan Tiến hành tố tụng trong trường hợp này ra sao. Bởi vì trên thực tiễn giải quyết vụ án hình sự cho thấy không ít trường hợp người bị hại hoặc người thân thích của họ bị người phạm tội, người thân của người phạm tội đe doạ, khống chế, mua chuộc để ngăn chặn việc người bị hại khai báo phục vụ việc xác định sự thật vụ án.

  • Nguyên đơn dân sự Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Theo khoản 1 Điều 53 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì nguyên đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức bị thiệt hại do tội phạm gây ra và có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại [42]. Điều kiện cần và đủ để xác định nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự là:

  • Bị thiệt hại về vật chất do tội phạm gây ra;
  • Có đơn yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Nếu thiếu một trong hai tiêu chí trên thì không thể là nguyên đơn dân sự trong vụ án hình sự được. Khi một tội phạm đã thực hiện, nếu tội phạm đã gây ra thiệt hại về vật chất cho các nhân, cơ qua tổ chức thì Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án không chỉ có nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử vụ án, áp dụng hình phạt đối với người phạm tội mà còn giải quyết việc bồi thường thiệt hại. Pháp luật Tố tụng Hình sự quy định việc giải quyết vấn đề dân sự được tiến hành đồng thời với việc giải quyết phần trách nhiệm hình sự của vụ án là một giải pháp hợp lý, bảo đảm quyền lợi của nguyên đơn dân sự. Bảo đảm quyền con người của nguyên đơn dân sự, pháp luật Tố tụng Hình sự quy định họ có quyền: Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Được thông báo về kết quả điều tra; Đề nghị thay đổi người Tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; Đề nghị mức bồi thường và các biện pháp bảo đảm bồi thường; Tham gia phiên toà; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường thiệt hại [42, Điều 52, Khoản 2].

Nguyên đơn dân sự là đối tượng bị thiệt hại do tội phạm gây ra, tham gia tố tụng thực hiện chức năng buộc tội ở một mức độ nhất định nhưng theo các quy định hiện nay thì các quyền của nguyên đơn dân sự còn hạn chế và chỉ được thực hiện các quyền liên quan đến yêu cầu đòi bồi thường thiệt mà không được quyền được yêu cầu khởi tố vụ án, trình bày lời buộc tội tại phiên tòa, kháng cáo về hình phạt… Ngoài ra, pháp luật Tố tụng Hình sự không quy định người đại diện hợp pháp của nguyên đơn dân sự là người như thế nào, có điều kiện ra sao? Thời gian qua, một số phiên tòa xét xử các vụ án có liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra xuất hiện tình trạng cơ quan, tổ chức, cá nhân bị thiệt hại không nhận mình là người bị hại hoặc nguyên đơn dân sự. Có điều này vì họ cho rằng người khác phải bồi thường thiệt hại chứ không phải bị cáo. Không thừa nhận mình là nguyên đơn dân sự cũng tức là từ chối tham gia tố tụng nhưng tòa án vẫn xác định họ là nguyên đơn dân sự và tuyên bị cáo phải bồi thường. Đây không phải chỉ là vấn đề xác định tư cách tham gia tố tụng trong vụ án hình sự mà nó liên quan đến trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong vụ án hình sự, cần được làm rõ [33].

  • Bị đơn dân sự Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Theo khoản 1 Điều 53 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì bị đơn dân sự là cá nhân, cơ quan, tổ chức mà pháp luật quy định phải chịu trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra [42]. Nếu nguyên đơn dân sự là người bị thiệt hại do tội phạm gây ra thì bị đơn dân sự lại là người phải bồi thường những thiệt hại đó và những thiệt mà tội phạm gây ra cho người bị hại và cho cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân khác. Bị đơn dân sự trong vụ án hình sự trước hết không phải là người gây ra thiệt hại cho nguyên đơn dân sự hoặc người bị hại mà thiệt hại đó do người phạm tội gây ra, nhưng theo quy định của pháp luật thì họ lại phải bồi thường thay cho bị cáo. Ví dụ: Cha mẹ bị cáo là người chưa thành niên phải bồi thường những thiệt hại do bị cáo gây ra, pháp nhân hoặc cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội phải bồi thường thiệt hại do nhân viên hoặc cán bộ của mình gây ra trong trường hợp thực hiện nhiệm vụ do pháp nhân giao. Bị đơn dân sự trong vụ án hình sự là do cơ quan Tiến hành tố tụng xác định, dù nguyên đơn dân sự có yêu cầu hay không.

Bảo đảm các quyền của bị đơn dân sự, pháp luật Tố tụng Hình sự quy định họ có quyền: Khiếu nại việc đòi bồi thường của nguyên đơn dân sự; Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Được thông báo kết quả điều tra có liên quan đến việc đòi bồi thường; Đề nghị thay đổi người Tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch theo quy định của Bộ luật này; Tham gia phiên toà; trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng; Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về phần bồi thường thiệt hại [42, Điều 53, Khoản 2]. Các quy định về bị đơn dân sự trong pháp luật Tố tụng Hình sự tương đối đầy đủ, thể hiện được vai trò bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, pháp luật Tố tụng Hình sự không quy định cụ thể người đại diện hợp pháp của bị đơn dân sự nên cần sửa đổi, bổ sung thêm, quyền tranh tụng của bị đơn dân sự đôi khi chưa được thực sự chú trọng, một phần nguyên nhân thuộc về bị đơn dân sự nhận thức được vai trò của tranh tụng, một phần thuộc về những người Tiến hành tố tụng cũng chưa tạo điều kiện cho bị đơn thực hiện quyền của mình.

  • Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

BLTTHS năm 2003 quy định người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng không nêu khái niệm thế nào là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Tuy nhiên, có thể hiểu người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự có thể hiểu là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến việc xét xử vụ án hình sự của Toà án và được Toà án chấp nhận đưa họ vào tham gia với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự có thể liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nhưng cũng có thể chỉ liên quan đến vật chứng, đến tài sản, đến trách nhiệm dân sự trong vụ án hình sự. Bảo đảm các quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, pháp luật Tố tụng Hình sự quy định họ có quyền: Đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu; Tham gia phiên toà; phát biểu ý kiến, tranh luận tại phiên toà để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình; Kháng cáo bản án, quyết định của Toà án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình; Khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng [42, Điều 54, Khoản 1]. Các quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đã được mở rộng và quy định rõ hàng hơn so với Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, nhất là trong việc họ có quyền phát biểu ý kiến tranh luận tại phiên tòa, quyền khiếu nại quyết định hành vi tố tụng, điều này thể hiện tính dân chủ trong pháp luật Tố tụng Hình sự, giúp cho họ có quyền tự bảo vệ mình, bảo vệ các quyền, lợi ích của họ. góp phần bảo đảm quyền con người. Tuy nhiên, còn nhiều quy định chưa rõ ràng hoặc còn gây khó khăn trong việc áp dụng như người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án chỉ có quyền kháng cáo những vấn đến trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình còn những phần khác không được kháng cáo, quyền tranh tụng tại phiên tòa chưa được thực hiện một cách đầy đủ và nghiêm túc. Nhiều nội dung quan trọng còn bỏ ngỏ như: chưa quy định khái niệm, các quyền và nghĩa vụ tố tụng ghi nhận chưa đầy đủ, chưa có văn bản hướng dẫn để làm cơ sở cho sự phân biệt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án với một số người tham gia tố tụng khác… Do đó các cơ quan Tiến hành tố tụng gặp không ít khó khăn, vướng mắc trong xác định tư cách tham gia tố tụng, thường xảy ra sự nhầm lẫn giữa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan với người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người đại diện hợp pháp của bị can, bị cáo làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền lợi chính đáng của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.

  • Người làm chứng

Theo khoản 1 Điều 55 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thì người làm chứng là người biết được những tình tiết liên quan đến vụ án. Người làm chứng có vai trò quan trọng trong việc phát hiện tội phạm trong vụ án hình sự nên pháp luật Tố tụng Hình sự đã quy định như: Yêu cầu cơ quan triệu tập họ bảo vệ tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản và các quyền lợi ích hợp pháp khác của mình khi tham gia tố tụng; Khiếu nại quyết định,hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tố tụng; Được cơ quan triệu tập thanh toán chi phí đi lại và những chi phí khác theo quy định của pháp luật. Đồng thời cũng quy định nghĩa vụ của người làm chứng: Có mặt theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; trong trường hợp cố ý không đến mà không có lý do chính đáng và việc vắng mặt của họ gây trở ngại cho việc điều tra, truy tố, xét xử thì có thể bị dẫn giải; Khai trung thực tất cả những tình tiết mà mình biết về vụ án [42, Điều 55, Khoản 4]. Các quy định này đã có những tiến bộ đáng kể nhưng chế định người làm chứng trong pháp luật Tố tụng Hình sự hiện nay chưa bảo đảm cho người làm chứng có một địa lý xứng đáng và cần thiết khi tham gia tố tụng trong xét xử, biểu hiện ở các quy định không tương xứng giữa quyền và nghĩa vụ của họ, trong khi nghĩa vụ quá nặng nề còn quyền lợi thì chưa đầy đủ, chưa bảo đảm tính khả thi cần thiết. Nội dung các quyền đã được quy định trong luật chưa thực sự là đảm bảo lợi ích khi người làm chứng tham gia tố tụng. Cơ chế thực thi bảo vệ người làm chứng chưa được quy định rõ ràng, cụ thể và có sự quan tâm đúng mức. Chính vì vậy, trong thực tế quá trình hợp tác giữa người làm chứng và cơ quan Tiến hành tố tụng thường gặp những khó khăn vì người làm chứng không hợp tác với cơ quan Tiến hành tố tụng như: từ chối làm chứng, không khai báo đầy đủ hoặc sai báo sai lệch một số tình tiết hoặc nội dung của vụ án vì nhiều lý do như sợ bị đe dọa, nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe, tài sản của mình hay người thân, không muốn bị phiền phức vì những việc không liên quan đến họ chẳng hạn vì sợ bị cáo trả thù, hoặc người làm chứng với bị cáo là hàng xóm của nhau, thường nể nang, né tránh… Bên cạnh lý do lo sợ cho sự an toàn của bản thân và người thân của mình thì sự vắng mặt của người làm chứng còn có lý do khác nữa như đối xử không thiện chí, không khách quan, áp đặt từ phía những người Tiến hành tố tụng đối với họ, còn đối với những vụ án tham nhũng thì vì sợ ảnh hưởng đến thanh danh và uy tín hoặc sợ mất thời gian, tốn công sức, sợ đi xa, sợ phiền hà…. Chính vì vậy, cần có những cơ chế, phương tiện vật chất, điều kiện về con người bảo đảm thực hiện nghiêm túc các quyền và lợi ích của người làm chứng để họ yên tâm khi thực hiện các nghĩa vụ làm chứng của mình, đồng thời cần xác định việc bảo vệ quyền con người của người làm chứng là nghĩa vụ của nhà nước và các cơ quan Tiến hành tố tụng.

  • Người giám định Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Theo khoản 1 Điều 60 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định được cơ quan Tiến hành tố tụng trưng cầu theo quy định của pháp luật [42]. Người giám định tiến hành việc xem xét, đánh giá và kết luận những vấn đề có liên quan đến vụ án theo yêu cầu của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án nhân dân để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử được công minh và đúng pháp luật. Kết luận của người giám định có ảnh hưởng rất lớn đến quyết định của cơ quan Tiến hành tố tụng. Dựa trên bản kết luận giám định của giám định viên, Cơ quan điều tra có cơ sở để xác minh tội phạm và hành vi phạm tội, góp phần bảo vệ quyền và lợi ích của công dân trong vụ án hình sự, giúp Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án thực hiện tốt hơn chức năng, nhiệm vụ của mình, góp phần không nhỏ vào việc giải quyết vụ án. Chính vì thế mà khi được cơ quan Tiến hành tố tụng trưng cầu thì người giám định phải thực hiện giám định theo yêu cầu và phải chịu trách nhiệm pháp lý về mọi hoạt động liên quan đến việc giám định. Người giám định có nghĩa vụ tham gia phiên tòa khi được Tòa án triệu tập để trình bày kết luận của mình về vấn để được giao giám định; nếu người giám định vắng mặt thì tùy từng trường hợp mà Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử. Như vậy, không nhất thiết trong trường hợp nào Tòa án cũng phải triệu tập người giám định đến phiên tòa, mà người giám định chỉ tham gia phiên tòa khi được Tòa án triệu tập. Thực tiễn xét xử cho thấy, đối với những vụ án không có tính chất phức tạp, kết luận của người giám định đã rõ ràng, đầy đủ và những người tham gia tố tụng không có yêu cầu gì, thì Tòa án có thể không cần triệu tập người giám định đến phiên tòa. Đối với những trường hợp người giám định đã được triệu tập đến phiên tòa mà vắng mặt, thì tùy trường hợp mà Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa hoặc vẫn tiến hành xét xử vụ án. Nếu kết luận của người giám định đã rõ ràng, đầy đủ, phù hợp với các chứng cứ khác của vụ án thì Tòa án vẫn tiến hành xét xử; nếu Tòa án thấy còn cần phải hỏi thêm người giám định hoặc có người tham gia tố tụng còn có thắc mắc về kết luận giám định thì Tòa án cần hoãn phiên tòa.

Tuy nhiên, hiện nay các quy định trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 về người giám định còn chưa đầy đủ tính thống nhất, chưa cập nhật được hết các yêu cầu cải cách tư pháp về hoạt động giám định theo Nghị quyết số 49/NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020. Đặc biệt, sau khi Luật Giám định tư pháp được ban hành vào tháng 6 năm 2012 thì có một số quy định về giám định tư pháp hình sự trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã trở nên bất cập, cần phải sửa đổi như cần có những quy định cụ thể về xem xét, đánh giá kết quả giám định, thủ tục trưng cầu giám định, trách nhiệm pháp lý của các chủ thể trong quá trình giám định, thời hạn giám định…

  • Người phiên dịch Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Người phiên dịch là người viết và nói được tiếng của người tham gia tố tụng hình sự, có khả năng dịch chúng ra tiếng Việt và dịch từ tiếng Việt ra tiếng của người tham gia Tố tụng Hình sự. Người phiên dịch do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Toà án yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt. Thông thường những vụ án hình sự cần có sự tham gia của người phiên dịch là những vụ án mà có người người ngoài hoặc dân tộc thiếu số không có khả năng nghe nói, đọc, viết thành thạo tiếng Việt hoặc là những người bị câm, điếc tham gia tố tụng. Người phiên dịch có quyền yêu cầu cơ quan Tiến hành tố tụng tạo điều kiện cần thiết, thuận tiện phục vụ cho công việc, để người phiên dịch phát huy hết được khả năng kiến thức của họ trong khi làm nhiệm vụ, đồng thời được trả thù lao phiên dịch theo quy định của pháp luật.

Người phiên dịch có vai trò khá quan trọng trong việc bảo đảm tính xác thực và tính hợp pháp của chứng cứ. Nếu người phiên dịch dù cố ý hay vô ý phiên dịch không đầy đủ, không đúng nội dung của các thông tin trong ngôn ngữ của người tham gia tố tụng ra tiếng (hoặc chữ) Việt thì sẽ làm giảm hoặc làm mất tính xác thực của thông tin, ảnh hưởng đến kết quả giải quyết vụ án. Chính vì tầm quan trọng như vậy của người phiên dịch trong việc bảo đảm giá trị chứng minh của chứng cứ nên pháp luật Tố tụng Hình sự hiện hành qui định người phiên dịch là người tham gia tố tụng chứ không phải là người Tiến hành tố tụng để bảo đảm tính khách quan của chứng cứ. Tuy nhiên, pháp luật Tố tụng Hình sự về người giám định còn nhiều hạn chế, chưa có quy định cụ thể người phiên dịch phải có những chứng chỉ gì, được đào tạo như thế nào, trách nhiệm, đạo đức của người phiên dịch và biện pháp xử lý khi vi phạm. Trong khi đó, trên thực tế, người phiên dịch còn thiếu về số lượng cũng như chất lượng, nhất là ở miền núi, vùng cao, vùng sâu vì vậy cơ quan Tiến hành tố tụng đã trưng dụng cả những chiến sỹ công an, thậm chí cả các Điều tra viên để làm người phiên dịch ngôn ngữ của người dân tộc ít người. Do đó, cần có quy định cụ thể, rõ ràng và một chế định riêng về người phiên dịch, nhằm bảo đảm các quyền, lợi ích chính đáng của những người phiên dịch.

2.3 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI THÔNG QUA NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ THẨM QUYỀN VÀ TRÁCH NHIỆM CỦA CƠ QUAN TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, NGƯỜI TIẾN HÀNH TỐ TỤNG, CƠ QUAN CÓ THẨM QUYỀN THI HÀNH ÁN HÌNH SỰ

2.3.1. Bảo đảm quyền con người bằng những quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng

Trong pháp luật Tố tụng Hình sự, thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng được quy định đầy đủ, cụ thể trong các văn bản quy phạm pháp luật về tố tụng. Các cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng chỉ được làm những gì mà pháp luật cho phép, trách nhiệm khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án thuộc về cơ quan Tiến hành tố tụng. Trong quá trình này, nghĩa vụ điều tra thu thập chứng cứ, củng cố chứng cứ để chứng minh sự thật khách quan thuộc về những người Tiến hành tố tụng và những người khác liên quan theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trong quá trình chứng minh sự thật khách quan của vụ án, các cơ quan Tiến hành tố tụng do sự tác động trực tiếp hay gián tiếp của các yếu tố khách quan, chủ quan nên dễ bị ảnh hưởng đến tính trung thực khách quan trong các quyết định của mình. Vì vậy, quy định rõ thẩm quyền và trách nhiệm của cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng có vai trò quan trọng trong việc bảo đảm quyền con người. Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Kế thừa những quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự trước đây và tiếp nhận những tư tưởng, quan điểm mới về cải cách tư pháp ở nước ta, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 (từ Điều 34 đến Điều 41), Pháp lệnh tổ chức điều tra hình sự (sửa đổi bổ sung năm 2009), Luật tổ chức Tòa án năm 2002, Luật tố chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của những người Tiến hành tố tụng như Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh án, Phó Chánh án Tòa án nhân dân, Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Tòa án. Đặc biệt, đối với người có chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan Tiến hành tố tụng, bước đầu pháp luật Tố tụng Hình sự đã có sự phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm chung và nhiệm vụ, quyền hạn khi trực tiếp thực hiện hoạt động tố tụng để giải quyết vụ án hình sự cụ thể; phân biệt nhiệm vụ, quyền hạn của những người này với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm.

Bảo đảm quyền con người trong Tố tụng Hình sự gắn liền với hoạt động và trách nhiệm của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án. Trong Tố tụng Hình sự, điều tra là giai đoạn mở đầu, là khâu đột phá của cả quá trình chứng minh tội phạm và người thực hiện hành vi phạm tội. Thực tế cho thấy nhưng sai lầm nghiêm trọng như bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội thường bắt nguồn từ giai đoạn điều tra. Do đó, để bảo vệ quyền con người cũng là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, nhất là người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo thì pháp luật Tố tụng Hình sự quy định thẩm quyền, trách nhiệm của Cơ quan điều tra và Điều tra viên. Pháp luật Tố tụng Hình sự quy định các Cơ quan điều tra thực hiện chức năng phát hiện, xử lý tội phạm, pháp luật cho phép họ được áp dụng các biện pháp ngăn chặn trong đó hạn chế một số quyền tự do của người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo nhưng phải đảm bảo nguyên tắc pháp chế, tránh sự lạm quyền. Đồng thời quy định khá chặt chẽ các căn cứ để áp dụng biện pháp ngăn chặn như tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú cũng như các biện pháp cưỡng chế Tố tụng Hình sự khác như khám người, khám chỗ ở, tịch thu thư tín… Tất cả những biện pháp cưỡng chế Tố tụng Hình sự trên đòi hỏi các Cơ quan điều tra, Điều tra viên không được áp dụng tùy tiện, lạm dụng mà chỉ được thực hiện khi có căn cứ và theo đúng trình tự, thủ tục luật định. Việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn và cưỡng chế Tố tụng Hình sự đòi hỏi các cơ quan Tiến hành tố tụng vừa đảm bảo nhiệm vụ phát hiện, xử lý tội phạm, vừa không xâm phạm đến quyền con người của người bị buộc tội. Điều quan trọng là cần có chế tài nghiêm khắc xử lý những hành vi bắt tạm giữ, tạm giam quá mức cần thiết hoặc tái pháp luật của những người Tiến hành tố tụng.

Pháp luật quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của Viện kiểm sát cho thấy, thiết chế này có vai trò đặc biệt quan trọng đối với việc bảo đảm quyền con người trong các giai đoạn của quá trình tố tụng. Thông qua hoạt động thực hành quyền công tố và kiểm sát điều tra các vụ án hình sự, Viện kiểm sát bảo đảm mọi hành vi phạm tội đều phải được khởi tố, điều tra và xử lý kịp thời, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội, không để người nào bị khởi tố, bị bắt, tạm giam, bị hạn chế quyền con người, quyền công dân, bị xâm phạm tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm một cách trái pháp luật.

Bảo đảm nguyên tắc bất cứ hành vi phạm tội nào xâm phạm đến quyền con người, quyền công dân đều phải được phát hiện, xử lý trước pháp luật, đồng thời, bảo đảm các hoạt động điều tra, các biện pháp tư pháp áp dụng đối với người bị tình nghi, bị can, bị cáo được tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Bên cạnh đó, Tòa án là chủ thể trực tiếp bảo vệ quyền con người của bị can, bị cáo. Vì thế, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 quy định: Tòa án có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ vụ án để trong thời hạn luật định ra quyết định trả hồ sơ để điều tra bổ sung khi có một trong những căn cứ mà pháp luật quy định [42, Điều 178] hoặc quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án hình sự [42, Điều 105, khoản 2 và Điều 107] hoặc quyết định đưa vụ án ra xét xử [42, Điều 176]; có quyền ra quyết định hủy bỏ biện pháp tạm giam đã áp dụng đối với bị can nay không còn cần thiết [42, Điều 177]…

Tuy nhiên, thẩm quyền và trách nhiệm của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán còn quy định hạn chế, đồng thời sự phân định nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan điều tra với Điều tra viên, của Viện trưởng Viện kiểm sát với Kiểm sát viên, của Chánh án với Thẩm phán trong hoạt động Tố tụng Hình sự đối với việc giải quyết vụ án hình sự còn thiếu hợp lý, làm hạn chế hiệu quả, chất lượng, tính kịp thời của các hoạt động tố tụng, không nâng cao được trách nhiệm của người Tiến hành tố tụng đối với việc giải quyết vụ án hình sự. Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án nhân dân có nhiệm vụ, quyền hạn ra các quyết định tố tụng, còn Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán trực tiếp thực hiện các biện pháp tố tụng thi hành các quyết định tố tụng đó. Như vậy, về nguyên tắc Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án nhân dân có quyền hạn tuyệt đối trong các quyết định tố tụng trên cơ sở hoạt động và đề nghị của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và ngược lại, hoạt động thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán lại phụ thuộc vào tính đúng đắn, kịp thời của các quyết định tố tụng của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án nhân dân ban hành. Cơ chế tố tụng đó một mặt tạo nên những rào cản, ảnh hưởng đến chất lượng, tính kịp thời của hoạt động tố tụng, mặt khác không tạo ra cơ sở rõ ràng với trách nhiệm của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án Tòa án nhân dân với Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán trong việc giải quyết vụ án. Trong khi đó, quyền hạn tố tụng của cơ quan, người Tiến hành tố tụng được quy định tương đối chi tiết thì trách nhiệm lại quy định rất sơ sài, chung chung, còn đối với người tham gia tố tụng thì ngược lại, quyền, lợi ích của họ được quy định tương đối hạn chế, còn nghĩa vụ thì được quy định cụ thể chi tiết. Địa vị tố tụng không phù hợp đó dẫn đến tình trạng cửa quyền, hách dịch quan liêu và xâm phạm quyền con người. Trong khi đó, tình trạng người Tiến hành tố tụng đùn đẩy trách nhiệm cho công dân trong khi thi hành công vụ còn phổ biến và nhận thức của người Tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm quyền con người, nhất là của người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo còn chưa cao. Điều đó không chỉ vi phạm quyền con người mà còn làm giảm hiệu lực hoạt động của nhà nước. Vì vậy, để bảo đảm quyền con người cho người tham gia tố tụng thực hiện quyền của mình, cần xây dựng một chế độ thẩm quyền, trách nhiệm rõ ràng, cụ thể minh bạch của cơ quan, người Tiến hành tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử. Việc quy định cụ thể thẩm quyền, nhiệm vụ của người Tiến hành tố tụng một mặt ngăn ngừa những người đó lạm dụng quyền hạn của mình, mặt khác đảm bảo cho công dân nói chung, người tham gia tố tụng nói riêng giám sát được hoạt động của cơ quan, người Tiến hành tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Trên thực tế, Hiến pháp năm 2013 đã có những quy định mới, trong đó bảo đảm quyền con người trở thành vấn đề trung tâm. Vì vậy, những quy định về quyền hạn, nhiệm vụ của các cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng trong các văn bản trên cần phải sửa đổi theo tinh thần trong Hiến pháp năm 2013, góp phần hơn nữa trong việc bảo đảm quyền con người của những người tham gia tố tụng.

2.3.2. Bảo đảm quyền con người bằng những quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền thi hành án hình sự Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Thi hành án hình sự là một giai đoạn trong Tố tụng Hình sự và có thể coi đó là giai đoạn cuối cùng của một vụ án hình sự, đồng thời liên quan trực tiếp đến các quyền con người, đặc biệt quyền được sống của người bị kết án, người chấp hành hình phạt. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 dành một phần quy định về việc thi hành án hình sự (từ chương XXV đến chương XXIX), Luật Thi hành án hình sự năm 2010 và một số văn bản hướng dẫn khác nhằm đảm bảo việc thi hành nghiêm túc các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật hoặc chưa có hiệu lực pháp luật nhưng được thi hành ngay.

Bảo đảm quyền con người, pháp luật Tố tụng Hình sự quy định thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền thi hành án hình sự nhằm tránh khỏi sự tùy tiện của một số quan chức trong các cơ quan thi hành án hình sự đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm thô bạo pháp chế và dân chủ, áp dụng sai các quy định của pháp luật thi hành án hình sự vì các động cơ vụ lợi, cá nhân… Luật thi hành án hình sự năm 2010 quy định nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan quản lý thi hành án hình sự thuộc Bộ Công an, Bộ Quốc phòng [45, Điều 11, 12]; Công an cấp tỉnh, cấp quân khu, cấp huyện [45, Điều 13, 14, 15]; Trại giam [45, Điều 16]; Cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự [45, Điều 17, 18, 19], Tòa án nhân dân [45, Điều 20]. Trại giam, trại tạm giam, cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện có trách nhiệm phối hợp với gia đình phạm nhân, chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức, cá nhân quan tâm động viên phạm nhân tích cực học tập, lao động, rèn luyện để được hưởng sự khoan hồng của Nhà nước và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để phạm nhân tái hoà nhập cộng đồng sau khi chấp hành xong án phạt tù. Đặc biệt, đối với hình phạt tử hình – hình phạt nghiêm khắc nhất thì pháp luật Tố tụng Hình sự cũng có những quy định rõ ràng, cụ thể tại chương XXVI (Điều 258 đến 259) Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và Luật thi hành án hình sự năm 2010 nhằm bảo đảm quyền con người của người chấp hành bản án.

Việc quy định thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan có thẩm quyền trong thi hành án hình sự đã phân định rõ ràng, rành mạch chức năng của cơ quan quản lý thi hành án hình sự với cơ quan thi hành án hình sự và cơ quan được giao một số nhiệm vụ thi hành án hình sự, bảo đảm sự phân công, phối hợp đồng bộ trong thực hiện trên thực tế và phù hợp với hệ thống tổ chức bộ máy hiện hành của Nhà nước ta, bảo đảm quản lý tập trung, thống nhất công tác thi hành án hình sự vào một đầu mối nhằm nâng cao hiệu quả công tác này. Các quy định của pháp luật về thi hành án hình sự đã thể hiện được vai trò trong việc bảo đảm quyền con người nói chung và quyền, lợi ích của người chấp hành hình phạt nói riêng tránh khỏi sự tùy tiện của một số quan chức trong các cơ quan thi hành án hình sự đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm thô bạo pháp chế và dân chủ, áp dụng sai các quy định của pháp luật thi hành án hình sự vì các động cơ vụ lợi, cá nhân… Tuy nhiên, trước yêu cầu mới của thực tiễn, hướng đến mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, pháp luật về thi hành án hình sự đã bộc lộ những hạn chế, nhiều quy định không còn phù hợp. Các cơ quan có thẩm quyền trong lĩnh vực thi hành án hình sự mới chỉ quan tâm nhiều đến thi hành hình phạt tù, tử hình, trục xuất mà chưa quan tâm đúng mức đến việc thi hành các hình phạt khác; chưa có tổ chức bộ máy chuyên trách quản lý thống nhất việc thi hành án hình sự; đội ngũ cán bộ làm nhiệm vụ thi hành án hình sự còn thiếu về số lượng và chưa bảo đảm về chất lượng, chế độ chính sách còn chưa bảo đảm; cơ sở vật chất, kinh phí cho công tác này chưa được đầu tư tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ. Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

2.4 VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG HOẠT ĐỘNG BỒI THƯỜNG, GIẢI QUYẾT KHIẾU NẠI TỐ CÁO TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG HÌNH SỰ

2.4.1. Bảo đảm quyền con người trong hoạt động bồi thường

Nhằm bảo đảm quyền con người trong mối quan hệ giữa Nhà nước và công dân, pháp luật Tố tụng Hình sự quy định việc bồi thường thiệt hại cho công dân khi người thi hành công vụ của Nhà nước có hành vi gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của công dân. Hiến pháp năm 1992 ghi nhận tại Điều 72 rằng “… Người bị bắt, bị giam giữ, bị truy tố, xét xử trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và phục hồi danh dự. Người làm trái pháp luật trong việc bắt, giam giữ, truy tố, xét xử gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý nghiêm minh.” [38, Điều 72] và mới đây nhất Hiến pháp 2013 quy định “Người bị bắt , tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trái pháp luật có quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất, tinh thần và phục hồi danh dự. Người vi phạm pháp luật trong việc bắt, giam, giữ, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây thiệt hại cho người khác phải bị xử lý theo pháp luật” [44, Điều 31, Khoản 5]. Trên cơ sở đó, pháp luật Tố tụng Hình sự cụ thể hóa những trường hợp người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động Tố tụng Hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi [42, Điều 29] và người bị thiệt hại do cơ quan hoặc người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự gây ra có quyền được bồi thường thiệt hại [42, Điều 30]. Nghị quyết 388/2003/NQ-UBTVQH11 ngày 17/3/2003 của Ủy ban thường vụ của Quốc Hội quy định về bồi thường thiệt hại cho người bị oan do người có thẩm quyền trong hoạt động Tố tụng Hình sự gây ra, Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2009 được ra đời (sau đây viết tắt là Luật trách nhiệm bồi thường của Nhà nước) củng cố thêm cơ sở pháp lý và hiệu quả của việc thực hiện trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Trong đó, quy định rõ thẩm quyền, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong hoạt động quản lý hành chính, tố tụng, thi hành án; thủ tục giải quyết bồi thường thiệt hại; quyền, nghĩa vụ của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại [43, Điều 26, Điều 30, 31, 32 …]. Các quy định trên tạo cơ sở pháp lý cho việc minh oan và bồi thường thiệt hại cho người bị oan, góp phần tích cực vào việc bảo vệ quyền con người và nâng cao ý thức, trách nhiệm trong khi thi hành công vụ của cán bộ, công chức Nhà nước. Ví dụ: vụ án ông Lương Ngọc Phi khởi kiện yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình và công an tỉnh Thái Bình bồi thường 54 tỷ đồng vì bị giam oan 35 tháng. Ngày 21/7/2009, Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình vụ án buộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình phải bồi thường cho ông Phi trên 600 triệu đồng về các khoản thiệt hại về tổn thất tinh thần và thu nhập thực tế bị mất sau 35 tháng bị giam oan. Đối với vụ án “Đòi bồi thường thiệt hại về tài sản” Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình xác định việc bồi thường không thuộc trách nhiệm của Công an tỉnh Thái Bình nên bác yêu cầu khởi kiện của ông Lương Ngọc Phi đòi Công an tỉnh Thái Bình bồi thường thiệt hại về tài sản với số tiền 27 tỷ đồng, đồng thời buộc Tòa án nhân dân tỉnh Thái Bình phải bồi thường cho ông Lương Ngọc Phi số tiền trên 21 tỷ đồng vì đã ra bản án oan, gây thiệt hại về tài sản cho ông [18].

Trên thực tế công tác giải quyết bồi thường thiệt hại cho các trường hợp bị oan sai còn gặp khó khăn vì tâm lý e ngại khi phải làm đơn yêu cầu khởi kiện vụ án đòi bồi thường của người bị hại và tâm lý e ngại của chính các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khi phải giải quyết chính việc của cơ quan mình gây ra, dẫn tới việc giải quyết bồi thường sẽ không được thực hiện một cách nhanh chóng, khách quan và đúng pháp luật. Ngoài ra, việc xác định hành vi của người có thẩm quyền “biết rõ là trái pháp luật” rất khó khăn, yếu tố lỗi của người có thẩm quyền cũng không được quy định rõ ràng. Trong khi đó, người bị thiệt hại phải chứng minh được các thiệt hại thực tế xảy ra nhưng do hoàn cảnh, điều kiện về thời gian, hoặc hoàn cảnh khác không người bị thiệt hại không tự mình thu thập lại được hoặc thu thập lại không còn đầy đủ nữa dẫn đến việc họ đã thiệt hại lại còn bị thiệt hại thêm. Bên cạnh đó, công tác giải quyết bồi thường thiệt hại do các cơ quan Tiến hành tố tụng gây ra còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng kịp thời những đòi hỏi chính đáng của người dân khi mà tài sản, uy tín, danh dự, các quyền và lợi ích hợp pháp khác, thậm chí cả tính mạng của họ bị xâm phạm. Vì vậy cần việc tiếp tục hoàn thiện các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự hiện hành, đồng thời nâng cao năng lực chuyên môn, nghề nghiệp, kiến thức pháp luật, bản lĩnh chính trị và đạo đức của những cán bộ tư pháp, đặc biệt là những người Tiến hành tố tụng, xử lý nghiêm minh và kịp thời mọi hành vi vi phạm pháp luật.

2.4.2. Bảo đảm quyền con người trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Bảo đảm quyền con người trong hoạt động giải quyết khiếu nại, tố cáo, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều văn bản pháp luật trong đó có Luật khiếu nại, tố cáo năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung nhiều lần) và mới đây nhất được tách ra thành Luật Tố cáo năm 2011 và Luật khiếu nại năm 2011, Bộ luật Tố tụng Hình sự 2003 dành một chương quy định về khiếu nại, tố cáo trong Tố tụng Hình sự (Chương XXXV, từ Điều 325 – Điều 339), Thông tư liên tịch số 02/2005/TTLT-VKSTC-TATC-BCA-BQP-BTP của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân tối cao, Bộ công an, Bộ quốc phòng và Bộ tư pháp hướng dẫn thi hành một số quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự về khiếu nại tố cáo nhằm giải quyết một cách nhanh chóng, đúng trình tự, đúng thẩm quyền, hạn chế thấp nhất về các vụ việc liên quan đến khiếu nại tố cáo, góp phần bảo đảm quyền con người của những người tham gia tố tụng trong hoạt động Tố tụng Hình sự. Các quy định về khiếu nại, tố cáo trong Tố tụng Hình sự cũng là những bảo đảm pháp lý, những công cụ quan trọng để cơ quan, tổ chức, công dân giám sát hoạt động của những người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, những người được thay mặt Nhà nước thực hiện quyền lực trong lĩnh vực nhạy cảm đối với quyền công dân.

Pháp luật Tố tụng Hình sự quy định cho công dân những quyền hạn nhất định khiếu nại quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng khi có căn cứ cho rằng quyết định, hành vi đó là trái pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của mình; được khiếu nại trong bất kỳ giai đoạn nào của quá trình giải quyết vụ án hình sự; được nhận văn bản trả lời về việc giải quyết khiếu nại; được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp đã bị xâm phạm, được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, công dân có quyền tố cáo với cơ quan, cá nhân có thẩm quyền về hành vi vi phạm pháp luật của bất kỳ người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nào gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, cơ quan, tổ chức; được thông báo về nội dung tố cáo, đưa ra bằng chứng để chứng minh nội dung tố cáo là không đúng sự thật, được khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, được phục hồi danh dự, được bồi thường thiệt hại do việc tố cáo không đúng gây ra. Ngoài việc quy định các quyền khiếu nại, tố cáo thì pháp luật Tố tụng Hình sự còn quy định trách nhiệm của người có thẩm quyền trong việc tiếp nhận, giải quyết khiếu nại, tố cáo nhằm khôi phục quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm hại hoặc bồi thường thiệt hại cho họ; áp dụng biện pháp cần thiết nhằm ngăn chặn thiệt hại có thể xảy ra, bảo đảm kết quả giải quyết được thi hành nghiêm chỉnh. Nếu người có thẩm quyền không hoặc thiếu trách nhiệm trong giải quyết khiếu nại, tố cáo thì phải chịu trách nhiệm kỷ luật, trách nhiệm hình sự hoặc bồi thường thiệt hại [42, Điều 338].

Tuy nhiên, pháp luật Tố tụng Hình sự mới chỉ ghi nhận một số nguyên tắc bảo vệ người khiếu nại tố cáo, xác định trách nhiệm của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong việc bảo vệ tính mạng, danh dự, sức khoẻ cho người khiếu nại tố cáo mà còn thiếu cơ chế tổ chức thực hiện, ảnh hưởng đến việc thực hiện khiếu nại, tố cáo của công dân. Trong khi đó, thực trạng công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Tố tụng Hình sự còn những hạn chế nhất định. Theo báo cáo tổng kết công tác ngành kiểm sát nhân dân năm 2005 của Viện kiểm sát nhân dân tối cao, tình hình khiếu nại tố cáo trong các lĩnh vực, trong đó có lĩnh vực hoạt động tư pháp diễn biến phức tạp. công tác giải quyết khiếu nại tố cáo vẫn còn một số tồn tại, yếu kém. Bên cạnh đó chất lượng giải quyết khiếu nại tố cáo chưa cao, một số vụ việc giải quyết khiếu nại nhiều lần, thời gian giải quyết kéo dài [65]. Đến năm 2009, công tác kiểm tra, giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo về tư pháp chưa có sự chuyển biến căn bản, Viện kiểm sát chưa tích cực chủ động kiểm sát việc giải quyết đơn [66], tỉ lệ giải quyết đơn còn thấp, ví dụ năm 2010 số vụ việc khiếu nại, tố cáo về hoạt động tư pháp đã giải quyết tỷ lệ 58,2% [67]. Việc giải quyết đơn khiếu nại, tố cáo vi phạm thời hạn giải quyết đơn, công tác thanh tra, kiểm tra trách nhiệm của thủ trưởng các cấp, các ngành trong việc thực hiện pháp luật khiếu nại, tố cáo ở nhiều nơi chưa được quan tâm đúng mức, việc tiếp nhận, giải quyết đơn tố cáo chưa phản ánh đúng tình hình vi phạm pháp luật của cán bộ, công chức, khi xử lý còn nể nang, thiếu kiên quyết, nặng về xử lý nội bộ, xử lý không nghiêm, không công bằng, làm giảm lòng tin của vào cơ quan nhà nước và tính nghiêm minh của pháp luật. Để khắc phục những hạn chế, vướng mắc trong công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo trong Tố tụng Hình sự đòi hỏi những giải pháp toàn diện, đồng bộ, trong đó việc hoàn thiện pháp luật về khiếu nại, tố cáo trong Tố tụng Hình sự là giải pháp quan trọng, tạo căn cứ pháp lý để tiến hành thuận lợi việc giải quyết khiếu nại, tố cáo [29, tr.56].

2.5 MỘT SỐ NGUYÊN NHÂN CỦA THỰC TRẠNG BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI TRONG PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

2.5.1. Những nguyên nhân khách quan

Một là, ở Việt Nam quyền con người được biết đến muộn hơn so với các nước trên thế giới, quyền con người và bảo đảm quyền con người đã được phổ biến tuyên truyền nhưng chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Trong khi đó truyền thống lịch sử và trong tâm niệm của người dân Việt Nam nhận thức về quyền con người chưa cao, ý thức bảo vệ quyền con người còn hạn chế.

Hai là, hệ thống pháp luật Tố tụng Hình sự còn thiếu sự đồng bộ, có chỗ còn chồng chéo mâu thuẫn, tính thống nhất chưa cao và chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, ảnh hưởng đến quyền con người của những người tham gia tố tụng.

Các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự về chức năng, nhiệm vụ của cơ quan Tiến hành tố tụng, người tiến hành bố tụng còn chưa rõ ràng, thống nhất, chưa có sự phối hợp chặt chẽ với nhau, làm ảnh hưởng đến hiệu quả, chất lượng, tính kịp thời của các hoạt động tố tụng, không nâng cao được trách nhiệm của người Tiến hành tố tụng đối với việc giải quyết vụ án hình sự.

Các quy định về người tham gia tố tụng, đặc biệt là người bị tạm giữ, bị can, bị cáo chưa đầy đủ, thiếu sự bình đẳng thể hiện là vai trò thụ động trong việc bảo đảm các quyền lợi của mình đối lập với vai trò tích cực, chủ động của cơ quan Tiến hành tố tụng.

Ba là, thiếu cơ chế kiểm tra, giám sát quyền con người của các cơ quan nhà nước và sự tham gia của nhân dân.

Bốn là, các chế tài xử lý khi vi phạm quyền con người tuy đã được pháp luật quy định những chưa được cụ thể, rõ ràng và nghiêm minh.

Năm là, điều kiện cơ sở vật chất và phương tiện làm việc của các cơ quan tố tụng còn nhiều khó khăn, bất cập và chưa đáp ứng đầy đủ so với yêu cầu nhiệm vụ.

2.5.2. Những nguyên nhân chủ quan Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Một là, nhận thức về quyền con người và bảo đảm quyền con người của những người tham gia tố tụng còn hạn chế, người dân cũng như những người tiến hành tố tụng chưa thực sự hiểu và tôn trọng quyền con người nên còn xảy ra nhiều trường hợp vi phạm quyền con người.

Hai là, năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ trong cơ quan Tiến hành tố tụng còn hạn chế, chưa vững vàng về bản lĩnh chính trị, thiếu ý thức rèn luyện phẩm chất đạo đức lối sống, chưa phát huy tinh thần trách nhiệm và ý thức trong công việc dẫn đến việc áp dụng bắt người tùy tiện, bắt oan, không đúng trình tự thủ tục cũng như xét xử không đúng người, đúng tội, trên thực tế vẫn còn xảy ra trường hợp bị oan sai.

Ba là, việc tuyên truyền, phổ biến pháp luật, nâng cao ý thức của người dân về quyền con người, bảo đảm quyền con người, nhất là trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự còn hạn chế, chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế.

Bốn là, công tác đào tạo và tập huấn chuyên môn nghiệp vụ cho những người Tiến hành tố tụng còn chưa ngang tầm nhiệm vụ, chưa có sự phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa lãnh đạo Cơ quan điều tra với lãnh đạo Viện kiểm sát, lãnh đạo Tòa án và cơ quan có thẩm quyền thi hành án hình sự trong việc tổng kết thực tiễn công tác điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án, tập huấn nghiệm vụ, rút kinh nghiệm xét xử cho các Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

Qua những nghiên cứu về quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự và thực tế áp dụng những quy định này, có thể thấy vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người như sau:

  1. Người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo là những người có khả năng bị tổn thương đến quyền con người nhất khi tham gia Tố tụng Hình sự bởi họ bị mất đi một số quyền nhất định mà pháp luật quy định. Bởi thế, pháp luật Tố tụng Hình sự thông qua các quy định về quyền của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo để bảo đảm quyền con người của họ được tôn trọng và thực thi trên thực tế.
  2. Người bị kết án, người chấp hành hình phạt là những người đã bị một bản án của Tòa án kết tội đã có hiệu lực pháp luật và phải chịu hình phạt theo bản án đã có hiệu lực pháp luật. Mặc dù họ bị hạn chế các quyền công dân nhất định nhưng vẫn được pháp luật bảo vệ và bảo đảm các quyền cơ bản, đồng thời được giáo dục, cải tạo họ trở thành những người lương thiện cho xã hội
  3. Những người tham gia tố tụng khác (như người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người bào chữa, người giám định …) khi tham gia tố tụng cũng bị tác động nào đó đến quyền con người của họ, bởi thế pháp luật Tố tụng Hình sự đã có những quy định để bảo đảm quyền con người của họ.
  4. Pháp luật Tố tụng Hình sự quy định thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan Tiến hành tố tụng, những người Tiến hành tố tụng và các cơ quan có thẩm quyền thi hành án nhằm bảo đảm các quyền con người của những người tham gia tố tụng, nhất là người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo.
  5. Pháp luật Tố tụng Hình sự quy định về bồi thường, giải quyết khiếu nại, tố cáo góp phần bảo đảm quyền con người của những người tham gia tố tụng khi các quyền, lợi ích hợp pháp bị xâm phạm.
  6. Từ những thực trạng bảo đảm quyền con người trong Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay, luận văn khái quát một số nguyên nhân chủ quan, khách quan của thực trạng nêu trên. Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người

One thought on “Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người”

  1. Pingback: Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464