Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Một số giải pháp áp dụng hiệu quả pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Một số gợi mở cho Việt Nam về ưu đãi đầu tư từ kinh nghiệm của các nước trong khu vực.

Trong bối cảnh hội nhập khu vực ngày càng sâu rộng trong hầu hết các lĩnh vực, đặc biệt là phát triển kinh tế thì việc nghiên cứu pháp luật của các nước ASEAN là vô cùng cần thiết từ đó rút ra những kinh nghiệm pháp luật về ưu đãi đầu tư để có thể áp dụng trong thu hút đầu tư ở Việt Nam.

Có thể thấy rằng, trong chính sách pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư nhằm thu hút đầu tư của các nước trong khu vực Asean và Châu Á có nhiều điểm tương đồng. Hầu hết các nước đều đẩy mạnh thu hút đầu tư, trong đó các chính sách được thực hiện chủ yếu là ưu đãi thông qua công cụ thuế; bên cạnh đó, ở mỗi quốc gia còn có những biện pháp khác ngoài thuế như: giảm bớt các thủ tục hành chính, xây dựng cơ sở hạ tầng, đào tạo nhân lực theo nhu cầu của nhà đầu tư, chính sách về đất đai, nhà cửa, thông tin… nhằm thu hút các nhà đầu tư. So với các quốc gia trong khu vực, các qui định của nước ta về ưu đãi đầu tư thể hiện được sự tiến bộ, bắt kịp với các quốc gia trong khu vực. Đây là một trong những tín hiệu đáng mừng bởi đặt trong bối cảnh nước ta đang phải đối mặt với sức cạnh tranh vô cùng lớn từ chính các nước trong khu vực. Tuy vậy, việc tìm hiểu và học tập những kinh nghiệm về lập pháp cũng như thực tiễn vận dụng pháp luật trong thu hút đầu tư nước ngoài ở các quốc gia thành công là điều vô cùng cần thiết. Việt Nam có thể áp dụng một số biện pháp sau:

Thứ nhất, hiện nay, các quốc gia đều đã chuyển dần các biện pháp ưu đãi về thuế sang ưu đãi phi thuế và hỗ trợ đầu tư. Vì áp dụng các biện pháp ưu đãi về thuế sẽ làm giảm thu ngân sách nhà nước, do đó để cạnh tranh thu hút vốn đầu tư Việt Nam nên tăng cường các biện pháp ưu đãi phi thuế, đặc biệt là các hỗ trợ đầu tư.

Thứ hai, thời gian qua nhà đầu tư ở Việt Nam còn gặp khó khăn trong việc cung cấp thông tin liên quan đến quy hoạch đất đai. Trong thời gian tới, để đẩy mạnh thu hút đầu tư, Việt Nam cần công bố rộng rãi các quy hoạch đã được phê duyệt, tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư tiếp cận thông tin về quy hoạch để xây dựng kế hoạch đầu tư, kinh doanh ở Việt Nam. Theo kinh nghiệm các nước thì việc tiếp cận đất đai một cách thuận lợi, với chi phí và thời gian ít nhất, là một trong các cân nhắc quan trọng của nhà đầu tư. Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Thứ ba, cần tiếp tục cải cách và minh bạch về thủ tục hành chính ở Việt Nam. Với những cải cách trong thời gian qua, nhà đầu tư đã dễ dàng hơn trong việc thực hiện các thủ tục xin cấp phép đầu tư và thủ tục thành lập doanh nghiệp, thời gian thực hiện cũng rút ngắn hơn.Tuy nhiên để đáp ứng được nhu cầu hội nhập, Việt Nam cần cải cách tích cực hơn nữa các thủ tục hành chính để tạo điều kiện tối đa cho các nhà đầu tư vào Việt Nam.

Trong xu thế hội nhập khu vực ngày càng mạnh mẽ, hiện nay, Bộ Công Thương đã triển khai cơ chế một cửa quốc gia và cơ chế một cửa Asean theo Quyết định số 2185/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt kế hoạch tổng thể triển khai Cơ chế một cửa quốc gia và Cơ chế một cửa ASEAN giai đoạn 2016-2020. Cơ chế một cửa quốc gia theo định nghĩa tại Luật Hải quan 2014 và các điều ước quốc tế là việc doanh nghiệp và các cơ quan nhà nước thực hiện thủ tục hành chính để cấp phép và thông quan cho hàng hóa và phương tiện vận tải trên hồ sơ điện tử, giấy phép điện tử qua Cổng thông tin một cửa quốc gia và các hệ thống công nghệ thông tin chuyên ngành. Việc thực hiện kiểm tra chuyên ngành (như kiểm tra chất lượng, kiểm định, kiểm nghiệm…) do các Bộ, ngành thực hiện và kết quả kiểm tra chuyên ngành, giấy phép được kết nối và gửi trực tuyến cho Cổng thông tin một cửa quốc gia để cơ quan hải quan và các cơ quan hữu quan thông quan cho hàng hóa và phương tiện vận tải.

Từ tháng 9/2015, cơ chế một cửa quốc gia đã kết nối kỹ thuật thành công với 04 nước ASEAN (Indonesia, Malaysia, Thái Lan, Singapore) để trao đổi Giấy chứng nhận xuất xứ mẫu cho hàng hóa xuất khẩu có xuất xứ ASEAN. Đây là một điểm mới và đánh dấu sự phát triển tích cực đối với pháp luật về đầu tư và kinh doanh tại Việt Nam. Cơ chế này cũng phần nào đảm bảo hơn tính minh bạch thông tin và tạo điều kiện thuận lợi cho nhà đầu tư nói chung và nhà đầu tư nước ngoài, đặc biệt là các nước Asean khi tiến hành đầu tư vào Việt Nam. Vì thế, trong thời gian tới, Việt Nam cần tận dụng sự phát triển của khoa học công nghệ, tiến hành minh bạch hóa thông tin trong đầu tư kinh doanh và các lĩnh vực khác, kết nối khu vực và quốc tế để đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội. Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Thứ tư, hiện nay, xu thế các nước đang thu hút đầu tư nhằm hướng đến xuất khẩu. Việt Nam cũng cần tận dụng những thế mạnh sẵn có của mình để thúc đẩy đầu tư cho sản xuất và xuất khẩu thay vì việc sản xuất cho tiêu dùng. Vì thế, hướng đến đầu tư xuất khẩu cũng như thu hút đầu tư cho xuất khẩu là hướng đi cần thiết. Những lĩnh vực là thế mạnh của Việt Nam như các ngành công nghiệp chế biến, ngành công nghiệp hỗ trợ, nông sản, thuộc da, may mặc, thủy hải sản…, chúng ta cần thu hút đầu tư vào những lĩnh vực này, đặc biệt là đầu tư nước ngoài, với tiềm lực mạnh về tài chính và công nghệ sẽ giúp cho ngành Nông nghiệp và các ngành khác nhanh chóng nâng cao chất lượng, đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của khu vực và thế giới.

Thứ năm, bên cạnh việc thu hút đầu tư nước ngoài để thu hút vốn và công nghệ thì còn nhằm nâng cao năng lực cho người lao động trong nước và chất lượng cuộc sống của họ. Nhiều quốc gia lấy yếu tố lao động, trong đó việc nhà đầu tư nước ngoài buộc phải thuê người lao động tại nước sở tại làm việc là một điều kiện thỏa thuận để được phê duyệt dự án đầu tư. Hay như tại Philippines có quy định các công ty liên doanh hạn chế thuê lao động nước ngoài, họ chỉ được thuê người nước ngoài tối đa là 5 năm để làm những công việc như: kiểm soát viên, kỹ thuật viên, cố vấn. Nếu kéo dài thời gian phải xin phép Ủy ban Đầu tư quốc gia.

Thứ sáu, cần tăng cường và có kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, ở Việt Nam còn thiếu vắng những công trình, bài viết có tính chất tổng quan về đặc điểm kinh doanh, hệ thống pháp luật về đầu tư kinh doanh, văn hóa, các luật liên quan: Đất đai, tài chính ngân hàng, lao động, môi trường, thuế, sở hữu, đưa ra những lý do vì sao nên chọn quốc gia này để đầu tư, những lợi ích mà doanh nghiệp sẽ nhận được… Trong khi đó, kinh nghiệm ở các quốc gia ASEAN cho thấy, nhà đầu tư rất dễ để tiếp cận được những tài liệu này, thậm chí luôn được cập nhật hàng năm để nhà đầu tư nắm bắt được các quy định một cách kịp thời. Những tài liệu này thường do các Văn phòng luật sư tư vấn, các cơ quan chuyên về đầu tư kinh doanh của Chính phủ thực hiện. Và được đăng tải công khai và tải miễn phí. Việt Nam cần có những hoạt động tương tự nhằm góp phần minh bạch thông tin, cung cấp thông tin một cách đầy đủ, để nhà đầu tư dễ dàng trong tiếp cận hệ thống pháp luật. Đó cũng là khâu quan trọng để thu hút đầu tư đạt hiệu quả cao.

3.2. Một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu tư tại Việt Nam Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Luật đầu tư năm 2005 đã giúp Việt Nam nỗ lực tiến mạnh vào nền kinh tế khu vực và thế giới. Tiếp sau đó là Luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực đã khẳng định quyết tâm của nước ta trong việc tạo lên môi trường cạnh tranh lành mạnh công bằng, phù hợp hơn với nền kinh tế. Đường lối chính sách phát triển của Đảng và nhà nước trong công cuộc đổi mới hội nhập kinh tế quốc tế ngày một hợp lý hơn. Luật đầu tư năm 2014 đã và đang đáp ứng tốt về môi trường đầu tư cho các nhà đầu tư nước ngoài và đáp ứng được sự thống nhất về khung pháp lý minh bạch.

Kể từ khi Luật đầu tư năm 2014 có hiệu lực (vào ngày 1 tháng 7 năm 2015), qua thời gian thi hành Luật đầu tư năm 2014 còn ngắn, thực tế thực hiện còn chưa thấy rõ ràng, chưa có nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết thực hiện nhưng không thể phủ nhận sự tiến bộ và tiềm năng của Luật đầu tư năm 2014… Mặc dù đã có nghị định hướng dẫn về luật đầu tư năm 2014 là Nghị định 118/2015/NĐ-CP nhưng như thế là chưa đủ, nhà nước cần có thêm nghị định hướng dẫn, thông tư hướng dẫn chi tiết hơn nữa. Một số biện pháp ưu đãi vẫn chưa có nghị định hướng dẫn mới mà vẫn phải áp dụng các ưu đãi, mức ưu đãi theo luật cũ khi mà luật mới chưa có quy định. Như vậy là chưa phù hợp với tình hình cụ thể trong nước cần theo dõi, kiểm soát chặt chẽ, sát sao quá trình thi hành áp dụng luật, để từ đó tìm ra các điểm hạn chế, nút thắt còn vướng mắc để có các giải pháp kịp thời. Cần ban hành thêm các nghị định, thông tư hướng dẫn, bổ sung cho nghị định 118/2015/NĐ-CP để hướng dẫn, bổ sung các vấn đề về đầu tư phát sinh trong quá trình áp dụng Luật đầu tư năm 2014, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động đầu tư trong thời gian tới, tiếp tục rà soát huy bỏ các văn bản trái với đường lối chính sách của Luật đầu tư và thông lệ quốc tế, tránh chồng chéo mâu thuẫn. Cần phải có kế hoạch cần thiết, dự phòng các vấn đề sẽ xảy ra, tiên đoán sẽ gặp phải, những khó khăn trong việc thi hành pháp luật, từ đó áp dụng kịp thời chứ không phải chờ đến lúc xảy ra rồi mới bổ sung hoàn thiện.

Đối với các dự án trọng điểm, dự án hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng khu công nghiệp, khu kinh tế cần có những giải pháp ưu đãi chuẩn xác, đánh giá đúng tình hình thực tế. Tập trung hoàn thiện quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế – xã hội, xây dựng phê duyệt các quy hoạch còn thiếu, công bố rộng rãi bức tranh tổng thể về phát triển kinh tế, thu hút, ưu đãi, tạo điều kiện cho nhà đầu tư dễ dàng lựa chọn địa điểm, lĩnh vực đầu tư, ưu đãi đầu tư. Thực thi Luật đầu tư năm 2014 có được hiệu quả cần phải tập trung giải quyết một số vấn đề sau:

3.2.1. Đổi mới chính sách thuế Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

  • Tiếp tục rà soát chính sách về thuế để đảm bảo những ưu đãi đối với nhà đầu tư. Cụ thể:

Rà soát các ưu đãi về thuế, đặc biệt là thuế thu nhập doanh nghiệp để cân đối được ngành nghề thực sự cần thu hút, cũng như địa bàn nào cần phải thu hút đầu tư để có chính sách phù hợp đảm bảo về nguồn thu ngân sách nhà nước, khuyến khích được sản xuất phát triển và thu hút nguồn vốn. Cần có những ưu đãi đối với thuế thu nhập vào ngành nghề mà nhà nước đang quan tâm phát triển, ưu tiên phát triển.

Về thuế xuất nhập khẩu, cần khuyến khích phát triển và bảo hộ hợp lý sản xuất kinh doanh trong nước phù hợp với định hướng phát triển của Đảng và Nhà nước, tuân thủ các cam kết đã ký, đồng thời sửa đổi nguyên tắc, thẩm quyền ban hành biểu thuế, thuế suất, quy định mức thuế xuất khẩu tối thiểu của biểu thuế theo danh mục nhóm hàng chịu thuế xuất khẩu thay cho khung thuế suất hiện nay. Đồng thời sửa đổi, bổ sung những quy định về ưu đãi về thuế để khuyến khích phát triển sản xuất kinh doanh, đẩy mạnh xã hội hóa, cần đồng bộ thống nhất hệ thống pháp luật, sửa đổi, bổ sung để góp phần hoàn thiện hệ thống pháp luật. Khắc phục các vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện Luật thuế xuất nhập khẩu hiện hành, bao gồm các nội dung về phạm vi điều chỉnh và đối tượng không chịu thuế, người nộp thuế, cần đảm bảo phù hợp các cam kết quốc tế và điều ước quốc tế về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu. Cần đơn giản, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, góp phần thực hiện cải cách hành chính, cải thiện môi trường kinh doanh và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc gia.

3.2.2. Tăng cường các biện pháp hỗ trợ đầu tư nhằm giảm chi phí cho doanh nghiệp

Để tạo môi trường công bằng minh bạch trong đầu tư ở Việt Nam, cần nghiên cứu đưa ra các biện pháp giảm chi phí hoạt động so với các nước khác về các mặt kinh tế xã hội như vấn đề thuê đất, giá thuê đất, các chi phí vận chuyển, dịch vụ, vận tải, thông tin liên lạc. Vì thế, Việt Nam cần phải có những chính sách hỗ trợ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, đề xuất giải pháp hỗ trợ cho các nhà đầu tư và doanh nghiệp để cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam.

3.2.2.1 Chính sách đất đai: Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

  • Bổ sung quy định về việc giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với nhà đầu tư nước ngoài đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc đầu tư xây dựng nhà ở hỗn hợp cả để bán và cho thuê.
  • Quy định Nhà nước chủ động thu hồi đất theo quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất đã được công bố, tổ chức việc bồi thường, hỗ trợ, tái định cư để tạo quỹ đất “sạch” làm cơ sở để thu hút các nhà đầu tư, đặc biệt là các nhà đầu tư nước ngoài. Tạo điều kiện cho các nhà đầu tư yên tâm bỏ vốn vào đầu tư trên cơ sở cạnh tranh công bằng thông qua hình thức đấu giá quyền sử dụng đất để thực hiện các dự án.
  • Nhà đầu tư được thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản thuộc quyền sở hữu của mình gắn liền với đất tại ngân hàng ở nước ngoài.
  • Tiếp tục rà soát và xem xét lại giá cho thuê đất, miễn giảm tiền thuê đất trong một số năm đầu tạo thuận lợi cho doanh nghiệp.

3.2.2.2 Chính sách về tín dụng và ngoại hối.

  • Chủ động, linh hoạt các công cụ chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế ở mức hợp lý, đảm bảo an toàn tài chính tín dụng.
  • Điều hành lãi suất và tỷ giá phù hợp với diễn biến kinh tế, tiền tệ, đặc biệt là lạm phát, đảm bảo giá trị đồng tiền Việt Nam tránh việc đôla hóa, vàng hóa trong nền kinh tế, thực hiện chính sách cho vay ngoại tệ phù hợp với chủ trương của chính phủ.
  • Thực hiện các giải pháp điều hành tín dụng theo hướng mở rộng đi đôi với việc kiểm soát chất lượng tín dụng, tập trung tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp trong việc tiếp cận nguồn vốn tín dụng phục vụ sản xuất kinh doanh. Cần có các chính sách tín dụng phù hợp với chính sách ngành kinh tế, chuyển dịch cơ cấu tín dụng theo hướng tập trung vốn cho vay đối với các lĩnh vực ưu tiên theo chủ trương của chính phủ. Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.
  • Đẩy nhanh tiến độ xử lý nợ xấu và tăng cường phối hợp với các chính sách pháp luật khác.

3.2.2.3 Hoàn thiện các biện pháp khuyến khích và bảo hộ đầu tư

Nhằm cải thiện môi trường kinh doanh, chúng ta cần thực hiện nhiều giải pháp đồng bộ. Trước hết, phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về đầu tư nhằm tạo môi trường đầu tư đồng bộ, minh bạch, rõ ràng và có tính tiên liệu. Sửa đổi chính sách ưu đãi đầu tư phù hợp với định hướng thu hút đầu tư giai đoạn tới, đồng thời đảm bảo tính hấp dẫn, cạnh tranh so với các nước trong khu vực. Cải tiến một cách căn bản phương thức xúc tiến đầu tư theo hướng có trọng tâm, trọng điểm, theo từng ngành, lĩnh vực, khu vực và đối tác. Công tác quản lý doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài cũng được chú trọng cải thiện hiệu quả, đặc biệt là tập trung chuyển đổi mạnh áp dụng chế độ hậu ưu đãi và hậu kiểm, kết hợp tăng cường chế độ báo cáo, thống kê và giám sát, thanh tra. Cuối cùng, trong thời gian tới, Chính phủ sẽ cần tập trung nâng cao hiệu lực chỉ đạo, điều hành gắn với đẩy mạnh cải cách hành chính giảm chi phí và thời gian thực hiện các thủ tục cho công dân và doanh nghiệp; kiên quyết đẩy mạnh hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí để tạo môi trường kinh tế xã hội thuận lợi, cạnh tranh thu hút mạnh mẽ hơn nữa dòng vốn đầu tư.

Trong bối cảnh quốc tế và trong nước có những diễn biến nhanh và phức tạp, mang lại không ít những cơ hội và thách thức cho việc thu hút đầu tư, cần có giải pháp đột phá, có hiệu quả và tính thực thi cao để cải thiện môi trường đầu tư, tiếp tục thu hút và phát huy tối đa hiệu quả của nguồn vốn đầu tư. Sự gia tăng quy mô và chất lượng liên kết kinh tế quốc tế không những tăng cường nguồn lực phát triển nền kinh tế mà còn là động lực của việc tiếp tục đổi mới trong nước và giảm thiểu sức ép, rủi ro từ bên ngoài. Vì vậy cần hoàn thiện hơn nữa các biện pháp khuyến khích đầu tư cũng như bảo hộ đầu tư một cách toàn diện hơn nữa, để phát triển nền kinh tế cũng như ứng phó với các vấn đề khó khăn gặp phải trong thời gian tới.

3.3. Giải pháp nhằm áp dụng có hiệu quả pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

3.3.1. Các giải pháp về chính sách

Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh qua nghiên cứu các số liệu thực tế về tình hình đầu tư, kết quả đầu tư của các dự án tại đây,có thể thấy rằng còn tồn tại nhiều mặt hạn chế như về công tác thu hút và chất lượng đầu tư, hạn chế trong công tác quản lý của nhà nước, về cơ chế chính sách, các quỹ đất sạch cũng như về cơ sở hạ tầng và nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng các yêu cầu công việc. Từ những hạn chế nói trên, chúng ta cần có những phương hướng hoàn thiện pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các dự án đầu tư toàn diện hơn, cũng như một định hướng và giải pháp đầu tư tốt hơn nữa để thu hút nguồn vốn đầu tư nhiều hơn giúp thúc đẩy phát triển nền kinh tế địa phương. Có thể kể đến một số định hướng trong thời gian tới Quảng Ninh cần thực hiện, tập trung vào một số định hướng sau:

Định hướng thu hút đầu tư hàm chứa các yếu tố cơ bản như: chất lượng và hiệu quả cao, phát triển bền vững và xây dựng nền kinh tế ít cacbon, công nghệ hiện đại, lao động có kỹ năng cao. Tránh tình trạng ưu đãi tràn lan, cần nghiên cứu kỹ các đặc thù của Quảng Ninh để đưa ra chính sách phù hợp. Đặc biệt, cần có sự đánh giá tác động trong quá trình ban hành chính sách ưu đãi đầu tư. Trong thời gian vừa qua tại Quảng Ninh, mặc dù tỉnh đã thu hút được rất nhiều dự án về du lịch, tuy vậy một số dự án đã phá vỡ sự cân bằng sinh thái và vẻ đẹp cảnh quang của một số địa bàn, gây ra các bức xúc trong dư luận. Vì vậy, khi xây dựng các chính sách ưu đãi đầu tư thì cần phải đánh giá cả tác động tiêu cực, như các tác động tiêu cực về ngân sách, hoặc tác động tiêu cực về môi trường, hay các chi phí cơ hội của chính sách ưu đãi đó. Cần tiến tới đặt ra nguyên tắc rằng nếu đề xuất chính sách ưu đãi đầu tư nào mà không thể hiện đầy đủ và rõ nét các tác động tiêu cực thì phải được hạn chế trong quá trình thẩm định, thẩm tra và thông qua.

Đổi mới chính sách đầu tư: đổi từ chính sách tăng cường thu hút vốn đầu tư sang nâng cấp vốn đầu tư theo hướng ưu tiên các dự án công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, đào tạo nhân lực chất lượng cao, bảo vệ môi trường.

Định hướng các dự án, ngành nghề, đối tác: ưu tiên công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường, sử dụng hiệu quả nguồn tài nguyên, đầu tư vào các ngành công nghiệp tùy theo từng khu vực, địa phương, theo hướng công nghiệp hóa hiện đại hóa, cần coi trọng tất cả các đối tác đầu tư hơn nữa từ các nước và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, đặc biệt là từ các quốc gia có nền công nghiệp phát triển Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Đặc biệt quan tâm thu hút các dự án quy mô lớn, sản phẩm cạnh tranh cao tham gia chuỗi giá trị toàn cầu của các tập đoàn xuyên quốc gia, từ đó xây dựng phát triển hệ thống các ngành, doanh nghiệp phụ trợ.

  • Định hướng tập trung dự án đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế cho sản xuất công nghiệp. Đây là hướng mà Quảng Ninh đã thực hiện tốt trong thời gian vừa qua và cần tiếp tục phát huy trong thời gian tới.
  • Bảo toàn phát huy tốt các di sản, phát triển dự án kinh tế với bảo vệ môi trường.
  • Quy hoạch thu hút dự án đầu tư theo ngành, lĩnh vực, đối tác phù hợp lợi thế từng vùng để phát huy hiệu quả đầu tư của địa phương.
  • Chuyển dần thu hút đầu tư với lợi thế giá nhân công rẻ sang cạnh tranh bằng nguồn lực chất lượng cao.

Tiếp tục các cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, tăng cường minh bạch hóa về quá trình giải quyết thủ tục hành chính. Cần thực hiện minh bạch về điều kiện, tiêu chí và thủ tục để được hưởng ưu đãi và làm rõ cơ quan có thẩm quyền quyết định các vấn đề về ưu đãi đầu tư.

Cần tiếp tục phát triển các hỗ trợ đầu tư tại KCN, Khu Kinh tế trọng điểm của tỉnh. Thực tiễn trên thế giới cũng như thực tiễn thu hút đầu tư và cạnh tranh thu hút đầu tư tại các địa phương tại Việt Nam cho thấy các hỗ trợ đầu tư đóng một vai trò quan trọng trong việc giảm các chi phí đầu tư, thúc đẩy thu hú đầu tư tại địa phương.

Công khai và minh bạch các thông tin về quỹ đất, tiền thuê đất và các ưu đãi đầu tư liên quan đến quyền sử dụng đất. Đây là điểm mà Quảng Ninh thực hiện chưa thật tốt trong thời gian qua, dẫn đến một số bức xúc đối với các nhà đầu tư.

Tiếp tục giải quyết những khó khăn trong hoạt động đầu tư của các doanh nghiệp, đặc biệt là những vướng mắc trong việc áp dụng các quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh và thủ tục đầu tư, trong đó có ưu đãi đầu tư nhằm tạo điều kiện để nhà đầu tư thực hiện hoạt động đầu tư với thủ tục đơn giản hơn và chi phí thấp hơn.

3.3.2. Giải pháp về nguồn nhân lực Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Cần nâng cao hiệu quả của công tác cán bộ trong lĩnh vực quản lý ưu đãi đầu tư. Hoạt động ưu đãi đầu tư cuối cùng đều được thực hiện bởi các cán bộ, công chức trong bộ máy nhà nước. Với ý nghĩa đó của công tác cán bộ, chúng ta có thể hiểu rằng, cán bộ là lực lượng có vai trò cực kỳ quan trọng của hệ thống chính trị nước ta, cán bộ vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ thật trung thành, bất kể chính sách, đường lối có tốt đến mấy mà bộ máy hoạt động lại không phát huy được hiệu quả sẽ dẫn đến nhiều tình trạng vấn đề sẽ xảy ra, đối với tất cả lĩnh vực nếu không được tổ chức đội ngũ cán bộ tốt đầy đủ cả về vai trò, vị trí, đạo đức đều sẽ dẫn đến sự hoạt động yếu kém.

Từ thực tiễn tỉnh Quảng Ninh, có thể thấy rằng, đối với lĩnh vực đầu tư hiện nay thì đội ngũ cán bộ công chức hiện nay chưa thể đáp ứng được nhu cầu để đảm bảo hoàn thành tốt nhất việc tổ chức thực hiện đặc biệt là Luật đầu tư năm 2014. Nghị định hướng dẫn và các thông tư hướng dẫn các vấn đề về đầu tư, ưu đãi đầu tư, chính sách ưu đãi về thuế và ưu đãi khác vừa mới được ban hành. Khi mà chính sách pháp luật có thay đổi và đi vào thực hiện hoạt động thời gian không lâu thì càng cần một đội ngũ cán bộ chuyên nghiệp, hiểu biết rộng, cũng như về thực hiện các công tác quản lý thực hiện về hành chính về hoạt động đầu tư, điều đó dẫn đến cần phải có sự đào tạo, bồi dưỡng cán bộ hơn nữa trong thời gian tới.Việc đào tạo bồi dưỡng cán bộ là rất cần thiết.

Với nhận thức nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng nhất trong tương lai tỉnh Quảng Ninh cần thường xuyên tổ chức các buổi tập huấn nâng cao trình độ chuyên môn, giải đáp nghiệp vụ, trao đổi kinh nghiệm cho đội ngũ cán bộ, công chức trực tiếp tham gia vào công tác quản lý ưu đãi đầu tư. Tập trung nâng cao kỹ năng giao tiếp, trình độ ngoại ngữ, tin học cho đội ngũ các bộ công chức đáp ứng nhu cầu của thời đại công nghệ 4,0, áp dụng công nghệ thông tin, hệ thống số hóa trong quản lý và điều hành công việc. Bên cạnh đó, cần hoàn thiện, bổ sung chế độ chính sách đối với cán bộ, công chức quản lý nhà nước trong lĩnh vực đầu tư. Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

3.3.3. Giải pháp về hỗ trợ doanh nghiệp

Do chính sách về ưu đãi đầu tư còn nhiều bất cập và thường xuyên thay đổi. Do đó việc cần thiết để tạo ra môi trường cạnh tranh công bằng, minh bạch, tỉnh Quảng Ninh cần thường xuyên tuyên truyền pháp luật về đầu tư cho các doanh nghiệp bằng các hình thức như tổ chức giao lưu, tọa đàm doanh nghiệp, trao đổi nghiên cứu, phổ biến pháp luật, điểm mới trong ưu đãi đầu tư cho các cán bộ quản lý doanh nghiệp.

Trong thời gian vừa qua tỉnh Quảng Ninh đã có nhiều chính sách ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đối với các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh tạo ra động lực phát triển, sự tin tưởng của cộng đồng doanh nghiệp với chính quyền địa phương. Tuy nhiên trong thời gian tới tỉnh Quảng Ninh cần tập trung nâng cao chất lượng các dịch vụ như: Tư vấn tiếp cận đất đai, tìm kiếm thông tin thị trường, tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, hỗ trợ tìm kiếm đối tác kinh doanh, xúc tiến thương mại, tổ chức các văn phòng tư vấn về ưu đãi đầu tư… do hiện nay năng lực và quy mô của doanh nghiệp địa phương còn hạn chế, không xây dựng được chương trình liên doanh, liên kết với các nhà đầu tư lớn.

  • Kết luận Chương 3

Từ việc đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật về ưu đãi đầu tư tại Quảng Ninh trong thời gian qua, chương 3 của luận văn đã đưa ra một số gợi mở cho Việt Nam từ kinh nghiệm một số nước trong khu vực về ưu đãi đầu tư đang được áp dụng. Đây xem là một kinh nghiệm quý báu cho Việt Nam khi thực hiện ưu đãi đầu tư đối với nhà đầu tư. Chương 3 của luận văn tập trung đưa ra đưa ra những phương hướng cho giai đoạn sắp tới, đồng thời kiến nghị nhằm hoàn thiện và đưa ra những giải pháp áp dụng hiệu quả pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các dự án đầu tư theo pháp luật Việt Nam tại tỉnh Quảng Ninh cho phù hợp với luật đầu tư năm 2014, phương hướng chủ trương của Đảng, nhà nước và điều kiện tình hình của tỉnh Quảng Ninh.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với các nhà đầu tư có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh ở Việt Nam. Vấn đề thu hút đầu tư hiện nay đòi hỏi một cơ chế chính sách pháp luật đồng bộ theo hướng ngày càng hoàn thiện, nhằm đáp ứng yêu cầu của sự phát triển nền kinh tế đất nước và hội nhập nền kinh tế khu vực cũng như thế giới.

Luật đầu tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn đã phản ánh đường lối, chính sách phát triển kinh tế của Đảng và Nhà nước ta trong giai đoạn này, đồng thời cũng đã hoàn thiện đầy đủ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo và yêu cầu thực tiễn đặt ra đối với việc xây dựng luật pháp về ưu đãi đầu tư. Bên cạnh đó Luật doanh nghiệp năm 2014 và nhiều luật chuyên ngành khác đã hình thành môi trường pháp lý ngày càng hấp dẫn và thông thoáng hơn nữa đối với các nhà đầu tư.

Tại báo cáo về tình hình kinh tế – xã hội năm 2018 do Thủ tướng Chính Phủ Nguyễn Xuân Phúc trình bày tại kỳ họp thứ 6, Quốc hội khóa XIV, tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội ước cả năm đạt 34% GDP, 3 năm 2016-2018 ước đạt 33,5% (mục tiêu 5 năm 32-34%). Tỷ trọng vốn đầu tư nhà nước giảm; tỷ trọng đầu tư ngoài nhà nước tăng, trong đó đầu tư tư nhân ước đạt 42,4%, bình quân 3 năm 2016-2018 đạt 40,8%, cao hơn giai đoạn 2011-2015 (38,3%). Vốn FDI thực hiện ước cả năm đạt 18 tỷ USD, cao nhất từ trước đến nay. Đã tổng kết 30 năm thu hút đầu tư nước ngoài, đề ra các giải pháp mới, thu hút chọn lọc hơn, ưu tiên các lĩnh vực chế biến chế tạo, sử dụng công nghệ cao, thân thiện môi trường. Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư tăng; chỉ số ICOR giai đoạn 2016-2018 ở mức 6,32, thấp hơn giai đoạn 2011 – 2015 (6,91).

Môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện; thực hiện chủ trương cắt giảm tối thiểu 50% thủ tục hành chính, trong đó đã cắt giảm, đơn giản hóa 61% điều kiện kinh doanh và 60% thủ tục kiểm tra chuyên ngành hàng hóa xuất nhập khẩu. Rà soát, giảm chi phí kinh doanh, nhất là chi phí vốn, phí BOT, chi phí tuân thủ thủ tục hành chính gắn với triển khai hiệu quả các chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp; Việt Nam được đánh giá thuộc nhóm 10 quốc gia cam kết mạnh mẽ nhất về cải cách chính sách thuế. Cả năm có khoảng 130 nghìn doanh nghiệp đăng ký mới.Số lượng hợp tác xã thành lập mới tăng nhanh; doanh thu và thu nhập của người lao động được cải thiện, góp phần giảm nghèo, giữ ổn định xã hội.

Từ những số liệu được công bố đã cho thấy rằng việc huy động nguồn lực cho tăng trưởng kinh tế là đúng đắn, sự thành công của đường lối đổi mới, thể hiện hiệu quả hệ thống pháp luật về đầu tư đã được hình thành và tiếp tục hoàn thiện. Với những yêu cầu mới của sự nghiệp đổi mới việc cải cách hướng hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa và hội nhập sâu với nền kinh tế thế giới. Chính phủ Việt Nam đang nỗ lực triển khai đồng bộ, quyết liệt nhiều biện pháp cụ thể để vượt qua thách thức và những hạn chế của chính mình, tranh thủ các cơ hội thuận lợi cho mục tiêu phát triển nhanh và bền vững trong giai đoạn tới.

Luật đầu tư năm 2014 tiếp tục thể hiện rõ hơn các biện pháp bảo đảm khuyến khích về đầu tư, đồng thời cũng quy định chi tiết rõ ràng hơn về danh mục ưu đãi ngành, nghề và các dự án bảo đảm cho sự phát triển đúng với đường lối chính sách của Đảng, phù hợp với điều kiện kinh tế Việt Nam và lộ trình cam kết quốc tế. Tuy nhiên vì thời gian thi hành còn ngắn chưa thấy hết nhiều thành tựu thực tế, trên thực tế còn hạn chế nhất định về pháp luật và điều kiện kiểm chứng. Điều đó làm ảnh hưởng đến việc thu hút đầu tư ở Việt Nam, vì vậy cần khắc phục những hạn chế và có những hướng dẫn chi tiết hơn nữa giúp các nhà đầu tư nước ngoài hiểu rõ, không còn lo sợ khi luật mới ban hành, cần nhanh chóng phổ biến pháp luật ứng dụng vào thực tiễn một cách có hiệu quả.

Trong khuôn khổ luận văn thạc sĩ luật học, tác giả hy vọng sẽ góp phần đem lại cái nhìn tổng quát về ưu đãi đầu tư đối với nhà đầu tư tại Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng. Qua đó giúp Việt Nam xây dựng được cơ chế ưu đãi đối với nhà đầu tư có hiệu quả và thu hút ngày một nhiều các nguồn vốn đầu tư, tăng thêm sức hấp dẫn về môi trường đầu tư. Khuyến khích các nhà đầu tư mạnh dạn đầu tư vào Việt Nam, đưa Việt Nam trở thành một nơi thu hút đầu tư hấp dẫn và đáng tin cậy trong khu vực và thế giới, hướng tới mục tiêu phát triển kinh tế trong đường lối chính sách Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh

One thought on “Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh”

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464