Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng các quy định pháp luật về điều kiện chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thực tiễn áp dụng
Nghiên cứu pháp luật về hợp đồng, theo đó: BLDS 2005 và ngay cả BLDS 2015 hiện nay chưa có quy định cụ thể, riêng biệt. Tuy nhiên, theo các quy định được ghi nhận tại BLDS 2015 thì chấp nhận giao kết Hợp đồng chỉ có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện: “Thứ nhất, chấp nhận phải thể hiện sự đồng ý toàn bộ nội dung của đề nghị; Thứ hai, chấp nhận phải thể hiện dưới hình thức nhất định; Thứ ba, chấp nhận trong thời hạn nhất định”. Theo đó: hợp đồng chính là sự thỏa thuận của các bên được xác lập trên cơ sở thống nhất ý chí và phù hợp với ý chí của các bên, không vi phạm điều cấm pháp luật. Vì vậy, để tạo nên một Hợp đồng thì giữa đề nghị giao kết Hợp đồng với chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng phải có sự phù hợp nhất định về nội dung và ý chí. Vậy, sự phù hợp giữa đề nghị và chấp nhận đề nghị ở mức độ nào thì chấp nhận đó được xem là có giá trị để xác định Hợp đồng được giao kết.
Điều 396 BLDS 2005 (khoản 1 Điều 393 BLDS 2015) thì chấp nhận phải là hình ảnh phản chiếu của đề nghị giao kết Hợp đồng vì phải chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. Điều này có nghĩa là, bên được đề nghị phải chấp nhận toàn bộ, tuyệt đối và vô điều kiện đối với những nội dung của đề nghị giao kết Hợp đồng, nếu bên được đề nghị chỉ chấp nhận một phần nội dung của đề nghị hoặc đưa ra yêu cầu bổ sung, sửa đổi nội dung của đề nghị hay đưa ra những yêu cầu, điều kiện nhất định mới chấp nhận đề nghị thì đây không phải chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng mà được xem như một đề nghị giao kết Hợp đồng mới (theo Điều 395 BLDS 2005, Điều 392 BLDS 2015). Điều kiện này tương đồng với quy định của BLDS các nước trên thế giới và các văn bản pháp luật quốc tế. Cụ thể, theo Luật của Pháp thì chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng là sự thể hiện ý chí của bên nhận đề nghị về giao kết Hợp đồng. Theo đó, một đề nghị giao kết Hợp đồng được coi là chấp nhận khi bên nhận đề nghị trả lời chấp nhận lời đề nghị từ bên kia đưa ra và không yêu cầu bổ sung, sửa đổi bất kỳ nội dung nào của đề nghị đó. Chứng tỏ “nội dung trả lời chấp nhận đồng ý phải trùng khớp với những nội dung của đề nghị thì Hợp đồng mới được giao kết”. Trường hợp bên nhận được đề nghị đưa ra yêu cầu, điều kiện về việc thay đổi, bổ sung một số điều trong đề nghị giao kết thì những điều kiện đưa ra này được xem là một đề nghị mới, khi đó, bên đưa ra lời đề nghị ban đầu được xác định là bên nhận lời đề nghị.
Một trong những nguyên tắc, yêu cầu đặt ra khi trả lời chấp nhận giao kết Hợp đồng phải được thể hiện ra bên ngoài dưới một hình thức nhất định như bằng lời nói, văn bản, hành vi cụ thể như đã đề cấp ở trên. Vậy, sự im lặng hay không hành động của bên được đề nghị có được xem là chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng hay không? Theo ghi nhận tại BLDS năm 2005, Hợp đồng là sự thống nhất ý chí giữa các bên được thể hiện thông qua sự thỏa thuận. Do đó, các bên phải tiếp nhận của nhau, vì vậy sự im lặng hay không hành động của các bên được đề nghị giao kết Hợp đồng nói chung không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết. Quan điểm này dựa trên khoản 2 Điều 404 BLDS 2005, theo đó, BLDS 2005 không xem im lặng là chấp nhận mặc nhiên, mà chỉ thừa nhận một trường hợp duy nhất cho sự chấp nhận bằng im lặng, đó là khi có sự thỏa thuận giữa người đề nghị và người được đề nghị “im lặng là trả lời chấp nhận giao kết”. Đồng ý với quan điểm này, BLDS 2015 không thay đổi nhiều mà chỉ ghi nhận thêm trường hợp theo thói quen, im lặng là chấp nhận theo khoản 2 Điều 393 “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”. Như vậy, BLDS 2015 cũng chỉ ghi nhận trường hợp ngoại lệ như trên cho thấy pháp luật Việt Nam theo hướng im lặng không là chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng. Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Tương đồng với pháp luật Việt Nam, các luật gia của Pháp cũng cho rằng việc chấp nhận giao kết Hợp đồng phải thể hiện ra bên ngoài. Theo đó, sự im lặng được hiểu là hoàn toàn không có bất kỳ sự bày tỏ ý chí nào của bên được đề nghị, kể cả dưới hình thức ẩn ý, ngầm hiểu. Về nguyên tắc, không ai có thể dựa vào sự im lặng của bên được đề nghị để từ đó suy ra ý chí chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng của bên đó. Tuy nhiên, đối với trường hợp ngoại lệ như sau thì sự im lặng của bên được đề nghị có thể được xem là chấp nhận giao kết Hợp đồng.
Án lệ công nhận sự im lặng của bên được đề nghị đồng nghĩa với việc chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng trong 03 (ba) trường hợp sau: Thứ nhất, có mối quan hệ kinh doanh đã được thiết lập từ trước giữa các bên trong Hợp đồng; Thứ hai, có sự tồn tại của các tập quán thương mại, theo đó sự im lặng đồng nghĩa với chấp nhận giao kết Hợp đồng; Thứ ba, đề nghị Hợp đồng được đưa ra hoàn tòa vì lợi ích của bên được đề nghị.
Từ thực trạng pháp luật quy định về giao kết hợp đồng đối chiếu với thực tiễn thực hiện pháp luật nói cung và pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng không chỉ Việt Nam mà nhiều nước trên thế giới có nhiều điểm bất cập. Từ quy định đến thực tiễn đời sống pháp luật còn chứa đựng nhiều những rủi ro đặc biệt đối với bên chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Xét từ nguyên tắc của hợp đồng là tự do, tự nguyện, thiện chí, trung thực, ngay thẳng. Tuy nhiên, rất nhiều các giao dịch dân sự người mua, đại diện cho bên chấp nhận giao kết hợp đồng không có quyền lựa chọn, không có quyền tự do thỏa thuận, không có sự thống nhất ý chí mà quyền đó, ý chí đó phụ thuộc hoàn toàn vào ý chí cũng như quyết định của bên bán. Ví dụ cụ thể như Hợp đồng điện, nước, xăng dầu… hay đơn cử như một số các hợp đồng với một số tổ chức, đơn vị độc quyền buộc các đơn vị tham gia phải tuân thủ tuyệt đối theo các tiêu chuẩn, quy định, chính sách mà bên bán đề ra. Đây cũng là nhược điểm lớn nhất kìm hãm sự tự do hóa toàn cầu, xây dựng nền kinh tế thị trường lạnh mạnh, công bằng và dân chủ văn minh. Do đó, khi nghiên cứu pháp luật và xây dựng pháp luật cần hiểu rõ thực tiễn thực hiện pháp luật và có cơ chế kiểm tra, xử lý và điều chỉnh phù hợp.
2.2. Thực trạng các quy định pháp luật về thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thực tiễn áp dụng Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật về thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và pháp luật về hợp đồng của nhiều quốc gia trên thế giới hiện nay quy định “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải là sự đồng ý toàn bộ đối với đề nghị giao kết hợp đồng. Một biểu thị trả lời chấp nhận đề nghị nhưng chứa đựng bất kỳ sự sửa đổi, bổ sung nào so với đề nghị giao kết hợp đồng được coi là từ chối và cấu thành một đề nghị mới”.
Theo BLDS 2015, tại Điều 394 quy định về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng, theo đó: Tại Khoản 1. “Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời” và “Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý”. Ngoài ra, theo BLDS 2005 quy định về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng: “Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị” được quy định tại Khoản 1 Điều 397 thì BLDS 2015 đã tách biệt ra thành một khoản riêng quy định tại Khoản 2 Điều 394.
Pháp luật dân sự Việt Nam về thời hạn chấp nhận giao kết hợp đồng tại Điều 397, BLDS 2005 và được nhắc lại tại Khoản 3, Điều 394 BLDS 2015, theo đó: “Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị”.
Cách tiếp cận truyền thống được thừa nhận rộng rãi là thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp hoàn toàn với đề nghị giao kết hợp đồng. Một biểu thị đồng ý với đề nghị giao kết hợp đồng nhưng có kèm theo các sửa đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng được coi là từ chối và cấu thành đề nghị mới. Cách tiếp cận này hướng đến bảo đảm cao nhất sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể của hợp đồng Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Từ thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn kinh doanh thương mại, một số bộ luật dân sự và văn kiện quốc tế về luật hợp đồng được xây dựng vào giai đoạn sau này có cách tiếp cận khác biệt, theo đó, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có các sửa đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng. Mặc dù vẫn quy định về nguyên tắc, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng, tuy nhiên, trong trường hợp một biểu thị trả lời đồng ý kèm theo những điều khoản sửa đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng, với một số điều kiện nhất định, sẽ là một trong những điều kiện cơ bản xác lập thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Vậy, những sửa đổi, bổ sung nào sẽ làm thay đổi cơ bản nội dung của nhằm xác định thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng? Một số hệ thống pháp luật chỉ rõ những sửa đổi, bổ sung nào là thay đổi cơ bản nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng. Những điều khoản thay đổi về giả cả hoặc phương thức thanh toán, thời gian và địa điểm thực hiện nghĩa vụ phi tiền tệ, phạm vi trách nhiệm, giải quyết tranh chấp sẽ thường là các thay đổi cơ bản đối với chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Một yếu tố được xem xét là những điều khoản thay đổi, bổ sung đó có được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực thương mại có liên quan và do đó không gây bất ngờ cho bên đề nghị hay không.
Dưới bất kỳ hình thức nào, dù những quy định cụ thể hay mang tính khái quát, cách tiếp cận mới về sự phù hợp nhằm xác định thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, bên cạnh khẳng định nguyên tắc chung, thừa nhận ngoại lệ rằng, với những điều kiện nhất định, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể bao gồm những điều khoản khác biệt với đề nghị giao kết hợp đồng và hợp đồng được xác lập sẽ bao gồm các điều khoản khác biệt đó, ngoại trừ bên đề nghị phản đối ngay lập tức. Cách tiếp cận này thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong thực tiễn giao dịch dân sự và thương mại, phản ánh được ý chí thực của các bên mong muốn xác lập hợp đồng dù có những khác biệt không quan trọng so với ý chí ban đầu của bên đề nghị, đồng thời thúc đẩy việc giao kết hợp đồng được diễn ra nhanh chóng, nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ các điều kiện pháp lý.
Khi nghiên cứu pháp luật, dưới bất kỳ hình thức nào cũng cần lưu ý là các hệ thống pháp luật đã nêu trên đều dành cho bên đề nghị quyền tự quyết định về việc hợp đồng có được xác lập hay không với các sửa đổi, bổ sung đó. Bên đề nghị khi nhận được chấp nhận đề nghị sửa đổi có quyền phản đối những điều khoản sửa đổi, bổ sung này và do đó, hợp đồng không được xác lập. Tuy nhiên, với xu hướng thúc đẩy các hợp đồng được giao kết, các quy định pháp luật và một số văn kiện về hợp đổng nêu trên đều tiếp cận theo hướng bên đề nghị, nếu không đồng ý thì phải phản đối ngay lập tức các điều khoản sửa đổi, bổ sung đó, nếu không phản đối ngay lập tức và đó là sự phù hợp của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao kết hợp đồng. Đây cũng được xem là cơ sở thực tiễn nhằm xác lập thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng. Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 393, Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015): “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị” (tác giả nhấn mạnh). Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới (Điều 392 BLDS 2015). Quy định này kế thừa quy định của BLDS 2005 về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 396: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”. BLDS 1995 tại khoản 3 Điều 399, dù có diễn đạt khác biệt, cũng thể hiện tinh thần trên: “Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị, thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới”.
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự chấp nhận của bên được đề nghị đối với toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng. Các quy định khác về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của BLDS 2005 và BLDS 2015 không quy định bất kỳ ngoại lệ nào. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay được thể hiện trong các văn kiện pháp lý quốc tế về hợp đồng là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể chứa đựng các nội dung khác biệt với đề nghị giao kết hợp đồng, với điều kiện đây là nhưng khác biệt không mang tính căn bản so với nội dung của lời đề nghị giao kết. Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng như hội nhập quốc tế sâu rộng hơn.
2.3. Thực trạng các quy định pháp luật về hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thực tiễn áp dụng
Xác định thời điểm có hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mang một ý nghĩa quan trọng đảm bảo quyền và nghĩa vụ các chủ thể trong việc chấp nhận đề nghị giao kết và tính hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Việc xác định thời điểm chính xác bên được đề nghị có thể chấp nhận đề nghị từ đó làm cơ sở ràng buộc trách nhiệm pháp lý và nghĩa vụ dân sự với bên đề nghị đồng thời qua đó xác định trước khi đề nghị có hiệu lực, bên đề nghị có quyền rút lại đề nghị giao kết hợp đồng. Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng như thế nào khi chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng đáp ứng đầy đủ các điều kiện trên và hậu quả pháp lý sẽ ra sao?. Khi nghiên cứu chúng ta cần làm rõ các vấn đề về thời điểm có hiệu lực của chấp nhận, hiệu lực của chấp nhận, chấp nhận giao kết quá hạn, chậm hơn thời hạn quy định và rút lại thông báo chấp nhận đề nghị hay những vấn đề liên quan đến chấp nhận giao kết bị trị hoãn cần phân tích làm sáng tỏ.
Điều khoản bổ sung được hiểu là đề xuất bổ sung đối với hợp đồng. Giữa các thương nhân, các điều khoản bổ sung đó trở thành nội dung của hợp đồng trừ khi: “Đề nghị giao kết hợp đồng xác định giới hạn của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đối với đề nghị giao kết hợp đồng” và “Các điều khoản bổ sung đó thay đổi cơ bản nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng” đồng thời “Thông báo phản đối các điều khoản bổ sung này đã được gửi trong một thời hạn hợp lý sau khi bên đề nghị nhận được thông báo về điều khoản bổ sung”.Hành vi của hai bên thừa nhận hợp đồng là đủ để thiết lập hợp đồng dù các văn bản của các bên không thể hiện hợp đồng đã được xác lập. Trong trường hợp đó, các điều khoản cụ thể của hợp đồng sẽ bao gồm các điều khoản mà các bên đã thỏa thuận bằng văn bản và các điều khoản bổ sung theo các quy định khác của Đạo luật này.
Tại khoản 1 Điều 397 BLDS năm 2005 và nay là khoản 1 Điều 394 BLDS năm 2015 quy định “Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó”. Quy định này đã khẳng định nguyên tắc chung rằng: Một trả lời chấp nhận chậm trễ là không có hiệu lực. Ngoài ra, một trả lời chậm thời hạn quy định sẽ được xem là một đề nghị mới và theo đó, bên trả lời đề nghị sẽ trở thành bên đề nghị mới. Tuy nhiên, không quá cứng nhắc và dự liệu những trường hợp ngoại lệ, tại khoản 1 Điều 397 BLDS 2005 quy định ngoại lệ cho trường hợp trả lời chấp nhận chậm so với thời hạn quy định nhưng vẫn được coi như đến đúng hạn và có hiệu lực khi đáp ứng các điều kiện sau: “Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết Hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết Hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị” và nội dung này được giữ lại tại khoản 2 Điều 394 BLDS 2015. Như vậy, trả lời chấp nhận mà đến chậm so với thời hạn quy định nếu do sự kiện khách quan (lỗi của Bên thứ ba hoặc sự kiện bất khả kháng theo quy định) thì sẽ đưa đến hệ quả: nếu bên đề nghị không biết hoặc không buộc phải biết về lý do khách quan đã xảy ra thì chấp nhận đề nghị trễ hạn này không có hiệu lực và không hình thành Hợp đồng; ngược lại, nếu bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan đã xảy ra thì thông báo chấp nhận giao kết Hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ khi bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đến chậm đó của bên được đề nghị.
Như vậy, khi nghiên cứu thực trạng và thực tiễn pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trong đó nghiên cứu về hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng từ nguyên tắc của UNIDROIT, Công ước Viên, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới cũng như BLDS năm 2015 đã có sự phù hợp khi xử lý một đề nghị chấp nhận quá hạn: bên đề nghị vẫn coi một chấp nhận chậm trễ như là đến đúng hạn và còn hiệu lực với điều kiện ngay lập tức bên đề nghị thông báo cho Bên được đề nghị về việc này. Khi đó, ngay khi bên đề nghị nhận được chấp nhận thì Hợp đồng được coi là giao kết chứ không phải là khi bên đề nghị thông báo cho bên được đề nghị ý định coi sự chấp nhận chậm trễ này vẫn còn hiệu lực. Hơn nữa, xuất phát từ nguyên tắc căn bản nhất của pháp luật về dân sự đó là sự tự nguyện, bình đẳng nên dù ở bất kỳ thể chế pháp luật nào hay bộ nguyên tắc cơ bản nào thì ngoài những quy định mang tính khuôn thước theo quy định pháp luật, các chủ thể vẫn có thể đưa ra các quy định mang tính thống nhất chung.
2.4. Thực trạng các quy định pháp luật về thay đổi, rút lại chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thực tiễn áp dụng Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Thực tế cho thấy có không ít trường hợp bên được đề nghị đã gửi thông báo cho bên đề nghị về việc chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng, nhưng vì lý do nào đó họ lại muốn rút lại thông báo đã gửi đi đó. Vậy, việc rút lại chấp nhận đề nghị đã gửi đi trong trường hợp này có giá trị pháp lý không? Thời điểm rút thông báo có ý nghĩa rất lớn trong trường hợp này. Bởi một trong những nguyên tắc của BLDS đó chính là nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng giữa các bên trong giao kết Hợp đồng. Điều 400 BLDS 2005 và Điều 397 BLDS 2015 cho phép Bên được đề nghị giao kết Hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết Hợp đồng. Tuy nhiên, khác với đề nghị giao kết Hợp đồng, BLDS 2005 không cho phép bên được đề nghị sửa đổi, bổ sung trả lời chấp nhận. Nguyên nhân là do xuất phát từ nguyên tắc: chấp nhận giao kết Hợp đồng phải là chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. Do đó, nếu bên được đề nghị đưa ra thêm những sửa đổi, bổ sung trong nội dung của đề nghị thì những nội dung sửa đổi, bổ sung này được xem là đề nghị mới. Ngoài ra, khi lời chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng được rút lại sẽ được xem là bên được đề nghị không chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng nữa và Hợp đồng cũng không được hình thành. Vì vậy, việc bên được đề nghị rút lại thông báo trong trường hợp này bao hàm trong nó sự hủy bỏ chấp nhận. Đây cũng là lý do vì sao BLDS 2005 và BLDS năm 2015 không quy định về trường hợp hủy bỏ thông báo chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng.
Bên cạnh đó, BLDS Việt Nam năm 2015 cũng quy định rõ điều kiện để bên được đề nghị rút lại chấp nhận nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho bên đề nghị, tránh trường hợp bên được đề nghị lạm dụng mà tùy ý rút lại chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng. Theo đó, thông báo về việc rút lại chấp nhận giao kết Hợp đồng đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết Hợp đồng. Các phân tích ở trên đã lý giải cơ sở hình thành quy định này: Chúng ta đã thấy chấp nhận có hiệu lực từ thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận, nên việc rút lại chấp nhận đến bên đề nghị trước hay cùng thời điểm chấp nhận có hiệu lực thì việc rút lời chấp nhận này có giá trị và ngược lại, nếu rút lại thông báo chấp nhận đến bên đề nghị sau thời điểm nêu trên thì việc rút lại thông báo không có giá trị pháp lý. Đó chính là lý do phía trên có nói thời điểm rút thông báo có ý nghĩa rất lớn trong trường hợp bên được đề nghị rút lại thông báo chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng.
Chính vì vậy, nội dung này tiếp tục được ghi nhân và giữ nguyên trong BLDS 2015. Việc hướng luật hóa vấn đề thay đổi hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng hoặc kể cả chấm dứt chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng như vậy là thuyết phục và cần được duy trì và bảo lưu theo Điều 397 BLDS 2015 nhằm hướng tới giải phóng cho người đề nghị trước khi đề nghị chính thức có hiệu lực mà không có bất kỳ khó khăn hay phải chịu trách nhiệm pháp lý nào. Ngoài ra, cần xem xét điều kiện trong trường hợp bên chấp nhận chết, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Theo đó, chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng được giải quyết như thế nào nếu sau khi bên được đề nghị đưa ra trả lời cấp nhận mà chết, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Tài liệu này cho thấy cần quan tâm đến yếu tố nhân thân của người chết để xem xét hậu quả pháp lý. BLDS 2015 đã đi theo hướng này và ghi nhận tại Điều 396 như sau: “trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên được đề nghị”. Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Nghiên cứu thực trạng pháp lý ta có thể nhận thấy, nếu chấp nhận không chấp dứt thì chúng ta nên áp dụng tương tự hướng giải quyết liên quan đến đề nghị giao kết Hợp đồng đã được trình bày trong phần trước. Theo đó, nếu bên chấp nhận mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì chúng ta hãy để người đại diện của họ thực hiện thay họ. Còn nếu bên chấp nhận chết thì chúng ta nên theo hướng “quyền và nghĩa vụ của họ được đề nghị lúc này sẽ do người thừa kế của họ thực hiện”, ở trường hợp này chấp nhận “vẫn có giá trị” như BLDS quy định nhưng vẫn chưa “có hiệu lực” nếu chưa đến bên đề nghị nên người thừa kế hoàn toàn có quyền rút lại lời chấp nhận theo các quy định và điều kiện đã trình bày ở trên.
2.5. Thực trạng các quy định pháp luật về hủy bỏ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thực tiễn áp dụng
Việt Nam trên con đường phát triển và tiến trình hội nhập quốc tế, với mục tiêu xây dựng một Nhà nước việt Nam phát triển giầu mạnh trên nền tảng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đảng, Nhà nước Việt Nam xác định xây dựng một nhà nước kiến tạo, một nền kinh tế thị trường năng động, tạo sân chơi lành mạnh, công bằng và sức hút không chỉ nội lực mà toàn bộ nền kinh tế.
Trong đó, các quan hệ kinh tế xã hội phát triển đồng bộ với hành lang pháp lý cho các chủ thể khi tham gia các giao dịch dân sự, thương mại.
Thực tiễn BLDS 1995, BLDS 2005 và BLDS 2015 và thông qua quá trình nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực tiễn việc thực hiện pháp luật về hủy bỏ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hiện nay tác giả chưa tìm thấy bất kỳ một văn bản, quy định nào quy định cụ thể về điều kiện hủy bỏ chấp nhận giao kết hợp đồng mà nội dung này chỉ được quy định ở Điều 397, BLDS 2015, theo đó: “Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo về việc rút lại này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng”. Nếu theo Điều 397, trường hợp đã gửi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đến bên đề nghị giao kết hợp đồng thì Bên được đề nghị sẽ không thể hủy đề nghị vì vượt quá các quy định pháp luật. Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Pháp luật dân sự cũng đưa ra một số trường hợp đặc biệt, trong đó nêu tại Điều 395, BLDS 2015: “Trường hợp bên đề nghị chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi sau khi bên được đề nghị trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng thì đề nghị giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên đề nghị” và Điều 396 nêu rõ: “Trường hợp bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng sau đó chết, mất năng lực hành vi dân sự hoặc có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì việc trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có giá trị, trừ trường hợp nội dung giao kết gắn liền với nhân thân bên được đề nghị”. Như vậy, theo pháp luật dân sự Việt Nam dù trong một số trường hợp đặc biệt như quy định tại Điều 395 & 396 thì chấp nhận vẫn còn hiệu lực và không thể hủy bỏ.
Vậy để tìm kiếm giải pháp cho các bên tranh chấp trong trường hợp bên đề nghị đã nhận được thông báo chấp nhận đề nghị tuy nhiên sau đó bên được đề nghị muốn hủy thông báo chấp nhận thì chúng ta phải dự đoán hai bên có thể tận dụng nguyên tắc nào đó đã được qui định rõ ràng liên quan tới tranh chấp này. Tại đây chỉ nói tới cách thức tiếp cận vấn đề hơn là tìm kiếm giải pháp cụ thể cho tranh chấp này. Có hai nguyên tắc gần gủi nhất với tranh chấp này mà BLDS 2005 đã nêu ra một cách tương đối rõ ràng. Nguyên tắc thứ nhất: Chấp nhận phải trùng khít với đề nghị (Điều 396). Nguyên tắc thứ hai: Sự thống nhất ý chí được thể hiện dưới mọi hình thức (Điều 401). Theo đó, Bên đề nghị có thể tận dụng nguyên tắc thứ nhất để cho rằng chấp nhận còn hiệu lực còn Bên chấp nhận có thể tận dụng nguyên tắc thứ hai để cho rằng chấp nhận không có hiệu lực để hủy lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và có thế ngược lại. Vậy cơ quan tài phán phải cân nhắc giữa hai nguyên tắc này xem nguyên tắc nào được ưu tiên trong trường hợp cụ thể này. Thông thường chấp nhận được chia thành nội dung của chấp nhận, và hình thức của chấp nhận và điểm cuối cùng của chấp nhận chính là Hợp đồng. Hình thức của hợp đồng được nói tới tại đó được xem như hình thức của sự thống nhất ý chí mà các bên có thể gặp mặt hay trao đổi trực tiếp bằng lời nói hoặc cùng nhau xem xét trên một bản hợp đồng được soạn thảo và đều phải “ký” tên vào văn bản này, có nghĩa là không đề cập tới phương thức giao kết hợp đồng với người vắng mặt hoặc không trao đổi trực tiếp. Nghiên cứu BLDS 2015, không còn quy định về hình thức hợp đồng và tại Điều 398 quy định về nội dung hợp đồng, theo đó, tại Khoản 1, Điều 398 chỉ rõ: “các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về nội dung” đồng thời tại Khoản 2 điều này có hướng dẫn áp dụng một số điều khoản chứa đựng trong hợp đồng. Vì vậy, trong trường hợp muốn hủy chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng có thể dựa trên yếu tố về bất đồng ý chí để đi đến việc hủy chấp nhận khi pháp luật Việt Nam và thế giới chưa rõ ràng.
Bên cạnh những mặt tích cực, pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập. Mặc dù có sự chỉ đạo của các cơ quan chức năng có thẩm quyền, đường lối chính trị đúng đắn của nhà nước, tuy nhiên, trong xã hội vẫn tồn tại một bộ phận không nhỏ thực hiện pháp luật trái với quy định nhà nước, có thể gọi là vi phạm pháp luật và tội phạm. Từ thực tế trên cho thấy ý thức, nhận thức giới hạn về pháp luật, kém hiểu biết và ảnh hưởng xấu tới sự ổn định và trật tự an toàn xã hội. Bên cạnh đó, tồn tại những hạn chế bất cập điển hình, còn mâu thuẫn, chồng chéo giữa các quy định giữa pháp luật dân sự với các luật chuyên ngành, các quy định thường mang tính chung chung, không rõ ràng giữa luật hình thức và nội dung. Xuất phát từ nguyên tắc cơ bản của BLDS là tự do ý chí, tự định đoạt nhưng đôi khi pháp luật lại điều chỉnh quá chi tiết vào các quyền đương nhiên của các chủ thể khi thực hiện lời đề nghị hoặc lời chấp nhận đề nghị giao kết. Vì lẽ đó, trong thực tiễn đời sống xã hội, việc hủy chấp nhận giao kết hợp đồng thường xuất phát từ nhu cầu và từ ý chí của các bên.
Tiểu kết Chương 2 Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Tiến trình hội nhập và phát triển, hệ thống pháp luật Việt Nam, trong đó pháp luật dân sự đã khẳng định vị thế và phát huy vai trò với tư cách là một đạo luật gốc để giải quyết các hệ dân sự trong đời sống xã hội. BLDS 2015 được đánh giá là bộ luật tiến bộ, có nhiều điểm mới và mở rộng cho các chủ thể tham gia hợp đồng về quyền tự quyết định nội dung hợp đồng đồng thời cũng nhằm hạn chế sự can thiệp không cần thiết của các cơ quan quản lý nhà nước trong việc tổ chức thực hiện hợp đồng. Đồng thời BLDS 2015 cũng chứa đựng cũng kế thừa và tiếp thu thực trạng pháp luật quốc tế, trong đó có các quy định về quyền, nghĩa vụ về “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng”.
Tuy nhiên, các chế định pháp luật nói chung và chế định pháp luật về dân sự nói riêng, trong đó “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” cũng chịu sự chi phối lớn bởi nguyên tắc đảm bảo tính định hướng của nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, vừa phải tôn trọng các thể chế hóa vừa phải phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế. Do vậy, khi nghiên cứu pháp luật về dân sự trong đó có chế định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cần xem xét không chỉ là những vấn đề chỉ mang tính nguyên tắc mà phải xem xét tổng quan, so sánh, phân tích đa chiều từ nội pháp lý và thực tiễn xã hội.
Thực tiễn nghiên cứu pháp luật dân sự, trong đó có BLDS 2015 về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cho thấy: “những quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong đó những vấn đề về khái niệm, nguyên tắc chung, tính phù hợp của chấp nhận, việc thay đổi, rút lại lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hoặc hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng hiện nay còn nhiều bất cập và chịu sự điều chỉnh của nhiều quy định pháp luật khác nhau. Vì vậy, việc nghiên cứu làm rõ những vấn đề pháp lý và thực tiễn về pháp luật dân sự về hợp đồng nhằm thích ứng và phù hợp với xu thế hội nhập quốc tế hiện nay, pháp luật cần nghiên cứu và hoàn thiện pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
