Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo Bộ luật dân sự năm 2015 dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hội nhập và phát triển là xu thế và nhu cầu tất yếu của bất kỳ một quốc gia, dân tộc hay một tổ chức kinh tế, xã hội nào hiện nay. Hội nhập cũng chính là nền tảng, là cơ sở để tiếp cận, tiếp thu nền tảng khoa học, công nghệ và hợp tác giao thương toàn cầu. Trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của Việt Nam hiện nay, hoạt động thương mại, xúc tiến đầu tư, hợp tác quốc tế luôn được Đảng, Nhà nước quan tâm, tạo điều kiện để phát triển kinh tế xã hội để xây dựng một Việt Nam hùng cường trên con đường xã hội chủ nghĩa.
Trong những năm gần đây, chính sách phát triển kinh kế xã hội được xem là một trong những mục tiêu mang tầm chiến lược, tuy nhiên, trong thực tế việc phát triển và phát triển ổn định an toàn, kiểm soát rủi ro và nhận thức đầy đủ vai trò của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng cũng như các đặc tính của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong các tổ chức, doanh nghiệp tại Việt Nam chưa được đánh giá đúng hoặc chưa được xem trọng. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng không chỉ là cơ sở nhằm xác lập các quan hệ trong các giao dịch kinh tế, dân sự, là cơ sở pháp lý để các tổ chức, cá nhân tiến hành xác lập các mối quan hệ hợp tác bằng hợp đồng và thông qua hợp đồng. Đây không chỉ là sự thỏa thuận, sự thống nhất ý chí của các bên trên cơ sở tự do, tự nguyện, thiện chí mà còn là cơ sở để đảm bảo điều kiện lõi nhằm xác định và thống nhất các điều kiện, phạm vi trong các quan hệ kinh doanh, thương mại và là cơ sở thống nhất điều kiện, điều khoản khi tiến hành thực hiện hợp đồng.
Trong thực tiễn, hợp đồng được tạo ra bởi sự gặp gỡ, thống nhất về ý chí giữa bên đề nghị giao kết hợp đồng và bên chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, khi một trong hai bên không thống nhất “sự gặp nhau của ý định” không trùng sẽ không thể thực hiện giao kết, không có đề nghị thì sẽ không có chấp nhận đề nghị và không có chấp nhận đề nghị thì giao dịch không thể đi đến thành công. Thông qua quá trình nghiên cứu pháp luật hợp đồng cũng như thực tiễn của pháp luật về hợp đồng, trong đó có pháp luật về quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, Nhà nước Việt Nam đã xây dựng và ban hành nhiều quy định như: “Pháp lệnh Hợp đồng kinh tế năm 1989”, Pháp lệnh Hợp đồng dân sự năm 1991, Bộ luật dân sự 1995, BLDS năm 2005 và gần đây là BLDS năm 2015. Đến nay, BLDS 2015 đã đi vào thực tiễn và được đánh giá là bộ luật có nhiều quy tiến bộ, nhiều điểm mới về các quan hệ hợp đồng, đồng thời Bộ luật này cũng đã tháo gỡ nhiều vướng mắc trong giao kết hợp đồng giữa các chủ thể tham gia các quan hệ pháp luật về giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, việc áp dụng các quy định thực tế của BLDS mới còn nhiều lúng túng, bất cập và tồn tại những khuyết cần được tiếp tục xem xét, nghiên cứu hoàn thiện, trong đó có những quy định pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Xuất phát từ lý do trên, việc nghiên cứu luận văn thạc sĩ về đề tài “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo Bộ luật dân sự năm 2015” là cần thiết mang ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn không chỉ góp phần hoàn thiện về phương diện pháp lý trong lĩnh vực đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng mà còn là nền tảng căn cơ nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật kinh tế, dân sự, thương mại ở Việt Nam nói chung.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Trong quá trình hội nhập nên kinh tế toàn cầu, nền kinh tế Việt nam đang hội nhập cùng nền kinh tế thế giới, cơ hội hợp tác và mở rộng giao thương với nhiều loại chủ thể và thành phần kinh tế xã hội. Cùng với đó, việc nghiên cứu thực tiễn và những quy định pháp luật về giao kết hợp đồng nói chung và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng luôn là đề tài mang tính thời sự của nhiều nhà khoa học trong lĩnh vực luật học mà còn là sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu pháp lý, tổ chức kinh tế chính trị, doanh nghiệp trong nhiều lĩnh vực khác nhau đặc biệt trong nền kinh tế hiện đại.
Trên thế giới, những điển hình nghiên cứu về hợp đồng và chấp nhận giao kết hợp đồng được công bố, trong đó điển hình là Lý thuyết hợp đồng (contract theory) đạt giải Nobel kinh tế năm 2016 của giáo sư Oliver Hart của đại học Harvard và Bengt Holmstrom của Viện Công nghệ Massachusetts giúp giải tỏa các mâu thuẫn trong bối cảnh nền kinh tế hiện đại, mà vẫn duy trì được tính cạnh tranh. Bên cạnh đó, các công trình tiêu biểu như: Sir William R. Anson (1965), Principles of the English Law of Contract and of Agency in its Relation to Contract, Twentysecond edition, Oxford at the Clarendon Press; David E. Allan & Mary E. Law of Contract in Australia, 2nd edition, Key Text, Australia của tác giả Hiscock (1992), John Cartwright và tác gải Martijn W. Hesselink (2011) với đề tài Precontractual Liability in European Private Law, Cambrige…
Ở Việt Nam hiện nay, chưa có công trình hay sách chuyên đề nào nghiên cứu tổng quan một cách hệ thống, chi tiết và đầy đủ về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Nội dung về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng vẫn còn riêng lẻ, tản mạn trong các công trình nghiên cứu phổ biến như: Tác giả Nguyễn Như Phát và lê Thị Thu Thủy (đồng chủ biên), 2003, Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về pháp luật hợp đồng ở Việt Nam hiện nay, Nxb Công an Nhân dân, Hà Nội; Tác giả Phạm Hoàng Giang (2006) “Sự phát triển của pháp luật hợp đồng: từ nguyên tắc tự do giao kết hợp đồng đến công bằng” Nhà nước và pháp luật số 10; Tác giả Nguyễn Ngọc Điện (2009) “Hoàn thiện chế độ pháp lý về xác lập hợp đồng” Tạp chí nghiên cứu lập pháp số 19; Tác giả Ngô Huy Cương (2008) “Bàn về khái niệm và các điều kiện của chấp nhận giao kết hợp đồng theo Bộ luật dân sự 2005” Dân chủ pháp luật số 01; Tác giả Ngô Huy Cương (2010), “Đề nghị giao kết hợp đồng theo pháp luật Việt Nam”, Tạp chí nhà nước và pháp luật số 2; Ngô Huy Cương (2010), “Hiệu lực của chấp nhận giao kết hợp đồng theo BLDS 2005 – nhìn từ góc độ luật so sánh” Viện Nghiên cứu lập pháp, số 09; Lê Thị Diễm Phương (2013), Đề nghị và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng – nhìn từ góc độ so sánh, Khoa học pháp lý, Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, số 2, tr.68/74;
Với tính chất thời sự của đề tài, trong thực tiễn ở nước ta vẫn chưa có công trình nghiên cứu toàn diện nào về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Các nội dung nghiên cứu và cả các văn bản pháp luật Nhà nước cũng chưa xây dựng, cung cấp, hướng dẫn đầy đủ, chính xác, kịp thời về giao kết hợp đồng đặc biệt đối với vấn đề chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo BLDS năm 2015 của Việt Nam hiện nay. Vì vậy, việc nghiên cứu và chọn lựa đề tài nghiên cứu “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” không chỉ mang ý nghĩa về luật học mà còn mang tính thực tiễn cho các tổ chức kinh tế, xã hội trong quá trình thực hiện giao kết hợp đồng cũng như xây dựng pháp lý hiện nay. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật ở Việt Nam, làm rõ những hạn chế, bất cập và nguyên nhân của nó, luận văn đưa ra giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về hợp đồng nói chung và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn với mục đích trọng tâm tập trung phân tích làm sáng tỏ các vấn đề sau đây:
- Nghiên cứu vấn đề lý luận về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng như khái niệm, đặc điểm, bản chất, ý nghĩa của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng;
- Nghiên cứu lý luận, phân tích, đánh giá một cách toàn diện, đa chiều về thực trạng pháp luật cũng như thực tiễn chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nói riêng theo pháp luật Việt Nam hiện
- Kiến xuất giải pháp và phương hướng nhằm góp phần đổi mới, kiện toàn quy định pháp luật Việt Nam về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu các quy phạm pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong BLDS năm 2015, có nghiên cứu so sánh pháp luật quốc tế điển hình về hợp đồng và giao kết hợp đồng cũng như các quy định của BLDS năm 1995, BLDS 2005 liên quan đến chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Trong phạm vi đề tài nghiên cứu, tác giả luận văn không nghiên cứu tất cả những điểm mới về pháp luật hợp đồng mà chỉ tập chung vi nghiên cứu giới hạn điểm quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo BLDS năm 2015 và một số văn bản pháp luật chuyên ngành tiêu biểu liên quan đến chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng từ đó tìm ra những điểm mới, chỉ ra những giới hạn, những điểm còn chưa thống nhất giữa các văn bản pháp luật và kiến nghị những giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật về chấp nhận giao kết hợp đồng..
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Kế thừa những kết quả nghiên cứu khoa học và lý luận thực tiễn về hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đã được công bố vận dụng vào thực tiễn và nghiên cứu. Trên cơ sở xem xét, so sánh tính phổ biến, tính đặc thù, tập quán pháp, kết hợp giữa lý luận và thực tiễn trong việc nghiên cứu và giải quyết các vấn đề, phương pháp luận giải, tham vấn đa chiều ý kiến của các chuyên gia trong lĩnh vực luật, triết học …nhằm làm sáng tỏ mục đích nghiên cứu của đề tài.
Luận văn được nghiên cứu bằng việc phối hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khoa học như: phân tích, tổng hợp, so sánh đặc biệt trên góc nhìn luật học Việt Nam và thế giới, khảo sát thực tiễn. Phương pháp trong luận văn nghiên cứu được thực hiện trên nền tảng của phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, đường lối chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội và luật pháp của Đảng và Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn hệ thống hóa được những vấn đề lý luận cơ bản của pháp luật về hợp đồng trong đó tập trung nghiên cứu pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, giải tỏa các mâu thuẫn thực tiễn về pháp lý trong việc xây dựng và hoàn thiện khung pháp luật của Việt Nam về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Kết quả nghiên cứu đề tài này cũng đưa ra cái nhìn tổng quan thông qua việc phân tích hiện trạng pháp luật và thực tiễn đời sống dân sự trong phạm vi đề tài nghiên cứu về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Theo đó, luận văn đã chỉ ra những ưu việt và những hạn chế trong BLDS năm 2015 nói riêng và hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung. Kết quả nghiên cứu của luận văn đã cung cấp các cơ sở pháp lý hữu hiệu, trình tự và những giải pháp tổ chức, thực hiện, giúp giải tỏa các mâu thuẫn xuất hiện phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng, đồng thời là cơ sở để thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự về đề nghị chấp nhận giao kết hợp đồng hữu hiệu trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.
7. Kết cấu của luận văn Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Cơ cấu của luận văn, ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng ở Việt Nam và thực tiễn áp dụng.
- Chương 3: Phương hướng hoàn thiện pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và các giải pháp hoàn thiện pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng ở Việt Nam hiện nay.
Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CHẤP NHẬN ĐỀ NGHỊ GIAO KẾT HỢP ĐỒNG
1.1. Khái quát chung về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
1.1.1 Khái niệm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Bộ từ điển luật học Black’s Law Dictionary định nghĩa: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được hiểu là sự đồng ý của bên được đề nghị đối với các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị, một cách rõ ràng hoặc ngầm định bằng hành vi, theo hình thức được thừa nhận hoặc theo yêu cầu của bên đề nghị, theo đó hợp đồng được xác lập và ràng buộc các bên. Nếu một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có sửa đổi các điều khoản hoặc bổ sung các điều khoản mới, nó thường là một đề nghị giao kết hợp đồng mới”.
Pháp luật của CHLB Nga về giao kết hợp đồng, tại khoản 1, Điều 438 Bộ luật dân sự CHLB Nga chỉ ra: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị giao kết hợp đồng về việc đề nghị giao kết hợp đồng được chấp nhận. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là chấp nhận toàn bộ và vô điều kiện”. Ngoài ra, Điều 438, khoản 2 của Bộ luật này qui định: “Sự im lặng không được xem là chấp nhận, trừ khi có sự khác biệt phát sinh từ pháp luật, từ tập quán kinh doanh, hoặc từ quan hệ trước đó giữa các bên”. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Theo diễn giải của các luật gia Unidroit: việc chấp nhận bằng hành động trước tiên với việc phân loại đề nghị. Họ ngụ ý rằng, đề nghị có thể được chia thành hai loại căn cứ vào điều kiện về hình thức chấp nhận: Một loại là đề nghị có qui định hình thức chấp nhận; và loại kia là đề nghị không qui định hình thức chấp nhận.
Ví dụ: Đối với loại thứ hai này, việc chấp nhận bằng hành động thông thường được thể hiện qua việc thực hiện một số công việc như thanh toán trước một phần giá hàng hóa, vận chuyển hàng hóa hoặc bắt đầu xây dựng tại mặt bằng…
Những quan niệm này xuất phát trên nền tảng tự do ý chí, tôn trọng tối đa sự thỏa thuận, sự thống nhất ý chí mà không câu nệ bởi hình thức và bảo đảm nguyên tắc thiện chí, trung thực và hợp tác. Im lặng có phải là chấp nhận mặc nhiên không? Đó là vấn đề tranh luận sôi nổi. Unidroit đã thể hiện rõ quan điểm về vấn đề này là im lặng hoặc không hành động tư bản thân chúng không phải là chấp nhận như đã nói ở trên. Bộ luật Dân sự năm 2005 cũng không xem im lặng là sự chấp nhận mặc nhiên, mà chỉ thừa nhận một trường hợp cho sự chấp nhận bằng im lặng khi có sự thỏa thuận giữa người đề nghị và người được đề nghị “im lặng là sự trả lời chấp nhận giao kết” hợp đồng (Điều 404, Khoản 2).Tuy nhiên để có được hiểu biết rõ ràng hơn về các qui định này của Bộ luật Dân sự năm 2005, cần phải giải thích sự thỏa thuận của hai bên về vấn đề này được thể hiện ở đâu: (1) Trong nội tại của đề nghị rồi được người được đề nghị thông báo đồng ý riêng về vấn đề đó; hay (2) Trong đề nghị bổ sung rồi được người được đề nghị thông báo chấp nhận vấn đề đó trong đề nghị bổ sung; hay (3) Trong mọi thỏa thuận khác; hay (4) Trong tập quán; hay (5) Trong thói quen quan hệ giữa hai bên. Unidroit đã có sự nhắc nhở: Người đề nghị không thể đơn phương tuyên bố trong đề nghị của mình rằng đề nghị được coi là chấp nếu không trả lời hoặc giữ im lặng, bởi người đề nghị là bên đề xướng hợp đồng và người được đề nghị có quyền tự do lựa chọn trả lời hoặc phớt lờ lời đề nghị.
Bộ luật dân sự Bắc Kỳ năm 1931 phân biệt sự tuyên bố ý chí chấp nhận rõ ràng và mặc nhiên chấp nhận. Điều 653 và Điều thứ 654 của Bộ luật này và tương ứng là Điều thứ 689 và Điều thứ 690 của Bộ luật Dân sự Trung Kỳ năm 1936 có nội dung tương tự như nhau: theo đó, quy định tài Điều thứ 653. Đồng ý là ý nguyện của mọi bên có quan hệ trong hiệp ước đều thoải hợp nhau cả. Trong trường hợp nếu có một bên không đồng ý thì hiệp – ước cũng không thành. Ngoài tra, theo quy định tài Điều 654 nêu rõ: “sự đồng ý có thể tỏ ra bằng lời nói hoặc bằng giấy tờ, sự đồng ý cũng có thể tùy vào tình trạng mà cho là mặc nhiên ám chỉ được”. Từ đây có thể nhận thấy việc chấp nhận bằng lời nói, bằng văn bản thể hiện việc tuyên bố rõ ràng ý chí của người chấp nhận và có hiệu lực nếu tuân thủ đầy đủ các điều kiện của chấp nhận.
Theo BLDS 2015 quy đinh tại Điều 393, Khoản 1 có định nghĩa chính thức như sau: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. Định nghĩa này không có sự thay đổi so với BLDS 2005 được nêu tại Điều 396. Trong BLDS 2012 có sự khác bổ sung khoản 1 Điều 393, theo đó: “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”. Điều 394, BLDS 2015 về thời hạn trả lời tại Khoản 1 quy định: “Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời đồng thời khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý”. Soi chiếu Điều 397 BLDS 2005 có thể nhận thấy BLDS 2015 đã có những điểm mới quy định rõ hơn về thời hạn chấp nhận giao kết hợp đồng.
Như vậy, dưới góc độ pháp lý, có thể thấy điểm chung nhất giữa BLDS Việt Nam năm 1995, BLDS 2005 và BLDS 2015 cũng như các văn bản quốc tế đều cố gắng đưa ra những định nghĩa chính thức trong văn bản về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng với mục đích giảm thiểu tranh luận và thống nhất chung về “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng”. Khi nghiên cứu về pháp luật dân sự có thế nhận thấy đó là những điểm ưu việt của hệ thống pháp luật Việt Nam trong bối cảnh hội nhập kinh tế toàn cầu hiện nay nhằm làm sáng tỏ và xác định mối quan hệ pháp luật để biết rõ đó có phải là sự chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hay không làm tiền đề minh chứng rõ ràng, đầy đủ hơn và là từ khóa quan trọng nhất về khái niệm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chỉ có hiệu lực khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện hay tiêu chuẩn của chấp nhận”.
1.1.2. Đặc điểm pháp lý của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Theo pháp luật Việt Nam nói chung và BLDS Việt Nam qua các thời kỳ 1995, BLDS 2005 và BLDS 2015 không có khái niệm hoặc định nghĩa cụ thể nào và đặc điểm pháp lý của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Tuy nhiên, phân tích từ thực căn cứ pháp luật dân sự cũng như thực tiễn đời sống xã hội, đặc điểm pháp lý cơ bản của chấp nhận hợp đồng thể hiện qua những hình thức sau đây:
Thứ nhất, đặc điểm pháp lý là sự thỏa thuận thống nhất về ý chí và ý chí đó phải phù hợp ý chí, đường lối chủ trương của của Nhà nước, không đi ngược lại quy định pháp luật và đạo đức xã hội. Nếu sự chấp nhận mang tính ép buộc, không xuất phát trên tinh thần tự nguyện, không có sự thống nhất ý chí thì chấp nhận đó dù có được xác lập nhưng vẫn bị tuyên vô hiệu khi có yêu cầu.
Thứ hai, mang đặc điểm của làm phát sinh hậu quả pháp lý. Khi chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng đồng nghĩa việc các bên tham gia đã thống nhất ý chí thông qua việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền nghĩa vụ dân sự của các chủ thể tham gia giao kết hợp đồng. Theo đó, sự kiện pháp lý biến thành hành vi mà pháp luật quy định khi xuất hiện sẽ được xác lập, thay đổi hay chấm dứt và nhu cầu, mục đích tham gia các quan hệ dân sự nhằm thỏa mãn mục đích của mình. Ví dụ: Hợp đồng mua bán hàng hóa phát sinh hiệu lực làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ của bên mua hàng hóa và bên bán hàng hóa. Bên mua phát sinh nghĩa vụ thanh toán tiền hàng còn bên bán phát sinh nghĩa vụ giao hàng.
Thứ ba, đặc điểm quan trọng tiến quyết của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chính là chấp nhận các điều kiện, điều khoản cũng như thống nhất ý chí, điều kiện, điều khoản, quyền và nghĩa vụ mà các chủ thể tham gia hợp đồng quy định cho nhau và buộc các bên thực hiện theo đúng cam kết của mình. Sự thống nhất ý chí, quy định quyền, nghĩa vụ của các Bên ngoài quyền tự do của chủ thể còn phải phù hợp với ý chí của Nhà nước để Nhà nước kiểm soát, cho phép Hợp đồng dân sự và điều kiện chấp nhận hợp đồng phát sinh trên thực tế. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Thứ tư, mang đặc tính mục đích giao kết, mục đích của của hợp đồng dân sự nói chung và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là thể hiện quyền, lợi ích hợp pháp, không trái đạo đức xã hội mà các bên, các chủ thể tham gia cùng hướng tới. Đặc điểm quan trọng nhất, dễ nhận diện khi và chỉ khi mục đích của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng dân sự được chứng minh hoặc được thừa nhận là hợp pháp, không trái đạo đức xã hội thì hợp đồng dân sự mới phát sinh hiệu lực, qua đó quyền và nghĩa vụ của các bên mới có thể thực hiện được trên thực tế.
Hệ thống pháp luật Common Law chỉ ra rằng: “việc giao kết hợp đồng giữa những người ở xa nhau thường được nhắc tới với lời nhắn nhủ rằng chấp nhận nên được lập theo cách thức được gợi ý bởi đề nghị, chẳng hạn một đề nghị được gửi qua đường thư từ có thể là một gợi ý hợp lý rằng chấp nhận nên gửi theo đường thư từ nếu không có phương thức khác đã được gợi ý”.
BLDS Quebec (Canada) khi nói đặc điểm của hợp đồng cũng như chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nhấn mạnh về hiệu lực của hợp đồng có quy định rằng: “Điều 1440. Hợp đồng chỉ có hiệu lực giữa các bên kết ước; nó không ảnh hưởng tới người thứ ba, trừ khi luật có quy định. Điều 1441. Với sự kiện chết của một trong các bên, quyền và nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng chuyển cho người thừa kế của người chết, nếu bản chất của hợp đồng cho phép như vậy”.
Điều 444 BLDS Liên bang Nga quy định về điều kiện cũng như đặc điểm của hợp đồng chính là địa điểm thực hiện giao kết hợp đồng: “Nếu không có nơi giao kết hợp đồng nào đã được chỉ ra trong hợp đồng, thì nơi giao kết hợp đồng được xem là nơi cư trú của công dân hoặc nơi cư sở của pháp nhân đã đưa ra đề nghị”. Tuy nhiên đặc điểm này khi xác định nơi giao kết hợp đồng ngày nay chỉ có tác dụng duy nhất liên quan tới hợp đồng có yếu tố nước ngoài để làm căn cứ lựa chọn luật áp dụng đối với hình thức hợp đồng.
- Bản chất của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Nếu đề nghị giao kết Hợp đồng là sự thể hiện ý chí của bên đề nghị thì chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng chính là sự thể hiện ý chí của bên chấp nhận đề nghị. Do đó, việc nghiên cứu lý luận và thực tiễn về bản chất của chấp nhận giao kết hợp đồng là nền tảng quan trọng trong việc xác định quan hệ hợp đồng hay nói cách khác là cơ sở xác lập hợp đồng trong tương lai. Theo đó, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng xét về bản chất là sự đồng ý của bên được đề nghị đối với đề nghị giao kết hợp đồng. Về hình thức, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể dưới hình thức rõ ràng (bằng văn bản hoặc bằng lời nói) hoặc bằng hành vi cụ thể trong những trường hợp nhất định. Về nội dung, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với đề nghị giao kết hợp đồng. Một thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có chứa đựng những sửa đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng thường không được coi là chấp nhận mà là một đề nghị mới. Đây cũng là nhận thức được thừa nhận bởi hiều công trình khoa học về luật hợp đồng cũng như được ghi nhận tại nhiều đạo luật của các nước, các công ước và văn kiện có tính quốc tế về hợp đồng.
Bản chất của chấp nhận hợp đồng chính là tự nguyện thỏa thuận giữa các chủ thể bình đẳng và không bình đẳng. Sự bình đẳng của các chủ thể hợp đồng bao gồm bình đẳng về sức mạnh kinh tế, bình đẳng về kinh nghiệm thương mại và bình đẳng về thông tin và tiếp cận thông tin. Trong những trường hợp này có thể nói các bên có điểm xuất phát là ngang nhau. Và việc pháp luật tôn trọng và thừa nhận sự tự nguyện thỏa thuận của họ sẽ mang lại những hiệu quả kinh tế như đã được đề cập đến ở trên. Bởi lẽ sự thừa nhận này của pháp luật khuyến khích các chủ thể phát huy tối đa năng lực của các chủ thể. Sự bình đẳng nói trên giữa các chủ thể trong giao dịch chỉ là tương đối và chỉ tồn tại trong thời kỳ tự do kinh tế (laissez- faire), khi mà lý thuyết bàn tay vô hình được coi là nền tảng của kinh tế học. Nghiên cứu cho thấy rằng, vào thời kỳ laissez- faire, các chủ thể có tiềm lực kinh tế tương đương, bởi gần như tất cả đều có điểm xuất phát như nhau, độc quyền và vị trí thống lĩnh thị trường chưa tồn tại, phạm vi hoạt động thương mại chưa đủ rộng và kinh nghiệm trong hoạt động thương mại của các chủ thể, của các nhà buôn là tương đương bởi lẽ các nhà buôn cùng mới tham gia vào thị trường. Cũng vào thời kỳ này có thể nói mức độ có và tiếp cận thông tin như nhau, bởi lẽ khi đó vì khoa học công nghệ chưa phát triển nên cấu trúc của hàng hóa đơn giản. Hơn nữa khi tiềm lực kinh tế và kinh nghiệm ở mức độ tương đương thì sự bất đối xứng về thông tin cũng chưa gây hại cho các chủ thể và cho thị trường.
Maynard J. Keynes đã nhận xét rằng, “Các đặc trưng của trường hợp đặc biệt do lý thuyết cổ điển giả định không phải là những đặc trưng của xã hội kinh tế mà trong đó chúng ta đang sống”. Vấn đề này về sau cũng được John Jawls đề cập đến trong Lý thuyết về công lý. John Jawls cho rằng, “các thỏa thuận bình đẳng chỉ có thể đạt được khi không ai có thể biết được vị trí của mình trong xã hội, không ai có thể biết được về năng lực của họ, phẩm chất của họ so với người khác, không ai thông minh hơn ai”. Ông giả thiết là “tất cả các chủ thể đứng sau bức màn vô minh và không ai có bất kỳ lợi thế hơn ai. Cũng chính vì vậy nên không ai có hành vi cơ hội. Và vì tất cả đều có vị thế ngang nhau nên mọi thỏa thuận đều rõ ràng, minh bạch. Tuy nhiên bức màn vô minh chỉ là giả định. Thực tế thì không có sự bình đẳng thực sự giữa các chủ thể. Vì vậy thỏa thuận thường cũng khó có thể bình đẳng. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Ngoài ra, khi nghiên cứu bản chất của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trên nguyên tắc tự nguyện tham gia giao dịch một cách tự do và tự nguyên nhưng không có tự do. Nếu nói, bản chất của hợp đồng là sự thỏa thuận. Cả lý thuyết và thực tiễn cho thấy rằng, tồn tại hai loại thỏa thuận: i) thỏa thuận trên cơ sở tự nguyện được pháp luật thừa nhận và bảo vệ; và ii) thỏa thuận không được hình thành trên cơ sở tự nguyện thì không được pháp luật thừa nhận và bảo vệ, có nghĩa là loại thỏa thuận này không có giá trị pháp lý ràng buộc các chủ thể. Những hợp đồng được ký kết do bị lừa dối, đe dọa hoặc bị nhầm lẫn được coi là trái nguyên tắc tự do tự nguyện thỏa thuận và là căn cứ để yêu cầu tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu. Với những trường hợp này thì pháp luật của các nước có cách tiếp cận giống nhau và khá rõ ràng. Điều 4, BLDS 2005 của Việt Nam quy định: Quyền tự do cam kết thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội”. Điều 11 Luật Thương mại 2005 của Việt Nam cũng quy định: i) Các bên có quyền tự do thỏa thuận không trái với các quy định của pháp luật, thuần phong mỹ tục và đạo đức xã hội để xác lập quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động thương mại, Nhà nước tôn trọng và bảo hộ các quyền đó; và ii) trong hoạt động thương mại, các bên hoàn toàn tự nguyện, không bên nào được thực hiện hành vi áp đặt, cưỡng ép, đe dọa, ngăn cản bên nào. Đây cũng chính là bản chất cơ bản nhất của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Như vậy, trên cơ sở phân tích bản chất và thực chất của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng pháp luật cần phải thừa nhận và tôn trọng quyền tự do, tự định đoạt. Tuy nhiên, xét về bản chất, sự tự nguyện tham gia giao dịch của các bên giao dịch đặc biệt là chấp nhận đề nghị chỉ là biểu hiện ý chí của họ ra bên ngoài. Ý chí đó có thể tự do và cũng có thể không tự do, hệ quả là tồn tại tự nguyện tự do và tự nguyện không tự do. Mặc dù cả hai tình huống trên đây cũng được coi là sự tự nguyện tham gia giao dịch, tuy nhiên bản chất và hậu quả hoàn toàn khác nhau và vì vậy cần phải có sự đánh giá về mặt pháp lý khác nhau. Để làm được điều đó cần thiết phải xem xét bản chất của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng không những chỉ từ góc độ luật học mà còn cần phải xem xét chúng từ góc độ kinh tế học, có như vậy mới có cách nhìn vấn đề tổng quát hơn và khách quan hơn.
- Ý nghĩa của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Về lý thuyết cũng như trong thực tế đời sống xã hội, sẽ không thể đi đến hợp đồng nếu không có sự chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và hợp đồng không thể tồn tại nếu thiếu đi sự tồn tại của tự do ý chí và sự thiện chí, trung thực.
Sự gặp gỡ của ý chí các bên để đi đến giao kết hợp đồng là sự chấp nhận hợp đồng, là điều kiện để một hợp đồng được xác lập. Tuy nhiên, cần phải có sự tồn tại của điều kiện tiên quyết, đó là ý chí giao kết phải hiện hữu. Luật quốc tế và pháp luật của Pháp, Đức, của Anh – Mỹ, nói chung và các nước có nền pháp luật tiên tiến thừa nhận rằng “sự hiện hữu của ý chí chỉ được ghi nhận một khi nó được bộc lộ ra ngoài và ở trong tình trạng có thể được người khác nhận biết”. Pháp luật nước ta hiện nay bằng việc vận dụng kinh nghiệm xây dựng và thi hành pháp luật của các nước, các khái niệm căn bản nhưng mang tính nguyên tắc chung về đề nghị và “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng để mô tả và điều chỉnh quá trình bộc lộ đi đến sự gặp gỡ ý chí của các bên trong quan hệ kết ước”.
BLDS 2015 quy định: “các chủ thể được tự do giao kết hợp đồng nhằm tạo điều kiện cho các chủ thể có thể thỏa mãn nhu cầu vật chất cũng như tinh thần”. Xuất phát từ cơ sở và nguyên tắc này, mọi tổ chức, mọi cá nhân khi có đủ các điều kiện tư cách chủ thể đều có thể tham gia giao kết bất kỳ một hợp đồng hay giao dân sự nào nếu muốn. Ý nghĩa của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là nguyên tắc tối thượng trong quan hệ hợp đồng và không có nó thì các chấp nhận đề nghị và thỏa thuận giao kết sẽ trở lên vô nghĩa vì không tồn tại một quan hệ nghĩa vụ nào có thể tạo thành trong quá trình đưa ra nội dung chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng. Do đó, ý nghĩa của chấp nhận hợp đồng không chỉ về phương diện triết học mà cả phương diện đạo đức và phương diện kinh tế.
Về phương diện triết học, ý nghĩa của triết học là nền tảng dựa trên thực tế của nguyên tắc “trên nền tảng của tự do cá nhân và không có ai có thể bị ép buộc thực hiện hay không thực hiện một việc nào đó ngoài ý chí mong muốn của họ”.
Về phương diện đạo đức, ý nghĩa của chấp nhận giao kết hợp đồng hàm chứa “tự do ý chí, không ai có thể bị ép buộc làm hay không làm một công việc mà không xuất phát từ lợi ích của họ”. Vì lẽ đó, bản chất thực của hợp đồng được xem là sản phẩm của ý chí được kết tạo từ lợi ích của các bên mà xuất phát điểm từ lời đề nghị và kết thức bằng chấp nhận đề nghị.
Về phương diện kinh tế, ý nghĩa của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thể hiện “xuất phát từ nhận định rằng lợi ích cá nhân là động lực thúc đẩy các hoạt động kinh tế”. Đây là lý do để ý chí phải được đề cao vì lợi ích của mình trong xã hội tự do mang lại những lợi ích chung đảm bảo tự do, thiện chí và trung thực trong giao kết hợp đồng cũng như ý nghĩa đích thực của giao kết.
Như vậy, chấp nhận giao kết hợp đồng mang ý nghĩa quan trọng, là nền tảng quan trọng để đi đến hợp đồng và như đã phân tích, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mang ý nghĩa đầy đủ khi có sự gặp gỡ và sự tồn tại của tự do ý chí và sự thiện chí, trung thực. Theo đó, sự gặp gỡ của ý chí các bên để đi đến giao kết hợp đồng là sự chấp nhận hợp đồng, là điều kiện để một hợp đồng được xác lập. Để chấp nhận giao kết hợp đồng mang đầy đủ ý nghĩa của nó, khi nghiên cứu và thực hiện giao kết cần phải được xem xé đầy đủ, phù hợp với hoàn cảnh và thực tiễn đời sống pháp lý. Sự hạn chế tự do ý chí đồng nghĩa với sự can thiệp của Nhà nước vào khu vực quyền lợi tư nhưng đôi khi cần thiết vì đời sống chung của cộng đồng, rộng hơn là toàn bộ nền kinh tế. Nhưng trên hết, nguyên tắc tự do trong giao kết và sự bình đẳng, thiện chí và trung thực giữa các bên sẽ là nền tảng và giá trị cốt lõi của sự hợp tác đảm bảo bền vững và là bất biến. Ý nghĩa của chấp nhận giao kết không chỉ thể hiện việc pháp luật không thừa nhận những hợp đồng được giao kết thiếu hoặc hạn chế sự bình đẳng và không tồn tại ý chí tự nguyện của một trong các bên chủ thể mà trên thực tế mà còn nhằm hướng đến và làm rõ về bản chất, ý chí tự nguyện là sự thống nhất giữa ý chí chủ quan bên trong và sự bày tỏ ý chí ra bên ngoài của mỗi chủ thể đồng thời đảm bảo các phương diện nghiên cứu và thực tiễn về lý luận và thực tiễn trong giao kết hợp đồng.
1.2. Pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
1.2.1 Điều kiện chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Theo định nghĩa của Bộ từ điển luật học Black’s Law Dictionary: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được hiểu là sự đồng ý của bên được đề nghị đối với các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng của bên đề nghị, một cách rõ ràng hoặc ngầm định bằng hành vi, theo hình thức được thừa nhận hoặc theo yêu cầu của bên đề nghị, theo đó hợp đồng được xác lập và ràng buộc các bên. Nếu một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có sửa đổi các điều khoản hoặc bổ sung các điều khoản mới, nó thường là một đề nghị giao kết hợp đồng mới”. Theo định nghĩa này, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng về bản chất là đồng ý của bên được đề nghị đối với đề nghị giao kết hợp đồng. Về hình thức, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể dưới hình thức rõ ràng (bằng văn bản hoặc bằng lời nói) hoặc bằng hành vi cụ thể trong những trường hợp nhất định. Về nội dung, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với đề nghị giao kết hợp đồng. Một thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có chứa đựng những sửa đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng thường không được coi là chấp nhận mà là một đề nghị mới. Đây cũng là nhận thức được thừa nhận bởi hiều công trình khoa học về luật hợp đồng cũng như được ghi nhận tại nhiều đạo luật của các nước, các công ước và văn kiện có tính quốc tế về hợp đồng.
Pháp luật về hợp đồng của nhiều quốc gia quy định chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải là sự đồng ý toàn bộ đối với đề nghị giao kết hợp đồng. Theo đó, một biểu thị trả lời chấp nhận đề nghị nhưng chứa đựng bất kỳ sự sửa đổi, bổ sung nào so với đề nghị giao kết hợp đồng được coi là từ chối và cấu thành một đề nghị giao kết hợp đồng mới.
Bộ luật dân sự của Pháp trước đây không đưa ra khái niệm về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng (cũng như không đưa ra khái niệm đề nghị giao kết hợp đồng). Quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được phát triển bởi án lệ. Tuy nhiên, trong lần sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2016, các nhà làm luật Pháp đã đưa ra khái niệm về đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tại các Điều L.1113 đến L11211. Theo đó, “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự biểu lộ ý chí của bên nhận được lời đề nghị giao kết, nhằm ràng buộc với các điều kiện của lời đề nghị. Lời chấp nhận không trùng khớp với lời đề nghị sẽ không có hiệu lực, và tạo thành lời đề nghị mới (Điều L.1118). Pháp luật của CHLB Nga ghi nhận nguyên tắc này tại khoản 1, Điều 438 Bộ luật dân sự CHLB Nga: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị giao kết hợp đồng về việc đề nghị giao kết hợp đồng được chấp nhận. Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là chấp nhận toàn bộ và vô điều kiện”. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 393, Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015): “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị” (tác giả nhấn mạnh). Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới (Điều 392 BLDS 2015).
Xuất phát từ thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn kinh doanh thương mại, một số bộ luật dân sự và văn kiện quốc tế về luật hợp đồng được xây dựng vào giai đoạn sau này có cách tiếp cận khác biệt. Theo đó, mặc dù vẫn quy định về nguyên tắc, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng, tuy nhiên, trong trường hợp một biểu thị trả lời đồng ý kèm theo những điều khoản sửa đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng, với một số điều kiện nhất định, sẽ là một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
1.2.2 Thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Theo BLDS 2015, tại Điều 394 quy định về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng, theo đó: Tại Khoản 1. “Khi bên đề nghị có ấn định thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực khi được thực hiện trong thời hạn đó; nếu bên đề nghị giao kết hợp đồng nhận được trả lời khi đã hết thời hạn trả lời thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời” và “Khi bên đề nghị không nêu rõ thời hạn trả lời thì việc trả lời chấp nhận chỉ có hiệu lực nếu được thực hiện trong một thời hạn hợp lý”.
Nếu theo BLDS 2005 quy định về thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng: “Trong trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị” được quy định tại Khoản 1 Điều 397 thì BLDS 2015 đã tách biệt ra thành một khoản riêng quy định tại Khoản 2 Điều 394.
Pháp luật dân sự Việt Nam về thời hạn chấp nhận giao kết hợp đồng tại Điều 397, BLDS 2005 và được nhắc lại tại Khoản 3, Điều 394 BLDS 2015, theo đó: “Trường hợp thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng đến chậm vì lý do khách quan mà bên đề nghị biết hoặc phải biết về lý do khách quan này thì thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng vẫn có hiệu lực, trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ý với chấp nhận đó của bên được đề nghị”.
Theo Luật Hợp đồng Trung Quốc 1999, nội dung của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng. Nếu bên được đề nghị đề xuất các thay đổi cơ bản đối với nội dung, chấp nhận này sẽ trở thành một đề nghị giao kết hợp đồng mới. Các thay đổi về mục đích, chất lượng, số lượng, giá cả hoặc tiền công, thời hạn thực hiện, địa điểm và cách thức thực hiện, trách nhiệm vi phạm hợp đồng và biện pháp giải quyết tranh chấp hợp đồng là các thay đổi cơ bản đối với nội dung của đề nghi giao kết hợp đồng (Điều 30). Nếu một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có chứa những thay đổi không cơ bản (non-substantial changes) so với nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng sẽ có hiệu lực, nội dung của hợp đồng sẽ dựa trên nội dung của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, ngoại trừ trường hợp bên đề nghị phản đối kịp thời những nội dung đó, hoặc trong đề nghị giao kết hợp đồng đã thể hiện rõ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng không được có bất kỳ sự thay đổi nào so với nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng (Điều 31).
Theo Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Điều 19 quy định: một sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác mà không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng thì được coi là chấp nhận chào hàng, trừ phi người chào hàng ngay lập tức phản đối những khác biệt đó bằng miệng hoặc bằng cách gửi thông báo phản đối cho người được chào hàng. Nếu người chào hàng không phản đối như vậy, nội dung của hợp đồng sẽ là nội dung của chào hàng với những sửa đổi nêu trong chấp nhận chào hàng (khoản 2, Điều 19). Các yếu tố bổ sung hay sửa đổi liên quan đến các điều kiện giá cả, thanh toán, đến phẩm chất và số lượng hàng hóa, địa điểm và thời hạn giao hàng, đến phạm vi trách nhiệm của các bên hay đến việc giải quyết tranh chấp được coi là những điều kiện làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng [Khoản 3, Điều 19].
Ở Hoa Kỳ, quy tắc hình ảnh phản chiếu đã nêu trên được thừa nhận rộng rãi, tuy nhiên, Bộ luật thương mại thống nhất (UCC) áp dụng cho hợp đồng mua bán hàng hóa, tại Điều 2-207 đã thay đổi quy tắc này, theo đó:
Một sự biểu thị chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hợp lý và xác định hoặc một xác nhận bằng văn bản được gửi trong một thời hạn hợp lý, được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng ngay cả khi nó chứa đựng các điều khoản bổ sung hoặc khác biệt so với các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng, ngoại trừ trường hợp chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thể hiện rõ điều kiện bên đề nghị đồng ý với các điều khoản bổ sung hoặc khác biệt đó.
1.2.3 Hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
“Việc xác định thời điểm có hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng mang ý nghĩa vô cùng quan trọng” [23. Tr9,5]. Bởi, từ thời điểm chấp nhận hợp đồng có hiệu lực, bên được đề nghị (bên trả lời chấp nhận giao kết Hợp đồng) không được rút lại lời chấp nhận giao kết Hợp đồng. Hơn nữa, tại tại điểm chấp nhận có hiệu lực thì Hợp đồng được coi là giao kết.
Vậy, pháp luật xác định như thế nào về thời điểm phát sinh hiệu lực của chấp nhận giao kết Hợp đồng? Thông thường, các bên có thể thực hiện giao kết Hợp đồng bằng phương thức trực tiếp (gặp mặt trực tiếp trao đổi bằng lời nói hoặc văn bản) hoặc trao đổi gián tiếp (qua điện thoại, email, tin nhắn,…). Thực tế, nếu các bên gặp mặt trao đổi trực tiếp bằng lời nói hoặc văn bản thì việc xác định thời điểm có hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng sẽ không khó khăn. Thế nhưng, nếu các bên trao đổi bằng phương thức gián tiếp thì việc xác định thời điểm có hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng trong thực tế quan hệ hợp đồng sẽ không đơn giản và được các hệ thống pháp luật ghi nhận theo những cách khác nhau.
Tại khoản 1 Điều 391 BLDS 2005 chỉ quy định về thời điểm có hiệu lực của đề nghị giao kết Hợp đồng mà chưa quy định rõ về thời điểm có hiệu lực của chấp nhận giao kết Hợp đồng đối với trường hợp giao kết Hợp đồng gián tiếp. Thế nhưng, theo tinh thần thì khoản 1 Điều 397 BLDS 2005 có quy định: “Thời điểm đề nghị giao kết Hợp đồng có hiệu lực được xác định như sau: a) Do bên đề nghị ấn định; b) Nếu bên đề nghị không ấn định thì đề nghị giao kết Hợp đồng có hiệu lực kể từ khi bên được đề nghị nhận được đề nghị đó” và Điều 400 BLDS 2005 cũng quy định rằng “bên được đề nghị giao kết Hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết Hợp đồng, nếu thông báo này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết Hợp đồng”, hơn nữa, khoản 1 Điều 404 BLDS 2005 có quy định “Hợp đồng dân sự được giao kết vào thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết”, từ đó chúng ta có thể khằng định chấp nhận giao kết Hợp đồng có hiệu lực chính là thời điểm bên đề nghị nhận được chấp nhận. Việc xác định thời điểm phát sinh hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng theo BLDS được áp dụng theo học thuyết tiếp nhận và tiếp tục duy trì tại BLDS năm 2015.
Một trong những nguyên tắc của các nước theo hệ thống pháp luật Commom law: Sự chấp nhận phải được trao đổi với bên đưa đề nghị. Do đó, sự chấp nhận sẽ không có tác động nào đến khi nó được trao đổi với bên đưa đề nghị, trừ một số trường hợp ngoại lệ. Theo đó, sự chấp nhận được coi là “trao đổi” khi sự chấp nhận đó được mang một cách bình thường đến ghi chú của bên đưa đề nghị. Cũng theo pháp luật của Anh, cách thức thực hiện sự “trao đổi” này chính là sự chấp nhận qua bưu điện. Vậy, nếu chấp nhận qua bưu điện thì khi nào sự chấp nhận đó có hiệu lực? Câu hỏi này sẽ có câu trả lời trong “nguyên tắc gửi thư” được ghi nhận trong các án lệ của Anh. Theo nguyên tắc gửi thư thì sự chấp nhận giao kết Hợp đồng qua bưu điện có hiệu lực kể từ thời điểm bức thư được gửi đi. Nguyên tắc gửi thư được hình thành từ lý do quan niệm cho rằng bên đưa ra đề nghị phải được xem là đưa ra lời đề nghị trong suốt thời gian thư của họ ở bưu điện và thỏa thuận chấp nhận đề nghị của các bên sẽ hoàn thành khi bước thư được bưu điện gửi đi. Hơn nữa, việc áp dụng nguyên tắc này cũng tạo thuận lợi cho các bên hạn chế phải chứng minh, bởi xác định hiệu lực của chấp nhận khi thư được gửi đi dễ hơn là khi nhận được thư. Một trong những ưu điểm của nguyên tắc gửi thư là thiện về bên nhận đề nghị hơn, đối với bên đưa ra đề nghị chọn phương án đàm phán qua việc gửi thư thì cần chấp nhận rủi ro thư gửi chậm, thậm chí là những nai nạn không mong muốn trong quá trình gửi thư. Một trong những nguyên tắc của luật Anh được hình thành từ “nguyên tắc gửi thư”, đó là: Trả lời chấp nhận giao kết Hợp đồng có hiệu lực từ khi được chuyển đi”. Do đó, nguyên tắc tống phát đã được áp dụng trong pháp luật của Anh để xác định thời điểm có hiệu lực của chấp nhận giao kết Hợp đồng. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Đối với luật của Pháp thì vấn đề xác định hiệu lực của chấp nhận giao kết Hợp đồng khi các bên lựa chọn phương thức đàm phán gián tiếp chưa được xác định rõ và chưa được ghi nhận trong BLDS của Pháp. Tuy nhiên, một số án lệ của Pháp có khuynh hướng theo học thuyết tống phát khi xem xét thời điểm phát sinh hiệu lực của chấp nhận giao kết Hợp đồng giữa những người ở xa mà chọn phương thức đàm phán gián tiếp. Do đó, trong nhiều trường hợp, Tòa án đã chấp nhận thời điểm chấp nhận giao kết Hợp đồng có hiệu lực được tính từ lúc bên nhận đề nghị gửi chấp nhận giao kết Hợp đồng với các điều kiện đã nêu ở trên. Đây chính là cơ sở xác định tính hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng trong quá trình xây dựng, áp dụng và giám sát thực hiện pháp luật hợp đồng.
Học thuyết tiếp nhận trong việc xác định thời điểm có hiệu lực của chấp nhận giao kết Hợp đồng cũng được Công ước Viên và Bộ nguyên tắc Unidroit ủng hộ. Điều 18 Công ước Viên “chấp nhận chào hàng có hiệu lực khi người chào hàng nhận được chấp nhận” và khoản 2 Điều 2.1.6 Bộ nguyên tắc Unidroit ghi nhận “Việc chấp nhận một đề nghị giao kết Hợp đồng có hiệu lực khi dấu hiệu của việc chấp nhận giao kết Hợp đồng đến bên đề nghị”. Lý giải cho việc thuyết “tống phát” không được chấp nhận thay vào đó là thuyết “tiếp thu” “là vì rủi ro trong việc truyền đạt thông tin phải do bên được đề nghị chịu thay vì bên đưa ra đề nghị bởi bên được đề nghị lựa chọn phương thức truyền đạt thông tin, họ biết rõ phương thức minh chọn sẽ tồn tại rủi ro như chậm trễ, tai nạn,… vì vậy là bên có khả năng hơn trong việc thực hiện các biện pháp nhằm đảm bảo chấp nhận đên nơi nhận”. Từ hệ thống pháp luật quốc tế đến pháp luật của một số quốc gia trong việc xác định thời điểm có hiệu lực chấp nhận giao kết Hợp đồng có thể nhận xét rằng: Hiện nay, có hai thời điểm khác nhau, tùy vào từng hệ thống, có hệ thống theo thuyết tống phát (chấp nhận có hiệu lực từ thời điểm gửi thư) và hệ thống theo thuyết tiếp thu (chấp nhận có hiệu lực từ thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời). BLDS của chúng ta vẫn tồn tại điểm hạn chế, khi đối chiếu với Công ước
Viên và Bộ nguyên tắc Unidroit, đó là BLDS chưa quy định rõ ràng về thời điểm có hiệu lực của chấp nhận trong một quy định. Công ước Viên và Bộ nguyên tắc Unidroit có quy định cụ thể về nội dung này, còn trong văn bản của chúng ta thì không. Vì vậy, chúng ta chỉ biết được nội dung này sau khi sử dụng phương pháp suy luận từ một số quy định. Do đó, trong tương lai, chúng ta có thể không thay đổi nội dung quy định thuyết tiếp thu nhưng cần thay đổi bằng cách đưa ra quy định rõ ràng giống Công ước Viên và Bộ nguyên tắc Unidroit, cụ thể “chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng có hiệu lực khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận”. Nếu được quy định rõ ràng như vậy thì thời điểm có hiệu lực của chấp nhận giao kết Hợp đồng rõ nét hơn mà không phải suy luận cũng như tránh tranh chấp từ các bên khi vận dụng trong thực tiễn.
1.2.4 Thay đổi, rút lại thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Theo quy định tại Điều 397, BLDS 2015: “Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo về việc rút lại này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng”.
Một trong những nguyên tắc của BLDS đó chính là nguyên tắc tự do, tự nguyện, bình đẳng giữa các bên trong giao kết Hợp đồng. Điều 400 BLDS 2005 và Điều 397 BLDS 2015 cho phép Bên được đề nghị giao kết Hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết Hợp đồng. Tuy nhiên, khác với đề nghị giao kết Hợp đồng, BLDS 2005 không cho phép bên được đề nghị sửa đổi, bổ sung trả lời chấp nhận. Nguyên nhân là do xuất phát từ nguyên tắc: chấp nhận giao kết Hợp đồng phải là chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. Do đó, nếu bên được đề nghị đưa ra thêm những sửa đổi, bổ sung trong nội dung của đề nghị thì những nội dung sửa đổi, bổ sung này được xem là đề nghị mới. Ngoài ra, khi lời chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng được rút lại sẽ được xem là bên được đề nghị không chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng nữa và Hợp đồng cũng không được hình thành. Vì vậy, việc bên được đề nghị rút lại thông báo trong trường hợp này bao hàm trong nó sự hủy bỏ chấp nhận. Đây cũng là lý do vì sao BLDS 2005 không quy định về trường hợp hủy bỏ thông báo chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng.
Bên cạnh đó, BLDS cũng quy định rõ điều kiện để bên được đề nghị rút lại chấp nhận nhằm bảo vệ quyền lợi chính đáng cho bên đề nghị, tránh trường hợp bên được đề nghị lạm dụng mà tùy ý rút lại chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng. Theo đó, thông báo về việc rút lại chấp nhận giao kết Hợp đồng đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết Hợp đồng. Các phân tích ở trên đã lý giải cơ sở hình thành quy định này: Chúng ta đã thấy chấp nhận có hiệu lực từ thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận, nên việc rút lại chấp nhận đến bên đề nghị trước hay cùng thời điểm chấp nhận có hiệu lực thì việc rút lời chấp nhận này có giá trị và ngược lại, nếu rút lại thông báo chấp nhận đến bên đề nghị sau thời điểm nêu trên thì việc rút lại thông báo không có giá trị pháp lý. Do đó, thời điểm rút thông báo có ý nghĩa rất lớn trong trường hợp bên được đề nghị rút lại thông báo chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng.
So sánh BLDS với Công ước Viên (Điều 22) và Bộ nguyên tắc Unidroit (Điều 2.1.10) đến việc rút lại chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng có một sự phù hợp, cụ thể: Điều 2.1.10 Bộ nguyên tắc Unidroit quy định: “Một chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng có thể bị rút lại nếu việc rút lại đến bên đề nghị chậm nhất vào thời điểm chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng có hiệu lực” và Điều 22 Công ước Viên quy định: “Chấp nhận chào hàng có thể bị hủy nếu thông báo về việc hủy chào hàng tới nơi người chào hàng trước hoặc cùng một lúc khi chấp nhận có hiệu lực”. Một trong những điểm giống nhau giữa Công ước Viên và Bộ nguyên tắc Unidroit đó là chung một nguyên tắc: Bên được đề nghị có thể rút lại chấp nhận của mình nhưng việc thông báo về việc rút lại chấp nhận này phải đến trước hoặc cùng thời điểm với chấp nhận đã gửi đi. Lý giải cho giải pháp này chính là thời điểm có hiệu lực của chấp nhận đã được phân tích ở trên. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
1.2.5 Hủy bỏ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng
Khi nghiên cứu pháp luật về giao kết hợp đồng, pháp luật dân sự Việt Nam và pháp luật một số quốc gia trên thế giới tác giả không tìm thấy quy định cụ thể nào quy định về hủy bỏ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Theo đó, BLDS 2015 tại Điều 390 quy định hủy bỏ đề nghị giao kết hợp đồng, theo đó: “Bên đề nghị giao kết hợp đồng có thể hủy bỏ đề nghị nếu đã nêu rõ quyền này trong đề nghị và bên được đề nghị nhận được thông báo về việc hủy bỏ đề nghị trước khi người này gửi thông báo chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng”.
Vậy, rút lại thông báo chấp nhận hợp đồng có được xem là hủy bỏ chấp nhận đề nghị hay không? BLDS 2015, quy định tại Điều 397 nêu rõ: “Bên được đề nghị giao kết hợp đồng có thể rút lại thông báo chấp nhận giao kết hợp đồng, nếu thông báo về việc rút lại này đến trước hoặc cùng với thời điểm bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng”. Nếu phân tích pháp lý thì theo quy định này, bên chấp nhận chỉ được rút lại trước hoặc cùng thời điểm bên đề nghị nhận được lời chấp nhận đề nghị. Từ đây, có thể khẳng định rằng trường hợp đã gửi chấp nhận thì bên chấp nhận sẽ không được hủy chấp nhận.
Bộ luật Dân sự Đức cho rằng, việc chấp nhận bằng im lặng là hợp pháp nếu có thể lý giải được sự im lặng đó phù hợp với tập quán chung, hoặc nếu người đề nghị thỏa mãn như vậy. Còn Bộ luật Dân sự Liên bang Nga cũng có các qui định về vấn đề này phù hợp với quan niệm chung của thế giới ngày nay. Điều 438, khoản 2 của Bộ luật này qui định: “Sự im lặng không được xem là chấp nhận, trừ khi có sự khác biệt phát sinh từ pháp luật, từ tập quán kinh doanh, hoặc từ quan hệ trước đó giữa các bên”. BLDS Việt Nam đưa ra điều kiện đối với chấp nhận gồm: (1) Chấp nhận phải trên cơ sở đề nghị (Điều 369); (2) Chấp nhận phải đầy đủ và không có giới hạn (Điều 395 và Điều 396); (3) Chấp nhận phải được đưa tới người đề nghị trong thời hạn trả lời chấp nhận (Điều 397); và (4) Chấp nhận phải phù hợp với hình thức do pháp luật qui định. Ngoài ra chúng ta không thấy có điều kiện nào khác cho chấp nhận. Trong khi đó ở các nước theo luật án lệ, để giải quyết tranh chấp giữa các bên về giá trị của chấp nhận người ta thường dựa vào các qui tắc thiết lập các điều kiện của chấp nhận để phân tích. Các điều kiện này có thể được các tác giả tập hợp theo các cách thức khác nhau nhưng trong một phạm vi tương đối đồng nhất. Chúng có thể bao gồm: (1) Chấp nhận nhất thiết phải dựa vào đề nghị; (2) Chấp nhận nhất thiết phải đầy đủ và không hạn chế: (3) Đồng ý có điều kiện không phải là chấp nhận; (4) Chấp nhận nhất thiết phải rõ ràng và chắc chắn; (5) Chấp nhận có thể là minh thị hoặc ngụ ý: (6) Chấp nhận có thể cho cả quá khứ lẫn tương lai; (7) Đề nghị trở lại là từ chối đề nghị; (8) Chấp nhận nhất thiết phải được gửi đi (trừ khi được miễn); và (9) Người đề nghị có thể qui định cách thức chấp nhận. Tuy nhiên, không tìm thấy các quy định cụ thể về hủy bỏ chấp nhận và các điều kiện để hủy bỏ chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Đây cũng là điều thiếu sót lớn đối với pháp luật dân sự về Hợp đồng hiện nay. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Theo Luật Hợp đồng của Anh, nguyên tắc và yêu cầu của sự chấp nhận phải là toàn bộ và tuyệt đối. Một sự đồng ý về đề nghị giao kết Hợp đồng kèm theo bất kỳ một đề xuất bổ sung, sửa đổi điều khoản nào của lời đề nghị đều không được xem là một sự chấp nhận giao kết Hợp đồng và bên đề nghị ban đầu có thể đồng ý hay từ chối những đề nghị ngược lại này.
Điều 30, Luật Hợp đồng Trung Quốc: “Các điều khoản của chấp nhận giao kết phải giống các điều khoản của đề nghị giao kết. Một chấp nhận giao kết công khai do người nhận được đề nghị giao kết đưa ra thay đổi về căn bản các điều khoản của đề nghị giao kết coi như một đề nghị giao kết mới. Thay đổi về đối tượng, số lượng, chất lượng, giá cả hoặc thù lao, thời gian, địa đểm và phương thức thực hiện, các trách nhiệm do vi phạm hợp đồng hoặc cách thức giải quyết tranh chấp được coi là thay đổi căn bản các điều khoản của đề nghị giao kết”. Ngoài ra, cũng theo Bộ luật này, quy định tại Điều 31 ghi nhận rằng chấp nhận giao kết với những thay đổi không căn bản, theo đó: “Một chấp nhận giao kết có những thay đổi không cân bản đối với các điều khoản của đề nghị giao kết vẫn được coi là có giá trị và các điều khoản mới được coi như các điều khoản của hợp đồng, trừ khi người đề nghị giao kết phản đối kịp thời những thay đổi đó hoặc người đề nghị giao kết đã nêu rõ rằng việc chấp nhận giao kết có thể không có bất kỳ thay đổi nào đối với các điều khoản của đề nghị giao kết”
Tại khoản 1 Điều 18 Công ước Viên và khoản 1 Điều 2.1.6 của bộ nguyên tắc Unidroit cũng ghi nhận rất rõ ràng về điều kiện của một chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng đó là bên nhận đề nghị phải đồng ý với tất cả các điều kiện, nội dung được nêu trong đề nghị. Vấn đề này một lần nữa được khẳng định trong lời bình luận của Điều 2.1.6 Bộ nguyên tắc Unidroit, các nhà luật gia đã khẳng định rằng “Việc chấp nhận phải vô điều kiện, nghĩa là không phụ thuộc vào các biện pháp khác mà đưa ra đề nghị phải thực hiện hoặc người đề nghị phải thực hiện và hơn hết, chấp nhận không được làm thay đổi các điều khoản trong đề nghị giao kết Hợp đồng”. Ngay tại khoản 1 Điều 2.1.11 Bộ nguyên tắc Unidroit ghi nhận “Câu trả lời với mong muốn chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng nhưng kèm theo những bổ sung, hạn chế hoặc những sửa đổi khác sẽ được coi là sự từ chối đề nghị và hình thành một đề nghị mới”. Các luật gia Unidroit cho rằng, về nguyên tắc lời chấp nhận trong trường hợp này được xem là sự tự chối đề nghị và tạo ra một lời đề nghị mới của bên được đề nghị mà bên đề nghị có thể bằng cách rõ ràng hoặc ngầm định chấp nhận hoặc không chấp nhận đề nghị. Đồng tình với quan điểm của các luật gia Unidroit, khoản 1 Điều 19 Công ước Viên cũng ghi nhận nội dung này như sau: “Một sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng những điểm bổ sung, bớt đi hay các sửa đổi khác thì được coi là từ chối chào hàng và cấu thành một chào hàng mới”.
Tuy nhiên, do các hoạt động thương mại thường có tính mềm dẻo, linh hoạt hơn nên Công ước Viên và Bộ nguyên tắc Unidroit đã đưa ra những quy định linh hoạt hơn BLDS về điều kiện sự phù hợp giữa chấp nhận đề nghị và đề nghị. Theo đó, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo Công ước Viên và Bộ nguyên tắc Unidroit là sự chấp nhận toàn bộ các nội dung của đề nghị, thế nhưng có thể đưa ra những sửa đổi, bổ sung không làm ảnh hưởng đến những nội dung cơ bản của đề nghị giao kết Hợp đồng và không bị bên đề nghị phản đối ngay lập tức. Cụ thể, khoản 2 Điều 19 Công ước Viên quy định rằng “Một sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàng kèm theo điều khoản bổ sung nhưng không làm biến đôi một cách cơ bản nội dung chủ yếu của chào hàng thì vẫn được coi là trả lời chấp nhận nếu bên đề nghị không phản đối ngay những điểm khác biệt đó.” Và khoản 2 Điều 2.1.11 Bộ nguyên tắc Unidroit cũng ghi nhận rằng “Nếu câu trả lời với mong muốn chấp nhận kèm theo những chi tiết bổ sung hoặc khác biệt mà không làm thay đổi cơ bản các điều khoản của đề nghị được coi là một chấp nhận giao kết Hợp đồng, trừ khi bên đề nghị ngay lập tức bác bỏ những chi tiết bổ sung hay sửa đổi này.”
Pháp luật dân sự của Pháp quy định nguyên tắc của việc đồng ý giao kết Hợp đồng phải được thể hiện ra bên ngoài, bên nhận lời đề nghị phải thể hiện rõ ràng ý chí của mình về ràng buộc trách nhiệm trong giao kết Hợp đồng. Vì vậy, hình thức trả lời chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng gồm: “bày tỏ ý chí một cách rõ ràng: Bên trả lời chấp nhận thể hiện ý chí của mình một cách rõ ràng bằng lời nói; hành vi hoặc văn bản cụ thể” và “bày tỏ ý chí dưới hình thức ẩn: Ý chí chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng của bên được đề nghị được đưa ra dưới hình thức ẩn, tức là được suy ra, ngầm hiểu từ hành vi ứng xử hay từ thái độ của bên được đề nghị”. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Các vấn đề này cũng được ghi nhận tại các án lệ của Anh, theo đó, sự chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng cũng có thể được bên nhận đề nghị thể hiện một cách rõ ràng thông qua lời noishay văn bản cụ thể hoặc thể hiện một cách ẩn ý trong một nội dung cụ thể được làm rõ, chứa đựng sự tuyên bố rằng người gửi đồng ý với những điều khoản của lời đề nghị và theo đó anh ta chấp nhận nó. Hơn nữa, án lệ Anh cũng ghi nhận rằng một lời đề nghị cũng có thể được chấp nhận thông qua hành động như việc cung cấp hoặc gửi hàng hóa theo thông báo từ lời đề nghị mua hàng hoặc bằng việc bắt đầu đưa ra các dịch vụ theo phản hồi từ lời đề nghị dưới dạng một yêu cầu.
Các văn bản pháp lý quốc tế được xây dựng nhằm thiết lập một hệ thống hài hòa các quy tắc xử sự có thể được áp dụng trên toàn thế giới, Công ước Viên và Bộ nguyên tắc Unidroit đều có chung quan điểm như sau: Để có một chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng, bên được đề nghị phải bằng cách này hay cách khác chỉ ra “chấp nhận” của mình đối với đề nghị đó. Khoản 1 Điều 18 Công ước Viên quy định: “Một lời tuyên bố hay một hành vi khác của người được chào hàng biểu lộ sự đồng ý với chào hàng cấu thành chấp nhận chào hàng”, cùng đó, theo Bộ nguyên tắc Unidroit cũng quy định tại khoản 1 Điều 2.1.6 như sau: “Chấp nhận giao kết Hợp đồng có thể là một tuyên bố hoặc cách xử sự khác của bên được đề nghị cho thấy họ chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng”.
Theo Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế tại Điều 19 quy định: một sự phúc đáp có khuynh hướng chấp nhận chào hàng nhưng có chứa đựng các điều khoản bổ sung hay những điều khoản khác mà không làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng thì được coi là chấp nhận chào hàng, trừ phi người chào hàng ngay lập tức phản đối những khác biệt đó bằng miệng hoặc bằng cách gửi thông báo phản đối cho người được chào hàng. Nếu người chào hàng không phản đối như vậy, nội dung của hợp đồng sẽ là nội dung của chào hàng với những sửa đổi nêu trong chấp nhận chào hàng (khoản 2, Điều 19). Các yếu tố bổ sung hay sửa đổi liên quan đến các điều kiện giá cả, thanh toán, đến phẩm chất và số lượng hàng hóa, địa điểm và thời hạn giao hàng, đến phạm vi trách nhiệm của các bên hay đến việc giải quyết tranh chấp được coi là những điều kiện làm biến đổi một cách cơ bản nội dung của chào hàng (khoản 3, Điều 19).
Theo pháp luật của Anh và Hoa Kỳ, thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được xem là thời điểm mà bên nhận được đề nghị chấp nhận, “biểu thị sự đồng ý đối với các điều khoản theo đề nghị của bên đề nghị giao kết hợp đồng”, là “sự biểu thị đồng ý dứt khoát và vô điều kiện đối với đề nghị giao kết hợp đồng”. Theo đó, thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chính là thời điểm được xác lập. Theo đó, nếu bên được đề nghị chấp nhận toàn bộ điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng, hợp đồng sẽ được giao kết. Nếu bên được đề nghị không chấp nhận tất cả các điều khoản được đề xuất, đề nghị giao kết bị từ chối. Nếu bên được đề nghị không từ chối toàn bộ các điều khoản, nhưng có đề nghị một số thay đổi các điều khoản đó, kết quả là một đề nghị mới được thiết lập. Quy tắc “hình ảnh phản chiếu” được tóm tắt bởi Tòa án tối cao của bang Minnesota trong vụ Langellie v. Shaefer, 36 Minn. 361, 363 (1887): “Một đề nghị giao kết hợp đồng bởi bên đề nghị đối với bên được đề nghị không ràng buộc nghĩa vụ đối với bên đề nghị, trừ khi nó được chấp nhận bởi bên được đề nghị theo các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng. Bất kỳ sửa đổi nào so với các điều khoản đó sẽ làm đề nghị giao kết mất hiệu lực (…). Sẽ không có thỏa thuận, ngoại trừ trường hợp có câu trả lời chấp nhận đơn giản đối với đề nghị giao kết hợp đồng mà không kèm bất kỳ điều khoản mới nào”. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Đối với Hệ thống pháp luật Châu Âu lục địa và các nước chịu ảnh hưởng của hệ thống pháp luật này, nguyên tắc này được quy định tại hầu hết các đạo luật trong đó chủ yếu là các bộ luật dân sự. Ngoài ra, BLDS CHLB Đức không đưa ra cụ thể thời điểm chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, tuy nhiên, nguyên tắc này được khẳng định tại khoản 2, Điều 150 BLDS CHLB Đức: “một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng kèm theo những mở rộng, giới hạn hoặc các thay đổi khác được coi là từ chối đề nghị giao kết hợp đồng và cấu thành một đề nghị mới”
Bộ luật dân sự của Pháp trước đây không đưa ra các quy định cụ thể về thòi hạn trả lời chấp nhận đề nghị hợp đồng. Quy định về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được phát triển bởi án lệ. Tuy nhiên, trong lần sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2016, các nhà làm luật Pháp đã đưa ra khái niệm về đề nghị giao kết hợp đồng và chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tại các Điều L.1113 đến L11211. Theo đó, “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự biểu lộ ý chí của bên nhận được lời đề nghị giao kết, nhằm ràng buộc với các điều kiện của lời đề nghị. Lời chấp nhận không trùng khớp với lời đề nghị sẽ không có hiệu lực, và tạo thành lời đề nghị mới (Điều L.1118).
Như vậy, cách tiếp cận truyền thống được thừa nhận rộng rãi là thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp hoàn toàn với đề nghị giao kết hợp đồng. Một biểu thị đồng ý với đề nghị giao kết hợp đồng nhưng có kèm theo các sửa đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng được coi là từ chối và cấu thành đề nghị mới. Cách tiếp cận này hướng đến bảo đảm cao nhất sự thống nhất ý chí giữa các chủ thể của hợp đồng
Từ thực tiễn, đặc biệt là thực tiễn kinh doanh thương mại, một số bộ luật dân sự và văn kiện quốc tế về luật hợp đồng được xây dựng vào giai đoạn sau này có cách tiếp cận khác biệt, theo đó, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có các sửa đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng. Mặc dù vẫn quy định về nguyên tắc, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng phải phù hợp với các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng, tuy nhiên, trong trường hợp một biểu thị trả lời đồng ý kèm theo những điều khoản sửa đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng, với một số điều kiện nhất định, sẽ là một trong những điều kiện cơ bản xác lập thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Vậy, những sửa đổi, bổ sung nào sẽ làm thay đổi cơ bản nội dung của nhằm xác định thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng? Một số hệ thống pháp luật chỉ rõ những sửa đổi, bổ sung nào là thay đổi cơ bản nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng như Luật Hợp đồng Trung Quốc 1999 hoặc Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế như đã nêu trên, tuy nhiên, pháp luật một số quốc gia và văn kiện về hợp đồng chỉ quy định khái quát mang tính định tính. Việc xác định những điều khoản sửa đổi, bổ sung đó có làm thay đổi cơ bản về thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng hay không tùy thuộc vào từng vụ việc cụ thể. Điều này được thể hiện trong bình luận của Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế, theo đó những điều khoản thay đổi một cách cơ bản được xác định tùy thuộc hoàn cảnh cụ thể của từng vụ việc. Những điều khoản thay đổi về giả cả hoặc phương thức thanh toán, thời gian và địa điểm thực hiện nghĩa vụ phi tiền tệ, phạm vi trách nhiệm, giải quyết tranh chấp sẽ thường là các thay đổi cơ bản đối với chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng. Một yếu tố được xem xét là những điều khoản thay đổi, bổ sung đó có được sử dụng phổ biến trong lĩnh vực thương mại có liên quan và do đó không gây bất ngờ cho bên đề nghị hay không.
Dưới bất kỳ hình thức nào, dù những quy định cụ thể hay mang tính khái quát, cách tiếp cận mới về sự phù hợp nhằm xác định thời hạn trả lời chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, bên cạnh khẳng định nguyên tắc chung, thừa nhận ngoại lệ rằng, với những điều kiện nhất định, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể bao gồm những điều khoản khác biệt với đề nghị giao kết hợp đồng và hợp đồng được xác lập sẽ bao gồm các điều khoản khác biệt đó, ngoại trừ bên đề nghị phản đối ngay lập tức. Cách tiếp cận này thể hiện sự linh hoạt, mềm dẻo trong thực tiễn giao dịch dân sự và thương mại, phản ánh được ý chí thực của các bên mong muốn xác lập hợp đồng dù có những khác biệt không quan trọng so với ý chí ban đầu của bên đề nghị, đồng thời thúc đẩy việc giao kết hợp đồng được diễn ra nhanh chóng, nhưng vẫn đảm bảo đầy đủ các điều kiện pháp lý.
Khi nghiên cứu pháp luật, dưới bất kỳ hình thức nào cũng cần lưu ý là các hệ thống pháp luật đã nêu trên đều dành cho bên đề nghị quyền tự quyết định về việc hợp đồng có được xác lập hay không với các sửa đổi, bổ sung đó. Bên đề nghị khi nhận được chấp nhận đề nghị sửa đổi có quyền phản đối những điều khoản sửa đổi, bổ sung này và do đó, hợp đồng không được xác lập. Tuy nhiên, với xu hướng thúc đẩy các hợp đồng được giao kết, các quy định pháp luật và một số văn kiện về hợp đổng nêu trên đều tiếp cận theo hướng bên đề nghị, nếu không đồng ý thì phải phản đối ngay lập tức các điều khoản sửa đổi, bổ sung đó, nếu không phản đối ngay lập tức và đó là sự phù hợp của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng với đề nghị giao kết hợp đồng. Đây cũng được xem là cơ sở thực tiễn nhằm xác lập thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng.
Theo quy định tại Khoản 1 Điều 393, Bộ luật dân sự 2015 (BLDS 2015): “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị” (tác giả nhấn mạnh). Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới (Điều 392 BLDS 2015). Quy định này kế thừa quy định của BLDS 2005 về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng tại Điều 396: “Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị”. BLDS 1995 tại khoản 3 Điều 399, dù có diễn đạt khác biệt, cũng thể hiện tinh thần trên: “Khi bên được đề nghị đã chấp nhận giao kết hợp đồng, nhưng có nêu điều kiện hoặc sửa đổi đề nghị, thì coi như người này đã đưa ra đề nghị mới”.
Như vậy, theo pháp luật Việt Nam, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng là sự chấp nhận của bên được đề nghị đối với toàn bộ nội dung của đề nghị giao kết hợp đồng. Các quy định khác về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng của BLDS 2005 và BLDS 2015 không quy định bất kỳ ngoại lệ nào. Tuy nhiên, xu hướng hiện nay được thể hiện trong các văn kiện pháp lý quốc tế về hợp đồng là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể chứa đựng các nội dung khác biệt với đề nghị giao kết hợp đồng, với điều kiện đây là nhưng khác biệt không mang tính căn bản so với nội dung của lời đề nghị giao kết. Trong bối cảnh Việt Nam đã gia nhập Công ước Viên 1980 về hợp đồng mua bán hàng hóa quốc tế cũng như hội nhập quốc tế sâu rộng hơn.
- Bộ nguyên tắc của UNIDROIT về hợp đồng thương mại quốc tế, phiên bản năm 2016, tại Điều 2.1.11. quy định: Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Một phúc đáp đối với đề nghị giao kết hợp đồng có khuynh hướng chấp nhận đề nghị nhưng chứa đựng các bổ sung, giới hạn hoặc các sửa đổi khác là từ chối đề nghị giao kết hợp đồng và cấu thành một đề nghị giao kết hợp đồng mới (counter-offer);
Tuy nhiên, một phúc đáp đối với đề nghị giao kết hợp đồng có khuynh hướng chấp nhận đề nghị nhưng chứa đựng các bổ sung, giới hạn hoặc các sửa đổi khác mà không làm biến đổi một cách cơ bản các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng sẽ cấu thành/là một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, ngoại trừ trường hợp/trừ khi bên đề nghị phản đối một cách không chậm trễ những khác biệt đó. Nếu bên đề nghị không phản đối, hợp đồng sẽ bao gồm các điều khoản, điều kiện cơ bản của đề nghị giao kết hợp đồng và các khác biệt trong chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng.
Một phúc đáp thể hiện sự đồng ý rõ ràng đối với đề nghị giao kết hợp đồng được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng ngay cả khi nó thể hiện rõ hoặc ngụ ý những điều khoản khác biệt hoặc bổ sung, miễn là không làm thay đổi một cách cơ bản các điều khoản của đề nghị giao kết hợp đồng. Các điều khoản khác biệt hoặc bổ sung đó sẽ trở thành nội dung của hợp đồng.
Tuy nhiên, một chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có các bổ sung hoặc khác biệt như vậy sẽ là một từ chối đề nghị giao kết hợp đồng nếu: Đề nghị giao kết hợp đồng xác định giới hạn rõ ràng cho việc chấp nhận đề nghị; hoặc Bên đề nghị phản đối ngay lập tức các điều khoản bổ sung hoặc khác biệt đó; hoặc Bên được đề nghị thể hiện trong chấp nhận đề nghị điều kiện cần có sự đồng ý của bên đề nghị đối với những điều khoản khác biệt hoặc bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng và sự đồng ý đó không đến bên được đề nghị trong một khoảng thời gian hợp lý.
Tuy nhiên, Ủy ban Luật hợp đồng Châu Âu thừa nhận quy định này không phản ánh pháp luật hiện hành của nhiều nước Châu Âu “Hầu hết các hệ thống pháp luật (của các quốc gia Châu Âu) không có các quy định phù hợp với Điều 2: 208 (2) và (3). Nhiều quốc gia cho rằng (…) những sửa đổi dù không cơ bản trong trả lời của bên được đề nghị sẽ làm cho hợp đồng không được xác lập…
Như vậy, với các quy định pháp luật của một số quốc gia và của một số văn kiện có tính quốc tế, khu vực về hợp đồng nêu trên, có thể thấy, một xu hướng khác về sự phù hợp giữa chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và đề nghị giao kết hợp đồng đã được thừa nhận, theo đó, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, với một số điều kiện cụ thể, có thể chứa đựng những điều khoản sửa đổi, bổ sung so với đề nghị giao kết hợp đồng. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Qua nghiên cứu, so sánh giữa BLDS với Công ước Viên và Bộ nguyên tắc Unidroit về hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng chậm hơn quy định, chúng ta thấy có sự tương đồng giữa các văn bản nay, tất cả đều ghi nhận nguyên tắc chung rằng, một chấp nhận giao kết Hợp đồng có hiệu lực khi chấp nhận này đến bên đề nghị trong thời hạn quy định hoặc trong một thời gian hợp lý nếu không có quy định gì về thời hạn (khoản 2 Điều 18 Công ước Viên và điểm 2 khoản 1 Điều 2 Bộ nguyên tắc Unidroit). Hơn nữa, cũng giống BLDS, Công ước Viên và Bộ nguyên tắc Unidroit đều quy định ngoại lệ cho trường hợp trả lời chấp nhận chậm trễ nhưng vẫn có thể được xem là đến đúng hạn và còn hiệu lực. Cụ thể, Điều 21 Công ước Viên quy định: “1. Một chấp nhận chào hàng muộn màng cũng có hiệu lực của một chấp nhận nếu người chào hàng phải thông báo bằng lời nói không chậm trê cho người nhận chào hàng hoặc gửi cho người này một thông báo về việc đó; 2. Nếu thư từ hay văn bản khác do người nhận chào hàng gửi đi chứa đựng một sự chấp nhận chậm trễ mà thấy rõ rằng nó đã được gửi đi trong những điều kiện mà nếu sự chuyển giao bình thường thì nó đã đến tay người chào hàng kịp thời thì sự chấp nhận chậm trễ được coi như chấp nhận đến kịp thời. Trừ khi không chậm trễ người chào hàng thông báo bằng lời nói hoặc văn bản cho người được chào hàng biết người chào hàng coi chào hàng của mình đã hết hiệu lực”. Điểm 9 khoản 1 Điều 2 Bộ nguyên tắc Unidroit ghi nhận rằng “1. Một chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng chậm trễ vẫn có hiệu lực như một chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng nếu ngay sau đó bên đề nghị thông báo hoặc gửi thông báo cho bên được đề nghị thông báo về việc này; 2. Một thông báo có chứa chấp nhận chậm trễ được gửi đi trong những trường hợp khi việc thông báo là bình thường và sẽ đến bên đề nghị đúng lúc có hiệu lực như một chấp nhận, trừ khi bên đề nghị thông báo ngay lập tức cho bên được đề nghị rằng bên đề nghị coi đề nghị giao kết Hợp đồng như đã hết hiệu lực.”
Như vậy, khi nghiên cứu thực trạng và thực tiễn pháp luật về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trong đó nghiên cứu về hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng từ nguyên tắc của UNIDROIT, Công ước Viên, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới cũng như BLDS năm 2015 đã có sự phù hợp khi xử lý một đề nghị chấp nhận quá hạn: bên đề nghị vẫn coi một chấp nhận chậm trễ như là đến đúng hạn và còn hiệu lực với điều kiện ngay lập tức bên đề nghị thông báo cho Bên được đề nghị về việc này. Khi đó, ngay khi bên đề nghị nhận được chấp nhận thì Hợp đồng được coi là giao kết chứ không phải là khi bên đề nghị thông báo cho bên được đề nghị ý định coi sự chấp nhận chậm trễ này vẫn còn hiệu lực. Hơn nữa, xuất phát từ nguyên tắc căn bản nhất của pháp luật về dân sự đó là sự tự nguyện, bình đẳng nên dù ở bất kỳ thể chế pháp luật nào hay bộ nguyên tắc cơ bản nào thì ngoài những quy định mang tính khuôn thước theo quy định pháp luật, các chủ thể vẫn có thể đưa ra các quy định mang tính thống nhất chung. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Từ những phân tích trên, chúng ta thấy pháp luật Việt Nam khá tương đồng với hai văn bản luật quốc tế khi quy định về việc rút lại lời chấp nhận và thực tiễn áp dụng cũng không có khó khăn hay bất ổn gì. Chính vì vậy, nội dung này tiếp tục được ghi nhân và giữ nguyên trong BLDS 2015. Việc hướng luật hóa vấn đề thay đổi hiệu lực của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng có thể thay đổi, rút lại đề nghị giao kết hợp đồng hoặc kể cả chấm dứt chấp nhận lời đề nghị giao kết hợp đồng như vậy là thuyết phục và cần được duy trì và bảo lưu theo Điều 397 BLDS 2015 nhằm hướng tới giải phóng cho người đề nghị trước khi đề nghị chính thức có hiệu lực mà không có bất kỳ khó khăn hay phải chịu trách nhiệm pháp lý nào. Ngoài ra, cần xem xét điều kiện trong trường hợp bên chấp nhận chết, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi. Theo đó, chấp nhận đề nghị giao kết Hợp đồng được giải quyết như thế nào nếu sau khi bên được đề nghị đưa ra trả lời cấp nhận mà chết, mất năng lực hành vi dân sự, có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi.
Tiểu kết Chương 1 Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng chính là thể hiện ý chí của bên chấp nhận đề nghị và nó tồn tại ngay sau khi có đề nghị giao kết hợp đồng và được thực hiện bởi chủ thể của chấp nhận giao kết. Vì vậy, chủ thể của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng được xem là một nội dung cơ bản quyết định đến việc có hay không sự tồn tại của hợp đồng. Theo đó, bản chất của “hợp đồng” là sự thỏa thuận, là kết quả của ý chí sự thống nhất giữa các bên và chịu sự điều chỉnh của hệ thống văn bản pháp luật gồm các pháp luật quốc gia, điều ước quốc tế và việc tuân thủ là nguyên tắc cơ bản trong giao kết hợp đồng.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn pháp lý, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng nằm trong phạm vi nghiên cứu pháp lý về hợp đồng. Việc nghiên cứu khái niệm, đặc điểm pháp lý của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, nguyên tắc của tự do ý chí, thiện chí, trung thực và nghiên cứu tính xác định của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng thông qua những văn bản pháp luật không chỉ của Việt Nam mà còn một số văn bản quốc tế. Từ cơ sở nghiên cứu lý luận chỉ ra tính xác định của chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và những dấu hiệu xác định đảm bảo tồn tại việc chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng làm cơ sở đánh giá hiện trạng và đưa ra giải pháp hoàn thiện của BLDS 2015 của Việt Nam hiện nay.
Trong chương 1, tiếp cận và kế thừa cơ sở lý luận khoa học về “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng”, tác giả luận văn đã trình bày những luận điểm về những vấn đề liên quan đến giao kết hợp đồng làm cơ sở cho những đánh giá chính xác, đầy đủ, kịp thời đa chiều về pháp luật quốc tế, những mối quan hệ trong quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật để phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng từ thực tiễn BLDS năm 2015 của Việt Nam hiện nay đồng thời là cơ sở để phân tích thực trạng pháp luật về “chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng” nhằm phù hợp với đặc tính của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và kiện toàn pháp luật quốc gia không thể tách biệt với xu thế của pháp luật khu vực và thế giới. Luận văn: Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng theo luật dân sự.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Hoàn thiện PL về chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng