Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật, thực tiễn áp dụng pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng pháp luật về ưu đãi đầu tư tại Việt Nam

2.1.1. Chính sách ưu đãi đầu tư

  • Giai đoạn trước 2005:

Ngay từ khi mới bắt đầu Đổi mới, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm 1987 đã có những quy định ban đầu về ưu đãi đầu tư, tập trung chủ yếu vào biện pháp giảm thuế lợi tức. Luật Đầu tư nước ngoài 1996 cũng có các biện pháp ưu đãi đầu tư gồm cả thuế nhập khẩu và thuế lợi tức. Đối với các nhà đầu tư trong nước, phải đến năm 1994 mới có Luật Khuyến khích đầu tư trong nước, sau được thay thế bằng Luật Khuyến khích đầu tư trong nước năm 1998.

Nhìn chung, giai đoạn trước khi có Luật Đầu tư 2005, chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam có sự phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Đối tượng được ưu đãi đầu tư là các dự án được xác định theo 2 tiêu chí chủ yếu: lĩnh vực đầu tư và địa bàn đầu tư. Một số lĩnh vực được ưu đãi đầu tư chủ yếu như công nghiệp nặng, hạ tầng, lâm nghiệp. Ngoài hai tiêu chi trên, một số tiêu chí khác cũng được áp dụng như doanh nghiệp có định hướng xuất khẩu, doanh nghiệp sử dụng nhiều lao động (hoặc nhiều lao động nữ), sử dụng công nghệ tiên tiến, doanh nghiệp sản xuất hàng hoá có tỷ lệ nội địa hoá cao…

Về hình thức ưu đãi, các biện pháp chủ yếu được áp dụng là miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong toàn thời gian hoặc một thời gian nhất định. Ngoài ra, các biện pháp ưu đãi thuế nhập khẩu đối với máy móc thiết bị đầu tư tài sản cố định, miễn giảm tiền thuê đất.

Về thẩm quyền, ở cấp Trung ương, thẩm quyền quyết định các chính sách ưu đãi đầu tư thuộc về Chính phủ. Tuy nhiên, do có sự phân cấp về địa phương nên đã xuất hiện và vẫn còn tồn tại hiện tượng tranh nhau “xé rào” trong ưu đãi đầu tư, tạo nên cuộc đua xuống đáy giữa các địa phương, gây ảnh hưởng lớn đến thu ngân sách và các mục tiêu phát triển kinh tế xã hội khác.

  • Giai đoạn từ 2005 đến nay:

Sau khi Luật Đầu tư 2005 được ban hành, nhằm tương thích với các quy định của WTO, chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam đã có sự thống nhất, không còn phân biệt đối xử giữa nhà đầu tư trong nước và nước ngoài. Nhiều tiêu chí để xác định đối tượng được ưu đãi thuế cũng được điều chỉnh, bãi bỏ như không còn ưu đãi thuế đối với hàng xuất khẩu (trợ cấp xuất khẩu) hoặc với hàng hoá có tỷ lệ nội địa hoá cao. Đối tượng ưu đãi thuế dựa trên 2 tiêu chí chính: ưu đãi theo địa bàn (khó khăn và đặc biệt khó khăn) và theo lĩnh vực. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Về hình thức ưu đãi, ngoài các hình thức ưu đãi quen thuộc như thuế thu nhập doanh nghiệp, tiền thuê đất, thuế xuất nhập khẩu, bắt đầu xuất hiện thêm nhiều hình thức ưu đãi khác như: ưu đãi thuế thu nhập cá nhân cho người lao động, hỗ trợ chi phí thủ tục hành chính, chi phí đầu tư hạ tầng, hỗ trợ lãi suất, trợ giá, bao tiêu sản phẩm đối với một số ngành rất khó thu hút đầu tư như năng lượng sạch, hoá dầu…

Về thẩm quyền, sau Luật Đầu tư 2005 không còn tình trạng các địa phương ưu đãi đầu tư tràn lan bằng biện pháp thuế. Tuy nhiên, các địa phương vẫn có thẩm quyền ban hành chính sách ưu đãi đầu tư (cụ thể hoá chính sách của trung ương), và thường sẽ áp dụng các biện pháp như hỗ trợ chi phí, hạ tầng, thủ tục hành chính,…Ở cấp trung ương, các chính sách ưu đãi chủ yếu được quyết định ở cấp Nghị định và Quyết định của Thủ tướng và được cụ thể hoá bằng các văn bản pháp luật về thuế và ngân sách. Tuy nhiên, các quy định về ưu đãi đầu tư nằm rải rác trong pháp luật về đầu tư, pháp luật về thuế và trong pháp luật nhiều lĩnh vực chuyên ngành khác. Hiện nay đang có xu hướng hạn chế ban hành chính sách ưu đãi về thuế ở các văn bản pháp luật ngoài lĩnh vực thuế.

2.1.2. Thực trạng pháp luật về ưu đãi đầu tư

Các biện pháp khuyến khích, ưu đãi đầu tư trong chính sách pháp luật hiện hành ở Việt Nam, bao gồm:

Ưu đãi về thuế:

  • Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp

Đối với thuế thu nhập doanh nghiệp, theo các quy định về thuế trước đây, giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và doanh nghiệp trong nước có sự phân biệt về thuế suất, tuy nhiên để đẩy mạnh khuyến khích xóa bỏ khoảng cách giữa các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế và tạo môi trường đầu tư công bằng. Luật thuế thu nhập doanh nghiệp đã khẳng định việc áp dụng chung một mức thuế suất thu nhập doanh nghiệp không phân biệt doanh nghiệp có vốn đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài.

Theo điều 19 của thông tư 78/2014/TT-BTC và khoản 3 điều 6 của thông tư 119/2014/TT-BTC được sửa đổi bởi điều 11 thông tư 96/2015-TT-BTC thì hiện nay chúng ta có các ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp như sau:

  • Thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Theo đó, thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn quy định tại phụ lục ban hành kèm theo nghị định số 218/2013/NĐ-CP, khu kinh tế, khu công nghệ cao kể cả khu công nghệ thông tin tập trung được thành lập theo quyết định của thủ tướng chính phủ.

Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới thuộc các lĩnh vực: nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; ứng dụng công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển theo quy định của luật công nghệ cao; ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư mạo hiểm cho phát triển công nghệ cao thuộc danh mục công nghệ cao được ưu tiên phát triển theo quy định của pháp luật về công nghệ cao; đầu tư xây dựng – kinh doanh cơ sở ươm tạo công nghệ cao, ươm tạo doanh nghiệp công nghệ cao; đầu tư phát triển nhà máy nước nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước, cầu đường bộ đường sắt, cảng hàng không cảng biển, cảng sông, sân bay nhà ga và công trình cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng khác do thủ tướng chính phủ quyết định; sản xuất sản phẩm phần mềm, sản xuất vật liệu composit, các loại vật liệu xây dựng nhẹ, vật liệu quý hiếm; sản xuất năng lượng tái tạo, năng lượng sạch, năng lượng từ việc thiêu hủy chất thải, phát triển công nghệ sinh học.

Dự án đầu tư phát triển nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước cầu, đường bộ, đường sắt, cảng hàng không, cảng biển, cảng sông, sân bây, nhà ga phải phát sinh doanh doanh thu, thu nhập từ quá trình hoạt động của các dự án nêu trên thì mới thuộc diện hưởng ưu đãi thuế. Trường hợp các doanh nghiệp thực hiện thi công, xây dựng các công trình này thì phần thu nhập từ hoạt động thi công, xây dựng không được hưởng ưu đãi thuế theo quy định này.

Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường, bao gồm: sản xuất thiết bị xử lý ô nhiễm môi trường, thiết bị quan trắc và phân tích môi trường; xử lý ô nhiễm và bảo vệ môi trường; thu gom, xử lý nước thải, khí thải, chất thải rắn, tái chế, tái sử dụng chất thải. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao được hưởng ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ hoạt động công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao và các khoản thu nhập có liên quan trực tiếp từ hoạt động công nghệ cao, ứng dụng công nghệ cao do đáp ứng điều kiện về lĩnh vực ưu đãi đầu tư theo quy định tại khoản 4 điều 18 thông tư số 78/2014/TT-BTC (được sửa đổi, bổ sung tại điểm a khoản 2 điều 10 thông tư này). Trường hợp doanh nghiệp đang hoặc đã hưởng hết ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của các văn bản pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, mà được cấp giấy chứng nhận doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao thì mức ưu đãi được xác định bằng mức ưu đãi áp dụng cho doanh nghiệp công nghệ cao. Doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao theo quy định tại khoản 1 điều 15 và khoản 1 điều 16 nghị định 218/2013/NĐ-CP trừ đi thời gian ưu đãi đã hưởng đối với doanh nghiệp mới thành lập, dự án đầu tư mới thành lập (cả thuế suất và thời gian miễn, giảm nếu có).

Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực sản xuất (trừ dự án sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt, dự án khai thác khoáng sản) đáp ứng một trong hai tiêu chí sau: Dự án có quy mô vốn đầu tư đăng ký tối thiểu 6.000 tỷ đồng, thực hiện giải ngân không quá 03 năm kể từ thời điểm được phép đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư và có tổng doanh thu tối thiểu đạt 10.000 tỷ đồng/ năm chậm nhất sau 03 năm kể từ năm có doanh thu từ dự án đầu tư (chậm nhất năm thứ 4 kể từ năm có doanh thu doanh nghiệp phải đạt tổng doanh thu tối thiểu 10.000 tỷ đồng/năm); Dự án có quy mô vốn đầu tư đăng ký tối thiểu 6.000 tỷ đồng, thực hiện giải ngân không quá 03 năm kể từ thời điểm được phép đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư và sử dụng thường xuyên trên 3.000 lao động chậm nhất sau 3 năm kể từ năm có doanh thu từ dự án đầu tư (chậm nhất năm thứ 4 kể từ năm có doanh thu doanh nghiệp phải đạt điều kiện sử dụng số lao động thường xuyên bình quân/ năm trên 3.000 lao động). Số lao động sử dụng thường xuyên bình quân/ năm được xác định theo hướng dẫn tại thông tư 40/2009/TT-BLĐTBXH ngày 03/12/2009 của Bộ lao động, thương binh xã hội.

Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư trong lĩnh vực sản xuất, trừ dự án sản xuất mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt và dự án khai thác khoáng sản, có quy mô vốn 12.000 tỷ đồng, sử dụng công nghệ phải được thẩm định theo quy định của luật công nghệ cao, luật khoa học và công nghệ, thực hiện giải ngân tổng vốn đầu tư đăng ký không quá 5 năm kể từ ngày được phép đầu tư theo quy định của pháp luật đầu tư. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Thu nhập doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới sản xuất sản phẩm thuộc danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển đáp ứng một trong các tiêu chí sau: Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho công nghệ cao theo quy định của luật công nghệ cao; Sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho sản xuất các hàng dệt – may; dệt – da giầy; điện từ – tin học; sản xuất láp ráp ô tô; cơ khí chế tạo mà các sản phẩm này tính đến ngày 01/01/2015 trong nước chưa sản xuất được hoặc sản xuất được nhưng phải đáp ứng được tiêu chuẩn kỹ thuật của liên minh Châu Âu (EU) hoặc tương đương.

Danh mục sản phẩm công nghệ hỗ trợ ưu tiên phát triển được ưu đãi thuế thu nhập doanh nghiệp, thực hiện theo danh mục sản phẩm công nghiệp hỗ trợ ưu tiên phát triển ban hành tại quyết định số 1483/QĐ-TTg ngày 26/08/2011 của Thủ tướng chính phủ.

Các trường hợp được kéo dài thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi theo khoản 2 Điều 11 TT 96/2015/TT-BTC thì đối với dự án đầu tư quy định tại điểm b, điểm c khoản 1 Điều này có quy mô lớn và công nghệ cao hoặc mới cần đặc biệt thu hút đầu tư. Đối với dự án quy định tại điểm e Khoản 1 Điều này đáp ứng một trong các tiêu chí sản xuất sản phẩm hàng hóa có khả năng cạnh tranh toàn cầu, doanh thu đạt trên 20.000 tỷ đồng/năm chậm nhất sau 5 năm kể từ khi có doanh thu từ dự án đầu tư; Sử dụng thường xuyên bình quân trên 6.000 lao động; Dự án đầu tư thuộc lĩnh vực hạ tầng kinh tế kỹ thuật, bao gồm: đầu tư phát triển nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước, cầu, đường bộ, đường sắt, cảng hàng không, cảng biển, cảng sông, sân bay, nhà ga, năng lượng mới, năng lượng sạch, công nghiệp tiết kiệm năng lượng, dự án lọc hóa dầu.

Căn cứ theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Tài chính, Thủ tướng Chính phủ quyết định kéo dài thêm thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi quy định tại Khoản này nhưng thời gian kéo dài thêm không quá 15 (mười lăm) năm.

  • Thuế suất ưu đãi 10% trong suốt thời gian hoạt động

Phần thu nhập của doanh nghiệp từ hoạt động xã hội hóa trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao và môi trường, giám định tư pháp (sau đây gọi chung là lĩnh vực xã hội hoá).

Danh mục loại hình, tiêu chí quy mô, tiêu chuẩn của các doanh nghiệp thực hiện xã hội hoá được thực hiện theo danh mục do Thủ tướng Chính phủ quy định. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Phần thu nhập của hoạt động xuất bản của nhà xuất bản theo quy định của luật xuất bản được quy định tại điều 4 luật xuất bản và điều 2 nghị định số 11/2005/NĐ-CP ngày 26/08/2005: Thu nhập từ hoạt động báo in (kể cả quảng cáo trên báo in) của cơ quan báo chí theo quy định của luật báo chí; Thu nhập doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư – kinh doanh nhà ở xã hội để bán, cho thuê, cho thuê mua, đối với các đối tượng quy định tại điều 53 Luật nhà ở;

Thu nhập của doanh nghiệp từ: trồng, chăm sóc, bảo vệ rừng; thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng, chế biến nông sản, thủy sản ở địa bàn kinh tế xã hội khó khăn; Nuôi trồng lâm sản ở địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn; Sản xuất, nhân và lai tạo giống cây trồng, vật nuôi; Sản xuất, khai thác và tinh chế muối trừ sản xuất muối quy định tại khoản 1 Điều 4 Nghị định số 218/2013/NĐ-CP; Đầu tư bảo quản nông sản sau thu hoạch, bảo quản nông, thủy sản và thực phẩm, bao gồm cả đầu tư để trực tiếp bảo quản hoặc đầu tư để cho thuê bảo quản nông sản, thủy sản và thực phẩm.

Thuế suất 15% đối với thu nhập của doanh nghiệp từ trồng trọt, chăn nuôi, chế biến trong lĩnh vực nông nghiệp và thủy sản ở địa bàn không thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn hoặc địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn.

  • Thuế suất ưu đãi 20% trong thời gian 10 năm

Thu nhập doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn quy định tại phụ lục ban hành kèm theo nghị định số 21/2013/ NĐ- CP.

Thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới, sản xuất thép cao cấp, sản xuất sản phẩm tiết kiệm năng lượng, sản xuất máy móc thiết bị phục vụ cho sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, sản xuất thiết bị tưới tiêu, sản xuất tinh chế thức ăn gia súc, gia cầm thủy sản, phát triển ngành nghề truyền thống. Các doanh nghiệp thực hiện dự án đầu tư mới vào các lĩnh vực, địa bàn ưu đãi thuế theo quy định tại khoản này kể từ ngày 01/01/2016 áp dụng thuế suất 17%.

Thuế suất ưu đãi 20% trong suốt thời gian hoạt động (từ ngày 01/01/2016 chuyển sang áp dụng thuế suất 17%) được áp dụng đối với quỹ tín dụng nhân dân, ngân hàng hợp tác xã và tổ chức tài chính vi mô.

Đối với quỹ tín dụng vực xã hội hóa thực hiện tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn quy định tại phụ lục ban hành kèm nghị định 218/2013/NĐ-CP. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Miễn thuế 04 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới trong lĩnh vực xã hội hóa thực hiện tại địa bàn không thuộc danh mục địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn theo phụ lục nghị định 218/2013/NĐ-CP.

Miễn thuế 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với thu nhập của doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới theo quy định tại khoản 4 điều 19 thông tư số 78/2014/TT-BTC ngày 18/06/2014 của Bộ tài chính và thu nhập doanh nghiệp từ thực hiện dự án đầu tư mới tại khu công nghiệp. Địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội – thuận lợi quy định tại khoản này là các quận nội thành của đô thị loại đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc Trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh, không bao gồm các quận của đô thị đặc biệt, đô thị loại I trực thuộc Trung ương và các đô thị loại I trực thuộc tỉnh mới được thành lập kể từ ngày 01/01/2009. Trường hợp khu công nghiệp nằm trên cả địa bàn thuận lợi và địa bàn không thuận lợi thì xác định ưu đãi thuế đối với khu công nghiệp căn cứ vào vị trí thực tế của dự án đầu tư trên thực địa. Việc xác định đô thị loại đặc biệt, loại I thực hiện theo quy định nghi định số 42/2009/NĐ-CP ngày 07/05/2009.

Thời gian miễn thuế, giảm thuế quy định tại Điều này được tính liên tục từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế từ dự án đầu tư mới được hưởng ưu đãi thuế. Trường hợp doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế trong 03 năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu từ dự án đầu tư mới thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư dự án đầu tư mới phát sinh doanh thu theo khoản 2 Điều 12, Thông tư 96/2015 sửa đổi, bổ sung khoản 4 điều 20 Thông tư số 78/2014/TT-BTC.

Năm miễn thuế, giảm thuế xác định phù hợp với kỳ tính thuế. Thời điểm bắt đầu tính thời gian miễn thuế, giảm thuế tính liên tục kể từ kỳ tính thuế đầu tiên doanh nghiệp bắt đầu có thu nhập chịu thuế, được quy định tại điều 20, thông tư số 78/2014/TT-BTC.

  • Các trường hợp giảm thuế khác

Theo điều 21 thông tư 78/2014/TT-BTC các trường hợp doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng, vận tải sử dụng từ 10 đến 100 lao động nữ, trong đó số lao động nữ chiếm trên 50% tổng 150 lao động có mặt thường xuyên hoặc sử dụng thường xuyên trên 100 lao động nữ mà số lao động nữ chiếm trên 30% tổng số lao động có mặt thường xuyên của doanh nghiệp, được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tương ứng với số tiền thực chi thêm cho lao động nữ theo hướng dẫn tại chi tiết a điểm 2.9 khoản 2 điều 6 Thông tư này nếu hạch toán riêng được, các đơn vị sự nghiệp, cơ quan văn phòng thuộc các tổng công ty không trực tiếp sản xuất kinh doanh thì không giảm thuế theo khoản này.

Doanh nghiệp sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tương ứng với số tiền thực chi thêm cho lao động là người dân tộc thiểu số, hướng dẫn chi tiết b điểm 2.9 khoản 2 điều 6 Thông tư này nếu hạch toán riêng được. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Doanh nghiệp thực hiện chuyển giao công nghệ thuộc lĩnh vực ưu tiên chuyển giao cho các tổ chức, cá nhân thuộc địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn được giảm 50% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tính trên phần thu nhập từ chuyển giao công nghệ.

  • Ưu đãi về thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài

Trước đây theo Điều 27 Luật khuyến khích đầu tư khi chuyển thu nhập ra nước ngoài, nhà đầu tư là người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam, người nước ngoài góp vốn, mua cổ phần theo quy định của Luật này nộp một khoản thuế bằng 5% số thu nhập chuyển ra nước ngoài. Hiện nay, theo thông tư số 26/2004/TT-BTC và Thông tư 16/2010/TT-BTC ngày 18/01/2010 Nhà nước Việt Nam đã bãi bỏ thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài. Để tạo môi trường đầu tư an toàn cho các nhà đầu tư nước ngoài. Pháp luật Việt Nam bảo đảm cho các nhà đầu tư nước ngoài có quyền được chuyển lợi nhuận hợp pháp ra nước ngoài, sau khi đã thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ tài chính mà không phải nộp thuế. Trách nhiệm nộp thuế trong trường hợp này không thuộc về nhà đầu tư mà thuộc về doanh nghiệp nơi nhà đầu tư tham gia đầu tư vốn.

  • Ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu

Theo quy định tại nghị định 108/2009/NĐ-CP nhà đầu tư có dự án đầu tư thuộc lĩnh vực, địa bàn được ưu đãi đầu tư được hưởng ưu đãi về thuế xuất nhập khẩu theo quy định của pháp luật, ưu đãi về thuế nhập khẩu được áp dụng theo danh mục nghị định 87/2010/NĐ-CP hiện tại theo quy định của luật đầu tư 2014 nhà đầu tư được miễn thuế nhập khẩu đối với hàng hóa nhập khẩu để tạo tài sản cố định; nguyên liệu, vật tư, linh kiện để thực hiện dự án đầu tư.

  • Ưu đãi có liên quan đến quyền sử dụng đất, mặt nước, mặt biển

Ngày 16 tháng 6 năm 2014, Bộ tài chính đã ban hành thông tư số 77/2014/TT-BTC hướng dẫn việc xác định và trình tự, thủ tục xác định, thu nộp tiền thuê đất, thuê mặt nước; miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước; hướng dẫn xử lý chuyển tiếp và một số nội dung cụ thể tại nghị định 46/2014/NĐ-CP ngày 15 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Thông tư 77/2014/TT-BTC có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 2014. Thông tư này thay thế Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2005 của Bộ Tài chính hướng dẫn thực hiện Nghị định số 142/2005/NĐ-CP ngày 14 tháng 11 năm 2005 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Thông tư số 141/2007/TT-BTC ngày 30 tháng 11 năm 2007 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2005; Thông tư số 94/2011/TT-BTC ngày 29 tháng 6 năm 2011 của Bộ Tài chính sửa đổi, bổ sung Thông tư số 120/2005/TT-BTC ngày 30 tháng 12 năm 2005; bãi bỏ Mẫu số 01/TMĐN, Mẫu số 02/TMĐN, Mẫu số 03/MGTH ban hành kèm theo Thông tư số 156/2013/TT-BTC ngày 05 tháng 11 năm 2013 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Quản lý thuế, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế và Nghị định số 83/2013/NĐ-CP ngày 22 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ. Theo đó, tổ chức kinh tế, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài… được Nhà nước cho thuê đất, thuê mặt nước; công nhận quyền sử dụng đất thuộc trường hợp phải nộp tiền thuê đất theo quy định của Luật Đất đai và Nghị định số 46/2014/NĐ-CP phải tuân thủ hướng dẫn tại thông tư này và cụ thể chính sách về thuê đất thuê mặt nước có các thay đổi cơ bản so với chính sách quy định trước đây như sau:

Thống nhất một hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất áp dụng đối với tổ chức kinh tế trong nước, người Việt Nam định cư ở nước ngoài, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê, không có sự phân biệt giữa tổ chức trong nước và nước ngoài. Đồng thời, xóa bỏ hình thức giao đất có thu tiền sử dụng đất đối với đất nông nghiệp, đất sản xuất kinh doanh phi nông nghiệp không phải là đất ở theo quy định của Luật Đất đai năm 2003.

Đơn giản hóa thủ tục xác định giá đất tính thu tiền sử dụng đất trên cơ sở các phương pháp định giá đất do Chính phủ quy định và giá trị thửa đất hoặc khu đất được giao phù hợp với đối tượng sử dụng đất,

Đơn giá thuê đất hàng năm đã được điều chỉnh từ mức chung là 1,5% giá đất xuống còn 1%, mức tối đa là 3% áp dụng đối với đất thuộc đô thị, trung tâm thương mại, dịch vụ, đầu mối giao thông, khu dân cư tập trung có khả năng sinh lợi đặc biệt, có lợi thế trong việc sử dụng đất làm mặt bằng sản xuất kinh doanh, thương mại và dịch vụ; mức tối thiểu là 0,5% áp dụng đối với đất thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng núi cao, hải đảo, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; đất sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản, làm muối; đất sử dụng làm mặt bằng sản xuất kinh doanh của dự án thuộc lĩnh vực khuyến khích đầu tư, lĩnh vực đặc biệt khuyến khích đầu tư. Theo đó, UBND cấp tỉnh quy định mức tỷ lệ % cụ thể theo từng khu vực, tuyến đường tương ứng với từng mục đích sử dụng đất mà không quy định “khung” mức tỷ lệ (%) giá đất để tính thu tiền thuê đất đối với mỗi mục đích sử dụng đất, tùy các trường hợp mà xác định đơn giá cho thuê đất như trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất hàng năm không qua hình thức đấu giá, trường hợp thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê không thông qua hình thức đấu giá và trường hợp đấu giá quyền sử dụng đất thuê. Ngoài ra còn đơn giản hóa việc xác định giá đất để tính thu tiền thuê đất. Thời gian nộp tiền thuê đất đối với thuê đất trả tiền hàng năm, thuê đất trả tiền một lần cho cả thời gian thuê đã được điều chỉnh, quy định phù hợp với yêu cầu của thực tiễn và tạo điều kiện thuận lợi cho người thuê đất thực hiện nghĩa vụ tài chính với nhà nước. Theo đó, đối với thuê đất hàng năm thì được nộp tiền thành 02 kỳ: kỳ thứ nhất nộp tối thiểu 50% trước ngày 31 tháng 5; kỳ thứ hai trước ngày 31 tháng 10 hàng năm. Đối với thuê đất trả tiền một lần thì người thuê đất phải nộp 50% trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày ký Thông báo tiền thuê đất, thuê mặt nước; nộp đủ tiền thuê đất còn lại trong 60 ngày tiếp theo.

Miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước được quy định tại điều 18, 19, 20 NĐ 46/2014/NĐ-CP về nguyên tắc và các trường hợp mà được miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Một số ưu đãi đối với nhà đầu tư nước ngoài:

  • Ưu đãi về chính sách ngoại hối

Nghị định 70/2014/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành một số điều của Pháp lệnh ngoại hối và Pháp lệnh sửa đổi, bổ sung một số điều của Pháp lệnh ngoại hối. Thông tư 19/2014/TT-NHNN hướng dẫn về quản lý ngoại hối đối với hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài vào Việt Nam và các văn bản thi hành có hiệu lực pháp luật khác quy định về quản lý ngoại hối, theo đó các nhà ĐTNN, doanh nghiệp có vốn nước ngoài được hưởng các ưu đãi theo pháp luật Việt Nam.

  • Sử dụng tài khoản vốn đầu tư trực tiếp

Người cư trú là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh phải mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ tại 01 (một) tổ chức tín dụng được phép để thực hiện các giao dịch thu, chi liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam.

Trường hợp thực hiện đầu tư bằng đồng Việt Nam, người cư trú là doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh được mở 01 (một) tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng đồng Việt Nam tại tổ chức tín dụng được phép nơi doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài và nhà đầu tư nước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác kinh doanh đã mở tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ theo quy định tại Khoản 1 Điều này để thực hiện các giao dịch thu chi hợp pháp bằng đồng Việt Nam liên quan đến hoạt động đầu tư trực tiếp nước ngoài tại Việt Nam.

  • Chuyển thu nhập hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài

Trường hợp có nhu cầu chuyển các nguồn thu hợp pháp bằng đồng Việt Nam từ hoạt động đầu tư trực tiếp tại Việt Nam ra nước ngoài, nhà đầu tư nước ngoài được mua ngoại tệ tại tổ chức tín dụng được phép và chuyển ra nước ngoài trong thời hạn 30 (ba mươi) ngày làm việc, kể từ ngày mua được ngoại tệ.

Ngoài ra TT 19/2014/TT-NHNN có những quy định về quyền lợi như mở tài khoản đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ và bằng đồng Việt Nam; Sử dụng tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng ngoại tệ; Sử dụng tài khoản vốn đầu tư trực tiếp bằng đồng Việt Nam; Chuyển vốn, lợi nhuận và nguồn thu hợp pháp ra nước ngoài; Chuyển vốn cho giai đoạn chuẩn bị đầu tư; Thực hiện đầu tư trực tiếp dưới hình thức góp vốn, mua cổ phần và một số quyền lợi khác theo quy định của pháp luật Việt Nam.

Qua các quy định trên có thể thấy nhà nước Việt Nam cố gắng hết sức tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư được hưởng các ưu đãi tốt nhất, thể hiện thiện chí của Việt Nam trong khuyến khích đầu tư, thúc đầy, đẩy mạnh việc thu hút đầu tư. Đồng thời Việt nam vẫn đang tiếp tục nghiên cứu sửa đổi cải cách chính sách pháp luật về ngoại hối tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tham gia đầu tư tại Việt Nam.

2.2. Những chính sách của tỉnh Quảng Ninh về ưu đãi đầu tư Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh áp dụng các quy định về ưu đãi đầu tư theo chính sách và pháp luật đầu tư của Việt Nam gồm: Ưu đãi về thuế thu nhập doanh nghiệp theo Nghị định số 218/2013/NĐ-CP ngày 26/12/2013 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành luật thuế thu nhập doanh nghiệp; Thuế nhập khẩu theo Nghị định số 134/2016/NĐ-CP ngày 01/09/2016 quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu; Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế; Tiền thuê đất, thuê mặt nước theo Nghị định 46/2014/NĐ-CP ngày 15/05/2014 của Chính phủ quy định về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước; Xuất, nhập cảnh, cư trú, tạm trú theo Nghị định 29/2008/NĐ-CP ngày 14/3/2008 của Chính phủ quy định về khu công nghiệp, khu chế xuất và khu kinh tế.

Ngoài ra, tỉnh Quảng Ninh cũng có những chính sách ưu đãi đầu tư riêng phù hợp với đặc thù của tỉnh để khuyến khích các nhà đầu tư khi đầu tư vào tỉnh Quảng Ninh.

2.2.1. Ưu đãi đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế tại Quảng Ninh

Uỷ ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã ra Quyết định 2895/2015/QĐ-UBND ngày 30/9/2015 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc ban hành quy định về chính sách hỗ trợ và ưu tiên đầu tư vào các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh (sau đây goi là Quyết định 2895).

Theo Quyết định 2895 chủ đầu tư khu công nghiệp được hưởng những hỗ trợ đầu tư như sau:

  • Thứ nhất, ưu đãi về thuê đất và tiền thuê đất.

Điều 5 Quyết định 2895 quy định đơn giá thuê đất đối với các dự án đầu tư hạ tầng KCN được tính tỷ lệ tiền thuê đất ở mức thấp nhất là 0,5% nhân với (x) giá đất tính thu tiền thuê đất. Giá đất để tính tiền thuê đất được xác định theo quy định tại khoản 4, khoản 5, Điều 4, Nghị định số 46/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ về thu tiền thuê đất, thuê mặt nước.

Ngoài ra, theo Điều 6 Quyết định này thì chủ đầu tư khu công nghiệp còn được hưởng một số chính sách ưu đãi về đất xây dựng khu dân cư, tái định cư, cụ thể là: Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Chủ đầu tư hạ tầng KCN được tỉnh chấp thuận giao thêm diện tích đất hợp lý để đầu tư xây dựng khu tái định cư, xây dựng nhà ở công nhân và khu chuyên gia phục vụ hậu cần cho KCN trên cơ sở phù hợp với các quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt; trường hợp khu vực chưa có quy hoạch xây dựng, chủ đầu tư hạ tầng KCN được xem xét giới thiệu địa điểm phù hợp, đảm bảo thuận lợi cho công tác đầu tư xây dựng hạ tầng KCN.

Dự án đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng KCN có diện tích từ 100 ha trở lên được xét ưu tiên đầu tư kinh doanh khu đô thị hoặc khu dân cư dịch vụ hạ tầng xã hội ngoài hàng rào đi kèm KCN có diện tích tương ứng từ 30% đến 50% diện tích KCN (Nhà đầu tư phải đáp ứng quy định của pháp luật hiện hành về kinh doanh bất động sản và quy định của Ủy ban nhân dân tỉnh về điều kiện lựa chọn nhà đầu tư thực hiện dự án kinh doanh hạ tầng khu đô thị trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh).

  • Thứ hai, chính sách hỗ trợ chi phí giải phóng mặt bằng

Theo Điều 7 Quyết định 2895 thì chủ đầu tư KCN được ngân sách tỉnh hỗ trợ bằng hình thức ứng trước 30% chi phí bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư được cấp có thẩm quyền phê duyệt và chủ đầu tư KCN có trách nhiệm hoàn trả khoản kinh phí nêu trên cho ngân sách tỉnh sau khi có nhà đầu tư thứ cấp thuê lại đất song không quá 12 tháng kể từ ngày được bàn giao mặt bằng sạch.

Chủ đầu tư KCN chỉ được ứng khoản hỗ trợ nêu trên khi đã thực hiện chi trả đạt ít nhất 50% giá trị theo phương án chi trả được duyệt.

Trước khi dự toán ngân sách hàng năm của tỉnh được xây dựng (trước ngày 31/10 năm trước), các Chủ đầu tư KCN phải đăng ký cụ thể nhu cầu vốn ứng trước từ ngân sách tỉnh cho bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư để tỉnh cân đối và quyết định giao kế hoạch vốn cho từng dự án.

Ban Quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh chủ trì thực hiện việc đôn đốc chủ đầu tư hạ tầng KCN hoàn trả kinh phí ngân sách tỉnh ứng trước cho công tác giải phóng mặt bằng theo quy định.

  • Thứ ba, về hỗ trợ xây dựng hệ thống nước thải trong KCN:

Sau khi triển khai xây dựng xong hệ thống xử lý nước thải, Chủ đầu tư KCN được tỉnh hỗ trợ 30% tổng mức đầu tư đối với hệ thống xử lý nước thải cho mỗi KCN, nhưng tối đa không quá 30 tỷ đồng (Điều 8 Quyết định 2895).

  • Thứ tư, một số hỗ trợ khác. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Chủ đầu tư KCN được cung cấp miễn phí thông tin về quy hoạch xây dựng và bản đồ địa chính để triển khai thực hiện dự án (Điều 9 Quyết định 2895).

  • Hỗ trợ đào tạo nghề:

Các dự án đầu tư mới hoặc dự án mở rộng sản xuất trong KCN được tỉnh hỗ trợ chi phí đào tạo nghề ngắn hạn cho người lao động trong và ngoài tỉnh làm việc trong KCN trong thời gian hai (02) năm đầu kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đầu tư. Việc hỗ trợ kinh phí đào tạo nghề thực hiện thông qua các cơ sở dạy nghề.

Mức hỗ trợ chi phí đào tạo nghề ngắn hạn ban đầu đối với nghề có thời gian đào tạo dưới 03 tháng bằng 50% mức lương tối thiểu chung/tháng. Đối với các nghề có thời gian đào tạo từ 03 tháng đến dưới 01 năm (trình độ sơ cấp nghề) thì mức hỗ trợ bằng 50% mức lương tối thiểu chung/tháng và tối đa bằng 03 lần mức lương tối thiểu chung/khóa đào tạo(Điều 10 Quyết định 2895).

  • Hỗ trợ xúc tiến thương mại và đầu tư:

Doanh nghiệp trong KCN được Ủy ban nhân dân tỉnh chấp thuận cho phép tham gia các hội nghị xúc tiến đầu tư, thương mại do tỉnh tổ chức, được hỗ trợ chi phí xúc tiến thương mại và đầu tư như sau:

Hỗ trợ 50% chi phí thuê gian hàng và các chi phí liên quan trực tiếp cho doanh nghiệp tham gia hội chợ quốc gia và quốc tế. Mức hỗ trợ tối đa không quá 20 triệu đồng/1 lần/1 năm/1 doanh nghiệp.

Hỗ trợ 50% chi phí đi lại cho một chủ doanh nghiệp tham gia chương trình xúc tiến thương mại, đầu tư của tỉnh (Điều 11 Quyết định 2895).

  • Hỗ trợ chuyển giao công nghệ Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Được hưởng chế độ hỗ trợ đối với hoạt động áp dụng hệ thống quản lý tiên tiến, hỗ trợ hoạt động xác lập quyền sở hữu công nghiệp và hỗ trợ kinh phí tham gia chợ công nghệ và thiết bị, hội chợ thương hiệu,… theo quy định tại Quyết định số 3799/2010/QĐ-UBND ngày 15/12/2010 của Ủy ban Nhân dân tỉnh ban hành quy định một số cơ chế tài chính khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, cá nhân trong hoạt động Khoa học và Công nghệ trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.

Hỗ trợ chi phí thông báo thành lập doanh nghiệp và quảng cáo sản phẩm trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh Quảng Ninh và website Ban quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh (Điều 13 Quyết định 2895).

Các doanh nghiệp được miễn phí thông báo thành lập doanh nghiệp, thông báo bổ sung ngành nghề kinh doanh theo quy định của Luật Doanh nghiệp trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh Quảng Ninh và website Ban quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh.

Các doanh nghiệp tham gia quảng cáo sản phẩm trên Cổng thông tin điện tử của tỉnh Quảng Ninh và website Ban quản lý Khu kinh tế Quảng Ninh được tỉnh hỗ trợ giảm 15% trên tổng số tiền phải trả cho hợp đồng quảng cáo.

  • Thứ năm, một số chính sách ưu tiên đầu tư vào khu công nghiệp, khu kinh tế.

Cũng theo Quyết định 2895/2015/QĐ-UBND ngày 30/9/2015, Ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ninh đã có những chính sách ưu tiên đầu tư khu công nghiệp, khu kinh tế như:

Các dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội trong KKT, dự án đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng kỹ thuật trong và ngoài hàng rào KCN gồm: (1) Đường giao thông; hệ thống cấp điện; cấp nước, thoát nước; bồi thường, giải phóng mặt bằng; (2) Bồi thường, giải phóng mặt bằng và xây dựng hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội khu nhà ở công nhân và khu tái định cư phục vụ người bị thu hồi đất trong KKT; (3) Khu xử lý chất thải rắn tập trung và hệ thống xử lý nước thải tập trung của KCN, khu phi thuế quan trong KKT (bao gồm hệ thống thoát nước thải, trạm xử lý nước thải tập trung); (4) Đấu nối các công trình kết cấu hạ tầng trong hàng rào KCN, KKT; cơ sở đào tạo nghề; cơ sở khám chữa bệnh; trường học và các công trình công cộng khác đáp ứng nhu cầu phát triển KCN, KKT được xác định là những dự án trọng điểm cần ưu tiên dành nguồn lực từ ngân sách tỉnh để đầu tư trong phân bổ kế hoạch vốn đầu tư hàng năm.

Ủy ban nhân dân tỉnh xem xét quyết định ưu tiên đầu tư đối với từng dự án cụ thể sau khi thống nhất với Thường trực Hội đồng nhân dân tỉnh và báo cáo Hội đồng nhân dân tỉnh tại kỳ họp gần nhất (Điều 14 Quyết định 2895).

Đối với khu kinh tế Vân Đồn tỉnh áp dụng cơ chế, chính sách đặc thù theo Quyết định số 2428/QĐ-TTg ngày 31/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về một số cơ chế, chính sách đặc thù đối với tỉnh Quảng Ninh và KKT Vân Đồn. Tỉnh Quảng Ninh đã xem xét hỗ trợ một phần từ nguồn ngân sách nhà nước, nguồn trái phiếu Chính phủ, nguồn ODA đối với các dự án: Sân bay Vân Đồn (Cảng hàng không Quảng Ninh), Bệnh viện quốc tế Vân Đồn, hạ tầng giao thông xuyên đảo.

2.2.2. Ưu đãi đầu tư đối với lĩnh vực nông nghiệp Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Đối với lĩnh vực nông nghiệp theo Quyết định 3262/2013/QĐ-UBND ngày 28/11/2013 của UBND tỉnh Quảng Ninh về việc áp dụng một số ưu đãi, hỗ trợ đầu tư đối với nhà đầu tư vào khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tỉnh Quảng Ninh các nhà đầu tư được hưởng các chính sách ưu đãi này phải có dự án đầu tư nghiên cứu hoặc ứng dụng nghiên cứu ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp thuộc lĩnh vực trồng trọt, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản hoặc có dự án đầu tư vào lĩnh vực đào tạo nguồn nhân lực cho ngành nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao. Tùy theo dự án, nhà đầu tư có thể được giao đất không thu tiền sử dụng đất, giảm tiền sử dụng đất hoặc miễn, giảm tiền thuê đất, thuê mặt nước; được hưởng mức ưu đãi cao nhất theo quy định của pháp luật về thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế giá trị gia tăng, thuế xuất – nhập khẩu (đối với doanh nghiệp nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao). Đối với doanh nghiệp thành lập từ dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực nông nghiệp công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ sẽ được áp dụng thuế suất ưu đãi 10% trong thời hạn 15 năm hoặc miễn thuế tối đa 4 năm kể từ khi có thu nhập chịu thuế và giảm 50% thuế thu nhập doanh nghiệp tối đa trong 9 năm tiếp theo. Bên cạnh đó, nhà đầu tư còn được ưu tiên xem xét vay vốn với lãi suất ưu đãi hoặc hỗ trợ lãi suất vốn vay…

Đồng thời, hàng năm tỉnh Quảng Ninh cũng sẽ bố trí một khoản ngân sách tỉnh để hỗ trợ kinh phí cho nhà đầu tư trong việc đào tạo nguồn nhân lực; phát triển thị trường, xây dựng thương hiệu; dịch vụ tư vấn và áp dụng khoa học công nghệ.Ngoài được hưởng chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư theo quyết định trên, nhà đầu tư còn được hưởng chế độ ưu đãi và hỗ trợ đầu tư khác theo quy định của pháp luật. Trường hợp nhà đầu tư thuộc đối tượng hưởng các chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư khác nhau theo quy định này hoặc các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan thì được hưởng mức ưu đãi và hỗ trợ đầu tư cao nhất.Mặc dù vậy, quyết định này cũng ràng buộc nhà đầu tư được hưởng các chính sách ưu đãi chỉ được chuyển dự án do mình thực hiện cho nhà đầu tư khác sau thời gian 5 năm kể từ ngày xây dựng hoàn thành đưa dự án vào hoạt động.Hiện nay, tỉnh Quảng Ninh có hai khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao tại xã Hồng Thái Tây (huyện Đông Triều) và xã Đại Bình (huyện Đầm Hà).

2.3. Kết quả thực hiện ưu đãi đầu tư tại Quảng Ninh trong thời gian qua Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Trong những năm gần đây, tỉnh Quảng Ninh đặc biệt chú trọng đến công tác cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, hỗ trợ doanh nghiệp. Hoạt động xúc tiến đầu tư được đẩy mạnh, tích cực kết nối, mời gọi các nhà đầu tư có tiềm lực trong và ngoài nước đầu tư dự án trên địa bàn tỉnh, như: Tập đoàn Toray (Nhật Bản), Công ty CP Sữa Việt Nam (Vinamilk), Công ty Serra Sunger ve Petrol Urunleri San.Tic.A.S (Thổ Nhĩ Kỳ), Công ty TNHH VINA – CPK (Anh Quốc); Tập đoàn C.E.O (Việt Nam); Tập đoàn Sozitz (Nhật Bản); Tập đoàn Vinci Group (Pháp)…tác động tích cực đến hoạt động xúc tiến đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội tỉnh. Để tạo điều kiện cho doanh nghiệp, Quảng Ninh đã ban hành nhiều chính sách , giải pháp thiết thực.

Hướng tới mục tiêu có 25.000 doanh nghiệp vào năm 2020, Quảng Ninh luôn đồng hành cùng doanh nghiệp với tư tưởng xuyên suốt “lấy sự hài lòng của nhân dân, tổ chức làm thước đo cho hiệu quả công tác cải cách hành chính”, theo đó, nhiều giải pháp đồng bộ đã được triển khai.

Quảng Ninh đã chỉ đạo tăng cường cải cách thủ tục hành chính theo hướng “giảm thủ tục, giảm thời gian, giảm chi phí”; tăng tỷ lệ thực hiện dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4; rà soát, chuẩn hóa tăng số thủ tục hành chính thực hiện đủ 4 bước “tiếp nhận, thẩm định, phê duyệt và trả kết quả” tại Trung tâm Hành chính công các cấp.

Nhiều thủ tục được cắt giảm đáng kể so với thời gian quy định, tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư, kinh doanh hoạt động cũng như đảm bảo tiến độ các chương trình, dự án. Theo đó, thời gian Cấp giấy chứng nhận đăng ký thành lập doanh nghiệp rút ngắn còn 2 ngày (giảm 1 ngày); thời gian cấp phép xây dựng và các thủ tục liên quan tối đa không quá 51 ngày và đang đặt mục tiêu giảm không quá 49 ngày, giảm 26 ngày so với quy định; thời gian đăng ký quyền sở hữu, sử dụng tài sản giảm xuống không quá 14 ngày; thời gian giải quyết tranh chấp hợp đồng còn dưới 200 ngày, thời gian giải quyết phá sản doanh nghiệp còn 24 tháng…

Quảng Ninh là một trong những địa phương đi đầu cả nước về xây dựng chính phủ điện tử. Địa chỉ: dichvucong.quangninh. là công cụ quan trọng giúp minh bạch hóa quá trình giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan quản lý nhà nước cho người dân, doanh nghiệp. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Tỉnh cũng cải cách mạnh mẽ thủ tục hải quan và thời gian thông quan hàng hóa thông qua hệ thống thanh toán thuế, lệ phí hải quan điện tử (e-payment); triển khai hệ thống dịch vụ công trực tuyến hải quan với 42 thủ tục; 100% Chi cục Hải quan thực hiện khai báo thủ tục hải quan điện tử, 100% tờ khai được hỗ trợ khai báo qua hệ thống thông quan điện tử; thời gian thông quan hàng hóa trung bình đối với hàng xuất khẩu là 21 giờ 34 phút, trung bình đối với hàng nhập khẩu là 39 giờ 45 phút…

Bên cạnh chương trình “Cafe doanh nhân”, các hội nghị tiếp xúc doanh nghiệp do tỉnh Quảng Ninh tổ chức định kỳ hàng tháng, Hiệp hội doanh nghiệp tỉnh Quảng Ninh cũng xây dựng kế hoạch gặp gỡ chuyên đề giữa lãnh đạo tỉnh và các sở, ban, ngành cùng các doanh nghiệp để cùng tháo gỡ khó khăn, vướng mắc.

Ngoài tổ chức gặp gỡ, đối thoại với doanh nhân, doanh nghiệp, các ngành chức năng của tỉnh còn làm tốt việc hỗ trợ doanh nghiệp như: thông tin về thị trường, quảng bá sản phẩm giúp doanh nghiệp mở rộng thị trường tiêu thụ và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp thuộc thế mạnh của tỉnh; phát triển sản xuất và đưa các mặt hàng về tiêu thụ ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, minh bạch; tăng cường hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao trình độ quản lý sản xuất, kinh doanh…

Hơn 2 năm qua, lãnh đạo tỉnh Quảng Ninh đã tổ chức gặp gỡ, tiếp xúc trên 3.000 doanh nghiệp, hợp tác xã, hộ kinh doanh. Cùng với đó, các sở, ngành, địa phương sau khi tiếp nhận ý kiến, kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp cũng quan tâm trả lời, giải quyết dứt điểm gần 600 kiến nghị của doanh nghiệp và tổ chức nhiều hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp khởi nghiệp…

Thời gian gần đây, UBND tỉnh Quảng Ninh cũng đã ban hành nhiều chính sách hỗ trợ doanh nghiệp và phần lớn các chính sách đã giải quyết cơ bản một số khó khăn mà doanh nghiệp đặt ra. Tỉnh tập trung đẩy mạnh phát triển các loại hình doanh nghiệp, đặc biệt là khu vực kinh tế tư nhân thông qua việc khuyến khích, tạo mọi điều kiện thuận lợi phát triển mạnh các loại hình kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành, lĩnh vực kinh tế. Nâng cao hiệu quả thu hút vốn đầu tư trực tiếp của nước ngoài; chủ động lựa chọn và ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, không gây ô nhiễm môi trường.

Với sự quan tâm chỉ đạo sát sao của lãnh đạo tỉnh, với việc áp dụng nhiều chính sách ưu đãi, hộ trợ đầu tư cùng sự minh bạch hóa về quá trình giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan quản lý nhà nước cho người dân, doanh nghiệp. Quảng Ninh là một trong những địa phương đi đầu cả nước về xây dựng chính phủ điện tử. Từ đó đã giúp cho các nhà đầu tư chủ động và dễ dàng khi xác định điều kiện được hưởng ưu đãi đối với dự án mà mình đầu tư. Các thủ tục, quy định để được hưởng ưu đãi được thực hiện nhanh chóng và được các nhà đầu tư đón nhận. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Năm 2017, với quyết tâm cao, Quảng Ninh đã nỗ lực vươn lên giành vị trí thứ nhất toàn quốc trong bảng xếp hạng chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI với 70,69 điểm, thứ hạng cao nhất từ trước đến nay. Hơn 10 năm qua, Quảng Ninh đã trải qua nhiều thăng trầm trong xếp hạng PCI. Từ nằm trong nhóm gần cuối bảng xếp hạng (58/63 tỉnh, thành phố vào năm 2007), Quảng Ninh đã bứt phá vươn lên, duy trì trong nhóm các tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành kinh tế xuất sắc nhất cả nước trong 5 năm liên tiếp (2013-2017). Năm 2013 chỉ số PCI Quảng Ninh đứng thứ 4, năm 2014 đứng thứ 5, năm 2015 đứng thứ 3, năm 2016 đứng thứ 2 và năm 2017 giành quán quân. Đây là lần đầu tiên Quảng Ninh vươn lên vị trí dẫn đầu trong số các tỉnh, thành phố có chất lượng điều hành kinh tế xuất sắc nhất bảng xếp hạng PCI 2017. Trong suốt chặng đường dài nỗ lực cải cách bền bỉ, Quảng Ninh đã tạo được sự hài lòng, đánh giá cao của cộng đồng doanh nghiệp thông qua kết quả khảo sát đo lường PCI. Điều này thể hiện niềm tin, sự đánh giá ngày càng cao và sự ghi nhận của cộng đồng doanh nghiệp, nhà đầu tư cũng như sự cố gắng, quyết tâm của cả hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở trong cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh… Qua đó tỉnh Quảng Ninh đã đạt được những kết quả đáng khích lệ về thu hút vốn đầu tư trên địa bàn tỉnh.

Theo số liệu báo cáo của sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Quảng Ninh tổng vốn đầu tư toàn xã hội năm 2017 của tỉnh Quảng Ninh đạt gần 60,6 nghìn tỷ, tăng 10,1% so với năm 2016.Vốn đầu tư vào tỉnh Quảng Ninh chủ yếu đến từ doanh nghiệp ngoài nhà nước đạt 25,7 nghìn tỷ đồng, chiếm 42,3% trong đó vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài là 12 nghìn tỷ đồng, chiếm 19%. Vốn nhà nước là 22,9 nghìn tỷ đồng, chiếm 19,9%.Các dự án đang được đẩy mạnh đầu tư, đẩy mạnh tiến độ hoành thành để sớm đưa vào sử dụng như: đường cao tốc Hạ Long – Vân Đồn; tuyến cao tốc nối Tp.Hạ Long với tuyến đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng; đầu tư xây dựng cầu Bạch Đằng và nút chuyển giao cuối tuyến; đầu tư nâng cấp Quốc Lộ 18A dọc từ P.Mông Dương (Cẩm Phả) đến Đông Triều; dự án đường dẫn cầu Bắc Luân 2….

Ngoài ra tỉnh Quảng Ninh cũng thu hút được nhiều nguồn vốn doanh nghiệp trong nước ở các lĩnh vực dịch vụ, du lịch nghỉ dưỡng, bất động sản như dự án sân golf FLC, Vincom Uông Bí, nhà thi đấu đa năng tại Đại Yên, khu nghỉ dưỡng Vinhomes Dragon Bay Hạ Long vv….tỉnh Quảng Ninh cũng đã tổ chức thực hiện kêu gọi hút vốn đầu tư nước ngoài tập trung vào các dự án đầu tư chuỗi dây chuyền công nghiệp dệt và hạ tầng tại KCN Texhong Hải Hà; kêu gọi đầu tư khu tổ hợp cảng biển, khu công nghiệp ở đầm nhà Mạc tại TX.Quảng Yên vv…

Theo thống kê của Sở Kế hoạch và đầu tư tỉnh Quảng Ninh tính đến tháng 7 năm 2018, Quảng Ninh đã có thêm 1.480 doanh nghiệp thành lập mới với tổng số vốn đăng ký đạt 14.900 tỷ đồng, tăng 15,3% về doanh nghiệp và tăng 134% về số vốn so với cùng kỳ. Hiện trên địa bàn tỉnh có 120 dự án FDI còn hiệu lực, tổng vốn đầu tư đăng ký đạt trên 6,23 tỷ USD đang thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Trong đó, tại các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh có 64 dự án, tổng vốn đầu tư đăng ký trên 2.580 triệu USD, còn lại là 56 dự án ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế. Điển hình như Dự án sản xuất giống, nuôi tôm công nghệ cao siêu thâm canh và sản xuất thức ăn, chế biến thủy sản tại huyện Đầm Hà có tổng vốn đăng ký đầu tư 500 tỷ đồng; quy mô 8 tỷ con/năm, năng suất nuôi tôm thương phẩm đạt khoảng 5.800 – 17.400 tấn/năm … Bên cạnh đó, nhiều dự án trọng điểm của Tập đoàn Sungroup và Tập đoàn Vingoup, FLC, Texhong,… đang tích cực triển khai đầu tư – đây là những dự án có quy mô lớn, trọng điểm khi hoàn thành, đi vào hoạt động sẽ có ảnh hưởng, tác động tích cực đến hoạt động xúc tiến đầu tư, thúc đẩy phát triển kinh tế- xã hội tỉnh. Hoạt động xúc tiến, thu hút các dự án đầu tư vào khu công nghiệp (KCN), khu kinh tế (KKT) được đổi mới và tăng cường theo hướng chủ động. 7 tháng đầu năm 2018, các KCN, KKT đã thu hút mới 8 dự án (5 dự án FDI và 3 dự án trong nước), điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho 11 lượt dự án (trong đó 3 dự án điều chỉnh tăng vốn). Lũy kế từ đầu năm đến cuối tháng 7, tổng vốn đầu tư thu hút vào các KCN, KKT đạt gần 6.000 tỷ đồng, bằng 24% kế hoạch năm và đạt 78,5% kế hoạch thu hút vốn FDI năm 2018. Hiện Ban Quản lý KKT tỉnh Quảng Ninh đang tiếp tục hỗ trợ, hướng dẫn các nhà đầu tư nghiên cứu, hoàn thiện hồ sơ đầu tư, trong đó có các dự án trọng điểm như: Dự án đầu tư Nhà máy vải không dệt tại KCN Cảng biển Hải Hà (vốn đầu tư đăng ký dự kiến hơn 200 triệu USD). Cơ quan chức năng cung điều chỉnh giấy chứng nhận đăng ký đầu tư cho dự án đầu tư xây dựng chuỗi dây chuyền dệt may tại KCN Cảng biển Hải Hà (dự kiến tăng vốn hơn 100 triệu USD); chuỗi các dự án đầu tư tại TP. Móng Cái của các Tập đoàn FLC và Tập đoàn Sun Group. Dự án đầu tư xây dựng, kinh doanh cơ sở hạ tầng KCN, cảng tổng hợp và dịch vụ kho bãi Bạch Đằng tại Khu vực Đầm Nhà Mạc, thị xã Quảng Yên.

2.4. Đánh giá pháp luật Việt Nam về ưu đãi đầu tư đối với các nhà đầu tư và thực tiễn áp dụng tại Quảng Ninh. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

2.4.1. Đánh giá pháp luật Việt Nam về ưu đãi đầu tư

Có thể thấy các chính sách ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp chủ yếu là các chính sách ưu đãi tài chính, có thể kể đến như sau:

Chính sách thuế Thu nhập doanh nghiệp (TNDN): Theo thời gian, thuế suất thuế TNDN đã giảm từ 32% (năm 1997) xuống còn 28% (năm 2008), xuống 25% năm 2009, xuống 22% kể từ ngày 1/1/2014 và tục giảm xuống còn 20% từ năm 2016. Các ưu đãi về thuế TNDN được cấp cho các dự án đầu tư trong các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, đầu tư trong lĩnh vực công nghệ cao, trong các lĩnh vực nghiên cứu phát triển khoa học và kỹ thuật, trong đầu tư vào cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng đối với quốc gia và trong sản xuất phần mềm công nghệ thông tin. Các doanh nghiệp mới thành lập trong khu công nghiệp hay khu chế xuất cũng được hưởng ưu đãi thuế TNDN.

Thuế xuất nhập khẩu: Việc miễn thuế xuất nhập khẩu được áp dụng đối với các hàng hóa nhập khẩu để gia công và được miễn thuế xuất khẩu cho cùng loại hàng hóa đó khi tái xuất. Các loại hàng hóa của Việt Nam xuất khẩu để phục vụ gia công được miễn thuế xuất khẩu, ngược lại khi tái nhập khẩu các linh kiện cấu thành được miễn thuế nhập khẩu căn cứ vào giá trị xuất khẩu. Hiện tại, không còn sự phân biệt ưu đãi thuế xuất nhập khẩu giữa các nhà đầu tư nước ngoài và nhà đầu tư trong nước.

Chính sách ưu đãi tài chính về đất đai: Luật Đất đai ban hành cho phép các nhà đầu tư nước ngoài chọn hoặc trả tiền thuê đất một lần hoặc trả tiền thuê đất hằng năm trong thời gian hoạt động. Các nhà đầu tư được hưởng lợi từ việc miễn tiền thuê đất và mặt nước đối với các dự án cả trong thời gian xây dựng dự án được các cơ quan thẩm quyền phê duyệt và trong các lĩnh vực được hưởng khuyến khích đặc biệt và đầu tư tại các vùng kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn.

Chính sách tín dụng: Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài vay tiền từ các ngân hàng Việt Nam được hưởng lãi suất ưu đãi tối đa 9%/năm đối với các dự án đầu tư thực hiện trong 5 lĩnh vực cụ thể là nông nghiệp và phát triển nông thôn, xuất khẩu, các ngành công nghiệp phụ trợ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa, các ngành công nghệ cao. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài cũng được hưởng những ưu đãi của chính quyền địa phương dưới các hình thức như hỗ trợ giải phóng mặt bằng, chi phí quảng cáo, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực…

Chính sách ưu đãi đầu tư của Việt Nam so với khu vực có nhiều tiến bộ và có thể nói là có ưu điểm khá mạnh so với các nước. Đặc biệt, mức thuế suất thuế TNDN 20% của Việt Nam là rất hấp dẫn trong khu vực, gần ở mức thấp nhất, chỉ cao hơn so với Singapore. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Nhìn bề ngoài, mức thuế suất đó cộng với các chính sách ưu đãi thuế TNDN với ngành nghề kinh doanh và địa bàn đầu tư tương đối rộng là khá hấp dẫn.

Vấn đề hiện nay về ưu đãi đầu tư vẫn là làm sao chúng ta cân đối được ngành nghề thực sự cần thu hút, cũng như địa bàn nào cần phải thu hút đầu tư để có chính sách phù hợp. Cùng với đó, cần có các chính sách mang tính chuyên ngành từ các bộ, ngành liên quan để cùng hỗ trợ thì sẽ tạo sức hút lớn hơn với dòng vốn đầu tư trong thời gian tới.

Ngoài ra, ở phạm vi quốc gia cũng như ở phạm vi các địa phương, chưa có sự đánh giá tác động trong quá trình ban hành chính sách ưu đãi đầu tư. Khi xây dựng các chính sách ưu đãi đầu tư thì cần phải đánh giá cả tác động tích cực và tiêu cực, chú trọng sử dụng phương pháp định lượng.Trong thời gian qua, việc đề xuất chính sách ưu đãi chỉ tập trung vào việc trình bày những tác động tích cực của chính sách như giúp phát triển kinh tế quốc gia hay của địa phương, hoặc tăng vốn đầu tư vào một ngành nghề cụ thể. Tuy nhiên, các tác động tiêu cực về ngân sách, về giảm đầu tư ở nơi khác hoặc tác động tiêu cực về môi trường, cạnh tranh thì thường không được đề cập trong quá trình xây dựng chính sách. Một số địa phương thu hút đầu tư bằng mọi giá, chạy theo số lượng dự án đầu tư, dự án ảo, thiếu sự tính toán bền vững cho lâu dài, thiếu tính thực tế, các dự án chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển, thiếu sự đồng bộ, liên kết giữa nhà nước và các địa phương. Do đó, cần tiến tới đặt ra nguyên tắc rằng nếu đề xuất chính sách ưu đãi đầu tư nào mà không thể hiện đầy đủ và rõ nét các tác động tiêu cực thì phải được hạn chế trong quá trình thẩm định, thẩm tra và thông qua.

2.4.2. Đánh giá thực tiễn áp dụng pháp luật ưu đãi đầu tư tại Quảng Ninh trong thời gian qua Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

  • Những kết quả đạt được

Thứ nhất, tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện tốt các chính sách pháp luật của nhà nước về ưu đãi đầu tư. Các cải cách mạnh mẽ thủ tục hành chính, sự minh bạch hóa về quá trình giải quyết thủ tục hành chính của cơ quan quản lý nhà nước tại tỉnh Quảng Ninh là một trong những điểm sáng của Quảng Ninh trong thời gian qua. Sự minh bạch của thủ tục hành chính nói chung kéo theo sự minh bạch trong các thủ tục quy trình đầu tư, giúp cho các nhà đầu tư chủ động và dễ dàng khi xác định điều kiện được hưởng ưu đãi đối với dự án mà mình đầu tư. Các thủ tục, quy định để được hưởng ưu đãi được thực hiện nhanh chóng và được các nhà đầu tư đón nhận.

Thứ hai, ngoài việc áp dụng các quy định về ưu đãi đầu tư theo chính sách và pháp luật của Nhà nước, tỉnh Quảng Ninh đã ban hành các văn bản thể hiện chính sách ưu đãi đầu tư riêng của Quảng Ninh, phù hợp với đặc thù của tỉnh như các Quyết định 2895, Quyết định 3262 của UBND tỉnh. Các văn bản này đã cho thấy sự chủ động của UBND tỉnh trong việc vận dụng chính sách và pháp luật về ưu đãi đầu tư tại địa phương, phù hợp với sự phân quyền của Chính phủ cho địa phương, đặc biệt là các ưu đãi đầu tư để phát triển các khu công nghiệp và khu kinh tế trên địa bàn tỉnh. Các chính sách ưu đãi và hỗ trợ đầu tư của tỉnh cho các doanh nghiệp đầu tư phát triển hạ tầng KCN hay đầu tư vào KCN đã đem lại những kết quả rất khả quan. Tại các khu công nghiệp, khu kinh tế trên địa bàn tỉnh trong thời gian vừa qua đã có 64 dự án với tổng vốn đầu tư đăng ký trên 2.580 triệu USD, cao hơn nhiều so với các dự án ngoài khu công nghiệp, khu kinh tế.

Thứ ba, một trong những nội dung mà tỉnh Quảng Ninh đã thực hiện rất tốt trong thời gian vừa qua, đó là các hỗ trợ dành cho doanh nghiệp, nhà đầu tư thực hiện đầu tư vào Quảng Ninh. Các hỗ trợ được thực hiện rất đa dạng: hỗ trợ thông tin về thị trường, quảng bá sản phẩm giúp doanh nghi ệp mở rộng thị trường tiêu thụ và đẩy mạnh xuất khẩu các sản phẩm nông nghiệp thuộc thế mạnh của tỉnh; hỗ trợ phát triển sản xuất và đưa các mặt hàng về tiêu thụ ở vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bình đẳng, minh bạch; tăng cường hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực nhằm nâng cao trình độ quản lý sản xuất, kinh doanh. Những hoạt động hỗ trợ này, tuy không phải là những ưu đãi tài chính tính được bằng tiền nhưng lại rất hữu ích đối với nhà đầu tư, giúp nhà đầu tư giảm thời gian, chi phí và giúp tạo môi trường đầu tư an toàn, thuận lợi cho nhà đầu tư. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Thứ tư, các kết quả về thu hút đầu tư trong thời gian qua tại Quảng Ninh cho thấy sự chủ động của tỉnh trong việc lựa chọn và thực hiện ưu đãi đối với các dự án đầu tư, đặc biệt là đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, không gây ô nhiễm môi trường; các dự án trong các lĩnh vực mà tỉnh dành ưu tiên phát triển, phù hợp với đặc thù của tỉnh như lĩnh vực dịch vụ, du lịch nghỉ dưỡng, bất động sản, hạ tầng tại KCN, cảng biển, cảng tổng hợp và dịch vụ kho bãi.

Thứ năm, việc áp dụng chính sách pháp luật ưu đãi đầu tư tại Quảng Ninh đã góp phần thu hút, sử dụng vốn đầu tư trong nước và nước ngoài thời gian qua. Số vốn thu hút được về cơ bản đã đáp ứng những mục tiêu đề ra về thu hút vốn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, giải quyết việc làm, tăng năng suất lao động, tiếp thu công nghệ và kinh nghiệm quản lý hiện đại. Điều này khẳng định chủ trương đúng đắn của tỉnh Quảng Ninh trong việc phát triển kinh tế, hội nhập kinh tế quốc tế.

  • Một số tồn tại và nguyên nhân

Thứ nhất, chưa làm rõ mối quan hệ giữa chính sách ưu đãi đầu tư và chính sách kinh tế ngành. Đối với các doanh nghiệp đầu tư trong một ngành, lĩnh vực thì các quy định quản lý ngành sẽ ảnh hưởng đến quyết định đầu tư hơn là các quy định về ưu đãi. Do đó, để thu hút đầu tư vào một ngành, lĩnh vực thì trước tiên cần tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư thông qua việc dỡ bỏ rào cản gia nhập ngành, minh bạch hoá thông tin chính sách, đơn giản hoá thủ tục hành chính, cải thiện cơ sở hạ tầng trước khi phải sử dụng đến biện pháp ưu đãi đầu tư. Ví dụ: khi Nhà nước muốn khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư nhiều hơn cho nghiên cứu và phát triển (R&D) thì cần có kế hoạch, chiến lược để bảo hộ sáng chế, đảm bảo thực thi các quy định quyền sở hữu trí tuệ trước khi tính đến việc ưu đãi đầu tư.

Thứ hai, tính minh bạch về điều kiện và thủ tục hưởng ưu đãi chưa cao. Thời gian qua có tình trạng một số chính sách ưu đãi được ban hành nhưng không có quy định hoặc quy định không minh bạch về điều kiện và thủ tục để được hưởng ưu đãi. Điều này dẫn đến tình trạng doanh nghiệp gặp khó khăn vướng mắc trong việc xin xác nhận đối tượng được hưởng ưu đãi. Thậm chí, có trường hợp chính sách trao quyền tùy nghi quá lớn cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận, tạo cơ hội cho tham nhũng tiêu cực, doanh nghiệp phải chung chi để được xác nhận đủ điều kiện được ưu đãi. Kết quả là chính sách ưu đãi không phát huy được tác dụng, làm nản lòng những doanh nghiệp muốn đầu tư vào những lĩnh vực được khuyến khích. Do đó, các chính sách ưu đãi cần hết sức chú ý đến việc bảo đảm tính minh bạch, rõ ràng về điều kiện, tiêu chí, thủ tục để được hưởng ưu đãi. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Thứ ba, cần xác định thời hạn đối tượng được hưởng các chính sách ưu đãi. Việc ưu đãi có thể được coi là biện pháp “mồi”, nhằm tạo lập, thu hút nhà đầu tư trong một giai đoạn nhất định. Sau một thời gian, nếu lĩnh vực, địa bàn đó đã có làn sóng đầu tư tốt, thì cần giảm bớt chính sách ưu đãi; nếu lĩnh vực, địa bàn đó không có nhiều nhà đầu tư thì tức là biện pháp ưu đãi không hiệu quả, cần được nâng cấp hoặc điều chỉnh cho phù hợp hơn. Chính vì thế nên đưa ra một nguyên tắc rằng các quy định về ưu đãi đầu tư chỉ có hiệu lực trong tối đa 5 năm kể từ khi ban hành (tức là chỉ áp dụng cho những dự án được cấp phép đầu tư hoặc bắt đầu nộp hồ sơ xin cấp phép đầu tư trong thời hạn đó). Sau 5 năm, biện pháp ưu đãi đầu tư phải được gia hạn, hoặc nếu không sẽ tự động hết hiệu lực, không áp dụng cho các dự án mới nữa. Lưu ý, biện pháp ưu đãi có thể kéo dài hơn thời gian đó (ví dụ như miễn thuế 4 năm, giảm thuế trong 9 năm). Hầu hết các chính sách về ưu đãi, hỗ trợ đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh chưa có quy định về thời hạn hiệu lực, điều này có thể dẫn tới các tùy nghi trong việc áp dụng, giảm hiệu quả của chính sách ưu đãi.

Thứ tư, cần gắn việc xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư có sử dụng ngân sách với quá trình xây dựng kế hoạch, dự toán ngân sách. Hiện nay ở Quảng Ninh vẫn có tình trạng tách biệt giữa xây dựng chính sách ưu đãi đầu tư với việc xây dựng kế hoạch ngân sách. Nhiều chính sách ưu đãi đầu tư dàn trải, lãng phí, gây xói mòn cơ sở thu ngân sách. Có thể tính đến giải pháp đưa những nội dung chung, mang tính nguyên tắc, về tổng chi/giảm thu cho ưu đãi đầu tư vào trong dự toán ngân sách. Các chính sách ưu đãi cụ thể không được phép vượt quá nguyên tắc và tổng chi/giảm thu đó.

Thứ năm, thực tiễn quản lý về đầu tư nói chung và ưu đãi đầu tư nói riêng vẫn còn trong tình trạng chồng chéo hoặc phân tán. Trong một số trường hợp còn chưa xác định rõ các điều kiện được hưởng ưu đãi đầu tư sẽ do ban quản lý khu công nghiệp, khu kinh tế và sở kế hoạch đầu tư của địa phương xác nhận.

  • Nguyên nhân của những tồn tại nói trên Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Xuất phát từ tình hình suy giảm kinh tế, nhà nước đang có chủ trương kiềm chế lạm phát, nhìn chung tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc mà nguyên nhân tập trung vào các vấn đề bao gồm cả yếu tố chủ quan và khách quan đang diễn ở tỉnh Quảng Ninh như sau:

  • Hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đã được đầu tư cải tạo nâng cấp nhưng chưa đáp ứng nhu cầu đi lại nhiều đoạn xuống cấp, nhỏ hẹp, ảnh hưởng nhu cầu giao thông; Các thế mạnh của các tỉnh có nhiều tiềm năng phát triển nhưng chưa được đầu tư khai thác đúng tiềm năng; tuyến đường sắt đầu tư chậm tiến độ,…
  • Lạm phát tăng cao ảnh hưởng tiêu cực đến khối doanh nghiệp, giá cả tăng mạnh làm tăng chi phí đầu vào sản xuất kinh doanh, ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp, doanh nghiệp không chủ động được các kế hoạch đầu tư kinh doanh.
  • Hệ thống chính sách, luật pháp có liên quan như: đầu tư, doanh nghiệp, lao động và một số luật chuyên ngành vẫn còn một số điểm thiếu đồng bộ còn chồng chéo gây khó khăn cho công tác thực hiện.
  • Một số dự án dự kiến sẽ triển khai nghiên cứu và đề xuất đầu tư trong thời gian tới cũng phải giãn tiến độ do chủ đầu tư phải tính toán tới thời điểm đầu tư để tránh những rủi ro.
  • Việc cập nhật các thông tin liên quan đến quy hoạch đất đai, địa điểm, giá đất,… còn thiếu, đặc biệt là việc chuẩn bị sẵn sàng “quỹ đất sạch” và các điều kiện hạ tầng đáp ứng được nhu cầu của nhà đầu tư vẫn là những điểm yếu cần được cải thiện.
  • Việc đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng các khu công nghiệp chậm hơn một nhịp so với các tỉnh bạn; năng lực tài chính, kinh nghiệm quản lý, kinh doanh hạ tầng của một số chủ đầu tư còn hạn chế.
  • Nhà ở của công nhân khu công nghiệp cũng đang là vấn đề bức xúc và nhu cầu thiết yếu của nhiều người lao động, tuy nhiên vẫn chưa được đáp ứng. Một số nhà đầu tư đề xuất được xây dựng nhà ở cho công nhân, nhưng tỉnh vẫn chưa có quỹ đất để đáp ứng yêu cầu của doanh nghiệp.
  • Chế độ thông tin, báo cáo của doanh nghiệp: một số doanh nghiệp thực hiện chưa nghiêm túc, không đúng thời gian quy định gây khó khăn trong công tác quản lý. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

Tình hình thiếu hụt nguồn nhân lực đã qua đào tạo, đặc biệt là công nhân kỹ thuật và kỹ sư có trình độ tay nghề cao, kể cả lao động phổ thông đang là vấn đề quan tâm của nhiều nhà đầu tư. Mặt khác trong thời gian qua việc thu hút việc làm từ khối doanh nghiệp vẫn chưa thực sự tương xứng với tiềm năng của doanh nghiệp trong tỉnh.

Ngoài những yếu tố trên thì việc chậm trễ trong khi giải quyết thủ tục hành chính đối với các dự án đầu tư cũng là một yếu tố trở ngại trong thu hút đầu tư. Việc bố trí các điểm giao dịch của từng ngành chưa khoa học làm cho nhà đầu tư chưa nhận biết được một quy trình chuẩn khi thực hiện đầu tư. Cán bộ phụ trách chưa có chuyên môn sâu đáp ứng yêu cầu của nhà đầu tư nước ngoài, chưa có hệ thống tra cứu thông tin về việc xử lý thủ tục hành chính đang thực hiện. Việc phê duyệt dự án đầu tư liên quan đến nhiều cấp ngành và địa phương, vì vậy tình trạng chậm trễ trong quy trình phê duyệt dự án đầu tư chưa được cải thiện đáng kể. Đây là một trong những yếu tố kém hấp dẫn khi thu hút và quản lý dự án đầu tư.

  • Kết luận Chương 2

Chương 2 của luận văn đã trình bày khái quát thực trạng về pháp luật ưu đãi đầu tư tại Việt Nam và thực tiễn áp dụng pháp luật về ưu đãi đầu tư đối với nhà đầu tư tại Quảng Ninh. Luận văn cũng đã đưa ra những chính sách cụ thể của tỉnh Quảng Ninh về ưu đãi đầu tư trong một số lĩnh vực từ đó chỉ ra những bất cập, hạn chế, những điểm chưa hợp lý trong các quy định của pháp luật về ưu đãi đầu tư qua thực tiễn áp dụng pháp luật về ưu đãi đầu tư trên địa bàn tỉnh Quảng Ninh.Qua đó tổng kết, đánh giá lại những kết quả mà tỉnh Quảng Ninh đã đạt được trong thời gian qua trong việc áp dụng ưu đãi đầu tư, cũng như các vấn đề còn tồn tại. Đó là cơ sở để đề xuất giải pháp hoàn thiện chính sách, pháp luật về ưu đãi đầu tư trong thời gian tới để đảm bảo sự phát triển hài hòa, bình đẳng giữa các thành phần kinh tế. Luận văn: Thực trạng pháp luật ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về ưu đãi đầu tư tại tỉnh Quảng Ninh

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464