Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm và một số giải pháp, kiến nghị nâng cao vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện nay dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

3.1.1. Những quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người bằng pháp luật tố tụng hình sự

Ở nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, Đảng Cộng sản Việt Nam là tổ chức duy nhất lãnh đạo mọi hoạt động của Nhà nước ta. Đảng lãnh đạo Nhà nước thông qua việc đề ra đường lối, chủ trương, chính sách lớn, định hướng cho sự phát triển và kiểm tra việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách đó. Trong công cuộc đổi mới đất nước, Đảng ta đã có nhiều văn kiện quan trọng như Nghị quyết Trung ương 8 khóa VII; Nghị quyết Trung ương 3 và 7 khóa VIII, Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng; Nghị quyết số 08/NQ/TW của Bộ Chính trị ngày 02/01/2002 về “Một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”, đặc biệt Nghị quyết số 09/NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đế năm 2020” đã đề ra nhiệm vụ “Hoàn thiện chính sách, pháp luật hình sự và dân sự phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; hoàn thiện các thủ tục tố tụng tư pháp, bảo đảm tính đồng bộ, dân chủ, công khai, minh bạch, tôn trọng và bảo vệ quyền con người” [31]. Vấn đề này tiếp tục được đề cập đến tại Báo cáo chính trị của hai kỳ Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng tiếp theo là Đại hội X (năm 2006) và Đại hội XI (năm 2011). Các văn kiện của Đảng dù cách thức thể hiện khác nhau nhưng đều nhấn mạnh xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo đảm quyền con người, hoạt động lập pháp luôn ưu tiên bảo đảm quyền con người, nhất là trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự, nơi mà quyền con người dễ bị vi phạm nhất. Quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người bằng pháp luật Tố tụng Hình sự trong giai đoạn hiện nay như sau:

Thứ nhất, bảo đảm quyền con người bằng pháp luật Tố tụng Hình sự phải đặt dưới sự lãnh đạo, giám sát chặt chẽ của Đảng, có sự phân công, phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp.

Thứ hai, kế thừa và phát triển những quy định hợp lý trong việc bảo đảm quyền con người, sửa đổi bổ sung những quy định còn chưa hợp lý, chưa sát với hoạt động thực tiễn Tố tụng Hình sự, bỏ những nội dung, quy định không hợp lý, không còn phù hợp, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai.

Thứ ba, hoàn thiện mô hình Tố tụng Hình sự theo hướng tiếp thu những yếu tố tích cực của mô hình Tố tụng Hình sự tranh tụng, nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa.

Thứ tư, quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và mối quan hệ giữa các cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng. Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người.

Thứ năm, quy định rõ về quyền và nghĩa vụ của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo và người bào chữa cũng như những người tham gia tố tụng khác.

Thứ sáu, tăng cường hoạt động giám sát đối với hoạt động của cơ quan Tiến hành tố tụng.

Thứ bảy, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức theo hướng đồng bộ, chuyên nghiệp, đáp ứng được yêu cầu đặt ra.

3.1.2. Định hướng phát triển của pháp luật tố tụng hình sự với việc bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam năm 2013

Hiến pháp năm 2013 có hiệu lực từ ngày 1-1-2014 đã quy định bao quát hầu hết các quyền cơ bản về chính trị, dân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa của con người. Lần đầu tiên trong lịch sử lập hiến Việt Nam đã đưa cách tiếp cận của thế giới về nhân quyền vào Chương II: “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” và bổ sung “Quyền con người” vào tên chương, thể hiện nhận thức mới đầy đủ, sâu sắc hơn trong việc thể chế hóa quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về con người, coi con người là chủ thể, nguồn lực chủ yếu và là mục tiêu của sự phát triển. Việc đưa các nội dung liên quan đến quyền con người, quyền công dân vào nhiều chương khác của Hiến pháp nhằm tạo ra cơ chế hiến định bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Cần quán triệt định hướng phát triển pháp luật Tố tụng Hình sự với việc bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp năm 2013 như sau:

Thứ nhất, tiếp tục khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng cộng sản Việt Nam, Đảng gắn bó mật thiết với nhân dân, phục vụ nhân dân, chịu sự giám sát của nhân dân, chịu trách nhiệm trước nhân dân về những quyết định của mình [44, Điều 4].

Thứ hai, đổi mới về tổ chức và hoạt động của bộ máy Nhà nước theo yêu cầu của Nhà nước pháp quyền. Quyền lực nhà nước là thống nhất không chỉ được phân công, phối hợp mà còn có sự kiểm soát trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp.

Thứ ba, Chương 2 “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân” thể hiện Nhà nước công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người, quyền công dân.

Thứ tư, quy định người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật [44, Điều 31], quy định cụ thể, rõ ràng nguyên tắc bảo đảm tranh tụng trong xét xử là một bước tiến lớn và rất phù hợp với tinh thần cải cách tư pháp của Nhà nước ta. Đồng thời bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo, quyền bảo vệ lợi ích hợp pháp của đương sự được bảo đảm [44, Điều 103, Khoản 7]; Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa [44, Điều 31, Khoản 4]; Quyền được bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần, được phục hồi danh dự do hành vi trái pháp luật của những cơ quan và người Tiến hành tố tụng cũng được quy định cụ thể và mở rộng phạm vi đến người bị bắt, tạm giữ, tạm giam và trong tất cả các giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án [44, Điều 31, Khoản 5].

Thứ năm, tổ chức và hoạt động của hệ thống tư pháp được cải cách theo hướng Tòa án là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp [44, Điều 102], hệ thống tòa án theo cấp xét xử, không phụ thuộc vào địa giới đơn vị hành chính; Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp và Viện kiểm sát nhân dân có nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ quyền con người, quyền công dân…

Thứ sáu, cơ chế kiểm soát quyền lực đã được xác định, trong đó quyền của nhân dân với tư cách là chủ nhân của tất cả quyền lực Nhà nước được đề cao, các hình thức dân chủ được mở rộng. Vai trò giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên được khẳng định.

3.2 MỘT SỐ GIẢI PHÁP, KIẾN NGHỊ HOÀN THIỆN CƠ CHẾ, NÂNG CAO VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người.

3.2.1. Hoàn thiện các quy định chung dưới góc nhìn bảo đảm quyền con người

Bảo đảm quyền con người nói chung và bảo đảm quyền con người trong Tố tụng Hình sự nói riêng là vấn đề rộng lớn và phức tạp. Do đó, cần tiếp tục nghiên cứu các vấn đề lý luận về quyền con người và quyền con người trong pháp luật Tố tụng Hình sự theo hướng kế thừa những nội dung vẫn còn phù hợp của Bộ luật Tố tụng Hình sự trước đây, đồng thời tham khảo có chọn lọc những tư tưởng tiến bộ phù hợp với yêu cầu cải cách tư pháp vào trong Bộ luật nhưng phải phù hợp với đặc điểm cụ thể của mô hình Tố tụng Hình sự nước ta, cụ thể:

Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống pháp luật Tố tụng Hình sự theo hướng minh bạch trong việc xây dựng luật, dân chủ hóa quá trình xây dựng pháp luật, phát huy vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người.

Thứ hai, sửa đổi, bổ sung mô hình Tố tụng Hình sự nước ta theo hướng tranh tụng nhiều hơn và nâng cao chất lượng tranh tụng tại phiên tòa hình sự làm khâu đột phá, đồng thời ghi nhận nguyên tắc tranh tụng là một nguyên tắc cơ bản trong Bộ luật Tố tụng Hình sự, giữ vai trò chi phối và định hướng mọi hoạt động cũng như hành vi tranh tụng của tất cả các chủ thể tham gia vào quá trình Tố tụng Hình sự.

Thứ ba, cần chính thức ghi nhận suy đoán vô tội thành một trong những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật Tố tụng Hình sự để bảo đảm trách nhiệm của các cơ quan, người Tiến hành tố tụng trong việc chứng minh tội phạm và người phạm tội, tránh làm oan người vô tội, qua đó tôn trọng quyền con người đã được pháp luật quốc tế và pháp luật quốc gia ghi nhận.

Thứ tư, thủ tục xét hỏi tại phiên toà phải được sửa đổi theo hướng tập trung vào hoạt động tranh tụng giữa các bên, giữa bên bào chữa và bên buộc tội, mà không chỉ đơn thuần là xét hỏi, các bên tham gia phiên tòa thực hiện quyền đưa ra các chứng cứ và tiến hành hoạt động đối chứng.

Thứ năm, của người dân về quyền con nâng cao hoạt động giám sát của Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội đối với việc thực thi pháp luật, trong lĩnh vực tư pháp nói chung và tư pháp hình sự nói riêng.

3.2.2. Hoàn thiện các quy định về người tham gia tố tụng Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người.

  • Đối với người bị tạm giam, tạm giữ

Bổ sung, hoàn thiện các quy định về quyền, nghĩa vụ như quyền được thông báo việc buộc tội và chứng cứ buộc tội; quyền được thu thập chứng cứ, chứng minh…

Hoàn thiện các quy định về trách nhiệm, nghĩa vụ của cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng, nghiêm cấm mọi hình thức dùng nhục hình, bức cung, tra tấn để lấy lời khai của người bị tạm giữ, tạm giam, bảo vệ tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của người tạm giữ, tạm giam,

Quy định chặt chẽ căn cứ tạm giữ, tạm giam, hạn chế tạm giam đối với một số loại tội phạm, đồng thời tăng cường hiệu quả và tính khả thi của việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn khác.

Sửa đổi quy định về thẩm quyền ra quyết định tạm giữ, tạm theo hướng tăng thẩm quyền hơn nữa cho Kiểm sát viên, Điều tra viên, Thẩm phán và loại bỏ các quy định mang tính chất trung gian không cần thiết và hình thức, như Cơ quan điều tra ra quyết định, đề nghị Viện kiểm sát phê chuẩn, hoặc Kiểm sát viên, Thầm phán nghiên cứu hồ sơ rồi đề nghị Viện trưởng, Phó Viện trưởng, Chánh án, Phó Chánh án ra quyết định

  • Đối với bị can, bị cáo

Bổ sung các quyền của bị can, bị cáo theo hướng bảo đảm các quyền con người như quyền được im lặng, quyền được thông báo và giải thích các quyền của được hưởng, đồng thời quy định trách nhiệm, nghĩa vụ của người Tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm các quyền trên của bị can, bị cáo.

Xây dựng cơ chế bảo đảm các quyền của bị can, bị cáo như cơ chế thực hiện quyền bảo chữa, tự bào chữa, thu thập chứng cứ để tạo hành lang pháp lý cho bị can, bị cáo thực hiện quyền chứng minh bảo vệ lợi ích hợp pháp của mình và góp phần cho việc giải quyết vụ án được chính xác, khách quan và toàn diện.

  • Đối với người bào chữa Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người.

Hoàn thiện các quy định về người bào chữa theo hướng mở rộng quyền của người bào chữa (bất kỳ ai được người bị bắt, bị tạm giữ, bị can, bị cáo nhờ đều được tham gia bào chữa) và có cơ chế bảo đảm cho những người này thực hiện đầy đủ quyền bào chữa của mình theo quy định của pháp luật. Tạo điều kiện cho người bào chữa thực hiện tốt việc tranh tụng tại phiên toà, thì cần quy định rõ các quyền và biện pháp để Luật sư, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự tiến hành tự thu thập tài liệu, đồ vật liên quan đến việc bào chữa và giá trị pháp lý các tài liệu, đồ vật do họ cung cấp; các tình tiết và những lập luận của người bào chữa được xem như nguồn chứng cứ phải được các cơ quan tố tụng xem xét để giải quyết đúng đắn vụ án hình sự.

Đơn giản hóa thủ tục cấp giấy chứng nhận bào chữa và tham gia bào chữa hoặc bỏ thủ tục cấp giấy chứng nhận người bào chữa.

Quy định rõ trách nhiệm của cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng, bảo đảm người bào chữa tiếp cận được với quá trình giải quyết vụ án dễ dàng hơn và các chế tài áp dụng khi vi phạm.

Hoàn thiện quy định về Bào chữa viên nhân dân, tránh tình trạng chức danh Bào chữa viên nhân dân chỉ tồn tại trên phương diện pháp lý và các quy định về luật sư phù hợp với Luật luật sư năm 2006 (sửa đổi, bổ sung năm 2012).

  • Đối với người làm chứng

Sửa đổi, bổ sung các quyền và nghĩa vụ của người làm chứng theo hướng mở rộng quyền của người làm chứng, đồng thời quy định cụ thể và linh hoạt các trình tự thủ tục để bảo đảm tính khả thi, tạo điều kiện cho người làm chứng được thực hiện đầy đủ quyền và trách nhiệm tố tụng.

Nâng cao trách nhiệm của những người Tiến hành tố tụng đối với người làm chứng nhằm bảo đảm cho họ các quyền tự do, dân chủ của công dân mà Hiến pháp và pháp luật quy định. Xác định rõ trách nhiệm nhiệm vụ từng cơ quan Tiến hành tố tụng và người Tiến hành tố tụng trong việc bảo đảm thực thi các quyền và nghĩa vụ của người làm chứng.

Cần có cơ chế đảm bảo cho công dân quyền được trở thành người làm chứng trong vụ án hình sự như: Phát huy tinh thần làm chủ của nhân dân đảm bảo bất cứ công dân nào cũng có quyền trở thành người làm chứng, phát huy ý thức công dân coi việc ra tòa làm chứng là nghĩa vụ của công dân đồng thời cũng là quyền của công dân.

Bổ sung các quy định mới về chế độ thưởng, phạt, có cơ chế khuyến khích vật chất đối với những người làm chứng có thái độ khai báo tích cực và cung cấp các thông tin có giá trị giúp Cơ quan điều tra nhanh chóng xác định tội phạm.

3.2.3. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người.

Một là, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, thẩm quyền của các cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng. Nghị quyết số 49-NQ/TW về Chiến lược Cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng đã khẳng định “Phân định rõ thẩm quyền quản lý hành chính với trách nhiệm, quyền hạn tư pháp trong hoạt động tố tụng tư pháp theo hướng tăng quyền và trách nhiệm cho Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán để họ chủ động trong thực thi nhiệm vụ, nâng cao tính độc lập và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các hành vi và quyết định tố tụng của mình” [17, tr.18-20]. Do đó, cần xác định đúng vị trí của đội ngũ Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán là những nhân vật trung tâm của quá trình giải quyết vụ án, giao cho họ những thẩm quyền tố tụng cần thiết để chủ động thực hiện nhiệm vụ. Bảo đảm quyền hạn phải đi đôi với nâng cao trách nhiệm, chỉ khi quyền hạn gắn với trách nhiệm thì người Tiến hành tố tụng mới thận trọng hơn trong việc xử lý vụ án. Bên cạnh đó, cần phân biệt rõ hơn nhiệm vụ, quyền hạn của Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án trong việc tổ chức, chỉ đạo hoạt động tố tụng. Mỗi công việc của cơ quan, đơn vị đều phải có người chịu trách nhiệm giải quyết rõ ràng và người được giao giải quyết công việc phải chịu trách nhiệm về tiến độ, kết quả thực hiện công việc được giao, bảo đảm tính kịp thời của hoạt động tố tụng đối với từng vụ án cụ thể, bảo đảm quyền con người của những người tham gia tố tụng. Ngoài ra, cần đổi mới mạnh mẽ phương thực chỉ đạo, điều hành và thủ tục hành chính tư pháp trong hoạt động của Công an, Viện kiểm sát, Tòa án theo hướng nhanh, gọn, hiệu quả; phân công, phân nhiệm và phân cấp rõ ràng trong từng lĩnh vực công tác tránh được tình trạng dựa dẫm, đùn đẩy nhau trong việc giải quyết vụ án.

Hai là, tăng cường sự phối hợp của các cơ quan Tiến hành tố tụng, cơ quan tư pháp, đảm bảo cho quá trình tố tụng diễn ra nhanh chóng, chính xác, việc điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Ba là, tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng và nâng cao nhận thức của cán bộ, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán về quyền con người và ý thức bảo đảm quyền con người.

Bốn là, xây dựng đề án về công tác tổ chức cán bộ, về quy hoạch cán bộ, đổi mới phương thức giới thiệu, mở rộng nguồn bổ nhiệm để bổ nhiệm Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán để bổ sung kịp thời số cán bộ, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán còn thiếu, tránh hiện tượng quá tải trong công việc ở một số địa phương như hiện nay.

Năm là, xây dựng cơ chế, chính sách đãi ngộ thỏa đáng đối với cán bộ, công chức, những người Tiến hành tố tụng. Chế độ tiền lương phụ cấp, chế độ ưu đãi đối với cán bộ, công chức ngành Kiểm sát, Toà án còn thấp, điều kiện sinh hoạt và làm việc còn nhiều khó khăn, thiếu thốn, cộng với áp lực và trách nhiệm đối với công việc rất lớn. Do đó, cần có chính sách đãi ngộ đặc biệt để đảm bảo tốt nhất hiệu quả công việc mà họ thực hiện theo hướng quy định Thẩm phán, Kiểm sát viên, Điều tra viên có thang bảng lương riêng, phụ cấp và ưu đãi nghề nghiệp phù hợp với lao động mang tính đặc thù của ngành nhằm tạo tâm lý ổn định công tác, đồng thời thu hút những người có trình độ, năng lực, tâm huyết vào làm việc tại ngành tư pháp.

Sáu là, tăng cường cơ sở vật chất, phương tiện làm việc cho các cơ quan tố tụng nhằm xây dựng hệ thống cơ quan này đủ mạnh, để hoạt động của các cơ quan tư pháp luôn giữ được sự công tâm, vô tư, khách quan, sự uy nghi, bề thế của cơ quan nhà nước khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình

3.2.4. Hoàn thiện các quy định của pháp luật về các chế tài xử lý khi vi phạm Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người.

Để nâng cao vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong bảo đảm quyền con người thì cần phải có những chế tài nghiêm khắc để xử lý những hành vi xâm phạm đến quyền con người trong Tố tụng Hình sự. Cần xây dựng, quy định cụ thể những trường hợp vi phạm quyền con người thì sẽ có chế tài xử lý ra sao, tùy theo tính chất và mức độ vi phạm, pháp luật quy định các biện pháp pháp lý tương ứng theo:

  • Truy cứu trách nhiệm hình sự đối với các hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền con người được Bộ luật Hình sự quy định là tội phạm.
  • Xử lý kỷ luật đối với hành vi vi phạm quy định của pháp luật.
  • Các biện pháp tố tụng xử lý việc vi phạm quyền con người trong Tố tụng Hình sự như tạm giữ, tạm giam sai, thay đổi người Tiến hành tố tụng hình sự, hủy bỏ kết quả và phục hồi hoạt động tố tụng có vi phạm…
  • Trách nhiệm bồi thường thiệt hại của cơ quan Tiến hành tố tụng và người Tiến hành tố tụng

3.2.5. Tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục về quyền con người

Bên cạnh việc hoàn thiện các quy định của pháp luật về người tham gia tố tụng thì cần tăng cường hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục về quyền con người đến với mỗi công dân Việt Nam, đặc biệt người bị tam giữ, tạm giam, bị can, bị cáo – những người mà quyền con người dễ bị xâm phạm nhất thì cần phải nâng cao khả năng tự bảo vệ quyền con người của họ bằng việc tạo điều kiện tốt nhất để họ có thể tiếp thu những kiến thức giáo dục về quyền con người và tiếp cận với các dịch vụ pháp lý thực hiện quyền bào chữa của mình trong quá trình tố tụng như thuê người bào chữa, chi phí thu thập chứng cứ, đơn giản hóa các thủ tục tố tụng…

3.2.6. Tăng cường vai trò giám sát của các cơ quan dân cử, của công luận và của nhân dân

Tăng cường và nâng cao hiệu lực giám sát việc chấp hành pháp luật của các cơ quan tư pháp, đặc biệt là của lãnh đạo các cơ quan tư pháp. Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người.

Nâng cao chất lượng chất vấn và trả lời chất vấn đối với hoạt động của các cơ quan Tiến hành tố tụng tại các kỳ họp Quốc hội, hội đồng nhân dân.

Làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra để phát hiện, xử lý kịp thời đối với các tập thể và cá nhân cán bộ, công chức của Công an, Viện kiểm sát, Tòa án có vi phạm, đặc biệt là xử lý nghiêm minh các hành vi lợi dụng nghề nghiệp, chức vụ, quyền hạn để tham nhũng, lãng phí, vi phạm quyền con người.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Luận văn khái quát quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước trong việc bảo đảm quyền con người, định hướng phát triển của pháp luật Tố tụng Hình sự với việc bảo đảm quyền con người theo Hiến pháp năm 2013, từ đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật Tố tụng Hình sự, nhằm nâng cao vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người như sau:

Đảng và Nhà nước ta khẳng định quyền con người là thành quả và khát vọng chung của nhân loại, đồng thời thừa nhận, tôn trọng và bảo vệ những giá trị cao quý về quyền con người được thế giới thừa nhận rộng rãi. Để nâng cao vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người thì sự quan tâm lãnh đạo của Đảng là yếu tố quan trọng. Xuất phát từ chủ trương không ngừng phát triển quyền con người, Nhà nước Việt Nam đã và đang xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật để bảo đảm các quyền con người được tôn trọng và thực hiện một cách đầy đủ nhất.

Các nội dung nêu trên đã được thể chế hóa thành những quyền hiến định trong các bản Hiến pháp, đặc biệt là Hiến pháp năm 2013. Quyền con người không chỉ được quy định trong Chương II mà là nội dung xuyên suốt, nhất quán trong toàn bộ Hiến pháp năm 2013 theo hướng ghi nhận mọi người có quyền, công dân có quyền và quyền con người là quyền tự nhiên, bất cứ ai cũng cũng có quyền đó. Để mọi người, công dân thực hiện quyền của mình thì Hiến pháp năm 2013 quy định trách nhiệm của Nhà nước là phải ban hành văn bản pháp luật để tạo điều kiện thuận lợi cho mọi người và công dân thực hiện đầy đủ các quyền của mình. Việc đưa các nội dung liên quan đến quyền con người vào nhiều chương khác của Hiến pháp nhằm tạo ra cơ chế hiến định bảo đảm, bảo vệ quyền con người.

Trên cơ sở những vấn đề lý luận được nghiên cứu, qua phân tích đánh giá thực trạng, hạn chế, bất cập của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người, từ đó đưa ra những kiến nghị giải pháp nâng vao vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người như sau: Hoàn thiện các quy định chung dưới góc nhìn bảo đảm quyền con người; hoàn thiện các quy định về người tham gia tố tụng theo hướng mở rộng các quyền, thể hiện sự bình đẳng giữa các bên tham gia tố tụng, nâng cao vị thế, vai trò của người tham gia tố tụng; hoàn thiện các quy định về cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án hình sự tránh việc áp dụng sai pháp luật, bắt, giam, giữ và xét xử oan, sai và làm dụng chức quyền; nâng cao vai trò giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Bên cạnh đó, cần nâng cao trình độ, năng lực, nhận thức của người Tiến hành tố tụng, kiện toàn tổ chức đội ngũ cán bộ, nâng cao vai trò, vị thế của người bào chữa đội ngũ luật sư nhằm bảo đảm giải quyết vụ án một cách chính xác, khách quan, đúng đắn, đồng thời bảo đảm quyền con người trong hoạt động Tố tụng Hình sự.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người.

Quyền con người là những giá trị cao quý của lịch sử nhân loại và luôn phản ánh khát vọng của con người được sống trong tự do, công lý, bình đẳng, loại bỏ sự tàn bạo, áp bức và bất công. Tuy nhiên, quyền con người không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận và có cơ chế đảm bảo thực thi bằng pháp luật. Pháp luật là công cụ sắc bén bảo đảm cho quyền con người luôn được ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực thi. Trong quá trình hình thành và phát triển, Đảng và Nhà nước ta luôn coi con người là vị trí trung tâm trong mọi chính sách kinh tế, xã hội và được chính thức ghi nhận thông qua Hiến pháp, các đạo luật và các văn bản pháp luật khác. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nếu không có hệ thống pháp luật hoàn chỉnh thì quyền con người rất dễ bị xâm phạm. Đặc biệt, trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự là nơi mà quyền con người dễ bị tổn thương nhất bởi các biện pháp cưỡng chế của cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng, cơ quan thi hành án thì đòi hỏi pháp luật Tố tụng Hình sự phải trở thành công cụ hiệu quả nhất bảo đảm quyền con người. Chính vì thế, để bảo đảm quyền con người trong hoạt động Tố tụng Hình sự, pháp luật Tố tụng Hình sự đã quy định các nguyên tắc và thủ tục tố tụng nhằm giải quyết vụ án hình sự một cách khách quan, chính xác, hạn chế đến mức thấp nhất các vi phạm quyền con người, bảo đảm các quyền của những người tham gia tố tụng luôn được tôn trọng và thực hiện đầy đủ trên thực tế. Bảo đảm quyền con người trong pháp luật Tố tụng Hình sự là bảo đảm các quyền của những người tham gia tố tụng, bảo đảm bằng những quy định về thẩm quyền, trách nhiệm của cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền thi hành án hình sự, bảo đảm bằng hoạt động bồi thường, giải quyết khiếu nại, tố cáo. Thông qua các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự, các quyền của những người tham gia tố tụng, nhất là của người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo được xác định đầy đủ, chính xác và có cơ chế bảo đảm các quyền đó được thực hiện. Tuy nhiên, từ góc độ bảo đảm quyền con người thì những quyền của người tham gia tố trong những năm qua còn những hạn chế như tình trạng bắt, tạm giữ, tạm giam trái pháp luật, truy cứu trách nhiệm hình sự oan, sai vẫn xảy ra nhiều và các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự còn chưa được tuân thủ một cách triệt để. Phần lớn nguyên nhân là do các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự còn còn nhiều bất cập, thiếu sự đồng bộ và chưa đáp ứng được nhu cầu thực tế, các quy định về người tham gia tố tụng, đặc biệt là người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo chưa đầy đủ, thiếu sự bình đẳng, thể hiện là vai trò thụ động trong việc bảo đảm các quyền lợi của mình đối lập với vai trò tích cực, chủ động của cơ quan Tiến hành tố tụng. Bên cạnh đó, năng lực, trình độ của một bộ phận cán bộ trong cơ quan Tiến hành tố tụng còn hạn chế, chưa phát huy tinh thần trách nhiệm và ý thức trong công việc dẫn đến việc áp dụng bắt người tùy tiện, bắt oan, không đúng trình tự thủ tục, xét xử không đúng người, đúng tội. Dựa trên những phân tích đánh giá thực trạng, hạn chế, bất cập của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người thì cần hoàn thiện hệ thống pháp luật Tố tụng Hình sự theo hướng kế thừa và phát triển những quy định hợp lý trong việc bảo đảm quyền con người, sửa đổi bổ sung những quy định còn chưa hợp lý, chưa sát với hoạt động thực tiễn Tố tụng Hình sự, bỏ những nội dung không còn phù hợp, đồng thời tiếp thu có chọn lọc những kinh nghiệm của nước ngoài phù hợp với hoàn cảnh nước ta và yêu cầu chủ động hội nhập quốc tế; đáp ứng được xu thế phát triển của xã hội trong tương lai. Ngoài ra, cần tăng cường hoạt động giám sát của các cơ quan có thẩm quyền, ngăn ngừa sự lạm dụng quyền lực, bảo đảm tính độc lập, sự công khai và minh bạch trong hoạt động của các cơ quan Tiến hành tố tụng. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức của cơ quan Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Thi hành án đồng bộ, toàn diện, đảm bảo cả về phẩm chất chính trị, đạo đức, trình độ năng lực để đạt hiệu quả cao trong công việc.

Về cơ bản, luận văn đã làm rõ được vấn đề lý luận về quyền con người, cơ chế bảo đảm quyền con người và vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự với việc bảo đảm quyền con người; đã phân tích, đánh giá được các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người; đã phân tích, đánh giá thực trạng về những kết quả đã đạt được cũng như những hạn chế trong việc bảo đảm quyền con người trong hoạt động Tố tụng Hình sự hiện nay ở Việt Nam cũng như những nguyên nhân dẫn đến tồn tại nêu trên. Từ thực trạng Tố tụng Hình sự hiện nay ở Việt Nam, cùng với nhận thức về những vấn đề lý luận cơ bản về quyền con người, luận văn đã đưa ra được quan điểm và các giải pháp bảo đảm quyền con người trong hoạt động Tố tụng Hình sự một cách có hiệu quả. Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464