Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Vai trò của pháp luật tố tụng hình sự trong việc bảo đảm quyền con người dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

ĐẶT VẤN ĐỀ

1. Tính cấp thiết của đề tài

Quyền con người là một giá trị được kết tinh trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh không mệt mỏi của nhân loại và luôn gắn liền với phẩm giá của mỗi con người, là một đảm bảo chắc chắn cho phẩm giá của họ khỏi mọi sự chà đạp, xâm hại. Xã hội hiện đại có rất nhiều công cụ, phương tiện và các cơ chế khác nhau nhằm bảo đảm sao cho quyền con người luôn được ghi nhận, tôn trọng, bảo vệ và thực thi. Trong số đó, pháp luật luôn được coi là công cụ, phương tiện hữu hiệu nhất.

Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước ta luôn coi con người là trung tâm, đồng thời là mục tiêu, động lực trong quá trình xây dựng và phát triển. Các quyền con người được chính thức ghi nhận bằng pháp luật thông qua Hiến pháp, các đạo luật, các văn pháp pháp luật khác, cũng như bằng nhiều chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước. Hiến pháp Việt Nam năm 2013, văn kiện pháp lý cao nhất của Việt Nam, đã ghi nhận một cách trang trọng, rõ ràng và toàn diện các quyền con người, đặc biệt được nêu tập trung tại Chương II “Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”. Bên cạnh đó, cùng với quyết tâm xây dựng nhà nước pháp quyền và hội nhập sâu rộng thì việc bảo đảm quyền con người ngày càng được quan tâm, chú trọng và ghi nhận trong các văn kiện của Đảng, như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới, Nghị quyết số 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2020, Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã đặt ra nhiệm vụ “các cơ quan tư pháp phải thật sự là chỗ dựa của nhân dân trong việc bảo vệ công lý, quyền con người”. Đảng và Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước.

Mặc dù được coi là công cụ hữu hiệu nhất trong việc ghi nhận và bảo vệ quyền con người, tuy nhiên, nếu không có một hệ thống hoàn thiện, thống nhất, không tạo lập được cơ chế thực thi, giám sát minh bạch, hiệu quả, thì pháp luật lại là nơi có nguy cơ cao nhất trong việc xâm hại các quyền con người. Trong các lĩnh vực của pháp luật, thì pháp luật về tố tụng hình sự là công cụ hữu hiệu nhất để bảo vệ quyền con người, nhưng cũng là nơi quyền con người dễ bị xâm phạm, bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó động chạm đến quyền được sống, quyền tự do của mỗi một cá nhân.

Ý thức được điều đó, Nhà nước ta đã ban hành nhiều văn bản pháp lý quan trọng, trong đó trước hết phải kể đến Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1998, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 và các đạo luật khác nhằm tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm các quyền con người của những người tham gia tố tụng. Pháp luật Tố tụng Hình sự đã coi việc bảo đảm quyền con người là vấn đề cơ bản và xuyên suốt trong các giai đoạn của hoạt động tố tụng khi tiến hành giải quyết vụ án hình sự, bảo đảm cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và phương tiện tố tụng nhằm bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình. Tuy nhiên, vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người, thực tế những năm qua đã cho thấy, còn có nhiều hạn chế.

Trước yêu cầu đặt ra từ thực tiễn xét xử, mong muốn và quyết tâm của Đảng và Nhà nước trong việc đưa pháp luật Tố tụng Hình sự thực sự trở thành công cụ hữu hiệu bảo đảm quyền con người trong bối cảnh đẩy mạnh xây dựng xã hội pháp quyền và hội nhập quốc tế, đồng thời xuất phát từ mong muốn góp phần đưa ra những cơ sở lý luận, đánh giá thực trạng vai trò của pháp luật tố tụng hình sự trong việc bảo đảm quyền con người, từ đó đề ra phương hướng, giải pháp bảo đảm quyền con người trong pháp luật tố tụng hình sự tôi đã chọn đề tài “Vai trò của pháp luật tố tụng hình sự trong việc bảo đảm quyền con người” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn Thạc sĩ Luật học của mình.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

Ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu, bài viết của các nhà khoa học về quyền con người, quyền công dân từ các góc độ và với các mức độ khác nhau. Trong đó phải kể đến công trình như sau:

Đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia của GS.TSKH. Lê Văn Cảm, TS. Nguyễn Ngọc Chí, ThS. Trịnh Quốc Toản đồng chủ trì: “Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật Tố tụng Hình sự trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam”, năm 2006; Luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Quang Hiền: “Bảo vệ quyền con người trong Tố tụng Hình sự Việt Nam”, năm 2008; Luận án tiến sĩ của tác giả Lại Văn Trình “Bảo đảm quyền con người của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo trong tố tụng hình sự Việt Nam”, năm 2011; Tác giả Nguyễn Quang Hiền với bài “Bảo vệ quyền con người của người bị buộc tội”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật Số 1/2010; Tác giả Hồ Sỹ Sơn với bài “Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự và một số đề xuất về hoàn thiện pháp luật”, Tạp chí Luật học Số 1/2011. Ngoài ra, có những công trình, tác giả đi sâu nghiên cứu việc bảo vệ một quyền cụ thể là quyền bào chữa của bị can, bị cáo (Phạm Hồng Hải, Nguyễn Văn Tuân, Đinh Văn Quế, Lại Văn Trình…); các tác giả khác thì nghiên cứu việc bảo vệ quyền con người của bị can, bị cáo trong một chế định Tố tụng Hình sự cụ thể là áp dụng biện pháp ngăn chặn (Nguyễn Mai Bộ, Nguyễn Trọng Phúc…); một số khác thì đề cập đến việc bảo đảm quyền con người trong các nguyên tắc tố tụng (Nguyễn Ngọc Chí, Hoàng Thị Sơn, Bùi Kiên Điện, Nguyễn Thu Hiền…). Các công trình khoa học, bài viết trên hoặc là tổng quát, hoặc đi sâu nghiên cứu, phân tích, luận giải một số nội dung về quyền con người, các biện pháp bảo đảm quyền con người, thực trạng quy định pháp luật về bảo vệ quyền con người, hoặc đi sâu vào bảo vệ quyền con người của một nhóm người, một số người tham gia tố tụng và đưa ra những kiến nghị, giải pháp. Tuy nhiên, trong số các công trình nêu trên, phần vì do đi sâu vào các mảng, lĩnh vực cụ thể, phần vì do đã được nghiên cứu từ trước nên có nhiều số liệu, luận điểm đã trở nên không còn phù hợp, nhất là trong bối cảnh Hiến pháp năm 2013 đã có hiệu lực pháp lý và những đổi mới của pháp luật tố tụng hình sự trong giai đoạn hiện nay.

3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu của đề tài

Đối tượng: Đề tài tập trung nghiên cứu làm rõ vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người, các cơ chế, quá trình tố tụng và các quy định thuộc nguồn của pháp luật tố tụng hình sự cũng như thực tiễn áp dụng pháp luật tố tụng hình sự trong mối tương quan đến việc bảo đảm quyền con người.

Phạm vi: Vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người là một vấn đề lớn, có nhiều nội dung khác nhau. Việc nghiên cứu cũng được tiến hành đối với các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự trong đó có Hiến pháp, Bộ luật Tố tụng Hình sự, Luật Thi hành án hình sự, Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân… và các văn bản có liên quan. Đối với thực tiễn áp dụng, luận văn tổng hợp và đánh giá số liệu xét xử trên toàn quốc trong thời gian từ năm 2006 đến nay. Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

4. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài

Thông qua việc nghiên cứu đề tài, Luận văn làm rõ những vấn đề lý luận về quyền con người và vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người trong, nghiên cứu những quy định của pháp luật, từ đó làm sáng tỏ những bất cập hạn chế, để đưa ra những kiến nghị và giải pháp tăng cường vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam.

Từ những mục đích nêu trên, luận văn có các nhiệm vụ sau đây:

  • Làm rõ những vấn đề lý luận về quyền con người và vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người.
  • Phân tích, đánh giá quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự cũng như thực trạng áp dụng pháp luật Tố tụng Hình sự liên quan đến bảo đảm quyền con người, đồng thời nêu ra những hạn chế, bất cập hạn chế vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người.
  • Kiến nghị giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, nâng cao vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người.

5. Phương nghiên cứu đề tài

Để đạt được những mục đích đã đặt ra trên cơ sở lý luận Luận văn được triển khai nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác-Lê Nin, quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.

Quá trình nghiên cứu cũng sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học như: phương pháp so sánh, phân tích tài liệu, phương pháp tổng hợp, đồng thời ứng dụng những thành tựu của khoa học luật Tố tụng Hình sự, xã hội học pháp luật… trong các công trình của các nhà khoa học, luật gia ở trong và ngoài nước. Ngoài ra đề tài còn sử dụng trung thực các số liệu thống kê của các cơ quan áp dụng pháp luật, các sách tham khảo, tạp chí chuyên ngành để làm rõ những tri thức khoa học liên quan đến đề tài. Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

6. Những điểm mới, đóng góp mới, ý nghĩa của Luận văn

Luận văn đã đưa ra cơ sở lý luận về vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự với việc bảo đảm quyền con người; phân tích hệ thống những quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự, chỉ ra những bất cập, hạn chế trong mối tương quan đến việc bảo đảm quyền con người như là nhiệm vụ của pháp luật Tố tụng Hình sự.

Luận văn đã đánh giá thực trạng bảo đảm quyền con người bằng pháp luật Tố tụng Hình sự ở Việt Nam hiện nay. Đưa ra một số quan điểm, định hướng của Đảng và Nhà nước về vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người và định hướng theo Hiến pháp năm 2013. Đề xuất giải pháp, kiến nghị phù hợp với thực tiễn hiện nay nhằm nâng cao vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người

Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần bổ sung và phát triển về lý luận pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người. Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể làm tư liệu tham khảo phục vụ cho công tác nghiên cứu giảng dạy khoa học pháp lý nói chung và nghiên cứu về tố tụng hình sự nói riêng. Nội dung của luận văn cũng có thể góp phần nâng cao nhận thức của cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm quyền con người được tôn trọng, bảo vệ và thực thi.

7. Kết cấu của Luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 03 chương như sau:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận về quyền con người và vai trò của tố tụng hình sự với việc bảo đảm quyền con người.
  • Chương 2: Thực trạng vai trò của pháp luật tố tụng hình sự với việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện
  • Chương 3: Quan điểm và một số giải pháp, kiến nghị nâng cao vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người ở Việt Nam hiện

Nghiên cứu về vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người đòi hỏi đồng thời sự am hiểu sâu sắc khoa học pháp lý nói chung, khoa học pháp luật Tố tụng Hình sự nói riêng và cả những kiến thức liên ngành về xã hội học pháp luật. Nghiên cứu đề tài cũng yêu cầu khối lượng lớn thời gian, công sức nghiên cứu cả về mặt lý luận lẫn thực tiễn của tình hình thực hiện và áp dụng các quy định về bảo đảm quyền con người. Do chưa thể đáp ứng đầy đủ những đòi hỏi đó nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả rất mong nhận được và xin chân thành cảm ơn các ý kiến phê bình, đóng góp của mọi độc giả quan tâm đến luận văn!

Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN CON NGƯỜI VÀ VAI TRÒ CỦA TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

1.1 KHÁI LUẬN CHUNG VỀ QUYỀN CON NGƯỜI

1.1.1. Khái niệm về quyền con người

Trong suốt chiều dài lịch sử, loài người luôn đấu tranh giải phóng con người nhằm xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ, văn minh. Theo đó tư tưởng về quyền con người và bảo vệ quyền con người cũng xuất hiện từ thời xa xưa trong lịch sử nhân loại, dưới các hình thức khác nhau, trong tất cả các nền văn hóa và tôn giáo. Trong các thời kỳ cổ đại và phong kiến, tư tưởng về quyền con người đã được đề cập đến nhưng còn rời rạc. Khi cách mạng tư sản nổ ra thắng lợi với những tiền đề tư tưởng và thành tựu của khoa học tự nhiên thì vấn đề quyền con người mới được đặt ra như một học thuyết, hay nói cách khác, quyền con người bắt đầu được chính thức công khai thừa nhận. Các nội dung đầu tiên của quyền con người quốc tế có thể được tìm thấy trong các Hiệp định về Quyền tự do tôn giáo, Công ước Westphalia năm 1648, Công ước chế độ nô lệ năm 1926. Đặc biệt, sau khi Liên hợp quốc ra đời thì có Hiến chương của Liên hợp quốc 1945; Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền ngày 10-12-1948; Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966 và hai Nghị định thư bổ sung; Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa năm 1966; Tuyên bố về quyền phát triển năm 1986; Tuyên bố Viên và chương trình hành động (Tuyên bố của Hội nghị nhân quyền thế giới tại Viên ngày 25-6-1993) đã tạo dựng một nền văn hoá quyền con người.

Hiện nay, có rất nhiều định nghĩa về quyền con người đã được công bố. Mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề từ một góc độ nhất định, chỉ ra những thuộc tính nhất định. Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc định nghĩa về quyền con người: “Quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có tác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [10, tr.37].

Bên cạnh định nghĩa kể trên, một định nghĩa khác cũng thường được trích dẫn là: “Quyền con người là những sự được phép mà tất cả thành viên của cộng đồng nhân loại, không phân biệt giới tính, chủng tộc, tôn giáo, địa vị xã hội… đều có ngay từ khi sinh ra, đơn giản chỉ vì họ là con người”[10, tr.37].

Đặc biệt, thể hiện một cách tiêu biểu nhất nội dung quyền con người là hai văn bản nổi tiếng Tuyên ngôn Độc lập của Mỹ năm 1776 và Tuyên ngôn Nhân quyền và Dân quyền của Pháp năm 1789. Theo đó, lời tuyên bố sau đã mãi mãi đi vào lịch sử phát triển của khái niệm nhân quyền trên phạm vi toàn thế giới: “Những chân lý sau đây đã được chúng tôi công nhận như những sự thật hiển nhiên là tất cả mọi người sinh ra đều bình đẳng; tạo hóa đã cho họ các quyền không thể thay thế được; trong những quyền ấy có quyền được sống, quyền tự do, và quyền mưu cầu hạnh phúc” [68, tr 96].

Ở Việt Nam, theo Từ điển Tiếng Việt, quyền được hiểu là “điều mà pháp luật hoặc xã hội công nhận cho được hưởng, được làm, được đòi hỏi” [30, tr.1010].

Trong Giáo trình Lý luận và pháp luật về quyền con người, các tác giả định nghĩa quyền con người là: “Những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế”[10, tr.38].

Từ đó, có thể rút ra được khái niệm về quyền con người như sau: Quyền con người là những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người mà không phân biệt đẳng cấp, màu da, giới tính, dân tộc hay tôn giáo, được ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật quốc gia và quốc tế.

1.1.2. Đặc điểm và các thuộc tính cơ bản của quyền con người Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

  • Các đặc điểm của quyền con người

Quyền con người từ góc độ đạo đức – tôn giáo: Quyền con người bắt nguồn từ các quan niệm về chuẩn mực đạo đức, các đối xử giữa người với người trong xã hội. Các giá trị đạo đức có thể tìm thấy trong học thuyết của các tôn giáo. Các ý tưởng về quyền con người trở thành những quy phạm đạo đức – tôn giáo, đề cao và cổ vũ tình yêu thương đồng loại, sự công bằng, bình đẳng, tự do và nhân phẩm. Có thể nói quá trình phát triển của quyền con người luôn phản ánh và mang nặng dấu ấn của các giá trị và quy tắc đạo đức, tôn giáo.

Quyền con người từ góc độ lịch sử – xã hội: Nhìn từ góc độ lịch sử – xã hội, quyền con người bắt nguồn từ các quan hệ xã hội, là kết quả và phụ thuộc vào sự vận động của các quan hệ xã hội. Trong mỗi giai đoạn lịch sử, xã hội loài người tồn tại những quan niệm khác nhau về các quyền, tự do và nghĩa vụ, cũng như những quy phạm và cơ chế khác nhau để thực hiện, giám sát và bảo vệ các quyền, tự do và nghĩa vụ đó. Theo đó, quyền con người ngày càng mở rộng, từ ý niệm, tư tưởng đến các quy tắc, quy phạm và cơ chế; từ cấp độ cộng đồng đến cấp độ quốc gia, khu vực và quốc tế. Vì thế, quyền con người luôn mang những dấu ấn về chính trị, kinh tế, văn hoá của từng thời kỳ, từng giai đoạn lịch sử của xã hội loài người.

Quyền con người từ góc độ triết học: Sự hình thành và phát triển của quyền con người phản ánh quy luật phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao và phản ánh quy luật tiến hoá trong nhận thức và hành động của con người về khái niệm sơ khai nhất về tự do, công bằng, bình đẳng. Những tư tưởng triết học về quyền con người là nền tảng pháp lý cho việc pháp điển hóa các quyền con người vào pháp luật quốc gia và quốc tế, cũng như việc bảo đảm thực hiện các quyền này trên thực tế.

Quyền con người từ góc độ chính trị: Quyền con người là vấn đề ảnh hưởng, chi phối quan hệ chính trị cả trong phạm vi quốc gia và quốc tế. Quyền con người trở thành một trong các chủ đề trung tâm trong các chính sách đối nội, đối ngoại của quốc gia.

Quyền con người từ góc độ pháp lý: Những nhu cầu vốn có, tự nhiên của con người không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền trở thành những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất với tất cả các chủ thể trong xã hội. Chính vì vậy, quyền con người gắn liền với các quan hệ pháp luật và là một phạm trù pháp lý [10, tr. 43-47].

  • Các thuộc tính cơ bản của quyền con người Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

Tính phổ biến: Con người dù ở quốc gia, dân tộc khác nhau nhưng quyền con người được áp dụng chung cho tất cả mọi người, không phân biệt màu da, giới tính, tôn giáo, độ tuổi, thành phần xuất thân.

Tính không thể tước đoạt: Quyền con người không thể tùy tiện bị tước đoạt hay hạn chế một cách tùy tiện bởi bất cứ chủ thể nào, trừ trường hợp được pháp luật quy định và lý do tước đoạt là hành vi vi phạm pháp luật của người bị tước đoạt (Ví dụ: tù nhân bị giam do thực hiện hành vi phạm tội).

Tính không thể phân chia: Quyền con người là phạm trù tổng hợp gồm các quyền và tự do của con người vốn quan trọng như nhau và gắn bó chặt chẽ với Tuy nhiên, tùy thuộc vào điều kiện hoàn cảnh xã hội khác nhau mà một số quyền con người được ưu tiên thực hiện hoặc được chú ý bảo vệ hơn.

Tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quyền: Các quyền con người cụ thể không thể tồn tại một cách biệt lập, đều có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, việc thực hiện tốt quyền này sẽ là tiền đề để thực hiện quyền kia. Ngược lại, khi có một quyền bị xâm phạm thì sẽ ảnh hưởng đến các quyền khác [69, tr.31].

1.1.3. Phân loại quyền con người

Quyền con người có phạm vi và nội dung rộng nên thường được chia ra thành các nhóm theo những tiêu chí khác nhau. Hiện nay, có rất nhiều cách phân loại quyền con người như sau:

Phân loại theo lĩnh vực: Quyền con người được phân thành hai nhóm chính: các quyền dân sự, chính trị và các quyền kinh tế, xã hội, văn hóa. Cách phân chia này dựa trên hai công ước quốc tế cơ bản về quyền con người của Liên hợp quốc năm 1966 (Công ước về các quyền chính trị, dân sự và Công ước về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá). Trong đó các quyền dân sự thông thường bao gồm quyền sống; quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm, quyền tự do đi lại, các quyền về tài sản…; các quyền chính trị bao gồm quyền bầu cử, quyền ứng cử, quyền tham gia quản lý xã hội…; các quyền kinh tế bao gồm quyền được hưởng mức sống thích đáng; quyền tự do kinh doanh; quyền lao động…; các quyền xã hội bao gồm quyền được hưởng an sinh xã hội…; các quyền văn hoá bao gồm quyền được giáo dục, quyền được tham gia và hưởng thụ đời sống văn hoá…. Tuy nhiên, cách phân chia này chỉ mang tính chất tương đối, bởi lẽ một số quyền có thể được xếp vào nhiều hơn một nhóm.

Phân loại theo chủ thể của quyền: Quyền con người được chia thành quyền cá nhân và quyền của nhóm (ví dụ như quyền của phụ nữ, trẻ em, người cao tuổi… Quyền cá nhân được hiểu là các quyền thuộc về mỗi cá nhân và việc hưởng thụ các quyền này phụ thuộc vào mỗi cá nhân, cá nhân này không là thành viên của bất kỳ một nhóm xã hội nào. Quyền của nhóm được hiểu là những quyền đặc thù, chung của một tập thể hay một nhóm xã hội nhất định, mà để được hưởng thụ các quyền này cần phải là thành viên của nhóm và đôi khi cần phải thực hiện cùng với các thành viên khác của nhóm. Bên cạnh đó, khái niệm quyền của nhóm còn được mở rộng để chỉ các quyền của một dân tộc cụ thể như quyền tự quyết dân tộc, quyền được bảo tồn tài nguyên và đất đai truyền thống của các dân tộc bản địa…

Phân loại theo một số tiêu chí khác: Ngoài hai tiêu chí kể trên, quyền con người còn được phân loại theo một số tiêu chí khác, cụ thể như sau: Quyền tự nhiên và quyền pháp lý; Quyền cụ thể và quyền hàm chứa; Quyền thụ động và quyền chủ động; Quyền tuyệt đối và quyền có điều kiện; Quyền tự do hành động và quyền đòi hỏi, thỉnh cầu; Quyền có thể bị hạn chế và quyền không thể bị hạn chế [10, tr.61-69].

1.2 LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

1.2.1. Khái niệm bảo đảm quyền con người và cơ chế bảo đảm quyền con người

Theo Từ điển Tiếng Việt thì bảo đảm được hiểu là “Tạo điều kiện chắc chắn giữ gìn được, thực hiện được hoặc có được những gì cần thiết”[70, tr.48]. Bảo đảm quyền con người có nghĩa là tạo điều kiện chắc chắn thực hiện, giữ gìn được những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có của con người đã được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế.

Ý thức về tôn trọng, bảo đảm quyền con người có quá trình lịch sử lâu dài, liên tục và gắn với lịch sử phát triển của loài người, cũng như sự nghiệp đấu tranh giải phóng con người qua các hình thái kinh tế – xã hội, các giai đoạn đấu tranh giai cấp khác nhau, từ đó quyền con người dần trở thành giá trị cao quý chung của nhân loại và cộng đồng quốc tế. Theo tiến trình phát triển của lịch sử loài người, trên phương diện pháp luật, quyền con người ngày càng được củng cố, hoàn thiện. Từ chỗ các tư tưởng về quyền được sống như một con người nhằm thoát khỏi áp bức, bóc lột, tư tưởng về quyền con người dần phát triển lên thành những học thuyết, thành các bộ luật riêng lẻ và trở thành tiếng nói chung của cả cộng đồng quốc tế, không phân biệt màu da, địa vị, thành phần. Nhờ có pháp luật mà quyền con người trở thành giá trị chung của nhân loại, được loài người cùng nhau tôn trọng, bảo vệ.

  • Cơ chế bảo đảm quyền con người

Theo cuốn “Đại từ điển Tiếng Việt” thì cơ chế là cách thức sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện [70, tr.464]. Theo đó, cơ chế bảo đảm quyền con người là cách thức sắp xếp, tổ chức để bảo vệ quyền con người được thực hiện. Các cơ chế bảo đảm quyền con người gồm có cơ chế quốc tế (mà nòng cốt là cơ chế Liên Hợp quốc), cơ chế khu vực và cơ chế quốc gia. Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

Cơ chế quốc tế trong việc bảo đảm quyền con người: Thể hiện ở bộ máy các cơ quan và các quy tắc, thủ tục về thúc đẩy, bảo vệ quyền con người trong hệ thống Liên hợp quốc. Căn cứ vào vị thế pháp lý và chức năng, nhiệm vụ, các cơ quan quyền con người Liên hợp quốc được chia thành hai dạng: các cơ quan được thành lập theo Hiến chương (cơ chế dựa trên Hiến chương) và các cơ quan được thành lập theo một số điều ước quan trọng về quyền con người (cơ chế dựa trên điều ước). Cơ chế dựa trên Hiến chương là các cơ quan hình thành theo Hiến chương Liên hợp quốc, theo đó chức năng, nhiệm vụ liên quan đến quyền con người của các cơ quan này được xác định bởi Hiến chương nhằm nghiên cứu, xây dựng các dự thảo văn kiện, thẩm định, theo dõi, giám sát và điều hành các chương trình, hoạt động về quyền con người. Cơ chế dựa trên công ước là thành lập lên các ủy ban giám sát việc thực hiện một số công ước quốc tế về quyền con người được thành lập theo quy định của chính các công ước đó nhằm giám sát, thúc đẩy việc thực hiện các điều ước quốc tế về quyền con người, thông qua việc nhận, xem xét và ra khuyến nghị liên quan đến các báo cáo về việc thực hiện các công ước này của những quốc gia thành viên [10, tr.327-366].

Cơ chế khu vực trong việc bảo đảm quyền con người: Trong phạm vi khu vực thì một số tổ chức khu vực cũng ban hành các văn kiện và thành lập các cơ chế để bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong phạm vi khu vực đấy.

Một là, cơ chế bảo đảm quyền con người của châu Âu bao gồm hệ thống các văn kiện khu vực về quyền con người ở châu Âu như Công ước châu Âu về bảo vệ quyền con người và các tự do cơ bản năm 1950, Hiến Chương xã hội châu Âu năm 1961, Công ước châu Âu về cấm tra tấn, đối xử, trừng phạt vô nhân đạo và hạ nhục con người năm 1987 … và các cơ quan như Hội đồng châu Âu, Uỷ ban nhân quyền châu Âu, Toà án nhân quyền châu Âu, Uỷ ban các Bộ trưởng.

Hai là, cơ chế bảo đảm quyền con người của châu Mỹ bao gồm các văn kiện chính như Tuyên ngôn châu Mỹ về quyền và nghĩa vụ con người năm 1948, Công ước Châu Mỹ về nhân quyền năm 1969, Công ước châu Mỹ về phòng ngừa và chống tra tấn năm 1985; Nghị định thư bổ sung Công ước châu Mỹ về các quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1988; Nghị định thư bổ sung Công ước châu Mỹ về xóa bỏ hình phạt tử hình năm 1990 … và các cơ quan như Ủy ban quyền con người châu Mỹ thành lập năm 1959, Tòa án quyền con người châu Mỹ.

Ba là, cơ chế bảo đảm quyền con người của châu Phi bao gồm văn kiện chính về quyền con người như Hiến chương châu Phi về quyền con người và quyền các dân tộc năm 1981 và các cơ quan như Ủy ban quyền con người và quyền các dân tộc châu Phi, Tòa án Châu Phi về quyền con người [10, tr.367-380]. Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

Trong bối cảnh châu Á chưa thiết lập được cơ chế chung về bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người thì các quốc gia Hồi giáo (Ảrập) cùng thông qua một số văn kiện về quyền con người như Tuyên bố Cairô về quyền con người trong các quốc gia Hồi giáo năm 1990, Hiến chương Ảrập về quyền con người năm 1994… Bên cạnh đó, tại khu vực Nam Á, Hiệp hội Hợp tác khu vực Nam Á (SAARC) thành lập năm 1985 đã thông qua nhiều văn kiện về nhân quyền khu vực như Hiến chương Xã hội SAARC, Công ước SAARC về chống buôn bán phụ nữ và trẻ em làm mại dâm …Tại khu vực Đông Nam Á, Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN) đã thông qua Hiến chương ASEAN và tuyên bố Nhân quyền ASEAN (thông qua tại Hội nghị cấp cao ASEAN lần thứ 21 được tổ chức tại Phnom Penh, Campuchia vào ngày 18 tháng 11 năm 2012), đây là văn kiện chính trị đầu tiên của ASEAN về thúc đẩy và bảo vệ nhân quyền trong khu vực [1]

Cơ chế quốc gia trong việc bảo đảm quyền con người: Nòng cốt của cơ chế là các cơ quan quốc gia về bảo vệ và thúc đẩy nhân quyền nhằm thực hiện những nghĩa vụ của các nhà nước được nêu trong tất cả các văn kiện quốc tế về quyền con người. Một số tổ chức được thành lập ở nhiều nước trên thế giới là Ủy ban quyền con người quốc gia, Thanh tra Quốc Hội [10, tr.380-385].

1.2.2. Các phương thức, hình thức cơ bản đảm bảo quyền con người

Các phương thức cơ bản bảo đảm quyền con người là:

  • Xây dựng và hoàn thiện hệ thống các văn kiện, văn bản pháp luật trong việc bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người
  • Xây dựng tổ chức bộ máy, cơ quan chuyên trách về bảo vệ, thúc đẩy và phát triển quyền con người, đồng thời giám sát và xử lý những hành vi vi phạm về quyền con người.

Các hình thức cơ bản bảo đảm quyền con người là:

  • Tham gia và tuân thủ nghiêm chỉnh các điều ước, công ước quốc tế về quyền con người.
  • Chuyển hoá các quy định của luật nhân quyền quốc tế vào hệ thống pháp luật quốc gia: Pháp luật quốc tế phải được phản ánh cụ thể trong pháp luật quốc gia, thông qua việc sửa đổi, bổ sung hoặc ban hành văn bản pháp luật mới cho phù hợp với các quy định của pháp luật quốc tế hoặc áp dụng trực tiếp luật nhân quyền quốc tế tại toà án quốc gia.
  • Phổ biến giáo dục, nâng cao nhận thức về quyền con người cho mọi cá nhân, nhất là những người yếu thế để nâng cao khả năng tự bảo vệ.
  • Xây dựng bộ máy, hoàn thiện thể chế, nhất là các thiết chế thanh tra, kiểm tra mở rộng bảo đảm dân chủ (ví dụ thành lập thiết chế cao ủy nhân quyền quốc gia).
  • Đẩy mạnh hoạt động phản biện, giám sát xã hội của các cơ quan, tổ chức đoàn thể.

1.3 LÝ LUẬN VỀ VAI TRÒ CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

1.3.1. Pháp luật tố tụng hình sự với việc bảo đảm quyền con người

Quyền con người và pháp luật là hai yếu tố không thể tách rời mà có tác động qua lại lẫn nhau. Mặc dù quyền con người được mọi người biết đến nhưng quyền con người không thể được bảo đảm đầy đủ nếu không được ghi nhận bằng pháp luật, mà thông qua đó, nghĩa vụ tôn trọng và thực thi các quyền không phải chỉ tồn tại dưới dạng những quy tắc đạo đức mà trở thành những quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc và thống nhất đối với mọi chủ thể trong xã hội. Pháp luật là công cụ hiệu quả nhất bảo đảm quyền con người luôn được tôn trọng, bảo vệ và thực thi, đồng thời pháp luật cũng có vai trò quan trọng đối với quyền con người. Đặc biệt, trong lĩnh vực Tố tụng Hình sự là nơi quyền con người dễ bị xâm phạm, bị tổn thương nhất và hậu quả để lại cũng nghiêm trọng nhất khi nó chạm đến quyền được sống, quyền tự do của mỗi cá nhân thì pháp luật là công cụ hiệu quả nhất để bảo đảm quyền con người.

Quyền con người và đảm bảo quyền con người trong Tố tụng Hình sự được xuất phát trước hết từ mối quan hệ giữa quyền con người, quyền công dân và những bảo đảm quyền con người trong nhà nước. Quyền con người và bảo đảm quyền con người trong Tố tụng Hình sự có những đặc thù khác với những lĩnh vực hoạt động nhà nước khác. Những đặc thù này chính là sự phản ánh của các hoạt động Tố tụng Hình sự, là lĩnh vực hoạt động nhà nước đặc biệt ở bất kỳ quốc gia nào trên thế giới nhằm phát hiện ra tội phạm, ngăn chặn các hành vi tội phạm, tiến hành các hoạt động tố tụng thì việc áp dụng biện pháp cưỡng chế trong Tố tụng Hình sự là sự cần thiết khách quan, có tính phổ biến và hậu quả của nó là hạn chế một cách trực tiếp đến các quyền cơ bản của công dân do hiến pháp quy định.

Tố tụng hình sự là trình tự tiến hành giải quyết vụ án hình sự theo quy định của pháp luật. Tố tụng hình sự bao gồm toàn bộ hoạt động của cơ quan tiến hành tố tụng (cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án), người tiến hành tố tụng (điều tra viên, kiểm sát viên, Thẩm phán, hội thẩm nhân dân và Thư ký phiên tòa), người tham gia tố tụng (bị can, bị cáo, người bào chữa…), của cá nhân, cơ quan nhà nước khác và tổ chức xã hội góp phần vào việc giải quyết vụ án theo quy định của Luật Tố tụng hình sự [16, tr. 7-8]. Hoạt động Tố tụng Hình sự rất cần đến sự tham gia của các cơ quan nhà nước, các tổ chức… Trong bất kỳ một nhà nước nào thì các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự đều có ý nghĩa thực tiễn rất quan trọng là nhằm bảo vệ các quyền và tự do của con người và của công dân với tư cách là những giá trị xã hội cao quý nhất được thừa nhận chung của nền văn minh nhân loại tránh khỏi sự tùy tiện của một số quan chức trong các cơ quan tiến hành tố tụng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn vi phạm pháp chế và dân chủ, áp dụng sai các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự vì xác động cơ vụ lợi, cá nhân. Hoạt động tố tụng hình có tính chất đặc thù bởi quyết định đến sinh mạng chính trị của con người, và có ảnh hưởng trực tiếp đến quyền cơ bản của con người, đến các quyền công dân. Do đó, một trong những mục tiêu quan trọng của pháp luật Tố tụng Hình sự là bảo đảm tôn trọng và thực hiện các quyền con người trong hoạt động Tố tụng Hình sự.

Pháp luật Tố tụng Hình sự là hệ thống các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án hình sự. Pháp luật Tố tụng Hình sự có vị trí quan trọng trong việc bảo vệ quyền con người thông qua việc ngăn ngừa, ngăn chặn và phát hiện chính xác tội phạm, không để lọt tội phạm và cũng không làm oan người vô tội, đồng thời bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức. Những định hướng trên được quán triệt và thể hiện ở tất cả các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự trong quá trình giải quyết vụ án như khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án của các cơ quan Tiến hành tố tụng và người Tiến hành tố tụng. Bảo đảm quyền con người trong pháp luật Tố tụng Hình sự là bảo đảm quyền con người của những người tham gia tố tụng, bảo đảm các quy định của pháp luật trong lĩnh vực hình sự được tuân thủ, chấp hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để bởi các cơ quan Tiến hành tố tụng, cũng như những người Tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tránh khỏi sự tùy tiện, áp dụng sai các quy định của pháp luật của cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng.

1.3.2. Đặc điểm cơ bản và ý nghĩa của pháp luật tố tụng hình sự với việc bảo đảm quyền con người Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

Các đặc điểm cơ bản của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người

  • Pháp luật Tố tụng Hình sự bảo đảm quyền con người thông qua các nguyên tắc cơ bản của Tố tụng Hình sự, các quy định về thủ tục, trình tự tố tụng, các giai đoạn của Tố tụng Hình sự, hoạt động kiểm soát tuân theo pháp luật của Viện kiểm sát tránh khỏi sự tùy tiện, áp dụng sai các quy định của pháp luật Tố tụng Hình sự của những người Tiến hành tố tụng.
  • Pháp luật Tố tụng Hình sự bảo đảm quyền con người thông qua các quy định về quyền của những người tham gia tố tụng nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng không bị xâm phạm.
  • Pháp luật Tố tụng Hình sự bảo đảm quyền con người thông qua các quy định về trách nhiệm, quyền hạn và nghĩa vụ của các cơ quan tố tụng, người Tiến hành tố tụng, cơ quan có thẩm quyền thi hành án hình sự tránh việc lạm dụng quyền hạn, áp dụng sai pháp luật dẫn đến vi phạm quyền con người.
  • Pháp luật Tố tụng Hình sự bảo đảm quyền con người thông qua quy định về khiếu nại, tố cáo và trách nhiệm bồi thường của cơ quan nhà nước, cơ quan tố tụng cho người bị oan, sai do người có thẩm quyền trong hoạt động tố Tố tụng Hình sự gây ra.

Ý nghĩa của pháp luật Tố tụng Hình sự trong việc bảo đảm quyền con người

  • Nhằm bảo vệ các quyền và tự do của con người tránh khỏi sự tùy tiện, lạm dụng hay xâm hại từ phía các cơ quan Tiến hành tố tụng và người Tiến hành tố tụng.
  • Chủ động phòng ngừa, ngăn chặn tội phạm, phát hiện chính xác, nhanh chóng và xử lý công minh, kịp thời mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm, không làm oan người vô tội.
  • Góp phần nâng cao ý thực, trách nhiệm của những người Tiến hành tố tụng trong việc giải quyết vụ án, bảo vệ các quyền, lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng không bị xâm phạm.

1.4 SỰ PHÁT TRIỂN CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM TRONG MỐI TƯƠNG QUAN VỚI VIỆC BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI

1.4.1. Pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn trước năm 1945

Tư tưởng đề cao con người ở nước ta đã xuất hiện từ rất sớm, thể hiện trong truyền thống văn hóa của con người Việt với lối sống trọng tình nghĩa. Mặc dù, trong giai đoạn này bảo đảm quyền con người mặc chưa được pháp luật ghi nhận cụ thể nhưng cũng có thể thấy được thông qua một số quy định trong Bộ Quốc triều Hình luật, Bộ Hoàng Việt luật, Quốc triều khám tụng điều lệ… Bộ Quốc triều Hình luật (hay còn được gọi là Bộ luật Hồng Đức) đã kế thừa nhiều tinh hoa về tư tưởng nhân đạo trong lịch sử dân tộc, có nhiều quy định bảo vệ tính mạng, nhân phẩm và tài sản của người dân, hạn chế sự nhũng nhiễu, áp bức bóc lột của quan lại, quý tộc, đặc biệt bảo vệ nhân phẩn và quyền lợi của người phụ nữ. Bộ Hoàng Việt luật lệ (thời nhà Nguyễn) quy định về tha tội và ân xá, trừng phạt quan lại vô cớ bắt, tra khảo dân và bảo vệ người phụ nữ… [24, tr.56-64]. Bộ Quốc triều khám tụng điều lệ năm 1777 (Thời Hậu Lê) được coi là bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên của nước ta, trong đó quy định rất rõ ràng về việc khám xét, trình tự kiện tụng và xét xử. Tuy nhiên, những quy định này có còn nhiều mặt hạn chế vì sự bất công trong xã hội lúc bấy giờ là do bọn quan lại địa phương gây ra và người đứng đầu xã hội lúc bấy giờ là nhà vua, tất cả quyền lực tập trung vào tay vua, mà vua thì không thể quản lý tất cả và cũng không phải vua nào cũng biết lo cuộc sống no ấm cho dân, nên người dân vẫn phải chịu mọi sự bất công trong xã hội, sự bóc lột của quan lại phong kiến. Bên cạnh đó, sự xâm lược của giặc ngoại xâm phương Bắc, thực dân Pháp khiến cho nhân dân ta phải sống trong áp bức, bóc lột, các quyền con người ở bị chà đạp.

1.4.2. Pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1988 Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

Bản Tuyên ngôn độc lập do Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tại quảng trường Ba Đình ngày 2 tháng 9 năm 1945, đã kế thừa tinh hoa trong tư tưởng về quyền con người trên thế giới và phát triển những tư tưởng ấy lên một tầm cao mới: “Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng, tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc” [51, tr.9]. Từ sau khi giành được chính quyền cách mạng năm 1945, Đảng và Nhà nước ta luôn xác định con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của sự nghiệp xây dựng đất nước, đồng thời con người là trung tâm của các chính sách kinh tế – xã hội, thúc đẩy và bảo vệ quyền con người là nhân tố quan trọng cho phát triển bền vững, bảo đảm thắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước. Đảng và Nhà nước ta đã xây dựng và ban hành nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh lĩnh vực hình sự, Tố tụng Hình sự như Hiếp pháp năm 1946; Sắc lệnh số 69/SL ngày 18/6/1949 của Chủ tịch nước quy định cho phép các bị can có thể nhờ một công dân không phải là luật sư bênh vực trước Tòa; Nghị định số 181/NĐ ngày 12/6/1951 của Bộ Nội vụ – Tư pháp hướng dẫn thi hành Sắc lệnh số 150/SL ngày 07/11/1950 về tố chức các trại giam quy định: “Trong thời gian bị giam cầm, phạm nhân được ăn đủ theo mức sống tối thiểu cần thiết, tùy theo hoàn cảnh kinh tế của mỗi địa phương”; Thông tư số 335/TTg của Thủ tướng chính phủ ngày 06/7/1954 quy định phạm nhân bị kết án tử hình có quyền làm đơn lên Chủ tịch nước xin ân xá, ân giảm [49, tr.77-78].

Sau đó, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980, Luật tổ chức Tòa án nhân dân, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân ra đời, đã có sự phát triển hơn so với pháp luật trước đây, đã có những quy định bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật, các nguyên tắc chung về thủ tục bắt, giam, tha, khám người, khám nhà ở, khám đồ vật, thư tín của người phạm tội, bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo… [53, tr.9].

1.4.3. Pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn từ năm 1988 đến năm 2003 Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

BLTTHS năm 1988 ra đời, bộ luật tố tụng hình sự đầu tiên, đánh dấu một mốc quan trọng của pháp luật Tố tụng Hình sự. Bộ luật Tố tụng Hình sự 1988 đã kế thừa và phát triển những thành tựu của pháp luật Tố tụng Hình sự Việt Nam, việc bảo đảm quyền con người trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 tương đối đầy đủ, toàn diện và hệ thống thể hiện trong các điểm sau đây:

BLTTHS năm 1988 đánh dấu một bước cải cách, đổi mới pháp luật Tố tụng Hình sự nước ta theo hướng bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng, tăng cường tính công khai, đưa ra và thực hiện nguyên tắc suy đoán vô tội, khắc phục những định kiến theo hướng buộc tội, bảo đảm sự độc lập và chỉ tuân theo pháp luật của hội đồng xét xử. Quyền và trách nhiệm của Viện kiểm sát được đề cao trong việc đấu tranh tội phạm. Nâng cao trách nhiệm của các điều tra viên, tăng cường các bảo đảm pháp chế trong hoạt động Tố tụng Hình sự. Vị trí, vai trò của người bào chữa ngày càng được nâng cao trong hoạt động tố tụng theo hướng mở rộng quyền của họ ở giai đoạn điều tra và các giai đoạn tố tụng khác.

BLTTHS năm 1988 quy định hệ thống các nguyên tắc tố tụng khác nhau, trong đó nhóm nguyên tắc bảo đảm quyền con người chiếm vị trí quan trọng và là nhóm nguyên tắc được quy định đầu tiên trong Bộ luật Tố tụng Hình sự. Cụ thể là: Nguyên tắc tôn trọng và bảo vệ các quyền cơ bản của công dân (điều 3); Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng của mọi công dân trước pháp luật (điều 4); Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân (điều 5); Nguyên tắc bảo hộ tính mạng, sức khỏe, tài sản, danh dự và nhân phẩm (điều 6); Nguyên tắc bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân (điều 7); Nguyên tắc không ai có thể bị coi là có tội, nếu chưa có bản án kết tội đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án (điều 10); Nguyên tắc bảo đảm quyền bào chữa của bị can, bị cáo (điều 12); Nguyên tắc bảo đảm quyền bình đẳng trước Tòa án (điều 20); Nguyên tắc bảo đảm quyền khiếu nại và tố cáo của công dân đối với hoạt động của cơ quan tiến hành Tố tụng Hình sự (điều 24). Ngoài những nguyên tắc trực tiếp liên quan đến quyền con người trong Tố tụng Hình sự, Bộ luật Tố tụng Hình sự 1988 cũng quy định các nguyên tắc tố tụng khác bảo đảm cho các quyền đó được thực hiện trong thực tiễn xét xử như nguyên tắc xác định sự thật của vụ án, nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của những người tiến hành hoặc người tham gia tố tụng, nguyên tắc Tòa án xét xử tập thể, xét xử công khai, nguyên tắc Tòa án xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật … [34].

BLTTHS năm 1988 quy định tương đối cụ thể về địa vị pháp lý (quyền và nghĩa vụ) của các chủ thể Tố tụng Hình sự như bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng… Địa vị pháp lý cũng thay đổi tùy theo giai đoạn tố tụng. Từ góc độ bảo đảm quyền con người thì Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 có hạn chế lớn là chưa quy định cụ thể quyền hạn, trách nhiệm của người Tiến hành tố tụng.

BLTTHS năm 1988 quy định cụ thể các biện pháp ngăn chặn gồm mục đích, căn cứ áp dụng (điều 61), thẩm quyền áp dụng và thủ tục áp dụng đối với từng biện pháp ngăn chặn cụ thể như bắt người (điều 62- 65), tạm giữ (điều 68-69), tạm giam (điều 70), cấm đi khỏi nơi cư trú (điều 74), bảo lĩnh (điều 75), đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm (điều 76). Đồng thời Bộ luật Tố tụng Hình sự 1988 cũng quy định việc hủy bỏ hoặc thay thế biện pháp ngăn chặn (điều 77)… [34]

BLTTHS năm 1988 quy định thẩm quyền, trình tự, thủ tục tố tụng nhằm giải quyết vụ án hình sự chính xác, khách quan, toàn diện trên cơ sở tôn trọng và bảo vệ các quyền con người. Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

BLTTHS năm 1988 quy định các chế tài tố tụng đối với việc vi phạm quyền con người, bảo đảm cho các trình tự, thủ tục tố tụng được thực hiện nghiêm chỉnh, thống nhất, khách quan, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân như: Không bảo đảm quyền bào chữa cho bị can, bị cáo theo quy định của pháp luật, bức cung, dùng nhục hình trong quá trình điều tra… là một trong những căn cứ trả hồ sơ để điều tra bổ sung [34, Điều 142, Điều 154]. Ngoài ra, các vi phạm pháp luật khác xâm phạm đến quyền tự do, dân chủ của công dân có thể bị khiếu nại đến cơ quan có thẩm quyền để xem xét và các chế tài kèm theo.

Tóm lại, so với các văn bản pháp luật trước đây, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 đã có một bước phát triển lớn liên quan đến việc tôn trọng và bảo vệ các quyền tự do, dân chủ của các cá nhân.

1.4.4. Pháp luật tố tụng hình sự giai đoạn từ năm 2003 đến nay

Qua thực tiễn áp dụng Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 đã bộc lộ nhiều sự bất cập, chưa đáp ứng với nhiệm vụ cải cách tư pháp, bảo đảm các quyền con người trong Tố tụng Hình sự còn nhiều hạn chế. Bởi thế, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 thay thế cho Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988 đánh dấu một bước phát triển mới trong cải cách hệ thống pháp luật Tố tụng Hình sự ở nước ta. Bộ luật đã thể chế hoá quan điểm của Đảng và Nhà nước ta trong lĩnh vực đấu tranh tội phạm, đặc biệt là Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới. Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003 đã có những thay đổi, bổ sung cơ bản trong việc bảo đảm quyền con người thể hiện ở những điểm sau đây:

Một là, tăng cường một cách cơ bản các quyền và lợi ích hợp pháp của những người tham gia tố tụng.

Hai là, bên bị buộc tội có quyền sử dụng các phương tiện kỹ thuật để có được các tài liệu tố tụng, được quyền thuê người bào chữa từ thời điểm bị tạm giữ, quyền thu thập chứng cứ, quyền khiếu nại ở những giai đoạn tố tụng nhất định, quyền khởi tố theo yêu cầu của người bị hại được quy định và mở rộng.

Ba là, nội dung tranh luận của bên buộc tội và bên bị buộc tội đã được thể hiện trong các quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chức năng buộc tội, bào chữa, xét xử được phân định khá rõ ràng và được giao cho các cơ quan khác nhau và những người có thẩm quyền khác nhau. Các bên buộc tội và bên bào chữa bình đẳng trước tòa.

Bốn là, nguyên tắc suy đoán vô tội đã được ghi nhận. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan và những người Tiến hành tố tụng. Người bị buộc tội có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội.

Ngoài ra, xét trên bình diện pháp luật quốc tế, tính đến nay Việt Nam đã gia nhập hầu hết các điều ước quốc tế về nhân quyền, trong đó Công ước quốc tế về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ, Công ước quốc tế về xóa bỏ hình thức phân biệt chủng tộc gia, Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, văn hóa và xã hội, Công ước quốc tế về các quyền dân sự, chính trị gia, Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ con, Công ước quốc tế về xóa bỏ các hình thức phân biệt chủng tộc, Công ước về ngăn ngừa và trừng trị tội ác diệt chủng, Công ước về ngăn chặn và trừng trị tội ác Apacthai, Công ước quốc tế về không áp dụng những hạn chế luật pháp đối với các tội phạm chiến tranh và tội ác chống nhân loại, và phê chuẩn nhiều công ước của Tổ chức Lao động quốc tế, đồng thời gia nhập nhiều các công ước khác liên quan đến bảo vệ quyền con người [69, tr.453-456]. Việc tham gia hầu hết các Công ước quốc tế về quyền con người là nỗ lực to lớn của Nhà nước và nhân dân ta, thể hiện cam kết và quyết tâm cao độ của Nhà nước ta trong việc thúc đẩy, tôn trọng và bảo vệ các quyền con người.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

Quyền con người là thành quả phát triển lâu dài của lịch sƣ̉ xã hội loài người nhưng quyền con người không thể được bảo đảm thực hiện một cách đầy đủ, triệt để nếu không được ghi nhận bằng pháp luật. Ở nước ta vấn đề quyền con người luôn được Đảng, Nhà nước và nhân dân quan tâm, bảo vệ thông qua Hiến pháp, các đạo luật, các văn bản pháp luật khác, cũng như bằng nhiều chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước.

Những nghiên cứu về mặt lý luận trong Chương 1 của luận văn cho phép rút ra những kết luận như sau:

  1. Quyền con người là những điều vốn có, tự nhiên mà con người được hưởng, không phân biệt đẳng cấp, màu da, giới tính hay dân tộc được ghi nhận và bảo đảm bằng pháp luật quốc gia và quốc tế.
  2. Các cơ chế bảo đảm quyền con người bao gồm: Cơ chế quốc tế trong việc bảo đảm quyền con người; Cơ chế khu vực trong việc bảo đảm quyền con người; Cơ chế quốc gia trong việc bảo đảm quyền con người.
  3. Bên cạnh những nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm, thuộc tính, phân loại quyền con người, Chương 1 luận văn còn làm rõ vai trò của pháp luật Tố tụng Hình sự với việc bảo đảm quyền con người như: Bảo đảm quyền con người trong pháp luật Tố tụng Hình sự là bảo đảm quyền con người của những người tham gia tố tụng, bảo đảm các quy định của pháp luật trong lĩnh vực hình sự được tuân thủ, chấp hành và áp dụng một cách nghiêm chỉnh, thống nhất và triệt để bởi các cơ quan Tiến hành tố tụng, cũng như những người Tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử tránh khỏi sự tùy tiện, áp dụng sai các quy định của pháp luật của cơ quan Tiến hành tố tụng, người Tiến hành tố tụng.
  4. Đối với Tố tụng Hình sự Việt Nam trong suốt chiều dài lịch sử thì tựu chung lại đã có một bước phát triển lớn liên quan đến việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người được thể hiện qua các bản Hiến pháp và được cụ thể hóa trong Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 1988, Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2003, đánh dấu một bước phát triển mới trong cải cách hệ thống pháp luật Tố tụng Hình sự ở nước ta trong việc bảo đảm quyền con người. Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng PL với việc bảo đảm quyền con người

One thought on “Luận văn: Vai trò PL tố tụng hình sự về bảo đảm quyền con người”

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp PL trong việc bảo đảm quyền con người

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464