Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm và những vấn đề đặt ra trong việc thực thi tại Quảng Ninh dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Phần lớn các nước trên thế giới đều đã đưa ra pháp luật trách nhiệm sản phẩm đối với nhà sản xuất nhằm bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Ở Việt Nam, pháp luật trách nhiệm sản phẩm đã được đưa ra và áp dụng trong nhiều năm qua, tuy nhiên các quy định chưa chặt chẽ, nghiêm ngặt, còn nhiều thiếu sót nên nhiều doanh nghiệp dựa vào lỗ hỏng pháp luật đó để trốn luật, lách luật làm cho người tiêu dùng chịu thiệt thòi lớn. Với quy định pháp luật đó bước đầu đã tạo được hành lang pháp lý cho việc bảo vệ người tiêu dùng và chế tài đối với doanh nghiệp. Nhưng do nhiều nguyên nhân mà các quy định trên đã ngày càng bộc lộ nhiều hạn chế, như: quy định còn chung chung, chưa thực sự đảm bảo cơ chế cho việc thực thi các quyền của người tiêu dùng… Do đó, yêu cầu cấp thiết hiện nay là cần nâng cao, hoàn thiện các quy định về trách nhiệm sản phẩm đối với nhà sản xuất để đảm bảo quyền lợi người tiêu dùng và hạn chế đến mức thấp nhất các lỗi về sản phẩm do nhà sản xuất gây ra, buộc các nhà sản xuất phải cân bằng giữa lợi nhuận kinh doanh và bồi thường khi có thiệt hại xảy ra.

Xuất phát từ những vấn đề lý luận và thực tiễn nêu trên, đồng thời được sự hướng dẫn tận tình của thầy giáo – PGS, TS Tăng Văn Nghĩa, em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài “Pháp luật trách nhiệm sản phẩm và những vấn đề đặt ra trong việc thực thi tại Quảng Ninh”, qua đó nêu lên một số khuyến nghị góp phần hoàn thiện quy định của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của nhà sản xuất ở nước ta trong thời gian tới.

2. Tình hình nghiên cứu

Từ trước đến nay, ở nhiều quốc gia, sự tồn tại của chế định trách nhiệm sản phẩm có tầm quan trọng đến mức mà mỗi phán quyết của Toà án về các vụ kiện về bảo vệ người tiêu dùng luôn trực tiếp ảnh hưởng tới cách ứng xử của doanh nghiệp. Nhiều cuộc khảo sát tại Hoa Kỳ cho thấy, không ít doanh nghiệp đã từ bỏ việc phát triển và tung ra thị trường những loại sản phẩm mới chỉ vì nỗi e ngại về khả năng gặp rắc rối với chế định về trách nhiệm sản phẩm. Việc nhà sản xuất Toyta buộc phải thu hồi xe ô tô với số lượng lớn và qui mô toàn cầu đồng thời đối mặt với những khoản phát sinh lên đến hàng trăm triệu đô la Mỹ, với những thiệt hại hàng trăm tỷ đô la cho thấy tính chất nghiêm trọng của vấn đề trách nhiệm sản phẩm trong thời đại hiện nay. Đã từng có những trường hợp vì phải bồi thường cho các nạn nhân trong các vụ kiện tập thể liên quan đến trách nhiệm của doanh nghiệp mà doanh nghiệp bị kiện lâm vào tình trạng phá sản. Chính vì thế, đã có thời kỳ thị trường bảo hiểm trách nhiệm sản phẩm được hình thành. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, do các phán quyết của toà án liên quan đến trách nhiệm sản phẩm hầu như luôn không thể mang lại những kết quả bất ngờ nên một số doanh nghiệp bảo hiểm ở Hoa Kỳ đã từ bỏ việc cung cấp dịch vụ bảo hiểm này. Điểm lại các bài nghiên cứu trên các tạp chí luật chuyên ngành xuất bản ở Anh, Mỹ, Canada hoặc Úc, chúng ta có thể thấy chủ đề trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp luôn được coi là một trong những chủ đề được quan tâm của các nhà nghiên cứu. Hầu như năm nào, các bài nghiên cứu về trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp cũng được đăng tải. Trong số đó, nhiều bài nghiên cứu đề cập tới chế độ trách nhiệm sản phẩm ở nhiều quốc gia trên thế giới trong đó có Hoa Kỳ, Anh Quốc, Nhật Bản. Dưới đây là một số nghiên cứu mà đề tài tiếp cận được:

Bài viết “The future of products liability in America (Tương lai của pháp luật trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ)” của ba luật sư của Hoa Kỳ là Gary Wilson, Vincent Moccio và Daniel O. Fallon đăng trên tạp chí William Mitchell Law Review (năm 2000) đã bàn về chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ hiện tại, những tồn tại, bất cập và đề xuất một số hướng cải cách, đổi mới.

Công trình “The Evolution of Products Liability Law (Quá trình phát triển của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm)”của Giáo sư Luật David G. Owen (Đại học South Carolina – Hoa Kỳ) đăng trên tạp chí “The Review of Litigation (Symposium 2007)” đã nghiên cứu khá tỉ mỉ quá trình phát sinh, phát triển của chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Hoa Kỳ, nguồn gốc, những ý tưởng cơ bản của chế độ trách nhiệm ấy. Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

“Products Liability – Why the EU does not need the restatement (third) (Chế định trách nhiệm sản phẩm – Vì sao Cộng đồng Châu Âu không cần theo [mô hình của Hoa Kỳ])” của Giáo sư Rebekah Rollo (Đại học Maryland – Đức) trong bài viết đăng trên tạp chí “Brooklyn Law Review, Spring, 2004” đã nghiên ứu chế độ trách nhiệm sản phẩm theo quy định của Cộng đồng Châu Âu (EU) và tác động của những thay đổi trong chính sách trách nhiệm sản phẩm của Hoa Kỳ tới chính sách tương tự của Cộng đồng Châu Âu.

Bài viết “The Japanese Product Liability Law (Pháp luật trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản)” của Jason F. Cohen (Nghiên cứu sinh Đại học Fordham – Hoa Kỳ) đăng trên tạp chí “Fordham International Law Journal, November 1997” đã làm rõ cơ sở chính sách và những đặc điểm cơ bản của chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Nhật Bản.

“Products Liability in the United Kingdom (Chế định trách nhiệm sản phẩm ở Vương quốc Anh)” Giáo sư Jane Stapleton (Đại học quốc gia Australia), đăng trên tạp chí “Texas International Law Journal, Winter 1999” đã đề cập khá chi tiết về nguồn gốc, chức năng và các đặc điểm cơ bản trong chế định trách nhiệm sản phẩm ở Anh Quốc. Trong năm 2000, cũng chính giáo sư Jane Stapleton đã đăng tải bài viết “Products Liability, an Anglo-Australian Perspective (Chế định trách nhiệm sản phẩm – từ cách nhìn của Úc châu)” trên tạp chí “Washburn Law Journal, Spring, 2000” trong đó ông làm rõ quan niệm của Úc về chế độ trách nhiệm sản phẩm.

Chuyên khảo “Product liability” của giáo sư D.Cray, trường đại học Carleton, Otawa, Canada, đã xem xét vấn trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật của các quốc gia dưới cách nhìn luật học so sánh.

Có thể thấy rằng, quan điểm chung của các nhà nghiên cứu thể hiện trong các bài viết vừa nêu đều cho rằng, trách nhiệm sản phẩm là một trong những công cụ pháp lý quan trọng để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong nền kinh tế thị trường. Tuy nhiên, do điều kiện đặc thù của mỗi quốc gia, thời điểm bắt đầu áp dụng chế định trách nhiệm sản phẩm nên nhiều nội dung của chế định này trong từng nước có những sự khác nhau nhất định, nhất là về phạm vi của chế định trách nhiệm sản phẩm, cơ chế đảm bảo thực thi chế định trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp.

Một điểm cũng rất đáng lưu ý là trong những năm gần đây, với hướng tiếp cận về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, nhiều học giả đã xem xét vấn đề trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp cũng như các yêu cầu bảo vệ người tiêu dùng từ góc độ đạo đức kinh doanh. Nhiều học giả cho rằng, tuân thủ đúng yêu cầu trong chế độ trách nhiệm sản phẩm cũng như các quy định khác bảo vệ người tiêu dùng là góp phần xây dựng một nền kinh tế có luân lý, nền kinh tế dựa trên trật tự pháp luật và trật tự đạo đức, nền kinh tế của sự hài hoà và phát triển bền vững. Có thể nói, các kết quả nghiên cứu về chế độ trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp, nhất là thực tiễn xây dựng và áp dụng các quy định về chế độ trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp ở các nước, nhất là các quốc gia có nền kinh tế thị trường lâu đời như Hoa Kỳ, Anh, Nhật, Úc rất hữu ích cho việc triển khai đề tài nghiên cứu “Trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp – công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng”.

Việc nghiên cứu trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp với tư cách là một trong những công cụ bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng ở Việt Nam chưa phải là chủ đề được giới nghiên cứu Việt Nam quan tâm. Cho đến nay, trên thị trường chưa có đầu sách nào về vấn đề này. Bên cạnh đó, khi tra cứu một số tạp chí nghiên cứu chuyên ngành luật như Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, tạp chí Nhà nước và Pháp luật, tạp chí Dân chủ và Pháp luật (từ năm 1990 trở lại đây),… cũng hiếm có bài nghiên cứu chuyên sâu về lĩnh vực này. Trên các tạp chí luật của các nước trên thế giới, chủ đề về trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp ở Việt Nam cũng chưa được nghiên cứu và đăng tải. Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Trong khuôn khổ Đề tài khoa học về tác hại của chất độc da cam, một số nghiên cứu về trách nhiệm sản phẩm cũng đã được tiến hành nhằm góp phần xác định trách nhiệm pháp lý của các công ty Mỹ đối với những hậu quả do chất độc màu da cam để lại cho các nạn nhân đang khởi kiện chống lại các công ty này. Một trong những nghiên cứu đó do GS.TS Lê Hồng Hạnh thực hiện.

Tuy nhiên, có thể khẳng định rằng, việc nhận diện, làm rõ bản chất của chế độ trách nhiệm sản phẩm trong thực tiễn xây dựng và hoàn thiện pháp luật ở Việt Nam, nhất là pháp luật kinh doanh và pháp luật bảo vệ người tiêu dùng để từ đó đề ra các giải pháp hoàn thiện vẫn chưa được quan tâm, đầu tư đúng mức. Ngay bản thân khái niệm “trách nhiệm sản phẩm” (product liability) vẫn còn xa lạ đối với đại đa số người tiêu dùng và thậm chí giới luật gia. Cho đến nay,“trách nhiệm sản phẩm” chưa được coi là thuật ngữ pháp lý được sử dụng chính thức trong các văn bản pháp luật của Việt Nam. Việc phân biệt hoặc giải quyết mối quan hệ giữa khái niệm “trách nhiệm sản phẩm” với nhiều khái niệm có liên quan khác như “trách nhiệm pháp lý”, “trách nhiệm dân sự”, “trách nhiệm bồi thường thiệt hại”, “trách nhiệm của doanh nghiệp”,… cũng chưa được đầu tư, luận giải thoả đáng.

Thực hiện kế hoạch nghiên cứu năm 2007, Viện Khoa học Pháp lý đã phối hợp với Dự án Hỗ trợ cải cách pháp luật của Canada tại Việt Nam (dự án Lerap) tổ chức Hội thảo “Cơ chế pháp lý bảo vệ người tiêu dùng: thực tiễn Việt Nam và kinh nghiệm quốc tế” (tổ chức tại Khách sạn Melia trong 3 ngày từ ngày 14- 16/8/2007) với sự tham gia của gần 70 đại biểu là đại diện các cơ quan bảo vệ người tiêu dùng (Cục quản lý cạnh tranh – Bộ Thương mại, Cục quản lý thị trường – Bộ Thương mại, Cục an toàn vệ sinh thực phẩm – Bộ Y tế…), đại diện Bộ Tư pháp, Toà Dân sự – TAND Tối cao, Toà Dân sự – TAND thành phố Hà Nội, đại diện Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng Việt Nam, đại diện Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ người tiêu dùng một số tỉnh, thành phố, các chuyên gia pháp lý, đại diện Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam, đại diện một số hiệp hội doanh nghiệp, đại diện của một số doanh nghiệp, các cơ quan truyền thông, báo chí, một số chuyên gia của Canada. Với hơn 10 bài tham luận tại Hội thảo, các đại biểu đã nêu rõ những khoảng trống pháp lý trong công tác bảo vệ người tiêu dùng ở Việt Nam hiện nay, trong đó có khoảng trống về chế định trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp. Nhiều ý kiến tham luận tại Hội thảo đã đề xuất việc hoàn thiện chế định trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp ở Việt Nam (chẳng hạn tham luận “Vấn đề trách nhiệm sản phẩm trong pháp luật Việt Nam” của Thạc sỹ Nguyễn Văn Cương (đã đăng tải trên Thông tin khoa học pháp lý số 4+5/2007 của Viện Khoa học Pháp lý)). Tuy nhiên, đó mới chỉ là các nghiên cứu bước đầu về chế định trách nhiệm sản phẩm với tư cách một công cụ pháp lý bảo vệ người tiêu dùng.

Một điều rất đáng nói là trong khi vấn đề trách nhiệm sản phẩm là một trong các chủ đề được nhiều cơ sở đào tạo luật ở nước ngoài đưa vào chương trình giảng dạy (thường nằm trong các phần về luật bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng), thì các chương trình đào tạo luật ở Việt Nam hầu như không đề cập. Các giáo trình về luật dân sự hoặc luật thương mại của khoa Luật ĐH Quốc gia Hà Nội, trường ĐH Luật Hà Nội, Khoa Luật ĐH Kinh tế quốc dân và trường ĐH Luật thành phố Hồ Chí Minh đều nằm trong tình trạng chung đó… Xuất phát từ những thực tế như thế có thể nói rằng, việc nghiên cứu sâu hơn về bản chất, đặc điểm của chế định trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp, luận giải mô hình chế định trách nhiệm sản phẩm phù hợp với trình độ, đặc điểm kinh tế-xã hội-pháp lý của Việt Nam, đánh giá các tác động kinh tế-xã hội có thể xảy ra khi áp dụng chế định trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp từ đó có các đề xuất hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp trong điều kiện phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay là hết sức cần thiết. Ngay cả Ban soạn thảo Luật Bảo vệ Quyền lợi người tiêu dùng hiện nay cũng chưa có được cách tiếp cận đầy đủ đối với chế định trách nhiệm sản phẩm.

3. Mục đích nghiên cứu Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Thông qua việc nghiên cứu lý luận, đánh giá các quy định về pháp luật trách nhiệm của sản phẩm của một số nước trên thế giới, cũng như thực trạng thực thi pháp luật của doanh nghiệp Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng để đưa ra các khuyến nghị hoàn thiện và thực thi pháp luật trách nhiệm sản phẩm trong thời gian tới nhằm góp phần đảm bảo an toàn pháp lý trong hoạt động sản xuất hàng hóa, dịch vụ.

4. Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là vấn đề trách nhiệm sản phẩm, quy định của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm và những vấn đề đặt ra trong việc thực thi tại tỉnh Quảng Ninh.

5. Phạm vi nghiên cứu

  • Về nội dung, Luận văn tập trung vào việc làm rõ các vấn đề lý luận chung về trách nhiệm sản phẩm của các nước trên thế giới, pháp luật và thực tiễn chế độ trách nhiệm sản phẩm ở Việt Nam cũng như tỉnh Quảng Ninh.
  • Về không gian, Luận văn nghiên cứu nội dung trách nhiệm sản phẩm của Việt Nam nói chung và tỉnh Quảng Ninh nói riêng.
  • Về thời gian, Luận văn sử dụng số liệu thống kê trong giai đoạn 10 năm gần nhất và đề xuất một số định hướng đến năm 2025.

6. Phương pháp nghiên cứu

Trong quá trình nghiên cứu và trình bày, luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác nhau, bao gồm:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp: Phương pháp này được sử dụng trong tất cả các chương của luận văn để phân tích các khái niệm, quy định của pháp luật, các số liệu,…
  • Phương pháp so sánh: Được sử dụng trong luận văn để so sánh một số quy định của pháp luật trong các văn bản khác nhau, tập trung chủ yếu ở chương 2 của luận văn.
  • Phương pháp diễn giải quy nạp: Được sử dụng trong luận văn để diễn giải các số liệu, các nội dung trích dẫn liên quan và được sử dụng tất cả các chương của luận văn. Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Ngoài ra, luận văn còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu khác: phương pháp thống kê, đối chiếu…

7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu

  • Luận văn góp phần vào việc đưa ra một số cơ sở khoa học trong quá trình hoàn thiện pháp luật và đảm bảo hiệu quả thực thi pháp luật trách nhiệm sản xuất hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam hiện nay;
  • Góp phần giúp chính quyền và các cơ quan, ban, ngành nghiên cứu, hoàn thiện chính sách và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về trách nhiệm sản xuất hàng hóa, dịch vụ ở Việt Nam trong giai đoạn tới.

8. Kết cấu đề tài nghiên cứu

Ngoài lời mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, danh mục các bảng biểu, luận văn được chia thành ba chương với nội dung cụ thể như sau:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận về trách nhiệm sản phẩm và pháp luật trách nhiệm sản phẩm
  • Chương 2: Thực trạng pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về trách nhiệm sản phẩm tại tỉnh Quảng Ninh
  • Chương 3: Một số khuyến nghị hoàn thiện và thực thi pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại tỉnh Quảng Ninh

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM VÀ PHÁP LUẬT TRÁCH NHIỆM SẢN PHẨM

1.1. Khái quát về trách nhiệm của nhà sản xuất đối với hàng hóa (sản phẩm)

1.1.1. Khái niệm sản phẩm

Muốn hiểu được khái niệm trách nhiệm sản phẩm, trước tiên chúng ta phải tìm hiểu khái niệm sản phẩm. Theo quan điểm truyền thống, sản phẩm là kết quả đầu ra của quá trình lao động sản xuất có chủ định của con người. Vào thời kì cách mạng công nghiệp ở châu Âu, với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, hàng hóa bắt đầu được sản xuất hàng loạt với số lượng lớn. Nhưng vào thời điểm đó, do hạn chế về kỹ thuật, các sản phẩm làm ra vẫn không đủ đáp ứng nhu cầu. Vì thế, nhà sản xuất có vị thế cao hơn hẳn người tiêu dùng. Nhưng ngày nay, khi năng lực sản xuất đã đủ đáp ứng nhu cầu của con người thì khái niệm này đã không còn phù hợp nữa.

Ngày nay, có rất nhiều quan niệm khác nhau về sản phẩm được đưa ra. Theo tiêu chuẩn quốc tế ISO 9000:2000 thì sản phẩm là kết quả của một quá trình tập hợp các hoạt động có liên quan lẫn nhau hoặc tương tác với nhau nhằm biến đổi đầu vào thành đầu ra. Theo quan điểm marketing, Philip Kotler – “cha đẻ của marketing hiện đại” – đã định nghĩa: “Sản phẩm là tất cả những thứ có thể thỏa mãn được mong muốn hay nhu cầu” và được cung ứng cho thị trường nhằm mục đích thu hút sự chú ý, mua, sử dụng hay tiêu dùng. Sản phẩm có thể tồn tại dưới dạng hàng hóa, dịch vụ hoặc ý tưởng.

Riêng đối với pháp luật trách nhiệm sản phẩm, do những khác biệt về tính chất, đặc điểm của các loại sản phẩm (cụ thể gồm có hai nhóm chính là hàng hóa và dịch vụ) mà khái niệm sản phẩm chỉ tập trung vào các loại hàng hóa. Chỉ thị về Trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu ban hành năm 1985 đã quy định tại Điều 2 như sau: Sản phẩm là tất cả những động sản, ngoại trừ những sản phẩm nông nghiệp thô và các trò chơi, dù có được sử dụng trong việc xây dựng bất động sản hoặc gắn liền với bất động sản hay không. Điều 2 Luật Trách nhiệm sản phẩm của Trung Quốc đưa ra khái niệm về sản phẩm như sau: Sản phẩm là những thứ được sản xuất nhằm mục đích kinh doanh.

Sản phẩm gồm có nhiều loại, người ta có thể đem ra thị trường trao đổi, mua bán các loại hàng hóa, cung cấp dịch vụ, mua bán các ý tưởng kinh doanh, mua bán các tổ chức, cho thuê mướn đất đai… nhưng hai thành phần chủ yếu của nó vẫn là hàng hóa và dịch vụ, hay sản phẩm hữu hình và sản phẩm vô hình. Hai thành tố này tuy đều có các đặc điểm chung của sản phẩm là có thể trao đổi, mua bán được và nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu của con người, nhưng giữa chúng vẫn có sự khác biệt.

Dưới giác độ của trách nhiệm sản phẩm thì sản phẩm bao gồm những động sản được sản xuất hoặc chế biến, nó không phụ thuộc vào việc sản xuất theo dây chuyền công nghiệp với quy mô lớn hay sản xuất thủ công những sản phẩm riêng lẻ, Tăng Văn Nghĩa (2008, tr. 41-49). Cách hiểu này tương đồng với quy định của pháp luật ở nhiều nước về sản phẩm đồng thời mang tính chất đặc thù của pháp luật trách nhiệm sản phẩm. Bên cạnh đó, như đã phân tích, trong pháp luật về trách nhiệm sản phẩm của một số quốc gia còn mở rộng khái niệm sản phẩm đối với các dịch vụ.

1.1.2. Khái niệm sản phẩm có khuyết tật Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Một sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật thông thường khi được đưa vào lưu thông mà gây ra các thiệt hại về tài sản, sức khỏe hay tính mạng cho người sử dụng nó hoặc người thứ ba thì sản phẩm đó bị coi là có khuyết tật. Khuyết tật của sản phẩm là yếu tố cấu thành quan trọng nhất của trách nhiệm sản phẩm, vì trách nhiệm sản phẩm không phụ thuộc vào yếu tố lỗi của nhà sản xuất. Khuyết tật của sản phẩm xuất hiện khi sản phẩm không đảm bảo sự an toàn mà thông thường người ta có thể mong đợi và sự an toàn đó dẫn tới các tổn thất liên quan đến tính mạng và tài sản của người sử dụng.

Để đánh giá một sản phẩm có an toàn theo tiêu chuẩn thông thường không, chúng ta cần dựa trên một số tiêu chuẩn cụ thể:

Thứ nhất là mối quan hệ giữa giá cả và sự an toàn của sản phẩm. Đối với mỗi mức giá nhất định thì người tiêu dùng có quyền có được những sự an toàn nhất định. Ví dụ sản phẩm bình nước nóng có hệ thống chống rò điện thường có giá cao hơn những sản phẩm bình nước nóng khác. Khi mua sản phẩm này, người tiêu dùng trông đợi sản phẩm chắc chắn không bị tai nạn do điện giật như các bình nước nóng khác. Nếu tai nạn vẫn xảy ra thì sản phẩm đó bị coi là có khuyết tật.

Một khía cạnh khác đó là sự thiếu an toàn một cách bất hợp lý khi sử dụng sản phẩm. Một số sản phẩm có sự nguy hiểm bản chất. Ví dụ như axit dùng để sản xuất hóa chất, sản xuất ắc-quy là một sản phẩm nguy hiểm, nhưng sự nguy hiểm đó là bản chất, gắn liền với công năng của sản phẩm. Đối với những sản phẩm này, sự thiếu an toàn là hợp lý và nhà sản xuất sẽ không phải chịu trách nhiệm sản phẩm đối với các trường hợp này.

Một yếu tố khác để đánh giá sự an toàn của sản phẩm là sản phẩm đó có những cảnh báo thích hợp hay không. Nếu các sản phẩm tiềm ẩn các nguy hiểm nhưng được cảnh báo một cách thích hợp thì nhà sản xuất cũng không phải chịu trách nhiệm. Điển hình là các sản phẩm pin điện thoại, trên các sản phẩm này thường có ký hiệu không vứt vào thùng rác, không đốt pin…

Một sản phẩm không an toàn có thể do nhiều nguyên nhân, khuyết tật có thể xuất hiện từ quá trình thiết kế, trong khi sản xuất, hoặc xuất hiện do sự cảnh báo không đầy đủ từ nhà sản xuất. Vì sản phẩm đến tay người tiêu dùng phải thông qua nhiều công đoạn nên việc phân loại khuyết tật sản phẩm sẽ làm cho việc xác định người phải chịu trách nhiệm trong các vụ kiện liên quan đến trách nhiệm sản phẩm dễ dàng hơn. Khuyết tật sản phẩm được phân loại thành khuyết tật do lỗi sản xuất, khuyết tật do lỗi thiết kế và khuyết tật do lỗi không cảnh báo hoặc cảnh báo không đầy đủ. Theo thống kê của tập đoàn bảo hiểm AIG (American Intemational Group) tỷ lệ nguyên nhân của các vụ kiện trách nhiệm sản phẩm do lỗi sản xuất là 5%, lỗi thiết kế là 60 % và lỗi cảnh báo là 35%. Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

  • Khuyết tật do lỗi sản xuất

Khuyết tật do lỗi sản xuất xuất hiện khi nhà sản xuất đã không tuân theo mẫu thiết kế hoặc thành phẩm không đáp ứng được quy cách phẩm chất nhà sản xuất đề ra. Lỗi này có thể xảy ra khi nhà sản xuất thay đổi thành phẩm nguyên vật liệu hoặc không tuân thủ quy trình sản xuất. Ví dụ nhu một công ty xây dựng được giao thi công một cây cầu, nhưng trong quá trình thi công, do tiến độ công việc quá gấp rút, người thi công đã phải tăng thêm khối lượng sử dụng một số phụ gia để có thể hoàn thành cây cầu đúng thời gian quy định. Nếu khi đưa vào sử dụng mà cây cầu có sự cố gẫy, sụp, nứt vỡ thì công ty xây dựng đó sẽ phải chịu trách nhiệm.

  • Khuyết tật do lỗi thiết kế

Trong một số trường họp, sản phẩm được sản xuất đúng theo thiết kế nhưng bản thân sản phẩm có thể gây nguy hiểm bất hợp lý cho người tiêu dùng. Điều này xảy ra vì nhà thiết kế, nhà sản xuất đã không lường trước được, hoặc không phát hiện được những khiếm khuyết này trong quá trình kiểm nghiệm chất lượng sản phẩm trước khi đưa vào lưu thông. Hiện tượng này rất phổ biến trong ngành công nghiệp chế tạo ô tô. Hàng năm, dựa trên các báo thống kê về nguyên nhân gây tai nạn trong các tai nạn giao thông, các hãng sản xuất ô tô có thể phát hiện sự thiếu an toàn trong bản thân thiết kế của các sản phẩm của mình và đưa ra các biện pháp khắc phục, thường là thu hồi và sửa chữa các sản phẩm lỗi. Điển hình là trường hợp của Toyota trong năm 2009 vừa qua. Sau khi phát hiện lỗi của hệ thống điều khiển điện tử của chế độ chạy tự động gây tăng tốc đột ngột, Toyota đã buộc phải công bố danh sách những dòng xe bị lỗi và thu hồi tổng cộng 4,87 triệu chiếc xe trên toàn thế giới.

  • Khuyết tật do lỗi không cảnh báo hoặc cảnh báo không đầy đủ

Khuyết tật này thường xuất hiện trong quá trình quảng bá để đưa sản phẩm vào tiêu thụ, trong đó nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ đã không cảnh báo đầy đủ về những nguy hiểm tiềm ẩn của sản phẩm. Khuyết tật này thường xảy ra đối với các sản phẩm thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm… khi nhà sản xuất không hướng dẫn cụ thể cách sử dụng, tác dụng phụ có thể gặp phải của sản phẩm. Ngày nay, các sản phẩm dược phẩm, mỹ phẩm thường có ghi chú “Để xa tầm tay trẻ em”. Điều này là cần thiết vì trong nhiều trường hợp, việc sử dụng sai phương pháp, sai liều lượng hoặc việc kết hợp các loại sản phẩm này với nhau không phù hợp có thể làm sản phẩm không có tác dụng, thậm chí gây ảnh hưởng tới sức khỏe, tính mạng của người sử dụng.

1.1.3. Vấn đề về trách nhiệm của nhà sản xuất đối với hàng hóa đưa vào lưu thông

Về bản chất, trách nhiệm sản phẩm chính là sự ràng buộc về mặt pháp luật trách nhiệm của các nhà sản xuất, phân phối cũng như người bán lẻ đối với công chúng khi cung ứng sản phẩm trên thị trường. Trách nhiệm đó thể hiện ở việc khi một sản phẩm được nhà cung cấp đưa ra thị trường, sản phẩm đó đương nhiên phải được coi là an toàn, không phụ thuộc vào việc người sản xuất hay cung ứng có công bố là sản phẩm đó có an toàn hay không. Với sự ràng buộc trách nhiệm này, để tránh hoặc giảm thiểu những hậu quả pháp lý mà sản phẩm khuyết tật gây ra thiệt hại cho người tiêu dùng, nhà sản xuất, cung ứng sản phẩm khi đưa sản phẩm ra thị trường sẽ phải nỗ lực để loại trừ khuyết tật của sản phẩm, từ đó đem lại cho người tiêu dùng những sản phẩm đảm bảo an toàn. Trong trường hợp sự an toàn không được đảm bảo và người tiêu dùng phải gánh chịu thiệt hại thì họ sẽ được bồi thường, do vậy lợi ích của người tiêu dùng sẽ được đảm bảo ở mức độ cao nhất. Với hệ thống quy định của pháp luật về trách nhiệm sản phẩm, người tiêu dùng đương nhiên được bảo vệ và không đòi hỏi phải có bất kỳ khả năng đàm phán, thuyết phục nào và không một nhà sản xuất hay cung ứng nào có thể sử dụng ưu thế của mình trong quan hệ với người tiêu dùng để loại trừ trách nhiệm này. Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Để xác định liệu nhà sản xuất hay người bán có phải chịu trách nhiệm đối với người tiêu dùng về các thiệt hại do khuyết tật của sản phẩm gây ra hay không, pháp luật về trách nhiệm sản phẩm dựa trên ba chuẩn pháp lý cơ bản là học thuyết về sự bất cẩn (negligence), học thuyết về sự vi phạm nghĩa vụ bảo đảm (warranty) và học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt (strict liability).

Học thuyết về sự vi phạm nghĩa vụ bảo đảm đưa ra những căn cứ để người tiêu dùng khởi kiện đòi bồi thường thiệt hại trong trường hợp người sản xuất, cung ứng vi phạm nghĩa vụ bảo đảm. Theo học thuyết về sự bảo đảm, người sản xuất, cung ứng khi đưa sản phẩm ra thị trường thì cũng có nghĩa là đưa ra những bảo đảm nhất định về sản phẩm của mình đối với người tiêu dùng. Khi sản phẩm đó có khuyết tật và gây thiệt hại cho người tiêu dùng tức là người sản xuất, cung ứng đã vi phạm nghĩa vụ bảo đảm và vì vậy họ có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người tiêu dùng. Các hình thức bảo đảm bao gồm bảo đảm công khai (express warranty); bảo đảm ngầm định, bao gồm bảo đảm ngầm định về tính thương mại (implied warranty of merchantability) và đảm bảo ngầm định về tính phù hợp về công dụng của sản phẩm (implied warranty of fitness).

Bảo đảm công khai được xác định bởi tuyên bố hay giới thiệu của người bán hay người cung cấp sản phẩm rằng sản phẩm A hoặc X của họ có những công dụng nhất định. Ví dụ, nhà sản xuất dược phẩm Y ghi trên toa thuốc rằng dược phẩm này chữa được bệnh hen. Với đảm bảo này, nhà sản xuất cam kết rằng dược phẩm có công dụng chữa hen. Bảo đảm công khai cũng có thể thể hiện bằng lời nói đưa ra trong quá trình thương lượng hoặc được đưa vào các bản hợp đồng mua bán, vào mẫu thử, trong lần mua trước đối với cùng một loại sản phẩm, hoặc khẳng định trên các phương tiện thông tin đại chúng hoặc những thứ đi kèm theo sản phẩm. Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Bảo đảm ngầm định xuất hiện khi nhà sản xuất hay cung ứng không đưa ra sự thay đổi hoặc sự khước từ nào đối với tính thương mại của sản phẩm. Trong trường hợp đó, sản phẩm được coi là mang tính thương mại và phải đáp ứng những tiêu chuẩn chung đối với sản phẩm cùng loại, bao gồm cả những yêu cầu về mức độ an toàn hợp lý.

Bảo đảm về công dụng (sự phù hợp với một mục đích cụ thể) xuất hiện khi người bán biết hoặc có lý do để biết về mục đích cụ thể mà người mua sản phẩm mong đạt được. Khi đó, người bán được coi là bảo đảm rằng sản phẩm sẽ là phù hợp cho mục đích mà vì thế người mua đã mua nó. Ví dụ, trong trường hợp khách hàng nói với người bán máy vi tính rằng anh ta cần một chiếc máy vi tính tốc độ cao để quản lý kho dữ liệu và các hoạt động thu chi trong hoạt động kinh doanh của mình và người bán đã khuyên người mua mua một chiếc máy tính cụ thể để xử lý các yêu cầu này. Điều này có nghĩa là người bán đang đưa ra một bảo đảm ngầm định. Nếu người mua chiếc máy đó phát hiện thấy máy đã mua không đáp ứng được yêu cầu quản lý kho dữ liệu và các khoản thu chi của mình thì có thể kiện.

Bảo đảm ngầm định được thiết lập theo quy định của pháp luật, và đi kèm với việc chuyển giao quyền sở hữu đối với hàng hóa, trừ trường hợp bảo đảm ngầm định bị hạn chế hoặc loại trừ một cách rõ ràng bởi hợp đồng. Tuy nhiên, trong trường hợp thiệt hại gây ra là thương tích về thân thể, Luật mẫu về thương mại của Hoa Kỳ không cho phép bất kỳ sự hạn chế hay loại trừ trách nhiệm nào trong hợp đồng. Những hạn chế và loại trừ như vậy đều đương nhiên vô hiệu (Điều 2-719 (3)).

Trong thực tiễn toà án Mỹ liên quan đến trách nhiệm sản phẩm, người tiêu dùng ít sử dụng nghĩa vụ đảm bảo để làm cơ sở khởi kiện. Lý do là để áp đặt trách nhiệm trên cơ sở nghĩa vụ đảm bảo, cần phải chứng minh bản chất mối quan hệ giữa người bán, người cung ứng và người mua. Việc chứng minh mối liên hệ này không đơn giản. Hơn nữa, mức bồi thường được chấp nhận trong các vụ kiện bảo vệ người tiêu dùng thường thấp hơn mức bồi thường có được nếu khởi kiện trách nhiệm sản phẩm dựa trên những cơ sở khác.

Sự bất cẩn là học thuyết gắn với việc xem xét hành vi của con người. Bất cẩn được hiểu một cách đơn giản là hành động sai được đánh giá dựa trên quan niệm chung về sự hợp lý hay không hợp lý. Nếu một hành vi được coi là không hợp lý thì người có hành vi đó phải chịu trách nhiệm về thiệt hại mình đã gây ra. Nếu hành vi của một người là hợp lý thì người đó sẽ không phải chịu trách nhiệm, kể cả khi hành vi đó dẫn đến thiệt hại. Một hành vi được coi là hợp lý khi người có hành vi đó đã áp dụng các biện pháp phòng ngừa cần thiết tương xứng với mức độ hậu quả được đo lường từ trước. Trong trường hợp biện pháp phòng ngừa thấp hơn mức độ hậu quả có thể xảy ra thì hành vi đó sẽ bị coi là bất cẩn. Trong việc áp dụng trách nhiệm sản phẩm, bất cẩn được coi là một cơ sở quan trọng. Sự bất cẩn (tắc trách) là việc nhà sản xuất không quan tâm ở mức độ cần thiết, tức là mức độ mà một nhà sản xuất hay cung ứng bình thường cần có khi sản xuất hay cung ứng sản phẩm của mình ở trong điều kiện và hoàn cảnh tại thời điểm sản xuất. Để xác định việc nhà sản xuất, cung ứng có bất cẩn hay không, cần phải chứng minh được sự hiểu biết của bên gây thiệt hại về khả năng xảy ra thiệt hại. Tuy nhiên, không phải bất cứ sự thiếu hiểu biết nào cũng tạo ra được cơ sở để miễn trách nhiệm. Công thức: biết và cần phải biết luôn được áp dụng ở đây. Ví dụ, nếu nhà sản xuất sữa sử dụng nguyên liệu từ những vùng bị dịch thì phải biết rằng sản phẩm của mình có thể tác động xấu đến sức khoẻ của người tiêu dùng. Điểm quan trọng khác khi xác định trách nhiệm do bất cẩn là sự tồn tại của nghĩa vụ quan tâm của người gây thiệt hại đối với người bị thiệt hại. Bên bị thiệt hại phải chứng minh được là giữa hai bên có một liên hệ về nghĩa vụ quan tâm. Hai người không có mối liên hệ nào với nhau thì không thể phát sinh nghĩa vụ. Mối liên hệ nghĩa vụ này phát sinh căn cứ vào các tình huống cụ thể. Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Điểm quan trọng khác khi xác định trách nhiệm sản phẩm đó chính là việc người có sản phẩm vi phạm nghĩa vụ quan tâm đến sức khoẻ và tính mạng của người sử dụng sản phẩm. Người bị thiệt hại phải chứng minh được là người bán sản phẩm đã vi phạm nghĩa vụ của mình và chính sự vi phạm này đã làm phát sinh thiệt hại. Trong chừng mực nhất định có thể áp dụng tương tự mối quan hệ nhân quả được sử dụng rộng rãi trong các nước theo truyền thống luật dân sự khi xác định trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Tóm lại, để có cơ sở cho việc khởi kiện dựa trên sự bất cẩn từ phía người sản xuất, người bị hại phải chứng minh được: (1) Nghĩa vụ của người sản xuất; (2) Sự vi phạm nghĩa vụ đó; (3) Thiệt hại; (4) Mối liên hệ giữa vi phạm đó với thiệt hại. Học thuyết về sự bất cẩn là căn cứ để người tiêu dùng khởi kiện nhà sản xuất khi nhà sản xuất có lỗi.

Học thuyết về sự bất cẩn đặt gánh nặng chứng minh lên người tiêu dùng. Nếu một sản phẩm có lỗi thiết kế và gây ra thương tích cho người tiêu dùng, người tiêu dùng phải chứng minh rằng hành vi của nhà sản xuất khi thiết kế ra sản phẩm là không hợp lý. Đương nhiên, thông tin về việc nhà sản xuất thiết kế sản phẩm như thế nào lại nằm trong tay của nhà sản xuất, vì vậy rất khó cho người tiêu dùng để có thể có các thông tin này. Chính sự bất cập trong thực hiện trách nhiệm chứng minh đã đưa đến việc hình thành học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt – một học thuyết đang có xu hướng chiếm ưu thế trong việc vận dụng chế định trách nhiệm sản phẩm ở các quốc gia.

Học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt không quan tâm đến hành vi của các bên mà chỉ quan tâm đến chất lượng của sản phẩm gây ra thiệt hại. Người tiêu dùng không còn bị buộc phải chứng minh hành vi của nhà sản xuất khi thiết kế sản phẩm là không hợp lý mà chỉ cần chỉ ra rằng bản thân sản phẩm là có khuyết tật. Để yêu cầu trách nhiệm nghiêm ngặt, người tiêu dùng phải chứng minh ba yếu tố cơ bản: (i) nguyên nhân, (ii) thiệt hại và (iii) khuyết tật. Nguyên nhân và thiệt hại được chứng minh giống như trường hợp áp dụng học thuyết về sự bất cẩn và vì vậy, sự khác biệt sẽ thể hiện ở chứng minh về khuyết tật. Để xác định khuyết tật, có bảy yếu tố có thể được phân tích: 1) tính hữu ích của sản phẩm, 2) sự tồn tại của các sản phẩm đáp ứng cùng một nhu cầu nhưng an toàn hơn, 3) khả năng xảy ra thiệt hại và mức độ nghiêm trọng của thiệt hại, 4) mức độ rõ ràng của mối nguy hiểm, 5) khả năng nhìn thấy nguy hiểm của công chúng, 6) khả năng người sử dụng tránh được nguy hiểm bằng sự cẩn trọng, có tính đến cả tác dụng của các hướng dẫn và cảnh báo, 7) khả năng loại trừ các mối nguy hiểm của sản phẩm bởi người sản xuất hoặc người bán mà không làm cho sản phẩm mất đi tác dụng hoặc làm tăng giá thành của sản phẩm một cách quá mức. Đối với các sản phẩm có thiết kế lý tưởng thì các khuyết tật được loại trừ. Trong trường hợp khuyết tật không được loại trừ, người ta có thể đưa ra các biện pháp để khắc phục trong chính sản phẩm. Còn trong trường hợp không thể khắc phục thì biện pháp cuối cùng cần được thực hiện là cảnh báo cho người sử dụng về nguy cơ của rủi ro mà sản phẩm có thể mang lại. Khi không có biện pháp nào trong số các biện pháp nêu trên được áp dụng thì sản phẩm sẽ được coi là có khuyết tật và người sản xuất hay bán hàng sẽ phải chịu trách nhiệm về thiệt hại và khuyết tật đó gây ra cho người tiêu dùng. Phân tích việc thu hồi hàng triệu ô tô của Toyota trong mấy tháng đầu năm 2010 có thể cho chúng ta thấy rõ bản chất của trách nhiệm sản phẩm. Toyota đã sản xuất ô tô và tiêu thụ với số lượng lớn, dưới nhiều chủng loại trên khắp thế giới. Tính đến thời điểm thu hồi, các sự cố xảy ra với xe ô tô của hãng này so với số lượng ô tô là chưa nhiều. Thực tế, là Toyota cũng chưa đối mặt với những vụ kiện lớn về thiệt hại do việc sử dụng ô tô của hãng gây ra đối với người tiêu dùng. Tuy nhiên, Toyota buộc phải tuyên bố thu hồi xe vì có những chi tiết kỹ thuật đã không đáp ứng được yêu cầu an toàn. Ví dụ, như thảm sàn ép chân ga khiến ô tô chạy với tốc độ ngoài sự kiểm soát; lỗi dính chân ga hoặc khung xe có hiện tượng bị ăn mòn. Mỗi dòng xe bị vấp một trong những lỗi kỹ thuật như vậy và đây là điều mà nhà thiết kế, sản xuất ô tô phải nhận thấy. Bỏ qua những sự kiện này chính là sự bất cẩn. Toyota sẽ đối mặt với những thiệt hại lớn hơn nếu không thu hồi xe và khắc phục các lỗi kỹ thuật như vậy. Việc lựa chọn học thuyết về sự bất cẩn hay học thuyết về trách nhiệm nghiêm ngặt cũng là yếu tố cơ bản làm nên sự khác biệt giữa các hệ thống pháp luật về trách nhiệm sản phẩm trên thế giới.

1.2. Nội dung trách nhiệm của nhà sản xuất đối với sản phẩm Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Trong môi trường kinh doanh hiện nay, áp lực cạnh tranh đã khiến nhiều nhà sản xuất phải liên tục đưa ra thị trường các loại sản phẩm mới với các thiết kế, tính năng và vật liệu thường xuyên thay đổi. Một mặt, việc sản xuất liên tục các sản phẩm mới này dễ dàng bắt kịp nhu cầu luôn thay đổi của người tiêu dùng và mang lại lợi nhuận cho nhà sản xuất, nhà phân phối, nhưng mặt khác, áp lực thời gian cũng khiến các thiết kế hoặc việc thử nghiệm đôi khi thiếu hoàn hảo và gây ra thiệt hại hoặc tai nạn không mong muốn cho người sử dụng sản phẩm. Để bảo vệ quyền lợi và sự an toàn của người tiêu dùng, khái niệm trách nhiệm sản phẩm đã ra đời từ những năm 1970 và đuợc chấp nhận rộng rãi trên toàn thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển như Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nhật Bản…

Nhìn chung, pháp luật các nước đều có quan điểm thống nhất về trách nhiệm sản phẩm. Khi người tiêu dùng, người sử dụng sản phẩm hay bất cứ người thứ ba nào bị tổn hại về vật chất, sức khỏe hoặc tính mạng do những khiếm khuyết của sản phẩm thì họ có quyền được đòi bồi thường. Ngược lại, các nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà bán lẻ sẽ phải chịu trách nhiệm bồi thường khi sản phẩm của họ có khuyết tật, gây tổn thất cho người tiêu dùng, người sử dụng sản phẩm. Điều Ì Chỉ thị về Trách nhiệm sản phẩm của Liên minh châu Âu ban hành vào năm 1985 đã quy định: Người sản xuất phải chịu trách nhiệm về những thiệt hại gây ra bởi những khuyết tật trong sản phẩm của họ. Luật Trách nhiệm sản phẩm của Nhật Bản có hiệu lực từ năm 1995 quy định chi tiết hơn về vấn đề này như sau: Bất kỳ nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà nhập khẩu nào cung cấp sản phẩm có khuyết tật gây thiệt hại đến tính mạng, sức khỏe của người tiêu dùng thì phải bồi thường cho những thiệt hại đó. Dự thảo Luật Bảo vệ người tiêu dùng của Việt Nam đưa ra khái niệm:

Trách nhiệm sản phẩm là trách nhiệm bồi thường thiệt hại của thương nhân đối với sản phẩm có khuyết tật gây thiệt hại cho người tiêu dùng.

Như vậy có thể đưa ra khái niệm trách nhiệm sản phẩm như sau: Trách nhiệm sản phẩm là chế định pháp luật trong đó nhà sản xuất, nhà phân phối, nhà cung cấp, nhà bán lẻ hay bất cứ người nào đưa sản phẩm vào lưu thông phải chịu trách nhiệm đối với những thiệt hại, thương tích của người tiêu dùng, người sử dụng sản phẩm hoặc người thứ ba do sản phẩm đó gây ra. Trong Bản hướng dẫn về bảo vệ người tiêu dùng của Liên hợp quốc năm 1999 đã đưa ra tám quyền lợi cơ bản của người tiêu dùng, gồm có: quyền được thỏa mãn nhu cầu cơ bản, quyền được an toàn, quyền được thông tin, quyền được lựa chọn, quyền được lắng nghe, quyền được bồi thường, quyền được giáo dục về tiêu dùng, quyền được có một môi trường lành mạnh và bền vững. Khái niệm trách nhiệm sản phẩm từ khi được áp dụng đã góp phần không nhỏ vào việc bảo đảm sự an toàn về tính mạng và tài sản cho người tiêu dùng, đồng thời đảm bảo việc thực hiện những quyền lợi chính đáng của họ. Dưới đây là một số loại trách nhiệm về sản phẩm của nhà sản xuất.

1.2.1. Trách nhiệm bảo đảm an toàn Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Trách nhiệm bảo đảm an toàn là nghĩa vụ cung cấp sản phẩm đúng chất lượng, đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm, những sản phẩm an toàn không gây hại đến bản thân người tiêu dùng và gây hại cho môi trường cũng như nền chính trị quốc gia. Một số chế tài quốc tế khiến nhà sản xuất phải thực hiện trách nhiệm này là:

Hiệp định về vệ sinh an toàn thực phẩm SPS là hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật của tổ chức thương mại quốc tế WTO. Hiệp định ghi nhận nhu cầu tự bảo vệ mình của các nước thành viên WTO trước các rủi ro qua xâm nhập sâu hại và dịch bệnh, nhưng đồng thời cũng tìm cách giảm thiểu bất kỳ tác động tiêu cực nào của các biện pháp SPS tới thương mại.

Điều XX Hiệp định GATT năm 1994 quy định việc áp dụng các ngoại lệ chung không được tạo ra sự phân biệt đối xử phi lý giữa các nước có điều kiện như nhau hay hạn chế, ngăn cản thương mại quốc tế. Áp dụng các ngoại lệ trái với quy tắc không phân biệt đối xử trong trường hợp cần thiết: bảo vệ đạo đức công cộng; bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ con người, động vật hay thực vật; liên quan đến việc xuất hoặc nhập khẩu vàng và bạc; liên quan đến các sản phẩm sử dụng lao động của tù nhân; bảo đảm sự tôn trọng pháp luật và các quy tắc không trái với các quy định về áp dụng các biện pháp hải quan, duy trì hiệu lực của chính sách độc quyền, bảo hộ bản quyền, nhãn hiệu thương mại, quyền tác giả và các biện pháp ngăn ngừa gian lận thương mại; di sản quốc gia; gìn giữ nguồn tài nguyên có thể bị cạn kiệt.

Quy định về hợp vệ sinh GMP. Good Manufacturing Practices (GMP) là tiêu chuẩn thực hành sản xuất tốt, áp dụng trong sản xuất nhằm đảm bảo chất lượng đồng đều, ổn định, đạt tiêu chuẩn đã đăng ký và đảm bảo điều kiện vệ sinh an toàn cho sản xuất. GMP là một phần cơ bản trong hệ thống quản lý an toàn thực phẩm, là điều kiện tiên quyết cho việc phát triển hệ thống HACCP và các tiêu chuẩn quản lý an toàn thực phẩm khác.

Quy chế kiểm dịch động thực vật của FDA- HACCP. Đây là hệ thống kiểm soát chất lượng sản phẩm dựa trên nguyên tắc phân tích và xác định các nguy cơ và điểm kiểm soát tới hạn, nhằm đảm bảo an toàn vệ sinh và ngăn chặn từ xa tất cả các mối nguy tiềm ẩn về sinh học, hoá học và lý học trong tất cả các công đoạn sản xuất/chế biến thực phẩm nói chung.

Pháp luật trong nước có: Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

  • Luật bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày 30/6/1989.
  • Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm 26/7/2003.
  • Nghị định chính phủ 163/2004-NĐCP Quy định chi tiết Pháp lệnh vệ sinh an toàn thực phẩm.
  • Quy định thủ tướng chính phủ 43/2006/QĐ- TTG 20/2/2006 Phê duyệt kế hoạch quốc gia đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm.
  • Luật bảo vệ môi trường. Các luật, pháp lệnh và quyết định đưa ra mục tiêu chung đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm (viết tắt là VSATTP) phục vụ người tiêu dùng, góp phần bảo vệ sức khỏe nhân dân đáp ứng nhu cầu hội nhập kinh tế quốc tế.

Trách nhiệm bảo đảm an toàn được thể hiện bởi những hành động cụ thể đối với nhà sản xuất gồm có:

  • Quy định những tiêu chuẩn chất lượng sản phẩm của sản phẩm hàng hóa mà doanh nghiệp sản xuất ra, ví dụ: Sữa diệt khuẩn hợp vệ sinh; Bánh phở không có íbocmôn; Mỹ phẩm không chứa chất độc hại như sudan…
  • Thực hiện quy trình công nghệ hợp vệ sinh, an toàn, nêu cao phong trào sản xuât an toàn và chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp bằng cách như: tờ chức các cuộc thi tìm hiểu về chất lượng hàng hóa và vệ sinh an toàn thực phẩm…
  • Có những công nghệ an toàn đời với con người và môi trường: không ô nhiễm môi trường, hay có những quy trình xử lý chất thải riêng (xử lý khí thải, nước thải, rác thải công nghiệp…)

Bất cứ người tiêu dùng nào cũng nhận ra rằng mình phải được tiêu dùng những “sản phẩm an toàn” – Hợp vệ sinh và an toàn khi tiêu dùng (không gây nguy hiểm, cháy nổ trong tiêu dùng…). Nhưng doanh nghiệp thì theo đuổi lợi nhuận, còn NTD hiện nay thì theo đuổi giá cả. Giá cả càng rẻ càng mua nhiều, càng giảm giá nhiều càng mua nhiều. Người tiêu dùng chúng ta nhận thức và thực hiện các quyền của mình nhưng lại trong khả năng thanh toán của mình. Vì vậy, quyền an toàn trong luật bị giới hạn.

1.2.2. Trách nhiệm cung cấp thông tin Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Trách nhiệm cung cấp thông tin là nghĩa vụ bảo đảm cho người tiêu dùng được biết đầy đủ các thông tin về dòng sản phẩm, sản phẩm có trên thị trường được người tiêu dùng mua về nhằm thỏa mãn một sờ nhu cầu cần thiết. Trách nhiệm cung cấp thông tin thể hiện những quy định về quảng cáo, khuếch trương, tuyên truyền về sản phẩm và quan trọng được thể hiện trên nhãn mác hàng hóa.

Thế giới quy định phải thông tin quảng cáo, việc thay đổi thông tin quảng cáo khi đưa sản phẩm đến các quốc gia khác thì phải phù hợp với nền văn hóa mỗi quốc gia tránh sự phản cảm hiểu sai về sản phẩm khi bất đồng ngôn ngữ và văn hóa. Bên cạnh đó còn có những quy định về nhãn mác sản phẩm, những thông tin ghi trên nhãn mác…

Một số nước trên thế giới có thực hiện trách nhiệm cung cấp thông tin của nhà sản xuất như tại Trung Quốc, đài truyền hình trung ương và các cơ quan thông tin đại chúng đăng những thông tin về cơ sở có hàng giả, hàng kém chất lượng, đối xử không tốt với người tiêu dùng để người tiêu dùng tẩy chay không tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp.

Một số nước khác nhà sản xuất có trách nhiệm cung cấp những thông tin về tổ chức, doanh nghiệp đảm bảo tốt về chất lượng sản phẩm, đạt các giải thưởng cao trong việc bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Doanh nghiệp nhận được giải thưởng về chất lượng hay bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, trách nhiệm xã hội đều tự quảng bá, quảng cáo cho chính doanh nghiệp mình.

Việt Nam đã ban hành các quy định về trách nhiệm này như sau:

  • Nghị định số 89/2006/NĐ-CP quy định về ghi nhãn hàng, bắt đầu có hiệu lực thi hành từ ngày 13/03/2007.
  • Luật cạnh tranh quy định về quảng cáo, thông tin quảng cáo. Các văn bản pháp luật trên nhằm đưa người tiêu dùng tới việc tiếp cận thông tin một cách đầy đủ, chính xác nhất về sản phẩm, về đối tượng cần tiêu dùng nhằm hoàn chỉnh quyền được có thông tin của người tiêu dùng. Tổ chức các buổi tuyên truyền về quyền của NTD, phát hành báo, tạp chí người tiêu dùng, giúp NTD chủ động nhận thức tốt về quyền lợi của mình và đứng ra tự bảo vệ mình.

1.2.3. Trách nhiệm bảo đảm quyền lựa chọn cho người tiêu dùng

Trách nhiệm bảo đảm quyền lựa chọn là việc nhà sản xuất đảm bảo cho người tiêu dùng có quyền được lựa chọn những sản phẩm tiêu dùng thích hợp phù hợp với nhu cầu và khả năng thanh toán.

Thế giới quy định trách nhiệm bảo đảm quyền lựa chọn của người tiêu dùng ờ các luật sau: Luật cạnh tranh thế giới ICL (International Competitive Law); Luật sở hữu trí tuệ nhằm bảo hộ hàng hóa, sản phẩm, để người tiêu dùng lựa chọn đúng, chính xác các sản phẩm, tránh lựa chọn hàng giả, hàng nhái, vi phạm bản quyền công nghệ, sản phẩm. Mặt khác, Luật cạnh tranh còn cấm tình trạng độc quyền ngành, chèn ép người tiêu dùng về giá và số lượng. Người tiêu dùng có quyền được lựa chọn doanh nghiệp, nhà cung ứng và sản phẩm để tiêu dùng mà không bị một ràng buộc nào trong khuôn khổ pháp luật.

Việt Nam thực hiện bảo vệ quyền được lựa chọn của người tiêu dùng ở một số văn bản pháp luật: Luật cạnh tranh năm 2018; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật kinh doanh bảo hiểm, Luật sở hữu trí tuệ năm 2019; Luật doanh nghiệp sửa đổi năm 2014. Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Trong nền kinh tế thị trường, NTD luôn là thành tố cấu thành quan trọng cho nên kinh tế quốc gia và có vai trò quyết định tới số phận của mỗi doanh nghiệp. Vì vậy các quốc gia và doanh nghiệp luôn tìm mọi biện pháp để bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng, đặc biệt là thỏa mãn quyền được lựa chọn của người tiêu dùng. Việt Nam chuyển sang nền kinh tế thị trường, số lượng sản phẩm hàng hóa đáp ứng cùng một nhu cầu ngày càng đa dạng thì không còn đơn giản là tất cả những sản phẩm doanh nghiệp sản xuất ra đều được người tiêu dùng tiêu thụ mà các doanh nghiệp phải cạnh tranh rất gay gắt với nhau để có thể thu hút được khách hàng. Vì vậy quản trị mối quan hệ khách hàng ngày càng quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Người tiêu dùng có quyền được lựa chọn doanh nghiệp, sản phẩm thoa mãn tốt nhất nhu cầu của mình. Nhà nước đã ban hành Luật cạnh tranh trong đó cấm các doanh nghiệp có những hình thức tạo độc quyền: liên kết tạo độc quyền, bành trướng thôn tính thị trường của doanh nghiệp… để người tiêu dùng có nhiều khả năng lựa chọn, đảm bảo môi trường cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh để doanh nghiệp thỏa mãn tốt nhu cầu của người tiêu dùng bang việc đưa ra các sản phẩm có chất lượng cao, giá cả hợp lý, chủng loại đa dạng để người tiêu dùng được lựa chọn.

Về phía các doanh nghiệp: để nâng cao hiệu quả của hoạt động sản xuất kinh doanh, uy tín của mình trên thị trường, các doanh nghiệp cần tìm cách đổi mới, cải tiến sản phẩm, đa dạng hoa sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm tạo điều kiện thuận lợi cho người tiêu dùng được tự do chọn lựa những sản phẩm có khả năng thỏa mãn tốt nhất nhu cầu của họ. Không những thế, các doanh nghiệp còn cần chủ động liên kết với nhau trong sản xuất, cung ứng để đưa ra nhiều dòng sản phẩm mới phù hợp với NTD.

Bên cạnh những doanh nghiệp đảm bảo tốt quyền được lựa chọn của NTD vẫn còn những doanh nghiệp luôn tìm cách theo đuổi lợi nhuận trước mắt mà không cho NTD thỏa mãn quyền được lựa chọn, điều đó được biểu hiện dưới nhiều hình thức như: ép buộc mua, không cho đổi lại hay bảo hành sản phẩm…

1.2.4. Trách nhiệm lắng nghe ý kiến của người tiêu dùng Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Trách nhiệm lắng nghe ý kiến của người tiêu dùng là việc nhà sản xuất tiếp nhận những phát biểu ý kiến và lắng nghe những ý kiến đã được phát biểu, nó bao gồm nói và nghe. Thế giới có quy định quyền được lắng nghe của NTD, ở văn bản Hướng dẫn về bảo vệ quyền của NTD của Liên Hiệp Quốc ban hành năm 1985 có nói đến vấn đề này. Nhiều quốc gia trên thế giới đã thành lập Hội bảo vệ NTD để đứng ra bảo vệ quyền lợi của NTD. Tất cả những thắc mắc khiếu nại của NTD trên phạm vi quốc gia quốc tế đều được hội thảo luận, kiến nghị lên cơ quan cấp trên để giải quyết khiếu nại.

Phản biện xã hội của người tiêu dùng và các tổ chức bảo vệ người tiêu dùng chính là để thực hiện quyền được lắng nghe của người tiêu dùng thông qua tổ chức của mình. Phản biện xã hội của người tiêu dùng không chỉ là góp ý cho những văn bản pháp luật, những chính sách lớn của Nhà nước mà còn bao gồm cả việc phát hiện, bình luận và kiến nghị cách giải quyết những vấn đề bức xúc của người tiêu dùng, đặc biệt đối với các hành vi gian lận thương mại, những biểu hiện tiêu cực trên thị trường.

Các Hội bảo vệ NTD trên thế giới thực hiện rất nhiều hoạt động: Tuần lễ quốc gia về bảo vệ NTD trên thế giới ở Hàn Quốc, Hoa Kỳ, Newziland. Thành lập tòa án người tiêu dùng ở Ấn Độ. Ngày 15/3 ở Trung Quốc được coi là ngày “Thượng đế phán xử”…

Việt Nam quy định việc trách nhiệm lắng nghe ý kiến của NTD thông qua “Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng” ban hành năm 1999… Nhà nước đã ghi nhận quyền được lắng nghe của NTD và cho phép thành lập Hội người tiêu dùng để đại diện cho NTD trên toàn quốc. Nhà nước, Quốc hội giao cho Hội người tiêu dùng những quyền góp ý cho những văn bản của Nhà nước. Để bảo vệ quyền lợi NTD, Hội tác động vào các chủ trương,chính sách, pháp luật của Nhà nước, đây là một cách bảo vệ NTD từ gốc, có tác dụng bao trùm, rộng khắp, lâu dài. Hiện nay Nhà nước chưa có một quy chế rõ ràng để NTD có thể thực hiện quyền được lắng nghe của mình. Thực tế những ý kiến của NTD vẫn chưa được giải quyết một cách thỏa đáng.

Về phía doanh nghiệp: để đảm bảo quyền được lắng nghe của NTD, các doanh nghiệp có thể mở các hòm thư góp ý để người tiêu dùng có thể bày tỏ ý kiến về sản phẩm, hàng hoa của doanh nghiêp từ đó doanh nghiệp điều chỉnh kế hoạch, chiến lược kinh doanh của mình nhằm nâng cao chất lượng sản phẩm, hàng hoa đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của NTD. Tuy nhiên vẫn còn không ít doanh nghiệp vì theo đuổi lợi nhuận, không tiếp thu hay làm thỏa mãn quyền được lắng nghe của NTD, cố tình sản xuất sản phẩm sai so với tiêu chuẩn chất lượng, ghi sai nhãn mác hàng hoa, quảng cáo không trung thực… để đánh lừa NTD.

1.2.5. Trách nhiệm bảo hành

Chế định bảo hành cũng là một chế định tương đối đặc trưng trong hệ thống pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng. Chế định này đòi hỏi người sản xuất, cung ứng sản phẩm là hàng hoá trong một thời gian nhất định kể từ khi cung ứng hàng hoá cho người tiêu dùng phải có trách nhiệm đổi hàng mới hoặc sửa chữa nếu hàng hoá được mua không vận hành đúng theo yêu cầu mà sản phẩm phải đáp ứng. Để đảm bảo người kinh doanh tuân thủ đầy đủ nghĩa vụ này, các quy định pháp luật về bảo vệ người tiêu dùng sẽ đưa ra những ràng buộc để hạn chế nhà kinh doanh đưa ra những biện pháp nhất định nhằm giảm thiểu hoặc lảng tránh trách nhiệm bảo hành đối với hàng hoá đã cung cấp cho người tiêu dùng.

1.2.6. Trách nhiệm giải quyết khiếu nại

Trách nhiệm giải quyết khiếu nại là việc nhà sản xuất và cơ quan có thẩm quyền xử lý những phát sinh khi người tiêu dùng gặp điều thiệt thòi, không vừa ý trong quan hệ với nhà sản xuất kinh doanh như: tiêu dùng phải những sản phẩm kém chất lượng, không đúng đã giới thiệu trên nhãn mác, quảng cáo hay các nội dung trong hợp đồng,… Khi đó NTD có 2 quyền là quyền khiếu nại và quyền được bồi thường nếu doanh nghiệp vi phạm pháp luật. Quyền khiếu nại thể hiện một phần trong quyền được lắng nghe của NTD. Thế giới và Việt Nam đã ban hành một số văn bản pháp luật quy định rõ quyền được khiếu nại và bồi thường của NTD như: Luật bảo vệ NTD quốc tế- Luật dân sự và hình sự quốc tế; Chương 5 Hiến pháp bảo vệ quyền lợi NTD (Giải quyết khiếu nại, tố cáo và xử lý vi phạm).

1.3. Những yếu tố tác động đến thực hiện pháp luật trách nhiệm sản phẩm Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

1.3.1. Yếu tố văn hóa kinh doanh của thương nhân

Đây là yếu tố quan trọng nhất đối với mỗi doanh nghiệp bởi đây chính là nhân tố điều chỉnh hoạt động thực hiện các hành vi kinh doanh. Chính vì vậy, yếu tố này cũng tác động đến việc thực hiện pháp luật trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp sẽ tận dụng tối đa việc thực hiện pháp luật đem lại lợi ích cho mình như các chính sách miễn giảm thuế, chính sách thúc đẩy đầu tư, đồng thời hạn chế việc thực hiện pháp luật mà kết quả là ảnh hưởng đến lợi ích của doanh nghiệp, như: nộp thuế, thực hiện trách nhiệm với người lao động, bảo vệ môi trường…

Đây là một yếu tố then chốt ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp nhưng lại khó thay đổi bởi lẽ lợi ích chính là lý do cho sự tồn tại của các doanh nghiệp (trừ doanh nghiệp xã hội), do đó, việc sử dụng các yếu tố khác có tác động tích cực đến việc thực hiện pháp luật trách nhiệm sản phẩm của doanh nghiệp sẽ làm giảm sự tác động tiêu cực từ yếu tố ảnh hưởng này, hướng đến bảo vệ và phát triển các lợi ích của Nhà nước và xã hội, cũng như của các chủ thể khác.

1.3.2. Yếu tố ý thức tuân thủ pháp luật của doanh nghiệp

Ý thức pháp luật là tổng thể những quan điểm, quan niệm về pháp luật, là tình cảm và tâm trạng của con người đối với pháp luật.

Về mặt cấu trúc, ý thức pháp luật bao gồm tâm lý pháp luật, hệ tư tưởng pháp luật. Tâm lý pháp luật là tổng thể những cảm xúc, tâm trạng, thái độ, tình cảm của con người đối với pháp luật và các hiện tượng pháp lý khác, tâm lý pháp luật được hình thành ở từng cá nhân, từng nhóm người, từng giai cấp từ sự ảnh hưởng của pháp luật, của quá trình điều chỉnh xã hội bằng pháp luật, của quá trình áp dụng pháp luật, thực hiện pháp luật. Hệ tư tưởng pháp luật là tổng thể các tư tưởng, học thuyết, trường phái lý luận, quan điểm khoa học về pháp luật, nói cách khác, đó là nhận thức, là sự hiểu biết của con người về pháp luật.

Đối với việc thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật trách nhiệm sản phẩm nói riêng, sự tác động của ý thức pháp luật của doanh nghiệp có thể được xem xét thông qua sự tác động của từng bộ phận cấu thành ý thức pháp luật là hệ tư tưởng pháp luật và tâm lý pháp luật. Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

Hệ tư tưởng pháp luật ở cấp độ cá nhân và nhóm được hiểu là những suy nghĩ, nhận thức, quan điểm… về pháp luật. Sự nhận thức này có thể ở nhiều cấp độ khác nhau, tương ứng với đó, ý thức thực hiện pháp luật nói chung và pháp luật trách nhiệm sản phẩm nói riêng cũng sẽ khác nhau.

Ví dụ, cùng với quy định về việc bảo đảm quyền cung cấp thông tin cho người tiêu dùng, nếu doanh nghiệp không nắm rõ các quy định của pháp luật thì có thể thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình; ở mức độ cao hơn, doanh nghiệp nhận thức được quyền và nghĩa vụ của mình và người tiêu dùng có thể thực hiện đúng, đủ các quy định này nhưng vẫn có thể chây ỳ hoặc trốn tránh nghĩa vụ để được hưởng lợi từ đó; nếu có nhận thức đầy đủ và toàn diện về quy định này, doanh nghiệp sẽ nhận thức được việc trốn tránh nghĩa vụ bảo đảm cung cấp thông tin tới người tiêu dùng không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng, dẫn đến tâm lý chán nản, không tích cực ủng hộ sản phẩm, ảnh hưởng đến lợi nhuận của doanh nghiệp mà còn nhận thức được hành vi đó sẽ ảnh hưởng xấu đến hình ảnh doanh nghiệp, ảnh hưởng đến thương hiệu của doanh nghiệp và trong trường hợp pháp luật có quy định, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích nhiều mặt của doanh nghiệp do bị đánh thấp chỉ số tin cậy.

Tâm lý pháp luật bao hàm các trạng thái tâm lý đối với pháp luật như tôn trọng, niềm tin, mong muốn… của chủ thể. Tâm lý pháp luật chi phối trực tiếp quá trình thi hành pháp luật của chủ thể, là yếu tố thúc đẩy các chủ thể lựa chọn và thực hiện hành vi pháp luật trong từng hoàn cảnh cụ thể.

Khi doanh nghiệp có sự tôn trọng pháp luật, doanh nghiệp sẽ tự giác, chủ động thực hiện các nghĩa vụ mà pháp luật quy định, kiềm chế thực hiện các hành vi mà pháp luật cấm, đồng thời, sẽ có ý thức thực hiện đúng, đủ mà không phải là thực hiện một cách đối phó, gượng ép.

Niềm tin vào pháp luật, vào lẽ công bằng cũng là một yếu tố quan trọng trong việc thúc đẩy thực hiện pháp luật. Nếu doanh nghiệp tin tưởng vào cơ chế giải quyết tranh chấp hợp pháp thì doanh nghiệp sẽ sử dụng các cơ chế đó thay vì thực hiện các hành vi trái pháp luật để bảo vệ các lợi ích của mình như sử dụng xã hội đen, dịch vụ đòi nợ xấu bất hợp pháp… Nếu doanh nghiệp tin tưởng rằng các hành vi vi phạm pháp luật thuế đều bị xử lý nghiêm minh thì doanh nghiệp sẽ tích cực hơn trong việc thực hiện pháp luật về thuế. Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

1.3.3. Yếu tố tự bảo vệ của người tiêu dùng

Ý thức tự bảo vệ của NTD là yếu tố quan trọng quan trọng trong việc thực hiện pháp luật trách nhiệm sản phẩm. Trước hết, NTD phải tự trang bị kiến thức pháp luật cần thiết để biết khi nào quyền lợi của mình bị xâm phạm. Đồng thời, NTD phải có đề cao ý thức tránh xa những hàng hóa, dịch vụ mà mình nhận thức được nó không đảm bảo và phải có ý thức bảo vệ cộng đồng.

Thông thường, khi NTD đối mặt với những vụ việc vi phạm quyền lợi của mình họ thường im lặng hoặc không tiếp tục sử dụng hàng hóa, dịch vụ đó nữa. Nhưng họ quên rằng, bên cạnh họ còn rất nhiều những hàng hóa và NTD khác nữa. Có thể những NTD khác không đủ khả năng nhận biết như họ thì sự lên tiếng hỗ trợ cộng đồng hoặc báo các cơ quan chức năng là rất quan trọng. Đây là một kênh để các cơ quan chức năng vào cuộc bảo vệ lợi ích không chỉ cho cá nhân NTD nào đó mà còn bảo vệ lợi ích cho xã hội, bảo vệ uy tín, thương hiệu cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính. Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật về trách nhiệm sản phẩm

One thought on “Luận văn: Pháp luật trách nhiệm sản phẩm tại Quảng Ninh”

  1. Pingback: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật trách nhiệm sản phẩm

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464