Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại TP Huế

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại TP Huế hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật và thực tiễn áp dụng pháp luật trong việc giải quyết hủy kết hôn trái pháp luật tại tỉnh Thừa Thiên Huế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Sơ lược về thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại tỉnh Thừa Thiên Huế

Hôn nhân trái pháp luật là một trong những vấn đề tồn tại khá phổ biến trên thực tiễn hiện nay. Ở Thừa Thiên Huế, mặc dù trong những năm qua, được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, quan hệ hôn nhân và gia đình đã có những bước tiến đáng kể. Song bên cạnh đó, dưới tác động cả các yếu tố kinh tế – văn hóa – xã hội, thực trạng hôn nhân trái pháp luật vẫn còn diễn ra ở nhiều địa phương trong phạm vi toàn tỉnh. Thực trạng này không chỉ ảnh hưởng nghiêm trọng đến bản thân mỗi cặp nam nữ kết hôn, tới con cái của họ mà còn tác động xấu đến sự phát triển chung của toàn xã hội.

Trải qua mấy nghìn năm phát triển, Thừa Thiên Huế được biết đến là một vùng đất có bề dày lịch sử với truyền thống văn hóa lâu đời. Chế độ phong kiến cùng với những tư tưởng Nho giáo, Phật giáo đã ăn sâu vào tiềm thức của người dân nơi đây. Tư tưởng “trọng nam khinh nữ” vẫn còn tương đối phổ biến trong đại đa số nhân dân Thừa Thiên Huế. Vì vậy, rất nhiều người đàn ông với mong muốn có con trai để nối dõi nên thường dẫn đến các trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng. Mặt khác, hoàn cảnh chiến tranh cũng khiến cho nhiều gia đình ly tán, vợ chồng xa cách. Từ đó, họ thiết lập các mối quan hệ hôn nhân mới trong khi quan hệ hôn nhân cũ vẫn còn tồn tại. Đồng thời, lối sống thực dụng của một bộ phận nhân dân cũng đã làm ảnh hưởng không nhỏ thực trạng kết hôn trái pháp luật hiện nay. Tình trạng “sống thử” ngày càng trở nên phổ biến và có xu hướng tăng lên rõ rệt. Chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn mặc dù không vi phạm pháp luật về hôn nhân và gia đình nếu các bên chưa tồn tại quan hệ hôn nhân hợp pháp với người khác. Song mặt trái của vấn đề này đã và đang để lại khá nhiều hậu quả mà xã hội cần phải giải quyết, như quan hệ tài sản, quan hệ con cái…chính vì vậy, việc điều chỉnh các mối quan hệ này cũng trở nên hết sức cần thiết đảm bảo cho sự phát triển ổn định và bền vững của toàn xã hội.

Trong khi đó, cũng như thực trạng chung ở những địa phương khác trong cả nước, ở những vùng có nền kinh tế – xã hội còn khó khăn, đời sống vật chất và tinh thần của người dân chưa thực sự phát triển, trình độ dân trí còn thấp thì như các huyện miền núi Nam Đông, A Lưới…thì việc nam nữ kết hôn khi chưa đến tuổi quy định vẫn còn tồn tại khá phổ biến. Điều này cũng làm ảnh hưởng không nhỏ đến thực trạng kết hôn trạng kết hôn trái pháp luật ở Thừa Thiên Huế hiện nay. Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển của cả nước, Thừa Thiên Huế cũng là nơi chịu sự tác động của nền kinh tế thị trường. Điều này đã phần nào làm thay đổi lối sống của nhân dân, những quan điểm về hôn nhân cũng bị chi phối. Trong đó, lối sống thực dụng đã và đang tồn tại ở một bộ phận không nhỏ người dân Thừa Thiên Huế, đặc biệt là thế hệ trẻ. Hiện nay, ở Thừa Thiên Huế tồn tại không ít các cặp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không tiến hành đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật.

Xuất phát từ thực trạng trên, quan hệ hôn nhân trái pháp luật là một trong những vấn đề xã hội đáng quan tâm ở thừa thiên Huế. Đặc biệt, tình trạng tảo hôn, kết hôn vi phạm chế độ một vợ một chồng… còn diễn ra tương đối nhiều và để lại những hậu quả nặng nề. Vì vậy, vấn đề đặt ra là cần thiết phải có những biện pháp hữu hiệu nhằm hạn chế các trường hợp kết hôn trái pháp luật trong phạm vi cả nước nói chung và tại Thừa Thiên Huế nói riêng.

2.2. Thực trạng áp dụng biện pháp hủy việc kết hôn trái pháp luật tại tỉnh Thừa Thiên Huế Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại TP Huế.

Hôn nhân và gia đình là một trong những quan hệ xã hội cơ bản. Do đó, việc giải quyết các tranh chấp cũng như các yêu cầu về lĩnh vực này là loại vụ việc tương đối phổ biến tại Tòa án nhân dân các cấp nói chung và ngành Tòa án thừa Thiên Huế nói riêng. Theo thống kê của Tòa án nhân dân các cấp tại tỉnh Thừa Thiên Huế, từ năm 2006 đến năm 2000 số lượng các vụ việc về hôn nhân và gia đình mà các cơ quan có thẩm quyền đã thụ lý giải quyết như sau:

  • Bảng 2.1 Số lượng các loại án hôn nhân và gia đình

Theo số liệu thống kê nói trên, số lượng các vụ việc về hủy việc kết hôn trái pháp luật tại tỉnh Thừa Thiên Huế chiếm tỉ lệ không cao. Phần lớn, các trường hợp giải quyết quan hệ về hôn nhân và gia đình đều là quan hệ ly hôn với tỷ lệ gần như chiếm tuyệt đối (luôn nằm trong khoảng từ 95% đến 98%). Các loại án còn lại như hủy việc kết hôn trái pháp luật, tranh chấp cấp dưỡng, chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân…chỉ chiếm từ 2% đến 5% tổng số các vụ việc về hôn nhân và gia đình. Trong đó, hủy việc kết hôn trái pháp luật chiếm tỉ lệ thấp nhất với từ 1 đến 4 vụ việc mỗi năm. Năm 2006, số lượng yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cao nhất với 7 trường hợp, chiếm 0,79%. Năm 2007, loại án này chỉ thụ lý giải quyết 03 trường hợp với 0,30% trong tổng số các vụ việc về hôn nhân và gia đình mà Tòa án nhân dân các cấp tại Thừa thiên Huế đã giải quyết. Các năm còn lại số lượng các trường hợp này chỉ chiếm tỉ lệ từ 0,14% đến 0,27%. Sở dĩ số lượng các vụ việc về hủy việc kết hôn trái pháp luật không nhiều là do quan điểm về hôn nhân hiện nay đã có phần thay đổi so với quan điểm hôn nhân dưới xã hội phong kiến, các trường hợp kết hôn thiếu tính tự nguyện như trước đây hay các trường hợp kết hôn khi chưa đủ tuổi cũng đã có sự suy giảm hơn trước rất nhiều. Song cũng cần phải nhìn nhận khách quan rằng, bên cạnh đó, việc thực hiện quyền yêu cầu của các chủ thể còn tương đối hạn chế, một số chủ thể như Viện kiểm sát, Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em (nay thuộc phòng Lao động – thương binh và xã hội)… hầu như không tham gia khởi kiện yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, thực hiện quyền yêu cầu theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Trong khi đó, số lượng các trường hợp liên quan đến kết hôn trái pháp luật tại Thừa Thiên Huế tương đối lớn. Chẳng hạn “vấn nạn” tảo hôn tại các huyện miền núi như Nam Đông, A Lưới là một thực trạng đáng báo động và liên tục tiếp diễn trong những năm gần đây. Điều này cho thấy, trường hợp kết hôn trái pháp trên thực tế vẫn chưa có sự quan tâm và nhìn nhận đúng mức nên việc áp dụng các chế tài còn hạn chế. Hủy việc kết hôn trái pháp luật mặc dù chiếm tỉ lệ không nhiều nhưng quá trình giải quyết cũng còn bộc lộ một số khó khăn, vướng mắc nhất định. Vì vậy, nghiên cứu và đánh giá thực trạng này theo chúng tôi là vấn đề có ý nghĩa quan trọng nhằm hướng tới hoàn thiện hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh về vấn đề này cho phù hợp với yêu cầu thực tiễn đặt ra cũng như hoàn thiện và pháp điển hóa hệ thống pháp luật việt Nam nói chung. Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại TP Huế.

Mặt khác, theo thống kê, thực tiễn giải quyết các vụ việc về hủy việc kết hôn trái pháp luật trong các năm từ 2006 đến 2010 tại Tòa án nhân dân các cấp trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế như sau:

  • Bảng 2.2. Tình hình giải quyết các vụ việc hôn nhân và gia đình

Thực tiễn giải quyết các vụ án về hủy việc kết hôn trái pháp luật tại địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế trong những năm qua đã đạt được những hiệu quả nhất định, phần lớn các vụ việc về hủy việc kết hôn trái pháp luật đều được giải quyết một cách triệt để, góp phần quan trọng vào việc củng cố chế độ hôn nhân và gia đình, tránh các trường hợp vi phạm pháp luật nhưng không được xử lý dẫn đến các hậu quả tác động tiêu cực lên toàn xã hôi. Tuy nhiên, bên cạnh đó, việc giải quyết các trường hợp kết hôn trái pháp luật tại Thừa Thiên Huế vẫn còn một số tồn tại, hạn chế, gây ảnh hưởng đến việc nâng cao ý thức pháp luật, đặc biệt là pháp luật hôn nhân và gia đình trong cộng đồng dân cư. Qua bảng số liệu trên cho thấy, phần lớn các trường hợp yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật đều được giải quyết bằng các quyết định sơ thẩm. Trong đó, năm 2010 chiếm tỉ lệ tuyệt đối với 100% trên tổng số vụ việc (02/02 vụ việc đã thụ lý giải quyết). Năm 2006 đã giải quyết số vụ việc tương ứng là 6 vụ trên tổng số 7 vụ việc, chiếm tỉ lệ thấp hơn với khoảng 85,7% tống số đã thụ lý. Những năm còn lại số vụ việc thụ lý giải quyết bằng các bản án sơ thẩm chiếm tỉ lệ thấp hơn song nhìn chung vẫn ở mức cao so với các quyết định khác. Cụ thể, năm 2008 đã giải quyết 02/03 vụ việc, chiếm tỉ lệ 66,6%; năm 2009 chiếm tỉ lệ 75,0% với 03/04 vụ việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Một thực tế mà hầu hết các Tòa án nhân dân có thẩm quyền tại tỉnh Thừa Thiên Huế đã giải quyết là phần lớn các trường hợp kết hôn trái pháp luật đều được quyết định hủy do vi phạm điều kiện kết hôn mà không ra các quyết định khác như không công nhận là vợ chồng hay bác yêu cầu của chủ thể yêu cầu. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau song chủ yếu là do phần lớn những trường hợp có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật thì tại thời điểm yêu cầu các bên đều không đảm bảo đúng các điều kiện kết hôn như vẫn chưa đủ tuổi, một số trường hợp kết hôn thiếu tính tự nguyện thì khi có yêu cầu hủy trước đó họ không có cuộc sống hạnh phúc, không hướng tới xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ và bền vững. Vì vậy, đối với những trường hợp này Tòa án nhân dân có thẩm quyền đã áp dụng biện pháp hủy việc kết hôn trái pháp luật mà không thể áp dụng những chế tài khác nhằm đảm bảo thực thi quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình.

Bên cạnh đó, thực trạng giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật cho thấy, một số trường hợp yêu cầu bị tạm đình chỉ hay đình chỉ giải quyết. Thông thường những trường hợp này là do đương sự đã được triệu tập hợp lệ nhưng vẫn không có mặt tại thời điểm yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Điều đáng chú ý là thực tiễn giải quyết các trường hợp hủy việc kết hôn trái luật không xảy ra tình trạng tồn động án như những loại án hôn nhân và gia đình khác (ly hôn, xác định quan hệ cha mẹ con, tranh chấp cấp dưỡng…). Bởi, quan hệ hôn nhân trái pháp luật có số lượng án không nhiều, việc thu thập chứng cứ tài liệu không quá phức tạp. Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại TP Huế.

Mặc dù hủy việc kết hôn trái pháp luật là biện pháp áp dụng không thực sự phổ biến trong thực tiễn thi hành pháp luật hôn nhân và gia đình tại tỉnh Thừa Thiên Huế song nhìn chung việc áp dụng biện pháp này có sự phân bố khá rõ nét giữa các địa phương khác nhau trong toàn tỉnh. Sự phân hóa đó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như vị trí địa lý, phong tục tập quán, tâm lý và quan niệm về hôn nhân và gia đình…nhưng quan trọng và mang tính quyết định nhất vẫn là do trình độ phát triển kinh tế – xã hội ở các địa bàn có sự chênh lệch đáng kể. Các yếu tố này đã tạo nên sự tác động mạnh mẽ dẫn đến các trường hợp kết hôn trái pháp luật diễn ra trên thực tế và tương ứng với nó là việc áp dụng chế tài hủy của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Theo báo cáo thống kê của ngành Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế, số vụ việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà các Tòa án nhân dân tại các địa phương đã thụ lý như sau:

  • Bảng 2.3. Số lượng yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật tại các địa phương trên địa bàn tỉnh Thừa Thiên – Huế

Như vậy, căn cứ vào số liệu thống kê trên cho thấy, ở những vùng có điều kiện kinh tế – xã hội phát triển hơn như thành phố Huế, thị xã Hương Thủy, thị xã Hương Trà, Huyện Phú Lộc, huyện Phú Vang…các yêu cầu giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật chiếm tỉ lệ rất thấp so với các loại án về hôn nhân và gia đình khác. Cụ thể, trong 5 năm qua, Tòa án nhân dân thành phố Huế và thị xã Hương Thủy không thụ lý giải quyết bất kỳ một trường hợp yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Thị xã Hương Trà, huyện Phú Lộc, huyện Quảng Điền, huyện Phú Vang chỉ thụ lý và giải quyết duy nhất 1 trường hợp trong vòng 5 năm từ 2006 đến 2010. Trong khi đó, cũng giải quyết quan hệ này, ở những huyện miền núi rẻo cao của tỉnh, nơi tập trung phần lớn các dân tộc thiểu số; đời sống vật chất tinh thần còn hạn chế; chất lượng dân trí chưa cao; nạn tảo hôn; kết hôn bị ép buộc, cưỡng ép diễn ra phổ biến hơn thì tương ứng với nó, số vụ việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật cũng chiếm tỉ lệ cao hơn nhiều. chẳng hạn, số vụ việc hủy việc kết hôn trái pháp luật ở các huyện như Nam Đông, A Lưới chiếm tỉ lệ khá cao và diễn ra đều ở các năm. Cụ thể, năm 2007, huyện Nam Đông đã giải quyết 02/03 vụ việc chiếm tỉ lệ 66,6%, Năm 2009, huyện A Lưới có 02/04 vụ việc chiếm tỉ lệ 50% tổng số vụ việc của tòa tỉnh Thừa Thiên Huế. Bên cạnh đó, mặc dù quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài mang tính chất đặc thù riêng song về cơ bản việc giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật vẫn tuân thủ theo những quy định tại Điều 15 đến Điều 17 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 cũng như các văn bản quy phạm pháp luật hướng dẫn thi hành vấn đề này. Vì vậy, liên quan đến quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài, cơ quan có thẩm quyền giải quyết là Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế cũng đã thụ lý một số trường hợp có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, chiếm tỉ lệ đáng kể trong tổng số các vụ việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà Tòa án nhân dân các cấp tại tỉnh Thừa Thiên Huế đã thụ lý giải quyết. Ví dụ, năm 2006, Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã giải quyết 02/07 vụ việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, chiếm tỉ lệ 28,5%, năm 2008 giải quyết 01/03 vụ với tỉ lệ 33,3%. Điều này xuất phát từ nguyên nhân chủ yếu là do yếu tố kinh tế và những vướng mắc về thủ tục bảo lãnh ra nước ngoài chi phối, nên nhiều trường hợp đã lợi dụng quy định của pháp luật, kết hôn vi phạm những điều cấm của pháp luật như kết hôn giữa những người có cùng trực hệ, có họ trong phạm vi ba đời; kết hôn do bị cưỡng ép, bị lừa dối hay bị ép buộc, kết hôn khi một trong hai bên hoặc cả hai bên đều chưa đủ tuổi… theo quy định của pháp luật để bảo lãnh người thân ra nước ngoài đoàn tụ. Chính vì vậy, khi mục đích bảo lãnh ra nước ngoài đoàn tụ không đạt được do những vướng mắc về mặt thủ tục nên bản thân các đương sự hoặc những chủ thể có quyền khác mới yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại TP Huế.

Quá trình thụ lý và giải quyết các trường hợp yêu cầu hủy việc kết hôn cho thấy, các vụ việc kết hôn trái pháp luật bị hủy tập trung chủ yếu ở một số vi phạm về tính tự nguyện (các bên bị lừa dối, cưỡng ép, ép buộc khi kết hôn); kết hôn vi phạm độ tuổi, kết hôn vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng… Hầu hết các trường hợp nói trên chiếm tỉ lệ lớn, các nguyên nhân dẫn đến hôn nhân bị hủy như kết hôn do người mất năng lực hành vi dân sự xác lập; kết hôn giữa những người đồng tính; kết hôn giữa bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; giữa bố mẹ nuôi với con nuôi hoặc những người đã từng là bố mẹ nuôi với con nuôi chiếm tỉ lệ rất thấp và hầu như không xảy ra trên thực tế. Điều này đã phần nào phản ánh thực trạng quan hệ hôn nhân trong giai đoạn hiện nay ở nước ta Theo thống kê, số vụ việc vi phạm điều kiện kết hôn mà các mà cơ quan có thẩm quyền tại Thừa Thiên Huế đã thụ lý như sau:

  • Bảng 2.4. Nguyên nhân hủy việc kết hôn trái pháp luật

Như vậy, theo thống kê nói trên, các trường hợp hủy việc kết hôn trái pháp luật tại Thừa Thiên Huế chiếm tỉ lệ nhiều nhất là do vi phạm điều kiện về độ tuổi luôn chiếm từ khoảng 1/3 vụ việc (năm 2006 chiếm tỉ lệ 28,5%; năm 2007 và 2010 chiếm tỉ lệ tương ứng là 33,3% và 50%); Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau, trong đó có sự chi phối bởi các yếu tố về điều kiện kinh tế kém phát triển, trình độ dân trí thấp, phong tục tập quán và quan điểm hôn nhân của đồng bào dân tộc thiểu số…đặc biệt, sự giao thoa văn hóa và thay đổi các nhìn nhận về quan hệ hôn nhân của một bộ phận không nhỏ giới trẻ hiện nay cũng đã và đang là nguyên nhân dân đến tình trạng kết hôn sớm ở Thừa Thiên Huế nói riêng và cả nước nói chung. Các nguyên nhân vi phạm như kết hôn không có tính tự nguyện của các bên, kết hôn vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng chiếm tỉ lệ ít hơn nhưng xuất hiện rải rác ở các năm (năm 2006 có tới 2 vụ việc kết hôn do vi phạm tính tự nguyện và 1 vụ vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng). Vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng cũng đang là vấn đề mang tính bức thiết của xã hội, vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc xây dựng quan hệ hôn nhân và gia đình ổn định, bền vững, hạnh phúc và tiến bộ. Vì vậy đối với các trường hợp kết hôn vi phạm điều kiện kết hôn này thì việc xử lý hủy việc kết hôn trái pháp luật là rất cần thiết và có ý nghĩa xã hội thiết thực.Do ảnh hưởng của tư tưởng Nho giáo ở phương Đông, nên các trường hợp kết hôn giữa những người đồng tính trên thực tế hiện nay chiếm tỉ lệ không nhiều, các trường hợp kết hôn giữa bố mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng cũng khá hi hữu. Chính vì vậy, trên thực tế hầu như không có các trường hợp nói trên xảy ra để áp dụng chế tài hủy việc kết hôn trái luật.

2.3. Nguyên nhân dẫn đến kết hôn trái pháp luật tại Thừa Thiên Huế

Như vậy, mặc dù số lượng các vụ việc yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật trong những năm qua tại tỉnh Thừa Thiên Huế tuy không nhiều nhưng hậu quả pháp lý của việc giải quyết các quan hệ này đã và đang đặt ra nhiều vấn đề gây ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống xã hội. Trong khi đó, việc hạn chế các trường hợp kết hôn trái pháp luật trên thực tế vẫn chưa thực sự có hiệu quả. Điều này xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau song chủ yêu tập trung ở những nguyên nhân chính sau đây:

2.3.1. Do điều kiện kinh tế chi phối Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại TP Huế.

Nền kinh tế Thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa phát triển đã có những tác động tích cực đến đời sống xã hội nói chung, làm thay đổi diện mạo của một nước Việt Nam bước ra từ hoàn cảnh chiến tranh, góp phần nâng cao chất lượng cuộc sống, cải thiện và nâng tầm vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Song song với những thay đổi đáng khích lệ đó, nền kinh tế thị thường trong bối cảnh hội nhập cũng đem lại những mặt trái tác động mạnh mẽ đến quan hệ hôn nhân và gia đình, đặc biệt là vấn đề kết hôn có yếu tố nước ngoài. Sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế thị trường cùng với sự bùng nổ công nghệ, giao thoa văn hóa có tình chất toàn cầu đã góp phần làm thay đổi quan điểm, nếp sống và quy nghĩ về quan hệ hôn nhân của một bộ phận lớn giới trẻ hiện nay. Sự tác động tiêu cực của việc thay đổi quan điểm đó đã dẫn đến thực trạng khá nhiều trường hợp các bạn trẻ phải làm cha làm mẹ ở độ tuổi còn qua sớm. Nhiều người đã phải kết hôn khi chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình. Đương nhiên, những trường hợp nói trên đều phải áp dụng biện pháp chế tài hủy kết hôn trái pháp luật theo quy định nhằm đảm bảo nguyên tắc tiến bộ của chế độ hôn nhân xã hội chủ nghĩa. Bên cạnh đó, thực tiễn thi hành và áp dụng pháp luật những năm qua cho thấy, để hợp thức hóa thủ tục bảo lãnh ra nước ngoài, giải quyết những khó khăn về mặt kinh tế, không ít các trường hợp đã lợi dụng những quy định về kết hôn có yêu tố nước ngoài để tiến hành “kết hôn giả”- kết hôn giữa những người có quan hệ thân thuộc; kết hôn khi mà thực sự các bên không có tình yêu, không hướng tới xây dựng hạnh phúc gia đình ổn định và bền vững; kết hôn do bị cưỡng ép, lừa dối hay ép buộc…Đối với những trường hợp này, ý chí chủ quan của các bên kết hôn bị chi phối bởi yếu tố kinh tế là chủ yếu. Khi việc đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã được tiến hành nhưng không thực hiện được việc bảo lãnh ra nước ngoài do những vướng mắc về mặt thủ tục nên để đảm bảo quyền lợi của bên kết hôn, lúc này đương sự mới có yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật.Quyết định số 35/2009/HNDG – ST ngày 26/6/2006 mà Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế đã giải quyết sau là một trường hợp điển hình:

Bà Phạm Thị Huê (sinh năm 1978) trú tại thành phố Huế quen ông nguyễn Mike (sinh năm 1968) mang quốc tịch Hoa kỳ thông qua sự giới thiệu của người thân lao động tại Hoa Kỳ. Theo bà Huê, do hoàn cảnh kinh tế khó khăn, bố mẹ mong muốn được xuất khẩu lao động sang Hoa Kỳ nhưng không đủ kinh phí. Vì vậy qua mối quan hệ quen biết với một người bạn ở Hoa kỳ, bố mẹ bà Huê đã nhờ mai mối với người mang quốc tịch Hoa kỳ để họ có thể bảo lãnh bà qua đoàn tụ. Thông qua sự giới thiệu, bà Huê với ông Nguyễn Mike đã tiến hành đăng ký kết hôn vào ngày 08/7/2003 theo ý nguyện của cha mẹ Tuy nhiên, do không có điều kiện kinh tế nên ông không thể bảo lãnh bà qua đoàn tụ được. Vì vậy, hai ông bà sống cách biệt một thời gian dài. Nay không có tin tức gì của ông Mike, bà Huê đã yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Thừa Thiên Huế giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa bà và ông Nguyễn Mike để xây dựng cuộc sống mới. Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại TP Huế.

2.3.2. Do ảnh hưởng của phong tục tập quán

Phong tục tập quán là một trong những yếu tố tác động và chi phối đến quan hệ pháp luật mạnh mẽ nhất, đặc biệt là quan hệ pháp luật hôn nhân và gia đình Trong đời sống sinh hoạt của đồng bào ta nói chung và đồng bào dân tộc thiểu số nói riêng, phong tục tập quán về hôn nhân và gia đình đã trở nên ăn sâu, bám rễ vào tiềm thức của mỗi người dân trong cộng đồng làng xã. Phong tục về hôn nhân và gia đình là thói quen đã thành nếp, hình thành trong những điều kiện kinh tế, xã hội nhất định, thể hiện đậm nét nếp sống, quan niệm của từng địa phương, dân tộc trong việc kết hôn, quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng, giữa cha, mẹ và con, quan hệ nuôi con nuôi, quan hệ khác về hôn nhân và gia đình, được các chủ thể sinh sống trong địa phương, dân tộc đó thừa nhận và tuân theo một cách tự giác[6, 18]. Con người bên cạnh việc chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật thì còn bị ảnh hưởng bởi các quy phạm đạo đức và phong tục tập quán khá rõ nét. Đặc biệt là ở những vùng có tính cộng đồng làng xã tương đối bền vững như những địa bàn dân tộc thiểu số, miền núi rẻo cao, đời sống kinh tế xã hội còn nhiều khó khăn, quan điểm về hôn nhân và gia đình khá lạc hậu và chủ yếu tuân theo những quy định của phong tục tập quán đã hình thành và ăn sâu vào tiềm thức của mỗi người dân trước đó. Trong đó, tập tục “ bắt vợ”, kết hôn khi chưa đủ tuổi quy định (tảo hôn) diễn ra khá phổ biến ở những cộng đồng dân cư của đồng bào dân tộc ít người. Ở Thừa Thiên Huế, nạn tảo hôn diễn ra phổ biến nhất là tại hai huyện Nam Đông và A Lưới. Quan niệm hôn nhân “tự nhiên” đã ăn sâu vào nếp nghĩ, trở thành một lề thói xấu chưa thể ngăn chặn được khiến cuộc sống của người dân nơi đây. Trình độ dân trí thấp, sự ảnh hưởng của tập quán kết hôn sớm vẫn còn nặng nề chính là nguyên nhân dẫn đến tập tục tảo hôn vẫn chưa được xóa bỏ. Bên cạnh đó, tình trạng kết hôn sớm còn do quan hệ tình dục và có thai trước hôn nhân đang có chiều hướng gia tăng; do tâm lý “nữ thập tam, nam thập lục” mà chưa dựng vợ gả chồng thì sau này sẽ khó để kiếm vợ chồng cho con…. Ngoài ra cũng còn tồn tại một số quan niệm như kết hôn sớm để có thêm nguồn nhân lực cho gia đình, để sinh đông con cháu cho gia đình, dòng họ, được chia tài sản, đất đai, nhà cửa. Quyết định số 08/2009/HNGĐ – ST ngày 12/5/2009 mà Tòa án nhân dân huyện A Lưới thụ lý giải quyết là một minh chứng rõ nét:

Hồ Thị Hoa (sinh năm 1994) trú tại Thôn 4, xã Hồng Thủy, huyện A Lưới được gia đình tổ chức cưới hỏi và tiến hành đăng ký kết hôn với Hồ Văn Kim (1992) trú tại thôn 6, xã A Ngo, huyện A Lưới vào tháng 2/2009. Vào thời điểm kết hôn cả Hoa và Kim đều chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định tại Điều 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000. Hai bên gia đình đã được các tổ chức đoàn thể nhắc nhở và vận động nhiều lần, áp dụng nhiều biện pháp chế tài khác nhau như phạt vi phạm hành chính, cắt các nguồn trợ cấp xã hội…Vì vậy, tháng 4/2009 bố của Hồ Văn Kim là ông Hồ Văn Hơn đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện A Lưới giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật. Vào thời điểm yêu cầu, Hồ Thị Hoa mới 15 tuổi, Hồ Văn Kim mới 17 tuổi nên theo quy định của pháp luật, Tòa án nhân dân huyện A Lưới đã tuyên bố hủy việc kết hôn trái pháp luật.

2.3.3. Do ảnh hưởng của chế độ phong kiến Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại TP Huế.

Huế là một thành phố có bề dày lịch sử với các vương triều tồn tại hàng trăm năm. Dưới sự tác động của chế độ phong kiến với các quan niệm của Nho giáo, Phật giáo, con người Huế vẫn còn mang nặng tư tưởng của một quốc gia phương Đông. Trong đó, tư tưởng “trọng nam khinh nữ”, mong muốn có con trai để nối dõi tông đường còn ăn sâu trong tiềm thức của người dân Huế. Trên thực tế, rất nhiều cặp vợ chồng sinh con một bề, không có con trai nên người chồng thường “lập tự” bằng cách chung sống như vợ chồng với người khác. Để đảm bảo quyền lợi cho con như đăng ký khai sinh,…các bên đã tiến hành các thủ tục kết hôn nhưng không thực hiện các thủ tục thủ tiêu quan hệ hôn nhân trước đó. Bên cạnh đó, quan niệm “đàn ông năm thê bảy thiếp” là chuyện bình thường hiện vẫn còn tồn tại ở một bộ phận nhân dân, nên rất nhiều trường hợp chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn hoặc đã tồn tại hôn nhân hợp pháp với người khác nhưng vẫn tiến hành đăng ký kết hôn vẫn còn xảy ra trên thực tế. Điều này đã vi phạm chế độ hôn nhân một vợ, một chồng được quy định rõ trong Hiến pháp và Luật hôn nhân và gia đình, nên về mặt nguyên tắc các trường hợp trên đều phải xử hủy việc kết hôn trái pháp luật theo quy định.

Nội dung của bản án số 05/2007/HNGĐ – ST mà Tòa án nhân dân huyện Phú Vang thụ lý giải quyết là một ví dụ, vụ việc có nội dung như sau:

Chị Trần Thị Ngọc Anh thường trú tại thôn 3, Ngọc Anh, Phú Thượng, Phú Vang, Thừa Thiên Huế và anh Lê Trọng Phúc thường trú tại phường Phú Nhuận, thành phố Huế, tỉnh Thừa Thiên Huế quen biết nhau từ năm 1985 qua mối quan hệ làm ăn. Tuy nhiên, do chị Ngọc Anh không có nghề nghiệp ổn định nên gia đình anh Phúc không đồng ý mối quan hệ này. Vì vậy, anh Phúc và chị Ngọc Anh chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình thì quan hệ của anh chị được xác lập trước 3.1.1987 nên vẫn là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Anh chị có 2 con chung là cháu Lê Trần Ngọc Trâm và Lê Trần Ngọc Nhi. Năm 2000, do không có con trai nên bạn bè khích bác, gia đình phản đối (anh Phúc là con trai duy nhất của gia đình), anh Phúc bỏ vào Sài Gòn làm ăn, không liên lạc gì với mẹ con chị Ngọc Anh nữa. Năm 2003, được sự gán ghép của gia đình, anh Phúc đăng ký kết hôn với chị Đoàn Hà Lê thường trú tại Thị xã Bảo Lộc, Lâm Đồng. Năm 2005, qua người thân, chị Trần Thị Ngọc Anh biết tin tức anh Phúc đã kết hôn với người khác và có con chung là cháu Lê Thị Cẩm Tú (sinh năm 2004). Vì vậy, chị Ngọc Anh đã yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Phú Vang hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh Lê Trọng Phúc và chị Đoàn Hà Lê theo quy định của pháp luật hôn nhân và gia đình.

2.3.4. Do hiểu biết về pháp luật về Hôn nhân và gia đình còn hạn chế Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại TP Huế.

Một trong những nguyên nhân rất cơ bản dẫn đến các trường hợp yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật tại Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền là do trình độ nhận thức pháp luật Hôn nhân và gia đình của nhân dân còn thấp. Khá nhiều trường hợp các bên nam nữ trước đây đã từng chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Tuy nhiên, những trường hợp này vẫn được pháp luật thừa nhận nếu những cặp nam nữ này chung sống với nhau như vợ chồng trước ngày 3.1.1987. Tuy nhiên, do hiểu biết hạn chế nên nhiều trường hợp vẫn cho rằng quan hệ hôn nhân của họ không hợp pháp. Nếu không muốn chung sống với nhau nữa cũng không cần thiết làm thủ tục ly hôn mà vẫn có thể kết hôn với người khác. Chính vì vậy trong những trường hợp này, đương sự đã tồn tại hai quan hệ hôn nhân trong đó quan hệ hôn nhân sau không được pháp luật thừa nhận. Do đó, khi có mâu thuẫn phát sinh, đương sự có yêu cầu giải quyết việc ly hôn thì Tòa án nhân dân cấp có thẩm quyền đã giải quyết tuyên bố hủy việc kết hôn trái pháp luật.

Như vậy, kết hôn trái pháp luật và việc áp dụng chế tài hủy trên thực tế tại Thừa Thiên Huế đã đạt được những hiệu quả nhất định, góp phần vào việc xây dựng và củng cố chế độ hôn nhân và gia đình nói chung. Tuy nhiên, thực tế giải quyết các yêu cầu trên những năm qua cho thấy, bên cạnh đó, quá trình thụ lý quan hệ pháp luật này vẫn còn tồn tại nhiều vướng mắc bất cập. Chẳng hạn như do ảnh hưởng của phong tục tập quán, của ý thức pháp luật hôn nhân và gia đình của một bộ phận nhân dân còn thấp nên tình trạng kết hôn trái pháp luật vẫn còn duy trì và tiếp diễn trên thực tế. Trong khi đó, sự vào cuộc của các cơ quan có thẩm quyền lại chưa thực sự có hiệu quả; hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh về quan hệ hôn nhân có yếu tố nước ngoài trong đó có vấn đề về kết hôn trái pháp luật vẫn chưa đáp ứng yêu cầu thực tế nên vẫn còn tồn tại nhiều trường hợp lợi dụng các quy định này để trục lợi, kết hôn không có tính tự nguyện, kết hôn vi phạm điều cấm…Chính vì vậy, để giải quyết tốt các yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật mà hơn hết là hạn chế và ngăn chặn các trường hợp này, thiết nghĩ cần phải có sự quan tâm của các cấp, các ngành, đặc biệt là của các cơ quan chuyên môn trong việc bảo vệ tốt hơn chế độ Hôn nhân và gia đình trong điều kiện hội nhập và phát triển như hiện nay. Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại TP Huế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp xét xử hủy việc kết hôn trái pháp luật

One thought on “Luận văn: Thực trạng hôn nhân trái pháp luật tại TP Huế

  1. Pingback: Luận văn: Hủy việc kết hôn trái pháp luật qua thực tiễn xét xử

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464