Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo tại tỉnh Nam Định dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Khái quát về tỉnh Nam Định và bối cảnh, tình hình chung của tỉnh Nam Định trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo
2.1.1. Khái quát về tỉnh Nam Định
Nam Định là tỉnh phía Nam đồng bằng sông Hồng, có diện tích 1.652,82km2, dân số 1.836.900 người, mật độ dân cư là 1.111 người/km2. Dân số Nam Định có sự biến động không nhiều, năm 2005 là 1.851.042 người, năm 2009 là 1.828.380 người, năm 2010 là 1.830.023 người, năm 2011 là 1.833.500 người. Số người trong độ tuổi lao động khoảng 1,1 triệu người, tỷ lệ nữ chiếm khoảng 52,3%. Tỷ lệ nam/nữ là 95,8/100. Tỷ suất sinh thô là 15,79, tỷ suất chết thô là 5,71, tỷ lệ tăng tự nhiên là 10,08 (số liệu năm 2012, đơn vị là 1/1000).
Giá trị sản xuất trong tỉnh là: Năm 2005 đạt 21.338.131 triệu đồng, năm 2009 đạt 52.949.709 triệu đồng, năm 2010 đạt 62.101.385 triệu đồng, năm 2011 đạt 78.402.020 triệu đồng, năm 2012 đạt 92.204.204 triệu đồng. Tình hình dân cư chia theo thành thị nông thôn:
- Năm 2010: tổng dân số của tỉnh là: 1830,0 ngàn người, trong đó nông thôn là 1503,8 ngàn người, thành thị là 326,2 ngàn người [5].
- Năm 2011: tổng dân số của tỉnh là: 1833,5 ngàn người, trong đó nông thôn là 1504 ngàn người, thành thị là 329,5 ngàn người [6].
- Năm 2012: tổng dân số của tỉnh là: 1836,9 ngàn người, trong đó nông thôn là 1505,2 ngàn người, thành thị là 331,7 ngàn người [7].
- Năm 2013: tổng dân số của tỉnh là: 1839,7 ngàn người, trong đó nông thôn là 1501,2 ngàn người, thành thị là 338,5 ngàn người [8].
Cơ cấu kinh tế:
- Năm 2010: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: 28,28%, Công nghiệp và xây dựng: 34,8%, dịch vụ: 36,47%, thuế: 0,45% [5].
- Năm 2011: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: 29,31%, Công nghiệp và xây dựng: 33,45%, dịch vụ: 36,81%, thuế: 0,43% [6].
- Năm 2012: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: 25,67%, Công nghiệp và xây dựng: 34,52%, dịch vụ: 39,39%, thuế: 0,42% [7].
- Năm 2013: Nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản: 26,65%, Công nghiệp và xây dựng: 35,8%, dịch vụ: 37,14%, thuế: 0,41% [8].
Cơ cấu lao động:
- Năm 2010: lao động làm ở lĩnh vực Nông, lâm nghiệp thủy sản; 73,9%, Công nghiệp – xây dựng: 17,3%; Dịch vụ: 8,8%; [5].
- Năm 2011: lao động làm ở lĩnh vực Nông, lâm nghiệp thủy sản; 72,7%, Công nghiệp – xây dựng: 17,8%; Dịch vụ: 9,5%; [6].
- Năm 2012: lao động làm ở lĩnh vực Nông, lâm nghiệp thủy sản; 71,3%, Công nghiệp – xây dựng: 18,2%; Dịch vụ: 10,5%;
- Năm 2013: lao động làm ở lĩnh vực Nông, lâm nghiệp thủy sản; 69,8%, Công nghiệp – xây dựng: 18,5%; Dịch vụ: 11,7%;
2.1.2. Bối cảnh, tình hình chung về hoạt động giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh Nam Định Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
- Hệ thống giáo dục và đào tạo tỉnh Nam Định
Hệ thống giáo dục và đào tạo của tỉnh Nam Định tuân theo quy định của Luật Giáo dục năm 2005, bao gồm: Giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, giáo dục đại học.
Số học sinh trong tỉnh cụ thể như sau: [18].
- Bảng 1.1: Quy mô học sinh
Số học sinh phổ thông bình quân/01 giáo viên và trên 01 lớp học là: [18]
- Bảng 1.2: Quy mô học sinh/giáo viên
Số trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học như sau: [18]
- Bảng 1.3: Quy mô lớp học của các trường
Tỉnh Nam Định là tỉnh có truyền thống hiếu học, học giỏi, nên hệ thống giáo dục quốc dân của Tỉnh được các cấp, các ngành quan tâm, phát triển đồng bộ, thực hiện nhiều giải pháp áp dụng pháp luật đạt hiệu quả.
Tỉnh có 9 huyện, và 01 thành phố, có 229 xã, phường, thị trấn, trong đó có 264 trường mầm non, 291 trường tiểu học, 246 trường THCS, 56 trường THPT, 37 trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, có 4 trường đại học, 7 trường cao đẳng.
Hệ thống giáo dục mầm non được UBND tỉnh chuyển đổi sang trường công lập từ trường bán công từ năm 2011 theo Quyết định 60/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, được phân bó hợp lý, đảm bảo mỗi xã, thị trấn đều có ít nhất một trường mầm non. Duy nhất có 01 trường tư thục mầm non Hoa Sữa trên địa bàn thành phố. Tất cả các trường mầm non công lập đều do Phòng giáo dục và đào tạo các huyện, thành phố quản lý.
Hệ thống trường tiểu học và Trung học cơ sở được phân bố đều, đảm bảo ở mỗi xã, phường, thị trấn đều có ít nhất một trường tiểu học và trung học cơ sở. thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 và phổ cập trung học cơ sở đúng độ tuổi. Tất các các trường tiểu học và trung học cơ sở đều là trường công lập, do Phòng giáo dục và đào tạo các huyện, thành phố quản lý.
Hệ thống trường trung học phổ thông và giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông. Trường THPT có 56 trường, trong đó có 44 trường công lập, 12 trường tư thục. Có 16 trung tâm giáo dục thường xuyên cấp THPT thực hiện hai nhiệm vụ là xoá mù chữ và giáo dục phổ thông. Tất cả các trường THPT công lập và Trung tâm giáo dục thường xuyên đều do Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Hiện tại toàn tỉnh có 9 trung tâm dạy nghề công lập do UBND các huyện, thành phố và các hội đoàn thẻ cấp tỉnh quản lý, 03 trung tâm dạy nghề tư thục (TT dạy nghề Hồng Hà – Công ty cổ phần xây dựng Giao Thuỷ, TT dạy nghề Minh Vuông – do một cá nhân làm chủ, TT dạy nghề Đông Yên – do dòng thiên chúa giáo làm chủ) do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý nhà nước.
07 trường trung cấp nghề do Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Giao thông vận tải, Liên đoàn lao động tỉnh quản lý, 01 trường trung cấp nghề tư thục. Có 02 trường cao đẳng nghề, gồm trường cao đẳng nghề Nam Định trực thuộc UBND tỉnh quản lý, trường cao đẳng nghề dệt may VINATEX do Tập đoàn Dệt may quản lý.
09 trường trung cấp chuyên nghiệp, trong đó có 01 trường tư thục, các trường công lập chủ yếu do Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý (còn trường TC Văn hoá nghệ thuật do Sở Văn hoá, Thể thao và Do lịch quản lý, trường TC Nông nghiệp do Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý).
03 trường cao đẳng chuyên nghiệp, bao gồm trường cao đẳng công nghiệp I thuộc Bộ Công thương quản lý, trường cao đẳng Xây dựng do Bộ Xây dựng quản lý, trường cao đẳng sư phạm do UBND tỉnh quản lý,
05 trường đại học, bao gồm ĐH sư phạm kỹ thuật Nam Định do Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quản lý, trường ĐH kinh tế kỹ thuật Nam Định do Bộ Công thương quản lý, trường ĐH Điều dưỡng do Bộ Y tế quản lý, Trường ĐH Lương Thế Vinh (tư thục) do UBND tỉnh quản lý.
Tỉnh Nam Định có chủ trương thành lập trường ĐH Nam Định (công lập) do UBND tỉnh trực tiếp quản lý trên cơ sở nâng cấp, sáp nhập trường cao đẳng sư phạm Nam Định và trường trung cấp Nông nghiệp
Các trường đại học, cao đẳng tập trung chủ yếu trên địa bàn thành phố Nam Định (trường CĐ công nghiệp I nằm trên đất của huyện Vụ Bản). Các trường đại học, cao đẳng cơ bản đủ về số lượng giảng viên, tuy nhiên chất lượng còn thấp (chưa có giảng viên cơ hữu có học hàm Giáo sư), tỷ lệ giảng viên có trình độ tiến sỹ, học hàm phó giáo sư còn thấp, hiện tại mới đạt 42% giảng viên có trình độ Thạc sỹ trở lên.
- Những đặc trưng cơ bản của hoạt động giáo dục và đào tạo trên địa bàn tỉnh Nam Định
Giáo dục đào tạo tỉnh Nam Định nhận được sự đồng thuận tích cực của toàn bộ cấp uỷ, chính quyền và nhân dân trong tỉnh, cả hệ thống chính trị vào cuộc, ở Nam Định thực sự giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
Hoạt động giáo dục đào tạo tỉnh Nam Định được ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đồ dùng đồ chơi, nhất là 100% các trường có diện tích theo quy định của pháp luật; đội ngũ giáo viên dược quan tâm cả về chất và số lượng, tỷ lệ giáo viên trên chuẩn đạt cao Nam Định có truyền thống hiếu học, học giỏi, nhiều trường trung học phổ thông được xếp vào tốp 100 trường THPT trong toàn quốc có số lượng và điểm thi cao vào các trường đại học. Trường THPT chuyên Lê Hồng Phong thực sự là nơi đào tạo nhân tài của cả nước. năm học 2011 – 2012 có 72/78 em học sinh đạt giải quốc gia, trong đó có 03 em đạt giải quốc tế. Năm học 2012 – 2013 có 82/88 em học sinh giỏi đạt giải quốc gia, trong đó có 05 em đạt huy chương trong kỳ thi quốc tế. Năm học 2013 – 2014 có 78/88 em học sinh giỏi đạt giải quốc gia, trong đó có 02 em đạt huy chương trong kỳ thi quốc tế.
Nam Định là tỉnh đồng bằng sông Hồng, nên địa hình khá thuận lợi trong việc giáo dục và đào tạo. Toàn ngành đã triển khai tất cả các phong trào của Bộ Giáo dục và đào tạo phát động như: Xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực, cuộc vận động mỗi thầy cô giáo là một tấm gương đạo đức tự học, sáng tạo. Cuộc vận động nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục… đặc biệt xây dựng trường Xanh – Sạch – Đẹp đi đầu trong toàn quốc.
2.2. Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo ở Việt Nam và trên địa bàn tỉnh Nam Định Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
2.2.1. Hệ thống văn bản pháp luật liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo do các cơ quan trung ương ban hành
- Các văn bản Luật
Luật giáo dục: Luật Giáo dục được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 2 tháng 12 năm 1998 là cơ sở pháp lý quan trọng của hệ thống giáo dục quốc dân. Qua 7 năm thực hiện, Luật Giáo dục 1998 đã góp phần phát triển sự nghiệp giáo dục, hệ thống giáo dục được đổi mới và từng bước kiện toàn; trình độ dân trí và chất lượng nguồn nhân lực được nâng cao. Tuy nhiên, trước sự phát triển mạnh mẽ của hoạt động giáo dục và nhu cầu học tập ngày càng cao của nhân dân đã xuất hiện một số bức xúc do thực tiễn đặt ra, cần được quy định cụ thể hơn hoặc sửa đổi một cách cơ bản, tạo cơ sở pháp lý để phát triển mạnh mẽ sự nghiệp giáo dục, đáp ứng ngày càng cao sự nghiệp đổi mới đất nước trong bối cảnh toàn cầu hóa.
Sửa đổi Luật giáo dục năm 1998 để xác định rõ hơn hành lang pháp lý cho tổ chức và hoạt động giáo dục và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ quan nhà nước trong quản lý giáo dục, giữa các tổ chức, cá nhân tham gia hoạt động giáo dục. Trong những năm qua, quan điểm “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu” chưa được nhận thức đầy đủ trong xã hội, chưa thực sự chi phối sự chỉ đạo tổ chức thực tiễn của nhiều cán bộ quản lý và cấp quản lý, kể cả về đầu tư cho giáo dục và tạo cơ chế cho tổ chức hoạt động giáo dục. Trong áp dụng pháp luật về giáo dục chưa tạo ra được sự phối hợp đồng bộ giữa các ngành, các cấp, các lực lượng xã hội để phát triển sự nghiệp giáo dục. Sự phối, kết hợp giữa giáo dục nhà trường, gia đình và xã hội chưa được triển khai thực hiện đúng mức. Nhu cầu về tạo cơ chế phối hợp đồng bộ trong hoạt động giáo dục và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục đặt ra những yêu cầu bức xúc sửa đổi Luật Giáo dục năm 1998.
Sau khi Luật Giáo dục năm 1998 được ban hành, hoạt động giáo dục đã có những bước tiến bộ và phát triển, nhưng cũng đang đứng trước nhiều khó khăn, bất cập cả về chất lượng giáo dục, tổ chức, hoạt động giáo dục và quản lý nhà nước về giáo dục. Việc ban hành Luật Giáo dục là bức xúc và cần thiết, tạo cơ sở pháp lý khắc phục những khó khăn, yếu kém và đáp ứng những nhu cầu mới phát sinh trong lĩnh vực giáo dục. Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Luật Giáo dục 2005 nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển những thập niên đầu của thế kỷ XXI.
Luật Giáo dục 2005 được xây dựng trên cơ sở kế thừa và phát triển những quy định của Luật Giáo dục năm 1998 đã phát huy tác dụng tích cực, tạo hành lang pháp lý trong tổ chức và hoạt động giá dục đào tạo. Do đó, Luật Giáo dục năm 2005 đã thừa kế và phát triển nhiều nội dung của Luật Giáo dục năm 1998. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Cụ thể, Luật Giáo dục 2005 gồm 9 chương, 120 điều. So với Luật Giáo dục năm 1998 thì Luật Giáo dục 2005 bỏ bớt 03 điều, bổ sung 13 điều mới, sửa đổi 83 điều (trong đó có 68 điều được chỉnh lý về nội dung và 15 điều chỉnh lý về kỹ thuật).
Việc thêm 13 điều mới là nhằm quy định các nội dung về chương trình, trách nhiệm của cán bộ quản lý, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục, các hành vi bị cấm đối với nhà giáo và người học, chính sách đối với trẻ em tại các cơ sở giáo dục mầm non, chính sách đối với trường dân lập và các tổ chức cần có mà trong luật giáo dục năm 1998 chưa quy định.
Ngày 02/8/2006, Chính phủ ban hành Nghị định số 75/2006/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục, thực hiện Nghị quyết số 48-NQ/TW và Luật Giáo dục, từ năm 2007, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã triển khai kế hoạch soạn thảo, ban hành văn bản quy phạm pháp luật và tổ chức thực hiện tương đối hiệu quả công tác xây dựng pháp luật và chỉ đạo các cấp áp dụng pháp luật một cách đồng bộ, quyết liệt.
Ngày 15/10/2010, Chính phủ ban hành Nghị định 115/2010/NĐ-CP quy định quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo.
Luật Giáo dục năm 2005, Luật sửa đổi một số điều Luật Giáo dục năm 2009 Ngày 19 tháng 6 năm 2009, Quốc hội khóa XII kỳ họp thứ 5 thông qua nghị quyết số 35/2009/NQ-QH12 về chủ trương, định hướng đổi mới một số cơ chế tài chính trong giáo dục và đào tạo từ năm học 2010 – 2011 đến năm học 2014-2015, một số nội dung của Nghị quyết cần được thể chế trong dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục nhằm đảm bảo tính thống nhất của hệ thống pháp luật.
- Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của luật giáo dục được thực hiện theo các quan điểm chỉ đạo và nguyên tắc sau:
Đường lối, quan điểm của Đảng và các chủ trương chính sách về giáo dục phải được quán triệt trong quá trình sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục.
Việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục phải xuất phát từ những đòi hỏi khách quan, lựa chọn những nội dung thực sự cần thiết, tạo cơ sở pháp lý để giải quyết các vấn đề thực sự bức xúc trong thực tiễn, góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong tổ chức và hoạt động giáo dục và trong công tác quản lý giáo dục, góp phần đổi mới giáo dục và thực hiện “phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu”.
Các quy định của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật giáo dục phải phù hợp, thống nhất, đồng bộ với quy định của hiến pháp, các bộ luật về luật hiện hành; phù hợp với các cam kết và điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc là thành viên.
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục đã bổ sung 5 điều mới, sửa đổi, bổ sung liên quan đến 24 điều (trên tổng số 120 điều) của Luật giáo dục. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Những nội dung sửa đổi, bổ sung của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Giáo dục có tác động sâu sắc tới việc nâng cao chất lượng tổ chức và hoạt động giáo dục góp phần đổi mới giáo dục và tạo hành lang pháp lý căn bản của việc đẩy mạnh đổi mới quản lý để nâng cao chất lượng giáo dục, cụ thể:
Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về giáo dục qua việc phân công, phân cấp quản lý nhà nước về giáo dục hợp lý hơn trong chính phủ; giữa các bộ, ngành và các địa phương, qua việc tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động đầu tư thành lập cơ sở giáo dục theo hướng xã hội hóa, huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội cho phát triển giáo dục và đào tạo, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức cá nhân, các thành phần kinh tế tích cực tham gia các hoạt động phát triển giáo dục. Đồng thời khắc phục tình trạng cơ sở giáo dục hoạt động giáo dục mà không đủ điều kiện về đội ngũ nhà giáo, về cơ sở vật chất, trang thiết bị và tuyển sinh.
Luật Giáo dục đại học: Sau 25 năm đổi mới của đất nước và 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển giáo dục 2001 – 2010, giáo dục đại học nước ta đã từng bước phát triển về quy mô, đa dạng về loại hình trường và hình thức đào tạo; cung cấp nguồn lao động chủ yếu có trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ và tiến sĩ phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội, quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế.
Tuy nhiên, giáo dục đại học cũng còn hạn chế: Phương pháp quản lý nhà nước đối với cơ sở giáo dục đại học chậm được thay đổi, chưa bảo đảm yêu cầu nâng cao chất lượng đào tạo của toàn hệ thống, chưa phát huy mạnh mẽ được sự sáng tạo của đội ngũ nhà giáo, các nhà quản lý và người học.
Luật Giáo dục là luật khung, quy định một số vấn đề chung của giáo dục đại học. Các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành về giáo dục đại học còn phân tán, hiệu lực pháp lý không cao.
Nhiều vấn đề quan trọng của giáo dục đại học được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật do Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ trưởng các Bộ, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ ban hành, cần được điều chỉnh bằng một văn bản quy phạm pháp luật có giá trị pháp lý cao hơn, nâng các quy định còn phân tán trong các văn bản dưới luật thành quy định của Luật giáo dục đại học.
Việc ban hành Luật Giáo dục đại học nhằm: tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học và đổi mới quản lý của cơ sở giáo dục, nâng cao chất lượng giáo dục đại học, góp phần đổi mới cơ bản và toàn diện giáo dục đại học; đẩy mạnh phân cấp quản lý giáo dục đại học và thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học phù hợp với năng lực quản lý, năng lực tổ chức hoạt động giáo dục và trách nhiệm xã hội; đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục đại học, huy động các nguồn đầu tư phát triển giáo dục đại học. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Để đạt được mục đích trên đòi hỏi Luật giáo dục đại học phải đáp ứng các nguyên tắc:
- Luật Giáo dục đại học thể chế hoá đường lối và các quan điểm cơ bản của Đảng, huy động sự tham gia rộng rãi của nhân dân, của xã hội đối với việc xây dựng Luật giáo dục đại học và nâng cao chất lượng giáo dục đại học.
- Luật Giáo dục đại học phải phù hợp với Hiến pháp, bảo đảm sự đồng bộ trong hệ thống pháp luật. Luật giáo dục đại học là một chế định pháp luật điều chỉnh một nhóm quan hệ xã hội đặc thù trong lĩnh vực giáo dục, vì thế Luật giáo dục đại học đồng bộ với Luật giáo dục, góp phần hoàn thiện pháp luật về giáo dục trong hệ thống pháp luật Việt Nam.
- Luật giáo dục đại học quy định chi tiết những nội dung về giáo dục đại học mà Luật giáo dục đã quy định nhưng còn mang tính chất là luật
Những quy định trong Luật giáo dục liên quan đến giáo dục đại học còn mang tính khái quát, thì được cụ thể hóa. Những quy định trong Luật giáo dục đã cụ thể thì được dẫn chiếu trong Luật giáo dục đại học nếu thực sự cần thiết.
Một số quy định của Luật Giáo dục liên quan đến giáo dục đại học được bổ sung cho phù hợp với điều kiện thực tiễn giáo dục đại học Việt Nam và xu thế phát triển của giáo dục đại học trên thế giới.
Giáo dục đại học được đặt trong hệ thống giáo dục quốc dân, thực hiện các quy định của Luật Giáo dục và Luật Giáo dục đại học.
Luật Giáo dục đại học được xây dựng dựa trên quan điểm thực tiễn, quan điểm toàn diện và quan điểm phát triển, góp phần giải quyết những vấn đề bức xức mà thực tiễn giáo dục đại học đang đặt ra và thực hiện những mục tiêu chiến lược của giáo dục đại học và của hệ thống giáo dục quốc dân.
Trên cơ sở các yêu cầu, mục đích trên, Luật Giáo dục đại học đã được Quốc hội thông qua ngày 18/06/2012 bao gồm 12 chương, 73 điều.
Với mục tiêu thể chế hóa các chủ trương chính sách mới của Đảng về giáo dục, tạo hành lang pháp lý vững chắc cho hoạt động giáo dục đại học để nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chuẩn bị nhân lực cho phát triển nền kinh tế tri thức.
Luật Giáo dục đại học đã quy định nhiều nội dung mới, trong đó có quy định về:
- Phân tầng cơ sở giáo dục đại học Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Thực hiện Luật giáo dục đại học, hệ thống các cơ sở giáo dục đại học của nước ta sẽ được phân tầng thành các cơ sở giáo dục đại học định hướng nghiên cứu, các cơ sở giáo dục đại học định hướng ứng dụng và cơ sở giáo dục đại học định hướng thực hành. Mỗi một loại hình trường có mục tiêu đào tạo khác nhau và mức độ đầu tư cũng khác nhau. Sự phân tầng cơ sở giáo dục đại học nhằm tránh việc đầu tư dàn trải, đồng thời tạo điều kiện đào tạo đội ngũ nhân lực hài hòa theo nhu cầu của xã hội [15, tr.78].
Xã hội hóa giáo dục đại học. Xã hội hóa giáo dục là chính sách lớn của Đảng và Nhà nước. Chủ trương này đã được quy định trong Luật giáo dục và nay tiếp tục được cụ thể hóa trong Luật giáo dục đại học. Theo đó:
Thực hiện xã hội hóa giáo dục đại học; ưu tiên về đất đai, thuế, tín dụng, đào tạo cán bộ để khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học tư thục và cơ sở giáo dục đại học có vốn đầu tư nước ngoài hoạt động không vì lợi nhuận; ưu tiên cho phép thành lập cơ sở giáo dục đại học tư thục có vốn đầu tư lớn, bảo đảm các điều kiện thành lập theo quy định của pháp luật; cấm lợi dụng các hoạt động giáo dục đại học vì mục đích vụ lợi [17, Điều 12, Khoản 3].
- Quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học
Tự chủ là một thuộc tính của cơ sở giáo dục đại học. Vấn đề này được thể hiện nhất quán và xuyên suốt trong các quy định của Luật giáo dục đại học. Quyền tự chủ của cơ sở giáo dục đại học được xác định phù hợp với năng lực tự chủ và điều kiện đảm bảo thực hiện quyền tự chủ.
Quyền tự chủ được thực hiện động thời với tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục đại học. Trách nhiệm lớn nhất của cơ sở giáo dục đối với xã hội là bảo đảm chất lượng đào tạo. Luật qui định cơ sở giáo dục đại học được tự chủ xác định và thực hiện chỉ tiêu tuyển sinh, xây dựng và thực hiện chương trình giáo dục, đánh giá kết quả học tập và công nhận tốt nghiệp, in phôi văn bằng, cấp văn bằng cho người học. Quy định như vậy, đã gắn chất lượng đào tạo với tên tuổi của nhà trường.
Hội đồng trường là thiết chế không thể thiếu để giao quyền tự chủ cho các trường. Điều 16 Luật giáo dục đại học bổ sung quy định cụ thể hơn về hội đồng trường đối với cơ sở giáo dục đại học công lập so với quy định tại Điều 52 của Luật giáo dục cho phù hợp hơn với thực tiễn giáo dục đại học Việt Nam.
Bảo đảm chất lượng đào tạo. Luật Giáo dục đại học đã đưa vào những điều khoản giám sát chặt chẽ chất lượng đào tạo trong suốt quá trình sinh viên học tập tại trường. Thay vì qui định chương trình khung như trước đây, Luật Giáo dục đại học quy định về chuẩn tối thiểu kiến thức, kỹ năng tại khoản 3 Điều 36 như sau:
Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học; quy trình xây dựng, thẩm định và ban hành chương trình đào tạo trình độ cao đẳng, đại học, thạc sĩ, tiến sĩ… [17]. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Để khuyến khích các cơ sở giáo dục đại học huy động ngày càng nhiều các nguồn lực đầu tư cho các điều kiện bảo đảm chất lượng, cạnh tranh nâng cao chất lượng đào tạo, đảm bảo hài hòa cơ cấu nhân lực, nâng cao tính cạnh tranh của sinh viên Việt Nam trong khu vực và trên thế giới, Luật Giáo dục đại học quy định: “Cơ sở giáo dục đại học thực hiện chương trình đào tạo chất lượng cao được thu học phi tương xưng với chất lượng đào tạo” [16, Điều 65, Khoản 6].
Luật có những quy định về khung pháp lý của việc tổ chức, hoạt động kiểm định chất lượng giáo dục. Kiểm định chất lượng là bắt buộc đối với các cơ sở giáo dục đại học để thực hiện quyền tự chủ. Trên cơ sở kết quả kiểm định chất lượng, các cơ sở giáo dục đại học sẽ được xếp hạng theo những tiêu chí được các cấp có thẩm quyền qui định.
Ngoài những nội dung mới cơ bản trên, Luật Giáo dục đại học còn có nhiều điều, khoản mới quy định về chức danh của giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học (gồm trợ giảng , giảng viên, giảng viên chính , phó giáo sư, giáo sư); quy định trình độ chuẩn của chức danh giảng viên giảng dạy trình độ đại học; qui định cấp có thẩm quyền ban hành chuẩn quốc gia của cơ sở giáo dục đại học; quy định về công tác quản lý nhà nước về giáo dục đại học và công tác thanh tra, kiểm tra.
Luật Dạy nghề. Trước yêu cầu cấp thiết là xây dựng đội ngũ người trực tiếp lao động có trình độ, năng lực, có kỷ luật lao động, đáp ứng đòi hỏi yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Nhằm tháo gỡ ba điểm nút của phát triển kinh tế, xã hội hiện nay là: Phát triển cơ sở hạ tầng, hoàn chỉnh thể chế chính sách về kinh tế và giải quyết, tạo được nguồn nhân lực có chất lượng cao, phù hợp với yêu cầu, ngang bằng với trình độ các nước trong khu vực. Vì vậy, Ngày 29/11/2006, Quốc hội ban hành Luật Dạy nghề để tạo hành lang pháp lý và cơ chế để hoạt động dạy nghề đạt hiệu quả.
- Luật Dạy nghề có 13 chương, 92 điều. Theo Luật này, chính sách đối với cơ sở dạy nghề bao gồm:
Nhà nước có chính sách giao hoặc cho thuê đất, cơ sở vật chất, ưu đãi về tín dụng, miễn, giảm thuế theo quy định của pháp luật đối với cơ sở dạy nghề; miễn thuế theo quy định của pháp luật đối với sản phẩm được tạo ra từ hoạt động dạy nghề phục vụ cho cơ sở dạy nghề.
Uỷ ban nhân dân các cấp có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi cho các cơ sở dạy nghề, cơ sở đào tạo khác, các nhà khoa học phổ biến tiến bộ khoa học kỹ thuật và chuyển giao công nghệ, đặc biệt là trong các lĩnh vực về nông, lâm, ngư nghiệp.
Cơ sở dạy nghề tư thục được hưởng các chính sách quy định tại các điều 65, 66, 67 và 68 của Luật Giáo dục.
- Các văn bản dưới luật Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Pháp luật về giáo dục mầm non. Thực hiện các quy định của Luật giáo dục về giáo dục mầm non, ngày 23/6/2006, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 149/2006/QĐ-TTg phê duyệt Đề án phát triển giáo dục mầm non giai đoạn 2006 – 20154.
Ngày 10/8/2010, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định 239/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi, theo đó các cấp, các ngành ưu tiên đầu tư cơ sở vật chất, phòng học đảm bảo chất lượng, đủ ánh sáng, độ an toàn; đồ dùng, đồ chơi và đội ngũ giáo viên được biên chế, có năng lực, trình độ để giảng dạy trẻ 5 tuổi. đồng thời yêu cầu huy động trẻ ra lớp (trừ học sinh khuyết tật) đạt từ 95% trở lên, trong đó tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng hệ thấp còi dưới 5%, trẻ em suy dinh dưỡng thể nhẹ cân dưới 5%, trẻ em thừa cân so với độ tuổi (béo phì) dưới 3%.
Ngày 16/7/2008, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 36/2008/QĐ-BGDĐT về việc ban hành quy trình, điều kiện, thủ tục công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia với 5 tiêu chuẩn gồm: Tổ chức và quản lý nhà trường; Cán bộ quản lý và giáo viên; Cơ sở vật chất đảm bảo; Chất lượng giáo dục và huy động trẻ ra lớp; Công tác phối hợp giữa nhà trường và gia đình (xã hội hóa) để chăm sóc và giáo dục trẻ.
Ngày 08/02/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 02/TT-BGD ĐT ban hành tiêu chuẩn, thủ tục kiểm tra, công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia thay thế Quyết định số 36 nêu trên, theo đó có nhiều tiêu chuẩn được nâng lên như: cơ sở vật chất, tỷ lệ ăn bán trú, trình độ giáo viên, trình độ cán bộ quản lý…
Pháp luật về giáo dục phổ thông. Ngày 24/10/2005, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quyết định số 32/QĐ-BGD ĐT về việc quy định công nhận trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia và ngày 29/8/2007, Bộ ban hành Quyết định số 55/2007/QĐ-BGD ĐT ban hành quy định trường tiểu học đạt mức tối thiểu. Theo đó các trường tiểu học có quy hoạch diện tích đất đảm bảo 10m2/1 học sinh. Và một số điều kiện tiêu chuẩn khác. Ngày 28 tháng 12 năm 2012, Bộ tiếp tục ban hành Thông tư số 59/TT-BGD ĐT ban hành quy trình, điều kiện công nhận trường mầm non đạt chuẩn quốc gia, theo đó đánh giá trường tiểu học có 3 mức, đó là: trường có chất lượng tối thiểu, trường chuẩn quốc gia mức độ 1, trường chuẩn quốc gia mức độ 2. Các điều kiện gồm 5 tiêu chuẩn là: Quản lý và tổ chức nhà trường; cán bộ quản lý, giáo viên; cơ sở vật chất; quan lệ phối hợp giữa nhà trường và gia đình trong việc chăm sóc và nuôi dạy học sinh; chất lượng giáo dục toàn diện cho học sinh. Quyết định công nhận và cấp bằng công nhận trường tiểu học đạt chất lượng tối thiểu và trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, mức độ 2 do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.
Ngày 26/02/2010, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 06/TT-BGDĐT ban hành quy định về việc công nhận trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia. Theo đó cũng có 5 tiêu chuẩn đói với trường đạt chuẩn đó là: Quản lý và Tổ chức quản lý nhà trường; giáo viên nhân viên nhà trường; cơ sở vật chất của nhà trường; chất lượng giáo dục nhà trường; công tác phối hợp giữa gia đình và nhà trường, công tác xã hội hóa.
Ngày 17/12/2012, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 47/2012/TT-BGD DDT quy định về công nhận trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học đạt chuẩn quốc gia thay thế Thông tư số 06/2010/TT-BGD ĐT.
- Pháp luật về giáo dục đại học Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Thực hiện Luật giáo dục và Điều 17 Nghị định 75/2006/NĐCP, ngày 27/7/2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 121/2007/QĐ-TTg phê duyệt Quy hoạch mạng lưới các trường đại học và cao đẳng, giai đoạn 2006-2020; ngày 26/6/2013, Thủ tướng chính phủ ban hành quyết định số 37/2013/QĐ-TTg điều chỉnh quy hoạch mạng lưới các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2006 – 2020.
Mặc dù các đã có nhiều cố gắng song chất lượng giáo dục đại học vẫn đang còn là một thách thức rất lớn đối với giáo dục nước ta. Vấn đề tồn tại cần giải quyết là chất lượng chương trình đào tạo, năng lực đội ngũ giảng viên, điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, sự sàng lọc để bảo đảm chất lượng trong quá trình đào tạo… Để thực hiện các yêu cầu của Luật giáo dục, việc hiện đại hoá chương trình đào tạo, trong đó việc ứng dụng công nghệ thông tin vào đổi mới phương pháp giảng dạy và học tập, nghiên cứu khoa học và quản lý giáo dục nói chung còn chậm. Bên cạnh đó, cũng đặt ra yêu cầu tăng quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục được quy định việc thực hiện chương trình theo hình thức tích luỹ tín chỉ, việc dạy và học bằng tiếng nước ngoài.
- Pháp luật về giáo dục thường xuyên.
Để hướng dẫn thực hiện các quy định về giáo dục thường xuyên, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành những văn bản quy định Chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học phổ thông; Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm giáo dục thường xuyên; Quy chế đánh giá, xếp loại học viên theo chương trình giáo dục thường xuyên cấp trung học cơ sở và cấp trung học phổ thông; Chương trình xoá chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; Quy định chương trình giáo dục thường xuyên về ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông; Quy chế tổ chức và hoạt động của Trung tâm ngoại ngữ, tin học; Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng tại xã, phường, thị trấn; hướng dẫn xếp hạng và thực hiện chế độ phụ cấp chức vụ lãnh đạo của trung tâm giáo dục thường xuyên; Quy định về đánh giá và xếp loại học viên chương trình xoá mù chữ và giáo dục tiếp tục sau khi biết chữ; Quy định về tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, kiểm tra và cấp chứng chỉ ngoại ngữ, tin học theo chương trình giáo dục thường xuyên… Các văn bản quy phạm pháp luật nêu trên đã từng bước tạo cơ sở pháp lý trong tổ chức và thực hiện nhiệm vụ, nâng cao chất lượng giáo dục thường xuyên, đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu học tập của xã hội.
Mặc dù có sự quan tâm đối với sự phát triển của giáo dục thường xuyên nhưng Bộ Giáo dục và Đào tạo chưa ban hành được các văn bản quy định chi tiết về việc thực hiện chương trình giáo dục thường xuyên để lấy văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân (học từ xa, tự học có hướng dẫn). Việc quy định về chương trình giáo dục thường xuyên chưa quán triệt đầy đủ tinh thần của Luật giáo dục. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế tổ chức và hoạt động của trung tâm học tập cộng đồng tại xã, phường, thị trấn nhưng việc xây dựng mô hình hoạt động giáo dục đối với Trung tâm học tập cộng đồng trong thực tế vẫn còn rất lúng túng, chưa đáp ứng yêu cầu xã hội hóa giáo dục trong hoạt động giáo dục thường xuyên.
2.2.2. Hệ thống văn bản pháp luật, chính sách liên quan đến hoạt động áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo do các cơ quan chức năng của tỉnh Nam Định ban hành Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
- Giáo dục phổ thông
Năm 2011, Ban chấp hành Tỉnh uỷ khoá XVIII (2011-2016) ban hành Nghị quyết số 10-NQ/TU ngày 25/7/2011 về xây dựng một số cơ sở giáo dục chất lượng cao, sau đó UBND tỉnh đã ban hành kế hoạch số 41/KH-UBND ngày 16/8/2011 triển khai thực hiện, theo đó:
Mỗi huyện: Xây dựng 1 – 2 trường THCS chất lượng cao, riêng thành phố Nam Định thí điểm xây dựng 2 – 3 trường tiểu học chất lượng cao.
Toàn tỉnh: xây dựng 4 – 5 trường THPT chất lượng cao.
- Giáo dục nghề nghiệp và Giáo dục đại học:
Xây dựng 02 ngành của trường Cao đẳng sư phạm để thực hiện chương trình đào tạo chất lượng cao đạt chuẩn đầu ra theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Xây dựng lớp 03 nghề đào tạo của trường Cao đẳng Nghề Nam Định để thực hiện chương trình đào tạo chất lượng cao đạt chuẩn khu vực.
UBND tỉnh ban hành quyết định phê duyệt danh sách các cơ sở giáo dục chất lượng cao, theo đó có 10 trường THCS/10 huyện, thành phố và 05 trường THPT, 03 nghề của trường Cao đẳng nghề và 02 ngành của trường Cao dẳng sư phạm xây dựng cơ sở giáo dục chất lượng cao. UBND tỉnh ban hành quyết định ban hành bộ tiêu chuẩn đối với các cơ sở giáo dục chất lượng cao. Bộ tiêu chuẩn này dựa trên các tiêu chuẩn của trường đạt chuẩn quốc gia cho từng cấp học, ngành học, tuy nhiên ở mức độ cao hơn
Ngày 30/12/2011, Ban thường vụ Tỉnh uỷ ban hành Nghị quyết số 16-NQ/TU về nâng cao chất lượng đồng đều của các cơ sở giáo dục phổ thông, UBND tỉnh ban hành kế hoạch thực hiện Nghị quyết với các giải pháp:
Một là: Cấp uỷ chính quyền các cấp tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo công tác giáo dục đào tạo, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, thống nhất nhận thức để chăm lo phát triển giáo dục đào tạo [23].
Trên cơ sở chất lượng giáo dục trong những năm gần đây kết hợp với khảo sát đánh giá chung về hệ thống giáo dục đào tạo trên địa bàn để phân loại các cơ sở giáo dục, từ đó đặt ra các mục tiêu và giải pháp cụ thể thực hiện tốt Nghị quyết phù hợp với tình hình kinh tế – xã hội của từng địa phương. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Tổ chức tốt công tác tuyên truyền Nghị quyết của Tỉnh uỷ, về mục đích ý nghĩa của việc nâng cao chất lượng đồng đều giáo dục phổ thông trong tỉnh, mục tiêu của việc nâng cao chất lượng đồng đều.
Hai là: Xây dựng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục trong các cơ sở giáo dục; tăng cường cán bộ quản lý giỏi và giáo viên cốt cán cho các cơ sở giáo dục chất lượng giáo dục còn thấp [23].
Thực hiện luân chuyển cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên đến các cơ sở giáo dục có chất lượng giáo dục còn thấp theo hướng: điều chuyển giáo viên và cán bộ quản lý giỏi từ các trường có chất lượng cao đến tăng cường hỗ trợ (có thời hạn) cho các trường chất lượng thấp; tạo điều kiện cho các giáo viên có năng lực ở các cơ sở giáo dục còn thấp, có nhiều khó khăn chuyển đến các cơ sở giáo dục chất lượng cao (có thời hạn) để học tập, trao đổi kinh nghiệm, tạo nguồn cho các cơ sở giáo dục còn nhiều khó khăn.
Hàng năm tiến hành khảo sát, đánh giá trình độ chuyên môn nghiệp vụ đối với cán bộ quản lý và giáo viên, từ đó tổ chức các lớp bồi dưỡng để nâng cao năng lực và độ đồng đều cho cán bộ và giáo viên giữa các trường trong toàn tỉnh. Đặc biệt quan tâm bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho cán bộ, giáo viên ở vùng xa, có nhiều khó khăn. Cùng với công tác luân chuyển giáo viên và bồi dưỡng tại chỗ, phấn đấu đến năm 2013: đối với giáo dục mầm non đảm bảo được chế độ chính sách theo quy định; đối với giáo dục tiểu học: 100% các trường có đủ giáo viên Tiếng Anh và Tin học; đối với các trường trung học có nhiều khó khăn đều phải có giáo viên cốt cán các bộ môn Ngữ văn, Toán, Tiếng Anh, Vật lý, Hóa học.
Tăng cường xây dựng môi trường làm việc thân thiện, ở đó mỗi giáo viên phải có năng lực hợp tác, phối hợp với nhau trong các hoạt động giáo dục, đội ngũ giáo viên thực sự là một tập thể sáng tạo.
Xây dựng các quy định, chính sách nhằm thu hút giáo viên giỏi, có năng lực, giáo viên cốt cán bộ môn về công tác tại các trường còn nhiều khó khăn nhằm nâng cao chất lượng đồng đều giữa các cơ sở giáo dục.
Ba là: Đổi mới phương pháp giáo dục trong các cơ sở giáo dục [23].
Xây dựng Đề án đổi mới phương pháp giáo dục phù hợp với từng bậc học (giáo dục mầm non, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học) theo hướng đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá; coi đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới kiểm tra đánh giá là khâu đột phá nhằm nâng cao chất lượng thực trong giáo dục. Tổ chức tư vấn, phân luồng học sinh theo lực học, dạy học theo năng lực của học sinh dựa trên chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông. Coi trọng thực hành thí nghiệm, cân đối giữa truyền thụ kiến thức với rèn kỹ năng, liên hệ thực tế tạo điều kiện để rèn kỹ năng sống, phát huy được năng lực tư duy độc lập, sáng tạo và khả năng hoạt động thực tiễn của học sinh.
Tạo điều kiện cho giáo viên tham gia các khóa bồi dưỡng tập huấn chuyên môn để có đủ năng lực, kiến thức, phương pháp tham gia giảng dạy giáo dục kỹ năng sống, giáo dục pháp luật và tổ chức các hoạt động ngoài giờ lên lớp cho học sinh;
Đổi mới phương pháp kiểm tra, đánh giá đảm bảo khách quan, công khai và có tính giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện. Bồi dưỡng, tập huấn kỹ năng biên soạn đề kiểm tra, tăng cường tổ chức kiểm tra bằng hình thức tự luận, trắc nghiệm dựa theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của Chương trình giáo dục phổ thông; tích cực chỉ đạo các trường thực hiện việc biên soạn đề kiểm tra theo hướng đảm bảo mức độ nhận biết, tăng cường mức độ thông hiểu và vận dụng; các bài kiểm tra cuối học kì, cuối năm dành tối thiểu 50% thời gian làm bài cho các nội dung thông hiểu, vận dụng.
Đổi mới phương pháp quản lý giáo dục, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, tăng cường tính tự chủ và công khai trong quản lý giáo dục. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
- Tổ chức tốt các kỳ thi học sinh giỏi, tích cực tham gia các kỳ thi mang tính chất giao lưu giữa các trường trong, ngoài địa phương.
- Tăng cường giáo dục thể chất, giáo dục đạo đức, giáo dục pháp luật cho học sinh. Tổ chức cho học sinh tham gia các hoạt động xã hội, văn hóa – thể thao phù hợp với lứa tuổi và yêu cầu giáo dục toàn diện.
- Thực hiện tốt công tác thi đua khen thưởng để động viên khuyến khích kịp thời đội ngũ giáo viên và học sinh có thành tích tốt.
Bốn là: Sắp xếp, phát triển hệ thống trường, lớp phù hợp với phát triển kinh tế xã hội và phân bổ dân số của từng địa phương, ưu tiên đầu tư cho các cơ sở giáo dục đào tạo chất lượng giáo dục còn thấp [23].
Tiến hành khảo sát, đánh giá thực trạng cơ sở vật chất, trang thiết bị của các cơ sở giáo dục có chất lượng thấp, trên cơ sở đó xây dựng kế hoạch cụ thể đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đảm bảo các cơ sở giáo dục có đủ diện tích, đủ phòng học, phòng bộ môn, phòng chức năng, cơ sở thực hành theo hướng chuẩn hóa và từng bước hiện đại hóa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục.
Có chính sách ưu tiên các nguồn lực từ chương trình mục tiêu và ngân sách các cấp để tăng cường cơ sở vật chất, trang thiết bị cho cơ sở giáo dục, đặc biệt chú ý đến các cơ sở giáo dục ở vùng xa, có nhiều khó khăn.
Năm là: Đẩy mạnh công tác xã hội hoá giáo dục, thu hút các nguồn lực của xã hội tăng cường cơ sở vật chất cho các cơ sở giáo dục.
- Giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học
Từ năm 2006 đến năm 2012: Hội đồng nhân dân tỉnh đã ban hành 03 Nghị quyết chuyên đề về công tác dạy nghề, gồm: Nghị quyết số 88 về việc phê duyệt “Đề án hỗ trợ dạy nghề cho lao động nông thôn”, Nghị quyết số 89 về phê duyệt “Đề án giảm nghèo năm 2009-2010” và Nghị quyết số 12/2011/NQ-HĐND ngày 15/7/2011 “Quy định mức thu học phí đối với cơ sở giáo dục công lập thuộc hệ thống giáo dục quốc dân do tỉnh quản lý từ năm 2011-2012 đến năm học 2014 -2015”.
UBND tỉnh đã ban hành các quyết định triển khai pháp luật Dạy nghề:
- Quyết định số 1220/QĐ-UBND ngày 24/6/2010 về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Nam Định đến năm 2020”.
- Quyết định số 11/2010/QĐ-UBND, quyết định số 03/2011/QĐ-UBND và Quyết định số 06/2012/QĐ-UBND về việc quy định mức hỗ trợ chi phí học nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn thuộc Đề án “Đào tạo nghề cho lao động nông thôn tỉnh Nam Định đến năm 2020”.
- Kế hoạch số 09/KH-UBND ngày 14/6/2012 triển chương trình mục tiêu quốc gia về dạy nghề và việc làm
- Quyết định số 1256/QĐ-UBND ngày 21/6/2011 phê duyệt đề án thành lập trường đại học Nam Định trên cơ sở sáp nhập trường cao đẳng sư phạm Nam Định, trường Trung cấp Nông nghiệp.
- Hàng năm, UBND tỉnh đều ban hành Kế hoạch dạy nghề ngắn hạn cho lao động nông thôn để triển khai trên địa bàn toàn tỉnh.
2.3. Thực tiễn và kết quả áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo ở các cấp học trên địa bàn Nam Định Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
2.3.1. Những đặc trưng cơ bản trong hoạt động áp dụng pháp luật trong lĩnh vực giáo dục đào tạo tại tỉnh Nam Định
Giáo dục đào tạo tỉnh Nam Định duy trì 20 năm liên tục là tỉnh dẫn đầu toàn quốc về chất lượng toàn diện của giáo dục phổ thông. Từ các hoạt động áp dụng pháp luật từ cấp học mầm non, tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, giáo dục thường xuyên được cấp uỷ, chính quyền các cấp quan tâm. Giữ vững quy mô giáo dục, hệ thống trường lớp được mở rộng, tỷ lệ học sinh bỏ học thấp và giảm nhiều so với những năm trước năm 2010.
Công tác tuyên truyền, vận động toàn xã hội chăm lo cho giáo dục đào tạo được các cấp, các ngành quan tâm nên thu hút được sự ủng hộ của toàn xã hội đầu tư cho giáo dục, từ đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị đến đầu tư thời gian cho các cháu học tập, khuyến khích các tổ chức, cá nhân quan tâm ưu tiên cho giáo dục. Vì vậy, phong trào khuyến học khuyến tài được triển khai rộng khắp, ở mỗi làng, xã, dòng họ đến cấp huyện, cấp tỉnh đều có quỹ khuyến học, khuyến tài, đặc biệt quỹ khuyến học Lương Thế Vinh tỉnh do Ngân hàng Bưu điện Liên Việt, Tập đoàn Him Lam, cùng nhiều nhà tài trợ khác đã đóng góp được tổng số quỹ lên tới gần 29 tỷ đồng.
HĐND và UBND tỉnh rất quan tâm đến việc áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo, luôn luôn áp dụng kịp thời, có hiệu quả các chính sách, pháp luật của Nhà nước, ví dụ: Nam Định là tỉnh đầu tiên quyết định chuyển loại hình trường mầm non dân lập sang loại hình công lập; là tỉnh thứ 3 đạt chuẩn phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 (sau Bắc Ninh và Hoà Bình), là một trong những tỉnh đầu tiên đạt chuẩn phổ cập Triển khai đầu tiên công tác xây dựng trường Xanh, sạch, đẹp, an toàn; là tỉnh được Bộ Lao động – thương binh và Xã hội chọn là 11 tỉnh thực hiện thí điểm dạy nghề cho lao động nông thôn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg ngày 27/11/2009, được Bộ đánh giáo là có hiệu quả, triển khai sớm ngay sau khi có Quyết định của Thủ tướng thì UBND tỉnh ban hành Kế hoạch triển khai, Quyết định phê duyệt Đề án dạy nghề cho lao động nông thôn tỉnh Nam Định đến năm 2020, quyết định thành lập Ban chỉ đạo thực hiện, xây dựng các mô hình điểm để đánh giá, rút kinh nghiệp và nhân rộng; triển khai các dự án thuộc Chương trình mục tiêu Quốc gia và dạy nghề, Đề án đối mới và phát triển nghề đối với các trường trung cấp nghề và cao đẳng nghề.
Trong quá trình áp dụng pháp luật, các cơ quan, người có thẩm quyền biết lựa chọn những điểm nhấn, những mặt mạnh để áp dụng có hiệu quả, đồng thời khi thực hiện các quyết định đó thì làm kiên quyết, biết vận dụng sức mạnh của toàn xã hội để triển khai rộng khắp, tạo sự đồng thuận từ cấp uỷ, chính quyền các cấp đến toàn thể nhân dân
2.3.2. Thực tiễn và kết quả áp dụng pháp luật giáo dục, đào tạo tại tỉnh Nam Định ở cấp mầm non và các cấp học phổ thông Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Trong nhiều năm qua, các cấp, các ngành, đặc biệt là ngành giáo dục đào tạo đã quan tâm đến việc thực hiện pháp luật nói chung, nhất là việc áp dụng pháp luật nói riêng, nên đã đạt được nhiều két quả, cụ thể là
- Hoạt động áp dụng pháp luật giáo dục mầm non
Duy trì và mở rộng quy mô trường lớp. Năm 2010, toàn tỉnh có 248 trường mầm non, đến năm 2011 có 256 trường, năm 2012 có 260 trường, năm 2013 có 264 trường, trong đó có 262 trường công lập, 02 trường tư thục, đảm bảo mỗi đơn vị xã, phường, thị trấn có 01 trường mầm non công lập, nhiều xã có 2 trường, các trường đều có dưới 3 điểm trường; các điểm trường thường dặt tại nơi trung tâm và đảm bảo khoảng cách đến trường dưới 1,5km; mỗi điểm trường đều duy trì các nhóm lớp phù hợp với số lượng học sinh theo điều lệ trường Mầm non
Năm 2010, UBND tỉnh có Quyết định số 18A/2010/QĐ-UBND về việc chuyển 237 trường mầm non dân lập sang loại hình trường mầm non công lập Tỷ lệ huy động trẻ ra nhà trẻ ngày càng tăng, năm 2011 đạt 48,6%, năm 2012 đạt 49%, năm 2013 đạt 49,2%. Đặc biệt, huy động trẻ 5 tuổi ra lớp thuộc diện phổ cập (trừ trẻ khuyết tật không thuộc diện phổ cập) đạt 100%; Năm 2014, được Bộ Giáo dục và Đào tạo công nhận đạt chuẩn phổ cập giáo dục cho trẻ 5 tuổi.
Từ năm 2010 đến nay, đảm bảo tỷ lệ trẻ lên lớp đạt 100%. Số trẻ được học 2 buổi/ngày tăng lên đáng kể, năm 2010 tăng 4,4%, năm 2011 tăng 4,2%, năm 2012 tăng 5,5%, năm 2013 tăng 4,9%. Riêng trẻ 5 tuổi được học 2 buổi/ ngày đạt 99,96% vào năm 2012, tăng 3,96% so với năm 2012; đạt 99,98% vào năm 2013.
Công tác xây dựng trường chuẩn theo Quyết định số 36/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16/7/2008 và Thông tư số 02/2014/TT-BGDĐT ngày 08/02/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo được nhà trường và các cấp, các ngành quan tâm. Kết quả là: năm 2010 có 86 trường đạt chuẩn quốc gia, năm 2011 có 102 trường đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, năm 2012 có 114 (đạt 40,4%) trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó mức độ 1 là 112 trường, mức độ 2 là 02 trường; năm 2013 có 126 (đạt 47,7%) trường đạt chuẩn quốc gia, trong đó mức độ 1 là 123 trường, mức độ 2 là 03 trường [19].
- Về chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Việc triển khai chương trình GDMN, đổi mới phương pháp GDMN 100% số trường, lớp mầm non trên toàn tỉnh đã thực hiện chương trình giáo dục mầm non do Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
Các cơ sở GDMN đã thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn; tích cực xây dựng môi trường giáo dục an toàn, thân thiện, tổ chức các hoạt động giáo dục trẻ thông qua hoạt động vui chơi và tương tác, trải nghiệm với môi trường; có đủ đồ dùng, đồ chơi và hoạt động học tập, vui chơi theo đề tài phù hợp với chủ đề, thực tế, gần gũi cuộc sống thực của trẻ; giáo viên đã tích hợp một cách tự nhiên các kỹ năng cần thiết, giúp trẻ phát huy tính tích cực, sự sáng tạo và sử dụng những kinh nghiệm trong cuộc sống mà trẻ đã được trải nghiệm. Các trường mầm non đã thực hiện nghiêm túc việc đánh giá sự phát triển của trẻ hàng ngày, theo chủ đề, theo độ tuổi về tình trạng sức khỏe, trạng thái cảm xúc, thái độ, hành vi, kiến thức và kỹ năng của trẻ.
- Công tác chăm sóc sức khỏe, nuôi dưỡng
Trong nhiều năm qua, tỉnh Nam Định đã có nhiều biện pháp chỉ đạo các cơ sở GDMN đảm bảo an toàn tuyệt đối cho trẻ; các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm và phòng bệnh cho trẻ khi thời tiết giao mùa. Trẻ đến trường được an toàn tuyệt đối về thân thể, tinh thần; được nuôi dưỡng chu đáo, đảm bảo vệ sinh, an toàn thực phẩm. Đến nay, trên địa bàn tỉnh không xảy ra ngộ độc thực phẩm, không có hiện tượng bạo hành đối với trẻ.
Toàn tỉnh có 88% trẻ nhà trẻ, 94% trẻ mẫu giáo được nuôi ăn bán trú, Mức ăn của trẻ trung bình từ 8.000 đ – 12.000 đ/ngày/trẻ. Tỉ lệ trẻ suy dinh dưỡng (SDD) thể nhẹ cân ở nhà trẻ là 4,9%; ở mẫu giáo là 5,1%. Tỉ lệ trẻ SDD thể thấp còi ở nhà trẻ là 5,5%, ở mẫu giáo là 5,2%. Có 28 cháu nhà trẻ, 226 cháu mẫu giáo có cân nặng cao hơn lứa tuổi.
Các trường mầm non tiếp nhận 18 trẻ nhà trẻ, 290 trẻ mẫu giáo khuyết tật học hòa nhập, trong đó 135/158 trẻ 5 tuổi khuyết tật được giáo dục hòa nhập. Trẻ khuyết tật học hòa nhập được miễn, giảm học phí theo quy định. Những nhóm, lớp có trẻ khuyết tật học hòa nhập được ưu tiên về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên và các điều kiện khác. Một số nơi có điều kiện đã đánh giá kết quả giáo dục hòa nhập thông qua thực hiện kế hoạch giáo dục cá nhân, trên cơ sở tổ chức các hoạt động giáo dục, lưu giữ sản phẩm của trẻ, thực hiện theo nguyên tắc động viên, khuyến khích và ghi nhận sự tiến bộ của trẻ.
- Về công tác đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục các cơ sở giáo dục mầm non
Chỉ đạo triển khai đánh giá chất lượng trường mầm non theo Thông tư số 07/2011/TT-BGDĐT ngày 17/02/2011 quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục trường mầm non, Thông tư 45/2011/TT-BGDĐT ngày 11/10/2011 quy định về quy trình và chu kỳ kiểm định chất lượng trường mầm non và công văn số 8299/BGDĐT ngày 04/12/2012 hướng dẫn tự đánh giá chất lượng trường mầm non theo quy trình rút gọn. Tính đến 31/3/2014, tất cả các trường MN trên địa bàn tỉnh đã hoàn thành việc tự đánh giá, trong đó có 38 trường MN được tổ chức đánh giá ngoài. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
- Việc chuyển đổi loại hình trường trong hệ thống GDMN
Thực hiện Đề án phát triển giáo dục mầm non tỉnh Nam Định đến năm 2015, UBND tỉnh đã có Quyết định số 18A/2010/QĐ-UBND ngày 01/9/2010 về việc chuyển đổi các trường MN bán công sang công lập, 237/237 trường MN bán công chuyển sang công lập.
- Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lí và dạy học tại các cơ ở GDMN
Các trường mầm non đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong các hoạt động giáo dục. Hiện tại, tất cả các trường MN của tỉnh đã nối mạng Internet, trung bình mỗi trường có 4,0 máy tính, các nhà trường sử dụng một số phần mềm: Phổ cập, kismarts, nutrikis… 92% cán bộ quản lý; 73% giáo viên có khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, đó là những thuận lợi cơ bản để đội ngũ khai thác thông tin, tìm tư liệu hữu ích trong công tác quản lý và chăm sóc, giáo dục (CSGD) trẻ.
- Việc quản lí các cơ sở GDMN ngoài công lập
Thực hiện Thông tư 28/2011/TT-BGDĐT ngày 15/7/2011 v/v sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy chế tổ chức và hoạt động trường mầm non tư thục ban hành kèm theo QuyÕt ®Þnh sè 41/2008/Q§-BGD§T ngµy 25/7/2008 cña Bé GD&ĐT, UBND tỉnh chỉ đạo ngành GD&ĐT phối hợp với địa phương quản lý chặt chẽ 02 trường mầm non tư thục và 127 nhóm, lớp MN tư thục độc lập; trong đó có 69 nhóm, lớp đã được cấp phép thành lập và 58 nhóm, lớp chưa được cấp phép thành lập. Toàn tỉnh có 14 cơ sở tôn giáo tổ chức trông coi trẻ, chủ yếu là các cháu tuổi nhà trẻ. Trong các nhóm, lớp đã được cấp phép thành lập, 100% số trẻ được khám sức khỏe định kỳ và được theo dõi sức khoẻ bằng biểu đồ tăng trưởng; 100% các nhóm lớp MN tư thục độc lập có cam kết đảm bảo an toàn cho trẻ.
Công tác chăm sóc, giáo dục trẻ ở 02 trường MN tư thục, 84/127 nhóm, lớp MN tư thục độc lập đã thực hiện chương trình chăm sóc giáo dục trẻ do Bộ GD&ĐT ban hành; 100% trẻ tại các nhóm lớp MN tư thục độc lập được học 2 buổi/ngày. Số trẻ được nuôi ăn tại các cơ sở giáo dục mầm non ngoài công lập (CSGDMNNCL) là 3.068 trẻ, đạt 98% tổng số trẻ ra lớp tại các CSGDMNNCL.
Sở GD&ĐT có văn bản số 1658/SGDĐT- GDMN ngày ngày 28/12/2013 về việc tăng cường các biện pháp quản lý hoạt động loại hình tư thục, trong đó yêu cầu các cơ sở GDMN ngoài công lập lắp đặt hệ thống camera theo dõi, ghi lại các hoạt động của cơ sở; khuyến khích các cơ sở GDMN đặt hệ thống camera trực tuyến để phụ huynh học sinh giám sát các hoạt động chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục của cơ sở đối với trẻ.
- Việc quản lý, tổ chức chăm sóc trẻ dưới 36 tháng tuổi tại các cơ sở GDMN
Trong 264 trường mầm non có 955 nhóm trẻ dưới 36 tháng tuổi, trong đó có 898 nhóm trẻ tách độ tuổi, 57 nhóm sinh hoạt ghép. Trung bình 25,2 trẻ/lớp và 1,99 giáo viên/lớp. 100% số nhóm trẻ dưới 36 tháng tuổi thực hiện chương trình GDMN theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo [19].
- Về công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo tổ chức thanh tra các trường mầm non theo Nghị định 42/2013/NĐ-CP ngày 09/5/2013 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra giáo dục; thường xuyên tổ chức kiểm tra dưới nhiều hình thức; chú trọng kiểm tra công các quản lý và thực hiện các nhiệm vụ trọng tâm năm học trong các nhà trường, kiểm tra nghiệp vụ sư phạm của giáo viên thông qua dự giờ, hồ sơ, sổ sách và chấn chỉnh kịp thời việc thực hiện quy chế chuyên môn, công tác an toàn trường học; tổ chức thanh tra chuyên ngành một số đơn vị phòng GD&ĐT; tổ chức kiểm tra chéo công tác Phổ cập GDMN 5 tuổi, chất lượng giáo dục theo chương trình GDMN mới; kiểm tra công tác quản lý loại hình tư thục ở tất cả các huyện, thành phố…
Các trường mầm non đã thực hiện nghiêm túc Thông tư 09/2009/TT-BGDĐT ngày 07/5/2009 của Bộ GD&ĐT về Quy chế thực hiện công khai đối với các cơ sở giáo dục của hệ thống giáo dục quốc dân, đã dần khắc phục được bệnh hình thức trong GDMN, công khai công tác tuyển dụng, công khai chất lượng chăm sóc giáo dục trẻ, công khai minh bạch trong quản lý tài chính, tài sản…
Về đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục
- Về đội ngũ và chế độ chính sách
Tổng số chỉ tiêu giáo viên mầm non được HĐND tỉnh Nam Định phê duyệt và UBND tỉnh giao năm 2014 là 7.388 giáo viên. Số giáo viên có mặt là 6.725 người trong đó trong biên chế là 1.938, giáo viên hợp đồng là 4.787 người. Việc thực hiện chế độ tiền lương và các chế độ chính sách khác như sau:
- Giáo viên mầm non trong biên chế
Thực hiện Quyết định 161/2002/QĐ-TTg ngày 15/11/2002 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách đối với giáo dục mầm non và Nghị quyết số 141/2010/NQ-HĐND của Hội đồng nhân dân tỉnh Nam Định về phát triển giáo dục mầm non tỉnh Nam Định từ năm 2010 đến năm 2015, trong đó giao mỗi trường mầm non công lập hạng 1 được bố trí 7 biên chế, trường hạng 2 bố trí 6 biên chế; như vậy số biên chế giáo viên mầm non ở 264 trường mầm non công lập năm 2013 được giao 1.938 biên chế. Đến nay số giáo viên này có mặt là 1.938 giáo viên.
Số giáo viên này được hưởng theo ngạch bậc phù hợp với trình độ đào tạo, được nâng bậc lương thường xuyên hàng năm và nâng bậc lương trước thời hạn do lập thành tích xuất sắc và các chế độ chính sách khác đối với giáo viên mầm non.
Trong đó có 1.110 giáo viên được tuyển dụng vào biên chế sau ngày 01/01/2012, nhưng tại thời điểm 01/01/2012 là thời điểm tính thực hiện chế độ tiền lương theo Thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BGDĐT-BTC-BNV, thì số giáo viên này đang có mặt tại các trường mầm non, vì vậy UBND tỉnh đã cho phép chuyển xếp lương theo ngạch bậc và thời gian đóng BHXH đối với số giáo viên này. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
- Giáo viên mầm non hợp đồng ngoài biên chế
Chỉ tiêu được giao là 5.450 giáo viên, số giáo viên có mặt là 4.787 người.
Thực hiện thông tư liên tịch số 09/2013/TTLT-BGDĐT-BTC-BNV, UBND tỉnh đã quyết định chuyển xếp lương theo trình độ đào tạo và thời gian đóng BHXH đối với 4.644 giáo viên hợp đồng. Trong đó:
- Giáo viên trên 50 tuổi: 324 người
- Giáo viên hợp đồng được hỗ trợ tiền lương, BHYT, BHXH: 4.264 người
- Giáo viên nghỉ hưu và giảm khác: 56 người. Với tổng kinh phí như sau:
Năm 2012: Tổng nhu cầu kinh phí thực hiện: 300.096 triệu đồng
- Kinh phí đã bố trí trong năm: 104.583 triệu đồng
- Kinh phí đề nghị Bộ tài chính bổ sung: 195.513 triệu đồng Năm 2013: Tổng nhu cầu kinh phí thực hiện: 377.383 triệu đồng
- Kinh phí đã bố trí trong năm: 274.929 triệu đồng
- Kinh phí đề nghị Bộ Tài chính bổ sung: 102.454 triệu đồng.
Công tác đánh giá cán bộ quản lí, giáo viên
Các Phòng Giáo dục và Đào tạo đã thực hiện nghiêm túc việc đánh giá cán bộ quản lý, giáo viên theo quy định. Cuối năm học 2012-2013 có 254 Hiệu trưởng được đánh giá, xếp loại, trong đó có 203 người xếp loại xuất sắc (chiếm tỷ lệ 79,9%), 49 người xếp loại khá (chiếm tỷ lệ 19,3%), 2 người xếp loại trung bình (chiếm tỷ lệ 0,8%); 336 Phó hiệu trưởng được đánh giá xếp loại, trong đó 247 người xếp loại xuất sắc (chiếm tỷ lệ 73,5%), 83 người xếp loại khá (chiếm tỷ lệ 24,7%), 6 người xếp loại trung bình (chiếm tỷ lệ 1,8%);
- Về việc đổi mới phương pháp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý GDMN để đáp ứng yêu cầu đổi mới GDMN
Từ năm học 2012- 2013 đến nay, đã tổ chức 105 lớp bồi dưỡng cho 12.758 lượt cán bộ quản lý, giáo viên về công tác quản lý tài chính, tài sản, quản lý nhân sự, công tác phổ cập GDMN 5 tuổi, chương trình GDMN, CNTT và các nội dung tích hợp giáo dục trẻ theo chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, với tổng kinh phí bồi dưỡng 1,529 tỉ đồng. Nhiều cán bộ quản lý đã được học tập nâng cao trình độ chính trị, quản lý nhà nước, quản lý giáo dục. Hầu hết cán bộ quản lí đã ứng dụng CNTT, mạng internet trong công tác quản lý, nhận và gửi văn bản, báo cáo qua hộp thư điện tử, qua website…
Việc đánh giá theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên mầm non đã được các nhà trường triển khai thực hiện nghiêm túc: Cuối năm học 2012 – 2013 có 6.519 giáo viên được đánh giá xếp loại, trong đó 3.760 người xếp loại xuất sắc (chiếm tỷ lệ 57,7%), 2.346 người xếp loại khá (chiếm tỷ lệ 36%), 413 người xếp loại trung bình (chiếm tỷ lệ 6,3%).
- Về đầu tư tài chính và cơ sở vật chất
Cơ cấu đầu tư từ ngân sách nhà nước cho GDMN
- Năm 2009: 178.241 triệu đồng, chiếm 14,4%/tổng chi NS sự nghiệp GD.
- Năm 2010: 201.154 triệu đồng, chiếm 15%/ tổng chi NS sự nghiệp GD.
- Năm 2011: 315.574 triệu đồng, chiếm 17,6%/tổng chi NS sự nghiệp GD.
- Năm 2012: 366.213 triệu đồng, chiếm 16,7%/tổng chi NS sự nghiệp GD.
- Năm 2013: 379.686 triệu đồng, chiếm 17%/tổng chi NS sự nghiệp GD.
Công tác xã hội hóa GDMN theo Quyết định số 1466/QĐ-TTg ngày 10/10/2008:
Công tác xã hội hóa giáo dục được phát huy hiệu quả, giáo dục mầm non nhận được nhiều sự quan tâm chăm lo của cấp ủy, chính quyền các cấp, các tổ chức đoàn thể, các doanh nghiệp, các cá nhân hảo tâm, các bậc phụ huynh học sinh… đã chung tay góp sức, ủng hộ GDMN, tiêu biểu như Tập đoàn dầu khí Quốc gia, Tập đoàn bảo hiểm, ngân hàng Bưu điện Liên Việt, ngân hàng ACB, ngân hàng Công Thương, bà con Việt Kiều… nguồn kinh phí từ xã hội hóa qua các năm như sau:
- Năm 2009: 19.205 triệu đồng;
- Năm 2010: 19.882 triệu đồng;
- Năm 2011: 21.527,1 triệu đồng;
- Năm 2012: 28.037,3 triệu đồng;
- Năm 2013: 41.334 triệu đồng.
Việc thực hiện quy định về tự chủ tài chính trong các cơ sở GDMN theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP
Các huyện, thành phố đang từng bước tiến hành giao tự chủ tài chính theo Nghị định 43/2006/NĐ-CP cho các cơ sở GDMN. Hiện tại đã có thành phố Nam Định và huyện Vụ Bản giao xong tự chủ cho các cơ sở GDMN thuộc đơn vị quản lý, 8 huyện còn lại đang tiến hành giao tự chủ. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
- Chính sách ưu tiên đầu tư tài chính và đất đai xây dựng trường học
Tỉnh đã giành quỹ đất xây dựng cho 233/264 trường có đủ diện tích theo quy định tại Điều lệ trường Mầm non, còn 31/264 (10,7%) trường chưa đủ diện tích, cần phải bổ sung, điều chỉnh kịp thời quỹ đất trong thời gian tới, phần lớn tập trung ở TP Nam Định.
Thực hiện Đề án kiên cố hóa trường, lớp học giai đoạn 2008-2012 được phê duyệt tại Quyết định 20/2008/QĐ-TTg ngày 01/02/2008 của Thủ tướng Chính phủ, từ năm 2009-2012, các địa phương trong tỉnh đã đầu tư xây dựng 931 phòng học mầm non với tổng số vốn là 273.349 triệu đồng (Vốn TPCP: 81.058 triệu đồng, vốn ngân sách địa phương: 192.291 triệu đồng). Trong đó:
- Năm 2009: đầu tư xây dựng 414 phòng với tổng số vốn là 122.307 triệu đồng (Vốn TPCP: 36.018 triệu đồng, vốn NS địa phương: 86.289 triệu đồng);
- Năm 2010: đầu tư xây dựng 247 phòng với tổng số vốn là 82.687 triệu đồng (Vốn TPCP: 21.489 triệu đồng, vốn NS địa phương: 61.198 triệu đồng);
- Năm 2011: đầu tư xây dựng 97 phòng với tổng số vốn là 27.733 triệu đồng (Vốn TPCP: 8.439 triệu đồng, vốn ngân sách địa phương: 19.294 triệu đồng);
- Năm 2012: đầu tư xây dựng 173 phòng với tổng số vốn là 40.622 triệu đồng (Vốn TPCP: 15.112 triệu đồng, vốn NS địa phương: 25.510 triệu đồng);
- Năm học 2012- 2013 có 09 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia. Năm học 2013 – 2014 đã công nhận 10 trường mầm non đạt chuẩn quốc gia và 12 trường MN đạt chuẩn giai đoạn 2002 – 2005 được công nhận lại. Dự kiến đến hết năm học 2013 –2014 có 133 trường MN đạt chuẩn quốc gia (hiện tại đạt 124 trường), đạt 50,3%;
Việc xây dựng nhà công cụ cho giáo viên mầm non: Không có;
Trong 2 năm học 2012 – 2013, 2013-2014 tỉnh tập trung nhiều nguồn lực đầu tư 73,917 tỉ đồng trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi phục vụ hoạt động chăm sóc, giáo dục trẻ trong các trường mầm non.
- Về việc thực hiện phổ cập GDMN cho trẻ em 5 tuổi [24].
Công tác PCGDMN cho trẻ em 5 tuổi được đưa vào Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XVIII (nhiệm kỳ 2010-2015). Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh đã ban hành các Chỉ thị, Nghị quyết, Quyết định, Kế hoạch và nhiều văn bản chỉ đạo quan trọng để lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện nhiệm vụ phổ cập giáo dục mầm non trẻ 5 tuổi (PCGDMNTNT), tập trung nguồn lực của tỉnh để hoàn thành mục tiêu PCGDMNTNT trong năm 2013: Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Ngay từ đầu năm học 2011-2012 tất cả các huyện, thành phố trong tỉnh đã xây dựng kế hoạch cải tạo, sửa chữa, xây dựng mới các trường mầm non, giảm dần khu lẻ, các lớp mầm non 5 tuổi tập trung về khu trung tâm, sắp xếp đủ phòng học đảm bảo yêu cầu theo quy định.
Thực hiện Kế hoạch Phổ cập GDMN cho trẻ em năm tuổi, tỉnh Nam Định đã đầu tư 58,772 tỉ đồng mua sắm trang thiết bị, đồ dùng, đồ chơi ngoài trời, phần mềm phổ cập.
Các địa phương, nhà trường đã làm tốt công tác xã hội hoá giáo dục, tạo được nguồn kinh phí để bổ sung cho việc xây dựng, cải tạo phòng học, các phòng chức năng. Trong 2 năm, gần đây, tổng kinh phí huy động từ công tác xã hội hoá giáo dục để thực hiện PCGDMN cho trẻ 5 tuổi đến đạt 72.833,5 triệu đồng.
Từ kết quả trên, ngày 19/3/2014, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có Quyết định số 961/QĐ-BGD&ĐT v/v công nhận và tặng cờ cho tỉnh Nam Định đạt chuẩn Phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em 5 tuổi.
- Áp dụng pháp luật giáo dục ở cấp phổ thông
- Giáo dục Tiểu học:
Trên địa bàn tỉnh có 291 trường tiểu học công lập và 01 trường dành cho trẻ khuyết tật. Các trường tiểu học đảm bảo về cơ sở vật chất trang thiết bị phục vụ các hoạt động dạy học, đảm bảo tỷ lệ 1,0 lớp/phòng học, mạng lưới trường lớp đáp ứng đầy đủ nhu cầu và thuận tiện cho học sinh đi học. Với 4.444 lớp, 137.741 học sinh, bình quân 30,9 học sinh/lớp. Hầu hết các trường đầy đủ về cơ sở vật chất như phòng học, phòng chức năng, khu vệ sinh, sân chơi, sân tập cho học sinh học tập, vui chơi và tổ chức các hoạt động giáo dục.
Có 4.444 phòng học/4.444 lớp đảm bảo tỷ lệ 1 phòng học/lớp, trong đó có 4.115 phòng học kiên cố, nhiều trường có nhà đa năng, nhà ăn bán trú, phòng dạy ngoại ngữ riêng…
Hiện tại có 183 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia mức độ 1, trong đó có 69 trường đạt chuẩn mức độ 2. Tỉnh Nam Định là một trong những tỉnh đi đầu trong công việc kết hợp giữa công tác PCGDTH đúng độ tuổi với việc xây dựng trường chuẩn quốc gia. Để khuyến khích động viên các địa phương trong công tác xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, UBND tỉnh tăng cường đầu tư CSVC trang thiết bị trong việc xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia các cấp học.
Đầu tư đội ngũ giáo viên, đảm bảo đủ số lượng và cơ cấu giáo viên: Căn cứ vào hướng dẫn nhiệm vụ năm học hàng năm và các văn bản hướng dẫn về xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, về công tác phổ cập giáo dục tiểu học đúng độ tuổi của Bộ Giáo dục và Đào, UBND tỉnh đã tăng cường xây dựng đội ngũ giáo viên, để đảm bảo tỷ lệ GV/lớp, cơ cấu giáo viên, như giáo viên các môn Hát- nhạc, Mỹ thuật, Thể dục, Tin học, Ngoại ngữ… Kết quả là Tỷ lệ GV/ lớp đạt 1,49 (kể cả hợp đồng); 100% các trường đều có tỷ lệ 1,35 giáo viên/lớp trở lên. Đội ngũ giáo viên thường xuyên được bồi dưỡng tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; kiến thức, kỹ năng và chuyên môn nghiệp vụ. Năm học 2012 – 2013 có 100% giáo viên được xếp loại theo chuẩn nghề nghiệp giáo viên tiểu học từ trung bình trở lên trong đó loại Xuất sắc đạt 57,6%; không có giáo viên xếp loại Kém; giáo viên dạy giỏi các cấp: đạt 65,4%. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện: Sở Giáo dục chỉ đạo các phòng giáo dục và đào tạo yêu cầu các trường thực hiện dạy đủ, đúng chương trình các môn học, tăng cường việc dạy hai môn tự chọn tiếng Anh và Tin học; đổi mới phương pháp giảng dạy, đổi mới công tác quản lý, chỉ đạo dạy học theo chuẩn kiến thức kĩ năng các môn học, đổi mới cách đánh giá học sinh, kết hợp giữa dạy đạo đức, văn hoá và các hoạt động ngoài giờ lên lớp nhằm duy trì số lượng học sinh, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện xây dựng trường đạt chuẩn quốc gia, trường học thân thiện, học sinh tích cực.
Huy động các lực lượng xã hội tham gia công tác PCGDTH đúng độ tuổi, ngành Giáo dục và Đào tạo thường xuyên phối kết hợp với các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị xã hội làm tốt công tác điều tra trẻ trong độ tuổi để huy động và duy trì sĩ số trẻ trong độ tuổi đi học.
100% các trường thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo về nhiệm vụ năm học, tất cả các trường đều tổ chức học 2 buổi/ngày, học sinh từ khối lớp 3 bắt đầu học ngoại ngữ.
Tất các các trường tiến hành dạy học theo chuẩn kiến thức, kỹ năng các môn học và đánh giá xếp loại theo Thông tư số 32/2009/TT-BGDĐT ngày 27/10/2009 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đa số giáo viên đã dạy học tích hợp các môn học, đi vào nề nếp, chất lượng dạy học và các hoạt động giáo dục ngày càng được nâng cao. Chú trọng giáo dục đạo đức, kỹ năng sống cho học sinh, đảm bảo chất lượng giáo dục, không để xảy ra trường hợp học sinh không đạt chuẩn vẫn được lên lớp, giảm số học sinh lưu ban, bỏ học
Từ kết quả đó, năm 2012, UBND các huyện, thành phố đã công nhận 225 xã, phường, thị trấn đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2, 04 xã còn lại đạt chuẩn mức độ 1. UBND tỉnh đã công nhận 10/10 huyện, thành phố đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã tỉnh Nam Định đạt chuẩn phổ cập tiểu học đúng độ tuổi mức độ 2 [25].
- Giáo dục trung học:
Toàn tỉnh có 246 trường THCS công lập, không có trường tư thục; 56 trường THPT, trong đó có 44 trường công lập, 12 trường tư thục; 16 Trung tâm giáo dục thường xuyên.
Cấp THCS có 123 trường đạt chuẩn quốc gia, cấp THPT có 14 trường đạt chuẩn quốc gia. Các trường đều có sân chơi, bãi tập, 100% nhà kiên cố, 91% phòng học cao tầng. 100% các trường THCS, THPT có đầy đủ phòng học chức năng, đủ diện tích về khuân viên và phòng học, phòng học đảm bảo ánh sáng, môi trường theo quy định tại Thông tư 17 của Bộ Y tế.
100% giáo viên THCS, THPT, GDTX đạt chuẩn về trình độ đào tạo, trong đó THCS có 82% giáo viên đạt trên chuẩn, THPT có 18% giáo viên đạt trên chuẩn, GDTX có 6% giáo viên đạt trên chuẩn.
100% các trường THCS, THPT, GDTX đủ giáo viên theo điều lệ trường, kể cả về số lượng và cơ cấu, chủng loại giáo viên. Tất cả các trường đều đổi mới phương pháp dạy học gắn với tổ chức dạy học phân hoá theo năng lực của học sinh dựa trên chuẩn kiến thức kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông. Tăng cường chỉ đạo nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn, đưa sinh hoạt tổ nhóm chuyên môn vào nề nếp và có chất lượng, có bản kế hoạch của tổ chuyên môn và kế hoạch giáo viên có nhiều chuyển biến tích cực. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Các trường đều có biện pháp giúp đỡ học sinh có học lực yếu kém, giảm tỷ lệ học sinh bỏ học, phát hiện, bồi dưỡng học sinh có năng khiếu, tỷ lệ học sinh trung học phổ thông bỏ học chỉ có 0,17%, trung học phổ thông là 0,61%.
Trong nhiều năm qua, Tỉnh Nam Định đã củng cố và duy trì kết quả đạt chuẩn phổ cấp giáo dục THCS, nâng tỷ lệ, chất lượng các tiêu chuẩn phổ cập giáo dục trung học cơ sở, tỷ lệ học sinh từ 15 đến 18 tuổi tốt nghiệp THCS năm học 2011 – 2012 đạt 96,03%, năm học 2012 – 2013 đạt 98,98%, năm học 2013 – 2014 đạt 99,42%
Tỉnh Nam Định có 01 trường chuyên Lê Hồng Phong được UBND tỉnh quan tâm đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đặc biệt có một đội ngũ giáo viên yêu ngành, có trình độ cao (100% có trình độ thạc sỹ), có phương án tuyển sinh để chọn toàn bộ các em học sinh giỏi trong toàn tỉnh, với truyền thống hàng chục năm qua nên kết quả giáo dục và đào tạo của nhà trường đạt kết quả cao, hàng năm có từ 95 đến 99% học sinh đỗ vào các trường đại học có tiếng trên toàn quốc. số học sinh giỏi tham gia đội tuyển học sinh gỏi quốc gia hầu hết là của trường Lê Hồng Phong. Năm 2012 có 72/78 em đạt giải quốc gia, trong đó có 5 vào đội tuyển quốc gia tham dự thi quốc tế và cả 5 em đều đạt huy chương. Năm 2013 có 82/88 em đạt giải học sinh gỏi quốc gia, trong đó có 02 em vào đội tuyển quốc gia tham dự quốc tế và cả 2 em đều đạt huy chương. Năm 2014 có 78/88 em học sinh đạt giải quốc gia, có 02 em vào đội tuyển học sinh giỏi quốc gia tham dự quốc tế [20].
2.3.3. Thực tiễn và kết quả áp dụng pháp luật dạy nghề, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Mạng lưới các cơ sở dạy nghề, giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục Đại học ngày càng được mở rộng. Hiện nay trên địa bàn toàn tỉnh có 4 trường đại học (ĐH Điều dưỡng – Bộ y tế, ĐH Sư phạm Kỹ thuật công nghiệp – Bộ LĐTBXH, ĐH kinh tế kỹ thuật – Bộ Công thương, ĐH Lương Thế Vinh – UBND tỉnh quản lý); có 05 trường cao đẳng (CĐ Công nghiệp – Bộ Công Thương, CĐ Xây dựng – Bộ Xây dựng, CĐ Nghề, CĐ Sư phạm Nam Định – UBND tỉnh, CĐ Nghề Dệt may VINATEX – Tập đoàn Dệt may Việt Nam); có 12 trường trung cấp (trung cấp kĩ thuật nông nghiệp, trung cấp Y, trung cấp văn hoá, nghệ thuật, trung cấp phát thanh – truyền hình, trung cấp nghề Thương mại du lịch dịch vụ, trung cấp nghề giao thông vận tải, trung cấp nghề Thủ công mỹ nghệ truyền thống, Trung cấp nghề kỹ thuật công nghiệp Nam Định, trường trung cấp nghề Đại Lâm, trung cấp nghề số 20, trung cấp nghề số 8, trung cấp chuyên nghiệp kinh tế kỹ thuật) và nhiều trung tâm dạy nghề.
Quy mô đào tạo của các cơ sở dạy nghề (CSDN) được tăng lên hàng năm từ 17.500 học viên (năm 2006) lên 30.200 học viên (năm 2012). Nhiều CSDN đã phát triển rõ rệt về quy mô đào tạo như trường TCN Kỹ thuật công nghiệp Nam Định, Trường TCN Thủ công mỹ nghệ truyền thống Nam Định, Trung tâm dạy nghề huyện Nghĩa Hưng, Trung tâm dạy nghề huyện Hải Hậu…
Đội ngũ cán bộ, giáo viên dạy nghề đã được bổ sung về số lượng và hoàn thiện về tiêu chuẩn. Đến nay, tổng số giáo viên, cán bộ quản lý công tác dạy nghề của 38 cơ sở tham gia dạy nghề là 2.512 người (trong đó giáo viên là 1.537 người, cán bộ quản lý là 975 người). Để tăng cường giáo viên dạy nghề cho các CSDN. Năm 2011, 38 cơ sở dạy nghề trên địa bàn tỉnh đã tuyển bổ sung thêm 286 giáo viên và cán bộ quản lý (tăng 12% so với năm 2010) [26]. Riêng các cơ sở dạy nghề thuộc tỉnh quản lý được UBND tỉnh trình HĐND tỉnh bổ sung thêm 43 biên chế. Trong đó: khối trung tâm dạy nghề các huyện được bổ sung thêm, tổng số 23 biên chế, các trường Cao đẳng nghề và trung cấp nghề bổ sung 20 biên chế (mỗi trường 5 biên chế).
Đội ngũ giáo viên của các CSDN từng bước được chuẩn hóa. Trong 03 năm (2010 – 2012), Sở Lao động – Thương binh và Xã hội phối hợp với Tổng dạy nghề, Trường Đại học Sư phạm kỹ thuật đã tổ chức cho 115 giáo viên tham gia học nghiệp vụ sư phạm và 145 giáo viên tham gia học kỹ năng dạy nghề; Ngoài ra các cơ sở dạy nghề thường xuyên tổ chức các lớp học nâng cao chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên và tổ chức các lớp học nghiệp vụ sư phạm.
Cùng với sự phát triển của các chính sách về dạy nghề và theo quy định tại Quyết định số 1956/QĐ-TTg; Hội đồng nhân dân tỉnh đã ra Nghị quyết bổ sung 01 biên chế cán bộ dạy nghề cho Phòng Lao động – Thương binh và Xã hội các huyện, thành phố (riêng 03 huyện Hải Hậu, Ý Yên, thành phố Nam Định được bổ xung 02 cán bộ phụ trách về dạy nghề).
Từ năm 2006 – 2012, tổng số người được đào tạo nghề là 362 người (bình quân mỗi năm 24.051 người); Riêng năm 2012, người tham gia học nghề là 30.200 người (trình độ sơ cấp nghề 22.800 người, trung cấp nghề 4.700 người, cao đẳng nghề 2.700 người) đưa tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề so với tổng lực lượng lao động trên địa bàn đạt 36.5% [26].
Các trường đại học, cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp, các trường dạy nghề bám sát các quy định của Luật Giáo dục, Luật giáo dục đại học, Luật Dạy nghề và các quy định về Điều lệ trường Đại học, trường cao đẳng, điều lệ trường Trung cấp chuyên nghiệp, trung cấp nghề và quy chế tổ chức và hoạt động của các trung tâm dạy nghề, nên đã đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, đầu tư nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, nhất là giáo viên có trình độ sau đại học. Tỉnh Nam Định có chính sách khuyến khích ưu tiên giáo viên các trường đại học, cao đẳng học cao học trở lên. Nhiều trường có giáo viên có học hàm PGS và học vị Tiến sỹ.
Chương trình, giáo trình thì bám sát chương trình khung của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, áp dụng đào tạo theo hệ thống tín chỉ, tạo điều kiện thuận lợi cho học sinh tham gia học tập; 100% các trường cao đẳng, đại học trên địa bàn tỉnh có nhà thi đấu đa năng, có đủ diện tích để học sinh, sinh viên tham gia rèn luyện sức khoẻ, phục vụ học tập.
Các Trường dạy nghề thì mới được nâng cấp, nên thiết bị thực hành dạy nghề còn thiếu, còn chưa bắt kịp được công nghệ tiên tiến của khu vực và thế giới. Trong khi đó thiết bị dạy nghề thì cực đắt, với nguồn kinh phí hạn chế thì việc đầu tư còn cao, chưa hiệu quả. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
2.4. Những hạn chế, bất cập trong áp dụng pháp luật về giáo dục, đào tạo tại tỉnh Nam Định và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập đó
2.4.1. Những hạn chế chung của nền giáo dục đào tạo tỉnh Nam Định
Nhìn tổng thể cả về quy mô và chất lượng của giáo dục và đào tạo tỉnh Nam Định chưa đáp ứng kịp những đòi hỏi lớn của đất nước nói chung và khu vực đồng bằng sông Hồng nói riêng. Cơ cấu hệ thống giáo dục, quy mô giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề, nhất là đào tạo công nhân kỹ thuật có trình độ cao tương ứng với khu vực và quốc tế còn thấp, phương thức đào tạo còn lạc hậu, chương trình, giáo trình chưa bắt kịp với trình độ phát triển của các ngành sản xuất, nên dẫn đến khi sử dụng phải đào tạo lại, gây tốn kém, mất lòng tin vào hệ thống giáo dục.
Những biểu hiện tiêu cực trong thi cử, bệnh thành tích trong giáo dục vẫn còn, động cơ học tập của một bộ phận trong sinh viên, học sinh THPT còn hạn chế.
Đội ngũ giáo viên có trình độ đào tạo trên chuẩn đạt cao ở cấp giáo dục phổ thông, nhưng chưa sáng tạo trong giảng dạy, chưa lấy người học làm trung tâm, vẫn giảng dạy theo truyền thống là truyền thụ kiến thức một chiều, người học chưa phát huy được tính sáng tạo. Đội ngũ giảng viên của các trường chuyên nghiệp và dạy nghề còn yếu về chất lượng, trình độ đào tạo đạt chuẩn và trên chuẩn chưa cao, thiếu lòng say mê nghiên cứu khoa học và tâm huyết trong giảng dạy. Thiết bị giảng dạy còn thiếu, chương trình, giáo trình còn lạc hậu.
- Về chất lượng và hiệu quả giáo dục đào tạo
Học sinh, sinh viên tốt nghiệp ra trường còn hạn chế về năng lực tư duy sáng tạo, về khả năng thực hành ghề, kỹ năng thích ứng nghề nghiệp. Giáo dục thể chất và giáo dục thẩm mỹ còn nặng về hình thức. Đa số giáo viên vẫn thực hiện việc dạy học truyền thụ một chiều, nên học sinh chỉ biết tiếp thu, thụ động, không có khả năng sáng tạo, lật lại vấn đề dẫn đến khi gặp tình huống thực tiễn thì lung túng, khó giải quyết. Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Tỷ lệ tăng quy mô đào tạo chủ yếu ở bậc Đại học, với những ngành nghề không còn phù hợp với nhu cầu của xã hội như ngành: sư phạm, kế toán, quản lý hành chính công, quản trị doanh nghiệp, tin học ứng dụng… tuy nhiên lại thiếu hệ công nhân kỹ thuật trực tiếp sản xuất có trình độ cao như Điện, Xây dựng, Cơ khí, Hàn, sửa chữa thiết bị động cơ, khai thác khoáng sản, các ngành nghề phục vụ sản xuất nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp…
- Về cơ cấu giáo viên, giảng viên
Cơ cấu trình độ, cơ cấu ngành ghề đã được nâng lên, tuy nhiên chưa đảm bảo yêu cầu. Giáo dục chuyên nghiệp và dạy nghề vẫn còn giảng dạy theo khả năng về giáo viên, cơ sở vật chất của cơ sở giáo dục đào tạo, chưa chuyển mạnh sang đào tạo theo nhu cầu của thị trường lao động, nhu cầu phát triển kinh tế, hay nói cách khác là cơ cấu đào tạo không phù hợp với cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động và quy hoạt phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch phát triển nguồn nhân lực của tỉnh.
Tỷ lệ giáo viên các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề trên địa bàn tỉnh còn quá thấp, (hiện nay mới đạt 1 giáo viên/50 học sinh khối chuyên nghiệp và 1 giáo viên dạy nghề/32 học sinh) chủ yếu là giảng viên thỉnh giảng, còn giảng viên cơ hữu còn ít, trình độ còn thấp.
Đội ngũ giáo viên cấp tiểu học còn thiếu, chưa đảm bảo số lượng 1,5 giáo viên/lớp để giảng dạy 02 buổi/ngày, trong khi đó giáo viên cấp THCS lại đang thừa, nhất là giáo viên đã có tuổi, không muốn học tập nâng cao trình độ, kiến thức sư phạm đã cũ, phương pháp giảng dạy không chịu thay đổi.
- Ngân sách đảm bảo cho Giáo dục và Đào tạo.
Nam Định là tỉnh có nguồn thu ngân sách hạn chế. Năm 2010 thu ngân sách nhà nước đạt 1.500 tỷ đồng, năm 2011 thu đạt 1.700 tỷ đồng, năm 2012 thu đạt 2.000 tỷ đồng, năm 2013 thu đạt 2.250 tỷ đồng. Trong khi đó chi cho các hoạt động sự nghiệp, thường xuyên và chi đầu tư xây dựng cơ bản, xây dựng giao thông… tương ứng gấp khoảng 2,5 đến 2,8 lần so với nguồn thu của năm tài chính đó. Vì vậy, chủ yếu là ngân sách xin trung ương hỗ trợ và xã hội hoá của các doanh nghiệp để đảm bảo cho giáo dục và đào tạo.
2.4.2. Những hạn chế, bất cập trong quá trình áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo trên địa bàn tỉnh Nam Định Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Tư duy áp dụng pháp luật chậm được đổi mới, chưa theo kịp yêu cầu phát triển của đất nước, yêu cầu hội nhập quốc tế, nên chưa có quyết sách kịp thời cho một số vấn đề liên quan đến giáo dục do thực tiễn cuộc sống phát Thói quen ôm đồm, mệnh lệnh hành chính, bao biện, cái gì cũng muốn nắm, muốn quản lý, chưa tạo được quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của cơ sở giáo dục đào tạo.
Do kinh phí còn hạn chế, chưa tự chủ được, vì vậy chế độ cho giáo viên mầm non chưa được thảo đáng. Số giáo viên làm việc diện hợp đồng còn nhiều, đa phần giáo viên mầm non diện hợp đồng của huyện chưa được hưởng phụ cấp thâm niên theo quy định của pháp luật,(xin được kinh phí trung ương hỗ trợ bao nhiêu thì giải quyết đến đó, bước đầu mới giải quyết mức lương 1,0) nên chưa tạo được lòng tin và phấn khởi trong công tác.
Công cụ để áp dụng pháp luật có hiệu quả chính là pháp luật thì pháp luật còn hạn chế, nhiều khi chung chung, hoặc chưa điều chỉnh hoặc nhiều khi điều chỉnh chồng chéo, văn bản pháp luật có hiệu lực thấp hơn không phù hợp với văn bản pháp luật có hiệu lực cao hơn.
Chất lượng giáo dục phổ thông tuy đã được nâng cao, xong chưa đồng đều giữ các vùng trong huyện và giữa các huyện, nhất là giáo dục phổ thông cấp THCS và trung học phổ thông. Các huyện có truyền thống học giỏi như Giao Thủy, Hải Hậu, Ý Yên thì có chất lượng cao hơn nhiều so với các huyện khác như Vụ Bản, Mỹ Lộc, Nghĩa Hưng. Trong cùng một huyện cũng có sự không đồng đều giữa các trường, các trường nằm ở các xã có điều kiện kinh tế phát triển hơn, có truyền thống học hơn, có sự quan tâm của cấp ủy, chính quyền cơ sở, sự thống nhất với phụ huynh học sinh thì ở đó có chất lượng cao hơn, đặc biệt ở các thị trấn, thành phố thì tập trung nhiều giáo viên có năng lực, trình độ và ngược lại.
Chất lượng giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề và đại học có nhiều vấn đề hạn chế. ở cấp đào tạo này còn thiên nhiều về giáo dục lý thuyết, coi nhẹ thực hành, phương pháp giáo dục chủ yếu vẫn là truyền đạt thụ động, chưa lấy người học làm trung tâm để phát huy tính độc lập, sáng tạo trong tư duy, thuần thục trong thực hành. Mặt khác, thiết bị dạy nghề còn lạc hậu và thiếu, chưa theo kịp với công nghệ mà các doanh nghiệp đang sử dụng, vì vậy khi tuyển dụng vào làm việc thì doanh nghiệp phải đào tạo lại, dẫn đến tốn kèm, lãng phí ngân sách nhà nước đầu tư cho đào tạo trong trường.
Năng lực áp dụng pháp luật của cán bộ làm công tác quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo còn hạn chế, chưa thực hiện đúng các quy trình của áp dụng pháp luật nói chung: Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Khâu phân tích, đánh giá nội dung, điều kiện hoàn cảnh, điều kiện thực tế cần áp dụng chưa đánh giá, phân tích một cách toàn diện, mang tính chủ quan, chưa có tính hệ thống, chưa tìm ra điều kiện thực tế mang tính khách quan.
Giai đoạn lựa chọn quy phạm pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật, còn mang tính máy móc, mới áp dụng ở mức độ tối thiểu, nhất là công tác áp dụng tương tự pháp luật còn kém, khi chưa có quy phạm pháp luật điều chỉnh thì việc vận dụng quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, của Nhà nước chưa sáng tạo, linh hoạt.
Giai đoạn đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật chưa thực sự hệ thống, một số địa phương khi đưa ra các quyết định áp dụng pháp luật còn sợ tính trách nhiệm, đùn đẩy lên cấp trên, ví dụ như việc xây dựng trường tiểu học thị trấn Mỹ Lộc, đây là thẩm quyền, trách nhiệm của UBND huyện Mỹ Lộc, nhưng UBND huyện Mỹ Lộc không kiên quyết chỉ đạo UBND thị trấn Mỹ Lộc xem xét quyết định đầu tư, tìm nguồn đầu tư mà lại đùn đẩy trách nhiệm lên UBND tỉnh và các sở, ngành, mặc dù đó không phải là trách nhiệm của cấp tỉnh; với trách nhiệm là cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo trên địa bàn, UBND tỉnh đã nhiều lần họp, chỉ đạo UBND huyện Mỹ Lộc thực hiện và giao trách nhiệm cho các sở, ngành giúp đỡ.
Công tác phối hợp trong quá trình áp dụng pháp luật giữa các sở, ngành và UBND các huyện, thành phố, các cơ sở giáo dục đôi lúc còn chưa chặt chẽ, nhất là công tác phối hợp với các cơ sở giáo dục đại học trên địa bàn trong việc tuyển sinh, quản lý chất lượng giáo dục…
Những năm qua, thực hiện chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, các cơ quan của tỉnh mới chỉ quan tâm đến thanh tra, kiểm tra chất lượng giáo dục đào tạo, còn công tác thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm trong qúa trình áp dụng áp dụng pháp luật về giáo dục đào tạo còn chưa thường xuyên, chưa kịp thời phát hiện những sai phạm để chấn chỉnh, uốn nắn cho phù hợp, do một số nguyên nhân sau:
Đội ngũ thanh tra của ngành giáo dục và đào tạo không có chuyên môn, kiến thức về pháp luật, năng lực áp dụng pháp luật. Những cán bộ này thường lấy từ cán bộ giáo dục và cán bộ quản lý giáo dục, nên chỉ am hiểu về chuyên môn giáo dục.
Trong quá trình áp dụng pháp luật, nhất là lĩnh vực tài chính, đầu tư trang thiết bị dạy học, công tác thanh tra, kiểm tra chưa kịp thời, dẫn đến một số sơ hở, sai phạm trong quá trình đấu thầu thiết bị dạy học đã mắc sai phạm, gây thất thoát gần 5 tỷ đồng, tuy nhiên hậu quả của sai phạm và xử lý sau sai phạm chưa kịp thời, không thu hồi được nguồn kinh phí thất thoát.
Công tác xét tuyển giáo viên đã được quan tâm, nhưng với nguồn sinh viên sư phạm ra trường nhiều, vượt quá nhu cầu của tỉnh, nên tỉnh có chủ trương ưu tiên dành 80% chỉ tiêu cho sinh viên trường Đại học sư phạm 1 Hà Nội, nên chưa thu hút được số sinh viên sư phạm có học lực giỏi, có chất lượng cao của các trường đại học sư phạm 2, đại học Thái Nguyên, các trường đại học khác về công tác
Công tác chỉ đạo, điều hành, phối hợp của một số cơ quan, cấp chính quyền cơ sở còn hạn chế. Thường có quan điểm cho rằng công tác giáo dục và đào tạo là của ngành giáo dục, chưa thấy được vai trò, trách nhiệm của cơ quan, đơn vị mình. ví dụ: khi thực hiện Nghị định số 49/2010/NĐ-CP về chính sách miễn giảm học phí và hỗ trợ chi phí đào tạo cho học sinh, sinh viên, ngành tài chính chưa vào cuộc, nên việc tạo nguồn, tham mưu cấp kinh phí hỗ trợ, kinh phí miễn giảm chưa kịp thời, còn đòi hỏi nhiều thủ tục, phiền hà cho nhân dân.
Một số chính quyền cơ sở chưa coi trọng công tác áp dụng pháp luật, hiện nay trên địa bàn thành phố Nam Định còn 4 phường chưa có trường tiểu học, 2 phường chưa có trường mầm non, nhưng UBND các phường đó chưa có biện pháp tham mưu cho UBND thành phố tiến hành xây dựng trường theo quy định của Luật Giáo dục là mỗi xã, phường, thị trấn phải có ít nhất 01 trường tiểu học, 01 trường mầm non.
2.4.3. Nguyên nhân của những bất cập, hạn chế Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Một số địa phương nguồn thu ngân sách hạn hẹp, nên việc đầu tư cho giáo dục đào tạo còn rất khó khăn, thiếu vốn đối ứng thực hiện chương trình kiên cố hóa trường lớp học, hoặc chưa có điều kiện quy hoạch các điểm lẻ thành các khu tập Một số trường đã xây dựng phòng học, nhưng chưa quan tâm hoặc thiếu nguồn đầu tư xây dựng các phòng chức năng, các công trình phụ trợ và trang thiết bị tối thiểu…
Phân cấp quản lý giáo dục còn nhiều chống chéo, còn mơ hồ trong cơ chế phối hợp giữa ngành giáo dục và đào tạo với các ngành chức năng, nhất là quản lý giáo dục chuyên nghiệp, giáo dục đại học. Ví dụ: Theo quy định của pháp luật về quản lý trường đại học tư thục thì chịu sự quản lý nhà nước về giáo dục và đào tạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đồng thời chịu sự quản lý về lãnh thổ của UBND cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính. Vì vậy, quản lý trường đại học tư thục giữa Bộ Giáo dục và Đào tạo với UBND cấp tỉnh còn mơ hồ, quy định của pháp luật về những công việc quản lý của Bộ và của UBND tỉnh thì không rõ, không cụ thể về quản lý cái gì, lĩnh vực nào, quản lý bằng phương thức, hình thức nào.
Đội ngũ cán bộ thực hiện áp dụng pháp luật các cấp về giáo dục và đào tạo còn thiếu, yếu về kiến thức pháp luật và tư duy luật pháp. Chủ yếu cán bộ xuất phát từ nhà giáo giảng dạy, có kinh nghiệm được giao nhiệm vụ quản lý, áp dụng pháp luật, nên chưa có cái nhìn tổng quát về hệ thống pháp luật nói chung và hệ thống pháp luật về giáo dục và đào tạo nói riêng.
Việc đổi mới quản lý kinh tế, tài chính, sử dụng lao động, chính sách tiền lương… còn chậm, nên cản trở việc giải quyết có hiệu quả những vướng mắc của ngành giáo dục và đào tạo, đặc biệt là tỉnh Nam Định mới có một huyện (Vụ Bản) áp dụng cho phép nhà trường tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính, lao động. Vì vậy các trường chưa thực sự chủ động trong việc áp dụng pháp luật về giáo dục và đào tạo.
Chất lượng các quy hoạch, kế hoạch về giáo dục, đào tạo, nguồn nhân lực chưa cao, chưa phù hợp hoàn toàn với yêu cầu của thực tiễn và định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương, cụ thể là quy hoạch các trường tiểu học chưa đảm bảo mỗi xã, phường, thị trấn có ít nhất một trường tiểu học (hiện tại thành phố Nam Định có 4 phường chưa có trường tiểu học, 2 phường chưa có trường mầm non), bán kính học sinh tiểu học đi học là 1,5km, nhưng do địa bàn của các xã kéo dài hoặc rộng quá, nên nhiều trường có bán kính để học sinh tiểu học đến trường lớn hơn 1,5km; các trường THPT phân bố chưa đồng đều, có một số ít trường liền kê nhau nhưng có quy mô nhỏ. Các trường chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu là các trường khối kinh tế, xã hội, ít trường kỹ thuật (có 03 trường kỹ thuật) nên việc đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh chưa phù hợp…
Công tác xã hội hóa giáo dục đào tạo chưa hiệu quả, hiện tại mới có 01 trường địa học tư thục (Trường ĐH Lương Thế Vinh) 01 trường trung cấp nghề tư thục (trường trung cấp nghề Đại Lâm). Nguyên nhân chủ yếu là tỉnh chưa áp dụng đúng, đủ các chính sách khuyến khích xã hội hóa, chính sách ưu tiên ưu đãi về thuế, về đất đai… theo quy định tại Nghị định 69/ NĐ-CP.
Kết luận chương 2 Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
Hệ thống cơ sở giáo dục đào tạo tỉnh Nam Định có 264 trường mầm non, 291 trường tiểu học, 246 trường THCS, 56 trường THPT, 37 trường trung cấp chuyên nghiệp, cao đẳng nghề, trung cấp nghề, trung tâm dạy nghề, có 4 trường đại học, 7 trường cao đẳng. Chất lượng giáo dục phổ thông duy trì là 20 năm liên tục là tỉnh trong tốp dẫn đầu toàn quốc về chát lượng giáo dục toàn diện.
Về hệ thống trường lớp trong giáo dục đào tạo ngày càng được quan tâm, đầu tư đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh, toàn tỉnh có 264 trường mầm non, trong đó có 126 trường đạt chuẩn quốc gia; 291 trường tiểu học (283 trường đạt chuẩn); 246 trường trung học cơ sở, trong đó có 123 trường đạt chuẩn; 56 trường THPT, trong đó có 14 trường đạt chuẩn; không còn tình trạng học nhờ, học tạm trong giáo dục phổ thông;
Quy mô học sinh ổn định trong nhiều năm qua, chất lượng phổ cập tiểu học đúng độ tuổi đạt chuẩn mức 2, duy trì phổ cập trung học cơ sở đúng độ tuổi, đạt phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi;
Công tác xét tuyển giáo viên và nâng cao chất lượng của giáo viên ngày được quan tâm và nâng cao, tỷ lệ giáo viên đạt chuẩn về trình độ đào tạo ngày càng nâng cao; cơ cấu giáo viên theo từng môn học, cấp học ngày càng được đảm bảo, phù hợp;
- Tuy nhiên, công tác áp dụng pháp luật tại tỉnh Nam Định còn một số tồn tại hạn chế sau:
Chất lượng giáo dục phổ thông tuy đã được nâng cao, xong chưa đồng đều giữ các vùng trong huyện và giữa các huyện, nhất là giáo dục phổ thông cấp THCS và trung học phổ thông.
Chất lượng các quy hoạch, kế hoạch về giáo dục, đào tạo, nguồn nhân lực chưa cao, chưa phù hợp hoàn toàn với yêu cầu của thực tiễn và định hướng phát triển kinh tế xã hội của địa phương, cụ thể là quy hoạch các trường tiểu học chưa đảm bảo mỗi xã, phường, thị trấn có ít nhất một trường tiểu học, 01 trường mầm non, bán kính học sinh tiểu học đi học là 1,5km, nhưng do địa bàn của các xã kéo dài hoặc rộng quá, nên nhiều trường có bán kính để học sinh tiểu học đến trường lớn hơn 1,5km; các trường THPT phân bố chưa đồng đều, có một số ít trường liền kê nhau nhưng có quy mô nhỏ. Các trường chuyên nghiệp trên địa bàn tỉnh chủ yếu là các trường khối kinh tế, xã hội, ít trường kỹ thuật (có 03 trường kỹ thuật) nên việc đào tạo nguồn nhân lực cho tỉnh chưa phù hợp…
Chất lượng giáo dục chuyên nghiệp, dạy nghề và đại học có nhiều vấn đề hạn chế, ở cấp đào tạo này còn thiên nhiều về giáo dục lý thuyết, coi nhẹ thực hành, phương pháp giáo dục chủ yếu vẫn là truyền đạt thụ động, chưa lấy người học làm trung tâm để phát huy tính độc lập, sáng tạo trong tư duy, thuần thục trong thực hành.
Nguyên nhân: đội ngũ cán bộ làm công tác áp dụng pháp luật không có kiến thức tổng hợp về pháp luật, nên dẫn đến công tác tham mưu còn hạn chế; công tác phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong quản lý các trường đại học, cao đẳng chưa chặt chẽ, dẫn đến chất lượng không cao, đôi khi còn lỏng lẻo; công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật chưa được thường xuyên; Luận văn: Thực tiễn pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật về giáo dục và đào tạo tại Nam Định

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
