Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật Việt Nam và bài học kinh nghiệm của pháp luật nước ngoài cho pháp luật Việt Nam về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI THEO LUẬT NUÔI CON NUÔI 2010

Trước khi Luật Nuôi con nuôi năm 2010 ra đời thì vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy định trong Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 và được cụ thể hóa trong Nghị định 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002, Nghị định 69/2006/NĐ-CP ngày 21/7/2006. Việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy định rải rác trong các văn bản luật và nghị định khác nhau cùng với những hạn chế còn tồn tại đã không thể điều chỉnh quan hệ xã hội phức tạp này một cách toàn diện. Để đáp ứng được sự phát triển sâu, rộng của việc nuôi con nuôi trong nước và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Trong điều kiện hội nhập quốc tế hiện nay cũng như hoàn thiện các quy định của pháp luật về nuôi con nuôi để trở thành thành viên của Công ước La Hay 1993, Nhà nước và Chính phủ đã ban hành Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và Nghị định số 19/2011/NĐ-CP ngày 21/3/2011.

Luật Nuôi con nuôi năm 2010 và Nghị định 19/2011/NĐ-CP 19 đã góp phần xây dựng nên một khung pháp lý tương đối đầy đủ về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài, bảo đảm việc giải quyết cho trẻ em có quốc tịch Việt Nam (trẻ em Việt Nam) làm con nuôi người nước ngoài. Với những quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay thì việc nuôi con nuôi quốc tế cần phải tuân thủ các nguyên tắc và điều kiện nhất định.

3.1.1. Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Nguyên tắc giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là những tư tưởng, quan điểm chủ đạo trong việc quy định và giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Điều 4 Luật Nuôi con nuôi 2010 quy định ba nguyên tắc đối với việc nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng:

  1. Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong môi trường gia đình gốc.
  2. Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.
  3. Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước.

Trước đây, Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2006/NĐ-CP quy định các nguyên tắc giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài như sau: Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

  1. Việc cho, nhận trẻ em làm con nuôi chỉ được thực hiện trên tinh thần nhân đạo, nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất cho trẻ em và tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em.
  2. Nghiêm cấm lợi dụng việc nuôi con nuôi nhằm mục đích bóc lột sức lao động, xâm phạm tình dục, mua bán trẻ em hoặc vì mục đích trục lợi khác.

Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi được xem xét giải quyết, nếu Việt Nam và nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú đã ký kết hoặc cùng gia nhập điều ước quốc tế về hợp tác nuôi con nuôi.

Người nước ngoài thường trú ở nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi mà nước nơi người xin nhận con nuôi thường trú và Việt Nam chưa cùng là thành viên của điều ước quốc tế hai bên hoặc điều ước quốc tế nhiều bên về hợp tác nuôi con nuôi thì cũng được xem xét giải quyết, nếu người đó thuộc một trong các trường hợp được pháp luật quy định. Ví dụ: người nước ngoài có thời gian học tập, công tác, làm việc tại Việt Nam từ 6 tháng trở lên hoặc có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam…

Như vậy, so với các nguyên tắc cơ bản về nuôi con nuôi được quy định tại Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2006/NĐ-CP thì những nguyên tắc cơ bản trong Luật Nuôi con nuôi 2010 có hai điểm mới: (i) Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong gia đình gốc và (ii) Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không tìm được gia đình thay thế ở trong nước. Đây là hai điểm mới có ý nghĩa rất quan trọng trong việc giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài mà trước đây chưa có một văn bản pháp luật nào quy định.

  • Theo quy định của pháp luật hiện hành, giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cần phải chú ý đến những nguyên tắc sau:

Một là, nguyên tắc “Khi giải quyết việc nuôi con nuôi, cần tôn trọng quyền của trẻ em được sống trong gia đình gốc”. Đây là nguyên tắc rất quan trọng được ghi nhận từ thực tế phát triển của trẻ em được cho/nhận làm con nuôi. Gia đình gốc nơi trẻ được sinh ra là môi trường lý tưởng nhất cho sự phát triển và hình thành nhân cách của trẻ. Do đó, nếu được sống trong gia đình gốc, trẻ em sẽ được sống trong môi trường tốt nhất, được những người ruột thịt yêu thương, chăm sóc, bảo vệ, tránh được những xâm hại về thể chất và tinh thần. Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Nguyên tắc này chi phối toàn bộ quá trình cho trẻ em Việt Nam làm con nuôi. Khi trẻ em được cho làm con nuôi thì thứ tự ưu tiên hàng đầu là những người thân trong gia đình của trẻ em đó, là những người có quan hệ nuôi dưỡng hoặc huyết thống gần gũi nhất như cha dượng, mẹ kế, cô, dì, chú, bác ruột. Tiếp theo đó, người được ưu tiên nhận con nuôi là người Việt Nam ở trong nước, người nước ngoài thường trú ở Việt Nam, cuối cùng mới đến người Việt Nam, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài.

Hai là, nguyên tắc “Việc nuôi con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi, tự nguyện, bình đẳng, không phân biệt nam, nữ, không trái pháp luật và đạo đức xã hội”. Nguyên tắc này đề cao quyền và lợi ích hợp pháp của người được nhận làm con nuôi và người nhận con nuôi. Trước đây, Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2006/NĐ-CP chỉ đề cập tới việc bảo đảm quyền lợi của con nuôi. Quy định cũ đã thiếu sót khi không đề cập tới việc bảo đảm quyền lợi của người nhận nuôi – một chủ thể quan trọng, không thể thiếu trong quan hệ nuôi con nuôi.

Ngoài ra, việc nuôi con nuôi còn phải được thực hiện trên tinh thần tự nguyện, bình đẳng không phân biệt giới tính. Đây là nguyên tắc nhằm thiết lập các quan hệ nuôi con nuôi một cách bền vững.

Ba là, nguyên tắc “Chỉ cho làm con nuôi người ở nước ngoài khi không thể tìm được gia đình thay thế ở trong nước”. Nguyên tắc này bổ trợ cho nguyên tắc “cần tôn trọng quyền được sống trong gia đình gốc” của trẻ em, thể hiện tinh thần ưu tiên cho người trong nước nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi hơn người nước ngoài. Nếu việc nuôi dưỡng, chăm sóc trẻ em trong gia đình gốc không thể thực hiện được thì việc tìm kiếm một gia đình thay thế trong lãnh thổ Việt Nam được ưu tiên trước khi tìm kiếm một gia đình thay thế cho trẻ em ở nước ngoài. Điều này đảm bảo cho Trẻ em Việt Nam vẫn được sống tại quê hương, được sống trong môi trường văn hóa, phong tục, tập quán của Việt Nam.

3.1.2. Điều kiện đối với trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Trẻ em Việt Nam được nhận làm con nuôi phải là trẻ em từ 16 tuổi trở xuống. Trẻ em trên 16 tuổi có thể được nhận làm con nuôi nếu: (i) được cha dượng, mẹ kế nhận làm con nuôi hoặc (ii) được cô, cậu, dì, chú, bác ruột nhận làm con nuôi (Điều 8 Luật Nuôi con nuôi 2010). Quy định này của pháp luật cũng thật dễ hiểu bởi ở độ tuổi này trẻ em chưa phát triển toàn diện về cả thể chất và tinh thần, khó có thể sống độc lập và tự lo cho cuộc sống của mình. Vì thế chúng cần được quan tâm, chăm sóc. Trẻ em chỉ có thể làm con nuôi của một người độc thân hoặc của hai vợ chồng là những người khác giới có quan hệ hôn nhân hợp pháp.

3.1.3. Điều kiện đối với người xin nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài

Trước hết, người nước ngoài được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải là người thường trú ở nước mà nước đó cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam. Người nước ngoài thường trú ở nước mà nước đó không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam sẽ không được nhận Trẻ em Việt Nam làm con nuôi (Điều 28 Luật Nuôi con nuôi năm 2010). Quy định này là phù hợp khi Việt Nam gia nhập Công ước La Hay 1993.

Theo quy định cũ tại Nghị định 68/2002/NĐ-CP, Nghị định 69/2006/NĐ-CP thì người nước ngoài thường trú ở nước không cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam sẽ được nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi trong một số trường hợp ngoại lệ (người nước ngoài có thời gian học tập, công tác tại Việt Nam từ 6 tháng trở lên, có vợ, chồng, cha, mẹ là công dân Việt Nam hoặc người gốc Việt Nam…) Tuy nhiên, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 không có quy định cụ thể về nội dung này. Theo Khoản 2 Điều 28 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài được nhận con nuôi đích danh trong các trường hợp sau:

  1. Là cha dượng, mẹ kế của người được nhận làm con nuôi;
  2. Là cô, cậu, dì, chú, bác ruột của người được nhận làm con nuôi;
  3. Có con nuôi là anh, chị, em ruột của trẻ em được nhận làm con nuôi;
  4. Nhận trẻ em khuyết tật, nhiễm HIV/AIDS hoặc mắc bệnh hiểm nghèo khác làm con nuôi;
  5. Là người nước ngoài đang làm việc, học tập ở Việt Nam trong thời gian ít nhất là 01 năm [22].

Như vậy, có thể hiểu là người nước ngoài thường trú ở bất cứ nước nào cũng có quyền được nhận đích danh trẻ em Việt Nam làm con nuôi trong các trường hợp trên, không phụ thuộc vào việc nước họ thường trú có cùng là thành viên của điều ước quốc tế về nuôi con nuôi với Việt Nam hay không. Quy định này hoàn toàn hợp lý, mang lại nhiều cơ hội để tìm kiếm gia đình thay thế cho những trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt. Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Người Việt Nam định cư ở nước ngoài, người nước ngoài thường trú ở nước ngoài nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi phải tuân thủ pháp luật của nước nơi người đó thường trú và các quy định sau đây của pháp luật Việt Nam:

  1. Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;
  2. Hơn con nuôi từ hai mươi tuổi trở lên;
  3. Có tư cách đạo đức tốt;
  4. Có điều kiện về sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con nuôi;
  5. Không phải là người đang bị phạt tù, bị hạn chế một số quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc bị kết án mà chưa được xóa án tích về một trong các tội: cố ý xâm phạm tính mạng, sức khỏe, nhâm phẩm, danh dự của người khác; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên vi phạm pháp luật; mua bán, đánh tráo, chiếm đoạt trẻ em [22, Điều 14].

Công dân Việt Nam xin nhận trẻ em nước ngoài làm con nuôi phải đồng thời có đủ các điều kiện tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 như nêu trên và pháp luật của nước mà trẻ em đó thường trú.

3.1.4. Thẩm quyền, trình tự giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài

Theo quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 (Điều 36) thì việc giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài thuộc thẩm quyền của Sở Tư pháp và theo trình tự như sau: Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ của người nhận con nuôi, Sở Tư pháp xem xét, giới thiệu trẻ em làm con nuôi trên cơ sở bảo đảm các căn cứ của pháp luật (đặc điểm, sở thích, thói quen của trẻ em, khả năng hòa nhập của trẻ em và điều kiện kinh tế, nguyện vọng của người nhận…) và báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh. Trong thời hạn 10 ngày, kể từ ngày nhận được hồ sơ do Sở Tư pháp trình, nếu Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đồng ý thì thông báo cho Sở Tư pháp để làm thủ tục chuyển hồ sơ cho Bộ Tư pháp; trường hợp không đồng ý thì trả lợi bằng văn bản và nêu rõ lý do. Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Quy định này đã khắc phục được những hạn chế trước đây của Nghị định 68/2002/NĐ-CP về thẩm quyền giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài. Theo Nghị định 68/2002/NĐ-CP thì “trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được công văn đề nghị của Sở Tư pháp, cơ sở nuôi dưỡng có trách nhiệm xác nhận trẻ em để giới thiệu làm con nuôi và có công văn trả lời kết quả cho Sở Tư pháp” [5]. Theo đó, người có thẩm quyền giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài là lãnh đạo cơ sở nuôi dưỡng. Đây chính là mấu chốt làm phát sinh các hiện tượng tiêu cực trong việc giải quyết các trường hợp nuôi con nuôi cho người nước ngoài. Việc cơ sở nuôi dưỡng vừa được tiếp nhận nguồn hỗ trợ của các tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài hoạt động tại Việt Nam vừa có quyền giới thiệu trẻ em làm con nuôi người nước ngoài đã dẫn đến các hiện tượng câu kết giữa cơ sở nuôi dưỡng của Việt Nam và tổ chức nuôi con nuôi nước ngoài tại Việt Nam nhằm trục lợi bất chính khi có sự sắp đặt trẻ em làm con nuôi người nước ngoài.

Như vậy, sự đổi mới về nội dung này tại Luật Nuôi con nuôi năm 2010 đã khắc phục được hạn chế của quy định cũ, tăng cường thẩm quyền cho cơ quan quản lý cấp trên. Điều này cũng phù hợp với thông lệ quốc tế và Công ước La Hay 1993 về việc cơ quan trung ương sẽ đảm nhiệm chức năng chung về thủ tục giải quyết việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

3.1.5. Trách nhiệm kiểm tra, xác minh hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Theo Nghị định số 68/2002/NĐ-CP thì thủ tục nộp hồ sơ xin con nuôi được quy định như sau: Toàn bộ hồ sơ của người nước ngoài xin nhận trẻ em Việt Nam làm con nuôi được nộp tập trung tại một địa chỉ là Cơ quan con nuôi quốc tế của Việt Nam (Cục Con nuôi quốc tế thuộc Bộ Tư pháp). Sau khi kiểm tra hồ sơ của cha mẹ nuôi, Cục con nuôi sẽ gửi công văn tới Sở Tư pháp đề nghị Sở Tư pháp yêu cầu cơ sở nuôi dưỡng giới thiệu trẻ em. Như vậy, hồ sơ giới thiệu trẻ em chỉ có một loại giấy tờ, không thể hiện đầy đủ các thông tin về trẻ em. Điều này dẫn đến tình trạng có nhiều trường hợp trẻ em được Cục con nuôi giới thiệu cho cha mẹ nuôi và được cha mẹ nuôi đồng ý nhận nhưng trong quá trình hoàn thiện hồ sơ thì cơ quan có thẩm quyền mới phát hiện trẻ em không đủ điều kiện để làm con nuôi người nước ngoài. Đối với những trường hợp này, Cục con nuôi phải thông báo lại cho cha mẹ nuôi về trẻ em đã giới thiệu không đủ điều kiện làm con nuôi, đồng thời phải giới thiệu trẻ em khác cho cha mẹ nuôi. Đây là một điểm hạn chế của các quy định pháp luật cũ.

Để khắc phục hạn chế này, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 (Điều 33) đã xác định cụ thể trách nhiệm kiểm tra, xác minh hồ sơ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi người nước ngoài và việc tiến hành xác minh hồ sơ được thực hiện từ cấp dưới lên cấp trên. Theo đó, Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, tiến hành lấy ý kiến bằng văn bản (có chữ ký/điểm chỉ) của người giám hộ của trẻ em được giới thiệu làm con nuôi và ý kiến của trẻ em đó (nếu trẻ em được giới thiệu làm con nuôi từ đủ 9 tuổi trở lên). Nếu trẻ em bị bỏ rơi cần được xác minh thì Sở Tư pháp đề nghị cơ quan công an xác minh. Sau khi kiểm tra, xác minh, nếu thấy trẻ em có đủ điều kiện để cho làm con nuôi nước ngoài thì Sở Tư pháp xác nhận và gửi Bộ Tư pháp.

Quy định mới này của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 rất hợp lý, giúp cho việc giải quyết hồ sơ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được thuận lợi, nhanh chóng, tránh trường hợp phải trả lại những hồ sơ của trẻ em không đủ điều kiện khi cha mẹ nuôi đã đồng ý nhận những trẻ em đó.

3.1.6. Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng trong quan hệ nuôi con nuôi nhằm xác định quyền và nghĩa vụ của cha mẹ nuôi và con nuôi sau khi quan hệ nuôi con nuôi được hoàn tất.

Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được quy định như sau: Nếu việc nuôi con nuôi được thực hiện tại Việt Nam thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo Luật Hôn nhân và gia đình 2000. Nếu việc nuôi con nuôi giữa công dân Việt Nam với người nước ngoài được thực hiện ở nước ngoài thì quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, việc chấm dứt nuôi con nuôi được xác định theo pháp luật của nước nơi thường trú của con nuôi. Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Trong những năm qua, Việt Nam đã ký hiệp định hợp tác về nuôi con nuôi với một số nước trên thế giới. Trong các hiệp định này, hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi được xác định theo pháp luật của nước tiếp nhận trẻ em làm con nuôi.

Tuy nhiên, Luật Nuôi con nuôi năm 2010 không có quy định nào về hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Nếu áp dụng hệ quả của việc nuôi con nuôi trong nước (Điều 24) với các trường hợp nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài thì sẽ có điểm bất cập. Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định: “Trừ trường hợp giữa cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi có thỏa thuận khác, kể từ ngày giao nhận con nuôi, cha mẹ đẻ không còn quyền, nghĩa vụ chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng, đại diện theo pháp luật, bồi thường thiệt hại, quản lý, định đoạt tài sản riêng đối với con đã cho làm con nuôi” [22]. Trên thực tế, việc cho – nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài luôn bị chi phối bởi pháp luật của nước tiếp nhận trẻ em làm con nuôi và các quy định pháp luật này không phụ thuộc vào sự thỏa thuận của cha mẹ đẻ và cha mẹ nuôi. Do đó, nếu hệ quả pháp lý của việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài không được quy định rõ ràng sẽ dễ dẫn đến xung đột pháp luật trong lĩnh vực này.

3.1.7. Thông báo tình hình phát triển của con nuôi

Luật Nuôi con nuôi năm 2010 quy định trách nhiệm của cha mẹ nuôi về việc thông báo tình hình phát triển của con nuôi có thay đổi so với Nghị định 68/2002/NĐ-CP và Nghị định 69/2006/NĐ-CP một cách hợp lý. Trước đây, cha mẹ nuôi phải thông báo định kỳ 6 tháng/lần cho ủy ban nhân dân cấp tỉnh và cơ quan con nuôi quốc tế về tình hình phát triển của con nuôi trong 3 năm đầu tiên, sau đó mỗi năm thông báo 1 lần cho đến khi con nuôi đủ 18 tuổi. Việc gửi báo cáo về tình hình phát triển của con nuôi là cần thiết, qua đó các cơ quan có thẩm quyền sẽ được biết được cuộc sống và sự hòa nhập của trẻ em được cho làm con nuôi ở môi trường mới. Tuy nhiên, việc gửi báo cáo định kỳ cho tới khi con nuôi đủ 18 tuổi là không cần thiết. Bởi lẽ sau một thời gian nhất định, con nuôi sẽ được nhập quốc tịch của Nước Nhận và được Nước Nhận bảo hộ. Việc cha mẹ nuôi tiếp tục gửi báo cáo sau khi con nuôi đã được nhập quốc tịch của Nước Nhận sẽ không còn nhiều ý nghĩa.

Như vậy, việc rút ngắn thời gian gửi báo cáo của cha mẹ nuôi theo Điều 39 Luật Nuôi con nuôi năm 2010 là phù hợp, cha mẹ nuôi chỉ cần gửi báo cáo về tình hình phát triển của con nuôi trong thời hạn 3 năm kể từ ngày giao – nhận con nuôi (6 tháng/lần) cho Bộ Tư pháp và Cơ quan đại diện của Việt Nam ở nước nơi con nuôi thường trú.

3.1.8. Kết quả của hoạt động nuôi con nuôi con nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Luật Nuôi con nuôi năm 2010 ra đời đã có nhiều thay đổi tích cực, thống nhất các quy định về nuôi con nuôi nói chung và nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài nói riêng trong một văn bản pháp quy của Nhà nước, góp phần giải quyết nhanh chóng, hiệu quả các quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Năm 2012 Cục Con nuôi tiếp tục thực hiện quy trình nghiệp vụ giải quyết con nuôi nước ngoài trên tất cả các khâu: tiếp nhận hồ sơ, thẩm định hồ sơ, kiểm tra kết quả giới thiệu trẻ em đảm bảo công khai, minh bạch và chất lượng. Hiện nay, việc lập danh sách trẻ em đủ điều kiện làm con nuôi người nước ngoài đã được các Sở Tư pháp gửi lên Cục Con nuôi. Tuy việc lập danh sách của một số địa phương vẫn còn chậm song các địa phương đã có nỗ lực trong việc thực hiện các quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010. Việc giải quyết hồ sơ đều tuân theo đúng trình tự pháp luật, không để xảy ra vấn đề gì sai phạm.

Trong năm 2012, Cục Con nuôi tiếp tục phát huy những kết quả đã đạt được của Chương trình tìm gia đình thay thế cho trẻ em có nhu cầu đặc biệt và đã giải quyết được nhiều trường hợp đối với trẻ em bị bệnh. Những trẻ em này hầu hết là những trẻ mắc các bệnh nghiêm trọng như tim bẩm sinh, HIV, dị tật, úng thủy não…rất khó có cơ hội tìm được gia đình thay thế ở trong nước. Tuy nhiên, với chính sách ưu tiên trong giải quyết hồ sơ của trẻ em bị bệnh, các em đã sớm có được một gia đình mới, có cơ hội được chữa bệnh.

Ngoài các trường hợp xin nhận con nuôi thông thường và trẻ bị bệnh, năm 2012, Cục đã giải quyết xong 77 trường hợp công dân thường trú ở các nước không có hiệp định hợp tác song phương với Việt Nam như: Đức, Anh, Hàn Quốc, Đài Loan… xin nhận đích danh trẻ em có quan hệ họ hàng hoặc là con riêng của vợ/chồng làm con nuôi. Đây là những đối tượng đặc biệt, đa số đều là những người lao động, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên việc lập hồ sơ gặp nhiều trở ngại. Tuy nhiên, đây là những hồ sơ mà người nhận con nuôi có mối quan hệ thân thích hoặc có một bên là cha đẻ/mẹ đẻ của trẻ được nhận làm con nuôi. Do đó, Cục đã cố gắng tạo điều kiện tối đa để những trẻ em này được đoàn tụ gia đình và sống trong môi trường có người thân chăm sóc. Điều này cũng phù hợp với tinh thần nhân đạo của Luật Nuôi con nuôi năm 2010.

Theo số liệu thống kê của Cục, tổng số trẻ em được giải quyết làm con nuôi người nước ngoài tính từ thời điểm ngày 01/10/2011 đến hết ngày 30/09/2012 là 226 trường hợp, trong đó nam là 112 trường hợp và nữ là 117 trường hợp. Đặc biệt, năm 2012, Cục có giải quyết 11 trường hợp con nuôi người Mỹ, đây là các hồ sơ đã được giới thiệu trẻ từ trước khi Hiệp định song phương Việt Nam – Hoa Kỳ chấm dứt. Do vậy, việc giải quyết cho những hồ sơ này hoàn toàn dựa trên lợi ích của trẻ cũng như tinh thần nhân đạo mà Việt Nam và Hoa Kỳ đã thỏa thuận.

  • Bảng 3.1: Tình hình giải quyết nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài từ ngày 01/10/2011 đến ngày 30/09/2012

Bên cạnh kết quả đạt được như đã nêu trên, việc giải quyết vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài vẫn gặp phải nhiều khó khăn, pháp luật Việt Nam vẫn cần học hỏi thêm pháp luật các nước để hoàn thiện hơn nhằm giải quyết tốt hơn quan hệ nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

3.1 BÀI HỌC KINH NGHIỆM CỦA PHÁP LUẬT NƯỚC NGOÀI CHO PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ NUÔI CON NUÔI CÓ YẾU TỐ NƯỚC NGOÀI Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Trong phạm vi đề tài này, tác giả xin được đưa ra bài học kinh nghiệm về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài từ pháp luật của một số nước: (i) có quan hệ lâu năm với Việt Nam về việc nuôi con nuôi quốc tế, có nền pháp luật hoàn thiện hàng đầu thế giới; (ii) có quan hệ gần gũi về mặt địa lý, có những nét tương đồng về điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa – xã hội với Việt Nam; và (iii) có số lượng hồ sơ rất lớn về nuôi con nuôi quốc tế với Việt Nam được giải quyết trong khoảng 2 năm qua.

3.2.1. Bài học kinh nghiệm từ pháp luật của Pháp

Theo quy định của Pháp thì: Người nhận con nuôi phải trên 28 tuổi. Ở độ tuổi này, những người nhận con nuôi đã phát triển toàn diện về thể chất, trí tuệ, có đủ các điều kiện thiết yếu để đảm bảo cuộc sống của cá nhân mình và cuộc sống cho con nuôi. So với quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì độ tuổi này được giảm xuống 8 tuổi. Theo đa số các nước, ở độ tuổi 20, mỗi cá nhân đã có đầy đủ năng lực hành vi dân sự, đã thành niên và được quyền lập gia đình. Tuy nhiên, trên thực tế những người 20 tuổi ở Việt Nam có đầy đủ các điều kiện về kinh tế, sức khỏe, chỗ ở và các điều kiện khác để nhận con nuôi còn rất hạn chế.

Ngoài quy định về độ tuổi của người nhận con nuôi thì theo pháp luật của Pháp các điều kiện khác như: hoàn cảnh gia đình, điều kiện vật chất, sức khỏe, tâm lý xã hội của người nhận con nuôi phải được các cơ quan có thẩm quyền của Pháp điều tra, đánh giá dưới hình thức lập bản báo cáo tâm lý và xã hội. Quy định này giúp các cơ quan chức năng kiểm soát được điều kiện của người nhận con nuôi một cách chặt chẽ. Tại Điều 14 Luật Nuôi con nuôi 2010 thì pháp luật Việt Nam mới chỉ đưa ra điều kiện của người nhận nuôi là có sức khỏe, kinh tế, chỗ ở bảo đảm việc chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con nuôi nhưng chưa có cơ chế nào/cơ quan nào kiểm soát được các điều kiện này. Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Như vậy, đối với điều kiện của người nhận con nuôi theo pháp luật Pháp có hai điểm để pháp luật Việt Nam tham khảo và học hỏi là độ tuổi của người xin con nuôi và “Báo cáo tâm lý xã hội của người xin con nuôi”.

3.2.2. Bài học kinh nghiệm từ pháp luật của Trung Quốc

Các điều kiện về trình độ học vấn, kinh tế, sức khỏe, đạo đức, lối sống, kỹ năng chăm sóc trẻ em của người nhận con nuôi được pháp luật Trung Quốc quy định rất chặt chẽ nhằm đảm bảo cho trẻ được nhận nuôi sẽ được sống trong một môi trường gia đình tốt, được chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục tốt. Ngoài quy định chung về độ tuổi của người nhận con nuôi (từ 30 tuổi đến 55 tuổi), trong trường hợp một người đàn ông không có vợ nhận trẻ em gái làm con nuôi thì khoảng cách tuổi giữa người nhận con nuôi và con nuôi không ít hơn 40 tuổi. Quy định này nhằm bảo vệ tốt nhất cho trẻ em, hạn chế và loại bỏ các trường hợp trẻ em sẽ bị xâm hại về sức khỏe, lợi dụng về tình dục.

Thêm vào đó, với quy định ưu tiên ông, bà được nuôi cháu khi cháu mồ côi cha, mẹ có thể được xem như nguyên tắc trong hoạt động nuôi con nuôi của Trung Quốc. Điều này khác biệt với pháp luật Việt Nam (cấm ông, bà nhận cháu làm con nuôi – Điều 13 Luật Nuôi con nuôi năm 2010) nhưng phân tích kỹ sẽ thấy hợp lý rằng: việc ông, bà được ưu tiên nuôi cháu trước khi cháu được cho làm con nuôi người ngoài/người nước ngoài sẽ đảm bảo một cách tối đa cho trẻ được sống với những người ruột thịt, sống trong môi trường gia đình gốc.

Với những quy định tiến bộ như vậy, Trung Quốc đã giải quyết rất hiệu quả vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài. Do đó, pháp luật Trung Quốc được xem là bài học hay để cho pháp luật Việt Nam tham khảo và áp dụng.

3.2.3. Bài học kinh nghiệm từ pháp luật của Tây Ban Nha Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Theo quy định của pháp luật Tây Ban Nha thì việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài sẽ được thực hiện thông qua các tổ chức trung gian. Các tổ chức này sẽ phối hợp với chính quyền, cơ quan chức năng của Nước Gốc để hỗ trợ một cách đầy đủ việc cho – nhận con nuôi. Người nhận con nuôi sẽ ký một hợp đồng với tổ chức trung gian này, có sự kiểm soát của cơ quan có thẩm quyền ở Tây Ban Nha. Hợp đồng này sẽ ràng buộc trách nhiệm của cả tổ chức trung gian và người nhận con nuôi, buộc hai bên phải thực hiện nghiêm túc các cam kết trong hợp đồng. Đây là một điểm rất tiến bộ mà pháp luật Việt Nam có thể tham khảo để học hỏi. Theo như quy định hiện hành của Luật Nuôi con nuôi năm 2010 thì sau khi các cơ quan chức năng của Việt Nam hoàn tất thủ tục cho con nuôi mà người nước ngoài không đến nhận trong thời hạn tối đa 90 ngày thì Ủy ban nhân dân cấp tỉnh sẽ hủy quyết định cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài. Có nhiều lý do dẫn đến việc người nước ngoài không đến Việt Nam nhận con nuôi bởi lẽ giữa họ và cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam không có một cam kết nào mang tính ràng buộc hoặc phải chịu trách nhiệm tài chính/pháp lý. Việc hủy quyết định cho trẻ em làm con nuôi người nước ngoài trong những trường hợp như vậy gây ra sự lãng phí về thời gian, chi phí… trong hoạt động của các cơ quan có thẩm quyền của Việt Nam khi hoàn thiện các thủ tục cho con nuôi người nước ngoài. Do đó, tham khảo quy định của Tây Ban Nha về việc ký hợp đồng giữa cơ quan trung gian và người xin con nuôi là một việc cần thiết.

Ngoài việc hỗ trợ cha, mẹ nuôi trong việc thực hiện các thủ tục xin con nuôi, pháp luật Tây Ban Nha còn quy định việc hỗ trợ cha, mẹ và con nuôi sau khi việc cho – nhận con nuôi hoàn tất. Như vậy, việc nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài được Tây Ban Nha quy định một cách toàn diện cả giai đoạn trước và giai đoạn sau khi cho – nhận con nuôi nhằm hỗ trợ một cách tối đa các chủ thể tham gia vào quan hệ cho – nhận con nuôi quốc tế.

3.2.4. Bài học kinh nghiệm từ pháp luật của Liên bang Nga

Theo quy định của pháp luật Liên bang Nga thì khi thu xếp cho trẻ em làm con nuôi, giám hộ, trợ tá cần phải tính đến nguồn gốc dân tộc, tôn giáo, văn hóa, ngôn ngữ, khả năng giáo dục của trẻ. Điều này có ý nghĩa quan trọng, nếu trẻ được làm con nuôi của một gia đình có cùng dân tộc, tôn giáo, cùng một nền văn hóa và ngôn ngữ thì trẻ sẽ nhanh chóng hòa nhập tốt với môi trường gia đình mới. Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Ngoài quy định tiến bộ ở trên đối với cơ quan có thẩm quyền thì pháp luật Liên bang Nga còn có những quy định rất chặt chẽ về điều kiện đối với cha, mẹ nuôi. Bên cạnh những quy định về độ tuổi, khả năng kinh tế, sức khỏe… thì những trường hợp sau sẽ không được nhận con nuôi:

  1. Cặp vợ chồng mà một trong hai người bị tòa án công nhận không có năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
  2. Người đã từng xin con nuôi, nhưng bị tòa án hủy việc nuôi con nuôi;
  3. Người không có nơi thường trú;
  4. Những người không trong hôn nhân không thể cùng xin một trẻ em làm con nuôi;

Những quy định trên đây nhằm đảm bảo cho trẻ em làm con nuôi có một nơi cư trú ổn định, được nuôi dưỡng, chăm sóc chu đáo từ cả cha và mẹ nuôi.

Bộ luật gia đình còn quy định cơ chế khá mềm dẻo. Để đảm bảo tính bí mật của việc nuôi con nuôi, theo yêu cầu của người xin con nuôi, có thể sửa đổi ngày sinh nhưng không được quá 3 tháng và sửa nơi sinh của trẻ. Theo đó, pháp luật chỉ cho phép sửa đổi ngày sinh của con nuôi khi con nuôi chưa quá 1 tuổi. Nếu có lý do chính đáng được tòa án công nhận có thể sửa đổi ngày sinh của con nuôi khi con nuôi trên 1 tuổi.

Một quy định nữa của pháp luật Liên bang Nga mà pháp luật Việt Nam có thể tham khảo là: trẻ em được cho làm con nuôi có quyền được hưởng lương hưu và khoản trợ cấp dành cho cha mẹ nuôi bị chết. Với quy định này thì quyền lợi của trẻ em được pháp luật quan tâm và đảm bảo một cách tốt nhất trong trường hợp có rủi ro đối với cha, mẹ nuôi.

3.2.5. Bài học kinh nghiệm từ pháp luật của Hoa Kỳ

Theo quy định của Luật về nuôi con nuôi quốc tế của Hoa Kỳ năm 2000 thì Bộ trưởng Bộ Ngoại giao liên bang với tư cách là người đứng đầu cơ quan trung ương, vừa có trách nhiệm “đối nội”, “đối ngoại” về nuôi con nuôi, vừa có thẩm quyền tối cao đối với trách nhiệm này. Trong trường hợp tổ chức, cá nhân được chỉ định không tạo điều kiện để công dân hoặc cơ quan có thẩm quyền của các bang thành viên giải quyết việc nuôi con nuôi thì Bộ trưởng Bộ Ngoại giao có quyền can thiệp trực tiếp. Với quy định này của Luật thì trong một chừng mực nhất định việc giải quyết vấn đề nuôi con nuôi sẽ đảm bảo được tính kịp thời và thống nhất. Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Bên cạnh điểm tích cực về thẩm quyền của Bộ Ngoại giao liên bang thì pháp luật về nuôi con nuôi quốc tế của Hoa Kỳ còn có quy định rất minh bạch về phí dịch vụ. Việc cho – nhận con nuôi quốc tế được thực hiện trên cơ sở thu phí dịch vụ cơ bản chứ không phải trên cơ sở mức phí tự do và phải công khai mọi hoạt động và mức phí dịch vụ nuôi con nuôi. So sánh quy định này với pháp luật Việt Nam thì Luật Nuôi con nuôi 2010 và Nghị định 19 cũng đã quy định về các mức phí mà người nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài phải nộp là: (i) lệ phí đăng ký nuôi con nuôi (9.000.000 – chín triệu đồng) và (ii) chi phí giải quyết nuôi con nuôi (50.000.000 – năm mươi triệu đồng). Tuy nhiên, Nghị định 19/2011/NĐ-CP quy định chi phí giải quyết nuôi con nuôi (50.000.000 – năm mươi triệu đồng) không bao gồm chi phí dịch vụ, đi lại, ăn ở và phí tổn phát sinh trên thực tế mà người nhận con nuôi trực tiếp chi trả. Với quy định này, trên thực tế có nhiều khoản phí dịch vụ mà người nhận nuôi con nuôi phải chi trả chưa được quy định công khai.

Như vậy, quy định phải công khai mọi chi phí liên quan đến hoạt động nuôi con nuôi quốc tế là một quy định rất rõ ràng, đảm bảo quyền lợi của người nhận nuôi con nuôi.

Trên đây là những quy định tiêu biểu, tiến bộ và rất hữu ích của pháp luật Pháp, pháp luật Trung Quốc, pháp luật Tây Ban Nha, pháp luật Liên bang Nga và pháp luật của Hoa Kỳ để chúng ta tham khảo, nghiên cứu và rút ra bài học kinh nghiệm nhằm hoàn thiện hơn các quy định của pháp luật Việt Nam, đảm bảo hoạt động cho – nhận con nuôi có yếu tố nước ngoài được thực hiện một cách tốt nhất và có hiệu quả nhất.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

Trong điều kiện mở rộng giao lưu dân sự quốc tế thì vấn đề nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài cũng ngày càng phát triển. Mặc dù Công ước La Hay 1993 đã quy định rằng: “mỗi quốc gia cần phải ưu tiên tiến hành các biện pháp thích hợp để trẻ em có thể được chăm sóc trong gia đình gốc của mình”. Tuy nhiên với những trẻ em bất hạnh không thể tìm được một mái ấm thực sự ở gia đình, ở quốc gia gốc của mình thì việc trở thành con nuôi người nước ngoài có thể là một cơ hội tốt để các em được nuôi dưỡng, yêu thương và chăm sóc.

Có nhiều lý do để hoạt động nuôi con nuôi quốc tế ra đời: người nước ngoài xin con nuôi có thể vì họ không có con cái, cần người chăm sóc lúc già yếu, kế nghiệp hoặc họ có điều kiện về kinh tế muốn nhận con nuôi làm từ thiện… Song với bất cứ lý do nào thì hoạt động nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài chỉ có thể diễn ra với các biện pháp nhằm bảo đảm lợi ích tốt nhất của trẻ em, tôn trọng các quyền cơ bản của trẻ em và ngăn ngừa việc bắt cóc, buôn bán, lạm dụng trẻ em. Việt Nam cũng không phải là ngoại lệ của những quy định chung đó. Hệ thống các văn bản pháp lý ra đời để điều chỉnh hoạt động nuôi con nuôi quốc tế đều dựa trên nguyên tắc: Việc cho, nhận trẻ em làm con nuôi phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp cho cha, mẹ nuôi và con nuôi, bình đẳng, không phân biệt giới tính, không trái pháp luật và đạo đức xã hội.

Với việc gia nhập Công ước La Hay 1993 và không ngừng học hỏi kinh nghiệm của các nước phát triển trên thế giới, Việt Nam đang tích cực hoàn thiện một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài để điều chỉnh quan hệ cho – nhận con nuôi quốc tế một cách khoa học và hiệu quả. Luận văn: Giải pháp pháp luật nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật về nuôi con nuôi có yếu tố nước ngoài

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464