Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường- thực tiễn tại tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn thực hiện đề tài

Trên thế giới, dịch vụ Bảo vệ môi trường (trong đó có cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường) là một ngành kinh tế có đóng góp quan trọng vào GDP, được nhiều quốc gia quan tâm, đặc biệt là ở những nước phát triển. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với xu hướng tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ ngày càng được mở rộng thì mở cửa thị trường dịch vụ Bảo vệ môi trường trở thành một trong những nội dung quan trọng trong các khuôn khổ hợp tác quốc tế. Việt Nam cũng đang phải cam kết thực hiện ngày càng nhiều hơn các cam kết quốc tế có liên quan đến môi trường, trong khi các doanh nghiệp đang gặp phải những thách thức trong việc đáp ứng các yêu cầu về môi trường trong xuất khẩu sang các thị trường của các nước phát triển thì việc mở cửa thị trường dịch vụ Bảo vệ môi trường sẽ tạo điều kiện cho các đối tác nước ngoài đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực này tại Việt Nam đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước Bảo vệ môi trường với chi phí thấp hơn.

Để Bảo vệ môi trường, pháp luật của các nước đã quy định nhiều công cụ pháp lý cũng như kỹ thuật, trong đó đánh giá tác động môi trường là một công cụ pháp lý, kỹ thuật rất hữu hiệu. Luật Môi trường năm 2020 quan niệm “Đánh giá tác động môi trường” là quá trình phân tích, đánh giá, nhận dạng, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư và đưa ra biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường. (Khoản 7 Điều 3 Luật Môi trường năm 2020). Đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là công cụ pháp lý và kỹ thuật quan trọng để xác định, phân tích, dự báo tác động môi trường của các dự án, các kế hoạch, quy hoạch phát triển; cung ứng luận cứ khoa học cho chính quyền, cơ quan quản lý chuyên ngành và doanh nghiệp cân nhắc trong quá trình ra quyết định đầu tư. Quy trình đánh giá tác động môi trường có thể là cơ sở cho việc đàm phán, thương lượng giữa các chuyên gia phát triển với các tổ chức dân sự hữu quan và các nhà quản lý quy hoạch. Điều này giúp cân bằng giữa lợi ích môi trường và lợi ích phát triển.

Cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường là một chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước, là một bộ phận quan trọng của Chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Đến nay, khung chính sách, pháp luật về phát triển dịch vụ cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường đã được hình thành. Đây là căn cứ pháp lý quan trọng để các cấp, các Bộ, ngành có liên quan tiếp tục rà soát, hoàn thiện và ban hành các văn bản quy phạm pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Ở tỉnh Bình Dương việc thực hiện các quy định của pháp luật về dịch vụ đánh giá tác động của môi trường trong thời gian qua đã thu được những thành quả đáng kể trong việc bảo vệ môi trường, tuy nhiên thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều bất cập trong quá trình thực hiện, quá trình thực hiện pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường của các chủ đầu tư, các cấp chính quyền và Nhân dân vẫn còn mang tính hình thức, chất lượng, hiệu quả không cao. Tình trạng vi phạm pháp luật về môi trường gia tăng đã làm cho môi trường ở nhiều khu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng. Mặc dù, văn bản pháp luật về các quy định về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường được ban hành với số lượng lớn song ít được thực thi hoặc thực thi không đầy đủ làm cho môi trường ở một số địa phương đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng.

Do vậy, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật từ đó tìm ra các nguyên nhân và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường là việc làm hết sức cần thiết. Từ tất cả các lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường- thực tiễn tại tỉnh Bình Dương” để làm luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật kinh tế.

2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu

2.1 Mục tiêu chung

Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường cũng như thực tiễn hoạt động đánh giá tác động môi trường tại tỉnh Bình Dương, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi về pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường trong thời gian tới, góp phần bảo vệ môi trưởng sống trong lành của người dân.

2.2 Mục tiêu cụ thể

Để đạt được mục tiêu chung đã nêu trên, các mục tiêu cụ thể của luận văn được xác định cụ thể như sau:

Thứ nhất, Nghiên cứu các vấn đề lý luận về đánh giá tác động môi trường, cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường (Khái niệm, đặc điểm về đánh giá tác động môi trường, cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường,)

Thứ hai, Phân tích và đánh giá thực trạng các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường theo Luật môi trường năm 2020, Luật thương mại năm 2005 và văn bản hướng dẫn thi hành

Thứ ba, Phân tích và đánh giá hực tiễn thực hiện pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường từ năm 2016 đến nay. Từ đó chỉ ra những mặt đạt được, những mặt còn hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế này.

Thứ tư, Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

2.3. Câu hỏi nghiên cứu

  • Câu hỏi nghiên cứu: Đánh giá tác động môi trường là gì?
  • Câu hỏi nghiên cứu: Tại sao lại phải làm báo cáo đánh giá tác động môi trường
  • Câu hỏi nghiên cứu: Dịch vụ tư vấn đánh giá tác động môi trường là gì? Tại sao các chủ đầu tư cần phải có sự hỗ trợ của đơn vị cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường?
  • Câu hỏi nghiên cứu: Hợp đồng dịch vụ tư vấn đánh giá tác động môi trường là gì? Điều kiện có hiệu lực của hợp đồng dịch vụ tư vấn đánh giá tác động môi trường?
  • Câu hỏi nghiên cứu: Pháp luật quy định vê cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường có đặc điểm gì?
  • Câu hỏi nghiên cứu: Pháp luật quy định về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường gồm có những nội dung gì? Có hạn chế? Bất cập gì?
  • Câu hỏi nghiên cứu: Thực tiễn thực hiện dịch vụ tư vấn dịch vụ môi trường tại tỉnh Bình Dương những năm gần đây như thế nào? Có vướng mắc gì?
  • Câu hỏi nghiên cứu: Với những bất cập, vướng mắc đã nghiên cứu được thì cần phải có những giải pháp gì để hoàn thiện pháp luật? Làm thế nào để nâng cao hiệu thực hiện dịch vụ tư vấn dịch vụ môi trường tại tỉnh Bình Dương.

3. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Hiện nay, theo sự tìm hiểu và nghiên cứu của tác giả thì số lượng công trình khoa học pháp lý trong nước nghiên cứu về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường không nhiều. Chủ yếu là các công trình nghiên cứu về đánh giá tác động môi trường. Do ngành dịch vụ ĐTM là một ngành rất mới ở nước ta và mới bắt đầu được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 và tiếp tục được ghi nhận và phát triển trong Luật Bảo vệ môi trường năm 2014, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Hầu như chưa có một công trình khoa học pháp lý nào trong nước nghiên cứu về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường một cách đầy đủ và toàn diện. Có thể nói, đây là một hướng nghiên cứu rất mới trong lĩnh vực pháp lý. Do vậy, việc tổng hợp và phân tích các tài liệu, công trình nghiên cứu có liên quan trực tiếp đến nội dung của luận văn đã gặp rất nhiều khó khăn và vướng mắc. Tuy nhiên, sau một thời gian cố gắng tra cứu các tài liệu có liên quan đến nội dung luận văn thì có một số công trình tiêu biểu như sau:

Phạm Mạnh Thắng (2019), “Pháp luật về đánh giá tác động môi trường qua thực tiễn Thành phố Hà Nội”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Mở Hà Nội, Luận văn đã đánh giá thực trạng áp dụng pháp luật về ĐTM qua thực tiễn tại thành phố Hà Nội, từ đó đề xuất hệ thống các giải pháp đồng bộ để việc áp dụng các văn bản pháp luật về ĐTM được đảm bảo có hiệu lực, hiệu quả trong thời gian tới

Phạm Thanh Sơn (2017), “Pháp luật Việt Nam về đánh giá tác động môi trường”, Luận văn thạc sĩ, Viện Đại Học Mở Hà Nội. Luận văn đã phân tích, đánh giá pháp luật về ĐTM và việc thực thi pháp luật về ĐTM tại Việt nam trong thời gian qua, trên cơ sở kinh nghiệm của một số quốc gia, những định hướng trong hoàn thiện pháp luật về ĐTM ở Việt Nam phải bảo đảm phát triển bền vững của đất nước, việc hoàn thiện phải đặt trong tổng thể của việc hoàn thiện pháp luật môi trường và bảm bảo sự tương thích, thống nhất với giữa luật môi trường với các ngành luật khác và phải đảm bảo sự phù hợp với pháp luật quốc tế về ĐTM đối với các dự án đầu tư. Với thực trạng pháp luật về ĐTM và thực tiễn thi hành hiện nay, cần thực hiện một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả của ĐTM để đạt được mục tiêu Bảo vệ môi trường đất nước

Lê Văn Hợp (2018), “Pháp luật về đánh giá tác động môi trường những bất cập cần sửa đổi, bổ sung”, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật. Số 12 năm 2018. Bài viết đã phân tích những bất cập trong các qui định của pháp luật bảo vệ môi trường hiện nay về việc lập, phê duyệt, thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về vấn đề này.

Lương Thị Thoa (2020), “Đánh giá tác động môi trường theo pháp luật Việt Nam và một số kiến nghị nâng cao hiệu quả thực thi”, tạp chí Pháp luật và thực tiễn, Số 42, năm Bài viết đã phân tích những qui định về đánh giá tác động môi trường theo pháp luật Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực hiện những qui định này. Từ đó đề xuất một số kiến nghị hoàn thiện.

Nguyễn Hoàng Thùy Trang (2020), “Bàn về khái niệm dịch vụ môi trường”, Tạp chí Khoa học pháp lý, Số 08 (138). Bài viết này giới thiệu các khái niệm dịch vụ Bảo vệ môi trường theo quy định của GATS, của OECD/ EUROSTAT và theo quy định của pháp luật Việt Nam, phân tích sự khác biệt giữa chúng và đưa ra một số đề xuất liên quan đến nội hàm khái niệm và phân loại dịch vụ Bảo vệ môi trường tại Việt Nam nhằm tạo cơ sở cho việc hoàn thiện pháp luật điều chỉnh loại hình dịch vụ này tại Việt Nam

Vũ Thu Hạnh (2007), “Bước đầu nghiên cứu về cơ chế chi trả dịch vụ môi trường tại Việt Nam”, Tạp chí Luật học, Số 7/2007. Bài viết đã nêu các quan điểm về dịch vụ môi trường và chi trả dịch vụ môi trường. Trình bày cơ sở pháp lí cho cơ chế chi trả dịch vụ môi trường trong trường hợp tiếp cận các nguồn tài nguyên sinh học, thụ hưởng vẻ đẹp cảnh quan, hấp thụ carbon, cung ứng nguồn nước. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Võ Thị Kim Tuyến (2018), “Cơ sở lí luận của pháp luật về phát triển dịch vụ môi trường”, Tạp chí Luật học, Số 10. Bài viết đưa ra các khái niệm dịch vụ môi trường và phát triển dịch vụ môi trường; khái niệm, nguyên tắc và những nội dung cơ bản của pháp luật về phát triển dịch vụ môi trường.

Võ Thị Kim Tuyến (2017), “Một số cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến phát triển dịch vụ môi trường”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật, Số 11/2017. Bài viết đã đề cập và phân tích một số cam kết quốc tế của Việt Nam liên quan đến phát triển dịch vụ môi trường. Từ đó, đưa ra những đánh giá, nhận xét về khả năng đáp ứng các cam kết quốc tế về dịch vụ môi trường của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Đặng Thanh Sơn (2019), “Pháp luật về chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn đã trình bày những vấn đề lí luận và pháp luật về chi trả dịch vụ môi trường rừng. Phân tích thực trạng pháp luật về chi trả dịch vụ môi trường rừng tại Việt Nam; từ đó đưa ra phương hướng, giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về vấn đề này.

Tuy còn mới mẻ nhưng từ khi có cơ sở pháp lý, việc nghiên cứu và tổ chức áp dụng các quy định về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường đã được tích cực triển khai và đã đem lại những kết quả tác động tích cực ban đầu, cụ thể là:

Thứ nhất, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đưa ra các quan điểm về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường và đồng thời cũng đã chỉ ra các đặc điểm, vài trò và phân loại cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường được tác giả kế thừa và phát triển. Đây cũng là cơ sở lý luận làm tiền đề để tác giả tiếp tục phát triển các khái niệm về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường, pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường.

Thứ hai, các nghiên cứu nêu trên đã mô tả được một phần bức tranh tổng thể thực trạng pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường và thực trạng áp dụng pháp luật tại Việt Nam trong thời gian qua. Đồng thời các nghiên cứu cũng đã chỉ ra các cam kết quốc tế và pháp luật một số quốc gia trên thế giới về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường của Việt Nam để từ đó đưa ra những đánh giá sự phù hợp giữa các cam kết quốc tế đó với pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường của Việt Nam hay không để có sự điều chỉnh cho phù hợp.

Thứ ba, các bài viết, công trình nghiên cứu trên đã phần nào đưa ra được một số nhận định, đánh giá chung về thực trạng pháp luật về phát triển dịch vụ môi trường của Việt Nam và qua đó đóng góp một số giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường của Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

4.1. Đối tượng nghiên cứu

Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường cũng như thực tiễn hoạt động cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường tại tỉnh Bình Dương, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường.

4.2. Phạm vi nghiên cứu

  • Về nội dung nghiên cứu:

Luận văn tập trung nghiên cứu và đánh giá các văn bản pháp luật:

  • Luật môi trường năm 2020
  • Luật thương mại năm 2005, Luật giá năm 2012
  • Nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành về cung ứng dịch vụ đánh giá tác đông môi trường [Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường; Thông tư 02/2022/TT-BTNMT hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường…vvv].
  • Kinh nghiệm pháp luật quốc tế về cung ứng dịch vụ đánh giá tác đông môi trường.

Giới hạn về không gian và thời gian

  • Về không gian: Tỉnh Bình Dương
  • Về thời gian nghiên cứu: Giai đoạn năm 2016 đến năm 2021

5. Phương pháp nghiên cứu

  • Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn như sau:

Phương pháp logic được sử dụng chủ yếu ở chương 1: Trên cơ sở tham khảo những công trình nghiên cứu khoa học trước đó, để hệ thống hoá những vấn đề lý luận dựa trên các quy định của pháp luật, giáo trình, sách chuyên khảo và bài viết được đăng trên một số báo và tạp chí chuyên ngành. Từ đó, học viên làm rõ các khái niệm, cơ sở lý luận và mở rộng hơn các vấn đề liên quan đến pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường.

Phương pháp phân tích: Được sử dụng trong suốt quá trình thực hiện Luận văn; bao quát trong tất cả các chương, mục của Luận văn để phát hiện, luận giải thuyết phục về các nội dung liên quan đến chủ đề luận văn.

Phương pháp luật học so sánh: được tác giả sử dụng trong Luận văn nhằm so sánh pháp luật hiện hành và pháp luật quốc tế để đối chiếu các quan điểm của các tổ chức quốc tế về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường và kinh nghiệm xây dựng và thực hiện pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường của các nước trên thế giới để từ đó gợi mở cho Việt Nam.

Phương pháp tổng hợp: Được sử dụng trong toàn bộ luận văn, trên cơ sở các tài liệu đã phân tích, so sánh, học viên sử dụng phương pháp này để tổng hợp, khái quát lại những vấn đề đã nêu ra, làm cơ sở để đề xuất những kiến nghị hoàn thiện PL về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Phương pháp thu thập và xử lý dữ liệu: Luận văn sẽ tiến thành thu thập dữ liệu về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường của các doanh nghiệp hoạt động tại tỉnh Bình Dương và các báo cáo của Sở tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương và các đơn vị trực thuộc Sở TN&MT từ năm 2016 đến năm 2020.

6. Đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn

  • Về mặt khoa học

Trong bối cảnh hiện nay, có thể coi luận văn là công trình khoa học pháp lý nghiên cứu có tính chất hệ thống pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường ở Việt Nam. Những kết luận và đề xuất, kiến nghị mà luận văn nêu ra có cơ sở khoa học và thực tiễn đối với các cơ quan lập pháp và hành pháp trong việc xây dựng và thực thi pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường.

  • Về mặt thực tiễn

Kết quả nghiên cứu của luận văn có thể được dùng cho việc nghiên cứu, giảng dạy tại các viện, trường đào tạo chuyên ngành luật hoặc làm tài liệu nghiên cứu cho các tổ chức, cá nhân có nhu cầu tìm hiểu.

7. Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Danh mục viết tắt; phần chính của luận văn có 02 chương và những nội dung cơ bản sau:

  • Chương 1: Một số vấn đề lý luận pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường
  • Chương 2: Thực trạng áp dụng pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường trên địa bàn Tỉnh Bình Dương và kiến nghị hoàn thiện

CHƯƠNG 1. MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN PHÁP LUẬT VỀ CUNG ỨNG DỊCH VỤ ĐÁNH GIÁ TÁC ĐỘNG MÔI TRƯỜNG

1.1. Tổng quan về đánh giá tác động môi trường

1.1.1. Khái niệm và đặc điểm đánh giá tác động môi trường

Dưới góc nhìn lịch sử việc Hoa Kỳ thông qua Đạo luật chính sách MT (National Environment Protection Act- NEPA) vào năm 1969 chính là thời điểm đánh dấu cho sự thừa nhận và ra đời của ĐTM. Lý do chấp nhận việc chọn thời điểm ra đời của ĐTM ở trên là vì bản thân “môi trường” và tầm quan trọng của nó được con người nhận thức từ rất lâu nhưng vấn đề Bảo vệ môi trường cũng mới chỉ được nhắc đến và đặt ra kể từ cuối những năm 60 đầu những năm 70 của thế kỷ XX. Ở thời điểm này, vấn đề MT sống của con người trở thành một vấn đề chính trị có tầm quan trọng trong xã hội, đòi hỏi các Nhà nước phải có đường lối để định rằng tất cả những kiến nghị quan trọng ở cấp Liên Bang về luật pháp, các DA và các quy định hoạt động kinh tế, kỹ thuật lúc đưa ra xét duyệt để được Nhà nước chấp thuận phải kèm theo một báo cáo tường tận về tác động đến MT. Bản hướng dẫn kèm theo luật trình bày một cách chi tiết mục đích, yêu cầu, nội dung, cách thực hiện báo cáo ĐTM. Tiếp theo Hoa Kỳ, nhiều nước như Nhật Bản (1972), Canada, Australia (1974), CHLB Đức (1975), Anh (1988) đã lần lượt ban hành những đạo luật hoặc quy định ở mức độ chặt chẽ khác nhau về ĐTM. Trong những năm 1970-1980, một số nước đang phát triển đã ban hành những quy định về ĐTM. Trong khu vực Châu Á – Thái Bình Dương, các nước như Philippines (1977), Hàn Quốc (1981), Indonesia (1982), Thái Lan (1984),… đều đã có những quy định chính thức hoặc tạm thời về ĐTM và đã thực sự tiến hành nhiều báo cáo ĐTM cho các hoạt động phát triển của mình. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Có thể thấy từ khi ĐTM mới bắt đầu được thừa nhận và hình thành, đã được rất nhiều quốc gia xem xét, áp dụng. Tuy nhiên, yêu cầu đối với ĐTM, thủ tục thực hiện có sự khác nhau giữa các quốc gia và thường thể hiện ở những điểm sau: Loại DA phải ĐTM; vai trò của cộng đồng trong ĐTM; thủ tục hành chính; các đặc trưng lược duyệt.

Đánh giá tác động môi trường (Environmental Impact Assessment – EIA) là một thuật ngữ được sử dụng khá rộng rãi và có thể được xem xét dưới nhiều góc độ khác nhau. Xét dưới góc độ quản lý, nó được coi là một biện pháp quản lý nhà nước (QLNN) về môi trường (MT), xét dưới góc độ khoa học, nó là những nghiên cứu về mối liên hệ, những tác động biện chứng giữa các hoạt động phát triển và các khía cạnh MT. Với tư cách là một khái niệm pháp lý, đánh giá tác động môi trường (ĐTM) là hệ thống các quan hệ pháp luật (PL) hình thành giữa cơ quan QLNN với các tổ chức, cá nhân thực hiện các hoạt động phát triển trong việc khảo sát và đánh giá các tác động của các hoạt động phát triển đó đối với các yếu tố MT.

ĐTM thực ra là một công việc rất mới, nhưng đã thu được những kết quả to lớn. Nhiều người trong chúng ta tưởng đã hiểu rõ bản chất của công việc này, song có lẽ mỗi người chỉ nắm bắt được một vài khía cạnh cơ bản của ĐTM. Một số điểm có thể thống nhất được về công việc này đó là: “ĐTM là quá trình xác định khả năng ảnh hưởng đến MT xã hội và cụ thể là đến sức khoẻ của con người. Từ đó đánh giá tác động đến các thành phần MT vật lý, sinh học, kinh tế – xã hội nhằm giúp cho việc đưa ra quyết định một cách hợp lý và logic. ĐTM còn cố gắng đưa ra biện pháp nhằm giảm thiểu những tác động có hại, kể cả việc áp dụng các biện pháp thay thế.

Cho đến nay, vẫn chưa có một định nghĩa đầy đủ, bao quát về ĐTM. Có thể nêu ra một số định nghĩa để chứng tỏ tính đa dạng của thuật ngữ này.

Theo quan điểm của Liên hợp Quốc thì “ĐTM là một đánh giá cho tất cả những ảnh hưởng MT cũng như những ảnh hưởng xã hội liên quan, có thể phát sinh từ một dự án (DA)”.

Định nghĩa này cho thấy ĐTM không chỉ xem xét những ảnh hưởng về mặt MT tự nhiên (đất, nước, không khí,…) mà nó còn xem xét những tác động đến mặt xã hội (kinh tế, văn hoá, giáo dục,…). Như vậy, phạm vi yêu cầu ĐTM phải làm là rất rộng, điều này là cần thiết nhưng nó rất phức tạp, không dễ thực hiện. Trong khi đó, đối tượng có thể gây ra những ảnh hưởng cần xem xét, đánh giá thì định nghĩa chỉ nêu một cách chung chung “một dự án” như vậy là quá hẹp. Định nghĩa lại không đề cập đến các đối tượng có thể gây ra tác động lớn hơn, như một kế hoạch, quy hoạch, một chương trình phát triển,…

ĐTM là một sự kiểm tra có hệ thống những hậu quả về MT của các DA, các chính sách, các kế hoạch và chương trình. So với định nghĩa trên, định nghĩa vừa nêu thu hẹp phạm vi và mở rộng đối tượng cần xem xét. Nó đặt ra yêu cầu là việc đánh giá các hậu quả về MT phải có tính hệ thống, tức là các yếu tố bị ảnh hưởng phải được xem xét trong một thể thống nhất, từng loại tác động cần phải được cân nhắc về mức độ, tầm quan trọng, các khía cạnh không gian, thời gian và cả mối tương tác qua lại giữa chúng đối với MT. Tuy nhiên, định nghĩa chỉ xem ĐTM như là một “sự kiểm tra” nên cũng không thể hiện đúng bản chất, vai trò của ĐTM đó là xem xét, phân tích, đánh giá các tác động để dự báo các hậu quả về MT có thể xảy ra nhằm hạn chế, ngăn ngừa chúng. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

ĐTM là một quy trình để xác định, dự báo và mô tả cái lợi và những hậu quả của một sự phát triển được dự kiến bằng những thuật ngữ thích hợp. Để trở nên có ích, việc đánh giá cần phải được truyền đạt bằng những thuật ngữ mà cộng đồng và những người làm quyết định có thể hiểu được. Những cái lợi và hậu quả phải được xác định trên cơ sở những tiêu chuẩn thích hợp với quốc gia có DA.

Khác với hai quan điểm trên, định nghĩa này đã thể hiện được vai trò của ĐTM cũng như những yêu cầu khi thực hiện ĐTM. Nó không phải là một công việc độc lập mà là cả một quy trình với nhiều giai đoạn, nhiều bước thực hiện; mỗi giai đoạn, mỗi bước lại được tiến hành khác nhau. Hơn nữa, quy trình này không những dự báo hậu quả của tác động mà còn xác định cái lợi của các tác động đó nhằm cân nhắc về mọi mặt để có quyết định hợp lý hơn. Đồng thời, quy trình này còn phải phù hợp với điều kiện của từng quốc gia và đảm bảo cho sự tham gia của cộng đồng. Nhưng hạn chế của định nghĩa là không nêu rõ sẽ dự báo, đánh giá những mặt lợi, hại trong lĩnh vực nào (mà ở đây cần quy định là những ảnh hưởng về MT). Đó là chưa nói đến việc định nghĩa quá dài, khó nhớ.

Dưới góc độ luật thực định thì Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đã đưa ra định nghĩa về ĐTM như sau: “Đánh giá tác động môi trường là quá trình phân tích, đánh giá, nhận dạng, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư và đưa ra biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường”.

  • Từ sự phân tích trên, cần xác định các đặc điểm khi phân tích khái niệm ĐTM như sau:

ĐTM là một quá trình và là một khâu trong hoạt động kiểm soát ô nhiễm Nói đến kiểm soát ô nhiễm MT là nói đến “quá trình phân tích, dự báo, kiểm tra, xử lý nhằm ngăn chặn việc gây ô nhiễm MT từ các nguồn gây ô nhiễm”. Quá trình này bao gồm nhiều hoạt động từ phân tích, dự báo, đánh giá hiện trạng MT, dự báo ô nhiễm MT trong tương lai đến hoạt động kiểm tra để chúng ta xử lý các chất thải, xử lý các hành vi vi phạm PL trong việc kiểm soát ô nhiễm MT; nhằm mục đích chung là ngăn chặn việc gây ô nhiễm MT từ các nguồn gây ô nhiễm. Và MT ở đây chỉ nên hiểu bao gồm yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo như đã đề cập ở trên.

Quá trình ĐTM phải gắn liền với việc dự liệu, phòng ngừa Vì mục đích của ĐTM bao giờ cũng là lường trước những rủi ro mà yếu tố tác động có thể gây ra cho MT. Điều này xuất phát từ hậu quả lâu dài và ảnh hưởng sâu rộng của chất lượng MT đến tính mạng, sức khoẻ của nhiều người nếu công tác ĐTM không được dự liệu trước hoặc dự liệu không đầy đủ. Ngược lại, mỗi bước, mỗi khâu trong toàn bộ quá trình ĐTM được gắn liền với việc dự liệu, phòng ngừa thì việc khắc phục những hậu quả (nếu có) từ sự tác động này sẽ phát huy hiệu quả rất nhiều. Vì thế, các nhà nghiên cứu MT cho rằng “cách tiếp cận theo phương châm phòng ngừa đang được ưu tiên và trở thành cách tiếp cận chủ yếu ở hầu hết các nước phát triển”.

ĐTM phải đi đôi với việc đưa ra các biện pháp giảm thiểu tác động. Từ chỗ dự liệu được những tác động thì phải có biện pháp giảm thiểu tác động. Mục đích của công việc này là tìm kiếm những phương thức tiến hành tốt nhất, nhằm loại bỏ hoặc tối thiểu hoá các tác động có hại và phát huy sử dụng tối đa những tác động có lợi đồng thời đảm bảo cho cộng đồng (hoặc cá thể) không phải chịu chi phí vượt quá lợi ích, lợi nhuận do DA mang lại hoặc họ nhận được. Để đạt được mục đích này, các biện pháp giảm thiểu tác động phải được thực hiện đúng thời điểm và cách thức như được nêu trong báo cáo ĐTM.

1.1.2. Mục đích và ý nghĩa của đánh giá tác động môi trường Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

  • Mục đích của biện pháp đánh giá tác động môi trường

Mặc dù ra đời chính thức chưa lâu, nhưng thuật ngữ ĐTM đã được sử dụng rộng rãi trên thế giới. Điều đó chứng tỏ khả năng áp dụng công cụ này vào công tác Bảo vệ môi trường ở mỗi quốc gia và trên toàn thế giới. Để thấy rõ hơn điều này, ta xét kỹ hơn tới mục đích và ý nghĩa của ĐTM.

Với định nghĩa đã nêu, ta có thể thấy rõ mục tiêu cuối cùng của ĐTM là ngăn chặn những tác động có thể gây ô nhiễm MT, suy thoái MT nhằm Bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn tài nguyên thiên nhiên, các giá trị đời sống xã hội bằng việc sử dụng chúng một cách hợp lý. Có thể nói, hoạt động ĐTM có những mục đích cơ bản sau:

  • Một là, ĐTM nhằm xác định, dự báo, ngăn ngừa những ảnh hưởng tiềm năng đến MT, xã hội và sức khoẻ con người. Nói cách khác, ĐTM là một trong những công cụ hữu hiệu để thực hiện giải pháp phòng ngừa.

Tiến hành ĐTM là xem xét các ảnh hưởng tới MT nói chung của một hoạt động. Nội dung đầu tiên mà ĐTM phải thực hiện là mô tả, đánh giá hiện trạng của MT nơi dự kiến đặt DA. Sau đó, lựa chọn những hoạt động có khả năng ảnh hưởng đến MT để xem xét, phân tích về tác động trực tiếp, gián tiếp, tác động lâu dài,… và sự tương tác qua lại của các tác động đó. Đây chính là cơ sở để các nhà đầu tư, các nhà quản lý thấy trước được hậu quả sẽ xảy ra cho MT, dự báo được mức độ và quy mô ảnh hưởng của hoạt động đó. Chẳng hạn như việc thực hiện DA “Đầu tư khai thác, chế biến đá xây dựng mỏ Tây Nam núi Mavieck 1, xã Phước Ninh, huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận (công suất khai thác: 250.000m3/năm)” thì sẽ phát sinh bụi, khí thải hoặc chất thải nguy hại gây ảnh hưởng đến sức khỏe và sinh hoạt về lâu về dài cho các hộ dân sinh sống gần đó. Dự báo là cơ sở cho phòng ngừa. Do đó, ĐTM đã giúp con người tiên liệu trước các tác động xấu đến MT thì con người phải đưa ra các biện pháp khắc phục hoặc ngăn ngừa các tình huống xấu có thể xảy ra một cách phù hợp. Trước tiên, đây chính là trách nhiệm của chủ cơ sở, chủ DA. Họ phải xây dựng các thiệt bị xử lý chất thải hay đầu tư sử dụng các công nghệ tiên tiến gần gũi với MT,… tùy thuộc vào khả năng, điều kiện của mình để lựa chọn các giải pháp thích hợp. Chính vì vậy mà trong nội dung của báo cáo ĐTM, ở phần cuối luôn phải có kiến nghị và đề xuất để giảm thiểu tác động MT.

  • Hai là, ĐTM đảm bảo gắn sự phát triển KT-XH với việc Bảo vệ môi trường, hay nói cách khác là tạo ra sự phát triển bền vững. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

ĐTM phải được đặt trong một thể thống nhất của yêu cầu phát triển và không được đối lập với sự phát triển. Chỉ khi đặt việc ĐTM trong sự thống nhất với các hoạt động phát triển KT-XH thì mới có thể tạo ra được sự quan tâm thực sự của Nhà nước, của tổ chức, cá nhân tới việc Bảo vệ môi trường. Các biện pháp giảm thiểu tác động của MT trong trường hợp này sẽ trở thành một bộ phận của kế hoạch phát triển. ĐTM phải thật sự là công cụ giúp cho việc lựa chọn quyết định. Như đã đề cập, thực chất của ĐTM là cung ứng tư liệu đã được cân nhắc, phân tích một cách khoa học về những lợi ích và tổn hại tiềm tàng về tài nguyên MT để các cơ quan có thẩm quyền ra quyết định có điều kiện lựa chọn phương án phát triển một cách hợp lý hơn, chính xác hơn.

Trong bối cảnh hiện nay, con người đã có nhận thức cao hơn về MT nên khi tiến hành bất kì một hoạt động phát triển nào, luật pháp các nước đều đòi hỏi phải đánh giá toàn diện về những hậu quả sẽ xảy ra cho MT từ những hoạt động đó, kết quả đánh giá phải được ghi nhận lại trong báo cáo ĐTM. Để kết luận được hoạt động đó có được phép tiến hành hay không, đòi hỏi báo cáo ĐTM phải được các cơ quan có thẩm quyền về MT thẩm định, phê duyệt. Quá trình thẩm định là việc các cơ quan này phải xem xét, cân nhắc giữa lợi ích kinh tế từ một DA phát triển với mức độ nguy hại cho MT của nó. Nếu việc lựa chọn phương án giảm thiểu là của các chủ DA và các nhà tư vấn thì việc quyết định áp dụng phương án nào hay phải thay đổi, sử dụng biện pháp khác thuộc thẩm quyền của người ra quyết định. Do đó, việc thẩm định cũng như việc lập báo cáo ĐTM phải do những người có chuyên môn thực hiện. Vì thế, kết quả thẩm định luôn cho ra một quyết định trong đó lợi ích MT, mục tiêu Bảo vệ môi trường luôn được xem xét, cân nhắc với hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất, DA đầu tư.

  • Ba là, ĐTM giúp đưa quy định của pháp luật về MT trở nên hoàn thiện và có tính thực thi cao.

Việc tiến hành ĐTM cũng như thẩm định báo cáo ĐTM đều phải do những nhà khoa học, nhà quản lý MT hay những người có chuyên môn về MT thực hiện. Chính những người này trong quá trình áp dụng những QĐPL sẽ phát hiện ra những điểm còn thiếu sót, bất cập chưa được quy định. Họ sẽ có sự so sánh, đối chiếu giữa QĐPL về MT với điều kiện thực tế, khả năng của các đối tượng cũng như xu hướng phát triển, đổi mới trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường các nước. Từ đó, có sự đầu tư nghiên cứu, tìm tòi, học hỏi PL của các quốc gia tiến bộ, phù hợp với điều kiện nước nhà để kiến nghị, đề xuất với cơ quan quản lý nhà nước (QLNN) có thẩm quyền về Bảo vệ môi trường nhằm bổ sung, hoàn thiện những QĐPL về MT hiện hành.

Bên cạnh đó, ĐTM nhằm dự đoán, ngăn chặn trước những tác động xấu đối với MT của các hoạt động nên mục tiêu Bảo vệ môi trường đã được thực hiện ngay từ giai đoạn đầu, không để tình trạng ô nhiễm xảy ra rồi mới tiến hành khắc phục, bảo vệ. ĐTM cho phép các chủ DA, cơ sở biết được các tác hại MT trong hoạt động của mình để tự đề xuất biện pháp giảm thiểu trên cơ sở quy định và yêu cầu của PL, phù hợp với điều kiện, khả năng thực có của cơ sở, DA; cơ quan có thẩm quyền không áp đặt. Một khi phương án của họ được cơ quan thẩm định chấp nhận thì ý thức tự giác tuân thủ phương án đó của chủ cơ sở, DA càng cao. Và họ buộc phải thực hiện vì nếu vi phạm nghĩa vụ này, gây ô nhiễm MT thì phải chịu trách nhiệm vật chất và có thể phải đóng cửa ngưng hoạt động. Quy định nghĩa vụ ĐTM tức là Nhà nước đòi hỏi các chủ thể phải quan tâm đến nghĩa vụ thực hiện các QĐPL về ĐTM. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

1.2.2.2. Ý nghĩa của đánh giá tác động môi trường

Qua phân tích mục đích của ĐTM nhận thấy rõ ý nghĩa to lớn của nó trong sự phát triển chung của nhân loại, thể hiện ở chỗ ĐTM là công cụ quản lý MT quan trọng. Song, nó không nhằm thủ tiêu, loại trừ, gây khó dễ cho phát triển KT-XH như nhiều người nghĩ mà hỗ trợ phát triển theo hướng đảm bảo hiệu quả kinh tế và Bảo vệ môi trường. ĐTM có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, điều này thể hiện ở những phương diện sau đây:

  • Một là, ĐTM giúp chúng ta xem xét nhiều vấn đề quan trọng, đặc biệt là công nghệ xử lý chất thải và giám sát MT.

ĐTM có thể tiến hành theo nhiều phương án của hoạt động phát triển, so sánh lợi hại của các tác động theo những phương án đó, trên cơ sở đó kiến nghị việc lựa chọn một phương án phù hợp cả yêu cầu phát triển và Bảo vệ môi trường. Chính vì thế, ĐTM góp phần loại trừ hoặc hạn chế các tác động xấu của DA tới MT. ĐTM không xem xét các DA một cách riêng lẻ mà đặt chúng trong xu thế phát triển chung của khu vực, của quốc gia và rộng hơn là toàn thế giới. Khi đánh giá một DA cụ thể, bao giờ cũng xét thêm các DA, phương án thay thế, nghĩa là xét đến các DA có thể cho cùng đầu ra, nhưng có công nghệ sử dụng khác nhau hoặc đặt ở vị trí khác. Hơn nữa ở mỗi một khu vực luôn có chất lượng MT “nền”, mà khi đặt DA vào cần phải cân nhắc kỹ, tránh gây tác hại tích lũy ở mức độ cao cho một khu vực.

  • Hai là, ĐTM sẽ góp phần cung ứng các tư liệu khoa học cần thiết cho việc quyết định phát triển, giúp kết hợp các mặt công tác trong Bảo vệ môi trường trong thời gian dài.

Trước kia, khi xem xét để đưa ra các quyết định phát triển, chúng ta thường chủ yếu dựa vào sự phân tích hợp lý, khả thi và tối ưu của các điều kiện kinh tế, kỹ thuật, còn các yếu tố MT thường bị bỏ qua hoặc không được coi trọng đúng mức. ĐTM sẽ giúp các cơ quan phê duyệt DA đưa ra được các quyết định đúng đắn để đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển và Bảo vệ môi trường. Mọi tác động được tính đến không chỉ qua mức độ mà còn theo khả năng tích lũy, khả năng kéo dài theo thời gian.

  • Ba là, ĐTM giúp Nhà nước, các cơ sở và cộng đồng có mối liên hệ chặt chẽ hơn đồng thời góp phần ràng buộc trách nhiệm pháp lý của các cơ sở, chủ DA. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Các đóng góp của cộng đồng trước khi DA được đầu tư, hoạt động có thể nâng cao mối liên hệ cộng đồng và đảm bảo hiệu quả đầu tư. Nó góp phần nâng cao trách nhiệm của các cấp quản lý, các chủ DA đến việc Bảo vệ môi trường. Đồng thời ĐTM liên kết được các nhà khoa học ở các lĩnh vực khác nhau, nhằm giải quyết công việc chung là đánh giá mức độ tác động MT của DA, giúp cho người ra quyết định chọn được DA phù hợp với mục tiêu Bảo vệ môi trường. ĐTM cũng phát huy được tính công khai của việc lập, thực thi DA và ý thức của cộng đồng trong việc tham gia ĐTM nói riêng và Bảo vệ môi trường nói chung.

Bên cạnh đó, một trong những nội dung quan trọng của quá trình ĐTM đó là hoạt động giám sát sau khi đã triển khai thực hiện DA. Hoạt động này giúp cho cơ quan có thẩm quyền xem xét trong hoạt động của mình, cơ sở có vi phạm những gì mà họ đã cam kết trong báo cáo ĐTM đã được xét duyệt hay không. Việc thực hiện ĐTM tốt có thể đóng góp cho sự phát triển thịnh vượng trong tương lai. Thông qua các kiến nghị của ĐTM thì việc sử dụng tài nguyên sẽ được xem xét một cách thận trọng hơn, giảm được nguy cơ và sự đe dọa của suy thoái MT ảnh hưởng đến sức khỏe con người và hệ sinh thái.

Chính vì những mục đích và ý nghĩa nêu trên nên ĐTM được xem như một trong những công cụ mang tính thủ tục quan trọng nhất trong lĩnh vực Bảo vệ môi trường. ĐTM thường là một yêu cầu trước khi những kế hoạch phát triển được cơ quan QLNN có thẩm quyền thông qua. Nếu cơ quan QLNN có thẩm quyền không chấp thuận, DA phát triển cũng sẽ bị từ chối triển khai.

1.2. Pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

1.2.1. Khái niệm, nguyên tắc pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường

  • Khái niệm pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường

Cho đến nay trên thế giới chưa có một định nghĩa thống nhất về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường (Dịch vụ ĐTM) mà chủ yếu được nghiên cứu thông qua các quan điểm về dịch vụ môi trường; bởi Điều 144 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định: “ Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ môi trường trong các lĩnh vực sau đây:…., đánh giá tác động môi trường”.

Hiện tại, trong phân ngành dịch vụ của WTO, dịch vụ môi trường nằm trong số 12 lĩnh vực thuộc Danh mục phân ngành dịch vụ (W120). Tuy nhiên, WTO cũng chưa đưa ra được định nghĩa chính xác về từng ngành dịch vụ cho nên nhiều cam kết trong khuôn khổ WTO được thực hiện dựa trên sự phân loại và định nghĩa của Hệ thống phân loại sản phẩm trung tâm của Liên Hợp Quốc (CPC). Mỗi ngành dịch vụ trong WTO đều tương ứng với một mã CPC nhất định. Như vậy, dịch vụ môi trường được xem là một trong 12 ngành dịch vụ theo sự phân loại của CPC. Theo định nghĩa của OECD về Dịch vụ môi trường như sau: “Dịch vụ môi trường là những dịch vụ được cung ứng nhằm quản lý, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu hoặc khắc phục những thiệt hại về môi trường nước, không khí, đất, cũng như giải quyết nh ng vấn đề liên quan đến chất thải, tiếng ồn và hệ sinh thái”. Theo khái niệm này, Dịch vụ môi trường sẽ bao gồm: (i) việc quản lý ô nhiễm hoặc xây dựng, lắp đặt thiết bị để quản lý ô nhiễm, (ii) cung ứng công nghệ và sản phẩm sạch hơn và (iii) cung ứng các công nghệ và sản phẩm nhằm giảm bớt những rủi ro môi trường, giảm thiểu ô nhiễm và việc sử dụng các nguồn lực.

Dưới góc nhìn so sánh, pháp luật Hoa Kỳ định nghĩa Dịch vụ môi trường là các hoạt động dịch vụ tạo ra doanh thu, liên quan đến việc tuân thủ các quy định về môi trường, đánh giá môi trường, phân tích môi trường, bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải, phục hồi môi trường, cung ứng các tài nguyên môi trường như nước, vật liệu có thể tái sinh, và năng lượng; và các hoạt động cải thiện hiệu quả năng lượng và tài nguyên, tăng năng suất, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; hoặc Cộng đồng Châu Âu đề xuất mở rộng phạm vi Dịch vụ môi trường, bao gồm toàn bộ vòng đời sử dụng nước (water cycle) và bảo vệ bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Cách định nghĩa này hiện nhận được sự ủng hộ của Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Canada và Nhật Bản. Ngoài ra, Diễn đàn Thương mại và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD) mô tả Dịch vụ môi trường bao hàm 4 nhóm chính: (1) dịch vụ hạ tầng môi trường (cốt lõi), gồm quản lý nước và quản lý chất thải; (2) các dịch vụ như thiết kế, xây dựng, lắp đặt, vận hành; (3) phục hồi gồm làm sạch địa điểm, phản ứng khẩn cấp đối với các sự cố, phục hồi, đánh giá; và (4) dịch vụ hỗ trợ môi trường gồm phân tích, giám sát, luật pháp, tham vấn, kiểm toán, nghiên cứu và phát triển (R&D). Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Ở Việt Nam hiện nay, khác với Luật Bảo vệ môi trường trước đây thì tại khoản 1 Điều 144 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 đữa đưa ra định nghĩa thống nhất về Dịch vụ môi trường được hiểu là ngành kinh tế cung ứng dịch vụ đo lường, kiểm soát, hạn chế, phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; xử lý chất thải, các chất ô nhiễm khác; bảo tồn đa dạng sinh học và các dịch vụ khác có liên quan. Đồng thời, Luật cũng nhấn mạnh quan điểm về phát triển dịch vụ môi trường của Nhà nước theo hướng: “Nhà nước có chính sách phát triển thị trường dịch vụ môi trường; thúc đẩy tự do hóa thương mại đối với dịch vụ môi trường theo lộ trình phù hợp với cam kết quốc tế; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, cung ứng dịch vụ môi trường”.

Từ các phân tích trên có thể hiểu ”Cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường là một bộ phận của dịch vụ môi trường nhằm cung ứng các dịch vụ về phân tích, đánh giá, nhận dạng, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư và đưa ra biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường qua đó bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người”.

Theo Giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật của trường Đại học Luật Hà Nội thì Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự chung do Nhà nước đặt ra hoặc thừa nhận và bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội theo mục đích, định hướng của Nhà nước. Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ có tác dụng rất lớn trong việc Bảo vệ môi trường. Do vậy mà pháp luật dịch vụ môi trường ra đời nhằm điều chỉnh các quan hệ trong xã hội phù hợp với ý chí của Nhà nước trong việc Bảo vệ môi trường sống của con người. Trong khoa học pháp lý thì Pháp luật về dịch vụ môi trường bao gồm các nguyên tắc pháp lý, các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh giữa các chủ thể trong quá trình cung ứng các dịch vụ nhằm giữ gìn, phòng ngừa, hạn chế, ứng phó, khắc phục hoặc xử lý các tác động xấu đến môi trường, qua đó bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người”.

Từ khái niệm về dịch vụ ĐTM và Pháp luật về dịch vụ môi trường nêu trên, tác giả cho rằng, pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM là một phần của Pháp luật về dịch vụ môi trường và được hiểu như sau: “Pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM bao gồm các nguyên tắc pháp lý, các quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ phát sinh giũa các chủ thể trong quá trình cung ứng các dịch vụ về phân tích, đánh giá, nhận dạng, dự báo tác động đến môi trường của dự án đầu tư và đưa ra biện pháp giảm thiểu tác động xấu đến môi trường qua đó bảo vệ một cách có hiệu quả môi trường sống của con người”.

Như vậy, quan hệ mà pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM điều chỉnh gồm: (1) Nhóm quan hệ giữa Nhà nước với đơn vị cung ứng dịch vụ ĐTM hoặc giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ ĐTM; (2) Nhóm quan hệ giữa đơn vị cung ứng dịch vụ ĐTM với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ ĐTM với nhau. Trong đó, nhóm quan hệ thứ nhất mang tính chất của pháp luật hành chính thể hiện qua mối quan hệ giữa cơ quan quản lý nhà nước về môi trường đối với các tổ chức, cá nhân trong xã hội trong việc thực hiện các nghĩa vụ về báo cáo đánh giá tác động môi trường. Nhóm quan hệ này mang tính mệnh lệnh, kiểm soát là chủ yếu. Ví dụ như các quy định về cấp phép hoạt động dịch vụ ĐTM, thanh tra, kiểm tra xử lý các vi phạm pháp luật về quản lý chất lượng dịch vụ ĐTM…Nhóm quan hệ pháp luật thứ hai mang tính chất của pháp luật dân sự, thương mại, được thể hiện qua quan hệ ký kết, thỏa thuận hợp đồng giữa đơn vị cung ứng dịch vụ ĐTM với tổ chức, cá nhân sử dụng dịch vụ ĐTM với nhau, tùy thuộc vào tính chất của từng mối quan hệ mà có sự điều chỉnh phù hợp. Nhóm quan hệ này mang tính chất bình đẳng, tự do thỏa thuận, phù hợp với ý chí của các bên trong quan hệ hợp đồng tư vấn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; Như vậy có thể thấy, pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM vừa thuộc lĩnh vực của luật công, vừa thuộc lĩnh vực của luật tư.

  • Nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường
  • Thứ nhất, Nguyên tắc bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Quyền được sống trong môi trường trong lành là một quyền con người cơ bản đã được ghi nhận trong Tuyên bố về môi trường con người năm 1972 tại Stockhom, Thủy Điển và được củng cố trong Tuyên bố về môi trường và phát triển năm 1992 tại Rio de Janeiro, Braxin. Ở Việt Nam, quyền được sống trong môi trường trong lành được nhắc lần đầu tiên trong Lời nói đầu của Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 và được quy định tại Điều 43 của Hiến pháp năm 2013: “Mọi người có quyền được sống trong môi trường trong lành và có nghĩa vụ bảo vệ môi trường. Hiện nay, quyền được sống trong môi trường trong lành đã chính thức trở thành nguyên tắc của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển nhanh về kinh tế – xã hội đi đôi với đó là vấn đề ô nhiễm môi trường nghiêm trọng không được kiểm soát kịp thời, điều này dẫn đến quyền được sống trong môi trường trong lành của con người luôn có nguy cơ bị đe dọa bởi chính những hành vi có khả năng gây hại cho môi trường của con người. Do dó, nhu cầu cần Nhà nước can thiệp để Bảo vệ môi trường là điều tất yếu nhằm thay đổi hành vi của mỗi cá nhân, tổ chức trong xã hội theo hướng có lợi cho môi trường sống. Một trong những biện pháp Bảo vệ môi trường mà Nhà nước sử dụng đó là ban hành pháp luật về BVTM nói chung, pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM nói riêng.

Nguyên tắc này thể hiện ở chỗ: (1) Nhà nước phải ban hành và tổ chức thực hiện có hiệu quả các quy định pháp luật về Bảo vệ môi trường nói chung có liên quan đến cung ứng dịch vụ ĐTM; (2) Nhà nước có trách nhiệm quản lý, thanh tra, kiểm tra, xử lý các vi phạm pháp luật về Bảo vệ môi trường nói chung, dịch vụ ĐTM nói riêng; (3) Các tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm phạm pháp luật về Bảo vệ môi trường đều phải bị xử lý theo quy định của pháp luật; (4) Các chủ thể bị xâm phạm quyền này có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền bảo vệ và đòi bồi thường theo trình tự, thủ tục pháp luật quy định.

  • Thứ hai, Nguyên tắc bảo đảm phát triển bền vững

Nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững được định nghĩa là sự phát triển đáp ứng nhu cầu hiện tại không gây nguy hại tới khả năng tự đáp ứng nhu cầu của các thế hệ tương lai. Phát triển bền vững hướng tới việc tập trung những nỗ lực bảo vệ môi trường nhằm cải thiện điều kiện sống của con người. Nguyên tắc phát triển bền vững được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 1980 trong ấn phẩm Chiến lược bảo tồn thế giới, được công bố bởi Hiệp hội Bảo tồn thiên nhiên và tài nguyên thiên nhiên quốc tế, với nội dung như sau: “Sự phát triển của nhân loại không thể chỉ chú trọng tới phát triển kinh tế mà còn phải tôn trọng những nhu cầu tất yếu của xã hội và sự tác động đến môi trường sinh thái học”. Nguyên tắc phát triển bền vững sau đó cũng xuất hiện trong Tuyên bố Stockholm về môi trường và con người 1972 với nội dung yêu cầu chính sách môi trường của các quốc gia phải làm tốt hơn và không ảnh hưởng tiêu cực đến tiềm năng phát triển hiện tại và tương lai của các nước đang phát triển (nguyên tắc số 11). Ngoài ra, nguyên tắc phát triển bền vững cũng được đề cập tại nguyên tắc số 12 của Tuyên bố Rio về môi trường và phát triển 1992: “Các quốc gia cần hợp tác để phát huy một hệ thống kinh tế toàn cầu và giúp đỡ lẫn nhau trong việc hướng đến sự phát triển kinh tế bền vững ở tất cả các quốc gia”. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Ở Việt Nam, Nhà nước đã có quan điểm thống nhất về phát triển bền vững là “Kiểm soát, hạn chế về cơ bản mức độ gia tăng ô nhiễm môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học; tiếp tục cải thiện chất lượng môi trường sống; nâng cao năng lực chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, hướng tới mục tiêu phát triển bền vững đất nước” được đặt ra trong Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030; và được luật hóa trong các đạo Luật Bảo vệ môi trường năm 2005, 2014, và 2020. Về cơ bản các tiêu chí của sự phát triển bền vững được đưa ra trong các luật nếu trên tương đối thống nhất đó là bảo đảm sự phát triển kinh tế, sự Bảo vệ môi trường và sự thỏa mãn các yêu cầu cuộc sống của con người. Xuất phát từ hoạt động của doanh nghiệp gắn liền với việc khai thác và sử dụng các tài nguyên bao gồm cả tài nguyên có thể tái tạo (tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tài nguyên thủy sản…) và tài nguyên không thể tái tạo (nhiên liệu hóa thạch, kim loại và khoáng sản); đồng thời hoạt động của doanh nghiệp là tác nhân chủ yếu gây ra các gây ô nhiễm, suy thoái môi trường nghiêm trọng và cạn kiệt nguồn tài nguyên.

Cung ứng dịch vụ ĐTM nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng sẽ là một trong những trụ cột quan trọng cấu thành nên phát triển bền vững. Nguyên tắc này được thể hiện ở chỗ: (1) Nhà nước phải ban hành các quy định pháp luật về điều kiện hoạt động đối với các tổ chức, cá nhân cung ứng dịch vụ ĐTM để qua đó đảm bảo được chất lượng của Dịch vụ môi trường; (2) Nhà nước phải ban hành hệ thống quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường để làm cơ sở cho các chủ thể trong xã hội xác định được ngưỡng giới hạn chịu đựng của môi trường, nếu vượt ngưỡng cho phép sẽ gây hại cho môi trường để từ đó các chủ thể có thể tiến hành các hoạt động ĐTM phù hợp theo quy định của pháp luật về Bảo vệ môi trường; (3) Các chủ nguồn phát thải phải thực hiện các biện pháp phòng ngừa, phát hiện ngăn chặn các nguồn gây ô nhiễm môi trường do mình gây ra bằng việc tự mình thực hiện hoặc thuê đơn vị cung ứng dịch vụ ĐTM thực hiện

  • Thứ ba, Nguyên tắc phòng ngừa

Đây là nguyên tắc nhất quan trong chính sách, và pháp luật Bảo vệ môi trường của Việt Nam đã được khẳng định qua các thời kỳ khác nhau. Điển hình, Quyết định số 1216/QĐ-TTg của TTCP phê duyệt Chiến lược Bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 ghi nhận: “Ưu tiên phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm; coi trọng tính hiệu quả, bền vững trong khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên; chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học; từng bước phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường; tăng cường năng lực ứng phó với biến đổi khí hậu. Chính vì vậy, trách nhiệm phòng ngừa ÔNMT của doanh nghiệp được quy định trong tất cả Luật Bảo vệ môi trường qua các phiên bản và các văn bản pháp luật khác có liên quan (Bộ luật hàng hải năm 2015; Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017).

Trong Luật Bảo vệ môi trường thì phòng ngừa ÔNMT là một trong các nguyên tắc, phương châm Bảo vệ môi trường được ghi nhận tại Điều 4 của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020: “Hoạt động BVTM phải được tiến hành thường xuyên, công khai, minh bạch; ưu tiên dự báo, phòng ngừa ô nhiễm”. Phòng ngừa ÔNMT là nguyên tắc được ưu tiên hàng đầu trong Bảo vệ môi trường; “phòng ngừa ÔNMT” chính là việc doanh nghiệp chủ động ngăn chặn rủi ro đối với môi trường khi chưa xảy ra trên thực tế. Điều này xuất phát từ 2 lý do cơ bản sau đây: (i) chi phí phòng ngừa bao giờ cũng nhỏ hơn chi phí khắc phục sự cố ÔNMT; và (ii) Những tổn hại gây ra cho môi trường là không thể khắc phục triệt để được mà chỉ có thể phòng ngừa ÔNMT

  • Thứ tư, Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền”, còn gọi là PPP (The Polluter Pays Principle), đã trở nên phổ biến tại nhiều nước trên thế giới trong những năm gần đây, khi vấn đề môi trường đang ngày càng trở thành mối quan tâm hàng đầu đối với sự phát triển bền vững của hầu hết các quốc gia. Trong thời gian qua, khi con người nhận thức được rõ hơn rằng hoạt động sản xuất của nền kinh tế thế giới đang ngày càng gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, tác động tiêu cực đến điều kiện sống của toàn nhân loại, thì PPP được xem như là một nguyên tắc thể hiện việc áp dụng công cụ kinh tế để quản lý và giải quyết các vấn đề môi trường. Ở các nước, PPP được sử dụng là một công cụ chính thức để kiểm soát các hoạt động ảnh hưởng tới môi trường của các chủ thể. Ở Việt Nam, pháp luật về môi trường vẫn là một lĩnh vực còn khá mới mẻ, các chính sách về môi trường cũng như pháp luật về môi trường đều song hành với các nguyên tắc cơ bản, trong đó, PPP cũng được xem xét trong việc quản lý và cố gắng hạn chế các tác động tiêu cực của các chủ thể vào môi trường.

PPP ra đời xuất phát từ quan điểm cho rằng, môi trường là một loại hàng hóa đặc biệt. Khi khai thác, sử dụng môi trường thì các chủ thể phải trả tiền. Nhà nước đứng ra để bán quyền tác động đó. Kinh tế chính trị học định nghĩa hàng hóa là sản phẩm của quá trình lao động, được sản xuất ra để trao đổi mua bán nhằm đáp ứng nhu cầu nào đó của con người. Hàng hóa luôn có hai thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng. Ta thấy rằng môi trường đáp ứng yêu cầu của người mua (những người gây ô nhiễm) về số lượng và chất lượng, cho nên nó có giá trị sử dụng. Và giá trị của môi trường được tạo ra bởi các chi phí cho việc khắc phục, cải thiện nó. Vì thế môi trường cũng là hàng hóa, nhưng là một loại hàng hóa đặc biệt, vì môi trường mang tính cộng đồng, mọi người đều khai thác, sử dụng. Các chủ thể phải trả tiền khi có hành vi khai thác, sử dụng các yếu tố môi trường (tiền bỏ ra để mua quyền khai thác, sử dụng, quyền tác động đến môi trường). Người được hưởng lợi từ việc trả giá này là toàn thể cộng đồng và nhà nước đại diện đứng ra thu tiền và sử dụng tiền để tiếp tục đảm bảo việc bảo vệ môi trường (BVMT).

PPP còn được xác lập trên cơ sở những ưu điểm của công cụ kinh tế trong Bảo vệ môi trường. Công cụ kinh tế, có thể được hiểu một cách đơn giản là những cách thức mà qua đó Chính phủ có thể thay đổi hành vi ứng xử của người dân nhằm mục tiêu Bảo vệ môi trường. PPP có một hệ thống các công cụ kinh tế nhằm tác động vào chi phí và lợi ích trong hoạt động của các chủ thể để họ thay đổi hành vi ứng xử theo chiều hướng có lợi cho môi trường. Các công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên những nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường với mục đích điều hòa xung đột giữa phát triển kinh tế và Bảo vệ môi trường. Công cụ kinh tế là những phương tiện, chính sách có tác dụng làm thay đổi chi phí và lợi ích của những hoạt động kinh tế thường xuyên gây tác động đến môi trường, nhằm mục đích tăng cường ý thức trách nhiệm của các chủ thể trước việc gây ra những tổn hại đến môi trường. Các công cụ kinh tế sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp chủ động có kế hoạch Bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp luật thông qua việc lồng ghép chi phí Bảo vệ môi trường vào chi phí sản xuất, kinh doanh và giá thành sản phẩm. Công cụ kinh tế hoạt động theo cơ chế giá cả trên thị trường, thông qua việc thực hiện các hoạt động môi trường có thể giúp nâng cao hoặc hạ thấp chi phí, từ đó mà ảnh hưởng đến lợi nhuận của các doanh nghiệp. Công cụ kinh tế còn tạo ra khả năng lựa chọn cho các chủ thể cách ứng xử sao cho phù hợp với những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể, hướng tới mục tiêu Bảo vệ môi trường.

Thực tế tại Việt Nam cho thấy, nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả chi phí để xử lý, khắc phục hậu quả, cải tạo và phục hồi môi trường được thể hiện rõ trong các quy định pháp luật về phí, thuế Bảo vệ môi trường như phí xử lý nước thải; phí thu gom, xử lý rác thải sinh hoạt, rác thải công nghiệp; đánh thuế môi trường đối với các sản phẩm, hàng hóa có khả năng gây hại cho môi trường hoặc giá Dịch vụ môi trường được thỏa thuận trong hợp đồng cung ứng dịch vụ như dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM được ký kết giữa các đơn vị cung ứng Dịch vụ môi trường với tổ chức, cá nhân có nhu cầu sử dụng Dịch vụ môi trường. Theo đó, các tổ chức, cá nhân khi sử dụng, khai thác hay tác động đến các thành phần môi trường phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định theo quy định của pháp luật hoặc theo thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ nhằm xử lý, khắc phục, cải tạo và phục hồi các thành phần môi trường về với trạng thái ban đầu hoặc nhằm phòng ngừa những hậu quả xấu tác động tới môi trường. Đây cũng là một trong những công cụ kinh tế hữu hiệu nhất hiện nay mà Nhà nước áp dụng nhằm Bảo vệ môi trường nói chung và phát triển dịch vụ ĐMT nói riêng. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

1.2.2. Nội dung cơ bản pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường

Hiện nay, trên thế giới chưa có khái niệm chung và thống nhất về dịch vụ ĐTM. Do đó, nội dung cơ bản của pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM cũng sẽ có nhiều quan điểm khác nhau tùy thuộc vào chế độ chính trị và trình độ phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia trong từng giai đoạn phát triển. Trên cơ sở khái niệm và nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM đã được nêu ở trên. Tác giả cho rằng, nội dung cơ bản của pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM bao gồm 4 nhóm vấn đề chính sau đây:

  • Thứ nhất, các quy định pháp luật về chính sách bảo vệ môi trường liên quan đến cung ứng dịch vụ ĐTM

Nội dung của pháp luật về chính sách Bảo vệ môi trường nói chung liên quan đến dịch vụ ĐTM dựa trên nguyên tắc bảo đảm quyền được sống trong môi trường trong lành và nguyên tắc đảm bảo phát triển bền vững, theo đó bao gồm những quy định sau:

Những quy định pháp luật về Bảo vệ môi trường mà thông qua đó Nhà nước tác động trực tiếp hay gián tiếp đến ý thức, trách nhiệm Bảo vệ môi trường của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội để họ tự giác hoặc bắt buộc phải tuân theo pháp luật về Bảo vệ môi trường, thông qua việc sử dụng dịch vụ ĐTM như là một giải pháp để đáp ứng các yêu cầu về Bảo vệ môi trường. Có thể kể đến một số quy định pháp luật về đối tượng bắt buộc phải thực hiện ĐTM. Đây chính là biện pháp kích cầu thị trường Dịch vụ môi trường phát triển.

Những chính sách pháp luật về Bảo vệ môi trường mà thông qua đó Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để các thành phần kinh tế trong xã hội thành lập các đơn vị cung ứng dịch vụ ĐTM nhằm tăng nguồn cung cho thị trường, đồng thời qua đó giải quyết được các vấn đề môi trường. Đó là những quy định pháp luật về chính sách xã hội hóa hoạt động Bảo vệ môi trường; chính sách thành lập một số tổ chức, doanh nghiệp có vốn đầu tư của Nhà nước đủ mạnh để giải quyết những vấn đề môi trường lớn, bức xúc; chính sách khuyến khích, hỗ trợ đầu tư vào lĩnh vực môi trường ở những vùng có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn; chính sách người gây ô nhiễm phải trả chi phí để xử lý, khắc phục hậu quả, cải tạo và phục hồi môi trường; chính sách người được hưởng lợi từ tài nguyên, môi trường phải có nghĩa vụ đóng góp để đầu tư trở lại cho Bảo vệ môi trường…vvv. Đây chính là biện pháp kích cung cho thị trường Dịch vụ môi trường phát triển.

  • Thứ hai, các quy định pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ cung ứng dịch vụ ĐTM

Bao gồm những quy định pháp luật mà Nhà nước ban hành để hỗ trợ và tạo điều kiện thuận lợi cho các tổ chức, cá nhân thành lập các doanh nghiệp, tổ chức cung ứng dịch vụ ĐTM hoạt động và phát triển. Qua đó nhằm tăng số lượng cung cho thị trường dịch vụ ĐTM, đáp ứng ngày càng cao nhu cầu sử dụng dịch vụ ĐTM của mọi tổ chức, cá nhân trong xã hội.

  • Thứ ba, Các quy định pháp luật về quản lý chất lượng dịch vụ ĐTM

Đây là những quy định pháp luật mang tính chất quản lý hành chính nhà nước, trong đó các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường sử dụng các biện pháp nghiệp vụ quản lý như cấp phép, thanh tra, kiểm tra, kiểm soát hoạt động của các đơn vị cung ứng dịch vụ ĐTM nhằm phát hiện, ngăn chặn và xử lý kịp thời các hành vi vi phạm về điều kiện hoạt động c ng như không đảm bảo chất lượng của dịch vụ ĐTM. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

  • Thứ tư, Các quy định pháp luật về giá dịch vụ ĐTM

Trong nền kinh tế thị trường, để một ngành dịch vụ nào đó phát triển thì điều quan trọng tiên quyết đó chính là giá dịch vụ. Giá phải phù hợp với chất lượng c ng như nhu cầu của thị trường. Do đó, những quy định pháp luật về giá dịch vụ ĐTM sẽ tạo động lực cho thị trường Dịch vụ môi trường phát triển, thu hút các nguồn lực đầu tư vào lĩnh vực Dịch vụ môi trường, đồng thời nhằm hướng tới việc áp dụng đầy đủ giá dịch vụ ĐTM theo nguyên tắc thị trường, trong đó, người gây ô nhiễm phải trả chi phí để xử lý, khắc phục hậu quả, cải tạo và phục hồi môi trường; người hưởng lợi từ tài nguyên và môi trường phải có nghĩa vụ đầu tư trở lại cho Bảo vệ môi trường.

1.3. Kinh nghiệm pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường của một số quốc gia trên thế giới

Thứ nhất, Nhà nước cần tiếp tục đẩy mạnh sử dụng các công cụ kinh tế để khuyến khích đầu tư vào cung ứng dịch vụ ĐTM, trong đó chú trọng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về giá dịch vụ ĐNT theo cơ chế thị trường.

Để thu hút các nguồn lực đầu tư từ các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước vào phát triển Dịch vụ môi trường, Chính phủ cần ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể việc áp dụng các công cụ kinh tế trong lĩnh vực môi trường nói chung, cung ứng dịch vụ ĐTM nói riêng nhằm tạo một cơ chế thị trường cho vay vốn ưu đãi, giảm thuế thu nhập doanh nghiệp và tăng nguồn thu cho doanh nghiệp qua giá dịch vụ ĐTM. Ví dụ: Chính phủ Trung Quốc đã ban hành chính sách cho vay vốn ưu đãi cung ứng dịch vụ ĐTM và chính sách ưu đãi về thuế thu nhập đối với doanh nghiệp cung ứng dịch vụ ĐTM; Liên minh châu Âu thực hiện hỗ trợ tài chính cho doanh nghiệp dưới nhiều hình thức khi gặp khó khăn trong thực hiện chính sách môi trường, khoảng 20% tổng chi phí cần thiết, một số nước sử dụng biện pháp trợ giá để cung ứng dịch vụ ĐTM. Qua đó, thu hút các doanh nghiệp tư nhân đầu tư vào cung ứng dịch vụ ĐTM. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Thứ hai, Thiết lập các kênh thông tin chính thức và tăng cường vai trò của các cơ quan quản lý nhà nước nhằm hỗ trợ về nghiên cứu thị trường và truyền thông về dịch vụ môi trường.

Hiện nay trên thế giới có một số nước đã ban hành luật về thông tin môi trường ví dụ như “Environmental Information Act” được ban hành cho toàn thể các nước thuộc cộng đồng chung châu Âu hay “Freedom of information Act” của Mỹ. Các điều luật tại các nước có những điểm khác nhau, tuy nhiên chúng có chung những tiếp cận cơ bản như sau: Mọi người dân đều có quyền được biết, tiếp nhận, cập nhật các thông tin môi trường mới nhất từ các cơ quan liên quan. Qua kinh nghiệm của các nước trên thế giới, đặc biệt là kinh nghiệm của Đức có thể thấy rằng việc tìm hiểu và phát triển thị trường Dịch vụ môi trường cùng với các chương trình truyền thông nâng cao nhận thức về môi trường là rất quan trọng đối với sự phát triển Dịch vụ môi trường. Sau đây là một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam:

Một là, Xây dựng và hoàn thiện khung pháp lý về việc tiếp cận các thông tin môi trường, có thể bắt đầu từ một số cơ quan chuyên trách về quản lý môi trường như: Tổng cục Môi trường của Bộ Tài nguyên và Môi trường (TN&MT), Sở TN&MT các tỉnh.

Hai là, Thành lập đơn vị trực thuộc Bộ TN&MT có chức năng nghiên cứu và phát triển thị trường dịch vụ môi trường. Đơn vị này sẽ đảm nhiệm các báo cáo hàng năm phân tích về thị trường Dịch vụ môi trường, đưa ra xu hướng phát triển và các thông tin về chính sách có liên quan. Các Báo cáo này sẽ được công bố miễn phí trên các Website chính thức của Bộ TN&MT để đảm bảo mọi tổ chức, cá nhân có thể tìm hiểu thông tin liên quan trước khi quyết định đầu tư phát triển Dịch vụ môi trường.

Ba là, Chính phủ cần hỗ trợ và đầu tư mạnh mẽ hơn nữa cho các chương trình truyền thông về môi trường. Các chương trình này nên được tổ chức thường niên và trên phạm vi toàn quốc nhằm giải đáp các vướng mắc trong việc áp dụng các chính sách pháp luật của Nhà nước về phát triển Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng; từ đó tìm ra các giải pháp thích hợp để áp dụng hiệu quả trong thực tiễn. Bộ TN&MT là cơ quan chủ trì tổ chức và phối hợp với các cơ quan hữu quan để mời một số thành phần gồm các doanh nghiệp có liên quan, các chuyên gia, các nhà lập pháp trong lĩnh vực kinh tế và môi trường.

Bố là, Trước mắt có thể áp dụng ngay mô hình Trung tâm thông tin lưu trữ (tương tự Ngân hàng Thế giới) áp dụng cho tất cả các tỉnh với yêu cầu chủ đạo: tất cả các báo cáo, tài liệu dự án, đặc biệt là báo cáo ĐTM cần được công bố để tất cả người dân, doanh nghiệp có thể tiếp cận và tìm hiểu. Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Năm là, Chuẩn hóa các hệ thống ghi chép, thu nhận, đo đạc thông tin, đặc biệt là đối với các thông tin/dữ liệu môi trường nền ở các địa phương. Tạo cơ chế tiếp cận, sử dụng và thừa kế thông tin hiệu quả, giảm lãng phí và tăng tính minh bạch đối với thông tin. Các cơ quan cung ứng thông tin sẽ chịu sự giám sát chất lượng của toàn xã hội và sẽ phải tự cải thiện hiệu quả hoạt động để đáp ứng yêu cầu mới.

Thứ ba, Tăng cường đầu tư cho nghiên cứu và phát triển ngành Công nghiệp môi trường; nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao các công nghệ khoa học tiên tiến.

Một trong những yếu tố then chốt để cung ứng dịch vụ ĐTM đó là phải phát triển khả năng nghiên cứu, tiếp cận với các công nghệ môi trường tiên tiến, qua đó giảm giá thành chi phí, tăng tính cạnh tranh. Chẳng hạn tại Hàn Quốc, các xu hướng chính trong nghiên cứu khoa học về ĐTM được tóm tắt trong báo cáo của Kim Taehyoung cho thấy từ năm 2008 đến 2012 riêng Viện Môi trường Hàn Quốc đã công bố 106 bài báo trong đó có đến 57 nghiên cứu về ĐTM (chiếm 53,8%). Số lượng công trình nghiên cứu về các vấn đề môi trường đặc thù tăng nhanh và chiếm đến 70,4% tổng số công trình về ĐTM, trong khi số công trình về kỹ thuật ĐTM chỉ chiếm 18,9%.

Thứ tư, Tuyên truyền, giáo dục và nâng cao ý thức trách nhiệm của nhà đầu tư, doanh nghiệp đối với môi trường sống để họ tự giác thực hiện hoặc thuê đơn vị cung ứng dịch vụ ĐTM

Qua nghiên cứu kinh nghiệm của các nước có ngành Dịch vụ môi trường phát triển có thể thấy rằng, ý thức của nhà đầu tư, doanh nghiệp là điều kiện tiên quyết quyết định sự thành công của loại hình dịch vụ này. Ví dụ điển hình là các nước Châu Âu như Thủy Điển, Hà Lan, Đan Mạch, Phần Lan, ở Châu Á có Singapore…

Kết luận Chương 1

Trong phạm vi nội dung nghiên cứu Chương 1 của Luận văn, tác giả đã giải quyết được các vấn đề sau đây:

Một là, phân tích và làm rõ khái niệm, đặc điểm và vai trò của đánh giá tác động môi trường

Hai là, phân tích và làm rõ khái niệm, nguyên tắc điều chỉnh pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường

Ba là, làm rõ các nội dung cơ bản của pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường dưới các khía cạnh: (i) Quy định pháp luật về chính sách bảo vệ môi trường liên quan đến cung ứng dịch vụ ĐTM; (ii) Quy định pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ cung ứng dịch vụ ĐTM; (iii) Quy định pháp luật về quản lý chất lượng dịch vụ ĐTM; (iv) Quy định pháp luật về giá dịch vụ ĐTM.

Bên cạnh đó, luận văn đã đề xuất một số gợi mở cho pháp luật Việt Nam trên cơ sở phân tích pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường của một số quốc gia trên thế giới

Các nội dung được phân tích, luận giải tại Chương 1 là cơ sở lý thuyết nền tảng để tác giả tiếp tục triển khai việc phân tích các nội dung tại tại Chương 2 Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường

One thought on “Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464