Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về đánh giá tác động môi trường

3.1.1 Về nội dung chính của báo cáo đánh giá tác động môi trường

Dưới góc độ luật thực định thì Điều 32 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định về nội dung chính của ĐTM nhưng vẫn còn chung chung, giải pháp bảo vệ môi trường còn mơ hồ, chưa rõ trách nhiệm cụ thể của chủ dự án trong việc lựa chọn công nghệ, giải pháp để xử lý chất thải phát sinh kể từ khi xây dựng đến khi dự án đi vào hoạt động chính thức. Việc đánh giá môi trường tự nhiên, xã hội còn rất sơ sài và hầu như không có đánh giá tác động của dự án đến các thành phần môi trường này; đánh giá tác động đa dạng sinh học hiện đang bị xem nhẹ hoặc đang bị lảng tránh trong các báo cáo ĐTM. Mặt khác, nội dung báo cáo ĐTM hiện nay đang dùng chung cho tất cả các loại hình cơ sở là không bảo đảm tính đặc thù và tính chất ô nhiễm của các ngành công nghiệp, vì vậy, cần xem xét, quy định các ngành công nghiệp gây ô nhiễm môi trường phải có các hướng dẫn kỹ thuật riêng.

Đồng thời cần bổ sung tiêu chí “nhận biết, đánh giá, dự báo tác động của các dự án và đề xuất các biện pháp giảm thiểu, quản lý rủi ro đến sức khỏe cộng đồng” bởi thực tế trong thời gian vừa qua, việc xác định, đánh giá, dự báo tác động đến sức khỏe cộng đồng của các dự án chưa được chú trọng, dẫn đến việc thực hiện các nội dung theo cam kết tại báo cáo ĐTM được phê duyệt chưa cao. Mặt khác, cần nghiên cứu, bổ sung nội dung và đánh giá tác động môi trường đối với việc đóng cửa nhà máy hay kết thúc dự án (tương tự như dự án khai thác khoáng sản) bởi các dự án sử dụng hóa chất khi kết thúc dự án thì vấn đề môi trường sẽ được đánh giá hoặc có giải pháp thế nào cũng cần phải quy định cụ thể.

3.1.2 Về tham vấn trong đánh giá tác động môi trường

Nghiên cứu cho thấy, các quy định hiện hành về tham vấn trong quá trình đánh giá tác động môi trường chỉ phù hợp với các dự án nhỏ, sự tác động đến môi trường tự nhiên và xã hội không nhiều. Do vậy, để bảo đảm việc tham vấn có hiệu quả, đặc biệt là đối với các dự án lớn, ảnh hưởng sâu sắc đến môi trường, dân cư và sự phát triển bền vững, làm cơ sở đánh giá tác động môi trường chính xác, khoa học, đồng thời tạo sự đồng thuận trong cộng đồng dân cư, pháp luật cần sửa đổi, bổ sung một số quy định về tham vấn. Cần quy định rõ những đối tượng chịu tác động trực tiếp từ dự án. Với những dự án lớn, thuộc thẩm quyền phê duyệt của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đối tượng chịu tác động trực tiếp phải tính đến cấp huyện, tỉnh, bao gồm liên huyện, liên tỉnh. Việc xác định phạm vi về không gian của đánh giá tác động môi trường là vùng xem xét, đánh giá hiện trạng, tác động môi trường và không bị giới hạn bởi ranh giới hành chính của dự án. Phạm vi đối tượng được tham vấn về báo cáo đánh giá tác động môi trường không chỉ có chính quyền cấp xã, tổ chức xã hội, cộng đồng dân cư mà còn tham vấn các chuyên gia, các nhà khoa học chuyên ngành, nhà nghiên cứu, các trường đại học nhằm đảm bảo tính khách quan, khoa học và toàn diện. Cho phép các tổ chức, cá nhân quan tâm đến dự án và sự phát triển bền vững của địa phương được tham gia tham vấn. Những người đại diện cho tổ dân phố, thôn, bản phải là những người am hiểu đặc điểm tự nhiên địa bàn thực hiện dự án, có những kiến thức nhất định về lĩnh vực ngành nghề dự án triển khai. Trong trường hợp không có ai đáp ứng được yêu cầu đó, cộng đồng dân cư có quyền được mời người có đủ điều kiện để tham gia tham vấn Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Không những thế, để việc tham vấn trở thành hoạt động có ý nghĩa, góp phần nâng cao chất lượng đánh giá tác động môi trường, pháp luật cần mở rộng phạm vi tham vấn, theo đó không chỉ tham vấn kết quả đánh giá tác động môi trường mà tham vấn cả quá trình và biện pháp thực hiện đánh giá tác động môi trường. Công tác tham vấn cộng đồng cần được tiến hành nhiều lần (tối thiểu là hai lần) đối với nhóm các dự án quy mô lớn, nhạy cảm về môi trường. Điều này xuất phát từ đặc điểm tham vấn báo cáo đánh giá là công việc cần kiến thức ở trình độ chuyên sâu, thuộc nhiều ngành khoa học tự nhiên, xã hội và công nghệ, có khối lượng lớn, nội dung đa ngành, đa dạng, đòi hỏi thời gian, nhân lực, kinh phí, phương thức làm việc rất khác nhau đối với từng loại dự án. Mục đích của tham vấn không nhằm phản đối dự án mà giúp nhà đầu tư thu thập thông tin từ nhiều bên, giảm rủi ro cho dự án đầu tư của họ, đồng thời Bảo vệ môi trường tốt nhất.

Do đó, Pháp luật cũng xác định rõ trách nhiệm của chủ dự án trong việc tham vấn, thời gian, quy trình cụ thể nhằm bảo đảm việc tham vấn được thực hiện thực chất và hiệu quả. Xây dựng cơ chế làm việc độc lập cho các chuyên gia, các nhà khoa học và những người được mời tham vấn.

Lần tham vấn thứ nhất thực hiện trước khi tiến hành đánh giá tác động môi trường, chủ dự án trực tiếp trình bày cụ thể về dự án, về quá trình tiến hành đánh giá tác động môi trường, dự báo ban đầu về những tác động của dự án đến môi trường và dân cư để chính quyền địa phương và Nhân dân nắm rõ về dự án và nghiên cứu, tìm hiểu về dự án, về các tác động của dự án.

Lần tham vấn thứ hai tiến hành sau khi lập xong báo cáo đánh giá tác động môi trường và bắt buộc chủ dự án phải gửi báo cáo đánh giá tác động môi trường cho cộng đồng dân cư nghiên cứu trước khi tiến hành cuộc họp. Vì bất cứ sự ô nhiễm, suy thoái hay sự cố môi trường nào xảy ra thì đối tượng phải gánh chịu những thiệt hại đầu tiên chính là cộng đồng sống trong môi trường đó, do vậy, cộng đồng dân cư có quyền được biết một cách đầy đủ về dự án chuẩn bị được triển khai ở nơi mình sinh sống và đưa ra những ý kiến, những kinh nghiệm thực tiễn về đất đai, thổ nhưỡng, giúp phát hiện những nguy cơ tiềm ẩn về mặt môi trường mà dự án gây Chủ dự án có trách nhiệm trực tiếp giải trình đối với những ý kiến đóng góp của Nhân dân và trong trường hợp những ý kiến phản biện, phân tích có căn cứ, chủ dự án cần nghiên cứu, đánh giá và có những điều chỉnh phù hợp. Sự điều chỉnh này phải được cơ quan, tổ chức và cộng đồng dân cư thông qua trước khi chủ dự án hoàn thành báo cáo đánh giá tác động môi trường. Nếu cuối cùng, ý kiến những đối tượng được tham vấn và chủ dự án không thống nhất được với nhau thì mời cơ quan thẩm định độc lập thẩm định, xem xét. Kinh phí cho hoạt động này do chủ dự án và Nhà nước, trên cơ sở hỗ trợ cho người dân, chi trả. Cơ chế này bảo đảm nâng cao trách nhiệm của chủ dự án đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của Nhân dân và bảo đảm việc tham vấn hiệu quả.

3.1.3 Về thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Thứ nhất, Việc thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM các DA thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh do Sở Tài nguyên và MT tham mưu thực hiện. Tuy nhiên, Luật Bảo vệ môi trường 2020 chưa quy định việc UBND tỉnh ủy quyền cho Sở TN&MT thực hiện nhiệm vụ này. Do vậy, Khoản 3, Điều 35 Luật Bảo vệ môi trường cần bổ sung quy định về việc UBND tỉnh ủy quyền cho Sở Tài nguyên và MT thực hiện thẩm định và phê duyệt các báo cáo ĐTM đối với các DA thuộc thẩm quyền của UBND tỉnh.

Thứ hai, pháp luật Bảo vệ môi trường cần xem xét và đưa ra quy định nhằm đảm tính độc lập trong quá trình tiến hành thẩm định báo cáo ĐTM. Trong đó, cần đưa ra quy định về việc thành lập hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM độc lập và mang tính dài hạn. Hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM sẽ không phụ thuộc vào thủ trưởng người đứng đầu cơ quan phân cấp thẩm định thành lập, mà lúc này hội đồng thẩm định là một tổ chức độc lập. Đồng thời, các thành viên trong hội đồng thẩm định không phải là cán bộ đang công tác tại cơ quan được phân cấp thẩm định. Đặc biệt, tách bạch vai trò, vị trí, quyền hạn, nhiệm vụ của cơ quan được phân cấp thẩm định và cơ quan phê duyệt triển khai dự án, thay đổi quy định cơ quan được phân cấp thẩm định; đồng thời cũng là cơ quan tiến hành phê duyệt dự án như quy định hiện hành nhằm đảm bảo tính độc lập trong việc đưa ra ý kiến phân tích, xem xét và phản biện của hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM. Pháp luật cần đưa ra quy định hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM không hoạt động và giải thể ngay sau khi thông qua ý kiến mà hội đồng thẩm định này vẫn tiếp tục duy trì trong quá trình triển khai, vận hành dự án, đi vào hoạt động trong thực tế. Điều này nhằm góp phần nhằm đảm bảo vấn đề khi xảy ra sai phạm, sự cố môi trường đối với dự án đó, cơ quan điều tra có thể xác định được trách nhiệm trong xử lý sai phạm thuộc về chủ thể nào. Từ đó, đảm bảo yếu tố trách nhiệm bồi thường thiệt hại của chủ thể vi phạm và đảm bảo quyền lợi của bên chịu thiệt hại.

Thứ ba, cần thực hiện áp dụng nhiều hơn hình thức thẩm định thông qua việc lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức liên quan. Trong đó, nhấn mạnh việc bổ sung ý kiến của người dân sống xung quanh khu vực triển khai dự án hoặc những người dân chịu tác động trực tiếp khi thực hiện triển khai dự án trong thực tế. Không chỉ dừng lại việc lấy ý kiến tham vấn từ người dân và chỉ được thể hiện trong nội dung báo cáo ĐTM, lúc này cần xác định ý kiến từ ngươi dân sẽ là một trong những kênh thông tin quan trọng, thậm chí mang giá trị pháp lý trong vấn đề thông qua ý kiến của hội đồng thẩm định, vừa đảm bảo nguyên tắc dân chủ vừa đảm bảo việc đảm bảo nguyên tắc hài hòa lợi ích cá nhân và lợi ích tập thể, lợi ích trước mắt và lợi ích lâu dài, lợi kinh tế, xã hội và môi trường. Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.

3.1.4 Về phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường

Thứ nhất, Theo quy định tại Khoản 1, Điều 36 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 thì “Quyết định đầu tư đối với dự án đầu tư không thuộc đối tượng quy định tại các điểm a, b, c, d, đ và e Khoản 1 Điều 36.”, một số ý kiến thắc mắc rằng thực tế có những DA cần phải thực hiện cả 03 việc tại 03 thời điểm khác nhau (quyết định chủ trương đầu tư, 11/7/2022 cấp giấy chứng nhận đầu tư và cấp giấy phép xây dựng) thì Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM là căn cứ để thực hiện việc nào trong 03 việc nêu trên bởi quy định này liên quan đến thời điểm DA phải có báo cáo ĐTM được phê duyệt. Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM là căn cứ phê duyệt chủ trương đầu tư là không khả thi bởi thời điểm này chưa rõ nội dung của DA một cách chi tiết, đặc biệt khó khăn với các DA đầu tư công vì phê duyệt chủ trương chỉ với các nội dung mang tính nguyên tắc nên không biết phải thực hiện ĐTM như thế nào.

Về giá trị pháp lý của báo cáo ĐTM, báo cáo ĐTM chỉ nên là cơ sở để cơ quan có thẩm quyền ra Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM và không nên cho rằng báo cáo ĐTM có giá trị pháp lý tương đương với Quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM. Việc sử dụng báo cáo ĐTM đã được phê duyệt là căn cứ để xử phạt vi phạm hành chính là không phù hợp về mặt khoa học và về mặt thực tiễn. Lý do là báo cáo ĐTM là công cụ dự báo, phục vụ cho việc quyết định đầu tư, xây dựng của DA mà lại dùng cho các cơ sở đi vào hoạt động chính thức là không đúng với thực tế.

Thứ hai, Luật Bảo vệ môi trường 2020 hiện nay không có quy định về giám sát sau phê duyệt ĐTM (hậu thẩm). Do vậy, cần quy định rõ thẩm quyền, nội dung của hoạt động hậu thẩm để kịp thời phát hiện hành vi không tuân thủ của chủ DA và điều chỉnh các báo cáo ĐTM nếu cần thiết. Đây là nội dung quan trọng cần phải bổ sung và quy định cụ thể trong Luật Bảo vệ môi trường, đây là giai đoạn dễ gây ra sự cố MT và cần phải có quy định giám sát, kiểm soát ô nhiễm MT chi tiết, đặc biệt là giai đoạn vận hành thử nghiệm.

3.2. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.

3.2.1 Hoàn thiện quy định pháp luật về chính sách bảo vệ môi trường liên quan đến cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường

Thứ nhất, xác định rõ mục tiêu mà công cuộc cải cách Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng hướng tới là chất lượng dịch vụ chứ không phải là mức độ xã hội hóa. Xã hội hóa loại hình dịch vụ này chỉ là phương thức để đạt được chất lượng dịch vụ công mong muốn. Ở nhiều nước phát triển, xu thế chuyển giao dịch vụ công cho các tổ chức khu vực tư nhân ngày càng được áp dụng nhiều dưới những hình thức khác nhau. Nhà nước chỉ chịu trách nhiệm cung ứng những lĩnh vực mà khu vực tư nhân không hoặc chưa tham gia. Hiện nay tại Việt Nam, cung ứng Dịch vụ môi trường nói chung vẫn phụ thuộc phần lớn vào Nhà nước vì khu vực tư nhân chưa đủ năng lực để cung ứng tốt các dịch vụ này.

Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy một số doanh nghiệp trong khu vực tư nhân chú trọng nhiều đến lợi nhuận, luôn có xu hướng đẩy giá dịch vụ lên cao, các loại phí dịch vụ bị điều chỉnh tùy tiện, chất lượng dịch vụ yếu, cơ chế tài chính không minh bạch. Vẫn còn nhiều cơ sở tư nhân được thành lập dưới dạng tự phát nên khó kiểm soát chất lượng. Tình trạng kém chất lượng trong cung ứng dịch vụ không bắt nguồn từ việc xã hội hóa, song mức độ xã hội hóa ồ ạt, thiếu kiểm soát rõ ràng đã tác động tiêu cực đến quyền lợi của người thụ hưởng dịch vụ.

Thứ hai, muốn đảm bảo chất lượng Dịch vụ môi trường nói chung và ĐTM nói riêng, đồng thời mở rộng chuyển giao việc cung ứng dịch vụ cho khu vực tư nhân, Nhà nước cần phải có cơ chế thích hợp. Trước hết cần phải hoàn thiện pháp luật đồng bộ về bộ máy nhà nước, trao thẩm quyền cụ thể cho từng cơ quan thực hiện quản lý và cung ứng Dịch vụ môi trường nói chung và ĐTM nói riêng. Điều quan trọng là phải ban hành các quy chuẩn về chất lượng Dịch vụ môi trường nói chung và ĐTM nói riêng. Theo đó, quy định rõ Nhà nước sẽ can thiệp khi có những thay đổi khách quan như thay đổi mức phí, khi giá dịch vụ ĐTM cao hơn mặt bằng chung hoặc khi thực hiện chính sách xã hội…Chế độ chịu trách nhiệm phải được thực hiện nghiêm túc và thường xuyên. Cùng với việc đặt ra hệ thống tiêu chuẩn chất lượng thì trách nhiệm của mỗi cá nhân, tổ chức trong cung ứng Dịch vụ môi trường nói chung và ĐTM nói riêng phải được nâng cao. Nên đề cao trách nhiệm cá nhân đồng thời đặt ra cơ chế giải trình hợp lý. Như vậy, công tác kiểm soát, giám sát sẽ có hiệu quả hơn.

3.2.2 Hoàn thiện quy định pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Như đã đề cập, mặc dù Nghị định 08/2022/NĐ-CP quy định về các hình thức hỗ trợ ưu đãi đối với các doanh nghiệp phát triển dịch vụ môi trường nói chung từ Điều 132-134; bao gồm: (i) Hỗ trợ về đất đai; (ii) Ưu đãi về thuế, phí và lệ phí; (iii) Ưu đãi, hỗ trợ về vốn đầu tư; tuy nhiên dịch vụ ĐTM lại không thuộc phạm vi “danh mục hoạt động Bảo vệ môi trường được hỗ trợ ưu đãi” theo Phụ lục XXX ban hành kèm theo Nghị định 08/2022/NĐ-CP. Do đó, để tạo cơ sở pháp lý áp dụng các biện pháp ưu đãi, hỗ trợ cung ứng dịch vụ ĐTM thì cần bổ sung hoạt động cung ứng dịch vụ ĐTM thuộc phạm vi “danh mục hoạt động Bảo vệ môi trường được hỗ trợ ưu đãi” theo Phụ lục XXX ban hành kèm theo Nghị định 08/2022/NĐ-CP.

Phần lớn các doanh nghiệp tham gia cung ứng Dịch vụ môi trường nói chung và ĐTM nói riêng đều là những doanh nghiệp nhỏ và vừa, không đủ nguồn lực để tham gia giải quyết những vấn đề môi trường lớn và bức xúc. Trong khi đó, Nhà nước chưa có quy định pháp luật cụ thể để hỗ trợ thành lập các doanh nghiệp lớn, đủ mạnh tham gia cung ứng Dịch vụ môi trường. Mặc dù, trong các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước đều định hướng sẽ ưu tiên thành lập các doanh nghiệp nhà nước lớn, đủ mạnh để tham gia giải quyết những vấn đề môi trường lớn, phức tạp của đất nước. Song những chủ trương, chính sách này vẫn chỉ dừng lại ở những văn bản có tính chất định hướng là chính mà chưa được triển khai thực hiện trên thực tế. Do đó, tác giả kiến nghị Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần chủ động phối hợp với Bộ TN&MT để ban hành Thông tư quy định cụ thể về chính sách ưu đãi, hỗ trợ cung ứng dịch vụ ĐTM

3.2.3 Hoàn thiện quy định pháp luật về quản lý chất lượng dịch vụ đánh giá tác động môi trường

Thứ nhất, Bộ TN&MT cần phối hợp với các cơ quan có liên quan để ban hành các quy định về bồi dưỡng, đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề đối với cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ ĐTM

Thứ hai, hoàn thiện các quy định về chế tài xử phạt hành chính đối với các tổ chức cung ứng dịch vụ ĐTM vi phạm các quy định về điều kiện hoạt động, bảo đảm chất lượng Dịch vụ môi trường. Trong thời gian tới Bộ TN&MT cần tiến hành rà soát, bổ sung, hoàn thiện các quy định pháp luật về xử lý vi phạm đối với các doanh nghiệp hoạt động cung ứng dịch vụ ĐTM. Ngoài ra, cần bổ sung quy định về công bố công khai danh mục doanh nghiệp vi phạm các quy định pháp luật về chất lượng dịch vụ ĐTM, doanh nghiệp cung ứng thông tin không đúng với thực tế trong luật Bảo vệ môi trường cũng như văn bản hướng dẫn thi hành để tạo cơ sở pháp lý cho việc xử lý các vi phạm pháp luật có liên quan. Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.

3.2.4 Hoàn thiện pháp luật về giá dịch vụ đánh giá tác động môi trường

Tác giả kiến nghị, trong thời gian tới, Bộ Tài chính cần chủ trì, phối hợp với Bộ TN&MT xây dựng và ban hành các quy định nguyên tắc xác định giá dịch vụ ĐTM. Theo đó, giá dịch vụ ĐTM được xây dựng dựa trên nguyên tắc thị trường [người gây ô nhiễm phải trả chi phí để xử lý, khắc phục hậu quả, cải tạo và phục hồi môi trường]. Ngoài ra, Bộ Tài chính cần ban hành thông tư hướng dẫn thực hiện đơn giá Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng, trong đó cần chú ý các nguyên tắc chung sau đây:

  • Đối với trường hợp thực hiện theo hình thức đấu thầu thì giá dịch vụ ĐTM thực hiện theo giá trúng thầu.
  • Đối với trường hợp thực hiện theo mô hình hợp tác công tư thì giá dịch vụ ĐTM thực hiện theo nguyên tắc tính đúng, tính đủ các chi phí thực tế hợp lý tương ứng với chất lượng dịch vụ, có lợi nhuận (nếu có) phù hợp với mặt bằng giá thị trường và chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước trong từng thời kỳ.

Trường hợp không thực hiện theo đấu thầu mà thực hiện theo hình thức đặt hàng, giao kế hoạch sử dụng nguồn ngân sách nhà nước, thì tác giả dịch vụ ĐTM thực hiện theo quy định tại Luật Giá và các văn bản liên quan và pháp luật hiện hành về quản lý giá sản phẩm dịch vụ công ích, dịch vụ sự nghiệp công.

3.3. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường tại Tỉnh Bình Dương

3.3.1 Tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức và trách nhiệm cho các cấp, các ngành, địa phương, doanh nghiệp và cộng đồng dân cư về tầm quan trọng của hoạt động cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường

Hiện nay, công tác truyền thông, phổ biến giáo dục kiến thức pháp luật về phát triển Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng chưa đạt được hiệu quả như mong muốn. Nhận thức của người dân đối với vấn đề Bảo vệ môi trường còn chưa cao. Tuy nhiên, đây là giải pháp rất cần thiết và hiệu quả để hỗ trợ các giải pháp về chính sách, pháp luật được triển khai thành công, đồng thời đẩy mạnh việc triển khai thực hiện hiệu quả chủ trương kinh tế hoá trong phát triển Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng. Do đó, tác giả cho rằng cần tiến hành các giải pháp sau:

Thứ nhất, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến, giáo dục nâng cao nhận thức của cộng đồng về trách nhiệm Bảo vệ môi trường và tự giác thực hiện nghiêm các quy định của pháp luật về ĐTM theo nguyên tắc người gây ô nhiễm môi trường phải trả tiền, người hưởng lợi từ môi trường phải trả tiền. Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Thực tiễn cho thấy, trong giai đoạn 2011-2015, việc tổ chức các sự kiện môi trường như: Ngày Môi trường thế giới (05/6), Chiến dịch Làm cho thế giới sạch hơn (tuần thứ 3 tháng 9), Ngày Trái Đất (22/4), Ngày Đa dạng sinh học thế giới (22/5), Giải thưởng Môi trường Việt Nam, Liên hoan phim môi trường…vvv; ngày càng được nhiều Bộ, ngành và địa phương hưởng ứng với các hoạt động tuyên truyền thiết thực, hiệu quả, hình thức phong phú, hấp dẫn. Các hoạt động này đã góp phần nâng cao nhận thức cho các cấp, các ngành, các tổ chức chính trị – xã hội từ Trung ương đến địa phương, qua đó giúp triển khai có hiệu quả các nhiệm vụ Bảo vệ môi trường hàng năm. Hàng tháng, trên các phương tiện thông tin đại chúng đã có hàng trăm lượt tin, bài phản ánh đa dạng và chuyên sâu về các vấn đề môi trường; các cơ quan thông tấn báo chí đã dành thời lượng xứng đáng trong ngày, trong tuần cho các chuyên mục, chuyên trang, chương trình về môi trường; kịp thời phản ánh các hành vi gây ô nhiễm môi trường, sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, đồng thời nêu gương các tổ chức, cá nhân có thành tích tốt về Bảo vệ môi trường. Do đó, trong thời gian tới cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện công tác giáo dục, tuyên truyền, phổ biến để nâng cao nhận thức về Bảo vệ môi trường của người dân và doanh nghiệp. Từ ý thức của người dân và doanh nghiệp được nâng cao thì họ sẽ tự nguyện và sẵn sàng tuân thủ và thực hiện các quy định pháp luật về phát triển Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng

Thứ hai, tăng cường vai trò của các hiệp hội ngành nghề, tổ chức chính trị – xã hội trong công tác tuyên truyền, phổ biến kiến thức pháp luật về phát triển Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng. Đặc biệt là vai trò của Hiệp hội Công nghiệp môi trường Việt Nam có trách nhiệm tuyên truyền, nâng cao nhận thức và liên kết, hợp tác phát triển ngành công nghiệp môi trường. Nhiều hoạt động truyền thông, giáo dục môi trường của các tổ chức chính trị – xã hội không còn dừng lại ở mức nâng cao nhận thức mà đã tập trung vào tuyên truyền các phương pháp, kỹ năng thực hiện hành động Bảo vệ môi trường, thực hiện các mô hình truyền thông lồng ghép trong các dự án phát triển kinh tế – xã hội.

Thứ ba, tổ chức tập huấn, đào tạo cho cán bộ các cấp, doanh nghiệp, hiệp hội và các bên có liên quan về phát triển Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng. Xây dựng và tổ chức các chương trình truyền thông, các cuộc thi và trao giải về doanh nghiệp DVMT xuất sắc; phổ biến, nhân rộng các kết quả, công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến phát triển Dịch vụ môi trường. Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Thứ tư, cần lồng ghép hiệu quả hơn nội dung Bảo vệ môi trường vào các chương trình giáo dục ở tất cả các bậc học và nội dung đào tạo ở các cơ sở dạy nghề, cơ sở kinh doanh. Phải có chính sách khen thưởng, kỷ luật nghiêm minh đối với những cá nhân, tập thể nhằm tạo động lực và phát huy vai trò chủ đạo của người dân trong công tác Bảo vệ môi trường..

3.3.2 Giải pháp về nguồn lực hỗ trợ phát triển dịch vụ đánh giá tác động môi trường

So với các nước trong khu vực và trên thế giới, đầu tư cho Bảo vệ môi trường ở Việt Nam còn khá thấp. Nguồn kinh phí của Nhà nước chi cho sự nghiệp môi trường mới chỉ đạt 1% tổng chi ngân sách, trong khi đó, ở Trung Quốc và các nước ASEAN, đầu tư cho môi trường trung bình hàng năm chiếm từ 3% – 4% GDP. Do vậy, để bảo đảm nguồn lực cho hoạt động Bảo vệ môi trường ở nước ta trong thời gian tới, cần phải tăng mức đầu tư cho Bảo vệ môi trường, tăng cường vốn đầu tư phát triển cho Bảo vệ môi trường trong tổng chi ngân sách.

Như vậy, để huy động nguồn lực hỗ trợ phát triển Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng, tác giả kiến nghị các giải pháp sau:

Thứ nhất, Tiếp tục đẩy mạnh việc đa dạng hóa nguồn tài chính cho phát triển dịch vụ môi trường từ: ngân sách nhà nước; các dự án, chương trình tài trợ trong và ngoài nước; Quỹ Bảo vệ môi trường Việt Nam; Quỹ Bảo vệ môi trường địa phương huy động vốn từ cộng đồng (doanh nghiệp tư nhân), hợp tác công tư, từ nguồn kinh phí bồi thường thiệt hại của tổ chức, cá nhân; các nguồn vốn hợp pháp khác….

Thứ hai, Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước theo hướng bảo đảm hàng năm, tăng dần mức chi sự nghiệp Bảo vệ môi trường trên 1% tổng chi ngân sách nhà nước, đồng thời bổ sung quy định tỷ lệ chi từ nguồn thu thuế Bảo vệ môi trường được sử dụng để đầu tư trực tiếp cho công tác bảo vệ môi trường. Thực tiễn cho thấy, một số quy định về việc thu – chi lệ phí thẩm định đối với dự án ĐTM hiện nay theo Thông tư 56/2018/TT-BTC còn nhiều bất cập, cần xây dựng lệ phí thẩm định báo cáo ĐTM dựa trên cơ sở quy mô dự án, có thể lấy theo tỷ lệ tổng vốn đầu tư. Có ý kiến nhận định: “Kiến nghị mức phí thẩm tra dự án có thể là 0,01% tổng vốn đầu tư, vừa đảm bảo được tài chính cho việc thẩm định, vừa không gây khó khăn cản trở cho chủ đầu tư”.

Đồng thời, cần xây dựng mức chi phí cho cán bộ chuyên viên đi khảo sát thực tế, đối với các dự án lớn cần phải xây dựng chi phí thuê đơn vị độc lập tiến hành đo đạc kiểm tra các số liệu đưa ra trong báo cáo. Việc này cần thiết phải tiến hành để đảm bảo số liệu đưa ra trong báo cáo chính xác. Ngoài ra, xây dựng chi phí cho hội đồng thẩm định phù hợp với thực tế và trách nhiệm của hội đồng thẩm định. Việc này vừa khuyến khích các thành viên của hội đồng thẩm định vừa nâng cao trách nhiệm, trách các tiêu cực khác. Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Kết luận Chương 3

Trong phạm vi nội dung nghiên cứu Chương 2 của Luận văn, tác giả đã giải quyết được các vấn đề sau đây:

Một là, phân tích và làm rõ nội dung các quy định pháp luật Việt Nam hiện hành về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường dưới các khía cạnh: (i) Quy định về đánh giá tác động môi trường; (ii) Quy định pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường

Hai là, phân tích và làm rõ thực tiễn áp dụng pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường tại tỉnh Bình Dương. Từ đó, làm rõ một số vướng mắc, bất cập phát sinh từ thực trạng pháp luật và thực tiễn cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường

Đây là cơ sở lý luận và thực tiễn quan trọng để tác giả đề xuất các phương hướng “nền tảng” và kiến nghị các giải pháp “trọng tâm” trong việc hoàn thiện giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường

Ba là, Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đánh giá tác động môi trường & cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường; đồng thời kiến nghị các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường trên thực tiễn trong thời gian tới.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.

Trong công cuộc đổi mới, Đảng ta khẳng định, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế – xã hội với bảo vệ và cải thiện môi trường theo hướng phát triển bền vững. Trong bối cảnh ấy, để từng bước xây dựng nền công nghiệp 4.0, các hoạt động đầu tư không tránh khỏi gây ra những hoạt động ô nhiễm, suy thoái môi trường là một trong những vấn đề mà loài người đang phải đối mặt song song với các vấn đề xã hội nhức nhối khác. Song song với việc phát triển bền vững đất nước, các hoạt động đầu tư, kinh doanh của các tổ chức, cá nhân cần phải có sự kết hợp cân đối, hài hòa giữa ba nội dung là: phát triển kinh tế, bảo đảm tiến bộ xã hội và bảo vệ môi trường. Vì vậy, phải xem bảo vệ môi trường, đặc biệt là pháp luật về Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng là một nội dung quan trọng, không thể tách rời trong quá trình phát triển kinh tế và không thể phát triển kinh tế bằng mọi giá mà xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường.

Bên cạnh các văn bản định hướng, các cơ chế chính sách về cung ứng dịch vụ ĐTM được ban hành trong thời gian qua, Nhà nước cũng đã có nhiều quy định cụ thể hỗ trợ doanh nghiệp cung ứng dịch vụ ĐMT. Hệ thống văn bản pháp luật hiện hành đã bước đầu tạo hành lang pháp lý thuận lợi cho thị trường Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng phát triển. Tuy nhiên, các chính sách pháp luật hiện nay nhìn chung còn thiếu, chưa đồng bộ, thống nhất và chưa tạo cơ hội, động lực để thu hút các doanh nghiệp tư nhân tham gia đầu tư vào lĩnh vực Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng.

Trong thời gian qua, từ thực tiễn áp dụng pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM trên địa bàn tỉnh Bình Dương cho thấy các quy định pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM bước đầu đã mang lại nhiều kết quả tích cực, góp phần Bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, quá trình. Đoàn Hoàng Long (2020), “Pháp luật về đánh giá tác động môi trường và thực tiễn trên địa bàn tỉnh Ninh Thuận”, Luận văn thạc sĩ, Trường ĐH Kinh tế TP. Hồ Chí Minh. tr.34 áp dụng các quy định pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM cũng đã xuất hiện nhiều hạn chế, vướng mắc

Việc sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM là cần thiết vì quan hệ ĐTM là quan hệ phức tạp, các dự án cần tiến hành ĐTM là đa dạng, phong phú. Việc sửa đổi, bổ sung, ban hành mới các quy định pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM phải đảm bảo tính toàn diện, đồng bộ, phù hợp và khả thi nhằm bảo đảm pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM đi vào cuộc sống, đáp ứng yêu cầu Bảo vệ môi trường.

Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM được đề xuất bao gồm việc rà soát các quy định pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM ở các văn bản pháp luật khác nhau còn chồng chéo, mâu thuẫn để sửa đổi nội dung bảo đảm thống nhất, đồng bộ với Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, hoàn thiện các nội dung cốt lõi về ĐTM, hoàn chỉnh các tiêu chí, chuẩn mực cần thiết cho hoạt động ĐTM, đồng thời xây dựng cơ chế pháp lý bảo đảm thực thi pháp luật ĐTM. Thực hiện tốt các giải pháp này, về phía Nhà nước, cần phải đầu tư mạnh hơn nữa cả về nhân lực, vật lực và tài lực cho các cơ quan quản lý nhà nước về Bảo vệ môi trường, qua đó, nâng cao năng lực để có đủ khả năng để tiến hành công tác thẩm định và hoạt động kiểm tra, giám sát sau thẩm định báo cáo ĐTM; về phía cán bộ thực hiện nhiệm vụ đòi hỏi vừa phải có trình độ, vừa phải có lương tâm và trách nhiệm cao. Công tác hậu kiểm được thực hiện quyết liệt và triệt để nhằm giảm thiểu tình trạng vi phạm và tái vi phạm pháp luật về cung ứng dịch vụ ĐTM. Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường

One thought on “Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464