Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng áp dụng pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường trên địa bàn Tỉnh Bình Dương và kiến nghị hoàn thi dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1. Thực trạng pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường
2.1.1. Quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường
- Đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường
Dưới góc độ luật thực định, Khoản 1 Điều 30 Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã xác định cụ thể 02 nhóm DA cần phải thực hiện ĐTM gồm:
Thứ nhất, Dự án đầu tư nhóm I là dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường mức độ cao, bao gồm:
- Dự án thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với quy mô, công suất lớn; dự án thực hiện dịch vụ xử lý chất thải nguy hại; dự án có nhập khẩu phế liệu từ nước ngoài làm nguyên liệu sản xuất;
- Dự án thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với quy mô, công suất trung bình nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường; dự án không thuộc loại hình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường với quy mô, công suất lớn nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;
- Dự án sử dụng đất, đất có mặt nước, khu vực biển với quy mô lớn hoặc với quy mô trung bình nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;
- Dự án khai thác khoáng sản, tài nguyên nước với quy mô, công suất lớn hoặc với quy mô, công suất trung bình nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;
- Dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất quy mô trung bình trở lên nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;
Thứ hai, Dự án đầu tư nhóm II là dự án có nguy cơ tác động xấu đến môi trường, bao gồm:
- Dự án sử dụng đất, đất có mặt nước, khu vực biển với quy mô trung bình hoặc với quy mô nhỏ nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường
- Dự án khai thác khoáng sản, tài nguyên nước với quy mô, công suất trung bình hoặc với quy mô, công suất nhỏ nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường; Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
- Dự án có yêu cầu chuyển mục đích sử dụng đất với quy mô nhỏ nhưng có yếu tố nhạy cảm về môi trường;
- Dự án có yêu cầu di dân, tái định cư với quy mô trung bình.
Quy định này của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 là hoàn toàn phù hợp nhằm tạo sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật hiện hành, xây dựng một hệ thống pháp luật môi trường cụ thể, xuyên suốt và minh bạch, ví dụ như Luật Đầu tư năm 2020. Đồng thời, Khoản 1 Điều 31 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng quy định: “Đánh giá tác động môi trường do chủ dự án đầu tư tự thực hiện hoặc thông qua đơn vị tư vấn có đủ điều kiện thực hiện”. Như vậy, trách nhiệm thực hiện ĐTM là của chủ DA. Họ có thể tự mình thực hiện hoặc thuê tổ chức tư vấn thực hiện ĐTM. Dù chủ DA tự mình thực hiện hay thuê tổ chức tư vấn thực hiện ĐTM thì chủ DA đầu tư đều phải chịu trách nhiệm trước PL về kết quả thực hiện ĐTM. Đôi với trường hợp dự án phải có quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư theo quy định của pháp luật về đầu tư, đầu tư công, đầu tư theo phương thức đối tác công tư, xây dựng, thì ĐTM được thực hiện sau khi dự án được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định, chấp thuận chủ trương đầu tư.
- Nội dung đánh giá tác động môi trường
Về kỹ thuật lập pháp thì Điều 32 Luật Bảo vệ môi trường năm 2030 đã quy định chi tiết và đầy đủ các nội dung trong báo cáo ĐTM. Theo đó, các nội dung chính của báo cáo đánh giá tác động môi trường bao gồm:
- Xuất xứ của dự án đầu tư, chủ dự án đầu tư, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt dự án đầu tư; căn cứ pháp lý, kỹ thuật; phương pháp đánh giá tác động môi trường và phương pháp khác được sử dụng (nếu có);
- Sự phù hợp của dự án đầu tư với Quy hoạch bảo vệ môi trường quốc gia, quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và quy định khác của pháp luật có liên quan;
- Đánh giá việc lựa chọn công nghệ, hạng mục công trình và hoạt động của dự án đầu tư có khả năng tác động xấu đến môi trường;
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế – xã hội, đa dạng sinh học; đánh giá hiện trạng môi trường; nhận dạng các đối tượng bị tác động, yếu tố nhạy cảm về môi trường nơi thực hiện dự án đầu tư; thuyết minh sự phù hợp của địa điểm lựa chọn thực hiện dự án đầu tư;
- Nhận dạng, đánh giá, dự báo các tác động môi trường chính, chất thải phát sinh theo các giai đoạn của dự án đầu tư đến môi trường; quy mô, tính chất của chất thải; tác động đến đa dạng sinh học, di sản thiên nhiên, di tích lịch sử – văn hóa và yếu tố nhạy cảm khác; tác động do giải phóng mặt bằng, di dân, tái định cư (nếu có); nhận dạng, đánh giá sự cố môi trường có thể xảy ra của dự án đầu tư;
- Công trình, biện pháp thu gom, lưu giữ, xử lý chất thải;
- Biện pháp giảm thiểu tác động tiêu cực khác của dự án đầu tư đến môi trường; phương án cải tạo, phục hồi môi trường (nếu có); phương án bồi hoàn đa dạng sinh học (nếu có); phương án phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường;
- Chương trình quản lý và giám sát môi trường; Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
- Kết quả tham vấn;
- Kết luận, kiến nghị và cam kết của chủ dự án đầu tư.
Mặc dù một số nội dung chính của báo cáo ĐTM đã được sửa đổi bổ sung phù hợp với yêu cầu của tình hình mới, ngày càng đáp ứng tốt hơn quyền tham gia trong hoạt động bảo vệ môi trường của cộng đồng dân cư. Tuy nhiên, các nội dung chính của báo cáo ĐTM được quy định tại Điều 32 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 còn có một số bất cập sau:
Thứ nhất, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 chưa xác định rõ nội dung của báo cáo ĐTM này là báo cáo ĐTM được thực hiện vào giai đoạn nào. Dưới góc độ luật thực định thì Khoản 1 Điều 31 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định: “ Đánh giá tác động môi trường được thực hiện đồng thời với quá trình lập báo cáo nghiên cứu khả thi hoặc tài liệu tương đương với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án”. Tuy nhiên trên thực tế, hầu hết các dự án ở Việt Nam thực hiện ĐTM sau khi địa điểm triển khai tiến hành xây dựng dự án đã được chọn lựa. Nội dung báo cáo ĐTM chỉ tập trung vào phân tích đặc điểm địa hình, hiện trạng chất lượng môi trường của khu vực dự án mà bỏ qua việc đánh giá các tác động cộng hưởng, tác động tích lũy cũng như nguy cơ xảy ra xung đột trong vấn đề sử dụng tài nguyên thiên nhiên với mục tiêu phát triển kinh tế xã hội.
Thứ hai, Pháp luật hiện hành chưa tối đa hóa được quyền tham gia của cộng đồng vào hoạt động tham vấn nội dung của báo cáo ĐTM Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn có liên quan đang quy định theo hướng giới hạn phạm vi các chủ thể được quyền tham vấn bao gồm: UBND cấp xã, tổ chức và đại diện cộng đồng dân cư nơi chịu ảnh hưởng trực tiếp bởi dự án. Ngoài các đối tượng trên, một số chủ thể khác cũng có thể tham gia vào quá trình tham vấn như: các tổ chức chính trị -xã hội; xã hội – nghề nghiệp; các chuyên gia về môi trường… Nếu thành phần tham vấn được mở rộng và hình thức tham vấn linh hoạt hơn sẽ góp phần đảm bảo quá trình tham vấn được thực hiện có hiệu quả hơn, kết quả tham vấn khi đó mới thực sự có ý nghĩa trong việc quyết định thực hiện các hoạt động phát triển; đảm bảo quyền tham gia của cộng đồng trong vấn đề bảo vệ môi trường.
- Thẩm định, phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường
Thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM là một trong những nội dung quan trọng trong hoạt động quản lý nhà nước về môi trường. Thông qua hoạt động này, cơ quan nhà nước với tư cách là cơ quan phản biện các báo cáo ĐTM sẽ đưa ra những ý kiến phân tích, phản biện, xem xét về mặt pháp lý cũng như những nội dung khoa học trong báo cáo ĐTM.
Theo quy định của Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 thì việc phân cấp thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường được quy định như sau: Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
Một là, Bộ Tài nguyên và Môi trường tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư sau đây
- Dự án đầu tư nhóm I quy định tại khoản 3 Điều 28 Luật Bảo vệ môi trường;
Dự án đầu tư nhóm II quy định tại các điểm c, d, đ và e khoản 4 Điều 28 của Luật Bảo vệ môi trường thuộc thẩm quyền quyết định hoặc chấp thuận chủ trương đầu tư của Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ; dự án đầu tư nằm trên địa bàn từ 02 đơn vị hành chính cấp tỉnh trở lên; dự án đầu tư nằm trên vùng biển chưa xác định trách nhiệm quản lý hành chính của Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; dự án đầu tư thuộc thẩm quyền cấp giấy phép khai thác khoáng sản, cấp giấy phép khai thác, sử dụng tài nguyên nước, cấp giấy phép nhận chìm ở biển, quyết định giao khu vực biển của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Hai là, Bộ Quốc phòng, Bộ Công an tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư thuộc bí mật nhà nước về quốc phòng, an ninh.
Ba là, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh tổ chức thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư trên địa bàn . Bộ, cơ quan ngang Bộ có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi có dự án phải thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường đối với dự án đầu tư thuộc thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư, quyết định đầu tư của mình.
Đồng thời, Khoản 3, Điều 34 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng đưa ra quy định về hình thức thẩm định việc thẩm định báo cáo ĐTM được tiến hành thông qua việc “thành lập hội đồng thẩm định”. Trong đó, quy định rõ cơ quan thẩm định ban hành quyết định thành lập hội đồng thẩm định gồm ít nhất là 07 thành viên. Hội đồng thẩm định phải có ít nhất một phần ba tổng số thành viên là chuyên gia. Chuyên gia là thành viên hội đồng phải có chuyên môn về môi trường hoặc lĩnh vực khác có liên quan đến dự án đầu tư. Thành viên hội đồng thẩm định có trách nhiệm nghiên cứu hồ sơ đề nghị thẩm định, viết bản nhận xét về nội dung thẩm định và chịu trách nhiệm trước pháp luật về ý kiến nhận xét, đánh giá của mình. Cơ quan thẩm định xem xét, đánh giá và tổng hợp ý kiến của các thành viên hội đồng thẩm định, ý kiến của cơ quan, tổ chức có liên quan (nếu có) để làm căn cứ quyết định việc phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường. Sau đó, trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được chỉnh sửa, bổ sung theo yêu cầu (nếu có) của cơ quan thẩm định, người đứng đầu cơ quan thẩm định có trách nhiệm ra quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường; trường hợp không phê duyệt thì phải trả lời bằng văn bản cho chủ dự án đầu tư và nêu rõ lý do.
Về thẩm quyền phê duyệt báo cáo ĐTM thì Khoản 2, Điều 36 Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 cũng quy định rõ cơ quan thẩm định gửi quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường cho chủ dự án đầu tư và cơ quan có liên quan theo quy định sau đây: Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
Một là, Bộ Tài nguyên và Môi trường gửi đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh nơi thực hiện dự án đầu tư và cơ quan khác theo quy định của pháp luật có liên quan. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi đến cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện dự án đầu tư và Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với dự án đầu tư thực hiện trong khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung;
Hai là, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh gửi đến Bộ Tài nguyên và Môi trường, cơ quan chuyên môn về bảo vệ môi trường cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện, Ủy ban nhân dân cấp xã nơi thực hiện dự án đầu tư và Ban quản lý khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế của tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương đối với dự án đầu tư thực hiện trong khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung.
Tuy nhiên, với những quy định pháp luật hiện hành trong hoạt động thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM đã bộc lộ ra một số hạn chế trong thực tiễn áp dụng, cụ thể:
Thứ nhất, từ quy định pháp luật hiện hành về vấn đề này có thể thấy rằng, ý kiến của thành viên của hội đồng thẩm định đóng vai trò quan trọng ảnh hưởng đến việc phê duyệt báo cáo ĐTM của thủ trưởng – người đứng đầu cơ quan thẩm định, đặc biệt, thành viên hội đồng thẩm định chịu trách nhiệm trước pháp luật về ý kiến đưa ra. Tuy nhiên, trong thực tiễn áp dụng quy định này chưa thật sự đạt hiệu quả, bởi lẽ chưa có quy định cụ thể về trách nhiệm pháp lý của hội đồng thẩm định. Đơn cử trong trường hợp nếu ý kiến của hội đồng thẩm định là sai, trái với quy định của pháp luật, thì tính chịu trách nhiệm pháp lý ở đây sẽ được thực hiện như thế nào hoặc sẽ bị xử lý ra sao, trong khi liên quan đến xử lý vi phạm trong lĩnh vực môi trường hiện nay không đề cập đến vấn đề này hoặc thậm chí chưa có quy định xử lý về mặt hình sự đối với vấn đề này. Thẩm định báo cáo đánh giá môi trường đóng vai trò cực kỳ quan trọng đến hoạt động phê duyệt, triển khai các dự án, các công trình xây dựng diễn ra trong thực tế, việc xảy ra sai phạm trong bất kỳ trường hợp nào đối với hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM cũng gây ra những ảnh hưởng nghiêm trọng đối với vấn đề kiểm soát ô nhiễm môi trường hiện nay của cơ quan nhà nước. Tuy nhiên, ý kiến của hội đồng thẩm định hiện nay chỉ mang giá trị tư vấn ở góc độ khoa học môi trường và các góc độ liên quan chứ chưa mang giá trị pháp lý cao.
Thứ hai, việc quy định thủ trưởng người đứng đầu cơ quan được giao thẩm định báo cáo ĐTM là chủ thể thành lập hội đồng thẩm định sẽ dẫn đến vấn đề không đảm bảo tính khách quan, minh bạch trong quá trình tiến hành thẩm định. Bởi lẽ, việc hội đồng thẩm định không đứng độc lập mà được thành lập bởi người đứng đầu cơ quan được phân cấp thẩm định có thể sẽ dẫn đến việc ý kiến của hội đồng thẩm định có thể sẽ bị chi phối bởi chính người đứng đầu cơ quản được phân cấp thẩm định. Vì vậy, không đảm bảo yếu tố độc lập, khách quan khi hội đồng thẩm định đưa ra ý kiến trong trường hợp này. Bên cạnh đó, việc thành lập hội đồng thẩm định hiện nay chủ yếu mang tính ngắn hạn đối với mỗi dự án cụ thể, hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM được thành lập, hoạt động và tự giải thể. Luật Bảo vệ môi trường 2020 hiện nay cũng chưa có quy định liên quan đến vấn đề thành lập hội đồng thẩm định báo cáo ĐTM độc lập và có tính dài hạn. Ngoài ra, việc đưa ra quy định người đứng đầu cơ quan phê duyệt dự án đồng thời cũng là người đứng đầu cơ quan được phân cấp thẩm định cũng là một trong những bất cập hiện nay trong quy định hiện nay. Bởi lẽ, rất dễ xảy ra tình trạng thiếu minh bạch, khách quan và không đảm hài hòa được lợi ích của cá nhân và lợi ích tập thể trong nguyên tắc thẩm định báo cáo ĐTM. Vì vậy, nếu trong trường hợp xảy ra sự cố môi trường gây ô nhiễm nghiêm trọng, việc xác định trách nhiệm pháp lý của chủ dự án hoặc từ phía cơ quan nhà nước hoặc từ hội đồng thẩm định sẽ gặp nhiều khó khăn, trong đó phải kể đến vấn đề đùn đẩy trách nhiệm giữa chủ dự án và các cơ quan nhà nước liên quan ảnh hưởng đến quyền lợi của bên chịu thiệt hại và gây khó khăn trong việc xác định trách nhiệm bồi thường của bên vi phạm. Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
Thứ ba, trong thực tiễn hiện nay, hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM chủ yếu vẫn tập trung vào hình thức thông qua hội đồng thẩm định. Hoạt động lấy ý kiến của các cơ quan, tổ chức liên quan vẫn còn ít, dẫn đến việc không thu thập được nhiều ý kiến từ các bên liên quan, trong đó ý kiến của người dân là một kênh thông tin rất quan trọng trong việc triển khai dự án. Tuy nhiên, theo quy định hiện hành, ý kiến tham vấn từ người dân chỉ xuất hiện trong báo cáo ĐTM và mang tính tham khảo chứ chưa đóng vai trò tiên quyết trong hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM. Hay nói cách khác, hoạt động thẩm định báo cáo ĐTM hiện nay chưa có sự tham gia phản biện từ phía người dân – những người chịu ảnh hưởng trực tiếp từ việc triển khai dự án trên địa bàn nơi có khu vực dân cư ở đó đang sinh sống, dẫn đến việc vai trò giám sát từ phía người dân chưa đảm bảo trong hoạt động quản lý nhà nước. Ngoài ra, việc thông qua các ý kiến của hội đồng thẩm định theo nguyên tắc đa số, cụ thể như sau: Thông qua không cần chỉnh sửa, bổ sung: khi tất cả thành viên hội đồng thẩm định tham dự phiên họp có phiếu thẩm định nhất trí thông qua không cần chỉnh sửa, bổ sung; Thông qua với điều kiện phải chỉnh sửa, bổ sung: khi có ít nhất hai phần ba (2/3) số thành viên hội đồng tham dự, trong đó bắt buộc phải có ít nhất một (01) ủy viên phản biện, có phiếu thẩm định đồng ý thông qua hoặc thông qua với điều kiện phải chỉnh sửa, bổ sung; Không thông qua: khi có trên một phần ba (1/3) số thành viên hội đồng tham dự có phiếu thẩm định không thông qua hoặc cả hai (02) ủy viên phản biện có phiếu thẩm định không thông qua Tuy nhiên, mặt trái của nguyên tắc theo số phiếu đa số cũng có thể tồn tại vấn đề ý kiến số đông chưa chuẩn xác với việc đảm bảo hài hòa lợi ích về kinh tế, xã hội và môi trường, có thể tồn tại lợi ích kinh tế của một nhóm lợi ích; trong khi đó, lợi ích của những người dân có thể chịu ảnh hưởng trực tiếp từ dự án triển khai có thể không đảm bảo trong thực tế.
2.1.2. Quy định pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
- Quy định pháp luật về chính sách bảo vệ môi trường liên quan đến cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường
Môi trường bị hủy hoại chủ yếu là do sự phá hoại của con người. Chính con người trong quá trình khai thác các yếu tố của môi trường đã làm mất sự cân bằng sinh thái, gây ô nhiễm. Vì vậy, muốn Bảo vệ môi trường trước hết phải tác động đến ý thức, trách nhiệm của con người. Pháp luật với tư cách là hệ thống các quy phạm điều chỉnh hành vi xử sự của con người sẽ có tác động rất lớn đến ý thức của mỗi cá nhân trong việc Bảo vệ môi trường. Do đó, để thúc đẩy nhu cầu sử dụng Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng của các tổ chức, cá nhân trong xã hội, Nhà nước đã ban hành các chính sách pháp luật về Bảo vệ môi trường, trong đó gồm có các quy định pháp luật mang tính chất mệnh lệnh hoặc tùy nghi nhằm điều chỉnh một nhóm đối tượng nhất định được pháp luật dự liệu trước phải thực hiện các hành vi có lợi cho môi trường. Các chủ thể thuộc nhóm đối tượng điều chỉnh của pháp luật về Bảo vệ môi trường phải lựa chọn tuân thủ các quy định của pháp luật đã đề ra, nếu không tuân thủ các quy định đó thì có thể sẽ bị xử lý về mặt hình sự, dân sự hoặc hành chính tùy theo tính chất, mức độ của các vi phạm, từ đó, thúc đẩy các chủ thể này phải tự mình hoặc thuê các đơn vị cung ứng Dịch vụ môi trường thực hiện để đáp ứng các yêu cầu về Bảo vệ môi trường đã được quy định trong luật.
Theo Luật Bảo vệ môi trường năm 2020, các quy định pháp luật về Bảo vệ môi trường có liên quan đến cung ứng dịch vụ ĐTM mà Nhà nước sử dụng để quản lý các đối tượng có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường chẳng hạn: (i) Các quy định pháp luật về một số đối tượng bắt buộc phải thực hiện ĐTM; (ii) Quy định về trách nhiệm lập hoặc thuê tổ chức tư vấn lập báo cáo ĐTM của CĐT dự án; (iii) Quy định về nghĩa vụ thực hiện đầy đủ các nội dung trong quyết định phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của CĐT dự án. Đồng thời, Luật BVTM năm 2020 và Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường cũng đựa ra các quy định khuyến khích thành lập doanh nghiệp dịch vụ ĐTM. Theo đó, Khoản 3, Điều 144 Luật BVTM năm 2020 đã quy định theo hướng: “Khuyến khích tổ chức, cá nhân tham gia cung ứng dịch vụ môi trường trong các lĩnh vực sau đây:…. Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
Quan trắc, phân tích môi trường, đánh giá tác động môi trường”. Trên cơ sở đó, Điều 143,144 Nghị định 08/2022/NĐ-CP đã đưa ra các hướng dẫn cụ thể về chính sách “Khuyến khích phát triển dịch vụ môi trường”.
Như vậy, Nhà nước đã áp dụng chính sách xã hội hóa công tác Bảo vệ môi trường thông qua việc phát triển doanh nghiệp cung ứng dịch vụ ĐTM. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng nhất để hình thành nên thị trường Dịch vụ môi trường. Hiện nay, việc thu hút các nguồn lực trong và ngoài nước để thành lập các doanh nghiệp Dịch vụ môi trường nói chung và doanh nghiệp cung ứng dịch vụ ĐTM là một chủ trương đúng đắn của Đảng ta và Nhà nước ta và đang dần được triển khai thực hiện trên thực tế.
- Quy định pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường
Có thể khẳng định rằng, các quy định về ưu đãi, hỗ trợ nhằm thúc đẩy Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM phát triển. Thực tiễn cho thấy, ngành Dịch vụ môi trường có phát triển được hay không phụ thuộc rất nhiều vào nội dung của các quy định pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ phát triển Dịch vụ môi trường. Do đó, việc nghiên cứu, phân tích và đánh giá các quy định pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ nhằm phát triển Dịch vụ môi trường có vị trí rất quan trọng trong việc tìm ra nguyên nhân, hạn chế của ngành Dịch vụ môi trường ở nước ta hiện nay. Trước đây, các quy định pháp luật về ưu đãi, hỗ trợ phát triển Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng được quy định cụ thể Nghị định số 19/2015/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 40/2019/NĐ-CP) quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Tuy nhiên trong quá trình áp dụng các quy định của Nghị định này đã nảy sinh một số tồn tại bất cập và hạn chế, các nhà đầu tư rất khó khăn trong việc tiếp cận với cơ chế hỗ trợ đã được quy định, một số nội dung quy định trong Nghị định này rất khó triển khai thực hiện trên thực tế.
Hiện nay, trên cơ sở ban hành Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 thay thế Luật Bảo vệ môi trường năm 2014 thì Chính phủ đã ban hành Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường thay thế Nghị định số 19/2015/NĐ-CP. Tuy nhiên, các ưu đãi hỗ trợ để cung ứng dịch vụ ĐTM được quy định rất hạn chế, chủ yếu tập trung vào các ưu đãi, hỗ trợ về “địa bàn đầu tư” khi dẫn chiếu theo quy định của LĐT nếu doanh nghiệp cung ứng dịch vụ ĐTM thực hiện đăng ký đầu tư tại các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn; hoặc Khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao, khu kinh tế [Điều 16, Khoản 2 LĐT năm 2020]. Trong khi đó mặc dù Nghị định 08/2022/NĐ-CP quy định về các hình thức hỗ trợ ưu đãi đối với các doanh nghiệp phát triển dịch vụ môi trường nói chung từ Điều 132-134; bao gồm: (i) Hỗ trợ về đất đai; (ii) Ưu đãi về thuế, phí và lệ phí; (iii) Ưu đãi, hỗ trợ về vốn đầu tư; tuy nhiên dịch vụ ĐTM lại không thuộc phạm vi “danh mục hoạt động Bảo vệ môi trường được hỗ trợ ưu đãi” theo Phụ lục XXX ban hành kèm theo Nghị định 08/2022/NĐ-CP
- Quy định pháp luật về quản lý chất lượng dịch vụ đánh giá tác động môi trường
Trước đây, các quy định liên quan đến các hoạt động ĐTM được quy định tại Nghị định số 18/2015/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 40/2019/NĐ-CP) của Chính phủ quy định về quy hoạch bảo vệ môi trường, đánh giá môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường. Hiện nay, Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường đã thay thế các Nghị định nêu trên để bảo đảm tính đồng bộ, phù hợp với điều kiện thực tiễn và thuận lợi cho quá trình triển khai thực hiện. Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
Dưới góc độ luật thực định thì vừa qua ngày 05/10/2018, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 136/2018/NĐ-CP về sửa đổi một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực TN&MT. Theo đó, tại Điều 4 của Nghị định này đã quy định bãi bỏ Điều 9 và Điều 13 của Nghị định số 18/2015/NĐ- CP về điều kiện của tổ chức thực hiện dịch vụ ĐTM. Theo đó, tổ chức thực hiện dịch vụ ĐTM phải đảm bảo 2 điều kiện sau: (i) Cán bộ thực hiện phải có trình độ đại học trở lên và phải có chứng chỉ tư vấn ĐTM đúng chuyên ngành; (ii) Phải có phòng thí nghiệm, các thiết bị kiểm chuẩn được xác nhận đủ điều kiện hoặc phải có hợp đồng thuê đơn vị có đủ năng lực. Riêng đối với dự án đánh giá tác động môi trường thì tổ chức tư vấn phải đáp ứng thêm điều kiện thứ ba đó là, phải có cán bộ chuyên ngành liên quan đến dự án với trình độ đại học trở lên. Có thể thấy rằng, để hình thành các tổ chức thực hiện dịch vụ ĐTM thì tổ chức không cần phải đáp ứng điều kiện về vốn mà chỉ cần đáp ứng hai điều kiện về cơ sở vật chất và cán bộ thực hiện. Do đó, kể từ ngày Nghị định số 18/2015/NĐ-CP có hiệu lực, các tổ chức thực hiện thực hiện dịch vụ ĐTM không cần phải đáp ứng các điều kiện về nhân lực và cơ sở vật chất như quy định tại Điều 9 và Điều 13.
Đây là một quy định rất mở của Chính phủ đối với loại hình dịch vụ này nhằm thực hiện chủ trương của Nhà nước trong việc cắt giảm các thủ tục hành chính, điều kiện đầu tư kinh doanh gây cản trở, khó khăn cho doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường cũng không đưa ra các quy định về điều kiện của tổ chức thực hiện dịch vụ ĐTM nhằm bảo đảm tính thống nhất với Nghị định số 136/2018/NĐ-CP. Theo tác giả việc cắt giảm các điều kiện, thủ tục này cũng không làm ảnh hưởng đến chất lượng của dịch vụ vì đối với các loại hình dịch vụ tư vấn sẽ do người tiêu dùng, thị trường lựa chọn và quyết định.
Đồng thời, dưới góc độ luật thực định trước đây, Theo khoản 3 Điều 9 của Nghị định số 155/2016/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 55/2021/NĐ-CP) quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì mức xử phạt hành chính cao nhất đối với hành vi vi phạm các quy định về điều kiện cung ứng dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM là 100.000.000 đồng khi không đáp ứng đủ tất cả các điều kiện cung ứng dịch vụ này nhưng vẫn thực hiện lập báo cáo ĐTM. Ngoài ra, nếu hành vi vi phạm gây ra hậu quả về ô nhiễm môi trường sẽ có thể bị phạt đến 150.000.000 đồng, đồng thời sẽ bị đình chỉ hoạt động cung ứng dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM từ 03 tháng đến 06 tháng (điểm b khoản 4 Điều 9). Tuy nhiên, kể từ ngày 05/10/2018, Nghị định số 136/2018/NĐ-CP của Chính phủ về sửa đổi một số điều của các Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư kinh doanh thuộc lĩnh vực TN&MT có hiệu lực thì các tổ chức thực hiện dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM sẽ không còn bị xử phạt hành chính khi vi phạm các điều kiện cung ứng dịch vụ này nữa vì theo Điều 4 của Nghị định số 136/2018/NĐ-CP đã bãi bỏ các điều kiện này. Trên cơ sở đó, hiện nay Nghị định 45/2022/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường thay thế Nghị định số 155/2016/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 55/2021/NĐ- CP) đã không kế thừa các quy định trên; nhằm bảo đảm sự tương thích và thống nhất với Nghị định số 136/2018/NĐ-CP. Theo tác giả, việc quy định xử phạt vi phạm hành chính đối với những Dịch vụ môi trường nói chung, dịch vụ tư vấn lập báo cáo ĐTM nói riêng là không cần thiết và không có tính răn đe. Vì thực chất đối với doanh nghiệp hay đơn vị thực hiện dịch vụ tư vấn thì việc quyết định sự tồn tại và phát triển của những tổ chức này là do khách hàng và thị trường quyết định. Do đó, để đáp ứng các yêu cầu của khách hàng cũng như sự cạnh tranh của thị trường thì đòi hỏi doanh nghiệp, đơn vị thực hiện dịch vụ tư vấn phải luôn cố gắng nâng cao chất lượng dịch vụ.
- Quy định pháp luật về giá dịch vụ đánh giá tác động môi trường Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
Theo nguyên tắc chung của nền kinh tế thị trường thì giá của Dịch vụ môi trường nói chung sẽ do quy luật cung cầu điều chỉnh mà Nhà nước không cần thiết phải can thiệp. Những loại hình Dịch vụ môi trường không cần sự can thiệp của Nhà nước thì giá dịch vụ sẽ do quy luật cung cầu quyết định và được các bên thỏa thuận trong hợp đồng cung ứng Dịch vụ môi trường. Trên cơ sở đó, thì Khoản 4 Điều 144, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 quy định theo hướng: “Giá cung ứng dịch vụ môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về giá”. Tuy nhiên về nguyên tắc thì Luật giá năm 2010 và Nghị định 177/2013/NĐ-CP hướng dẫn Luật giá được ban hành với mục tiêu: “Nhà nước tôn trọng quyền tự định giá và cạnh tranh về giá của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước hoạt động, sản xuất kinh doanh tại Việt Nam (trừ trường hợp điều ước quốc tế có quy định khác) theo đúng pháp luật. Doanh nghiệp được quyền quyết định giá bán hàng hóa, dịch vụ sản xuất ra phù hợp với đặc điểm kinh doanh của đơn vị mình, phù hợp với giá cả trên thị trường, Nhà nước không can thiệp vào việc định giá bán hàng hóa, dịch vụ, trừ hàng hóa, dịch vụ thuộc danh mục do Nhà nước định giá. Nhà nước sử dụng các biện pháp cần thiết (chủ yếu là các biện pháp kinh tế, điều hòa cung cầu, tài chính, tiền tệ…) theo quy định của pháp luật để bình ổn giá. Từ đó, góp phần hữu hiệu vào bình ổn giá thị trường, ổn định kinh tế vĩ mô; khắc phục những tác động tiêu cực của kinh tế thị trường; bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh, người tiêu dùng và ổn định đời sống nhân dân”.
Do đó đối với hoạt động cung ứng dịch vụ ĐTM thì giá dịch vụ sẽ do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên không thoả thuận cụ thể về gá dịch vụ ĐTM thì khi xảy ra tranh chấp việc xác định giá sẽ được thực hiện theo quy định tại Điều 86 Luật thương mại năm 2005 [ Bởi hoạt động cung ứng dịch vụ ĐTM là hoạt động thương mại được thực hiện bởi các thương nhân]. Theo quy định tại Điều 86 Luật thương mại năm 200 thì: “Trường hợp không có thoả thuận về giá dịch vụ, không có thoả thuận về phương pháp xác định giá dịch vụ và cũng không có bất kỳ chỉ dẫn nào khác về giá dịch vụ thì giá dịch vụ được xác định theo giá của loại dịch vụ đó trong các điều kiện tương tự về phương thức cung ứng, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác có ảnh hưởng đến giá dịch vụ”. Vì Điều 86 Luật thương mại năm 2005 chỉ có thể đưa nguyên tắc xác định giá dịch vụ; để tránh những tranh chấp liên quan đến giá dịch vụ ĐTM nên các bên đặc biệt là bên cung ứng dịch vụ ĐTM cần thoả thuận cụ thể mức giá gắn liền với các công việc mà mình sẽ thực hiện trong hợp đồng cung ứng dịch vụ ĐTM. Ngoài ra, bên cung ứng dịch vụ cũng cần lưu ý đến những chi phí mà mình phải bỏ ra để thực hiện dịch vụ. Thông thường các bên thường thoả thuận tách bạch giữa “giá dịch vụ” và các chi phí khác mà bên cung ứng dịch vụ phải thanh toán cho bên thứ ba trong quá trình cung ứng dịch vụ. Nếu không xác định tác bạch vấn đề này khi giao kết hợp đồng, bên cung ứng dịch vụ có thể phải gánh chịu rủi ro trong trường hợp chi phí phải trả cho bên thứ ba trong quá trình cung ứng dịch vụ quá cao dẫn đến không đủ bù đắp chi phí.
2.2. Thực trạng áp dụng pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường tại tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
2.2.1. Tổng quan về hoạt động đánh giá tác động môi trường tại tỉnh Bình Dương
- Những kết quả đạt được
Có thể nói, sau khi Luật Bảo vệ môi trường 2014 và hiện nay là Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản hướng dẫn luật được ban hành thì công tác ĐTM ở tỉnh Bình Dương đã có những bước tiến đáng kể, phát huy được vai trò và có những đóng góp quan trọng trong công tác Bảo vệ môi trường. Thực tiễn trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian qua đã đạt được những kết quả tích cực. Theo số liệu tính từ năm 2015 đến ngày 21/4/2020 của Sở TN&MT tỉnh Bình Dương thì tổng số bắt buộc phải ĐTM ở Bình Dương là 296 dự án (trong đó, cấp tỉnh phê duyệt: 237 và cấp Bộ phê duyệt: 59). Trong đó, chủ yếu các DA có nguy cơ tác động xấu đến MT.
- Thứ nhất, Việc xác định đối tượng phải thực hiện đánh giá tác động môi trường
Trong thời điểm kể từ 2015 đến trước khi Luật BVTM năm 2020 được ban hành, tỉnh Bình Dương có nhiều DA đầu tư phát triển thuộc đối tượng phải ĐTM theo quy định tại Phụ lục II Nghị định số 40/2019/NĐ-CP, đó là các DA thuộc lĩnh vực: Xây dựng, sản xuất vật liệu xây dựng, DA thăm dò, khai thác, chế biến khoáng sản… và nhiều DA khác. Nổi bật là các dự án đầu tư thực hiện tại các KCN: Quốc tế Protrade (Singapore Ascendas – Protrade cũ), Bàu Bàng, Bình An, Bình Đường, Đại Đăng, Đất Cuốc, Đồng An 1, Đồng An 2, Kim Huy, Mỹ Phước 1, Mỹ Phước 2, Mỹ Phước 3, Nam Tân Uyên, Phú Tân, Rạch Bắp, Sóng Thần, Sóng Thần 2, Sóng Thần 3, Tân Đông Hiệp A, Tân Đông Hiệp B, Việt Hương, Việt Hương.
Trước đây, từ khi có Luật Bảo vệ môi trường 1993 và Luật Bảo vệ môi trường 2005, có một số DA có quy mô, công suất thuộc đối tượng lập báo cáo ĐTM nhưng do các tổ chức, cá nhân này họ chưa nắm rõ quy định của Luật Bảo vệ môi trường nên không thực hiện thủ tục MT mà chỉ thực hiện các thủ tục liên quan đến xây dựng, đất đai,…. Đến khi Luật Bảo vệ môi trường 2014 và Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 được ban hành, thì những cơ sở đi vào hoạt động có quy mô công suất tương đương với đối tượng lập báo cáo ĐTM mà chưa có hồ sơ MT thì phải khắc phục là lập Đề án Bảo vệ môi trường chi tiết trình UBND tỉnh Bình Dương phê duyệt. Sở TN&MT tỉnh đã tiến hành rà soát, nhắc nhở các cơ sở này (bệnh viện, trung tâm y tế huyện, chợ, đường dây truyền tải điện 110kV, công trình hồ chứa nước, khu du lịch, nhà máy chế biến hạt điều, thủy sản,…) tiến hành lập Đề án Bảo vệ môi trường chi tiết theo đúng quy định, đến nay các cơ sở này đã được UBND tỉnh Bình Dương phê duyệt Đề án Bảo vệ môi trường chi tiết. Còn lại một số cơ sở (chủ yếu là của nhà nước) thì không có bố trí được kinh phí lập Đề án Bảo vệ môi trường chi tiết và các cơ sở này hoạt động từ rất lâu trước khi có Luật Bảo vệ môi trường 2005, 2014 như: Công trình hồ chứa nước (có những hồ hoạt động từ năm 1994, 1998,…) Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
- Thứ hai, Về trách nhiệm của các chủ dự án đầu tư đối với việc đánh giá tác động môi trường
Trong quá trình xây dựng DA, các chủ đầu tư đã tiến hành ĐTM. Hầu hết, các DA đầu tư tại tỉnh Bình Dương đều thuê đơn vị tư vấn là Trung tâm Quan trắc – Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương (BREM) (đơn vị sự nghiệp thuộc Sở TN&MT tỉnh Bình Dương) thực hiện báo cáo ĐTM. Theo đó, tùy từng loại DA mà trách nhiệm lập báo cáo ĐTM cũng như yêu cầu đối với nội dung, quy trình thẩm định báo cáo ĐTM được xác định một cách cụ thể, phù hợp với tính chất và mức độ tác động đến MT của loại DA đó. Kết quả thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM cho thấy phần lớn báo cáo ĐTM đều được phê duyệt. Phần lớn các DA đầu tư thông qua công tác thẩm định ĐTM đã được yêu cầu chỉnh sửa, bổ sung các biện pháp giảm thiểu tác động có hại đến MT.
- Bảng 2.1: Kết quả thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM của Sở TN&MT Tình Bình Dương từ năm 2015 – 2019
Qua thực tiễn cho thấy, đối với các DA bắt buộc phải ĐTM, các đơn vị chủ DA đều đã tiến hành thuê đơn vị tư vấn thực hiện ĐTM. Việc đưa ĐTM vào thành một nghĩa vụ bắt buộc trong quy trình lập và triển khai các DA đã góp phần nâng cao nhận thức của các chủ đầu tư DA khi thực hiện các hoạt động đầu tư và đảm bảo các biện pháp Bảo vệ môi trường được triển khai song song với quá trình đầu tư DA. Các quy định về ĐTM đã trở thành công cụ pháp lý góp phần Bảo vệ môi trường ở Bình Dương.
- Thứ ba, Về tổ chức thực hiện đánh giá tác động môi trường
Quá trình ĐTM của các DA được thực hiện theo các bước là căn cứ hồ sơ, tài liệu được chủ DA cung ứng, đơn vị tư vấn xây dựng đề cương nhiệm vụ cụ thể cho việc thực hiện báo cáo; triển khai khảo sát, thu thập thông tin, dữ liệu về điều kiện khí tượng thủy văn, địa chất, địa hình, KT-XH thông qua các tài liệu đã có ở các cơ quan, ban ngành liên quan; phối hợp với chủ DA tiến hành khảo sát hiện trường khu vực thực hiện DA kết hợp đo đạc, lấy mẫu phân tích các chỉ tiêu MT. Trên cơ sở dữ liệu thu thập được và nội dung của DA, đơn vị tư vấn tiến hành lập báo cáo ĐTM theo đúng quy định trong Thông tư 25/2019/TT-BTNMT và hiện nay là Thông tư 02/2022/TT-BTNMT, chủ DA cùng với đơn vị tư vấn tiến hành tham vấn trực tiếp với UBND, UBMTTQ Việt Nam ở địa phương và đại diện người dân chịu ảnh hưởng trực tiếp của DA.
Sau buổi làm việc, UBND, UBMTTQ Việt Nam ở địa phương cho ý kiến bằng văn bản liên quan đến DA và các vấn đề MT của DA và cộng đồng dân cư bị ảnh hưởng bởi DA cho ý kiến trong biên bản cuộc họp cộng đồng. Chủ DA và đơn vị tư vấn tiếp thu, chỉnh sửa nội dung của báo cáo ĐTM theo đúng các ý kiến, kiến nghị của chính quyền địa phương trong nội dung tham vấn hoàn thiện để trình gửi thẩm định. Nội dung báo cáo ĐTM của các DA cơ bản đảm bảo những phần theo quy định của PL, gồm xuất xứ của DA, chủ DA, cơ quan có thẩm quyền phê duyệt DA; phương pháp ĐTM; đánh giá việc lựa chọn công nghệ, hạng mục công trình và các hoạt động của DA có nguy cơ tác động xấu đến MT; đánh giá hiện trạng MT tự nhiên, KT-XH; đánh giá, dự báo các nguồn thải và tác động của DA đến MT và sức khỏe cộng đồng; các biện pháp giảm thiểu tác động đến MT và sức khỏe cộng đồng; kết quả tham vấn; chương trình quản lý và giám sát MT. Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
- Thứ tư, Về thẩm quyền, trình tự, thủ tục thẩm định và quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường
Sau khi nhận được báo cáo ĐTM của các chủ DA, Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương tham mưu UBND tỉnh Bình Dương thành lập hội đồng thẩm định có ít nhất 07 thành viên. Trong thời hạn luật định, hội đồng thẩm định đã tiến hành thẩm định, xác định các yêu cầu và nội dung của báo cáo ĐTM. Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được báo cáo ĐTM đã được chỉnh sửa theo yêu cầu của cơ quan thẩm định, UBND tỉnh Bình Dương đã phê duyệt báo cáo ĐTM. Việc áp dụng Pháp luật về ĐTM bước đầu đã hình thành ý thức pháp lý cho các chủ DA khi thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần Bảo vệ môi trường và quyền lợi của nhân dân xung quanh địa điểm thực hiện DA.
- Thứ năm, Về xử lý vi phạm đối với những chủ thể vi phạm pháp luật về đánh giá tác động môi trường
Trong những năm qua, các tổ chức, cá nhân có thẩm quyền ở tỉnh Bình Dương đã tích cực triển khai các hoạt động thanh tra, kiểm tra việc chấp hành PL về Bảo vệ môi trường nói chung và ĐTM nói riêng. Nhiều chủ DA đầu tư đã bị xử lý vi phạm về ĐTM với các hành vi như không lập báo cáo ĐTM, lập không đúng hoặc không đầy đủ một trong các nội dung kế hoạch quản lý MT của DA theo quy định; thực hiện không đúng các nội dung của báo cáo ĐTM đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; chẳng hạn dự án chung cư Phú Thọ Quốc Cường (tại phường Phú Thọ, thành phố Thủ Dầu Một) do Công ty Cổ phần C-Holdings làm chủ đầu tư.
Thực tiễn xử lý vi phạm đối với những chủ thể vi phạm Pháp luật về ĐTM ở tỉnh Bình Dương cho thấy, việc áp dụng Pháp luật về ĐTM trong thực tiễn đầu tư đã góp phần tích cực trong việc Bảo vệ môi trường. Các Quy định pháp luật về ĐTM đã bước đầu đi vào cuộc sống, phát huy ý nghĩa tích cực trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội về ĐTM, định hướng các hoạt động ĐTM phù hợp với yêu cầu chung của xã hội, góp phần làm cho hoạt động Bảo vệ môi trường không ngừng được phát triển và tăng cường, đồng thời gắn phát triển KT-XH với Bảo vệ môi trường.
Việc tuân thủ PL có liên quan đến việc thực hiện ĐTM của các DA đầu tư bước đầu mang lại nhiều tác động tốt, nâng cao trách nhiệm của chủ đầu tư, thận trọng trong việc lựa chọn và đầu tư vào các DA có khả năng gây ô nhiễm cũng như thực thi các biện pháp Bảo vệ môi trường, hạn chế các xung đột do ô nhiễm MT, phòng ngừa và giảm thiểu tác động xấu tới MT do hoạt động của DA gây ra, góp phần ổn định xã hội.
Các kết quả đạt được này đã đóng góp quan trọng trong công tác Bảo vệ môi trường, tạo cơ sở bước đầu cho việc nhìn nhận, đánh giá một cách tổng quan việc ban hành các văn bản pháp quy về ĐTM cũng như tổ chức thực hiện các văn bản đó trên thực tế. Tuy nhiên, so với yêu cầu đặt ra thì Pháp luật về ĐTM vẫn còn những hạn chế cần tiếp tục được hoàn thiện.
- Những vướng mắc, bất cập phát sinh Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
Mặc dù đạt được những kết quả trên, tuy nhiên thực tiễn áp dụng các Quy định pháp luật về ĐTM đối với các DA đầu tư tại Bình Dương thời gian qua đã bộc lộ một số hạn chế, vướng mắc sau:
- Thứ nhất, Một số quy định pháp luật về ĐTM thiếu chặt chẽ và chưa phù hợp với thực tế
Mặc dù, trong thời gian qua các cơ quan nhà nước có thẩm quyền đã ban hành rất nhiều văn bản QPPL về ĐTM song thực tiễn áp dụng cho thấy Pháp luật về ĐTM vẫn còn nhiều “lỗ hổng”, nhiều “khe hở”, nhiều nội dung thiếu tính khả thi do quy định chưa gắn với thực tiễn đời sống. Cụ thể:
- Một là, quy định pháp luật về trách nhiệm của chủ DA trong việc ÐTM chưa chặt chẽ.
Pháp luật có quy định trách nhiệm của chủ DA trong giai đoạn chuẩn bị đầu tư phải ĐTM song lại không có sự ràng buộc pháp lý nào chặt chẽ. Thực tế có những DA ở Bình Dương tiến hành triển khai DA, lựa chọn địa điểm, xây dựng cơ sở hạ tầng nhưng vẫn chưa ĐTM. Không những thế trong các văn bản QPPL về ĐTM thiếu quy định trách nhiệm pháp lý đối với các chủ đầu tư hay cơ quan tư vấn ĐTM khi lập báo cáo ĐTM không đúng với những tác động tiêu cực lên MT nơi DA thực hiện. Đồng thời quy định chủ DA có thể tự mình hoặc thuê tổ chức ĐTM là không hợp lý, vì qua các DA ở Bình Dương cho thấy các chủ DA hầu như khoán việc ĐTM cho tổ chức được thuê, trong lúc đó tổ chức ĐTM không thể biết đầy đủ và sâu sắc về DA dẫn đến việc ĐTM nhiều khi chỉ là hình thức đối phó. Hoạt động ĐTM là hoạt động phức tạp, có tính chuyên môn cao và đòi hỏi được tiến hành như một hoạt động nghiên cứu khoa học chuyên sâu song với quy định chung chung như vậy sẽ dễ dẫn đến việc triển khai một cách sơ sài. Vì vậy, cần có những quy định chặt chẽ về chủ thể thực hiện ĐTM
- Hai là, Quy định về việc tổ chức thực hiện ĐTM còn một số nội dung chưa hợp lý, và phù hợp với đời sống xã hội.
Chẳng hạn quy định về tham vấn báo cáo ĐTM cũng chưa phù hợp, chưa thực sự phát huy được ý nghĩa tích cực của hoạt động này trong thực tiễn. Thực tế ở Bình Dương cho thấy hiếm có báo cáo ĐTM nào thực hiện tham vấn đúng nghĩa. Thậm chí, nhiều báo cáo ĐTM còn giống nhau cả về ý kiến trả lời tham vấn của UBND và UBMTTQ cấp xã. Sở dĩ như vậy, vì hiện nay quy định trong Luật Bảo vệ môi trường còn quá chung chung. Theo quy định, chủ DA phải tham vấn cơ quan, tổ chức, cộng đồng chịu tác động trực tiếp bởi DA và báo cáo ĐTM phải có nội dung kết quả tham vấn đó nhưng Luật chưa quy định cụ thể thế nào là “chịu tác động trực tiếp bởi DA”, sẽ tiến hành tham vấn ở bước nào của quá trình thực hiện. Về đối tượng tham vấn chỉ có UBND, UBMTTQ xã và người dân trực tiếp ảnh hưởng bởi DA. Điều này là cần thiết nhưng không đủ, bởi lẽ thông thường ĐTM là hoạt động có tính chuyên môn kỹ thuật cao, đòi hỏi phải có kiến thức liên quan, song với chính quyền cấp xã và những người dân bình thường rất khó để hiểu được nội dung báo cáo ĐTM cũng như những vấn đề thực tế của DA, những tác động mà DA sẽ gây ra đối với MT và cuộc sống người dân. Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
Không những thế, quy định về nội dung báo cáo ĐTM còn chung chung, thiếu chặt chẽ. Không có những yêu cầu cụ thể về nội dung, về các tiêu chuẩn, tiêu chí phải đạt được của báo cáo ĐTM. Chính vì vậy, các báo cáo ĐTM của các DA còn sơ sài. Phần lớn các báo cáo ĐTM của các DA ở Bình Dương chỉ có 180 trang bao gồm cả phụ lục, trong đó phần mô tả điều kiện tự nhiên và KT-XH chiếm khoảng 15-20 trang, phần ĐTM chỉ khoảng 50 trang và khoảng 40 trang dành cho phần biện pháp. Báo cáo ĐTM gần như được thực hiện một cách chiếu lệ chứ không phải là công cụ pháp lý – kỹ thuật để quản lý và Bảo vệ môi trường.
- Ba là, Quy định về thẩm định và quyết định phê duyệt báo cáo ĐTM chứa đựng một số nội dung chưa phù hợp và chưa gắn với trách nhiệm của những chủ thể.
Về thẩm quyền thẩm định chủ yếu được giao cho Bộ TN&MT và UBND cấp tỉnh là những cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Tuy nhiên, thẩm định báo cáo ĐTM là công việc chuyên môn đòi hỏi trình độ kỹ thuật chuyên sâu, đặc biệt là đối với các DA có tác động sâu sắc tới MT tự nhiên, MT xã hội và cả văn hóa nên việc giao cho cơ quan thẩm định độc lập và chuyên trách với những quy định về trách nhiệm pháp lý chặt chẽ sẽ mang lại hiệu quả cao hơn. Ngoài ra, việc thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM theo Luật Bảo vệ môi trường, ngoài Bộ TN&MT và các Bộ, ngành khác cũng có thẩm quyền đối với DA thuộc ngành quản lý. Việc phân cấp như hiện tại dẫn đến tính thiếu độc lập trong quá trình thẩm định khi các Bộ, ngành khó có thể phản bác các DA do chính mình đưa vào quy hoạch phát triển. Vì vậy, ngoài các DA đặc biệt vì mục đích an ninh quốc phòng thì nhiệm vụ thẩm định báo cáo ĐTM nên được giao cho các cơ quan độc lập có khả năng cung ứng dịch vụ với các ràng buộc về trách nhiệm pháp lý rõ ràng. Một vấn đề đặc biệt quan trọng nữa nhưng PL vẫn chưa quy định, đó là nhiệm vụ của cơ quan quản lý trong việc cung ứng đầy đủ cơ sở thông tin, dữ liệu cần thiết về tình trạng MT trong thời điểm hiện tại và dự báo cho các thời kỳ khác nhau trong tương lai. Hiện nay các nhà đầu tư buộc phải tự làm việc này khi tiến hành ĐTM. Quy định như vậy là không khả thi vì sẽ rất mất thời gian và tiền bạc do tính đặc thù của thông tin, dữ liệu về MT trong khi đó các quy định ràng buộc trách nhiệm của các chủ đầu tư đối với việc đánh giá MT chưa nghiêm và việc QLNN còn lỏng lẻo. Điều này dẫn đến các nhà đầu tư (hoặc tư vấn được thuê) chỉ có thể tự đo đạc hoặc lấy vài mẫu trong một vài ngày để đánh giá tình trạng hiện tại và dự báo tình trạng trong tương lai của MT nên khó đủ độ tin cậy và các nhà thẩm định báo cáo ĐTM cũng không có đủ cơ sở để phản bác một cách thuyết phục.
Bên cạnh đó, thiết kế của DA quyết định nguồn tác động đến MT, song cơ quan QLNN chỉ tham gia góp ý đối với thiết kế cơ sở của DA, không có thẩm quyền phê duyệt. Thiết kế cơ sở và thiết kế chi tiết cho các bước tiếp theo của DA do chính chủ đầu tư phê duyệt, do vậy trong nhiều trường hợp, mức độ tin cậy về thiết kế của DA có những giới hạn nhất định. PL cũng không bắt buộc các chủ DA cung ứng các thiết kế này cho các cơ quan thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM, điều này gây khó khăn cho việc thẩm định báo cáo ĐTM. Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
Đồng thời, PL cũng chưa quy định rõ trách nhiệm của các chủ thể tham gia thẩm định, phê duyệt ĐTM nhằm bảo đảm phải có chủ thể chịu trách nhiệm trong trường hợp DA được duyệt gây tổn hại MT do chất lượng của ĐTM thấp. Trên thực tế, phần nhiều các báo cáo ĐTM của các DA chỉ mang tính hình thức để lọt qua cửa phê duyệt DA. Nhiều chủ DA chỉ coi đây là một thủ tục trong quá trình chuẩn bị hoặc thực hiện DA. Vì vậy, khi được yêu cầu lập báo cáo ĐTM thì chỉ làm lấy lệ, cho đủ thủ tục để DA được thông qua chứ không quan tâm đến những tác động và nguy cơ đối với MT cũng như đời sống nhân dân. Tình trạng này cho thấy, các quy định hiện hành chưa đủ để ràng buộc trách nhiệm của người lập báo cáo ĐTM trong việc đảm bảo chất lượng và tính trung thực của báo cáo ĐTM. Nếu ĐTM chất lượng không cao mà vẫn được duyệt gây thiệt hại cho MT, cho cộng đồng dân cư cần xác định trách nhiệm cụ thể của chủ thể thẩm định, phê duyệt và chủ DA. Không những thế, trách nhiệm của các cơ quan QLNN về MT cũng chưa được quy định rõ ràng, cụ thể dẫn đến tình trạng đùn đẩy trách nhiệm giữa các cơ quan ở địa phương, giữa cơ quan ở Trung ương với cơ quan ở địa phương.
Điều này dẫn đến nhiều trường hợp MT bị tàn phá nghiêm trọng, người dân phải sống trong MT ô nhiễm, quyền con người bị vi phạm nghiêm trọng nhưng không có cơ quan, cá nhân, tổ chức nào chịu trách nhiệm. PL hiện hành cũng chưa có quy định về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của các chủ thể thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM trong trường hợp do lỗi của chủ thể đó dẫn đến gây thiệt hại cho MT và dân cư.
Qua thực tế nghiên cứu ở Bình Dương, một vấn đề nữa cũng rất cần được PL ĐTM quan tâm, đó là yêu cầu về thay đổi công nghệ sản xuất, công nghệ xử lý chất thải và các biện pháp giảm thiểu ô nhiễm MT theo vòng đời công nghệ sản xuất. Rất nhiều DA ở Bình Dương đã được phê duyệt ĐTM và hoạt động từ lâu nhưng theo thời gian cùng với công nghệ, máy móc cũ, lạc hậu các hiện tượng ô nhiễm MT vẫn xảy ra với tính chất mức độ khác nhau, ảnh hưởng sâu sắc đến đời sống người dân. Chất thải độc hại từng ngày, từng giờ thấm vào đất, vào nước khiến người dân không thể dùng nước giếng để ăn uống, tắm giặt. Điều này đòi hỏi công tác ĐTM phải có những dự báo lâu dài và những cam kết thay đổi công nghệ, biện pháp xử lý tương ứng nhằm Bảo vệ môi trường và cuộc sống của cộng đồng dân cư. Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
- Thứ hai, Pháp luật hiện hành thiếu những chuẩn mực cần thiết cho đánh giá tác động môi trường
Nghiên cứu thực tiễn áp dụng Pháp luật về ĐTM đối với các DA đầu tư ở Bình Dương cho thấy quá trình ĐTM liên quan trực tiếp tới hệ thống tiêu chuẩn MT, nhưng hiện nay hệ thống các tiêu chuẩn MT Việt Nam được áp dụng trên thực tế chưa thực sự hợp lý, có những lĩnh vực quy định chồng chéo, trùng lặp, trong khi có nhiều lĩnh vực cần phải tuân thủ tiêu chuẩn, quy chuẩn MT nhưng lại không được quy định như hoạt động lập và thẩm định báo cáo ĐTM. Quy chuẩn kỹ thuật về MT cần thiết đối với tất cả các tác động, bao gồm liên quan đến chất thải và không liên quan đến chất thải. Tuy nhiên, hiện nay chỉ có quy chuẩn kỹ thuật quốc gia (QCVN) về chất thải, không có quy chuẩn về những yếu tố không liên quan đến chất thải. Hơn nữa hiện nay cũng chưa có quy chuẩn kỹ thuật địa phương về chất thải để áp dụng cho những nơi sức chịu tải của MT xung quanh đã tới hạn hoặc đã quá tải dẫn đến không đủ chuẩn mực để so sánh và xác định mức độ tác động và công tác ĐTM không đáp ứng được yêu cầu Bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.
Theo hệ thống quy chuẩn kỹ thuật MT, chúng ta mới có quy chuẩn về chất lượng của MT xung quanh mà chủ yếu là các thành phần MT vật lý và quy chuẩn về chất lượng của chất thải với các tiêu chuẩn chủ yếu về nước thải, khí thải; một mức độ nhất định là về tiếng ồn, CRT thông thường và chất thải nguy hại. Trong khi đó nhiều quy chuẩn khác đòi hỏi phải được xác định chặt chẽ như quy chuẩn về MT sinh học (sinh vật, hệ sinh thái, ĐDSH…); về xói mòn, sụt, lún, trượt, lở đất; về độ xâm nhập của nước biển… nhưng PL chưa quy định. Đặc biệt, theo các chuyên gia đánh giá thì việc xây dựng và ban hành các quy chuẩn kỹ thuật về chất thải đã không căn cứ vào sức chịu tải của MT tiếp nhận cụ thể ở từng nơi, thậm chí đã có tình trạng “sao chép” từ nước ngoài vào Việt Nam một cách không tương thích. Việt Nam đã ban hành hàng loạt các quy chuẩn về MT nhưng quy định một cách sơ sài, lỏng lẻo và quy chuẩn rất thấp so với các quy chuẩn thông thường. Điều này dẫn đến tình trạng mọi chất thải đều được xử lý đạt quy chuẩn nhưng MT tiếp nhận vẫn bị ô nhiễm, bị suy thoái và sự cố MT vẫn cứ xảy ra.
Bên cạnh đó trong hệ thống tiêu chuẩn MT hiện hành chưa quy định cụ thể về tổng lượng thải và về thời điểm thải. Thực tế cho thấy, cùng một lĩnh vực hoạt động, nhưng các cơ sở sản xuất lớn thường thải vào MT một lượng thải lớn hơn các cơ sở sản xuất nhỏ. Điều đó có nghĩa, các cơ sở sản xuất có tổng lượng thải không giống nhau. Lượng thải được thải vào MT nhiều hay ít hoàn toàn phụ thuộc vào quy mô, lĩnh vực hoạt động của cơ sở đó. Vì thế, việc xử lý các chất thải đó cũng đòi hỏi các quy trình xử lý khác nhau. Nếu trong tiêu chuẩn thải không quy định tổng lượng thải mà áp dụng đồng đều nồng độ tối đa cho phép các chất độc hại như hiện nay là rất bất hợp lý. Tình trạng đó sẽ gây ra sự bất bình đẳng giữa các cơ sở lớn và các cơ sở nhỏ, đồng thời cũng có thể dẫn đến tình trạng xử lý khí thải mang tính chất đối phó, giả tạo.
Ngoài ra, việc không quy định cụ thể thời điểm xả khí thải có thể dẫn đến tình trạng ô nhiễm MT không khí do nguồn tiếp nhận khí thải bị quá tải. Việc thiếu hụt các quy định này dẫn đến các hoạt động ĐTM không có các chuẩn mực để xác định các tiêu chuẩn cụ thể để đánh giá mà thông thường trong các báo cáo ĐTM của các DA ở Bình Dương nói riêng và cả nước nói chung chỉ viện dẫn các quy chuẩn một cách chung chung. Chẳng hạn nghiên cứu Thông tư 08/2018/TT-BTNMT của Bộ Tài nguyên và Môi trường về việc ban hành Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về môi trường cho thấy các quy định được xây dựng thiếu chặt chẽ, không có quy định tiêu chuẩn thải cho từng loại nhà máy thép, trong đó có các loại nhà máy mới và nhà máy cũ, cũng không quy định tiêu chuẩn cho từng loại kỹ thuật và quy trình sản xuất thép khác nhau.
Ngoài ra, ĐTM là công cụ mang tính pháp lý-kỹ thuật cao, để ĐTM một cách chính xác, đầy đủ đòi hỏi phải có những hướng dẫn kỹ thuật cụ thể. Hiện nay, PL đã quy định một số hướng dẫn ĐTM, song còn đơn giản, chưa đáp ứng yêu cầu thực tế.
- Thứ ba, Cơ chế bảo đảm thực thi các quy định pháp luật về đánh giá tác động môi trường trong thực tế chưa hiệu quả, chưa được quan tâm đúng mức Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
Điều này thể hiện về thể chế, PL hiện hành chưa có cơ chế kiểm tra đối với việc thực hiện nội dung báo cáo ĐTM đã được phê duyệt. Việc xử lý các hành vi vi phạm Pháp luật về ĐTM thiếu nghiêm minh, chưa đảm bảo mọi hành vi vi phạm Pháp luật về ĐTM đều bị xử lý. Trong thời gian qua, việc xử lý vi phạm PL về MT chưa có sự đồng đều, thống nhất và chưa thực sự nghiêm minh. Nhiều trường hợp vi phạm PL bị xử lý nhẹ, không đủ sức răn đe. Các hành vi vi phạm trong lĩnh vực MT nói chung và trong ĐTM nói riêng ngày càng tinh vi trong khi khâu kiểm tra, xử lý còn hạn chế, hành vi vi phạm nhiều nhưng xử lý còn ít, việc khắc phục hậu quả chưa tương xứng với mức độ thiệt hại gây ra đối với MT. Chưa có cơ chế giám sát việc xử lý các hành vi vi phạm về MT nên dẫn đến nhiều trường hợp xử phạt nửa vời như chỉ nộp tiền mà không khắc phục hậu quả. Các vụ việc xử lý vi phạm hình sự còn thấp. PL được thực thi ở mức độ nào tùy thuộc rất nhiều vào tính nghiêm minh của PL. Một khi việc xử lý các hành vi vi phạm PL chưa nghiêm sẽ dẫn đến việc thực thi PL về MT chưa đầy đủ. Tình trạng các DA đầu tư ở Bình Dương sau khi báo cáo ĐTM được phê duyệt không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ những cam kết trong báo cáo khá phổ biến.
Đồng thời, ĐTM vẫn chưa thực sự được coi là khâu quan trọng, phải xem xét cẩn trọng trước khi quyết định chủ trương đầu tư. Hoạt động thẩm định và phê duyệt báo cáo ĐTM còn mang tính hình thức, dễ dãi. Thực tế cho thấy, hầu hết các báo cáo ĐTM của các DA ở Bình Dương đều được Hội đồng thẩm định thông qua. Về thiết chế, bộ phận chuyên môn thuộc Sở TN&MT trực tiếp quản lý hoạt động ĐTM, tham mưu thành lập hội đồng thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM ít người, trình độ hạn chế nhưng đảm nhận công việc quan trọng đòi hỏi chuyên môn cao. Nhiều thành viên hội đồng thẩm định chỉ tham gia thẩm định, sau hoàn thành việc thẩm định coi như đã xong nên không tham gia theo dõi, giám sát quá trình thực hiện báo cáo ĐTM của các chủ DA. Cơ chế tài chính hạn hẹp nên phần nào hạn chế việc đầu tư công sức, trí tuệ của các thành viên vào công tác thẩm định. Nhận thức của một số nhà quản lý chưa đúng, chưa đầy đủ về ĐTM trong Bảo vệ môi trường. Vì vậy, một mặt, họ chưa làm hết trách nhiệm được giao, mặt khác, do thiếu các phương tiện kỹ thuật và do trình độ hạn chế nên không đáp ứng được yêu cầu đa dạng về kiến thức khoa học MT có liên quan đến nhiều ngành khác nhau dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt thấp, không đáp ứng được yêu cầu Bảo vệ môi trường trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế và phát triển bền vững. Điều này không chỉ qua thực tiễn ở Bình Dương mà qua sự cố MT do công ty Trách nhiệm hữu hạn gang thép Hưng nghiệp Formosa (Formosa) gây ra đã cho thấy rất nhiều “lỗ hổng” pháp lý về ĐTM liên quan quan đến năng lực ĐTM, thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM và trình độ cũng như trách nhiệm của cán bộ quản lý MT.
Như vậy, qua sự phân tích ở trên cho thấy nếu xét về tính đồng bộ, toàn diện, phù hợp thì các quy định về ĐTM hiện nay thiếu những yêu cầu, tiêu chí cần thiết để đảm bảo chất lượng của các báo cáo ĐTM. Điều đó dẫn đến thực tế là hoạt động áp dụng Pháp luật về ĐTM chưa nghiêm, việc thẩm định báo cáo ĐTM chủ yếu dựa vào ý chí chủ quan của người thẩm định, chưa có các căn cứ cụ thể để thẩm định và cơ chế pháp lí cụ thể ràng buộc yêu cầu thẩm định. Hoạt động thẩm định chưa thực sự trở thành một kênh phản biện trong sự đối trọng với chủ đầu tư. Việc thực hiện ĐTM đối với nhiều DA còn mang tính hình thức. Nhiều chủ DA chỉ coi đây là một thủ tục trong quá trình chuẩn bị hoặc thực hiện DA, vì vậy, khi được yêu cầu lập báo cáo ĐTM thì chỉ làm lấy lệ, cho đủ thủ tục để DA được thông qua chứ không quan tâm đến những tác động và nguy cơ ảnh hưởng xấu đến MT thực sự.
2.2.2. Những vấn đề phát sinh từ thực tiễn áp dụng pháp luật về cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường tại tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
- Vướng mắc, bất cập áp dụng quy định pháp luật về chính sách bảo vệ môi trường liên quan đến cung ứng dịch vụ đánh giá tác động môi trường
Thứ nhất, chính sách xã hội hóa lĩnh vực Dịch vụ môi trường chung và dịch vụ ĐTM nói riêng đã được Đảng và Nhà nước ta ghi nhận qua các giai đoạn phát triển KT&XH. Hành lang pháp lý thúc đẩy xã hội hóa công tác Bảo vệ môi trường vẫn tiếp tục được điều chỉnh, bổ sung và phát huy hiệu quả, song hiện nay những chính sách này vẫn chưa được triển khai mạnh mẽ trên thực tế. Đến nay, đã có nhiều loại hình được các tổ chức và cá nhân tham gia đầu tư phát triển vào lĩnh vực môi trường từ nhiều nguồn vốn, bước đầu hình thành hệ thống Dịch vụ môi trường ngoài công ích. Tuy nhiên, công tác xã hội hoá D Dịch vụ môi trường chung và dịch vụ ĐTM nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế, chưa quy định cụ thể loại hình dịch vụ nào cần xã hội hóa, đồng thời chưa có kế hoạch và lộ trình cho việc xã hội hoá nên chưa thu hút được nhiều doanh nghiệp tham gia vào lĩnh vực cung ứng Dịch vụ môi trường chung và dịch vụ ĐTM nói riêng. Thực tiễn tại Tỉnh Bình Dương cho thấy phần lớn hơn 50% các CĐT dự án đều thuê Trung tâm Quan trắc – Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Dương, đơn vị sự nghiệp trực thuộc Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương tiến hành ĐTM. Tuy nhiên, Sở TN&MT Tỉnh Bình Dương vừa là cơ quan tiến hành ĐTM, lập báo cáo ĐTM vừa là cơ quan tiến hành chủ yếu cho UBND Tỉnh Bình Dương thực hiện các hoạt động thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM, điều này khó bảo đảm tính khách quan và độ tin cậy trong quá trình thẩm định, phê duyệt báo cáo ĐTM cũng như kiểm tra việc thực hiện báo cáo ĐTM sau khi được phê duyệt. Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
Thứ hai, phần lớn các doanh nghiệp tham gia cung ứng Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng đều là những doanh nghiệp nhỏ và vừa. Bên cạnh đó, các chính sách mới chỉ đề cập đến khía cạnh thúc đẩy và hỗ trợ cho các doanh nghiệp cung ứng Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng, khía cạnh người tiêu dùng chưa được đề cập đến nhiều. Do đó, sẽ không tạo được sự cân bằng giữa cung và cầu của thị trường Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng
Thứ ba, hiện nay, chúng ta vẫn chưa có cơ chế, chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư ở các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, do vậy mà các khu vực này hầu như không có doanh nghiệp cung ứng Dịch vụ môi trường, điều này gây khó khăn cho các tổ chức có nhu cầu sử dụng dịch vụ Dịch vụ môi trường nhưng không tiếp cận được các dịch vụ.
- Vướng mắc, bất cập áp dụng quy định pháp luật về quản lý chất lượng dịch vụ môi trường
Có thể thấy rằng, vấn đề chất lượng trong cung ứng các Dịch vụ môi trường nói chung và dịch vụ ĐTM nói riêng hiện nay đang bị thả nổi. Theo kết quả điều tra, khảo sát thực tế tại các dự án đầu tư trên địa bàn Tỉnh Bình Dương cho thấy, tình trạng vi phạm các quy định pháp luật trong lĩnh vực cung ứng dịch vụ ĐTM xảy ra tương đối phổ biến; tuy nhiên nhưng chưa có chế tài để xử lý hoặc xử lý chưa nghiêm. Chẳng hạn, việc doanh nghiệp cung ứng các thông tin môi trường không đúng với thực tế; tình trạng doanh nghiệp tư vấn cho ra đời những báo cáo ĐTM còn phổ biến.
Điển hình là trường hợp công ty CP Nước – Môi trường Bình Dương đã bị Thanh tra sở TN&MT Bình Dương ra Quyết định số 493/QĐ-XPVPHC ngày 31/12/2019 về hành vi “thực hiện không đúng một trong các nội dung Báo cáo đánh giá tác động môi trường đã được phê duyệt” với mức xử phạt vi phạm hành chính là 90.000.000 đồng (chín mươi triệu đồng) theo quy định tại tại điểm e, Khoản 2, Điều 9 Nghị định số 155/2016/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định số 55/2021/NĐ-CP) quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Biện pháp khắc phục hậu quả là buộc Công ty CP Nước – Môi trường Bình Dương phải thực hiện đúng nội dung Báo cáo đánh giá tác động môi trường được phê duyệt. Báo cáo kết quả khắc phục về Sở TNMT trong thời gian 30 ngày kể từ ngày nhận Quyết định xử phạt. Nguyên nhân của những hiện tượng này một số quy chuẩn đã ban hành nhưng không còn phù hợp với điều kiện hiện tại. Nhiều thông số quan trắc môi trường chưa có định mức kinh tế kỹ thuật, đơn giá, dẫn đến khó khăn cho cả doanh nghiệp cung ứng và doanh nghiệp sử dụng dịch vụ quan trắc môi trường trong quá trình đàm phán, ký kết hợp đồng. Đặc biệt là chúng ta vẫn thiếu cơ chế xử lý nghiêm các tổ chức, cá nhân vi phạm về cung ứng Dịch vụ môi trường kém chất lượng. Đồng thời, Nghị định số 45/2022/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường chỉ mới đặt trách nhiệm hành chính đối với chủ đầu tư các dự án thuộc danh mục phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường mà chưa đưa ra các trách nhiệm pháp lý liên đới đối với đơn vi cấp cấp dịch vụ ĐTM nếu xảy ra vi phạm trong việc cung ứng báo cáo đánh giá tác động môi trường . Ngoài ra, chúng ta còn thiếu các quy định về xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức tham gia cung ứng dịch vụ ĐTM có hành vi vi phạm các quy định về bồi dưỡng, đào tạo, cấp chứng chỉ hành nghề, bảo đảm chất lượng Dịch vụ môi trường…
- Vướng mắc, bất cập áp dụng quy định pháp luật về giá dịch vụ ĐTM
Hiện nay, nhiều loại hình Dịch vụ môi trường nói chung vẫn chưa có quy định hoặc quy định chưa rõ ràng về định mức đơn giá như: dịch vụ quan trắc và phân tích môi trường; dịch vụ cải tạo và khắc phục ô nhiễm môi trường; dịch vụ lập báo cáo đánh giá tác động môi trường; dịch vụ giám định thiệt hại về môi trường, giám định về môi trường đối với máy móc, thiết bị, công nghệ… Điều này xuất phát từ quy định tại Khoản 4, Điều 144 Luật BVTM năm 2020 đưa ra nguyên tắc: “Giá cung ứng dịch vụ môi trường được thực hiện theo quy định của pháp luật về giá”. Về kỹ thuật lập pháp thì các quy định về giá cung ứng dịch vụ được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật khác như như Luật giá năm 2010; Luật thương mại năm 2005 và BLDS năm 2015..vvv. Khác so với một số lĩnh vực khác trong chuỗi dịch vụ bảo vệ môi trường thì đối với giá dịch vụ ĐTM sẽ do các bên thoả thuận trong hợp đồng; giá dịch vụ được xác định dựa trên khối lượng công việc; chất lượng, yêu cầu kỹ thuật và tiến độ, thời gian thực hiện. Khảo sát một số hợp đồng lập báo cáo ĐTM đã được ký kết và thực hiện thì các bên thường thoả thoả thuận “giá dịch vụ ĐTM” bao gồm: (i) Chi phí chuyên gia, chi phí vật tư, máy móc, chi phí quản lý, chi phí khác, chi phí bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, thu nhập chịu thuế tính trước và thuế giá trị gia tăng (VAT); (ii) Tất cả các khoản thuế, phí, chi phí liên quan để thực hiện trọn vẹn nội dung công việc của Hợp đồng. Giá Hợp đồng không bao gồm: Các khoản phí, lệ phí thẩm định nộp cho cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
Có ý kiến nhận định: “Cần ban hành khung đơn giá chung đối với từng loại hình Dịch vụ môi trường là điều cần thiết, là cơ sở để cho Hội đồng nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ban hành đơn giá cho phù hợp với điều kiện thực tiễn của địa phương mình. Việc ban hành khung đơn giá chung là một trong những biện pháp làm minh bạch hoá thị trường, tránh tình trạng ban hành đơn giá theo cảm tính của nhà quản lý, gây khó khăn cho doanh nghiệp khi thực hiện cung ứng dịch vụ theo kế hoạch, đơn đặt hàng của nhà nước hay ký kết hợp đồng. Trên thực tế, một số lĩnh vực khác đã có khung đơn giá chung như lĩnh vực thuê đất, thuê mặt nước, xây dựng công trình… Căn cứ vào khung đơn giá chung này, mỗi địa phương sẽ ban hành đơn giá riêng của địa phương mình. Theo kết quả điều tra, khảo sát thực tế đã chứng minh điều này, hầu hết các địa phương đều cho rằng giá Dịch vụ môi trường hiện nay không tuân theo một quy định nào, thậm chí có doanh nghiệp cung ứng dịch vụ sẵn sàng làm với bất cứ giá nào. Điều này dẫn đến dịch vụ cung ứng không đảm bảo chất lượng và không kích thích được thị trường Dịch vụ môi trường ở nước ta phát triển”. Luận văn: Thực trạng PL cung ứng đánh giá tác động môi trường.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải pháp PL cung ứng đánh giá tác động môi trường

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật cung ứng đánh giá tác động môi trường