Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình (qua thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Hôn nhân và gia đình (HN&GĐ) là hiện tượng xã hội, là một hình thái đặc biệt của quan hệ con người, nó không những phản ánh chế độ xã hội mà còn thể hiện sự tiến bộ, văn minh của xã hội đó. Hôn nhân là cơ sở của gia đình, còn gia đình là tế bào nhỏ nhất của xã hội trong đó kết hợp chặt chẽ, hài hòa lợi ích của mỗi công dân, nhà nước và xã hội.

Hôn nhân là cơ sở của gia đình, hai người đến với nhau bằng tình yêu và cùng nhau xây dựng một mái ấm, tạo nên gia đình hạnh phúc. Gia đình được coi như “tế bào” của xã hội, gia đình là cái nôi nuôi dưỡng con người, là môi trường quan trọng để hình thành và giáo dục nhân cách con người.

Trong xã hội hiện đại, để bảo đảm đời sống chung của gia đình và lợi ích thiết thực của bản thân mỗi thành viên trong gia đình, vợ chồng có nhu cầu tham gia vào các quan hệ xã hội được pháp luật điều chỉnh. Khi tình cảm vợ chồng rạn nứt, đổ vỡ, vợ chồng có quyền tự thỏa thuận việc chia tài sản chung, quyền nhân thân và một số quyền khác của họ, nhưng khi họ không thỏa thuận được thì việc vận dụng những quy định của pháp luật HN&GĐ để bảo đảm quyền của là điều cần thiết để bảo đảm quyền và lợi ích cho các bên.

Quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ được pháp quy định là một nguyên tắc cơ bản của pháp luật tố tụng dân sự (TTDS). Các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam về quyền của các đương sự trong Tố tụng dân sự (trong đó có các vụ án về HN&GĐ) hình thành và phát triển gắn liền với lịch sử phát triển của dân tộc. Xuất phát từ vị trí, vai trò quan trọng của gia đình nên Đảng và Nhà nước ta luôn luôn dành sự quan tâm to lớn đối với vấn đề này. Trong quan hệ HN&GĐ, kết hôn nhằm xác lập quan hệ vợ chồng, thì ly hôn cũng là một mặt trái của quan hệ hôn nhân. Nhưng khi quan hệ hôn nhân tan vỡ dẫn đến việc ly hôn thì nó là một hiện tượng xã hội phức tạp, vì nó ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích của vợ, chồng và những người liên quan. Thực tế cho thấy, việc bảo đảm quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ là vô cùng quan trọng và cần thiết trong việc bảo đảm quyền con người, quyền công dân. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

Cư Kuin là một huyện của tỉnh Đắk Lắk mặc dù dân số không cao nhưng những năm qua, số lượng các vụ án HN&GĐ có xu hướng ngày càng gia tăng. Mỗi vụ án có nội dung đa dạng và tính phức tạp khác nhau, nên trong quá trình xét xử, giải quyết loại án này gặp không ít những khó khăn, nhất là trong việc đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự khi tham gia vào quan hệ tranh chấp này. Quá trình giải quyết các vụ án HN&GĐ của Toà án nhân dân huyện Cư Kuin trong những năm qua đã đạt những kết quả nhất định góp phần bảo đảm cơ bản quyền của các đương sự khi tham gia vào quan hệ này. Tuy nhiên, vẫn còn những hạn chế nhất định, làm ảnh hưởng trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự trong vụ án HN&GĐ.

Vì vậy, tác giả lựa chọn đề tài “Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình (qua thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk” làm công trình nghiên cứu cho luận văn thạc sĩ chuyên ngành Luật Hiến pháp và luật Hành chính.

2. Tình hình nghiên cứu đề tài

Đã có một số công trình khoa học nghiên cứu ở nhiều cấp độ khác nhau đề cập trực tiếp hoặc có liên quan tới vấn đề quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ như:

Chia tài sản chung vợ chồng khi ly hôn, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Lan, năm 2017, Học viện khoa học xã hội. Luận văn nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về tài sản vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ, tác giả chủ yếu làm rõ những quy định pháp luật áp dụng khi chia tài sản chung vợ chồng [12].

Chế độ tài sản của vợ chồng theo Luật Hôn nhân và gia đình 2014, Luận văn thạc sĩ tác giả Lã Thị Tuyền, năm 2014, Đại học Luật Hà Nội. Tác giả nghiên cứu, làm rõ những vấn đề lý luận về tài sản vợ chồng theo quy định của Luật HN&GĐ, làm rõ những quy định pháp luật nhằm đảm bảo quyền vợ chồng khi tham gia tố tụng [29].

Giải quyết các tranh chấp về hôn nhân và gia đình của Tòa án nhân dân, Luận văn thạc sĩ của tác giả Hoàng Đình Thanh, Đại học Quốc gia Hà Nội, năm 2013. Tác giả nghiên cứu, làm rõ những quy định của pháp luật trong việc áp dụng để giải quyết các tranh chấp trong vụ án HN&GĐ, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của vợ chồng khi tham gia tố tụng [28].

Bảo đảm quyền bảo vệ của đương sự trong tố tụng dân sự Việt Nam, tác giả Nguyễn Công Bình, Đại học luật Hà Nội, năm 2006. Luận án chủ yếu tập trung nghiên cứu các quy định của pháp luật Việt Nam nhằm bảo đảm quyền của đương sự trên phương diện lý luận và thực tiễn quyền của đương sự theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự [1].

Căn cứ ly hôn theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai, Đại học Luật Hà Nội. Luận văn này tác giả chỉ phân tích, đánh giá quy định của pháp luật về căn cứ ly hôn trong Luật HN&GĐ 2014, tuy nhiên về phần thực tiễn áp dụng pháp luật như thế nào thì không có nghiên cứu cụ thể [17].

Áp dụng pháp luật của Tòa án nhân dân trong việc giải quyết án Hôn nhân và gia đình qua thực tiễn tỉnh Thái Nguyên, Luận văn thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thu Hường, Đại học Luật Hà Nội. Luận văn tập trung nghiên cứu việc áp dụng pháp luật Tố tụng dân sự qua thực tiễn giải quyết ly hôn tại Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên nhằm đề xuất các giải pháp góp phần khắc phục những hạn chế [11]. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

Quyền của nguyên đơn trong giải quyết các vụ việc dân sự tại huyện Tuyên Hóa, tỉnh Quảng Bình (2018), Luận văn thạc sĩ của tác giả Lê Thị Thùy Linh tại Học viện Hành chính Quốc gia. Luận văn là làm rõ được những vấn đề lý luận cũng như nội dung các quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về quyền của nguyên đơn trong giải quyết vụ việc dân sự [14].

Qua khảo cứu các công trình đã nghiên cứu cho thấy, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách tổng thể, toàn diện về quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Tuy nhiên, các công trình nêu trên là những tài liệu trợ giúp tác giả trong quá trình thực hiện luận văn.

3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu

Mục đích của luận văn là đề xuất những giải pháp nhằm bảo đảm quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ tại Tòa án nhân dân cấp huyện trong thời gian tới trên cơ sở hệ thống hóa cơ sở lý luận cũng như phân tích thực trạng tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu

  • Hệ thống hóa cơ sở lý luận và pháp luật về quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ thông qua việc làm sáng tỏ khái niệm, đặc điểm, nội dung cũng như các yếu tố ảnh hưởng và điều kiện bảo đảm.
  • Phân tích, đánh giá thực trạng thực hiện quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian Nêu rõ ưu điểm, hạn chế và chỉ ra được nguyên nhân của những hạn chế đó.
  • Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ từ thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.

4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1. Đối tượng nghiên cứu

  • Các quan điểm khoa học liên quan đến quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ.
  • Các quy định pháp luật của Nhà nước về quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ.
  • Thực tiễn tổ chức thực hiện quy định pháp luật về quyền các đương sự trong vụ án HN&GĐ tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

4.2. Phạm vi nghiên cứu.

  • Về nội dung: các quy định pháp luật về quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ ở Việt Nam hiện nay và thực tiễn thực hiện tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
  • Về không gian: huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
  • Về thời gian: từ năm 2017 đến năm

5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

5.1. Phương pháp luận

Luận văn được nghiên cứu dựa trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện chứng, duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lênin; các nguyên tắc nền tảng của luật nhân quyền quốc tế; các quan điểm của Đảng và quy định pháp luật của Nhà nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam về quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

5.2. Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp phân tích, tổng hợp: được sử dụng khi phân tích các vấn đề liên quan đến quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ.
  • Phương pháp thống kê: được sử dụng để cung cấp một số tài liệu liên quan đến việc bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ trong thực tiễn áp dụng pháp luật HN&GĐ Việt Nam.
  • Phương pháp so sánh: được thực hiện nhằm tìm hiểu quy định của pháp luật hiện hành với hệ thống pháp luật trước đây ở Việt Nam cũng như pháp luật một số nước khác quy định về quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

6. Ý nghĩa lý luận, thực tiễn của luận văn

Luận văn là công trình nghiên cứu đầu tiên về quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ qua thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Kết quả nghiên cứu của luận văn sẽ góp phần cung cấp những tri thức khoa học cơ bản mang tính lý luận được nhìn nhận dưới góc độ quyền con người về quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ; giúp người đọc nhận thức đầy đủ và toàn diện hơn quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về quyền và đảm bảo quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ.

Luận văn có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy, học tập trong các trường đại học chuyên ngành luật và không chuyên ngành luật, hệ thống các trường chính trị của Đảng, cho những người đang trực tiếp làm công tác giải quyết án HN&GĐ tại Toà án nhân dân nói chung. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

7. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm ba chương:

  • Chương 1: Những vấn đề lý luận và pháp luật về quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đinh.
  • Chương 2: Thực trạng thực hiện quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.
  • Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền của các trong vụ án hôn nhân và gia đình qua thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Chương 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUYỀN CỦA CÁC ĐƯƠNG SỰ TRONG VỤ ÁN HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH

1.1. Khái niệm, vai trò và ý nghĩa quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình

1.1.1. Khái niệm quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình.

  • Khái niệm vụ án hôn nhân và gia đình

Theo quy định tại Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014: Hôn nhân là quan hệ giữa vợ và chồng sau khi kết hôn; còn gia đình là tập hợp những người gắn bó với nhau do hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ giữa họ với nhau theo quy định của Luật này [20].

Vụ án HN&GĐ là các vụ án về tranh chấp HN&GĐ phát sinh tại Toà án nhân dân do cá nhân, cơ quan, tổ chức khởi kiện, yêu cầu Tòa án bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp về HN&GĐ của mình hoặc của người khác. Nói cách khác, vụ án HN&GĐ là trường hợp các bên đương sự có tranh chấp với nhau và Tòa án giải quyết các tranh chấp đó.

  • Đặc điểm vụ án HN&GĐ: Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

Thứ nhất, vụ án HN&GĐ trước hết phải là những vụ việc phát sinh tại Tòa án liên quan đến HN&GĐ. Chỉ những vụ án HN&GĐ nào thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án và phát sinh tại Tòa án mới được gọi là vụ án HN& GĐ.

Thứ hai, vụ án HN&GĐ phát sinh trên cơ sở có việc khởi kiện hoặc yêu cầu của cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật.

Những yêu cầu về HN&GĐ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án gồm các yêu cầu: hủy việc kết hôn trái pháp luật; ly hôn; chia tài sản khi ly hôn…

  • Khái niệm đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình

Dưới góc độ ngôn ngữ học, theo Từ điển Tiếng Việt thì đương sự là “đối tượng trực tiếp của một việc đang được giải quyết” [33, tr.572]. Còn trong cuốn Từ điển Hán Việt, đương sự được định nghĩa là người “có liên quan trực tiếp đến một việc” [15, tr.232]. Như vậy, dưới góc độ chung nhất, đương sự là người có liên quan trực tiếp trong một vụ việc nào đó xảy ra đang được đưa ra xem xét, giải quyết.

Dưới góc độ pháp lý, theo Từ điển Luật học năm 2006 thì đương sự được hiểu là “Cá nhân, pháp nhân tham gia tố tụng dân sự với tư cách là nguyên đơn hoặc bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Đương sự là một trong các nhóm người tham gia tố tụng dân sự tại Tòa án nhân dân trong các vụ kiện về dân sự, kinh doanh, thương mại, hôn nhân gia đình và lao động. Những người tham gia tố tụng dân sự đó bao gồm đương sự, người đại diện cho đương sự, người bảo vệ quyền lợi của đương sự, cơ quan nhà nước, tổ chức xã hội khởi kiện vì lợi ích chung, Viện kiểm sát, người làm chứng, người phiên dịch” [2, tr.278 – 279].

Như vậy, có thể nhận thấy rằng: Đương sự trong vụ án HN&GĐ là cá nhân hoặc các chủ thể khác có quyền, lợi ích tranh chấp hoặc cần phải xác định, tham gia vào quá trình Tòa án giải quyết vụ án HN&GĐ để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Các đương sự trong vụ án HN&GĐ có thể là cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức tham gia tố tụng với tư cách là nguyên đơn, bị đơn hoặc người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án HN&GĐ. Trong đó:

Nguyên đơn trong vụ án HN&GĐ là người khởi kiện hoặc người được cơ quan, tổ chức, các nhân khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án HN&GĐ khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm phạm.

Bị đơn trong vụ án HN&GĐ là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc bị cơ quan, tổ chức, các nhân khác khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án HN&GĐ khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án HN&GĐ là người tuy không khởi kiện, không bị kiện nhưng việc giải quyết vụ án HN&GĐ có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của họ nên họ được tự mình đề nghị hoặc đương sự khác trong vụ án HN&GĐ đề nghị và được Tòa án chấp nhận đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Trường hợp giải quyết vụ án HN&GĐ có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của một người nào đó mà không có ai đề nghị đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan thì Tòa án phải đưa họ vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án HN&GĐ. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

  • Khái niệm và đặc điểm quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình

Quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ là một trong những quyền cơ bản của con người được quy định cụ thể trong Hiến pháp và các văn bản quy phạm pháp luật Việt Nam. Khi tham gia vào mối quan hệ tranh chấp trong vụ án HN&GĐ thì quyền của các đương sự được pháp luật tôn trọng, bảo vệ là ngang nhau. Trong quá trình giải quyết các vụ án tranh chấp về HN&GĐ tại Tòa án thì Tòa án luôn tạo mọi điều kiện thuận lợi cho các đương sự thực hiện tối đa các quyền cơ bản của mình theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Vợ chồng có quyền bình đẳng với nhau về việc yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề về quan hệ hôn nhân; quan hệ về con chung và quan hệ về tài sản khi vợ chồng xảy ra tranh chấp mà không ai được cưỡng ép, lừa dối, cản trở vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng trong việc thực hiện các quyền trên và trong đó Tòa án giữ vai trò đặc biệt trong việc bảo đảm quyền của các đương sự khi tham gia vào quan hệ tranh chấp này.

Từ những phân tích trên có thể hiểu: Quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ là những quyền do Hiến pháp và pháp luật quy định trên cơ sở phù hợp với tiêu chí quyền con người và được bảo đảm thực hiện trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án HN&GĐ.

  • Quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ có những đặc điểm sau đây:

Quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ là nhu cầu tự nhiên, buộc phải có và cần phải có của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐ nhằm đảm bảo quyền lợi chính đáng của các đương sự.

Dưới góc độ pháp lý, quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ là một quan hệ pháp luật mà mỗi bên tham gia quan hệ đó đều có quyền và nghĩa vụ pháp lý. Quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ là quyền tự nhiên của con người trong mọi lĩnh vực liên quan đến HN&GĐ và nó phải được ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật.

Quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ được pháp luật bảo vệ một cách bình đẳng, trong đó Tòa án đóng vai trò quan trọng trong cơ chế bảo vệ quyền con người và quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ. Một Tòa án công bằng phải là hiện thân của công lý là nơi phẩm giá con người đứng trước tòa được thừa nhận như nhau và được bảo vệ như nhau.

1.1.2. Vai trò của quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

Quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng như trong việc nâng cao trách nhiệm của các cơ quan tiến hành tố tụng. Vai trò của quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ được thể hiện trên những phương diện cơ bản sau đây:

Thứ nhất, việc ghi nhận và bảo đảm thực hiện quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ trước hết là cơ sở pháp lý bảo đảm cho các đương sự tham gia tố tụng có những cơ hội, điều kiện ngang nhau khi tham gia tố tụng. Bảo đảm thực hiện quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ giúp đương sự có thể bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của mình tốt hơn trước Toà án khi quyền lợi bị xâm phạm hoặc có tranh chấp. Việc ghi nhận quyền này nhằm đảm bảo để các đương sự khi tham gia các vụ án HN&GĐ đều được pháp luật xác định có các quyền và nghĩa vụ tố tụng giống nhau; những quyền và nghĩa vụ này được thực hiện giống nhau trong những điều kiện giống nhau, không có sự phân biệt đối xử về dân tộc, thành phần xã hội hoặc giới tính…

Thứ hai, việc ghi nhận và bảo đảm quyền của các đương sự trong các vụ án HN&GĐ là căn cứ để Toà án có thể giải quyết các vụ án HN&GĐ một cách công bằng, nhanh chóng, hiệu quả và đúng đắn. Sự ghi nhận và bảo đảm đó sẽ giúp hạn chế và phòng ngừa những hành vi vi phạm của cơ quan, tổ chức và cá nhân trong quá trình tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng cho các đương sự khi tham gia vụ án. Đây là một trong những yêu cầu để bảo đảm rằng việc giải quyết các vụ án HN&GĐ được minh bạch và hiệu quả.

Thứ ba, quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ đóng một vai trò đặc biệt quan trọng khi tham gia vào quan hệ pháp luật trong vụ HN&GĐ. Bởi vì, các đương sự trong vụ án HN&GĐ có quyền quyết định làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt hoạt động tố tụng trong vụ án. Đây là cơ sở pháp lý quan trọng mà các đương sự có thể sử dụng để đòi hỏi công lý, sự công bằng, là cơ sở để người tiến hành tố tụng ý thức được bổn phận phải tôn trọng và bảo đảm các quyền căn bản này. Ngoài ra, sự ghi nhận của pháp luật tố tụng dân sự về các quyền cơ bản này còn thể hiện được bản chất của Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa, của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân trong lĩnh vực tư pháp dân sự.

Thứ tư, quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ góp phần ngăn chặn và xử lý kịp thời những hành vi vi phạm của các chủ thể tham gia tố tụng trong khi họ thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình. Áp dụng hiệu quả quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ là cơ sở pháp lý quan trọng để xử lý những hành vi vi phạm, hành vi cản trở hoặc can thiệp trái pháp luật vào quá trình tố tụng của các chủ thể tham gia tố tụng. Thực hiện tốt vấn đề này sẽ góp phần bảo đảm cho mỗi chủ thể khi tham gia tố tụng có thể thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ nhằm bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của họ trước Toà án.

Ngoài ra, việc quy định và thực hiện quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ còn có vai trò hết sức to lớn trong việc nâng cao hiệu quả giải quyết các tranh chấp về HN&GĐ, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân; góp phần vào công cuộc cải cách tư pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam Xã hội chủ nghĩa.

1.1.3. Ý nghĩa quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình

Quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ là cơ sở để cơ quan Nhà nước có thẩm quyền giải quyết các vấn đề liên quan đến quan hệ HN&GĐ như: giải quyết tranh chấp tài sản, giải quyết tranh chấp về nhân thân, con cái… Một trong những nguyên tắc hoạt động của Toà án nhân dân là độc lập xét xử và chỉ tuân theo pháp luật, nên khi giải quyết các vụ án kiện về HN&GĐ, Tòa án phải xét xử trên cơ sở quy định của pháp luật về HN&GĐ và pháp luật về Tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐ. Hơn nữa đây còn là cơ sở để các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng dẫn cụ thể giúp cho việc giải quyết tranh chấp về HN&GĐ được khách quan, thống nhất, đúng pháp luật, đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho các bên. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

Quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ là cơ sở pháp lý thực hiện quyền và nghĩa vụ của đương sự trong quá trình giải quyết các vụ án HN&GĐ. Đó là các quyền mà pháp luật quy định và đảm bảo thực hiện.

Từ thực tế cuộc sống cho thấy, quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ được khẳng định và thể hiện là một nhu cầu cấp thiết, góp phần bảo vệ quyền lợi hợp pháp của đương sự, xây dựng chế độ Xã hội chủ nghĩa thực sự dân chủ và bình đẳng ở nước ta.

Đặc biệt trong điều kiện kinh tế, xã hội đang phát triển theo hướng thị trường hóa hiện nay, sự đa dạng hóa các mối quan hệ đã ảnh hưởng không nhỏ đến quan hệ HN&GĐ của vợ chồng. Chẳng hạn, khi họ muốn kinh doanh riêng cần phải sử dụng một phần tài sản chung mà không muốn ly hôn hay vì một lý do nào khác thì việc đảm bảo quyền bình đẳng khi chia tài sản giữa vợ chồng là hoàn toàn cần thiết và phù hợp với thực tiễn; hoặc khi ly hôn, việc con cái ở với ai sẽ có sự ảnh hưởng rất lớn đến tâm sinh lý của đứa trẻ…

Quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ có ý nghĩa vô cùng quan trọng, nó sẽ bảo đảm cho họ có phương tiện để bảo vệ được quyền và lợi ích hợp pháp của mình khi tham gia tố tụng tại Tòa án. Với các quyền năng được pháp luật trao cho, cho phép các chủ thể có thể sử dụng quyền năng đó như một công cụ hữu hiệu để yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi của mình. Khi xét thấy quyền và lợi ích bị xâm phạm thì vợ hoặc chồng có quyền khởi kiện đến Tòa án có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết. Quyền khởi kiện, quyền yêu cầu giải quyết tranh chấp về HN&GĐ là quyền tố tụng rất quan trọng trong quá trình giải quyết vụ án, nó là cơ sở pháp lý làm phát sinh quan hệ pháp luật tố tụng và cũng là tiền đề cho các quyền tố tụng khác.

Tùy theo từng giai đoạn tố tụng, pháp luật quy định cụ thể cho các đương sự những quyền tố tụng khác nhau để họ tự do lựa chọn và quyết định có sử dụng hay không để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Các quyền này được trao cho đương sự có ý nghĩa trong việc chống lại sự lạm quyền, thiên vị hay sai sót của cơ quan Tòa án hoặc tạo điều kiện cho các bên tham gia tố tụng trong việc chứng minh bảo vệ quyền lợi của mình.

Quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ còn có ý nghĩa bảo đảm cho việc giải quyết vụ án được thống nhất, khách quan, nhanh chóng và đúng đắn. Các quyền này không chỉ có giá trị đối với đương sự khi tham gia tố tụng mà nó còn là cơ sở pháp lý cho hoạt động giải quyết vụ án HN&GĐ của những người tiến hành tố tụng, giúp cho Tòa án có thể bảo vệ hiệu quả quyền và lợi ích hợp pháp của họ.

Quy định quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ còn góp phần nâng cao ý thức pháp luật của người dân nói chung và các chủ thể khi tham gia quan hệ tố tụng dân sự nói riêng. Qua đó, các đương sự có thể nhận thức được các quyền tố tụng của mình và tôn trọng quyền tố tụng của các chủ thể khác đồng thời có ý thức hơn về việc tôn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người khác thông qua các hoạt động tố tụng dân sự tại Tòa án. Các đương sự nhận thức được quyền yêu cầu bảo vệ các quyền, lợi ích của mình và họ có quyền khởi kiện để Tòa án có thẩm quyền giải quyết bảo vệ quyền lợi chính đáng của mình. Khi có yêu cầu, Tòa án xem xét và đưa ra xét xử bằng một bản án, quyết định chính xác, khách quan thì người dân sẽ tin tưởng vào pháp luật và họ coi pháp luật là công cụ hữu hiệu để họ bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp. Cũng từ đó mà pháp luật được tôn trọng, pháp quyền Xã hội chủ nghĩa ngày càng được củng cố và tăng cường. Đây là một yêu cầu không thể thiếu trong công cuộc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền của Việt Nam theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013 đã quy định rõ nhiệm vụ của Tòa án là bảo vệ quyền con người, quyền công dân. Các quyền của đương sự được quy định cụ thể trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và những bảo đảm thực hiện các quyền đó là biểu hiện mức độ bảo vệ quyền con người ở mỗi quốc gia. Quy định quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ nhằm hạn chế sự vi phạm trong quá trình áp dụng pháp luật giải quyết vụ án liên quan đến tranh chấp HN&GĐ.

1.2. Quy định pháp luật về quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

1.2.1. Quyền yêu cầu Tòa án giải quyết về quan hệ về hôn nhân

Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; Cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ; Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” [20].

Vấn đề thời hiệu không áp dụng đối với quan hệ pháp luật HN&GĐ. Vì vậy, trong mọi khoảng thời gian của thời kỳ hôn nhân (tính từ khi kết hôn cho đến khi hôn nhân chấm dứt trước pháp luật), vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng đều có quyền yêu cầu ly hôn (trừ trường hợp chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi). Luật HN&GĐ của Nhà nước ta không đặt ra điều kiện ngăn cấm quyền yêu cầu ly hôn của vợ, chồng. Tuy nhiên, xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ, trẻ em, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ và con chưa thành niên, phụ nữ có thai, thai nhi, cũng là bảo vệ lợi ích của xã hội, khoản 3 Điều 52 Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng. Theo quy định này, người chồng không được yêu cầu ly hôn (với tư cách là nguyên đơn) trong trường hợp: vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, dù người vợ có thai với ai hoặc đứa con sinh ra là con của người nào. Trường hợp người vợ có thai mà đã bị sảy thai hoặc sau khi sinh con, đứa con bị chết thì người chồng sẽ không bị hạn chế quyền ly hôn. Như vậy, trường hợp hạn chế yêu cầu ly hôn chỉ áp dụng với người chồng mà không áp dụng với người vợ. Đây là một trong những quy định thể hiện sâu sắc tính nhân bản và tiến bộ trong tư tưởng cũng như trong bản chất nội dung pháp luật nước ta nói chung và pháp luật về HN&GĐ nói riêng. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

Tuy nhiên, khoản 2 Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 có quy định một trường hợp ngoại lệ cho phép cha mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu ly hôn. Cha mẹ, người thân thích khác của vợ, chồng chỉ có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp đặc biệt là khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Quy định này giúp giải quyết được yêu cầu thực tế về việc bảo vệ quyền, lợi ích của bên vợ, chồng bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể làm chủ được nhận thức, hành vi của mình, đồng thời, là nạn nhân của bạo lực gia đình do vợ, chồng gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến sức khỏe, tính mạng, tinh thần của họ.

Như vậy, khi vợ, chồng nhận thức một cách rõ ràng về tình trạng quan hệ hôn nhân của họ đã trầm trọng, về việc họ không thể tiếp tục cuộc sống chung thì họ có quyền yêu cầu toà án giải quyết ly hôn. Pháp luật không buộc những người yêu nhau phải kết hôn với nhau thì cũng không buộc những người không còn yêu nhau phải tồn tại quan hệ vợ chồng. Do vậy, Luật HN&GĐ năm 2014, cũng như các luật trước đó đều quy định vợ, chồng có quyền yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, nếu quan hệ vợ chồng đã không phản ánh đúng bản chất của nó nhưng vợ chồng vẫn không muốn ly hôn thì không ai có quyền buộc họ phải ly hôn. Hôn nhân tự nguyện không chỉ thể hiện trong việc kết hôn mà còn thể hiện cả trong việc tồn tại hôn nhân. Thực tế cho thấy, nhiều cặp vợ, chồng nhận thấy cuộc sống chung của họ đã mất ý nghĩa, không những không đem lại hạnh phúc cho mỗi bên mà còn mang lại sự khổ đau nhưng vì con, vì gia đình mà họ không ly hôn. Trong trường hợp này không ai buộc họ phải ly hôn. Vì vậy, quyền yêu cầu ly hôn thuộc về vợ, chồng là phù hợp cả về lí luận và thực tế.

Hiện nay, pháp luật HN&GĐ giải quyết ly hôn dựa trên bản chất của cuộc hôn nhân. Như vậy, nếu trong luật cổ Việt Nam, người phụ nữ không có quyền được ly hôn, nhiều người phải cam chịu, nhẫn nhục chịu đựng sự bạo hành của người chồng, thì ngày nay, nếu hôn nhân không hạnh phúc, một bên có thể đơn phương yêu cầu ly hôn. Tòa án sẽ căn cứ vào thực chất đời sống chung của vợ chồng mà giải thoát cho người đó khỏi những đau khổ phải gánh chịu từ hôn nhân. Đây là một căn cứ rất hợp lý, nó thực sự bảo vệ cho quyền lợi và tình cảm của cả hai bên nam nữ nếu cuộc sống gia đình chỉ mang lại cho họ đau khổ. Chính sự thay đổi đầy sáng suốt và hợp lý này trong Luật HN&GĐ đã bảo vệ quyền lợi chính đáng cho cả hai bên, góp phần vào thực hiện quyền bình đẳng giới trong việc ly hôn.

1.2.2. Quyền yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ về tài sản

  • Tại Điều 33 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về tài sản chung vợ chồng như sau:

“1. Tài sản chung của vợ chồng gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra, thu nhập do lao động, hoạt động sản xuất, kinh doanh, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng và thu nhập hợp pháp khác trong thời kỳ hôn nhân, trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 của Luật này; tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung hoặc được tặng cho chung và tài sản khác mà vợ chồng thỏa thuận là tài sản chung. Quyền sử dụng đất mà vợ, chồng có được sau khi kết hôn là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ hoặc chồng được thừa kế riêng, được tặng cho riêng hoặc có được thông qua giao dịch bằng tài sản riêng.

2. Tài sản chung của vợ chồng thuộc sở hữu chung hợp nhất, được dùng để bảo đảm nhu cầu của gia đình, thực hiện nghĩa vụ chung của vợ chồng. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

3. Trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ, chồng đang có tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được coi là tài sản chung” [20].

Theo quy định của pháp luật, khi quan hệ hôn nhân còn tồn tại thì tài sản chung vẫn còn tồn tại. Tuy nhiên, trong thực tế khi xảy ra tranh chấp HN&GĐ thì mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, vợ chồng không đồng nhất về quan điểm sống nên khi quan hệ hôn nhân chấm dứt thì vợ chồng cũng muốn chấm dứt quan hệ về tài sản với nhau. Do đó, trong vụ án HN&GĐ thì đương sự (vợ hoặc chồng) đều có quyền yêu cầu Tòa án phân chia tài sản chung vợ chồng trong thời kỳ hôn nhân nếu như vợ chồng không tự thỏa thuận được với nhau về tài sản.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo luật định thì việc giải quyết tài sản do các bên thỏa thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu của vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng, Tòa án giải quyết theo quy định tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và các Điều 60, 61, 62 , 63 và 64 của Luật này. Trong trường hợp chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận thì việc giải quyết tài sản được áp dụng theo thỏa thuận đó; nếu thỏa thuận không đầy đủ, rõ ràng thì áp dụng quy định tương ứng tại các khoản 2, 3, 4 và 5 Điều này và các Điều 60, 61, 62 , 63 và 64 của Luật này để giải quyết” [20].

Đương sự trong vụ án HN&GĐ đều có quyền tự thỏa thuận về việc chia tài sản khi ly hôn, đưa ra cách thức để chia tài sản sao cho phù hợp với nguyện vọng của các bên và đảm bảo sự công bằng. Nếu vợ chồng không thỏa thuận được với nhau thì các bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết chia theo quy định của pháp luật.

Theo quy định tại Khoản 2, Khoản 3, 4 và 5 Điều 59 Luật HN&GĐ năm 2014: “Tài sản chung của vợ chồng được chia đôi nhưng có tính đến các yếu tố sau đây: Hoàn cảnh của gia đình và của vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích chính đáng của mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện tiếp tục lao động tạo thu nhập; Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch. Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy định của Luật này. Bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình” [20].

Vì vậy, khi ly hôn tài sản chung sẽ được chia đôi theo quy định khi các bên không tự thỏa thuận được. Tuy nhiên, trong quá trình giải quyết Tòa án còn phải xét đến hoàn cảnh của mỗi bên, công sức đóng góp, nhằm đảm bảo quyền lợi hợp pháp và chính đáng của các bên. Tài sản chung của vợ chồng được chia bằng hiện vật, nếu không chia được bằng hiện vật thì chia theo giá trị; bên nào nhận phần tài sản bằng hiện vật có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì phải thanh toán cho bên kia phần chênh lệch. Đây là quy định hoàn toàn hợp lý, bởi nếu nhận phần tài sản có giá trị lớn hơn phần mình được hưởng thì người đó phải thanh toán phần giá trị chênh lệch cho bên còn lại. Như vậy, mới đảm bảo sự công bằng cho các bên khi chia tài sản. Về nguyên tắc chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn, Luật HN&GĐ năm 2014 luôn đề cao tính tự thỏa thuận và tôn trọng ý chí tự nguyện của nguyên đơn, bị đơn. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

Quan hệ hôn nhân giữa vợ và chồng là mối quan hệ dựa trên sự tự nguyện, đồng thuận của cả hai vợ chồng, cho nên nếu một trong hai người, vợ hoặc chồng đã không còn mong muốn chung sống, dẫn đến việc ly hôn thì dù muốn hay không người kia cũng sẽ chấp nhận. Nếu họ không chấp nhận nhưng xét thấy tình trạng hôn nhân của họ không thể cứu vãn được nữa thì Tòa án giải quyết bằng việc đưa vụ án ra xét xử, và ngay sau khi bản án giải quyết việc ly hôn này có hiệu lực thì các bên buộc phải tuân thủ. Thực tế đối với những vụ án chỉ giải quyết về vấn đề quan hệ nhân thân giữa vợ và chồng là quan hệ cốt lõi trong quan hệ hôn nhân thì việc giải quyết tương đối đơn giản. Ngược lại, mặc dù là quan hệ phát sinh từ quan hệ hôn nhân của vợ chồng nhưng những vụ án liên quan đến tranh chấp tài sản giữa vợ chồng thì thường rất phức tạp, kéo dài, rất khó giải quyết trong việc giải quyết hậu quả của việc ly hôn giữa vợ và chồng. Bởi vì, tài sản là vấn đề trung tâm, cốt lõi của mọi quan hệ xã hội nói chung và quan hệ HN&GĐ nói riêng. Một khi cuộc hôn nhân đã đổ vỡ, quan hệ hôn nhân chấm dứt thì việc giải quyết hậu quả mà cụ thể là việc phân chia tài sản chung của vợ chồng là điều rất quan trọng. Như vậy, theo quy định của pháp luật thì tồn tại hai chế độ tài sản của vợ chồng, gồm: Chế độ tài sản theo thỏa thuận và chế độ tài sản theo luật định. Việc phân chia tài sản của vợ chồng như thế nào sẽ phụ thuộc vào chế độ tài sản của vợ chồng. Nếu giữa vợ chồng đã có sự lựa chọn chế độ tài sản theo thỏa thuận thì khi ly hôn, Tòa án căn cứ vào nội dung sự thỏa thuận về tài sản đó của vợ chồng để phân chia tài sản cho vợ chồng. Nếu như có những nội dung về tài sản của vợ chồng chưa được thỏa thuận hoặc đã có sự thỏa thuận nhưng thỏa thuận không đầy đủ, không rõ ràng hoặc vợ chồng không có thỏa thuận nào về tài sản thì áp dụng các quy định của pháp luật theo chế độ tài sản theo luật định để phân chia tài sản cho họ khi có yêu cầu. Việc phân chia tài sản chung của vợ chồng theo luật định vẫn áp dụng nguyên tắc tự định đoạt của đương sự, các đương sự tự nguyện thỏa thuận về vấn đề chia tài sản chung như thế nào; nếu như các đương sự không thể thống nhất được việc phân chia tài sản chung và yêu cầu Tòa án phân chia thì Tòa án áp dụng các nguyên tắc phân chia quy định của pháp luật để giải quyết.

Tóm lại, về nguyên tắc chia tài sản giữa vợ chồng khi ly hôn, Luật HN&GĐ năm 2014 luôn đề cao tính tự thỏa thuận, sau đó mới là quyền yêu cầu Tòa án giải quyết. Đó chính là sự tôn trọng ý chí tự nguyện của đôi bên và tạo ra một môi trường thực sự bình đẳng cho vợ, chồng lựa chọn và quyết định sao cho phù hợp với lợi ích và nhu cầu của mình.

1.2.3. Quyền yêu cầu Tòa án giải quyết quan hệ về con chung Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

Khi ly hôn, vợ, chồng sẽ đều có quyền bình đẳng với nhau trong vấn đề con cái, trong đó quyền được nuôi con sau khi ly hôn được pháp luật công nhận và quy định tại Luật HN&GĐ năm 2014.

Tại Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định về việc trông nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con sau khi ly hôn như sau: “Sau khi ly hôn, cha mẹ vẫn có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chưa thành niên, con đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình theo quy định của Luật này, Bộ luật dân sự và các luật khác có liên quan; Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con; Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con” [20].

Về nguyên tắc theo quy định thì việc nuôi con khi ly hôn trước hết do vợ chồng tự thỏa thuận với nhau, nếu không thỏa thuận được thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết, con dưới 36 tháng tuổi sẽ giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng. Tuy nhiên, trong vụ án hôn nhân và gia đình có những đặc thù riêng để đảm bảo quyền lợi mọi mặt cho con, thì Tòa án sẽ xem xét đến các yếu tố cần thiết cho việc nuôi dưỡng con chung như điều kiện về vật chất, điều kiện về tinh thần của vợ, chồng để đưa ra quyết định sẽ giao con cho ai nuôi dưỡng.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 82 Luật HN&GĐ năm 2014: “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con” [20].

Như vậy, trường hợp vợ không đủ điều kiện nuôi con thì người chồng sẽ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết để giành quyền nuôi con. Tuy nhiên, đối với trường hợp con dưới 36 tháng tuổi nếu người mẹ muốn nuôi con và có điều kiện để nuôi con thì quyền nuôi con sẽ thuộc về người mẹ, nhằm đảm bảo sự chăm sóc và phát triển tốt nhất cho đứa trẻ. Đối với trường hợp con trên 36 tháng tuổi thì vợ chồng đều có quyền nuôi con là ngang nhau sau khi ly hôn.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật HN&GĐ năm 2014, cụ thể: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con; nếu con từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải xem xét nguyện vọng của con” [20]. Trong trường hợp con trên 07 tuổi thì Tòa sẽ xem xét nguyện vọng của con để làm căn cứ phân xử quyền nuôi con. Để giành quyền nuôi con thì vợ, chồng cần phải chứng minh về điều kiện vật chất, tinh thần cho yêu cầu đó. Các yếu tố về vật chất như thu nhập, điều kiện kinh tế, tài sản. Các yếu tố về tinh thần như thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con cái, tình cảm giành cho con, điều kiện cho con vui chơi giải trí, trình độ học vấn của cha mẹ. Đây là một quy định cơ bản của pháp luật nhằm bảo đảm quyền của vợ chồng và con cái sau ly hôn.

Để giành quyền nuôi con cần có các căn cứ chứng minh cho yêu cầu đó là hợp tình hợp lý, người nuôi con cần chứng minh được khả năng nuôi con của mình là tốt nhất cho đứa trẻ bao gồm khả năng về vật chất và tinh thần. Các yếu tố về vật chất như thu nhập, điều kiện kinh tế, tài sản. Các yếu tố về tinh thần như thời gian chăm sóc, dạy dỗ, giáo dục con cái, tình cảm giành cho con, điều kiện cho con vui chơi giải trí, trình độ học vấn của cha mẹ. Đây cũng là một quy định thể hiện sự bình đẳng vợ chồng trong giải quyết vụ án liên quan đến con cái. Cả vợ và chồng đều có quyền ngang nhau để nhận nuôi con, Tòa án chỉ dựa vào điều kiện nuôi dưỡng sao cho tốt nhất cho người con.

1.3. Các yêu tố ảnh hưởng và các điều kiện bảo đảm quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

1.3.1. Các yếu tố ảnh hưởng đến quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình

  • Phong tục, tập quán

Dưới chế độ phong kiến người phụ nữ phải nhất nhất theo thuyết “Tam tòng tứ đức” và đề cao tột đỉnh giá trị của người con trai, hạ thấp đến mức phủ nhận hoàn toàn giá trị của người con gái “Nhất nam viết hữu, thập nữ viết vô” (Một con trai cũng được coi là có, còn mười con gái cũng bị coi là không). Nhà nước phong kiến Việt Nam với những lễ giáo phong kiến như xiềng xích trói buộc người phụ nữ, Nhà nước phong kiến đã phân ra hai hạng người là quân tử và tiểu nhân, trong đó phụ nữ bị coi khinh như tiểu nhân. Nguồn gốc của quan điểm “nam tôn nữ ti” này xuất phát từ quan điểm của Khổng Tử. Khổng Tử cho rằng “Duy nữ tử dữ tiểu nhân nan dưỡng dã. Cận chi tắc bất tôn, viễn chi tắc oán” (nghĩa là chỉ có đàn bà và tiểu nhân là khó nuôi dạy. Gần thì sinh nhờn mà xa thì oán). Những phong tục, tập quán của con người trong xã hội tự đặt ra được hình thành trong quá trình lịch sử và ổn định thành nề nếp, phục vụ cộng đồng và được cộng đồng thừa nhận và tự giác thực hiện, được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác, tạo nên tính tương đối thống nhất của cộng đồng.

Ngày nay, phong tục tập quán về HN&GĐ thông thường được áp dụng ở những vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Ở những nơi đó, Luật HN&GĐ năm 2014 chưa thể thực hiện được một cách đầy đủ, nên cần phải sử dụng phong tục tập quán. Chính vì vậy, việc áp dụng phong tục tập quán vẫn được ghi nhận ở Luật HN&GĐ và Bộ luật Dân sự. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

  • Hoàn cảnh gia đình của đương sự

Đây là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp tài sản chung của vợ, chồng; nuôi dạy con cái khi ly hôn. Người vợ hoặc chồng có những khó khăn nhất định trong cuộc sống như: chi trả nhiều cho bệnh tật, nuôi mẹ già… sẽ được xem xét như một tình tiết ưu tiên khi phân chia tài sản chung của vợ, chồng khi ly hôn. Đây là điểm thể hiện tính nhân đạo của luật pháp cũng như tình nghĩa giữa những người từng là vợ chồng của nhau. Cụ thể, bên gặp khó khăn hơn sau khi ly hôn được chia phần tài sản nhiều hơn so với bên kia hoặc được ưu tiên nhận lại tài sản để đảm bảo duy trì, ổn định cuộc sống của họ nhưng phải phù hợp với hoàn cảnh thực tế của gia đình và của vợ, chồng. Bên cạnh đó, hoàn cảnh gia đình của vợ chồng trước khi ly hôn cũng quyết định đến khối lượng tài sản chung khi tranh chấp. Thông thường, các trường hợp hoàn cảnh gia đình trước ly hôn khó khăn, tài sản chung không lớn sẽ khiến cho việc giải quyết tranh chấp được diễn ra đơn giản. Ngược lại, những gia đình có khối lượng tài sản chung lớn, tính chất phức tạp trong việc phân định cao và thái độ của vợ và chồng khi tranh chấp cũng mang tính quyết liệt hơn dẫn đến việc giải quyết tranh chấp rất khó khăn.

  • Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ của vợ chồng

Vợ chồng là quan hệ vừa mang tính pháp lý vừa mang tính xã hội. Mỗi bên tham gia quan hệ này đều có những quyền và nghĩa vụ nhất định. Trường hợp các bên không tuân thủ các nghĩa vụ của mình là vi phạm nguyên tắc làm vợ hoặc chồng đã được pháp luật và xã hội thừa nhận. Đặc biệt, hậu quả ly hôn bắt nguồn từ lỗi của chồng hoặc vợ sẽ là yếu tố ảnh hưởng đến việc giải quyết tranh chấp tài sản khi ly hôn theo hướng bất lợi cho người có lỗi.

Luật HN&GĐ năm 2014 cũng đã ghi nhận một nguyên tắc rất quan trọng trong việc phân chia tài sản của vợ chồng khi ly hôn là tính đến việc xét lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ chồng. Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 cho phép cả vợ, chồng đều có quyền yêu cầu giải quyết ly hôn. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

Theo đó mỗi bên đều có quyền đơn phương nộp đơn ra Tòa án để yêu câu giải quyết ly hôn. Đối với trường hợp ly hôn theo yêu cầu của một bên, Điều 56 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định để được Tòa án thụ lý đơn ly hôn đơn phương thì cần phải có căn cứ ly hôn, bao gồm: Vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.

Tình trạng hôn nhân trầm trọng ở đây được hiểu là: Vợ chồng không chung thủy với nhau như có quan hệ ngoại tình, đã được người vợ hoặc người chồng hoặc bà con thân thích của họ hoặc cơ quan, tổ chức, nhắc nhở, khuyên bảo nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình. Trường hợp nếu chồng hoặc vợ có hành vi ngoại tình, đã bị phát hiện hay bà con thân thích hoặc cơ quan, tổ chức nhắc nhở, khuyên bảo, khuyên giải nhưng vẫn tiếp tục có quan hệ ngoại tình thì được xem là tình trạng hôn nhân trầm trọng, theo Điều 56 Luật HN & GĐ năm 2014, Tòa án có căn cứ để xét đơn đơn phương ly hôn, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 51 Luật HN & GĐ năm 2014: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi”.

Theo quy định của Thông tư liên tịch số: 01/2016/TTLT –TANDTCVKS NDTC- BTP, ngày 06/01/2016 thì: “Lỗi của mỗi bên trong vi phạm quyền, nghĩa vụ vợ, chồng” ở đây được hiểu là lỗi của vợ hoặc chồng vi phạm quyền, nghĩa vụ về nhân thân, tài sản của vợ chồng dẫn đến ly hôn. Ví dụ, trường hợp người chồng ngoại tình hoặc phá tán tài sản thì khi giải quyết ly hôn Tòa án phải xem xét yếu tố lỗi của người chồng khi chia tài sản chung của vợ chồng để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp của vợ và con chưa thành niên. Như vậy, việc ly hôn do lỗi ngoại tình của vợ hoặc chồng thì vợ hoặc chồng sẽ có những bất lợi trong tranh chấp tài sản khi ly hôn.

1.3.2. Các điều kiện bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình

  • Quy định của pháp luật về quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình

Pháp luật là công cụ điều chỉnh các quan hệ xã hội; mọi hoạt động của các chủ thể trong xã hội đều phải thực hiện theo quy định của pháp luật. Để đảm bảo cho các quan hệ xã hội hình thành và phát triển theo một trật tự nhất định, pháp luật phải quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của các chủ thể, đặc biệt là về sự bình đẳng của các chủ thể trước pháp luật.

Việc bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình phụ thuộc phần lớn vào các quy định của pháp luật Tố tụng dân sự và pháp luật HN&GĐ, nhất là các quy định về quyền, nghĩa vụ của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, người tham gia Tố tụng dân sự; trình tự khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc HN&GĐ và trình tự, thủ tục Tòa án giải quyết vụ việc HN&GĐ. Pháp luật về Tố tụng dân sự cũng chính là cơ sở pháp lý cho Tòa án tiến hành các hoạt động thụ lý, giải quyết vụ án HN&GĐ để bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

Bên cạnh đó, để bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ thì pháp luật cần thiết phải quy định cụ thể về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ án HN&GĐ, từ việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án đến việc thụ lý, lập hồ sơ, hòa giải và giải quyết theo thẩm quyền đối với vụ án HN&GĐ. Trong quá trình đó, ngoài việc quy định cụ thể những vấn đề liên quan đến quyền hạn, nhiệm vụ và trách nhiệm của những người tiến hành Tố tụng dân sự, thì quyền và nghĩa vụ Tố tụng dân sự của chính các đương sự, của người đại diện hợp pháp của đương sự, của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự cũng cần được quy định hết sức đầy đủ, cụ thể và khoa học để tạo cơ sở pháp lý vững chắc và thuận lợi trong quá trình giải quyết vụ án.

  • Sự phát triển kinh tế – xã hội Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

Các Mác cho rằng, quyền con người phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, do chế độ kinh tế quy định. Là một phạm trù pháp lý thuộc kiến trúc thượng tầng xã hội, việc bảo đảm quyền của phụ nữ khi ly hôn có mối liên hệ chặt chẽ với kinh tế. Trong mối liên hệ giữa kinh tế và pháp luật thì kinh tế giữ vai trò quyết định đối với pháp luật. Vì vậy, điều kiện kinh tế – xã hội chi phối đến việc bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ. Kinh tế – xã hội phát triển sẽ tạo thuận lợi cho việc thực hiện đầy đủ các quyền của đương sự trong giải quyết vụ án HN&GĐ. Trên cơ sở sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nước, hệ thống pháp luật sẽ được hoàn thiện, ý thức pháp luật của mọi người được nâng cao, các hoạt động trợ giúp pháp lý được đẩy mạnh, Tòa án sẽ có đủ phương tiện cần thiết để giải quyết các vụ án HN&GĐ. Bên cạnh đó, các đương sự cũng sẽ có thêm các điều kiện thuận lợi về vật chất để tham gia tố tụng hoặc nhờ người khác tham gia Tố tụng dân sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ là vấn đề pháp lý mang tính dân chủ sâu sắc nên điều đó chỉ thực sự tồn tại và phát triển trong một xã hội dân chủ – xã hội công dân. Một trong nhiều mục tiêu quan trọng của nhà nước dân chủ, đó là việc bảo đảm quyền con người, trong đó có quyền bình đẳng. Ở xã hội dân chủ, sự bình đẳng được thừa nhận rộng rãi, các quan hệ dân sự được phát triển rộng rãi trên cơ sở tự nguyện, bình đẳng và cùng có lợi. Trong bối cảnh đó, Nhà nước luôn quan tâm và tạo mọi điều kiện để bảo đảm quyền và các lợi ích chính đáng của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

  • Nhận thức và ý thức của đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình.

Trước tiên, bản thân các đương sự cần nâng cao nhận thức về quyền của mình trong các vụ án HN&GĐ. Đồng thời chủ động và quyết liệt hơn trong bảo vệ quyền của mình.

Có thể thấy, ý thức tự bảo vệ là điều rất cần thiết, đòi hỏi các đương sự cần nắm rõ quy định của pháp luật về HN&GĐ, về quyền nhân thân, quyền tài sản, quyền thực hiện thiên chức làm mẹ, quyền lưu trú (nếu cần)…; cần lưu chứng những bằng chứng, chứng cứ ngay sau khi có tranh chấp, mâu thuẫn để bảo đảm không phát sinh tranh chấp không đáng có trong tương lai.

Đương sự cũng phải tự nâng cao ý thức trong việc bảo vệ quyền lợi cho chính bản thân mình. Bởi lẽ từ trước tới nay, phần lớn người Việt Nam vẫn chưa có thói quen lưu lại những chứng từ, chứng cứ, hoá đơn… chứng minh nguồn gốc tài sản, mâu thuẫn vợ chồng để làm căn cứ yêu cầu xử lý trong từng vụ việc. Đây chính là một thói quen bất lợi cho đương sự mỗi khi xảy ra tranh chấp về HN&GĐ. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

  • Hoạt động giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình của Tòa án có thẩm quyền

Xixeron, nhà hùng biện nổi tiếng thời La Mã cổ đại đã từng đưa ra một nhận xét: “Quan tòa là một đạo luật biết nói, còn đạo luật là một vị quan tòa câm”. Nhận xét đó nói lên vai trò vô cùng quan trọng của Tòa án bởi vì các hoạt động tố tụng dân sự nói chung, giải quyết vụ án HN &GĐ nói riêng đều dựa trên cơ sở bình đẳng giữa các chủ thể tham gia nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chính họ, đều phải thông qua Tòa án. Chính vì vậy, mỗi hoạt động tố tụng giải quyết vụ án HN&GĐ của những người tiến hành tố tụng thuộc Tòa án đều ảnh hưởng trực tiếp đến việc thực hiện quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

Thực tế đã chứng minh rằng ở nơi nào, vào giai đoạn nào, nếu vai trò của Tòa án được nhìn nhận, đánh giá và sử dụng đúng thì ở đó, kỷ cương, phép nước được củng cố và giữ vững; bảo đảm được trật tự và ổn định xã hội; tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình xây dựng và phát triển đất nước; tôn trọng và bảo đảm quyền bình đẳng của các cá nhân, cơ quan và tổ chức.

Để bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ thì việc nâng cao hiệu quả hoạt động của Tòa án – chủ thể trung tâm của các hoạt động Tố tụng dân sự là điều quan trọng. Trong công cuộc cải cách tư pháp hiện nay, ngoài việc phải hoàn thiện hệ thống pháp luật về Tố tụng dân sự, thì còn cần phải hoàn thiện hệ thống tổ chức Tòa án, nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ Tòa án.

  • Hoạt động hỗ trợ đương sự khi tham gia tố tụng của cá nhân, cơ quan, tổ chức

Trong giải quyết các vụ án HN&GĐ, thì các cơ quan, tổ chức như Hội Liên hiệp phụ nữ; cơ quan quản lý nhà nước về Dân số, Gia đình và Trẻ em; tổ chức Công đoàn… là những cơ quan, tổ chức có quyền, nghĩa vụ tham gia Tố tụng dân sự chủ yếu. Vì vậy, việc các cơ quan, tổ chức này tham gia tích cực sẽ có tác động lớn đối với việc bảo đảm quyền của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐ.

Ngoài ra, để quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ được thực hiện hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng hoạt động xét xử thì việc thu thập tài liệu, chứng cứ là cần thiết. Chính vì vậy, trong trường hợp các tài liệu, chứng cứ liên quan đến việc giải quyết vụ án HN&GĐ đang do các tổ chức, cá nhân quản lý thì đương sự cần đến sự giúp đỡ của chính các tổ chức, cá nhân này trong việc thu thập. Để tạo điều kiện cho đương sự bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp trước Tòa án thì các tổ chức, cá nhân đang quản lý tài liệu, chứng cứ phải có nghĩa vụ cung cấp cho Tòa án các tài liệu, chứng cứ liên quan đó. Trong trường hợp việc cung cấp các chứng tài liệu, chứng cứ liên quan không được thực hiện đầy đủ thì việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự sẽ bị hạn chế rất nhiều. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

  • Cơ chế giám sát và kiểm sát các hoạt động tố tụng hôn nhân và gia đình

Điều 102 của Hiến pháp năm 2013 xác định: “Tòa án nhân dân là cơ quan xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, thực hiện quyền tư pháp” [19]. Theo đó, hoạt động giải quyết vụ án HN&GĐ của Tòa án phải tuân thủ nghiêm chỉnh pháp luật, áp dụng đúng pháp luật để bảo đảm việc giải quyết các vụ việc HN&GĐ đúng pháp luật và đúng thực tế khách quan. Tuy nhiên, thực tiễn cuộc sống cho thấy rằng quyền lực luôn có khuynh hướng bị lạm quyền nếu thiếu đi sự giám sát, sự kiềm chế và sự cân bằng. Đối với hoạt động giải quyết các vụ án HN&GĐ, sự giám sát, kiểm tra càng phải được thực hiện chặt chẽ vì hoạt động của Tòa án dễ bị thiên lệch, xâm phạm đến sự bảo đảm quyền của đương sự cũng như hiệu quả giải quyết vụ án HN&GĐ. Vấn đề giải quyết vụ án HN&GĐ không chỉ liên quan đến đời sống vật chất của vợ, chồng và những người liên quan khi ly hôn mà còn liên quan đến đời sống tinh thần của họ. Nếu việc giải quyết vụ án HN&GĐ diễn ra theo hướng tùy tiện sẽ dẫn đến hậu quả nguy hiểm. Khi đó sẽ xảy ra tình trạng những quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự không những không được bảo vệ, bảo đảm, mà những quyền, lợi ích hợp pháp ấy còn có nguy cơ bị xâm phạm. Vì vậy, xuất phát từ hậu quả xấu đã được dự liệu trước, chúng ta có thể thấy sự cần thiết và tính quan trọng của công tác giám sát, kiểm sát hoạt động của Tòa án trong việc giải quyết các vụ án HN&GĐ. Đây chính là một yêu cầu bảo đảm quyền của đương sự trong các vụ án HN&GĐ hiện nay.

Việc giám sát, kiểm sát các hoạt động tố tụng được thực hiện thông qua nhiều phương thức khác nhau như: Cơ quan dân cử nghe Tòa án cùng cấp báo cáo công tác xét xử; Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án HN&GĐ; Tòa án xét xử công khai; Viện kiểm sát giám sát các hoạt động Tố tụng dân sự về HN&GĐ…

Trong thực tế, mỗi phương thức giám sát, kiểm sát hoạt động tố tụng đều có những yêu cầu và các đặc điểm riêng. Tuy nhiên, mọi phương thức giám sát, kiểm sát đều có tác dụng làm cho hoạt động Tố tụng dân sự đặt dưới sự giám sát, kiểm sát của nhân dân hoặc của Nhà nước, bảo đảm cho hoạt động này được thực hiện đúng đắn và hiệu quả. Vì vậy, hoạt động giám sát, kiểm sát hoạt động giải quyết vụ án HN&GĐ có ý nghĩa to lớn trong việc bảo đảm quyền của đương sự trong các vụ án HN&GĐ.

Tiểu kết chương 1

Trong vụ án HN&GĐ không thể thiếu chủ thể quan trọng đó là đương sự. Việc xác định đương sự được hưởng những quyền gì theo quy định của pháp luật trong một vụ án HN&GĐ đã được quy định trong Luật HN&GĐ năm 2014 và trong Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Việc hiểu rõ những quy định về quyền của đương sự trong các vụ án HN&GĐ giúp cho các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng thực hiện tốt nhiệm vụ của mình, đồng thời cũng giúp cho đương sự trong các vụ án HN&GĐ được thực hiện và tôn trọng.

Những cơ sở lý luận được phân tích, nghiên cứu ở chương 1 cũng là cơ sở lý luận để tác giả phân tích thực trạng ở chương 2 và đề xuất các giải pháp ở chương 3. Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân

One thought on “Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464