Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quan điểm, giải pháp bảo đảm quyền của các trong vụ án hôn nhân và gia đình qua thực tiễn Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1. Quan điểm bảo đảm quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình

3.1.1. Phải quán triệt quan điểm của Đảng và Nhà nước về đổi mới và hoàn thiện hệ thống pháp luật

Đường lối của Đảng luôn là kim chỉ nam định hướng cho mọi hoạt động của Nhà nước, các tổ chức kinh tế xã hội và mọi cá nhân thực hiện. Kịp thời thể chế hoá đường lối, chính sách đổi mới của Đảng là một trong những nhiệm vụ, đồng thời cũng là chìa khoá dẫn đến thành công của công tác xây dựng hoàn thiện hệ thống pháp luật. Pháp luật về HN&GĐ cũng như Tố tụng dân sự cũng như các quy định về quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ cũng không phải là ngoại lệ.

Trước yêu cầu đổi mới đất nước, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung, trong đó có các quy định về HN&GĐ và Tố tụng dân sự là nhiệm vụ quan trọng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa.

Báo cáo chính trị của Ban chấp hành Trung ương Đảng tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, đề ra mục tiêu “Tiếp tục hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, xây dựng bộ máy nhà nước tinh gọn, trong sạch, vững mạnh; hoàn thiện hệ thống pháp luật, đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất năng lực đá ứng yêu cầu, nhiệm vụ; phát huy dân chủ, tăng cường trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương…” [6].

Vì vậy, các quy định về quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ cần tuân theo các quan điểm của Đảng và Nhà nước. Đó là sợi chỉ đỏ xuyên suốt trong sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện pháp luật về HN&GĐ và Tố tụng dân sự cũng như các quy định cụ thể về quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

3.1.2. Phải xuất phát từ yêu cầu xây dựng Nhà nước pháp quyền và quá trình dân chủ hoá đời sống nhà nước, đời sống xã hội ở địa phương. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Điều 2 Hiến pháp năm 2013 quy định: “Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân, vì Nhân dân” [19]. Như vậy, bằng việc bảo đảm về mặt Hiến định, chúng ta đang tạo ra những nền tảng cần thiết để xây dựng Nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, việc xây dựng nhà nước pháp quyền ở Việt Nam là một tiến trình lâu dài và có tính đặc thù. Nhà nước pháp quyền phải là sự kế thừa, phát triển của Nhà nước dân chủ nhân dân ở tầm cao mới trên cơ sở bảo tồn, phát huy các giá trị văn hoá truyền thống.

Hạt nhân của việc xây dựng Nhà nước pháp quyền là các quan hệ xã hội chủ yếu được điều chỉnh bằng pháp luật, trong đó quan hệ HN&GĐ giữ vị trí quan trọng, bởi gia đình là tế bào của xã hội; pháp luật giữ vị trí điều chỉnh chủ đạo trong toàn xã hội, trong hoạt động xử sự của những chủ thể trong xã hội. Các cơ quan nhà nước, một mặt sử dụng pháp luật để quản lý từng ngành, từng lĩnh vực, nhưng ở mặt khác, khi tham gia các quan hệ pháp luật thì cũng phải chịu sự điều chỉnh của pháp luật. Nói một cách khác, Nhà nước pháp quyền là Nhà nước mà ở đó, pháp luật là ý chí của toàn thể nhân dân, pháp luật giữ vị trí thống trị. Quản lý nhà nước bằng pháp luật là yêu cầu khách quan của xã hội văn minh, công bằng, dân chủ; là phương pháp cơ bản bảo đảm hiệu lực và hiệu quả quản lý của Nhà nước. Xây dựng Nhà nước pháp quyền hoạt động trên cơ sở pháp luật, thực hiện quản lý tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội bằng pháp luật, bảo đảm cho toàn xã hội nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật. Trên cơ sở đó, các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân được bảo đảm, khắc phục sự tùy tiện, lạm quyền của các cơ quan nhà nước, của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ.

3.1.3. Phải thể hiện được chủ trương của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp

Cùng với tiến trình đổi mới đất nước, Đảng và Nhà nước ta đang chủ trương cải cách bộ máy nhà nước trên tất cả các lĩnh vực: Lập pháp, hành pháp và tư pháp. Trong nhà nước pháp quyền, quyền con người, quyền công dân được xác lập về mặt pháp lý, tạo cơ sở cho việc xây dựng một xã hội bình đẳng và công bằng. Nhà nước pháp quyền là một nhà nước chống lại sự lạm quyền, vi phạm quyền con người, quyền công dân; chống lại sự tùy tiện của công quyền để bảo vệ quyền con người; đó cũng là nơi mà mọi mặt hoạt động của Nhà nước đều đặt trên cơ sở pháp luật.

Tuy nhiên, cũng cần lưu ý rằng, để bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ thì phải giải quyết tốt mâu thuẫn giữa việc mở rộng quyền của đương sự với việc hoàn thiện và mở rộng thẩm quyền của Tòa án. Vấn đề cần phải nhận thức hai chiều ở đây là: Các quy định của pháp luật nhằm tôn trọng và bảo vệ, bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ; nhưng các quy định đó cũng đồng thời phải bảo đảm rằng: khi thực hiện quyền ấy, đương sự không gây khó khăn, cản trở hoạt động xét xử bình thường của Tòa án. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Trong quá trình xây dựng và phát triển đất nước, Đảng và Nhà nước ta luôn chủ trương thực hành chính sách đổi mới nhằm kiện toàn và nâng cao hiệu quả hoạt động của các cơ quan nhà nước, trong đó có hệ thống Toà án nhân dân.

3.1.4. Phải phù hợp với tiến trình hội nhập quốc tế

Trong xu thế hội nhập và toàn cầu hoá hiện nay, các quốc gia muốn phát triển không thể độc lập với bên ngoài, mà phải thiết lập các mối quan hệ bang giao rộng rãi. Việt Nam đang trong quá trình đổi mới, chúng ta đã chú ý hội nhập với nhiều nước trong khu vực và trên thế giới trên nhiều lĩnh vực kinh tế, xã hội, khoa học công nghệ… Đây là điều kiện hết sức thuận lợi cho phép chúng ta tiếp thu học tập những kinh nghiệm của các nước và vận dụng một cách sáng tạo vào điều kiện cụ thể Việt Nam.

Để thực hiện thành công đường lối đối ngoại, yêu cầu đặt ra chúng ta phải xây dựng được một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đồng bộ, phù hợp với pháp luật của cộng đồng quốc tế. Pháp luật của Việt Nam không chỉ thể hiện được tính đặc thù của nền kinh tế xã hội Việt Nam mà còn phải thể hiện được những thông lệ, những quy định có tính chất chung đã được nhiều nước thừa nhận. Không tuân thủ nguyên tắc này, thì chúng ta về mặt lập pháp đã tự gây trở ngại cho chính mình trong việc hội nhập khu vực và quốc tế.

Hiện nay nền kinh tế ở nước ta đang trên đà hội nhập với khu vực và quốc gia. Kinh tế thị trường phát triển sẽ phát sinh nhiều giao dịch dân sự cũng như là các quan hệ HN&GĐ phức tạp và rắc rối. Để bảo đảm cho quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ thì hệ thống pháp luật nói chung, pháp luật về HN&GĐ và Tố tụng dân sự nói riêng phải thường xuyên được hoàn thiện theo điều kiện thực tế của Việt Nam và phù hợp với những giá trị, chuẩn mực chung của pháp luật quốc tế nhằm đảm bảo quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ được thực hiện một cách nghiêm túc và triệt để.

3.2. Giải pháp bảo đảm quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

3.2.1. Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật

  • Hoàn thiện quy định của pháp luật về hôn nhân và gia đình

Để bảo đảm hơn nữa quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ cần phải có một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, đặc biệt là các văn bản pháp luật áp dụng trong việc giải quyết các vụ án HN&GĐ. Vì vậy, cần nghiên cứu để xây dựng và ban hành các văn bản pháp luật về HN&GĐ sát với thực tế để đảm bảo quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ. Cụ thể:

  • Thứ nhất, về quyền ly hôn.

Tại khoản 3 Điều 51 của Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” [20] là không hợp lý. Theo tinh thần của điều luật này thì nguyên đơn trong trường hợp này chỉ có thể là người vợ mà không thể là người chồng đứng đơn xin ly hôn với mục đích bảo vệ bà mẹ và trẻ em. Tuy nhiên, trong trường hợp người vợ sống không chung thủy, ngoại tình dẫn đến có thai, sinh con dẫn đến tình cảm vợ chồng bị sứt mẻ, gia đình không còn hạnh phúc và mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng thì người chồng vẫn không có quyền là nguyên đơn để yêu cầu giải quyết ly hôn mà phải tiếp tục chung sống với nhau cho đến khi người con đủ 12 tháng tuổi là không thật sự đảm bảo quyền lợi cho người chồng. Quy định này đã ảnh hưởng rất lớn đến quyền nhân thân của đương sự (với tư cách là người chồng) trong vụ án HN&GĐ trong trường hợp này. Vì vậy, Luật HN&GĐ cần quy định người chồng có quyền được đứng nguyên đơn về việc yêu cầu ly hôn nếu có căn cứ chứng minh về việc người vợ ngoại tình, có thai và nuôi con dưới 12 tháng tuổi không phải là con ruột của mình. Quy định như vậy sẽ đảm bảo hơn nữa quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

  • Thứ hai, về căn cứ để giải quyết ly hôn. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Luật HN&GĐ chưa quy định cụ thể những căn cứ để giải quyết ly hôn trong vụ án HN&GĐ như trong trường hợp vợ chồng đã sống ly thân, người chồng hoặc vợ phạm tội và đang chấp hành án phạt tù. Trong trường hợp này theo tác giả, để đảm bảo hơn nữa quyền của đương sự trong vụ án thì pháp luật cần quy định định đây là những căn cứ để giải quyết khi có yêu cầu xin ly hôn. Vì thực tế khi vợ chồng đã sống ly thân thì cuộc sống gia đình đã không còn hạnh phúc, thời gian vợ chồng sống ly thân là khoảng thời gian riêng để vợ chồng nhìn nhận lại mình có thể tiếp tục hôn nhân hiện tại nữa hay không? Mặt khác, khi người chồng hoặc vợ phạm tội và đang chấp hành án phạt tù và một bên có yêu cầu giải quyết ly hôn thì trên thực tế vợ chồng không còn có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, tình cảm không còn mặn nồng thì Tòa án có thể coi dây là căn cứ để giải quyết. Vì vậy, cần phải sửa đổi, bổ sung Luật HN&GĐ theo hướng: “Trường hợp vợ chồng đã sống ly thân, người chồng hoặc vợ phạm tội và đang chấp hành án phạt tù làm căn cứ để giải quyết cho ly hôn” mới đảm bảo quyền của nguyên đơn trong vụ án HN&GĐ.

  • Hoàn thiện các quy định của pháp luật tố tụng dân sự

Hoàn thiện các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Tố tụng dân sự nhằm bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Tố tụng dân sự Việt Nam rõ ràng đã thể hiện nỗ lực của các nhà lập pháp trong việc đảm bảo quyền con người trong Tố tụng dân sự nói chung, trong các vụ án về HN&GĐ nói riêng. Các nguyên tắc này thực tế đã phát huy được vai trò của mình trong việc ghi nhận, tạo tiền đề cũng như tạo điều kiện cho việc thực hiện quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

Bên cạnh đó, như đã phân tích, thực tế thực hiện các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Tố tụng dân sự cũng đặt ra những vấn đề không nhỏ, có thể ảnh hưởng đến những khía cạnh khác của của đương sự trong vụ án HN&GĐ. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Tố tụng dân sự có ý nghĩa vô cùng quan trọng, là kim chỉ nam định hướng cho cả quá trình xây dựng pháp luật về Tố tụng dân sự lẫn việc thực hiện các hoạt động tố tụng theo tinh thần của Hiến pháp năm 2013. Để làm được như vậy, các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Tố tụng dân sự cần cân nhắc một số điểm sau đây:

  • Một là, đối với nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật.

Nguyên tắc này được ghi nhận trong pháp luật tố tụng của hầu hết các nước trên thế giới nhằm đảm bảo phán quyết của Tòa án được công minh, công bằng, không trái pháp luật. Tuy vậy, nội hàm nguyên tắc xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật tại Điều 12 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 chỉ mới dừng lại ở quy định sự độc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân và sự độc lập giữa Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân với cơ quan, tổ chức khác. Nguyên tắc xét xử độc lập phải được hiểu bao gồm độc lập giữa Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân với các cơ quan, tổ chức khác, độc lập giữa Tòa án cấp dưới và Tòa án cấp trên, độc lập của Thẩm phán trong quá trình thu thập chứng cứ, và độc lập giữa các thành viên Hội đồng xét xử. Vì vậy, cần bổ sung nguyên tắc độc lập trong xét xử giữa Tòa án cấp dưới và Tòa án cấp trên, nhằm tạo điều kiện cho các Thẩm phán cấp dưới chủ động, độc lập đưa ra phán quyết trong quá trình xét xử, tránh tình trạng xin ý kiến chỉ đạo của Tòa cấp trên khi gặp tình huống khó.

  • Hai là, đối với nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.

Pháp luật Tố tụng dân sự cần phân định rõ thẩm quyền của Hội thẩm nhân dân và Thẩm phán. Ở Việt Nam không có sự phân biệt giữa vấn đề pháp lý và vấn đề sự kiện. Vì thế, nguyên tắc Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử vụ án dân sự được hiểu là Hội thẩm nhân dân cũng là thành viên của Hội đồng xét xử và có quyền hạn như Thẩm phán trong việc quyết định mọi vấn đề của vụ án và ngang quyền với Thẩm phán khi biểu quyết quyết định giải quyết vụ án. Với nội hàm như vậy và thực tế, nếu ý kiến của Hội thẩm nhân dân chiếm đa số thì Thẩm phán cũng phải chấp nhận. Trong khi đó, hầu hết Thẩm phán có trình độ hiểu biết pháp luật cao hơn Hội thẩm nhân dân. Điều này có thể dẫn đến phán quyết đưa ra chưa thật sự hợp lý, xâm phạm đến quyền con người, quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự. Thiết nghĩ, Việt Nam nên tham khảo pháp luật của nhiều nước trên thế giới như Anh, Pháp, Nhật Bản… Hội thẩm nhân dân tham gia phiên tòa nhưng chỉ có thẩm quyền quyết định vấn đề sự kiện và cho ý kiến về vấn đề pháp lý. Còn Thẩm phán là người chịu trách nhiệm chính về vấn đề pháp lý trong vụ việc.

  • Cần quy định rõ trách nhiệm đối với các cơ quan liên quan đang lưu trữ, quản lý tài liệu chứng cứ liên quan đến vụ án HN&GĐ khi Tòa án yêu cầu mà không cung cấp hoặc cung cấp chậm, không đầy đủ.

Để đảm bảo hơn nữa quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ thì cần quy định rõ trách nhiệm cụ thể đối với các cơ quan liên quan đang lưu trữ, quản lý tài liệu chứng cứ khi Tòa án yêu cầu mà không cung cấp hoặc cung cấp chậm, không đầy đủ. Tại khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng dân sự quy định “Cơ quan, tổ chức, cá nhân đang quản lý, lưu giữ tài liệu, chứng cứ có trách nhiệm cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu; hết thời hạn này mà không cung cấp đầy đủ tài liệu, chứng cứ theo yêu cầu của Tòa án thì cơ quan, tổ chức, cá nhân được yêu cầu phải trả lời bằng văn bản và nêu rõ lý do. Cơ quan, tổ chức, cá nhân không thực hiện yêu cầu của Tòa án mà không có lý do chính đáng thì tùy theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật” [23]. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

  • Cần quy định rõ trách nhiệm của Thẩm phán, Tòa án khi áp dụng, thay đổi, huỷ bỏ hoặc không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong vụ án HN&GĐ mà gây thiêt hại thì phải bồi thường.

Việc quy định trách nhiệm bồi thường của Toà án khi áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo quy định hiện hành chưa thật sự chặt chẽ. Ngoài các quy định về trường hợp Tòa án áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, để bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ thì cần sửa đổi, bổ sung thêm quy định: “Nếu Toà án không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời hoặc áp dụng vượt quá yêu cầu mà gây ra thiệt hại đối với người yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Thẩm phán, Toà án phải có trách nhiệm bồi thường”. Quy định như vậy nhằm mục đích nâng cao vai trò trách nhiệm của Thẩm phán, Tòa án trong việc giải quyết các vụ án HN&GĐ, hạn chế vi phạm và lạm dụng khi áp dụng, không áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để đảm bảo hơn nữa quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

3.2.2. Nhóm giải pháp về tổ chức thực hiện

  • Nâng cao nhận thức về quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân và gia đình

Trong xã hội hiện nay, không phải mọi người dân ở nước ta hiện nay đều hiểu và nhận thức đúng đắn về quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ. Do các quy định cụ thể về quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ chưa rõ ràng nên dẫn đến việc trên thực tế khó thực hiện khi giải quyết vụ án. Vì vậy, cần phải nhận thức đầy đủ và chính xác quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ. Cơ quan Tòa án phải là tổ chức tiên phong trong việc ghi nhận, tôn trọng và bảo đảm quyền của nguyên đơn, bị đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình. Từ những cơ sở đó nhà làm luật mới có thể xây dựng và hoàn thiện thể chế nhằm bảo đảm hơn nữa quyền của nguyên đơn, bị đơn trong vụ án hôn nhân và gia đình. Thực tiễn tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin khi giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình thì cần phải giải thích về quyền và nghĩa vụ của đương sự cho những người tham gia tố tụng hiểu và thực hiện đúng quyền của mình. Dựa trên cơ sở đó, các đương sự có thể nhận thức và thực hiện đúng quyền của mình sẽ đảm bảo cho việc giải quyết vụ án một cách triệt để bảo vệ được quyền, lợi ích hợp pháp của vợ, chồng khi ly hôn.

Để đương sự có thể hiểu và thực hiện được quyền của chính mình trong giải quyết vụ án HN&GĐ thì đương sự phải có sự hiểu biết nhất định về pháp luật HN&GĐ và pháp luật Tố tụng dân sự, đặc biệt là trong giai đoạn hiện nay khi Luật HN&GĐ năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 quy định theo hướng phát huy tính tích cực, tính chủ động của các đương sự trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Trong trường hợp đó, cần thiết phải đẩy mạnh công tác giáo dục, tuyên truyền và phổ biến pháp luật về HN&GĐ và Tố tụng dân sự nhằm giúp cho mọi người hiểu biết rõ hơn về trình tự giải quyết vụ án HN&GĐ tại Tòa án; hiểu rõ về nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan và người tiến hành tố tụng; hiểu rõ về các quyền và nghĩa vụ của đương sự theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Nếu mỗi công dân hiểu rõ ràng, đầy đủ trình tự, thủ tục giải quyết vụ án HN&GĐ, hiểu rõ về quyền bình đẳng của đương sự, quyền không bị phân biệt đối xử, nhận thức đúng về bất bình đẳng giới và quyền của con người trong đời sống xã hội nói chung và trong quan hệ HN&GĐ nói riêng cũng như trong giải quyết vụ án HN&GĐ thì sẽ hỗ trợ cho họ, giúp cho họ khi tham gia tố tụng tại Toà án thực hiện được toàn vẹn các quyền của mình. Đồng thời, với sự hiểu biết đó, đương sự sẽ giám sát được sự chấp hành, thực hiện Tố tụng dân sự của những chủ thể khác, góp phần làm cho việc giải quyết vụ án HN&GĐ được công bằng, đúng pháp luật. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

  • Ưu tiên bảo đảm quyền của đương sự là những người thuộc nhóm yếu thế trong vụ án hôn nhân và gia đình

Để đảm bảo hơn nữa quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ thì nhóm quyền của đương sự là phụ nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người bị khuyết tật, không nơi nương tựa… cần được pháp luật ưu tiên bảo vệ. Theo quy định tại Điều 51 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định: “Vợ, chồng hoặc cả hai người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn; cha, mẹ, người thân thích khác có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ; chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi” [20].

Pháp luật quy định cụ thể quyền kết hôn, ly hôn là quyền nhân thân chỉ có chủ thể là vợ hoặc chồng mới có quyền yêu cầu giải quyết. Cha, mẹ người thân thích có thể yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn trong trường hợp khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ. Trong thời kỳ hôn nhân vợ, chồng hoặc cả hai vợ chồng đều có quyền yêu cầu ly hôn. Chồng không có quyền yêu cầu ly hôn trong trường hợp vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Pháp luật không đặt ra điều kiện hạn chế quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn của vợ chồng mà thực tế xuất phát từ nguyên tắc bảo vệ bà mẹ, trẻ em, bảo vệ quyền lợi chính đáng của người vợ và con chưa thành niên, phụ nữ có thai, thai nhi nhằm bảo vệ nhóm yếu thế trong xã hội. Tại khoản 3 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình quy định trường hợp hạn chế quyền yêu cầu ly hôn của người chồng. Theo quy định này, người chồng không được yêu cầu ly hôn với tư cách đứng đơn là nguyên đơn trong vụ án nếu vợ đang có thai, sinh con hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi.

Để bảo vệ quyền của đương sự thuộc nhóm yếu thế là phụ nữ có thai, nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người bị khuyết tật, không nơi nương tựa trong xã hội hiện nay thì pháp luật quy định trong trường hợp này chỉ có người vợ mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn, việc hạn chế yêu cầu ly hôn chỉ áp dụng với người chồng mà không áp dụng với người vợ, người vợ đang có thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, nếu xét thấy tình cảm yêu thương giữa vợ chồng đã hết, mâu thuẫn gia đình đến mức sâu sắc, mục đích của hôn nhân không đạt được; nếu duy trì sẽ bất lợi cho quyền lợi của người vợ, ảnh hưởng tới sức khỏe của người vợ hoặc thai nhi hay trẻ sơ sinh mà người vợ có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý giải quyết vụ kiện theo thủ tục chung. Đây là một trong những quy định thể hiện sâu sắc tính nhân văn nhằm bảo vệ nhóm người yếu thế trong xã hội.

  • Kết hợp chặt chẽ giữa pháp luật và đạo đức trong quá trình giải quyết vụ án hôn nhân và gia đình

Pháp luật là hệ thống quy tắc xử sự quan trọng nhất điều chỉnh hành vi của con người, là phương tiện quan trọng nhất mà nhà nước sử dụng để quản lý toàn xã hội, là cơ sở tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước. Pháp luật và đạo đức là hai hệ thống quy phạm quan trọng nhất điều chỉnh hành vi con người. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Trong xã hội có nhà nước, các quan hệ xã hội trở nên vô cùng đa dạng, phong phú, có sự mâu thuẫn về lợi ích giữa các cá nhân, các tổ chức là nguyên nhân làm nảy sinh những xung đột trong xã hội, đặt các giá trị đạo đức trước những thách thức to lớn. Bản thân các quy tắc đạo đức có cơ chế đảm bảo thực hiện dựa trên sự day dứt lương tâm, ý thức về danh dự, bổn phận và áp lực của dư luận xã hội. Nhưng trong thực tế, có vô vàn các tình huống mà con người phải đứng trước sự lựa chọn giữa đạo đức và lợi ích. Lúc này, pháp luật, với thuộc tính được đảm bảo bởi tính cưỡng chế của nhà nước sẽ là cơ chế hữu hiệu để ngăn chặn những hành vi xâm hại lợi ích chính đáng của người khác, thiết lập trật tự và công bằng xã hội. Bởi vì, khi một cá nhân đã không tự giác thực hiện những chuẩn mực được xã hội thừa nhận, đã bất chấp dư luận xã hội để chà đạp lên xã hội thì xã hội phải ngăn chặn lại bằng những biện pháp thích đáng nhất kể cả phải sử dụng biện pháp cưỡng chế. Sự cưỡng chế sẽ buộc cá nhân hoặc tổ chức trong xã hội phải chịu những thiệt hại nhất định. Nhưng nếu đó là sự bảo đảm cho lợi ích chính đáng của cá nhân khác, của xã hội thì đó là sự cần thiết. Về cơ bản, pháp luật có sự tác động đến đạo đức như nhà nước sẽ thể chế hóa những giá trị đạo đức tiến bộ thành các quy định của pháp luật; cổ vũ và tạo cơ chế để bảo vệ những giá trị đạo đức tốt đẹp, đồng thời loại bỏ hoặc hạn chế những cái lỗi thời, lạc hậu không còn phù hợp.

Đồng thời đạo đức cũng tác động trở lại đối với pháp luật, đạo đức thường tác động đến pháp luật cụ thể như đạo đức tạo nên dư luận xã hội đúng đắn có tác dụng lên án những hành vi vi phạm pháp luật, cổ vũ những hành vi hợp pháp; đạo đức thấm sâu vào ý thức và hóa thân thành xử sự của cá nhân, tạo ra những con người có khả năng “miễn dịch” cao đối với sự vi phạm pháp luật; đạo đức là tiền đề cho việc xác lập hay chấm dứt quan hệ pháp luật và đạo đức bổ khuyết cho pháp luật trong những trường hợp pháp luật chưa dự liệu để điều chỉnh. Trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta hiện nay, pháp luật và đạo đức cần phải bổ sung cho nhau. Sự tác động qua lại giữa pháp luật và đạo đức hướng đến để tìm ra được sự kết hợp hài hòa nhằm khai thác, phát huy những mặt mạnh, khắc phục những mặt hạn chế của cả pháp luật và đạo đức để đạt được hiệu quả quản lý cao nhất của nhà nước. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Quan hệ HN&GĐ là một trong những quan hệ xã hội được điều chỉnh đồng thời bởi cả pháp luật và đạo đức. Có thể nhận thấy các quy định của pháp luật về HN&GĐ là sự chuyển hóa trực tiếp từ các chuẩn mực đạo đức. Đồng thời, các chuẩn mực đạo đức đã ngấm sâu vào đời sống của con người Việt Nam qua các thế hệ nên có khả năng chi phối suy nghĩ và hành động của các cá nhân, cũng như tạo ra dư luận xã hội. Vì vậy, nó đã tạo nên sự tác động hai mặt của đạo đức tới pháp luật. Quá trình này được thể hiện cụ thể, quy phạm đạo đức tạo nên dư luận xã hội, nó tạo nên một áp lực chính nghĩa góp phần ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật; các quy phạm đạo đức tác động đến tất cả các cá nhân, nhưng mức độ thẩm thấu vào từng người là khác nhau; các giá trị đạo đức trở thành cơ sở cho việc làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt các quan hệ pháp luật; đạo đức bổ sung cho pháp luật trong những trường hợp pháp luật chưa có dự liệu điều chỉnh và những tác động tiêu cực đến pháp luật.

Bởi tính đặc thù của quan hệ HN&GĐ cho nên trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐ, Tòa án nhân dân cần khai thác triệt để mối quan hệ của hai loại quy phạm này nhằm bảo đảm cho các phán quyết của Tòa án được tâm phục, khẩu phục.

  • Nâng cao năng lực xét xử của Tòa án nhân dân các cấp trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình

Để nâng cao năng lực xét xử đối với các vụ án HN&GĐ cần quan tâm đến một số vấn đề sau đây:

  • Thứ nhất, cần tiếp tục đổi mới hệ thống tổ chức Tòa án nhân dân trong giai đoạn mới, đáp ứng yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp.

Những quy định mới của Hiến pháp 2013 là cơ sở pháp lý để Tòa án độc lập xét xử, tập trung được đội ngũ cán bộ xét xử, khắc phục được tình trạng có nơi Thẩm phán phải làm việc quá tải, phải chịu nhiều áp lực lớn, trong khi có những nơi Thẩm phán lại giải quyết rất ít vụ việc dân sự như cách thức tổ chức Toà án nhân dân hiện nay. Hậu quả trước mắt là việc tổ chức thực hiện nhiệm vụ hàng năm, cũng như việc bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho các Thẩm phán đã gặp nhiều khó khăn tại Toà án nhân dân các cấp. Điều đó ảnh hưởng nhất định tới chất lượng giải quyết vụ án HN&GĐ, ảnh hưởng đến quyền của đương sự trong giải quyết vụ án HN&GĐ. Vì vậy, trong thời gian tới, hệ thống Toà án nhân dân các cấp cần phải tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động theo hướng tổ chức hệ thống Toà án nhân dân theo thẩm quyền xét xử, không phụ thuộc vào đơn vị hành chính, nhất là ở hệ thống Toà án nhân dân cấp huyện. Theo đó, Tòa án sơ thẩm khu vực cần được tổ chức ở một hoặc một số đơn vị hành chính cấp huyện; Tòa án cấp phúc thẩm có nhiệm vụ chủ yếu là xét xử phúc thẩm và xét xử sơ thẩm một số vụ án; Tòa Thượng thẩm được tổ chức theo khu vực, có nhiệm vụ xét xử phúc thẩm; Tòa án nhân dân Tối cao có nhiệm vụ tổng kết kinh nghiệm xét xử, hướng dẫn áp dụng thống nhất pháp luật, phát triển án lệ và xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm.

  • Thứ hai, tôn trọng nguyên tắc độc lập của Thẩm phán, Hội đồng xét xử trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐ.

Điều 103 Hiến pháp năm 2013 quy định “Thẩm phán, Hội thẩm xét xử độc lập và chỉ tuân theo pháp luật; nghiêm cấm cơ quan, tổ chức, cá nhân can thiệp vào việc xét xử của Thẩm phán, Hội thẩm”[19]. Độc lập xét xử là nguyên tắc Hiến định, là cốt lõi của quyền tư pháp trong nhà nước pháp quyền. Độc lập xét xử có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc bảo đảm tính tối cao của pháp luật, bảo đảm sự cân bằng và kiểm soát quyền lực nhà nước và bảo vệ quyền con người. Điều kiện quan trọng để đạt được mục tiêu xây dựng nhà nước pháp quyền Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là phải nhận thức một cách toàn diện, đầy đủ về quyền tư pháp; nâng cao vị thế của quyền tư pháp, của Tòa án, của Thẩm phán xét xử. Chỉ khi thực hiện được như vậy thì mới có thể tăng cường trách nhiệm và tính độc lập của Thẩm phán trong công tác xét xử; bảo đảm quyền của các đương sự trong giải quyết vụ án HN&GĐ một cách minh bạch và có hiệu quả. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

  • Thứ ba, xây dựng đội ngũ Thẩm phán giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ và có đạo đức nghề nghiệp.

Thực tế cho thấy rằng trình độ chuyên môn và phẩm chất của đội ngũ Thẩm phán còn hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu mà xã hội đặt ra. Theo Báo cáo tổng kết của hàng năm của ngành Toà án nhân dân, thì trình độ, năng lực của một bộ phận cán bộ, Thẩm phán Tòa án các cấp vẫn còn bất cập, hạn chế trong một số lĩnh vực như: kiến thức xã hội; kỹ năng về công tác dân vận; trình độ ngoại ngữ; kiến thức pháp luật quốc tế… Tinh thần trách nhiệm và ý thức tổ chức kỷ luật của một bộ phận cán bộ, Thẩm phán còn yếu; phong cách làm việc chậm đổi mới; tinh thần phục vụ nhân dân vẫn chưa cao. Một số cán bộ, công chức, trong đó có cả Thẩm phán, còn vi phạm đạo đức, vi phạm kỷ luật công vụ đến mức độ bị xử lý kỷ luật; hoặc cá biệt, có trường hợp đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

Trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐ tại Tòa án, Thẩm phán là người điều hành quá trình tố tụng, giữ vai trò quan trọng và quyết định đối với việc bảo đảm sự bình đẳng của các chủ thể tố tụng và giải quyết đúng đắn vụ việc. Vì vậy, việc nâng cao năng lực xét xử của Thẩm phán có ý nghĩa quyết định, không chỉ đối với việc thực hiện quyền của các đương sự trong giải quyết các vụ án HN&GĐ, mà còn đối với các vụ việc dân sự nói chung. Do đó, Thẩm phán – Người cầm cần nảy mực phải hội tụ đầy đủ cả ba yếu tố là: Giỏi về chuyên môn, giỏi về nghiệp vụ xét xử và có đạo đức nghề nghiệp. Đối với đội ngũ cán bộ Tòa án, cần tăng cường công tác đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ; nâng cao năng lực xét xử; tăng cường công tác quản lý, giáo dục chính trị, giáo dục phẩm chất đạo đức của các Thẩm phán cũng như các chức danh tư pháp khác để họ có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ của cá nhân, cơ quan và của ngành mình. Chỉ có như vậy, Tòa án mới có thể thực hiện tốt trách nhiệm của mình là bảo vệ công lý, trong đó có việc bảo đảm quyền của các đương sự trong giải quyết các vụ án HN&GĐ.

  • Để nâng cao chất lượng của đội ngũ Thẩm phán, cần chú trọng những phương diện chủ yếu sau đây:

Cần khẳng định địa vị pháp lý đặc thù của Thẩm phán, để từ đó thiết kế chế độ lương và đãi ngộ Thẩm phán theo một ngạch riêng, không đồng nhất với ngạch công chức nói Lương, phụ cấp, điều kiện làm việc hợp lý sẽ khích lệ Thẩm phán trong quá trình làm việc, làm giảm khả năng Thẩm phán bị tác động, bị lệ thuộc vào những tác nhân bên ngoài.

Việc tuyển chọn và bổ nhiệm Thẩm phán cần phải công khai, minh bạch, nghiêm ngặt, khắt khe và cạnh tranh. Nên cho phép tất cả mọi người có đủ điều kiện, tiêu chuẩn được tự do nộp hồ sơ tham gia tuyển chọn Thẩm phán để bảo đảm tuyển chọn được những Thẩm phán có tri thức, có bản lĩnh, theo tiêu chí “Thà ít mà có chất lượng tốt”.

Bảo đảm sự ổn định nhiệm kỳ của Thẩm phán: quy định Thẩm phán đương nhiên được tái bổ nhiệm, trừ khi Thẩm phán bị kỷ luật ở mức cách chức; không nên dựa vào số lượng án hủy, án cải sửa để làm căn cứ xem xét tái bổ nhiệm Thẩm phán. Sự thay đổi này cũng nhằm hạn chế thông lệ “Xin đường lối xét xử, xin thỉnh thị án” trước khi xét xử vẫn đang tồn tại lâu nay.

Hạn chế sự ảnh hưởng trong quan hệ hành chính. Khi giao hồ sơ vụ án, nên theo phương pháp ngẫu nhiên, điều đó sẽ triệt tiêu mối quan hệ lệ thuộc giữa Thẩm phán với những người có thẩm quyền vì mục tiêu không trong sáng, làm ảnh hưởng đến hoạt động xét xử của Tòa án. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Cần quy định Thẩm phán phải giải trình việc ra quyết định hoặc bản án của họ; nội dung phán quyết của bản án, quyết định phải được phân tích, lập luận rõ ràng về tất cả các vấn đề có liên quan đến vụ án. Bên cạnh đó, tất cả các phán quyết của Tòa án cần phải công bố công khai để công chúng được biết, được giám sát và phản biện, góp phần tăng cường tính thống nhất trong hoạt động xét xử.

  • Thứ tư, Hội đồng xét xử phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với các bản án hôn nhân và gia đình.

Hội đồng xét xử gồm có Thẩm phán và các Hội thẩm nhân dân do Tòa án có thẩm quyền lập ra để nhân danh nhà nước trực tiếp xét xử tại phiên tòa các vụ án và ra bản án hoặc quyết định đối với các vụ án HN&GĐ.

Thực tiễn cho thấy, tại Tòa án nhân dân nói chung và tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin nói riêng về trách nhiệm của Hội đồng xét xử đối với bản án, quyết định được ban hành thì chỉ có Thẩm phán phải chịu trách nhiệm theo Quyết định số: 120/QĐ-TANDTC ngày 19/6/2017 của Tòa án nhân dân tối cao về “Xử lý trách nhiệm người giữ chức danh tư pháp trong Tòa án nhân dân”. Còn Hội thẩm nhân dân do Hội đồng nhân dân cùng cấp bầu ra để tham gia xét xử cùng Tòa án, không phải chịu sự điều chỉnh ràng buộc của Quyết định số 120 nên không phải chịu trách nhiệm gì đối với bản án, quyết định. Trên thực tế, khi một bản án, quyết định đã được ban hành bị cấp trên hủy, sửa do vi phạm về trình tự tố tụng thì chỉ có Thẩm phán bị kiểm điểm, kỷ luật theo Quyết định số 120 chứ Hội thẩm nhân dân thì không.

Vì vậy, để đảm bảo hơn nữa quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ thì Hội đồng xét xử phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với bản án, quyết định khi ban hành, có như vậy thì các thành viên trong Hội đồng xét xử, đặc biệt là Hội thẩm nhân dân mới nâng cao được trách nhiệm của mình khi tham gia xét xử. Theo đó, cần phải ban hành quy định của pháp luật và chế tài để điều chỉnh đối với trách nhiệm của Hội thẩm nhân dân khi tham gia xét xử và phải chịu trách nhiệm đến cùng đối với quyết định của Hội đồng xét xử, có như vậy mới nâng cao được chất lượng xét xử và đảm bảo hơn nữa quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ quan có thẩm quyền trong giải quyết các vụ án hôn nhân và gia đình và công tác tổng kết, rút kinh nghiệm. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Nhằm đảm bảo việc xét xử đúng pháp luật, kịp thời đảm bảo về mặt quyền lợi của các đương sự thì trong công tác xét xử các vụ án tranh chấp tài sản giữa vợ chồng, Tòa án cần có sự phối hợp chặt chẽ với Viện kiểm sát, Công an, chính quyền địa phương và các cơ quan chức năng khác có liên quan trong việc cung cấp thông tin, chứng cứ, tài liệu liên quan đến công tác giải quyết vụ án.

Cần kiện toàn lại quy chế, từng bước khắc phục những hạn chế, vướng mắc giữa các bên nhằm bảo đảm công tác phối hợp xử lý trong từng vụ án HN&GĐ đạt được kết quả tốt nhất, phòng tránh những sai sót liên quan trong quá trình tố tụng nhằm bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của các bên.

Bên cạnh đó, cần chú trọng công tác tổng kết, rút kinh nghiệm để đưa ra hướng giải quyết đúng đắn và thống nhất là vấn đề cần thiết cho việc xét xử các vụ án nói chung và vụ án hôn nhân gia đình nói riêng. Thường xuyên phải tổng kết, cập nhật số liệu về tình hình thực hiện các vụ án hôn nhân gia đình để rút kinh nghiệm và đề ra phương hướng triển khai thực hiện quy định pháp luật để đảm bảo hơn nữa quyền của các đương sự trong vụ án HN&GĐ. Cùng với đó, việc áp dụng các quy định pháp luật đúng đắn và thống nhất cũng rất quan trọng. Để đảm bảo pháp luật được áp dụng thống nhất, Tòa phải tổng kết lại, xem xét lại quá trình xét xử trong cơ quan, trong nhiều cấp xét xử và trong toàn ngành để đưa ra hướng giải quyết thống nhất và đúng đắn trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐ.

3.2.3. Nhóm giải pháp cho Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin

  • Tăng cường tuyên truyền pháp luật trên địa bàn địa phương

Thực tế cho thấy, quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ không được bảo đảm thực hiện trên thực tế là do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trước hết, là do sự hạn chế, khiếm khuyết trong chính các quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, việc không bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ còn có căn nguyên từ sự thiếu hiểu biết của người dân về các kiến thức cơ bản liên quan đến việc thực hiện quyền, sự sai sót của các Toà án trong quá trình giải quyết vụ án dẫn đến quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ không được thực hiện hoặc được thực hiện không đầy đủ.

Để khắc phục vấn đề này cần phải tăng cường hơn nữa công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật, tăng cường hoạt động của các tổ chức trợ giúp pháp lý. Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật giúp tất cả mọi người có chiều sâu hiểu biết pháp lý, thực hiện tốt quyền của mình khi tham gia tố tụng một cách hiệu quả nhất.

Các hoạt động phổ biến, giáo dục pháp luật cần theo kế hoạch, chương trình cụ thể với nhiều hình thức, biện pháp thực hiện phù hợp với từng nhóm đối tượng được phổ biến, giáo dục pháp luật và điều kiện của địa bàn thực hiện để nhân dân ngày càng có điều kiện tìm hiểu pháp luật. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Thực hiện phong phú, đa dạng các hình thức tuyên truyền và phổ biến kiến thức pháp luật như: Tuyên truyền miệng; biên soạn tài liệu phổ thông dưới dạng hỏi đáp pháp luật, tình huống pháp luật; đưa pháp luật vào giảng dạy trong trường học; tuyên truyền pháp luật trên các phương tiện thông tin đại chúng; xây dựng câu lạc bộ pháp luật; tủ sách pháp luật xã, phường, thị trấn, cơ quan, doanh nghiệp, trường học; thi tìm hiểu pháp luật; tuyên truyền pháp luật thông qua hoạt động hoà giải ở cơ sở, thông qua tư vấn pháp luật, trợ giúp pháp lý, thông qua các phiên toà xét xử công khai, lưu động…

  • Tăng cường sự phối hợp giám sát với các cơ quan, tổ chức trong hệ thống chính trị ở địa phương

Tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, sự quản lý của của các cơ quan ban ngành trên địa bàn tỉnh, tăng cường sự kiểm tra giám sát của các cơ quan nhà nước đối với hoạt động tố tụng của Tòa án, đặc biệt là có đối với các cán bộ công chức Tòa án. Phát hiện và xử lý nghiêm những hành vi vi phạm, xử lý về mặt Đảng và về chính quyền. Hàng tháng hàng quý, Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin phải báo cáo hoạt động tố tụng dân sự (trong đó có án HN&GĐ) về tỉnh ủy Tỉnh Đắk Lắk, thể hiện tình hình an ninh chính trị tại địa phương để từ đó có những phương hướng khắc phục tình trạng tệ nạn xã hội xảy ra trên toàn tỉnh. Hơn thế nữa, Tòa án huyện Cư Kuin cũng cần phải báo cáo trung thực khách quan về các hành vi vi phạm của cán bộ công chức trong đơn vị để có biện pháp xử lý nghiêm.

Tăng cường phối hợp giám sát với các đoàn giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và các đoàn giám sát của Hội đồng nhân dân tỉnh, với đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Đắk Lắk khi các cơ quan này về địa phương công tác hoặc Hội đồng nhân dân huyện chủ động tiến hành giám sát và gửi báo cáo kết quả theo đề nghị phối hợp của các cơ quan này là hoạt động rất quan trọng. Việc phối hợp được thực hiện tốt không chỉ góp phần nâng cao hiệu quả giám sát của các cơ quan dân cử mà còn tránh được sự chồng chéo trong hoạt động giám sát, tranh thủ kinh nghiệm, uy tín của các vị đại biểu dân cử, tháo gỡ những vướng mắc của địa phương.

Cư Kuin là một huyện miền núi, có nhiều thành phần dân tộc, nội dung giám sát ngày càng nhiều, trong khi đó biên chế của Thường trực Hội đồng nhân dân và các Ban của Hội đồng nhân dân huyện lại rất mỏng, vì vậy cần có sự phối hợp chặt chẽ với Hội đồng nhân dân các xã và thị trấn trong quá trình thực hiện hoạt động giám sát mới có thể đáp ứng được yêu cầu công việc.

Tăng cường sự giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên, cơ quan báo chí đối với hoạt động xét xử vụ án HN&GĐ. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Theo khoản 1 Điều 26 Luật Mặt trận tổ quốc Việt Nam năm 2015 thì “Đối tượng giám sát của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là cơ quan nhà nước, tổ chức, đại biểu dân cử, cán bộ, công chức, viên chức”. Ngoài ra, Mặt trận tổ quốc Việt Nam còn tham gia việc “Tiếp công dân, tham gia công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo, đặc xá, cử bào chữa viên nhân dân” (Điều 18), Tham gia việc tuyển chọn Thẩm phán (Điều 20). Do đó, việc tăng cường giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên đối với hoạt động tố tụng nói chung và hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án HN&GĐ nói riêng là rất quan trọng. Thông qua việc giám sát của Mặt trận tổ quốc Việt Nam trong hoạt động xét xử các vụ án HN&GĐ nhằm không để xảy ra tình trạng xâm phạm nghiêm trọng đến quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

Tăng cường mối quan hệ phối hợp và kiểm soát quyền lực giữa các cơ quan tiến hành tố tụng và các cơ quan, tổ chức có liên quan trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐ.

Việc phối hợp giữa các cơ quan tiến hành tố tụng (VKSND, Toà án nhân dân) có vai trò quan trọng trong việc giải quyết vụ án HN&GĐ. Hoạt động phối hợp không phải là can thiệp vào công việc nội bộ của mỗi cơ quan, mà là phương pháp để tháo gỡ những vướng mắc nhằm giải quyết vụ án nhanh chóng, hạn chế oan, sai, bỏ lọt tội phạm. Do đó, cần tăng cường mối quan hệ phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án để nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Thiết nghĩ, để nâng cao mối quan hệ phối hợp cần phải ký kết quy chế phối hợp giữa Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án các cấp nhằm tạo sự thống nhất và điều kiện thuận lợi trong quá trình kiểm sát xét xử.

Phối hợp với Phòng Tư pháp huyện chỉ đạo cụ thể cho các trung tâm trợ giúp pháp lý để đẩy mạnh hơn nữa hoạt động trợ giúp pháp lý cho các đối tượng hưởng trợ giúp pháp lý trong quá trình tố tụng và xây dựng các chương trình phối hợp các cơ quan, ban, ngành trong việc trợ giúp pháp lý cho các đối tượng hưởng trợ giúp pháp lý trong toàn huyện.

Tiểu kết chương 3

Pháp luật luôn luôn đề cao, tôn trọng và bảo vệ quyền con người. Tất cả các chủ trương, đường lối, chính sách của Việt Nam đều hướng đến mục tiêu làm cho “dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”, tất cả vì con người.

Trên cơ sở lý luận và quy định pháp luật về quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ cũng như thực trạng thực hiện các quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ tại Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tác giả đề xuất một số quan điểm và giải pháp nhằm bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ.

Theo đó, pháp luật hiện hành về quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ cần phải được xây dựng và hoàn thiện theo kịp với quá trình hoàn thiện pháp luật về HN&GĐ và pháp luật về Tố tụng dân sự.

Bên cạnh đó, các cơ quan chức năng (đặc biệt là Toà án nhân dân) cần nâng cao năng lực hoạt động xét xử nhằm bảo đảm trên thực tế các quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ trong thời gian tới.

KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

Quyền con người là một khái niệm mang tính chính trị – pháp lý và có một lịch sử phát triển lâu dài. Quyền con người là quyền vốn có, không thể tách rời đối với con người; không phân biệt họ là ai, sinh ra ở đâu; không phân biệt giới tính, tôn giáo hay địa vị xã hội. Quyền con người là bình đẳng. Mọi cá nhân trong xã hội đều được thừa nhận giá trị con người và xứng đáng được tôn trọng.

Quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ là một quyền con người, do Hiến pháp và pháp luật quy định trên cơ sở phù hợp với tiêu chí quyền con người và được bảo đảm thực hiện trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án HN&GĐ. Đó là quyền được xác lập tư cách con người trước pháp luật, không bị pháp luật phân biệt đối xử, quyền có vị thế ngang nhau trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ như nhau. Luật HN&GĐ năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 đã có nhiều sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tiễn cũng như quá trình hộp nhập quốc tế.

Bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ là một trong những yêu cầu cấp thiết hiện nay. Trong những yếu tố tác động và những điều kiện bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ thì điều kiện kinh tế – xã hội; các quy định của pháp luật về HN&GĐ, về Tố tụng dân sự, về trình tự, thủ tục giải quyết các vụ việc dân sự; hoạt động giải quyết vụ việc dân sự của Tòa án; hoạt động hỗ trợ đương sự tham gia tố tụng của các tổ chức, cá nhân; cơ chế giám sát, kiểm soát các hoạt động tố tụng…là những yếu tố có tính quyết định bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ được thực thi trên thực tế.

Trong quá trình giải quyết vụ án HN&GĐ, quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ được các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền, trong đó có Tòa án ghi nhận và bảo đảm thực hiện, tuy nhiên vẫn còn nhiều hạn chế, bất cập đòi hỏi phải khắc phục nhằm mục đích bảo đảm quyền con người nói chung, quyền của các đương sự nói riêng.

Để bảo đảm quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ, cần áp dụng đồng thời cả 02 nhóm giải pháp chung: Từ hoàn thiện pháp luật đến tổ chức thực hiện các quy định pháp luật về quyền của đương sự trong vụ án HN&GĐ. Ngoài ra, còn 01 nhóm giải pháp dành riêng cho Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk. Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Quyền của các đương sự trong vụ án hôn nhân

One thought on “Luận văn: Giải pháp quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân

  1. Pingback: Luận văn: Thực trạng quyền của đương sự trong vụ án hôn nhân

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464