Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng và một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 Thực trạng của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế
3.1.1. Tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật đối với sản phẩm
3.1.1.1 Một số quy định của pháp luật Việt Nam
Việt Nam được kết nạp vào WTO ngày 7/11/2006 và chính thức trở thành thành viên thứ 150 của tổ chức thương mại lớn nhất hành tinh này từ 11/01/2007. Đối với Hiệp định TBT, Việt Nam cam kết thực hiện đầy đủ và toàn diện Hiệp định kể từ thời điểm gia nhập. Để thực hiện cam kết này, Chính phủ đã chủ động chỉ đạo các bộ, ngành liên quan xây dựng chương trình hành động từ năm 2002 đồng thời ban hành một số văn bản sau:
Quyết định số 444/2005/QĐ-TTg ngày 26/5/2005 về việc phê duyệt đề án triển khai thực hiện Hiệp định về hàng rào kỹ thuật trong thương mại.
Quyết định số 114/2005/QĐ-TTg ngày 26/5/2005 về việc thành lập và ban hành quy chế tổ chức và hoạt động của mạng lưới cơ quan thông báo và điểm hỏi đáp của Việt Nam về hàng rào kỹ thuật trong thương mại.
Việc ban hành và thực hiện hai Quyết định trên đã góp phần đẩy nhanh đàm phán gia nhập WTO liên quan đến hàng rào kỹ thuật trong thương mại, đặt cơ sở cho việc tổ chức các hoạt động có liên quan đến TBT trong thời kỳ “hậu WTO”. Điều này chứng tỏ Việt Nam quyết tâm thực hiện các cam kết của mình đối với Hiệp định này, trong đó có việc hình thành ban liên ngành về TBT và mạng lưới TBT của Việt Nam.
Trên cơ sở hai quyết định trên, Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Quyết định số 05/2007/QĐ-BKHCN ngày 30/03/2007, kèm theo quyết định là chương trình thực hiện đề án triển khai thực hiện Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại giai đoạn 2006 – 2010 bao gồm: Hoàn thiện hệ thống quy chuẩn kỹ thuật, hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn của Việt Nam, triển khai quy hoạch và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật của hoạt động đánh giá sự phù hợp, tăng cường hợp tác quốc tế về các vấn đề liên quan đến TBT, hoạt động của ban liên ngành về TBT và mạng lưới TBT, công tác tuyên truyền phổ biến, đánh giá kết quả thực thi đề án và đề ra các biện pháp tiếp theo. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Quyết định 07/2006/QĐ-BKHCN ngày 20/3/2006 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ, đưa ra quy chế tổ chức và hoạt động của Ban liên ngành về hàng rào kỹ thuật trong thương mại (TBT) đã được thành lập theo Quyết định số 444/QĐ-TTg ngày 26 tháng 5 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ và theo Quyết định số 2788/QĐ-BKHCN ngày 3 tháng 11 năm 2005 của Bộ trưởng Bộ Khoa học và Công nghệ về thành viên Ban liên ngành về hàng rào kỹ thuật trong thương mại. Theo đó, Ban liên ngành về TBT được thành lập nhằm tăng cường sự phối hợp hành động giữa các Bộ, ngành trong việc thi hành Hiệp định hàng rào kỹ thuật trong thương mại (Hiệp định TBT) của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) ở Việt Nam nhằm thực hiện các nghĩa vụ quy định trong Hiệp định TBT và đảm bảo lợi ích chính đáng của quốc gia.
Luật về tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật được Quốc hội thông qua ngày 29/6/2006 quy định về hoạt động xây dựng, công bố và áp dụng tiêu chuẩn; xây dựng, ban hành và áp dụng quy chuẩn kỹ thuật; đánh giá sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật.
Theo đó, việc xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật phải bảo đảm nâng cao chất lượng và hiệu quả hoạt động kinh tế – xã hội, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, hàng hoá và dịch vụ trên thị trường trong nước và quốc tế; đáp ứng yêu cầu về an toàn, an ninh quốc gia, vệ sinh, sức khoẻ con người, quyền và lợi ích hợp pháp của các bên có liên quan, bảo vệ động vật, thực vật, môi trường và sử dụng hợp lý tài nguyên thiên nhiên; hoạt động trong lĩnh vực tiêu chuẩn và lĩnh vực quy chuẩn kỹ thuật phải bảo đảm công khai, minh bạch, không phân biệt đối xử và không gây trở ngại không cần thiết đối với hoạt động sản xuất, kinh doanh, thương mại. Việc xây dựng tiêu chuẩn phải bảo đảm sự tham gia và đồng thuận của các bên có liên quan; dựa trên tiến bộ khoa học và công nghệ, kinh nghiệm thực tiễn, nhu cầu hiện tại và xu hướng phát triển kinh tế – xã hội; sử dụng tiêu chuẩn quốc tế, tiêu chuẩn khu vực, tiêu chuẩn nước ngoài làm cơ sở để xây dựng tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật, trừ trường hợp các tiêu chuẩn đó không phù hợp với đặc điểm về địa lý, khí hậu, kỹ thuật, công nghệ của Việt Nam hoặc ảnh hưởng đến lợi ích quốc gia; ưu tiên quy định các yêu cầu về tính năng sử dụng sản phẩm, hàng hóa; hạn chế quy định các yêu cầu mang tính mô tả hoặc thiết kế chi tiết; bảo đảm tính thống nhất của hệ thống tiêu chuẩn và hệ thống quy chuẩn kỹ thuật của Việt Nam. [27]
Luật về chất lượng sản phẩm hàng hóa được Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007 quy định quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh sản phẩm, hàng hoá và tổ chức, cá nhân có hoạt động liên quan đến chất lượng sản phẩm, hàng hoá; quản lý chất lượng sản phẩm, hàng hóa. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Bên cạnh đó, Luật cũng liệt kê những hành vi bị nghiêm cấm, đó là: Sản xuất sản phẩm, nhập khẩu, mua bán hàng hoá đã bị Nhà nước cấm lưu thông; không bảo đảm quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; không có nguồn gốc rõ ràng; đã hết hạn sử dụng; dùng thực phẩm, dược phẩm không bảo đảm chất lượng hoặc đã hết hạn sử dụng làm từ thiện hoặc cho, tặng để sử dụng cho người; cố tình cung cấp sai hoặc giả mạo kết quả thử nghiệm, kiểm tra, giám định, kiểm định, chứng nhận chất lượng sản phẩm, hàng hóa; giả mạo hoặc sử dụng trái phép dấu hợp chuẩn, dấu hợp quy, các dấu hiệu khác về chất lượng sản phẩm, hàng hóa; thay thế, đánh tráo, thêm, bớt thành phần hoặc chất phụ gia, pha trộn tạp chất làm giảm chất lượng sản phẩm, hàng hóa so với tiêu chuẩn công bố áp dụng hoặc quy chuẩn kỹ thuật tương ứng [28].
Luật an toàn thực phẩm có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011, Luật gồm 11 chương, 72 điều, quy định về quyền và nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân trong bảo đảm an toàn thực phẩm; điều kiện bảo đảm an toàn đối với thực phẩm, sản xuất, kinh doanh thực phẩm và nhập khẩu, xuất khẩu thực phẩm; quảng cáo, ghi nhãn thực phẩm; kiểm nghiệm thực phẩm; phân tích nguy cơ đối với an toàn thực phẩm; phòng ngừa, ngăn chặn và khắc phục sự cố về an toàn thực phẩm; thông tin, giáo dục, truyền thông về an toàn thực phẩm; trách nhiệm quản lý nhà nước về an toàn thực phẩm.
Trong sản xuất, kinh doanh thực phẩm theo Điều 5 Luật an toàn thực phẩm thì những hành vi bị cấm: Sử dụng nguyên liệu không thuộc loại dùng cho thực phẩm để chế biến thực phẩm; đã quá thời hạn sử dụng, không rõ nguồn gốc, xuất xứ hoặc không bảo đảm an toàn để sản xuất, chế biến thực phẩm; sử dụng phụ gia thực phẩm, chất hỗ trợ chế biến thực phẩm đã quá thời hạn sử dụng, ngoài danh mục được phép sử dụng hoặc trong danh mục được phép sử dụng nhưng vượt quá giới hạn cho phép; sử dụng hóa chất không rõ nguồn gốc, hóa chất bị cấm sử dụng trong hoạt động sản xuất, kinh doanh thực phẩm; sử dụng động vật chết do bệnh, dịch bệnh hoặc chết không rõ nguyên nhân, bị tiêu hủy để sản xuất, kinh doanh thực phẩm.
Sản xuất, kinh doanh bị nghiêm cấm đối với: Thực phẩm vi phạm quy định của pháp luật về nhãn hàng hóa; thực phẩm không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật tương ứng; thực phẩm bị biến chất; thực phẩm có chứa chất độc hại hoặc nhiễm chất độc, tác nhân gây ô nhiễm vượt quá giới hạn cho phép; thực phẩm có bao gói, đồ chứa đựng không bảo đảm an toàn hoặc bị vỡ, rách, biến dạng trong quá trình vận chuyển gây ô nhiễm thực phẩm; thịt hoặc sản phẩm được chế biến từ thịt chưa qua kiểm tra thú y hoặc đã qua kiểm tra nhưng không đạt yêu cầu… [30]
Để triển khai các cam kết của Hiệp định TBT, Việt Nam đã rà soát và ban hành một hệ thống pháp luật liên quan đến TBT, bao gồm cả các văn bản luật, dưới luật… Nhìn chung, hệ thống này đã tương đối hoàn thiện, trong quá trình thực hiện nghĩa vụ đã đạt được sự công khai, minh bạch và tính dự báo, phù hợp với các nguyên tắc cơ bản của Hiệp định TBT như không phân biệt đối xử, không hạn chế thương mại quá mức cần thiết. Hơn thế nữa, một số cơ quan được thành lập như văn phòng TBT Việt Nam, mạng lưới TBT Việt Nam nhằm thực thi có hiệu quả cam kết về TBT.
3.1.1.2. Thực tiễn áp dụng Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện này, việc thực hiện tốt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật, các quy định của pháp luật trong nước cũng như quốc tế sẽ giúp cho các doanh nghiệp vượt qua các rào cản kỹ thuật, thâm nhập vào thị trường quốc tế, nâng cao khả năng cạnh tranh và đảm bảo sự phát triển bền vững của doanh nghiệp.
Để xây dựng năng lực vượt qua các rào cản kỹ thuật về tiêu chuẩn môi trường cũng như trách nhiệm xã hội, các doanh nghiệp Việt Nam đã bước đầu chú trọng đầu tư công nghệ và thiết bị sản xuất thân thiện với môi trường, sản xuất sạch hơn, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao. Đặc biệt là các doanh nghiệp dệt may đã sớm có những nỗ lực trong vấn đề này, điển hình là công ty May 10: Bình quân hàng năm, công ty May 10 đón tiếp hàng chục đoàn của các đối tác nước ngoài đến kiểm tra tình hình thực hiện trách nhiệm xã hội đối với người lao động. Để tạo điều kiện thuận lợi cho các đoàn kiểm tra, công ty đã đầu tư hàng trăm triệu đồng trang bị thẻ từ, bảng chấm công điện tử… giúp cho việc kiểm tra số giờ làm thêm của công nhân được dễ dàng và minh bạch. Để kiểm tra việc có sử dụng lao động vị thành niên hay không, trong hồ sơ tuyển dụng lao động, công ty có đầy đủ các loại giấy tờ hợp lệ theo yêu cầu của đối tác nước ngoài như: chứng minh nhân dân, giấy khai sinh, hộ khẩu, giấy kiểm tra sức khỏe… Đối với phân xưởng sản xuất, công ty đã trang bị đầy đủ hệ thống chiếu sáng, thông gió, thiết bị y tế, phòng cháy chữa cháy, có cửa thoát hiểm cho người lao động khi có sự cố. Về công tác an ninh doanh nghiệp, ngoài hệ thống bảo vệ chặt chẽ, nghiêm ngặt, kiểm soát, kiểm tra tỉ mỉ những người ra vào, công ty còn có các giải pháp kiểm tra, giám sát những người làm việc tại các bộ phận quan trọng như: kiểm tra chất lượng hàng, đóng gói hàng, nhập – xuất hàng… kiên quyết không xảy ra những sai sót, dù nhỏ trong công tác giao nhận hàng. Tuy nhiên, những điều trên cho thấy rằng những biện pháp mà công ty May 10, một trong những doanh nghiệp tiêu biểu của Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VINATEX) thực hiện trong bối cảnh chưa đủ khả năng thực hiện toàn bộ các yêu cầu của SA 8000. [12] Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Hiện nay, các ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam trong đó có dệt may phải đối mặt với các tiêu chuẩn “xanh”, “sạch” đối với sản phẩm từ nhập khẩu nguyên liệu đến thành phẩm. Tiêu chuẩn thương mại “xanh” trở thành rào cản thương mại “xanh”, đối với sản phẩm dệt may, tiêu chuẩn này đòi hỏi các sản phẩm may mặc phải đáp ứng được các tiêu chuẩn sinh thái, an toàn về sức khỏe đối với người sử dụng, không gây ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất. Tại Việt Nam, việc sản xuất các sản phẩm “xanh” của ngành dệt may vẫn chưa được quan tâm đúng mức. Tình trạng các doanh nghiệp trong các dây truyền nhuộm vẫn sử dụng một số hóa chất, chất phụ trợ, thuốc nhuộm gây ảnh hưởng không tốt đến môi trường sinh thái, sức khỏe người lao động và thậm chí đến cả người sử dụng sản phẩm. Nếu như tình hình ô nhiễm môi trường gia tăng, không được kiểm soát thì các doanh nghiệp sẽ phải đầu tư rất nhiều kinh phí cho việc xử lý môi trường để đáp ứng được các tiêu chuẩn về môi trường.
Bên cạnh tiêu chuẩn “xanh” của ngành dệt may, tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm cũng được đặt lên hàng đầu trong quá trình phát triển của đất nước ta. Tác hại của thực phẩm nhiễm bẩn, không chỉ gây tổn thất về tài sản mà còn ảnh hưởng lớn tới sức khỏe của người tiêu dùng. Thời gian qua, cả nước xảy ra không ít vụ tử vong do ngộ độc cấp, khiến dư luận xã hội thêm lo ngại. Việc đưa một chất mới và lạ vào thực phẩm vẫn là thách thức đối với các cơ quan quản lý từ lâu nay. Khó có thể phát hiện nếu như người sản xuất không thấy trách nhiệm của mình trước khi đưa một chất vào quá trình sử dụng. Rất nhiều trường hợp nhà chức trách biết đến và phát hiện ra vấn đề khi sản phẩm gây ngộ độc hoặc tử vong đối với người sử dụng. Ví dụ như sữa chứa melamin ở Trung Quốc, đồ chơi trẻ em có hàm lượng chì, cadmin cao ở Hoa Kỳ… Việc làm thế nào để chủ động phát hiện ra các chất nguy hại trong hàng triệu, hàng triệu sản phẩm hàng ngày lưu thông trên thị trường, đó là bài toán nan giải. Hầu hết các nước đều ban hành danh mục các chất độc hại cấm hoặc hạn chế đưa vào sản phẩm. Ở nước ta cũng vậy, nhiều nguyên nhân để các chất dù đã bị cấm hoặc hạn chế sử dụng vẫn được lưu thông và đưa vào sản xuất.
Tháng 6/2011, đoàn thanh tra của Cục an toàn vệ sinh thực phẩm (Bộ y tế) phát hiện công ty New Choice Foods (Bình Dương) có sử dụng chất phụ gia thực phẩm tạo đục có chất gây ung thư DEHP và đã tiến hành thu hồi xử lý các sản phẩm có chứa DEHP. Đoàn đã xác nhận, niêm phong 100kg chất phụ gia thực phẩm tạo đục của công ty New Choice Foods nhập từ Công ty Triko Foods Co.LTD (Đài Loan). Việc phát hiện các sản phẩm có chứa DEHP tại Việt Nam sau khi hàng loạt các nước đưa ra cảnh báo về các sản phẩm có chứa chất này. Không biết còn bao nhiêu sản phẩm chứa chất DEHP trong thời gian tới sẽ được công bố nhưng rõ ràng qua vụ việc này đã bộc lộ những lỗ hổng trong việc quản lý hàng hóa, đặc biệt là thực phẩm liên quan trực tiếp đến sức khỏe con người. DEHP là một chất hóa dẻo hữu hiệu nhất trong ngành công nghiệp nhựa và chất dẻo, nếu sử dụng trong thực phẩm sẽ làm suy giảm sự phát triển của bộ phận sinh dục nam, khiến cơ quan sinh sản của nam giới bị “teo” lại, hoạt chất này còn gây ra những ngộ độc cấp tính có thể gây tử vong tại chỗ. [15]
Đã có quy định về việc kiểm tra của các cơ quan chức năng về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Theo đó các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu thuộc diện phải kiểm tra nhà nước thì phải đảm bảo đầy đủ các điều kiện theo quy định, chủ doanh nghiệp nhập khẩu phải đăng ký kiểm tra nhà nước tại cơ quan kiểm tra nhà nước được Bộ y tế chỉ định và chịu sự kiểm tra của cơ quan này. Tất cả các mặt hàng nhập khẩu chỉ được phép lưu hành sau khi đã được kiểm tra, có kết quả đạt yêu cầu và đáp ứng các quy định khác về đảm bảo an toàn thực phẩm.
Vậy tại sao có quá nhiều các sản phẩm được nhập khẩu có chứa chất DEHP lưu hành trên thị trường được phát hiện như vậy. Nhưng cũng chưa có một cơ quan nào đứng ra chịu trách nhiệm về vụ việc trên và khi chưa phải chịu trách nhiệm thì có thể thiết lập một cơ chế kiểm soát hiệu quả?
Sự việc xảy ra ngay sau tháng an toàn vệ sinh thực phẩm và trước khi Luật an toàn thực phẩm có hiệu lực (từ ngày 01/7/2011). Theo cách cảnh báo thường thấy khi có sự cố xảy ra, các ngành chức năng sẽ đề nghị doanh nghiệp nhanh chóng tự kiểm nghiệm, công bố các sản phẩm có DEHP trên các phương tiện thông tin đại chúng, nghĩa là kêu gọi trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp. Vậy trách nhiệm của các cơ quan chức năng, các cơ quan chuyên môn đối với mỗi sai phạm như trên được nhà chức trách suy xét và xử lý tận gốc như thế nào?
3.1.2. Biện pháp kiểm dịch động thực vật Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
3.1.2.1 Một số quy định của pháp luật Việt Nam
Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (Hiệp định SPS) là một trong những hiệp định quan trọng nhất của của Tổ chức thương mại thế giới. Khi gia nhập WTO đòi hỏi Việt Nam phải đảm bảo rằng tất cả các quy định, tiêu chuẩn và quy trình đánh giá hợp chuẩn bảo vệ động thực vật được áp dụng phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế vào thời điểm gia nhập, không có bất cứ giai đoạn quá độ nào.
Ngày 9/5/2005, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 99/2005/QĐ-TTg về việc thành lập Văn phòng thông báo và Điểm hỏi đáp quốc gia về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật Việt Nam (Văn phòng SPS Việt Nam). Thực hiện nghĩa vụ minh bạch hóa thông tin; thông báo và hỏi đáp các nội dung và quy định về vệ sinh dịch tễ, kiểm dịch động thực vật; yêu cầu các nước thành viên của WTO cung cấp thông tin về các biện pháp, thủ tục đánh giá rủi ro, về thanh tra, kiểm tra và các vấn đề liên quan khác về vệ sinh dịch tễ và kiểm dịch động thực vật.
Ngày 17/11/2008, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Quyết định số 147/2008/QĐ-TTg về kế hoạch hành động quốc gia đẩy nhanh thực hiện cam kết đối với Hiệp định về vệ sinh an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật, đáp ứng nghĩa vụ thành viên của WTO. Mục tiêu: Thực thi toàn diện Hiệp định SPS như cam kết khi gia nhập Tổ chức thương mại thế giới; giảm thiểu các tác động tiêu cực và khai thác tối đa những lợi thế khi Việt Nam là thành viên của WTO đối với các ngành sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản và chế biến thực phẩm của Việt Nam; đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng trong và ngoài nước thông qua việc cung cấp các sản phẩm nông sản thực phẩm có chất lượng tốt, không bị ô nhiễm bởi hóa chất và vi sinh vật gây hại; đẩy mạnh hơn nữa thương mại hóa các mặt hàng nông lâm sản và thủy sản, thực phẩm chế biến, tăng cường năng lực cạnh tranh và xâm nhập thị trường đối với các sản phẩm của Việt Nam trên thị trường quốc tế; bảo vệ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản trong nước không bị dịch sâu hại và dịch bệnh xâm nhập qua các sản phẩm nhập khẩu, bảo vệ môi trường sinh thái, sự đa dạng của các nguồn tài nguyên động thực vật của Việt Nam.
Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn ban hành nhiều văn bản thực thi các vấn đề liên quan đến các biện pháp vệ sinh dịch tễ ví dụ như: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Thông tư 63/2010/TT-BNNPTNT ngày 01/11/2010, hướng dẫn việc quy định giấy chứng nhận lưu hành tự do đối với sản phẩm, hàng hóa xuất khẩu và nhập khẩu thuộc trách nhiệm quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn.
Thông tư 64/2010/TT-BNNPTNT ngày 04/11/2010, về việc đưa các sản phẩm có chứa Trifluralin ra khỏi danh mục sản phẩm xử lý, cải tạo môi trường nuôi trồng thuỷ sản được phép lưu hành tại Việt Nam.
Thông tư số 65/2010/TT-BNNPTNT ngày 05/11/2010, ban hành danh mục bổ sung giống cây trồng, phân bón được phép sản xuất, kinh doanh, sử dụng và danh mục thuốc thú y, vắc xin, chế phẩm sinh học, vi sinh vật, hóa chất dùng trong thú y được phép lưu hành tại Việt Nam.
Thông tư số 68/2010/TT-BNNPTNT ngày 3/12/2010, ban hành “danh mục chỉ tiêu, mức giới hạn cho phép về an toàn vệ sinh thực phẩm đối với một số sản phẩm thực phẩm có nguồn gốc thực vật nhập khẩu, sản xuất lưu thông trong nước thuộc phạm vi quản lý của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn”.
Thông tư số 71/2010/TT-BNNPTNT ngày 10/12/2010 về ban hành quy chuẩn kỹ thuật quốc gia về kiểm dịch và bảo vệ thực vật.
Một trong những quy định thuộc nhóm các biện pháp kỹ thuật là Nghị định số 89/2006/NĐ-CP ngày 30/9/2006 về nhãn hàng hóa, Nghị định này quy định nội dung, cách ghi và quản lý nhà nước về nhãn đối với hàng hoá lưu thông tại Việt Nam, hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu.
“Nhãn hàng hoá” là bản viết, bản in, bản vẽ, bản chụp của chữ, hình vẽ, hình ảnh được dán, in, đính, đúc, chạm, khắc trực tiếp trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá hoặc trên các chất liệu khác được gắn trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá.
“Ghi nhãn hàng hoá” là thể hiện nội dung cơ bản, cần thiết về hàng hoá lên nhãn hàng hoá để người tiêu dùng nhận biết, làm căn cứ lựa chọn, tiêu thụ và sử dụng; để nhà sản xuất, kinh doanh quảng bá cho hàng hoá của mình và để các cơ quan chức năng thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát.
Nhãn hàng hoá phải được gắn trên hàng hoá, bao bì thương phẩm của hàng hoá ở vị trí khi quan sát có thể nhận biết được dễ dàng, đầy đủ các nội dung quy định của nhãn mà không phải tháo rời các chi tiết, các phần của hàng hoá.
Nội dung bắt buộc của nhãn hàng hóa gồm: Tên hàng hóa; tên tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về hàng hóa; định lượng hàng hóa; ngày sản xuất, hạn sử dụng, hạn bảo quản; xuất xứ hàng hóa… Ngoài nội dung quy định này, tuỳ theo tính chất của mỗi loại hàng hoá, phải thể hiện trên nhãn hàng hoá các nội dung bắt buộc quy định tại Điều 12 của Nghị định này và quy định tại các văn bản luật, pháp lệnh chuyên ngành có liên quan. [3] Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Văn bản mới gần đây nhất áp dụng đối với người tiêu dùng sản phẩm, Luật bảo vệ người tiêu dùng được Quốc hội thông qua ngày 17 tháng 11 năm 2010, có hiệu lực thi hành từ ngày 01 tháng 7 năm 2011. Luật này quy định về quyền và nghĩa vụ của người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ đối với người tiêu dùng; trách nhiệm của tổ chức xã hội trong việc tham gia bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng; giải quyết tranh chấp giữa người tiêu dùng và tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hoá, dịch vụ; trách nhiệm quản lý nhà nước về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. [31]
Điểm mới và tiến bộ của Luật bảo vệ người tiêu dùng 2010 là khách có quyền khởi kiện doanh nghiệp mà không cần chứng minh thiệt hại. Muốn thắng kiện, thương nhân phải chứng minh mình không có lỗi. Về hoà giải giữa thương nhân với người tiêu dùng khi xảy ra tranh chấp, trong trường hợp một bên không tự nguyện thi hành các nghĩa vụ theo biên bản hoà giải thành, thì bên kia có quyền đề nghị cơ quan thẩm quyền ra quyết định buộc thi hành.
3.1.2.2. Thực tiễn áp dụng
Việc thực hiện Hiệp định SPS đem lại khả năng cho Việt Nam được viện dẫn cơ quan giải quyết tranh chấp WTO trong trường hợp không tuân thủ Hiệp định SPS, khả năng cho Việt Nam tham gia vào công việc về các tiêu chuẩn quốc tế. Đây là cơ hội đối với Việt Nam vì tiêu chuẩn đóng vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế. Tham gia thực hiện các tiêu chuẩn góp phần cụ thể hoá thông tin kỹ thuật và khoa học có giá trị liên quan đến các sản phẩm và quá trình sản xuất, do đó tạo thuận lợi cho chuyển giao kiến thức kỹ thuật và khoa học. Việc chuyển giao bí quyết sản xuất và kinh nghiệm quý có thể làm giảm chi phí tiêu chuẩn hoá. Áp dụng tiêu chuẩn còn thúc đẩy tính hiệu quả của sản xuất và chất lượng sản phẩm, tăng cường sự tham gia của Việt Nam vào thương mại quốc tế bằng việc giảm tính không tương thích của sản phẩm và các chi phí giao dịch. Việc áp dụng SPS còn làm tăng cường lòng tin của người tiêu dùng, qua đó tạo thuận lợi cho tăng trưởng kinh tế.
Tuy nhiên, không phải không có thách thức đặt ra. Đó là Việt Nam phải bỏ ra các khoản chi phí điều chỉnh sản xuất tuân theo các quy định khác so với thị trường trong nước; chi phí thử nghiệm sản phẩm hoặc tiến hành đánh giá hợp chuẩn; chi phí tham gia vào các tổ chức quốc tế xây dựng các tiêu chuẩn. Chẳng hạn như để tham gia vào Uỷ ban an toàn thực phẩm đòi hỏi Việt Nam phải có được nguồn tài chính và nhân lực cần thiết để tham gia hiệu quả vào việc xây dựng và thực hiện các tiêu chuẩn sản phẩm. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Một thách thức khác nữa là hàng hoá xuất khẩu của Việt Nam sẽ phải chịu các biện pháp kiểm tra tại thị trường nhập khẩu. Các biện pháp SPS là một thách thức, đặc biệt là đối với các nhà sản xuất quy mô nhỏ trong lĩnh vực thủy sản, gắn với thị trường chỉ bằng chuỗi thị trường nhỏ lẻ. Các biện pháp SPS phải được thực hiện để đảm bảo Việt Nam vẫn có khả năng cạnh tranh trong thị trường quốc tế. Các biện pháp SPS có thể trở thành một cơ hội, lợi thế cạnh tranh của Việt Nam so với các nhà xuất khẩu khác.
Hiện nay, các doanh nghiệp thủy sản nước ta cũng đang trong giai đoạn tìm kiếm đầu tư, đổi mới công nghệ chế biến và bảo quản nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất, loại bỏ độc tố và dư lượng vi sinh trong sản phẩm; tuân thủ từng bước các quy trình vận chuyển, bảo quản, đóng gói để nâng cao yêu cầu vệ sinh thực phẩm; từng bước áp dụng các phương pháp sản xuất sạch đi đôi với áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo ISO 9.000, ISO 14.000, HACCP; đào tạo nguồn nhân lực, tăng cường công tác thông tin và tiếp thị nhằm nâng cao nhận thức của người lao động về môi trường của nước nhập khẩu. Tuy nhiên, ngành thủy sản Việt Nam khi gia nhập thị trường quốc tế cũng gặp phải không ít khó khăn: Vụ việc ngày 6/12/2010, một số sản phẩm cá tra Việt Nam bị các thành viên của WWF ở 6 nước EU (Đức, Áo, Thuỵ Sỹ, Bỉ, Na Uy và Đan Mạch) chuyển từ “danh sách da cam” (sản phẩm có thể cân nhắc sử dụng) sang “danh sách đỏ” (sản phẩm không nên sử dụng) trong các bản hướng dẫn người tiêu dùng năm 2010-2011 ở các nước đó. Đây là kết quả khảo sát do một công ty tư vấn độc lập do WWF các nước này thuê, tiến hành đánh giá hơn 100 loài loài thủy sản thực phẩm trên thế giới theo bộ tiêu chí phát triển bền vững mới sửa đổi của WWF. [13]
Từ nhiều năm qua, ngành sản xuất, chế biến và xuất khẩu cá tra Việt Nam được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và cộng đồng doanh nghiệp, cá tra đã trở thành một sản phẩm chiến lược quốc gia. Nghề nuôi đã nhanh chóng chuyển từ phương thức nuôi thủ công sang nuôi thâm canh mật độ cao trong các ao đất kín, với công nghệ tiên tiến và phương thức quản lý ngày càng hiện đại.
Từ năm 2003, Việt Nam đã phổ biến áp dụng tiêu chuẩn của hệ thống quản lý SQF 1000CM (thực phẩm an toàn chất lượng), SQF 2000 cho các nhà máy chế biến thủy sản của Hiệp hội tiếp thị thực phẩm (FMI) Mỹ, tuân thủ tiêu chuẩn quốc tế GlobalGAP. Các doanh nghiệp cá tra Việt Nam luôn chủ động cập nhật thông tin và áp dụng những tiêu chuẩn quốc tế tiên tiến, nhằm đáp ứng đòi hỏi ngày càng cao của người tiêu dùng. Hiện nay, đa số doanh nghiệp cá tra Việt Nam đã và đang xây dựng các chuỗi sản xuất khép kín, nhằm quản lý chặt chẽ mọi yếu tố có thể gây ảnh hưởng đến chất lượng và an toàn thực phẩm của sản phẩm cá tra (con giống, thành phần thức ăn, công nghệ nuôi, kiểm soát sức khỏe cá nuôi, công nghệ chế biến, điều kiện an toàn vệ sinh lao động, sức khỏe công nhân,…). Nhiều doanh nghiệp đã áp dụng thành công hệ thống truy xuất nguồn gốc với các công nghệ hiện đại như RFID (định vị bằng tần số vô tuyến) và rất chú trọng thực hiện trách nhiệm xã hội đối với cộng đồng…
WWF là một tổ chức phi chính phủ về bảo vệ thiên nhiên, để vận động cho bộ quy chuẩn mới của mình, họ đã đưa ra mục tiêu 20% người nuôi áp dụng những tiêu chuẩn mà họ xây dựng và giai đoạn đầu họ hướng đến việc khuyến cáo người nuôi áp dụng theo tiêu chuẩn này. Hiện nay, việc các nước nhập khẩu lấy tiêu chuẩn của WWF để mua cá tra là hiếm mà vẫn thường sử dụng các tiêu chuẩn mà Việt Nam đang áp dụng (GlobalGAP, SQF 1000CM, SQF 2000). Hơn nữa, phương pháp được áp dụng để tiến hành đánh giá do một số ít các tổ chức xây dựng mà không thảo luận với bất cứ tổ chức chính thức tham gia nuôi cá tra nào cũng như cơ quan quản lý chuyên ngành của Việt Nam là không khách quan, không công khai, không minh bạch và vi phạm tiêu chí của Hiệp định SPS. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Những phản ứng tức thời và gay gắt của các công ty thương mại thủy sản lớn và có uy tín ở EU như Tập đoàn Findus và Tập đoàn Birds Eye Iglo cho thấy việc làm này gây thiệt hại cho chính người tiêu dùng và các doanh nghiệp một số nước EU nhập khẩu và kinh doanh cá tra, nhất là trong thời kỳ hậu khủng hoảng tài chính đầy khó khăn hiện nay. Nó còn gây tổn hại đến quan hệ thương mại giữa Việt Nam và các nước EU, gây khó khăn nghiêm trọng cho đời sống của hàng vạn gia đình nông dân nuôi cá và người lao động trong các xí nghiệp chế biến thuỷ sản ở Đồng bằng sông Cửu Long.
3.1.3. Lĩnh vực đầu tư
3.1.3.1 Một số quy định của pháp luật Việt Nam
Trong những năm trở lại đây, nhờ vào chính sách “mở cửa” đón luồng gió mới từ nước ngoài mà Việt Nam đã thu hút được nhiều nhà đầu tư quốc tế. Bên cạnh đó, cùng với xu hướng hội nhập nền kinh tế quốc tế, đặc biệt từ khi Việt Nam gia nhập WTO, các doanh nghiệp trong nước cũng không ngừng nâng cao kỹ thuật, phát triển cơ sở hạ tầng phục vụ sản xuất kinh doanh. Đó là dấu hiệu đáng mừng của nền kinh tế nước ta.
Ngày 29/11/2005, Luật Đầu tư số 59/2005/QH11 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua. Luật này “quy định về hoạt động đầu tư nhằm mục đích kinh doanh; quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư; khuyến khích và ưu đãi đầu tư; quản lý nhà nước về đầu tư tại Việt Nam và đầu tư từ Việt Nam ra nước ngoài”. [25]
Liên quan đến lĩnh vực môi trường, Khoản 6 Điều 20 quy định nghĩa vụ của Nhà đầu tư trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường, Nhà đầu tư có trách nhiệm triển khai thực hiện dự án đầu tư theo đúng mục tiêu, nội dung, tiến độ đã cam kết và các quy định tại giấy chứng nhận đầu tư; tuân thủ các quy định pháp luật về đất đai, về môi trường, về lao động, về đăng ký kinh doanh, đăng ký đầu tư và pháp luật có liên quan trong quá trình triển khai thực hiện dự án đầu tư. [25]
Một trong những thủ tục để hoàn thiện hồ sơ dự án đầu tư là doanh nghiệp phải có đánh giá tác động môi trường và cam kết bảo vệ môi trường, Điều 45 Nghị định 108/2006/NĐ-CP, quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành Luật đầu tư, việc thẩm tra dự án đầu tư cần thực hiện theo một số nội dung trong đó có giải pháp về môi trường: đánh giá các yếu tố tác động đến môi trường và giải pháp xử lý phù hợp với quy định của pháp luật về môi trường. Theo Luật bảo vệ môi trường 2005, đối tượng phải lập báo cáo đánh giá tác động môi trường là chủ các dự án quy định tại Điều 18. Trách nhiệm của chủ dự án là “lập báo cáo đánh giá tác động môi trường trình cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt. Báo cáo đánh giá tác động môi trường phải được lập đồng thời với báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án”. Đối với các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ quy mô hộ gia đình phải có cam kết bảo vệ môi trường. Cam kết bảo vệ môi trường bao gồm các nội dung như: địa điểm thực hiện; loại hình, quy mô sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và nguyên liệu, nhiên liệu sử dụng; các loại chất thải phát sinh; cam kết thực hiện các biện pháp giảm thiểu, xử lý chất thải và tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường. [24]
Luật đầu tư 2005, Điều 27 quy định về ưu đãi đầu tư đối với một số ngành nghề, trong đó có ưu đãi trong lĩnh vực kinh doanh “sử dụng công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại, bảo vệ môi trường sinh thái, nghiên cứu, ươm tạo, phát triển công nghệ cao…”. Đồng thời, “dự án gây tổn hại đến sức khỏe nhân dân, làm hủy hoại tài nguyên thiên nhiên, phá hủy môi trường…” [25] là lĩnh vực bị cấm đầu tư. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Trên cơ sở các quy định trên, doanh nghiệp cần thực hiện tốt chính sách đầu tư, các quy định về bảo vệ môi trường, trong quá trình sản xuất, kinh doanh; cơ quan nhà nước chú trọng và tổ chức thực hiện nghiêm túc việc thẩm định, đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư, cơ quan chuyên môn tham mưu chính xác cho cấp có thẩm quyền xem xét quyết định việc cấp hay không cấp giấy phép đầu tư. Việc quyết định các dự án đầu tư cần được cân nhắc kỹ lưỡng giữa lợi ích đem lại trước mắt với những ảnh hưởng của nó đến môi trường về lâu dài.
3.1.3.2. Thực tiễn áp dụng
Trong những năm đầu thực hiện đường lối đổi mới, vì tập trung ưu tiên phát triển kinh tế và cũng một phần do nhận thức hạn chế nên việc gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường chưa chú trọng đúng mức. Tình trạng tách rời công tác bảo vệ môi trường với sự phát triển kinh tế – xã hội diễn ra phổ biến ở nhiều ngành, nhiều cấp, dẫn đến tình trạng gây ô nhiễm môi trường diễn ra phổ biến và ngày càng nghiêm trọng. Công tác thẩm định và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án đầu tư còn tồn tại nhiều bất cập và chưa được coi trọng đúng mức, thậm chí chỉ được tiến hành một cách hình thức, qua loa đại khái cho đủ thủ tục, dẫn đến chất lượng thẩm định và phê duyệt không cao.
Theo quy định được trình bày ở mục 3.1.3.1, trong quá trình đầu tư, chủ dự án cần lập báo cáo đánh giá tác động môi trường, cam kết bảo vệ môi trường, nhưng trên thực tế, có quá nhiều sai phạm xảy ra dẫn đến hậu quả vô cùng nhiêm trọng đối với môi trường. Bên cạnh các lợi ích của hoạt động đầu tư như hàng năm đóng góp vào GDP cao, tạo công ăn việc làm cho người lao động, nâng cao đời sống vật chất, tinh thần, trình độ dân trí của một bộ phận lớn dân cư góp phần đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước thì tác động xấu của hoạt động đầu tư nhất là ở các khu công nghiệp, khu chế xuất… tới môi trường là rất đáng kể. Các hoạt động này chiếm nhiều đất đai canh tác và trồng trọt dẫn đến thu hẹp thảm thực vật và làm thay đổi vi khí hậu; làm nhiễm bẩn nước ngầm, nước mặt của khu vực, xả bụi, khí thải độc hại vào không khí, gây tổn thất tới tính đa dạng sinh học của hệ động thực vật…
Sông Thị Vải có chiều dài khoảng 30 km, bắt nguồn từ huyện Long Thành tỉnh Đồng Nai chảy qua địa phận Bà Rịa – Vũng Tàu. Lưu vực sông Thị Vải có nhiều khu công nghiệp lớn của Đồng Nai như Nhơn Trạch, Gò Dầu và tiếp nhận lượng nước thải công nghiệp lớn. Tháng 9/2008, Công ty Vedan bị cảnh sát môi trường phát hiện xả nước thải chui ra sông Thị Vải trong nhiều năm gây nên bức xúc trong dư luận, ảnh hưởng lớn tới môi trường và cuộc sống của người dân lưu vực sông. Công ty Vedan Việt Nam đã lắp đặt hệ thống bơm, đường ống kỹ thuật xả trực tiếp một lượng lớn nước thải chưa qua xử lý xuống sông Thị Vải. Chất thải bị đổ xuống sông chủ yếu là dịch thải lỏng chứa nước mật rỉ đường và các chất đặc sau khi chế biến từ các bể chứa lớn có dung tích 6.000-15.000 m3. Hệ thống đường ống xả nước thải được thiết kế đi chìm, có trụ bơm cắm sâu xuống lòng sông Thị Vải, tránh không bị phát hiện. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Cục Cảnh sát môi trường (C36) phát hiện ra Công ty Vedan Việt Nam có thủ đoạn “che mắt” cơ quan chức năng nhằm trốn tránh hành vi gây ô nhiễm hết sức tinh vi, bằng cách xây dựng hệ thống xử lý nước thải. Theo đó, hệ thống này được thiết kế cả ngàn ống dẫn nước thải được lắp đặt các van đóng – mở tự động. Khi đang xả nước thải, nếu phát hiện đoàn kiểm tra thì chỉ cần ngắt cầu dao (điện) riêng, lập tức toàn bộ các van xả đóng lại, do đó nước thải từ công ty đổ ra chỉ chảy vòng vòng trong các hồ xử lý nước thải mà không có “giọt” nào chảy ra sông. Ngược lại, khi không có động tĩnh gì, chỉ cần mở cầu dao thứ hai thì toàn bộ các van sẽ mở và nước thải từ các ống sẽ xả thẳng vào sông Thị Vải… Điều đặc biệt, hai cầu dao trên được trên được đặt ở vị trí rất kín, thậm chí đến nhân viên của công ty cũng không thể biết mà chỉ có hai chuyên gia người Đài Loan được phép sử dụng. Công ty Vedan đã thừa nhận 10 hành vi vi phạm của mình là:
Xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên trong trường hợp thải lượng thải từ 50m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày đối với nhà máy sản xuất tinh bột biến tính của công ty; vi phạm khoản 11, Điều 10, nghị định số 81/2006/NĐ-CP ngày 9/8/2006 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ môi trường.
Xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50m3/ngày đến dưới 5.000m3/ngày đối với các nhà máy sản xuất bột ngọt và Lysin của công ty; vi phạm khoản 8 Điều 10, Nghị định số 81/2006/NĐ- CP.
Xả nước thải vượt tiêu chuẩn cho phép từ 10 lần trở lên trong trường hợp thải lượng nước thải từ 50 m3/ngày đến dưới 5.000 m3/ngày đối với các nhà máy khác của công ty; vi phạm khoản 8, Điều 10, Nghị định số 81/2006/NĐ- CP.
Nộp không đầy đủ các số liệu điều tra, khảo sát, quan trắc và các tài liệu liên quan khác cho cơ quan lưu trữ dữ liệu thông tin về môi trường theo quy định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền; vi phạm khoản 4, Điều 27, Nghị định số 81/2006/NĐ- CP.
Không đăng ký cam kết bảo vệ môi trường với cơ quan quản lý Nhà nước về bảo vệ môi trường đối với trại chăn nuôi heo; vi phạm khoản 3, Điều 8, Nghị định số 81/2006/NĐ- CP.
Không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường mà đã xây dựng và đưa công trình vào hoạt động đối với dự án đầu tư nâng công suất đối với phân xưởng sản xuất Xút- Axít từ 3.116 tấn/tháng lên 6.600 tấn/tháng; vi phạm khoản 3, Điều 9, Nghị định số 81/2006/NĐ- CP. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Không lập báo cáo đánh giá tác động môi trường mà đã xây dựng và đưa công trình vào hoạt động đối với dự án đầu tư nâng công suất đối với các nhà máy bột ngọt từ 5.000 tấn/tháng lên 15.000 tấn/tháng; tinh bột biến tính từ 2.000 tấn/tháng lên 4.000 tấn/tháng; Lysin từ 1.200 tấn/tháng lên 1.400 tấn/ tháng; bột gia vị cao cấp 20 tấn/tháng; PGA 700 tấn/năm; phân Vedagro 70.000 tấn/năm (rắn); 280.000 tấn/năm (lỏng) về cảng 12.000 tấn; vi phạm khoản 3, Điều 9, Nghị định số 81/2006/NĐ- CP.
Thải mùi hôi thối, mùi khó chịu trực tiếp vào môi trường không qua thiết bị hạn chế môi trường; vi phạm điểm b, khoản 1, Điều 11, Nghị định số 81/2006/NĐ-CP.
Quản lý chất thải nguy hại không đúng quy định về bảo vệ môi trường, vi phạm khoản 3, Điều 15, Nghị định số 81/2006/NĐ- CP.
Công ty xả nước thải vào nguồn nước không đúng vị trí quy định trong giấy phép; vi phạm khoản 4, Điều 9, Nghị dịnh 34/2005/NĐ- CP ngày 17/3/2005 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong tài nguyên nước. [9]
Chúng ta luôn rộng cửa đón các nhà đầu tư nước ngoài làm ăn tại Việt Nam, tuy nhiên, họ phải tôn trọng luật pháp Việt Nam. Hành động xả nước thải độc hại là nguy cơ rất lớn không những tác động xấu đến môi trường mà còn ảnh hưởng đến nền kinh tế. Vụ việc công ty Vedan đổ nước thải làm ô nhiễm sông Thị Vải là bài học đắt giá đối với cơ quan quản lý cũng như các cơ sở công nghiệp. Các cơ quan nhà nước phải cương quyết xử lý đối với trường hợp này để làm gương. Không thể để các doanh nghiệp vì làm lợi mà gây ô nhiễm môi trường.
Sau vụ việc công ty Vedan đổ nước thải làm ô nhiễm sông Thị Vải thì dự án đầu tư công trình Nhà máy sản xuất Bio-Ethanol do công ty Cổ phần Nhiên liệu sinh học dầu khí Miền Trung làm chủ đầu tư đã được Chủ tịch ủy ban nhân dân tỉnh Quảng Ngãi phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường tại Quyết định số 1015/QĐ-UBND ngày 25/6/2009 trong thời gian vận hành chạy thử đã để xảy ra sự cố làm một lượng chất thải chưa được xử lý triệt để chảy tràn ra bên ngoài gây ô nhiễm môi trường xung quanh, làm ảnh hưởng đến sản xuất và sinh hoạt của nhân dân trong khu vực.
Ngay khi sự việc xảy ra, ngày 12/2/2012, UBND tỉnh Quảng Ngãi đã có văn bản số 329/UBND-CNXD chỉ đạo Công ty Cổ phần Nhiên liệu sinh học dầu khí Miền Trung chậm nhất đến ngày 18/02/2012 có trách nhiệm ký hợp đồng với đơn vị có chức năng khắc phục ngay việc ô nhiễm môi trường đã xảy ra; phối hợp với UBND xã Bình Thuận xác định, thống kê cụ thể mức độ thiệt hại của từng hộ gia đình và có trách nhiệm hỗ trợ, đền bù thiệt hại. Hỗ trợ kinh phí để đảm bảo có nguồn nước sạch trong thời gian này cho nhân dân sinh hoạt. Nghiêm túc chấp hành các quy định tại các quyết định phê duyệt báo cáo đánh giá tác động môi trường mà Chủ tịch UBND tỉnh đã phê duyệt, tuyệt đối không được xả các loại chất thải chưa qua xử lý hoặc xử lý chưa đạt yêu cầu ra môi trường. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
UBND tỉnh cũng yêu cầu các Sở, Ngành và Ban quản lý khu kinh tế Dung Quất thường xuyên theo dõi và hướng dẫn chuyên môn trong quá trình Công ty khắc phục sự cố; lấy mẫu phân tích trước và sau khi xử lý, xác định mức độ ảnh hưởng môi trường để có hướng dẫn cụ thể. UBND huyện Bình Sơn có trách nhiệm phối hợp và chỉ đạo UBND xã Bình Thuận phối hợp với công ty Cổ phần Nhiên liệu sinh học dầu khí Miền Trung giải quyết kịp thời và có hiệu quả những vấn đề có liên quan; đồng thời chỉ đạo việc ổn định tình hình, bảo đảm cho nhân dân trong vùng bị ảnh hưởng ổn định cuộc sống và sản xuất.
Ngày sau đó, công ty cổ phần Nhiên liệu sinh học dầu khí miền Trung và nhà thầu chính nhanh chóng liên hệ với trung tâm Quan trắc môi trường khu kinh tế Dung Quất, chi cục Môi trường Quảng Ngãi và công ty trách nhiệm hữu hạn 1 thành viên VINA- đơn vị chuyên xử lý môi trường tại thành phố Hồ Chí Minh khảo sát, đánh giá nguyên nhân ô nhiễm; tiến hành khắc phục sự cố tại phân xưởng tách cát; phối hợp với chính quyền xã Bình Thuận xác định, thống kê mức độ thiệt hại của từng hộ dân để bồi thường; cô lập tất cả các tuyến mương thoát nước không cho nguồn nước lây lan ra diện rộng; huy động lực lượng thu gom cá chết; sử dụng phun Enzymes sinh học hợp chất đa men hữu cơ ESOL để phân huỷ chất gây mùi, tăng tộc phân huỷ các chất hữu cơ trong nước, cải thiện tính chất của nước, làm giảm các chất hữu cơ không cho lên men và tạo mùi hôi trở lại, làm giảm 90% mùi hôi. [14]
Từ những câu chuyện do “vô tình” hay “hữu ý” của các nhà đầu tư trong quá trình triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh đã gây thiệt hại không nhỏ đến môi trường xung quanh, ảnh hưởng nghiêm trọng đến đời sống người dân. Trên đây là hai vụ việc diễn ra ở các mốc thời gian gần như liên tiếp nhưng cách xử lý ở vụ việc công ty cổ phần Nhiên liệu sinh học dầu khí Miền Trung đã cho thấy vai trò từ phía cơ quan nhà nước trong công tác quản lý, khắc phục hậu quả kịp thời, người dân không phải tự đứng ra đàm phán mà có sự can thiệp nhanh chóng của cơ quan chủ quản, công tác xử lí ô nhiễm môi trường tại khu vực nhà máy Bio Ethanol Dung Quất đã cơ bản hoàn tất sau một tuần xử lý.
3.1.4. Lĩnh vực môi trường Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
3.1.4.1 Một số quy định của pháp luật Việt Nam
Để thực hiện hóa các Công ước Quốc tế tại “Mục 2.2 – Chương II”, Việt Nam đã ban hành và thực thi các chính sách:
Chính sách buôn bán động thực vật hoang dã ở Việt Nam: Từ năm 1994, Việt Nam trở thành thành viên của Công ước CITES, các chính sách về gây nuôi và buôn bán động thực vật hoang dã được ban hành nhiều hơn nhằm thực thi Công ước:
Chiến lược về bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 nhấn mạnh: “Kiểm soát chặt chẽ việc buôn bán các loài quý hiếm, có nguy cơ tuyệt chủng cao; loại bỏ các phương thức khai thác hủy diệt, đặc biệt trong khai thác thủy sản, đẩy mạnh các biện pháp bảo tồn nội vi kết hợp với bảo tồn ngoại vi.”
Kế hoạch hành động quốc gia về tăng cường kiểm soát buôn bán động vật, thực vật hoang dã đến năm 2010 có nhận định: “… Việt Nam phải đối mặt với tình trạng khai thác, săn bắt, vận chuyển, buôn bán và sử dụng bất hợp pháp động thực vật hoang dã diễn ra rất nghiêm trọng trong nền kinh tế thị trường. Công tác kiểm soát bảo vệ động thực vật hoang dã hiện chưa đạt được hiệu lực và hiệu quả như mong muốn…” để khắc phục tình trạng trên, kế hoạch hành động đó đưa ra mục tiêu chung là: “Tăng cường hiệu lực và hiệu quả kiểm soát của các cơ quan chức năng để ngăn chặn nạn buôn bán bất hợp pháp động thực vật hoang dã, tiến tới quản lý và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên động thực vật hoang dã, góp phần thiết thực vào việc thực hiện chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia đến năm 2010.
Đề án bảo tồn và phát triển lâm sản ngoài gỗ gia đoạn 2006 – 2020 của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam xác định: “Tăng nhu cầu nghiên cứu và phát triển khả năng thuần hóa tài nguyên hoang dã… Đặc biệt, người dân đóng vai trò quan trọng trong việc phát triển các loài lâm sản ngoài gỗ mới này… Việc gây nuôi động vật hoang dã cũng phát triển như vậy…”
Chiến lược phát triển lâm nghiệp Việt nam 2006 – 2020 định hướng: “Bảo tồn rừng phải kết hợp giữa bảo tồn tại chỗ với bảo tồn ngoài nơi cư trú tự nhiên trên diện rộng, kết hợp với phát triển gây nuôi động vật rừng theo hướng đạt hiệu quả kinh tế cao và được kiểm soát theo quy định của pháp luật nhằm tạo nguồn hàng hóa phục vụ bảo tồn rừng… Có cơ chế cho các chủ rừng được quản lý, khai thác và sử dụng hợp pháp lâm sản ngoài gỗ theo quy định của pháp luật.”
Luật đa dạng sinh học được Quốc hội thông qua tháng 11/2008. Đây là văn bản pháp lý có hiệu lực cao nhất, điều chỉnh toàn diện và thống nhất các vấn đề về đa dạng sinh học nói chung và bảo tồn động, thực vật hoang dã nói riêng. Luật có dành một chương riêng (chương IV) quy định về bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật. Quan điểm về bảo tồn động, thực vật hoang dã trong Luật đa dạng sinh học đã có sự đổi mới cơ bản, đó là bảo tồn phải kết hợp với khai thác, sử dụng; chia sẻ lợi ích giữa các bên có liên quan bảo đảm hài hòa giữa lợi ích của Nhà nước và lợi ích của các tổ chức, cá nhân. [29]
Các văn bản dưới luật cũng được ban hành nhằm quản lý và định hướng hoạt động khai thác và buôn bán đặc biệt là buôn bán quốc tế như: Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
- Nghị định số 11/2002/NĐ-CP ngày 22/01/2002 của Chính Phủ về việc quản lý hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu và quá cảnh các loài động vật, thực vật hoang dã;
- Thông tư số 123/2003/TT-BNN ngày 14/11/2003 của Bộ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam hướng dẫn thực hiện Nghị định trên;
- Nghị định số 32/2006/NĐ-CP của Chính Phủ ngày 30/3/2006 về quản lý động vật rừng, thực vật rừng nguy cấp, quý hiếm;
Quyết định số 54/QĐ-BNN ngày 5/7/2006 về việc công bố danh mục các loài động vật, thực vật hoang dã quy định trong Phụ lục của Công ước về buôn bán quốc tế các loài động thực vật hoang dã nguy cấp;
Nghị định 82/2006/NĐ-CP ngày 10/8/2006 của Chính phủ về quản lý hoạt động xuất nhập khẩu, nhập nội từ biển, quả cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng và trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp, quý, hiếm. Đây là một văn bản nhằm cụ thể hóa việc thực thi CITES. Nghị định nêu tương đối đầy đủ quy định về hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu, tái xuất khẩu, nhập nội từ biển, quá cảnh, nuôi sinh sản, nuôi sinh trưởng, trồng cấy nhân tạo các loài động vật, thực vật hoang dã nguy cấp quý hiếm. Nghị định kèm theo 5 phụ lục biểu là các mẫu đề nghị cấp giấy phép, chứng chỉ cũng như mẫu hồ sơ đăng ký cơ sở trồng cấy nhân tạo thực vật hoang dã và đăng ký các trại nuôi sinh sản động vật hoang dã quý hiếm và động thực vật hoang dã thông thường.
Việt Nam đã xây dựng được một hệ thống chính sách về bảo vệ động thực vật hoang dã tương đối đầy đủ ở nhiều mức độ từ chính sách, văn bản luật và dưới luật. Với hệ thống chính sách đó, Việt Nam đã và đang tiến tới việc quản lý được hiệu quả hơn các hoạt động khai thác, gây nuôi, xuất nhập khẩu động thực vật hoang dã. Số lượng động vật, thực vật có nguồn gốc từ trồng cấy nhân tạo và gây nuôi hợp pháp đã tăng nhiều. Hoạt động khai thác, nuôi, trồng động thực vật hoang dã đã mang lại việc làm và thu nhập cho nhiều gia đình, nhiều cộng đồng và bước đầu góp phần vào phát triển kinh tế và xóa đói giảm nghèo ở địa phương. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Việt Nam với những nỗ lực bảo vệ tầng ô dôn: Việt Nam chính thức phê chuẩn Nghị định thư Montreal vào tháng 01 năm 1994. Từ đó đến nay, Việt Nam luôn được đánh giá là nước tuân thủ đầy đủ các qui định của Nghị định thư Montreal.
Ngày 11 tháng 7 năm 2005, Bộ Thương mại, Bộ Tài nguyên và Môi trường ban hành Thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BTM-BTNMT hướng dẫn quản lý nhập khẩu, xuất khẩu, tạm nhập – tái xuất các chất làm suy giảm tầng ô dôn theo quy định của Nghị định thư Montreal về các chất suy giảm tầng ô dôn. Thông tư hướng dẫn trình tự thủ tục cấp giấy phép nhập khẩu, xác nhận đăng ký cho các hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu, tạm nhập – tái xuất các chất suy giảm tầng ô dôn thuộc Nghị định thư, áp dụng cho tất cả các doanh nghiệp tham gia vào một trong các hoạt động nêu trên trong lãnh thổ Việt Nam.
Tháng 7/2011, liên Bộ Thương mại, Bộ Tài nguyên và Môi trường dự thảo Thông tư liên tịch hướng dẫn quản lý nhập khẩu, xuất khẩu các chất làm suy giảm tầng ô dôn theo quy định của Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô dôn thay thế thông tư liên tịch số 14/2005/TTLT-BTM-BTNMT.
Mục tiêu của việc xây dựng Thông tư liên tịch này là nhằm kiểm soát nhập khẩu và sử dụng các chất làm suy giảm tầng ô dôn nhóm chất HCFC, loại trừ dần, tiến tới loại trừ hoàn toàn nhập khẩu và sử dụng các chất này theo quy định của Nghị định thư Montreal mà Việt Nam đã phê chuẩn tham gia, thiết lập cơ sở dữ liệu cho việc xây dựng các dự án hỗ trợ tài chính và công nghệ từ quỹ đa phương thi hành Nghị định thư Montreal cho việc loại trừ các chất HCFC ở Việt Nam.
Dự thảo Thông tư liên tịch này nêu rõ hạn ngạch nhập khẩu từng năm bắt đầu từ ngày 1/1/2012 đến 31/12/2019 cho từng nhóm chất HCFC. Cụ thể là trong năm 2012, hạn ngạch nhập khẩu các chất HCFC-14b là 500 tấn, năm 2013 là 300 tấn… và từ năm 2015 trở đi hạn ngạch nhập khẩu loại chất này là 0. Với các chất HCFC khác, hạn ngạch nhập khẩu cũng sẽ giảm dần từ 3.700 tấn vào năm 2012 xuống còn 3.600 tấn vào năm 2015.
Hạn ngạch nhập khẩu các chất HCFC cho từng năm từ năm 2016 đến năm 2019 sẽ được cắt giảm tương ứng đối với các chất mà các doanh nghiệp sử dụng các chất đó hoàn thành quá trình chuyển đổi sản xuất sang các chất thay thế do quỹ đa phương thi hành Nghị định thư cung cấp tài chính, công nghệ cho quá trình chuyển đổi.
Nhờ các chính sách cương quyết của Chính phủ, nỗ lực của Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Thương mại cùng các cơ quan liên quan, sự tham gia của các doanh nghiệp, sự ủng hộ của người tiêu dùng cùng hỗ trợ tài chính của quốc tế, Việt Nam đã đạt được những thành quả đáng kể trong việc từng bước hạn chế sử dụng các chất làm suy giảm tầng ô dôn. Trong thập kỷ 90, mỗi năm Việt Nam tiêu thụ khoảng 500 tấn CFC, 4 tấn holon và gần 400 tấn methyl bromide – những chất gây suy giảm tầng ô dôn. Song nhờ những nỗ lực giảm thiểu, trên 200 tấn CFC 12 (chiếm gần 1/2 tổng số CFC được sử dụng trong cả nước) đã được loại trừ và đến thời điểm này không còn doanh nghiệp nào tại Việt Nam sử dụng CFC trong sản xuất mỹ phẩm. Đến năm 2009, Việt Nam chỉ còn nhập khẩu 10 tấn R-12 (chất làm suy giảm tầng ô dôn nhóm CFC) và bắt đầu từ 1/1/2010 toàn bộ các chất nhóm CFC bị cấm nhập khẩu vào Việt Nam. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Việt Nam với việc thực thi Công ước Basel: Việt Nam tham gia Công ước ngày 13/3/1995; Công ước có hiệu lực đối với Việt Nam ngày 11/6/1995. Từ đó đến nay, Việt Nam đã có những nỗ lực nhất định để thực thi Công ước Basel nhằm hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của chất thải đối với sức khoẻ con người và môi trường, đặc biệt là chất thải độc hại nguy hiểm. Xây dựng những quy định thích hợp để quản lý chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hiểm. Sau ngày 13/3/1995, Việt Nam đã ban hành các văn bản pháp luật nhằm bảo đảm việc quản lý chất thải một cách tốt nhất để bảo vệ sức khoẻ con người và môi trường. Các văn bản quan trọng nhất bao gồm:
Để bảo đảm thực thi Công ước đạt hiệu quả cao hơn, Luật bảo vệ môi trường được Quốc hội thông qua ngày 29/11/2005, có hiệu lực ngày 1/7/2006 đã pháp điển hoá một số quy định nằm rải rác trong các văn bản được ban hành trước đây. Luật bảo vệ môi trường 2005 đã thiết kế một chương (Chương VIII) về quản lý chất thải; trong đó đã quy định rõ ràng và cụ thể hoạt động quản lý chất thải, từ giảm thiểu việc sản sinh, thu gom, phân loại, tái chế, tái sử dụng cho tới xử lý chất thải. Luật bảo vệ môi trường 2005 cũng đã có những quy định cụ thể đối với việc quản lý từng loại chất thải gồm chất thải rắn thông thường, nước thải, khí thải và chất thải nguy hại. Vấn đề bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu phế liệu cũng được quy định tại Điều 43 Luật bảo vệ môi trường 2005. [24]
- Nghị định 80/2006/NĐ-CP ngày 8/9/2006 về việc quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của luật bảo vệ môi trường 2005. Thông tư số 12/2006/TT-BTNMT ngày 26/12/2006 về hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề mã số quản lý chất thải nguy hại.
- Nghị định 81/2006/NĐ-CP ngày 8/9/2006 về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ Môi trường.
Trách nhiệm hình sự áp dụng đối với những hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng của cá nhân được quy định trong Chương 17, Bộ luật Hình sự 2005, quy định về các tội phạm về môi trường.
Các quy định này đã tạo cơ sở pháp lý cho các cơ quan quản lý nhà nước, tổ chức và cá nhân thực hiện quản lý chất thải. Trách nhiệm của tổ chức, cá nhân sản sinh ra chất thải, lưu giữ, vận chuyển, xử lý chất thải và trách nhiệm của cơ quan nhà nước trong việc giám sát các hoạt động này được quy định tương đối rõ ràng trong văn bản pháp luật, đặc biệt là đối với chất thải nguy hại. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Một trong những nghĩa vụ khác mà thành viên của Công ước Basel phải thực hiện là hình thành cơ quan có thẩm quyền để tạo điều kiện cho việc thực hiện Công ước; hợp tác với các quốc gia thành viên trong hoạt động trao đổi thông tin với Uỷ ban của Công ước và với các quốc gia thành viên khác. Theo đó, Việt Nam đã xác định Cục bảo vệ môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đảm nhiệm chức năng Cơ quan có thẩm quyền Việt Nam của Công ước Basel và là đầu mối thực hiện Công ước Basel ở Việt Nam. Trong thời gian qua, cơ quan này thường xuyên trao đổi thông tin, văn bản với Ban thư ký Công ước về các lĩnh vực xây dựng các văn bản pháp luật nhằm thực hiện Công ước ví dụ như Nghị định thư về trách nhiệm và bồi thường, hướng dẫn kỹ thuật về xử lý các chất thải y tế, các hướng dẫn kỹ thuật xử lý các loại chất thải có nguồn gốc dầu mỏ, chất thải chứa PCB, chất thải là ắc quy, chì, axít, chất thải lốp ô tô, chất thải từ phá dỡ tàu biển.
Nội luật hóa nội dung của Công ước đa dạng sinh học 1992: Bảo tồn đa dạng sinh học được coi là một trong ba nhiệm vụ trọng tâm của công tác bảo vệ môi trường (bên cạnh các nhiệm vụ phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm, cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường) được đề cập đến trong Văn kiện của các kỳ Đại hội Đảng toàn quốc và được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 41/NQ-TW ngày 15 tháng 11 năm 2004 của Bộ Chính trị về Bảo vệ môi trường trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Nhằm ngăn chặn suy thoái đa dạng sinh học, từ đầu những năm 1960 Chính phủ và các Bộ, ngành đã xây dựng các chính sách và nhiều văn bản pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học. Từ đó đến nay, việc cải cách thể chế và luật pháp đã phát triển nhanh chóng với sự ra đời nhiều bộ luật có liên quan tới bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạng sinh học: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 1991 (được sửa đổi, bổ sung năm 2004); Luật Đất đai năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 1998 và 2003); Luật Bảo vệ môi trường năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005); Luật Thủy sản năm 2003; và gần đây nhất, Luật Đa dạng sinh học được Quốc hội Việt Nam phê chuẩn tháng 11 năm 2008.
Có thể nói việc ra đời của Luật Đa dạng sinh học đánh dấu một bước tiến căn bản trong quá trình hoàn thiện pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học ở Việt Nam. Lần đầu tiên có một Luật đề cập tổng thể, bao quát hết các khía cạnh bảo tồn, từ vấn đề quy hoạch đa dạng sinh học, đến bảo tồn các hệ sinh thái tự nhiên, loài, nguồn gen. Luật cũng tạo cơ sở pháp lý cho việc thiết lập các cơ chế tài chính, hoàn thiện tổ chức, tăng cường nguồn lực cho công tác bảo tồn đa dạng sinh học.
Nhằm triển khai thực hiện, ngay sau khi Luật Đa dạng sinh học chính thức có hiệu lực, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã ban hành Quyết định số 2293/QĐ-BTNMT ngày 30/11/2009 về việc phê duyệt Chương trình thực hiện Luật Đa dạng sinh học của Bộ giai đoạn 2009- 2015. Đây là văn bản chuyên ngành hỗ trợ cho việc triển khai thực hiện các nội dung của Luật, trong đó tập trung vào các nhiệm vụ chủ yếu về xây dựng văn bản hướng dẫn Luật, tuyên truyền đào tạo và tăng cường năng lực thực thi Luật Đa dạng sinh học trong cuộc sống. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Giai đoạn vừa qua, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã chỉ đạo ưu tiên tập trung xây dựng và trình Chính phủ phê duyệt các văn bản pháp quy phục vụ thực hiện Luật. Ngày 11/6/2010, Nghị định số 65/2010/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đa dạng sinh học và ngày 21/6/2010, Nghị định số 69/2010/NĐ-CP của Chính phủ về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen, mẫu vật di truyền và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen đã được ban hành. Những văn bản này đã làm rõ các nội dung về tiêu chí thành lập và phân cấp các khu bảo tồn; trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của hộ gia đình, cá nhân sống hợp pháp trong các khu bảo tồn; tiêu chí xác định các loài nguy cấp quý hiếm thuộc danh mục ưu tiên bảo vệ và trình tự, thủ tục thẩm định hồ sơ đưa vào danh mục, cơ sở bảo tồn hoặc thả ra nơi sinh sống. Vấn đề quản lý, chia sẻ lợi ích và cấp giấy phép tiếp cận nguồn gen; hình thức, nội dung và trình tự, thủ tục lập quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học cấp trung ương và địa phương; quản lý an toàn sinh học đối với các hoạt động nghiên cứu, khảo nghiệm, cấp giấy chứng nhận sử dụng, sản xuất, kinh doanh, nhập khẩu, vận chuyển và lưu giữ các sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của sinh vật biến đổi gen cũng nêu rõ và hướng dẫn cụ thể trong các Nghị định.
Hiện nay, Bộ Tài nguyên và Môi trường đang phối hợp với các Bộ ngành liên quan tiếp tục xây dựng và trình ban hành các văn bản: Dự thảo Nghị định của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đa dạng sinh học; dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý khu bảo tồn; dự thảo Nghị định của Chính phủ về quản lý loài thuộc danh mục các loài nguy cấp, quý hiếm được ưu tiên bảo vệ; dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành đề án ngăn ngừa và kiểm soát sinh vật ngoại lai xâm hại đến năm 2015; dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ ban hành đề án kiện toàn hệ thống tổ chức quản lý nhà nước về đa dạng sinh học và an toàn sinh học và các văn bản liên quan khác nhằm tăng cường thực thi hiệu quả công tác bảo tồn đa dạng sinh học trên cả nước.
Trong giai đoạn 2005-2010, các quy hoạch, kế hoạch hành động quốc gia về bảo tồn đa dạng sinh học đã được ban hành và tổ chức thực hiện như quy hoạch hệ thống khu bảo tồn vùng nước nội địa đến năm 2020, quy hoạch hệ thống khu bảo tồn biển Việt Nam đến năm 2020… Đặc biệt là kế hoạch hành động quốc gia về đa dạng sinh học đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020 đã được Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt tại Quyết định số 79/2007/QĐ-TTg ngày 31 tháng 5 năm 2007. Dưới sự chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ tại Quyết định này, Bộ Tài nguyên và Môi trường được giao là cơ quan đầu mối tổ chức thực hiện kế hoạch hành động. Các địa phương trong cả nước cũng đã bước đầu xây dựng, ban hành và triển khai các kế hoạch hành động về đa dạng sinh học của địa phương.
3.1.4.2. Thực tiễn áp dụng Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Bảo vệ động thực vật hoang dã góp phần bảo tồn bền vững các nguồn tài nguyên thiên nhiên ở Việt Nam: Dù đã có nhiều nghị quyết, văn bản pháp luật về bảo vệ tài nguyên và môi trường, bảo vệ các loài động, thực vật hoang dã, nhưng trên thực tế, nguồn tài nguyên đa dạng sinh học của chúng ta tiếp tục bị suy thoái, các loài động, thực vật tiếp tục bị rơi vào nguy cơ tuyệt chủng trên lãnh thổ Việt Nam.
10 năm trở lại đây, Việt Nam trở thành một mắt xích quan trọng trong mạng lưới buôn bán trái phép động vật hoang dã trên toàn thế giới. Từ năm 1996-2006, Việt Nam xuất khẩu khoảng 15.000 con khỉ và 150.000 con trăn. Năm 2004-2006, hơn 60.000 cá thể rùa mai cứng được tái xuất sang Trung Quốc. Năm 2008, có 20 tấn tê tê bị bắt giữ ở Việt Nam trên tuyến đường vận chuyển từ Indonesia sang Trung Quốc. Năm 2009, hơn 7 tấn ngà voi tịch thu được ở Việt Nam có nguồn gốc từ Châu Phi. Theo ước tính của Văn phòng Cảnh sát quốc tế, ở Việt Nam, nhu cầu hằng năm về động thực vật hoang dã cho mục đích ẩm thực, dược liệu, sinh vật cảnh và xuất khẩu dao động trong khoảng từ 3.700 – 4.500 tấn, chưa kể đến hàng chục vạn cá thể các loài chim, côn trùng, không thể tính toán thành trọng lượng được.
Trong năm 2010, cửa khẩu Móng Cái đã làm các thủ tục và xuất khẩu 42.300 cá thể rắn và rùa các loại. Bên cạnh đó, trong 2 năm 2009-2010, tại các cửa khẩu cảng biển trên địa bàn quản lý, hải quan Hải Phòng đã phát hiện, bắt giữ tịch thu gần 15 tấn ngà voi.
Nhìn chung, việc buôn bán các loài động vật hoang dã tại các cửa khẩu luôn diễn ra thường xuyên với sự đa dạng về chủng loại: động vật sống và các sản phẩm của chúng: thịt thú rừng, túi, ví, thuốc cổ truyền… Nhằm mục đích thu lợi nhuận cao, tội phạm thường xuyên sử dụng nhiều phương tiện vận chuyển hiện đại với nhiều thủ đoạn tinh vi. Để ngăn chặn được tình hình này rất cần sự phối hợp giữa nhiều cơ quan chức năng ở cấp trung ương và địa phương. [8]
Tình trạng nêu trên có nhiều nguyên nhân, một phần do công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức của người dân về bảo vệ động, thực vật hoang dã chưa được quan tâm đúng mức; tuyên truyền vận động chưa kết hợp tốt với các biện pháp kinh tế nên hiệu quả tuyên truyền chưa cao. Người dân vẫn có thị hiếu tiêu dùng động vật hoang dã. Tiêu thụ động, thực vật hoang dã vẫn diễn ra phổ biến công khai ở nhiều cơ sở kinh doanh phục vụ ăn uống. Bên cạnh đó, hệ thống các văn bản pháp luật quản lý về lĩnh vực bảo vệ động vật hoang dã chưa chặt chẽ, các chế tài xử phạt còn nhẹ, thiếu sức răn đe.
Việt Nam thực hiện giảm khí thải gây suy giảm tầng ô dôn: từ khi trở thành thành viên nghị định thư Montreal đến nay, Việt Nam đã loại bỏ 500 tấn CFC sử dụng hàng năm. Riêng từ năm 2010 trở đi, theo quyết định của các bên tham gia nghị định thư thì Việt Nam phải bắt đầu triển khai loại bỏ các chất HCFC và HFC dùng phổ biến trong điều hòa không khí, các hệ thống cấp đông của kho lạnh thủy hải sản và sản xuất xốp cách nhiệt. Thực tế, để làm được việc này là không dễ và gặp phải nhiều vướng mắc. Trong năm 2010, Việt Nam đã nhập khẩu và sử dụng gần 3.700 tấn HCFC và con số này sẽ tiếp tục tăng lên 4.200 tấn vào năm 2012. Đó là chưa kể nhu cầu sử dụng máy điều hòa không khí, tủ lạnh trong đời sống sinh hoạt hoặc tủ cấp đông trong sản xuất thủy hải sản, hệ thống điều hòa trung tâm trong các trung tâm thương mại, hệ thống văn phòng… rất phổ biến và ngày càng trở thành nhu cầu thiết yếu của xã hội. Để thay đổi toàn bộ thiết bị này, đòi hỏi khoản kinh phí rất lớn, ước tính khoảng 30 triệu USD và phải kéo dài trong vòng 20 năm. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Hiện nay, nhiều doanh nghiệp khẳng định rất khó để thay thế chất trên bằng những chất thân thiện với môi trường. Nguyên nhân là do các chất thân thiện môi trường có giá thành quá cao, thường gấp trên 5 lần hóa chất đang sử dụng, ảnh hưởng rất lớn đến giá thành sản phẩm. Mặt khác, nếu thay thế bằng hợp chất như Benten hay Hydrocacbon thì đòi hỏi phải thay đổi dây chuyền công nghệ sản xuất, thiết kế nhà xưởng, đào tạo lại công nhân kỹ thuật sao cho phù hợp… gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp.
Để thực hiện cam kết với Nghị định thư, Việt Nam đang từng bước thực hiện loại trừ chất HCFC trong sản xuất theo hướng dễ làm trước, khó làm sau. Hiện ban chấp hành Quỹ đa phương của Ngân hàng thế giới đã phê duyệt cho Việt Nam dự án “kế hoạch quốc gia quản lý và loại trừ HCFC” giai đoạn 1 từ năm 2012-2016 với tổng kinh phí hỗ trợ không hoàn lại gần 10 triệu USD. Theo đó, đơn vị sẽ bắt đầu bằng việc hỗ trợ thực hiện loại trừ sử dụng khí HCFC ở các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất xốp cách nhiệt.
Hiện 12/70 doanh nghiệp chuyên sản xuất xốp cách nhiệt đang sử dụng khí HCFC – 141b tinh chất đã được chọn để nhận gói hỗ trợ tài chính trên. 12 doanh nghiệp này sẽ được hỗ trợ thay thế toàn bộ công nghệ và dây chuyền sản xuất sang sử dụng các chất an toàn cho tầng ô dôn theo nguyên tắc chuyển giao công nghệ có công suất tương ứng và tiêu hủy toàn bộ công nghệ, thiết bị cũ sau khi kết thúc quá trình chuyển đổi. Đồng thời, nguồn kinh phí này cũng sẽ hỗ trợ một phần cho các cơ quan liên quan của Việt Nam để thúc đẩy tiết kiệm năng lượng, nâng cao hiệu suất năng lượng trong lĩnh vực làm lạnh và điều hòa không khí, thiết lập kế hoạch sử dụng HCFC – 22 và thiết bị làm lạnh chứa HCFC – 22 trong các kho lạnh của ngành thủy hải sản. [47]
Bộ Tài nguyên và Môi trường cũng khuyến cáo các địa phương không cấp phép thành lập mới các doanh nghiệp sử dụng khí HCFC, tiến tới buộc các doanh nghiệp loại bỏ hoàn toàn loại khí này trong sản xuất; không cho phép các doanh nghiệp sản xuất điều hòa không khí được mở rộng quy mô sản xuất…
Do đó, các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực trên cần chủ động đổi mới mình để có cơ hội nhận được những hỗ trợ từ các nước phát triển để chuyển đổi sản xuất theo hướng thân thiện với môi trường hơn. Tránh tình trạng “nước đến chân mới nhảy” và lúc đó, doanh nghiệp không những không được nhận hỗ trợ mà còn phải tự bỏ tiền túi để cải tạo dây chuyền sản xuất nếu muốn tiếp tục tồn tại.
Để thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Công ước Basel, ngoài việc ban hành các văn bản pháp luật về quản lý chất thải, Việt Nam đã bước đầu triển khai đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho hoạt động quản lý chất thải, xây dựng các cơ sở xử lý chất thải, đào tạo cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác quản lý chất thải.
Mặc dù đã có những thành công nhất định nhưng vì những lý do khác nhau nên hoạt động quản lý chất thải ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế cần khắc phục nhằm đáp ứng những đòi hỏi từ việc thực thi Công ước Basel. Cụ thể:
Thứ nhất: Việc kiểm soát hoạt động nhập khẩu “phế liệu” chưa chặt chẽ. Tính thiếu chặt chẽ trong hoạt động kiểm soát hành vi nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất được biểu hiện thông qua sự bất cập trong quy định của pháp luật và việc thực hiện không đầy đủ trách nhiệm, thiếu thống nhất của các cơ quan quản lý nhà nước.
Điều 43 Luật Bảo vệ môi trường 2005 và Quyết định số 03/2004/QĐ-BTNMT ngày 02/4/2004 về việc ban hành quy định về bảo vệ môi trường đối với phế liệu nhập khẩu làm nguyên liệu sản xuất chưa thể hiện rõ nguyên tắc phòng ngừa trong quá trình kiểm soát hoạt động nhập khẩu phế liệu. Các văn bản này chỉ quy định trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phải thông báo cho Sở Tài nguyên và Môi trường trước 05 ngày trước khi tiến hành bốc dỡ, vận chuyển phế liệu nhập khẩu về kho, bãi tập kết. Như vậy, hoạt động kiểm soát về môi trường chỉ được thực hiện khi phế liệu đã được nhập khẩu vào Việt Nam. Pháp luật cũng đã quy định trường hợp phế liệu nhập khẩu không bảo đảm yêu cầu thì phải tái xuất hoặc tiêu huỷ, nhưng trên thực tế khó có thể thực hiện được. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Hoạt động kiểm soát thực tế cho thấy, các cơ quan quản lý nhà nước chưa thực hiện đầy đủ trách nhiệm cũng như sự phối hợp thích đáng và có hiệu quả trong việc thực thi các quy định của pháp luật. Trường hợp này thường được giải thích là lực lượng mỏng, phương tiện thiếu thốn, dân buôn lậu ngày càng tinh vi hoặc các cơ quan quản lý nhà nước thường đổ lỗi cho lý do khách quan.
Thứ hai: Chưa bảo đảm việc thu gom và xử lý chất thải phù hợp với môi trường.
Một trong những trách nhiệm của thành viên Công ước Basel là xây dựng những quy định thích hợp để bảo đảm thu gom và xử lý chất thải phù hợp với môi trường. Thông qua việc ban hành các văn bản pháp luật, Việt Nam đã xây dựng cơ sở pháp lý cho việc thực thi nghĩa vụ này. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện các quy định này còn chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế và mục tiêu của Công ước Basel đề ra. Hoạt động thu gom chất thải rắn, kể cả chất thải thông thường và chất thải độc hại nguy hiểm đạt tỉ lệ thấp, từ 20% đến 80% lượng chất thải sản sinh.
Thứ ba: Nguồn tài chính đầu tư cho hoạt động xử lý chất thải còn hạn chế nên tuyệt đại bộ phận những cơ sở xử lý chất thải chưa bảo đảm mục tiêu bảo vệ sức khoẻ con người và môi trường. Việc xử lý chất thải cho đến nay chủ yếu vẫn đổ ở bãi thải lộ thiên không có sự kiểm soát. Tính đến năm 2004 có 34/64 đô thị có dự án đầu tư xây dựng bãi chôn lấp hợp vệ sinh, trong đó 15 đô thị đã được đầu tư xây dựng và 13 bãi chôn lấp đã đi vào hoạt động. Tuy nhiên, các bãi chôn lấp chất thải rắn đều chưa bảo đảm yêu cầu về môi trường, trừ bãi chôn lấp chất thải rắn tại khu liên hợp xử lý chất thải Nam Sơn tại Sóc Sơn – Hà Nội và bãi chôn lấp chất thải rắn tại Kiêu Kỵ – Gia Lâm – Hà Nội đã tuân thủ các yêu cầu về môi trường một cách tương đối. Năng lực xử lý chất thải độc hại nguy hiểm còn thấp. [22]
Có thể đánh giá rằng, thông qua việc tham gia ký kết và thực thi Công ước Basel, hoạt động quản lý chất thải của Việt Nam đã có những thành công nhất định. Đó là, chúng ta đã có một hệ thống pháp luật về quản lý chất thải và hoạt động quản lý chất thải từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, do điều kiện về kinh tế, xã hội, quản lý…, hoạt động quản lý chất thải của Việt Nam còn chưa đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu của Công ước Basel và yêu cầu bảo vệ môi trường trước những ảnh hưởng của chất thải. Để đáp ứng những yêu cầu này, nhà nước cần phải tăng cường hơn nữa năng lực về thể chế, quản lý, tài chính… cho công tác quản lý chất thải. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Trong quá trình thực hiện các quy định về đa dạng sinh học, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, mặc dù nhiều nỗ lực đã được thực hiện để giảm tốc độ “xói mòn” đa dạng sinh học, nhưng đa dạng sinh học ở Việt Nam vẫn đang bị suy thoái nhanh. Diện tích các khu vực có các hệ sinh thái tự nhiên quan trọng bị thu hẹp dần. Số loài và số lượng cá thể của các loài hoang dã bị suy giảm mạnh. Nhiều loài hoang dã có giá trị bị suy giảm hoàn toàn về số lượng hoặc bị đe dọa tuyệt chủng ở mức cao. Các nguồn gen hoang dã cũng đang trên đà suy thoái nhanh và thất thoát nhiều. Suy thoái đa dạng sinh học dẫn đến mất cân bằng sinh thái, ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường sống của con người, đe dọa sự phát triển bền vững của đất nước.
Tổng số các loài động, thực vật hoang dã trong thiên nhiên của Việt Nam đang bị đe dọa hiện nay là 882 loài (sách Đỏ Việt Nam, 2007), tăng 161 loài so với lần xuất bản Sách Đỏ trước đây (1992- 1996). Đặc biệt đến thời điểm này, có tới 9 loài động vật và 2 loài Lan hài được xem là đã tuyệt chủng ngoài tự nhiên [44]. Nhiều loài sinh vật quý hiếm khác đã và đang bị giảm sút số lượng nghiêm trọng. Việc tăng nhanh độ che phủ của rừng là một tín hiệu tốt, nhưng cũng một nửa diện tích rừng tăng lên là rừng trồng và rừng phục hồi giá trị đa dạng sinh học không cao. Trong khi đó rừng giàu và rừng nguyên sinh không còn nhiều và vẫn tiếp tục bị suy giảm.
Luật Đa dạng sinh học được thông qua là một thành quả đáng ghi nhận đối với nỗ lực của Nhà nước trong quản lý đa dạng sinh học. Tuy nhiên, hiện vẫn có những bất cập trong việc quản lý các hệ sinh thái, loài và nguồn gen. Cùng là một đối tượng bảo tồn nhưng khu bảo tồn lại bị chi phối bởi nhiều bộ luật quản lý như Luật Bảo vệ và Phát triển rừng, Luật Thủy sản, Luật Đa dạng sinh học…khiến cho trong quá trình thực thi gặp nhiều trở ngại.
Các hướng dẫn thực hiện các Luật nhằm bảo tồn đa dạng sinh học còn thiếu và một số quy định đã bộc lộ những hạn chế trong thực tiễn. Các văn bản hướng dẫn cụ thể và các yêu cầu của Luật Đa dạng sinh học vẫn đang trong quá trình xây dựng như Nghị định quy định về xử phạt vi phạm hành chính về đa dạng sinh học, quy hoạch đa dạng sinh học, quy chế quản lý khu bảo tồn, các hướng dẫn về tiếp cận nguồn gen, chia sẻ lợi ích, xây dựng và thống nhất quản lý cơ sở dữ liệu về đa dạng sinh học.
3.2. Một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Các kiến nghị đối với việc hoàn thiện pháp luật trong nước để bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế được trình bày theo hướng các mục tiêu mà chúng cần phải đạt tới. Các kiến nghị được trình bày theo nhóm (cơ quan nhà nước, doanh nghiệp, hiệp hội, cá nhân) để tìm hiểu chức năng và vai trò của từng đối tượng trong quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường khi Việt Nam tham gia hội nhập kinh tế quốc tế.
3.2.1. Tăng cường vai trò của cơ quan nhà nước trong việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế
3.2.1.1 Xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật thương mại gắn với bảo vệ môi trường
Nhằm đẩy nhanh tiến trình hội nhập vào nền kinh tế thế giới, Việt Nam bắt buộc phải thực hiện nhanh, tích cực và chủ động hơn việc đổi mới, hoàn thiện hệ thống pháp luật, chính sách trong nước. Việc xây dựng môi trường pháp lý theo hướng phù hợp với các quy định và chuẩn mực quốc tế sẽ có tác dụng mạnh mẽ đến các doanh nghiệp. Trước hết các doanh nghiệp sẽ được hoạt động trong một môi trường pháp lý có nhiều điểm tương đồng với thị trường quốc tế cũng như thị trường xuất khẩu mục tiêu của họ. Doanh nghiệp sẽ không còn bỡ ngỡ trước các quy định pháp lý của các quốc gia nhập khẩu và sản phẩm của doanh nghiệp cũng thỏa mãn các yêu cầu về chất lượng và kỹ thuật của họ. Như vậy, với một môi trường pháp lý hoàn chỉnh phù hợp với các thông lệ quốc tế, các doanh nghiệp đã được rèn luyện để vượt qua các rào cản pháp lý ngay tại thị trường trong nước, doanh nghiệp cũng sẽ được bảo vệ một cách tốt hơn khi xảy ra các tranh chấp thương mại quốc tế nếu môi trường pháp lý trong nước có tính chặt chẽ và toàn diện.
Nhà nước cần ban hành các quy định cấm nhập khẩu các sản phẩm đã bị cấm ở thị trường nước ngoài, các quy định về nhãn hiệu hàng hoá thân thiện môi trường (nhãn sinh thái – ecolabel), các quy định cụ thể về thuế và phí môi trường và các quy định về cơ sở khoa học áp dụng các biện pháp “rào cản xanh” phù hợp với quy định của WTO. Ban hành các chính sách và cơ chế tài chính trợ giúp triển khai các chương trình môi trường trong sản xuất nông nghiệp và nuôi trồng thuỷ sản nhằm mục tiêu nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm và bảo vệ môi trường.
Tính tương thích, sự hài hòa giữa hệ thống pháp luật của Việt Nam với các nguyên tắc, quy định của WTO và các định chế khác cùng với sự đơn giản, rõ ràng, đồng bộ dễ dự đoán của hệ thống này là những tiêu chí quyết định tính hấp dẫn của môi trường kinh doanh, thu hút sự tham gia của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Từ đó nâng cao thương hiệu và vị thế quốc gia. Nhà nước phải đặc biệt quan tâm xây dựng và hoàn thiện các văn bản pháp luật ở một số lĩnh vực như: Pháp luật về bảo vệ quyền tự do kinh doanh, về hỗ trợ kỹ thuật, về xử lý tranh chấp, về tiêu chuẩn môi trường…
Quy định cụ thể các hoạt động kinh tế trong nước theo hướng thúc đẩy sử dụng tối ưu tài nguyên thiên nhiên, đồng thời hỗ trợ hàng hóa trong nước xâm nhập các thị trường khó tính, ban hành các quy định về quản lý một số lĩnh vực thương mại nhạy cảm, ví dụ như thương mại đối với các sản phẩm đa dạng sinh học, thương mại đối với các sản phẩm có nguồn gốc độc hại, thương mại năng lượng. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Việc giải quyết tranh chấp thương mại trong khuôn khổ WTO nói chung và trong lĩnh vực TBT, SPS nói riêng ở Việt Nam còn khá mới mẻ. Thực tiễn hiện nay việc giải quyết tranh chấp trong khuôn khổ WTO ở Việt Nam chủ yếu tập trung vào các lĩnh vực liên quan đến bán phá giá, trợ cấp và áp dụng các biện pháp tự vệ, việc giải quyết các vụ liên quan đến lĩnh vực khác kể cả TBT, SPS chưa được nghiên cứu và quy định cụ thể. Vì vậy, việc xây dựng một quy định của Việt Nam về quy trình, thủ tục giải quyết tranh chấp liên quan tới TBT, SPS… là rất cần thiết. Kinh nghiệm của các nước đối với những phát sinh tranh chấp trong các quan hệ thương mại song phương là chủ động đàm phán để có được các nhân nhượng tạm thời. Khi không thỏa thuận được để có những nhân nhượng tạm thời thì cần cân nhắc tới lợi ích kinh tế để có các ứng xử khi giải quyết tranh chấp hơn là theo đuổi các mục tiêu “ta đúng, đối tác sai”.
Bên cạnh đó, nhà nước cần có các chính sách để vượt qua các rào cản thương mại gắn với bảo hộ kinh tế nhằm thúc đẩy xuất khẩu hàng hóa bằng cách:
Chủ động tham gia vào quá trình xây dựng các yêu cầu kỹ thuật ở các thị trường xuất khẩu và nắm vững các thông tin cũng như xác định cơ chế để tham gia vào quá trình đó.
Tổng hợp và phân loại các biện pháp liên quan đến môi trường mà doanh nghiệp phải đáp ứng để có những giải pháp hỗ trợ cần thiết cho doanh nghiệp. Nâng cao ý thức cho doanh nghiệp về bảo vệ môi trường, giúp họ nâng cao năng lực cạnh tranh, đáp ứng các yêu cầu quốc tế.
Hỗ trợ vốn doanh nghiệp: Cơ chế hỗ trợ vốn thích hợp cho các doanh nghiệp là thông qua quỹ môi trường. Do đó cần sớm thành lập quỹ môi trường quốc gia và hoàn thiện mô hình hoạt động của các quỹ môi trường địa phương.
Nhà nước cần áp dụng chính sách miễn giảm thuế giá trị gia tăng (VAT), thuế thu nhập doanh nghiệp trong một số năm nhất định cho các dự án đầu tư cải thiện môi trường sản xuất ở doanh nghiệp sau khi dự án hoàn thành giai đoạn đầu tư đi vào hoạt động. Đó là đầu tư vào công nghệ sản xuất sạch hơn, vào thiết bị ngăn ngừa và xử lý ô nhiễm môi trường. Khoảng thời gian áp dụng cần đủ dài để doanh nghiệp có đủ điều kiện thu hồi vốn đầu tư và khuyến khích đầu tư mạnh hơn nữa vào bảo vệ môi trường. Đồng thời miễn giảm thuế đối với phần lợi nhuận hay chi phí mà các doanh nghiệp dành để đào tạo cán bộ khoa học và công nghệ và cán bộ chịu trách nhiệm đối với sản xuất sạch và bảo vệ môi trường liên quan đến sản xuất trong doanh nghiệp.
Hỗ trợ các doanh nghiệp trong việc áp dụng các hệ thống tiêu chuẩn chất lượng quốc tế và các tiêu chuẩn xã hội: trước hết cần tăng cường triển khai áp dụng các quy trình sản xuất tiên tiến, các hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn quốc tế. Do mức sống của xã hội ngày càng cao, yêu cầu về các sản phẩm được sản xuất theo quy trình quản lý chất lượng càng gay gắt, hơn nữa mức độ bảo hộ cũng khiến cho các rào cản về tiêu chuẩn ngày càng cao như các rào cản “xanh”, “sạch”. Trong khi đó hiện nay, tuy hàng hóa xuất khẩu của nước ta đều đạt tiêu chuẩn Việt Nam nhưng trên thị trường thế giới tiêu chuẩn này của chúng ta không được thừa nhận. Cùng lúc đó, việc phần lớn các hiệp định về công nhận lẫn nhau với các quốc gia khác chưa được ký kết đã làm cho hàng hóa Việt Nam phải tuân thủ các quy định về tiêu chuẩn và kiểm tra của nước nhập khẩu. Chính vì vậy, con đường duy nhất để các sản phẩm Việt Nam vượt qua rào cản kỹ thuật là sản xuất các sản phẩm đạt các tiêu chuẩn quốc tế. Hệ thống các quy định về kỹ thuật và môi trường có liên quan đến hàng hóa xuất khẩu thường là phức tạp nhưng lại rất cụ thể, chi tiết và cũng không phải quá khó khăn để thực hiện. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước về các vấn đề liên quan đến sở hữu trí tuệ, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua rào cản về sở hữu trí tuệ: Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về thương hiệu, nhãn hiệu và chỉ dẫn địa lý (xuất xứ hàng hóa), giúp doanh nghiệp ý thức được rằng việc cạnh tranh bằng chất lượng sản phẩm, cạnh tranh bằng giá cả là chưa đủ mà cần phải có chiến lược về xây dựng thương hiệu và nhãn hiệu hàng hóa. Hỗ trợ và khuyến khích các doanh nghiệp sử dụng nhãn mác sinh thái để đối phó và vượt qua các rào cản về môi trường. Trong các quy định về bao gói, nhãn mác của các quốc gia đã nghiên cứu, đặc biệt là các nước xuất khẩu các mặt hàng nông sản, Thái Lan là nước làm tương đối tốt, có các quy định rất chặt chẽ, rõ ràng, vì vậy mà thương hiệu của Thái Lan khi xuất khẩu, đặc biệt hàng nông sản luôn được đánh giá cao.
Hiện nay, Việt Nam đang đẩy mạnh xuất khẩu các mặt hàng nông sản, thực phẩm chế biến, giày dép, quần áo… Tuy nhiên, tới 90% hàng Việt Nam vẫn còn phải vào thị trường thế giới thông qua trung gian hoặc xuất khẩu sản phẩm thô. Trước mắt, phương thức này sẽ giúp hàng hóa Việt Nam tiếp cận nhanh hơn với thị trường thế giới. Tuy nhiên, nếu chỉ tiếp tục như vậy thì việc xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sẽ ngày càng lệ thuộc vào thương hiệu nước ngoài hiệu quả hoạt động xuất khẩu sẽ không có khả năng nâng cao. Người tiêu dùng nước ngoài tiêu thụ sản phẩm Việt Nam chất lượng tốt, giá rẻ nhưng lại không biết xuất xứ hàng hóa Việt Nam. Phần lớn các giá trị vô hình của sản phẩm sẽ vẫn thuộc về các công ty nhập khẩu hay bán lẻ trực tiếp tới người tiêu dùng. Như đã phân tích, Thụy Điển là quốc gia có quy định về dán nhãn rất nghiêm ngặt, có các yêu cầu phức tạp để giám sát chất lượng hàng hóa, do vậy, doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam muốn đưa hàng vào Thụy Điển, các nước EU cần phải tìm cho mình một nhãn hiệu uy tín, bên cạnh đó cũng cần chú trọng xây dựng thương hiệu riêng để tạo chỗ đứng lâu dài trên thị trường.
Mở cửa thị trường hàng hóa và dịch vụ môi trường: Đánh giá lợi ích của việc mở cửa thị trường với mục tiêu bảo vệ môi trường và phát triển kinh tế. Xây dựng các biện pháp cần thiết để hạn chế việc nhập khẩu các sản phẩm không thân thiện với môi trường. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, chuẩn bị tốt nguồn lực để vượt qua các rào cản thương mại về bảo vệ môi trường. Tư vấn, hỗ trợ doanh nghiệp xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn có tính đến các quy định về môi trường của quy trình sản xuất và tiêu dùng sản phẩm, coi đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường là một bộ phận cấu thành trong hạch toán chi phí sản xuất kinh doanh.
Hơn nữa, các cơ quan chức năng cần nghiêm túc thực thi các quy định của pháp luật. Kịp thời phát hiện và xử lý hành vi cố tình vi phạm các quy định về bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe của con người, động thực vật. Cần có chế tài thực thi mạnh và quyết tâm hơn đối với các trường hợp sai phạm từ phía cơ quan nhà nước để làm gương, làm tiền lệ tốt cho các vụ việc xảy ra sau đó. Qua vụ việc sai phạm của công ty Vedan xả nước thải “chui” ra sông Thị Vải kéo dài nhiều năm gây ảnh hưởng lớn tới môi trường và cuộc sống của người dân lưu vực sông là một hồi chuông cảnh tỉnh cho các cơ quan nhà nước trong quá trình giám sát thực thi, tổ chức thực hiện công tác bảo vệ môi trường. Nên chăng, trước vụ việc nghiêm trọng như vậy, cần có sự vào cuộc kiểm soát ngay từ ban đầu của cảnh sát môi trường, của ban quản lý dự án khu công nghiệp, của Ủy ban nhân dân tỉnh Đồng Nai. Khi cơ quan chức năng chưa sát sao từ khâu lập dự án, báo cáo đánh giá tác động môi trường, cần có sự can thiệp ngay, chỉ đạo trực tiếp của Chính phủ để giải quyết kịp thời tình huống tránh để xảy ra tình trạng ô nhiễm kéo dài nhiều năm. Hơn nữa, nhà nước cần có biện pháp đốc thúc và xử lý đúng đắn để doanh nghiệp vi phạm có trách nhiệm hơn trong công tác đền bù, tránh để người dân tự chủ động đi thỏa thuận đền bù với doanh nghiêp gây thiệt hại theo cơ chế xin cho. Chính phủ cần xây dựng cơ chế kiểm soát chặt chẽ, răn đe làm gương cho các trường hợp tương tự sau này.
3.2.1.2. Tăng cường đàm phán cấp nhà nước, ký kết và thực hiện các điều ước quốc tế về thương mại gắn với bảo vệ môi trường
Bên cạnh việc hoàn thiện môi trường pháp lý trong nước, những nỗ lực của Chính phủ trong việc tạo hành lang pháp lý thông qua các hiệp định tự do thương mại có ý nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp. Chính phủ cần tích cực triển khai hơn nữa các cuộc đàm phán đa phương, song phương nhằm tăng cường hợp tác, hiểu biết lẫn nhau, tranh thủ những sự ủng hộ của các quốc gia, các tổ chức, đặc biệt là việc thừa nhận Việt Nam là nước có nền kinh tế thị trường. Trong khuôn khổ của WTO, để có được sự thừa nhận là “một nền kinh tế thị trường”, Việt Nam có thể phải chờ đến 31/12/2018. Tuy nhiên, trước thời điểm trên, nếu chứng minh được với đối tác nào đó là nền kinh tế Việt Nam đã hoàn toàn hoạt động theo cơ chế thị trường thì đối tác đó sẽ ngừng áp dụng chế độ “phi thị trường” đối với Việt Nam.
Trên một phương diện khác, các cơ quan quản lý về chất lượng hàng hóa, vệ sinh an toàn thực phẩm, các cơ quan kiểm dịch động thực vật và dược phẩm của Việt Nam cần mở rộng hợp tác quốc tế với các tổ chức quốc tế và cơ quan quản lý hàng hóa nhập khẩu của các nước để sớm có được các thỏa thuận về sự công nhận lẫn nhau về các tiêu chuẩn và ủy quyền cho nhau trong việc kiểm tra chất lượng sản phẩm và vệ sinh an toàn thực phẩm, dược phẩm để giảm chi phí cho doanh nghiệp khi phải đối mặt với các loại rào cản này. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Qua việc nghiên cứu những quy định của pháp luật Indonesia ở chương II, đã cho thấy kinh nghiệm của Indonesia trong áp dụng thành công nhiều biện pháp nhằm bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, môi trường sinh thái và đáp ứng các yêu cầu về môi trường của nước nhập khẩu, một trong những chính sách biện pháp Indonesia áp dụng là việc tham gia và thực thi tốt các hiệp định thương mại và môi trường.
Khi Trung Quốc và các quốc gia trong cùng khối ASEAN gấp rút đàm phán ký kết các hiệp định tự do song phương với nhau và với các thị trường xuất khẩu chủ lực như Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU, những thách thức mới sẽ tiếp tục được tạo ra nếu chung ta không theo kịp với tiến trình này. Nếu các hiệp định tự do này được ký kết mà không có sự tham gia của Việt Nam, hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam vào các thị trường xuất khẩu chủ yếu này chắc chắn gặp phải khó khăn rất lớn trong việc thâm nhập thị trường, khả năng cạnh tranh cũng kém hơn. Việc ký kết các điều ước quốc tế song phương về các tiêu chuẩn kỹ thuật, vệ sinh an toàn thực phẩm, nhãn mác hàng hóa mục đích bảo vệ môi trường, thúc đẩy sự phát triển bền vững.
Giải quyết tốt mối quan hệ giữa các thoả thuận môi trường đa phương mà Việt Nam là thành viên với các Hiêp định WTO. Nghiên cứu kỹ và có giải pháp chính sách đồng bộ về quản lý thương mại các hàng hoá và dịch vụ liên quan đến môi trường.
Tích cực, chủ động tham gia vòng đàm phán Doha, mạnh dạn sử dụng cơ chế giải quyết tranh chấp của các thoả thuận môi trường đa phương và WTO để giải quyết một cách bình đẳng các tranh chấp thương mại quốc tế. Nghiên cứu các vụ tranh chấp về thương mại gắn với môi trường sẽ giúp chúng ta bảo vệ được hàng nhập khẩu của Việt Nam vượt qua rào cản khi bị các nước khác áp dụng các biện pháp hạn chế hoặc cấm nhập khẩu với lý do gắn với môi trường, đồng thời kinh nghiệm từ các vụ tranh chấp đó sẽ giúp chúng ta ngăn chặn hợp lý hàng nhập khẩu vào Việt Nam gây tác động xấu tới môi trường.
Sử dụng nguyên tắc của WTO về minh bạch và không phân biệt đối xử trong hoạt động thương mại quốc tế, trong đó bao gồm cả việc các thành viên có nghĩa vụ thông báo với WTO về các sản phẩm và công nghệ trong nước bị chính quyền cấm sử dụng và buôn bán tại thị trường nội địa với các lý do sức khoẻ và môi trường, để kiểm soát và ngăn chặn việc các nước xuất khẩu các hàng hoá độc hại và công nghệ sản xuất lạc hậu vào Việt Nam.
3.2.1.3. Học hỏi kinh nghiệm một số quốc gia trong việc xây dựng các tiêu chuẩn, quy định về môi trường để phát triển thương mại và bảo vệ môi trường Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Qua thực tiễn hội nhập với kinh tế thế giới, chúng ta đã nhận thức được để bảo vệ doanh nghiệp và các ngành sản xuất trong nước, Việt Nam cần phải hoàn thiện và bổ sung các tiêu chí, tiêu chuẩn kỹ thuật trong thương mại của mình theo hướng vượt qua các rào cản thương mại của các quốc gia nhập khẩu, nhất là các thị trường khó tính như Hoa Kỳ, EU, Nhật bản; bên cạnh đó nó còn kiểm soát chặt chẽ các mặt hàng nhập khẩu vào Việt Nam tránh để xảy ra tình trạng nhập khẩu các loại hàng hóa kém chất lượng gây thiệt hại cho người tiêu dùng và môi trường trong nước. Trong khuôn khổ của bài luận văn này, từ những nghiên cứu pháp luật một số nước về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế ở Chương II, luận văn làm rõ hơn một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam từ hai khía cạnh:
- Thứ nhất, vượt qua các rào cản của các quốc gia nhập khẩu:
Trung Quốc đã có những chính sách mềm dẻo linh hoạt chống lại những rào cản của Hoa Kỳ áp dụng đối với hàng dệt may của mình hoàn toàn có thể được vận dụng một cách linh hoạt cho các thị trường hay các mặt hàng khác của Việt Nam. Trung quốc là quốc gia có kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may vào Hoa Kỳ lớn nhất và có tốc độ tăng trưởng cao. Trước sự đe dọa của hàng dệt may nhập khẩu từ Trung Quốc, Chính phủ Hoa Kỳ đã sử dụng hàng loạt các biện pháp gồm tăng thuế, áp dụng hạn ngạch, tái áp dụng hạn ngạch xuất khẩu để hạn chế luồng hàng dệt may nhập khẩu từ Trung Quốc. Những biện pháp mà Hoa Kỳ đã sử dụng đối với hàng dệt may Trung Quốc là lời cảnh báo cho Việt Nam và cho những nước đang phát triển mà dệt may là ngành sản xuất mũi nhọn. Bất kể một quốc gia nào cũng có thể gặp phải rào cản này nếu xuất khẩu một cách ồ ạt vào thị trường nước ngoài, đặc biệt khi các mặt hàng đó có khả năng cạnh tranh cao tại thị trường nhập khẩu, đe dọa sản xuất nội địa.
Trung Quốc đã chủ động áp dụng một số biện pháp phòng ngừa ngay từ trước khi Hoa Kỳ đưa ra quyết định tái áp hạn ngạch. Ngay khi có dấu hiệu xảy ra tranh chấp, bên cạnh việc tiến hành đàm phán với Hoa Kỳ, Bộ thương mại Trung Quốc đã tăng thuế xuất khẩu đối với hàng dệt may của nước mình nhằm giảm bớt nhiệt tăng trưởng xuất khẩu. Chính phủ Trung Quốc cũng rất khéo léo trong việc kết hợp giữa biện pháp áp dụng bên ngoài với Hoa Kỳ cũng như những biện pháp áp dụng bên trong ngành công nghiệp dệt may Trung Quốc. Các biện pháp này giúp ngành dệt may Trung Quốc khi xuất khẩu sang thị trường nước ngoài tránh được tình trạng xuất khẩu quá nhiều và dẫn tới việc bị áp hạn ngạch hay gặp phải những rào cản của nước nhập khẩu, tránh sự trừng phạt của Hoa Kỳ và EU…
Tuy nhiên khi gặp phải những biện pháp trừng phạt thương mại từ phía Hoa Kỳ, Trung Quốc cũng đưa ra một số biện pháp tự vệ như: Trung Quốc trả đũa áp dụng đối với hàng nông sản Hoa Kỳ [49]; tiếp đó Trung Quốc huy động các nguồn nội lực bên trong từ phía các doanh nghiệp trong nước tích cực đầu tư ra nước ngoài nhằm xây dựng thương hiệu cho hàng dệt may Trung Quốc, Chính phủ Trung Quốc khuyến khích các công ty trong nước đầu tư ra nước ngoài với những chính sách ưu đãi, hỗ trợ các công ty tăng mức đầu tư cho nghiên cứu phát triển, thiết kế nhằm tăng mức đầu tư cho hàng dệt may, các công ty Trung Quốc luôn được chuẩn bị để đối phó với việc bảo hộ thương mại chống hàng hóa Trung Quốc; Chính phủ Trung Quốc còn tiến hành bỏ thuế xuất khẩu đối với một số mặt hàng dệt may, chính quyền Trung Quốc đưa ra cảnh báo rằng họ sẽ tiến hành các biện pháp trả đũa nếu Hoa Kỳ vẫn tiếp tục tìm cách hạn chế hàng dệt may nước này một cách bất công và đơn phương.
Kinh nghiệm của Trung Quốc cho thấy trong quá trình thiết lập quan hệ buôn bán, thương mại với các quốc gia phát triển trên thế giới, chúng ta cần phải chủ động hơn nữa trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh và điều tiết xuất khẩu. Thực tế thì Việt Nam chưa đủ lớn mạnh như Trung Quốc để có những phản hồi hay biện pháp trả đũa lại các biện pháp của Hoa Kỳ. Tuy nhiên, bài học của Trung Quốc cũng cho chúng ta kinh nghiệm rằng, để đối phó với các rào cản trong thương mại quốc tế, cần phải chủ động, mềm dẻo và chúng ta có thể tham khảo các quy định của Trung Quốc để xây dựng tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm bảo vệ nền sản xuất trong nước, quyền lợi người tiêu dùng và bảo vệ môi trường sinh thái.
Thái Lan là nước trong khu vực có hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường tương đối hoàn thiện. Trong việc bảo vệ môi trường, Thái Lan rất coi trọng việc bảo vệ các loài động vật, thực vật hoang dã quý hiếm và là nước có nguồn gen quý thuộc các loài hoang dã. Bên cạnh đó, những mặt hàng sản xuất chủ lực của Thái Lan như thủy sản, các loại sản phẩn từ nông nghiệp… là những mặt hàng nhạy cảm với môi trường và những mặt hàng này của Thái Lan lại đòi hỏi rất cao về tiêu chuẩn môi trường. Việt Nam là nước có những mặt hàng xuất khẩu chủ lực khá tương đồng với Thái Lan. Qua việc nghiên cứu các quy định pháp luật của Thái Lan ở Chương II và qua các thành tựu trong xuất khẩu của nước này, có thể rút ra một số điểm mạnh trong công tác ổn định tiêu chuẩn môi trường trong nước đẩy mạnh hàng xuất khẩu như: Để thúc đẩy sự phát triển bền vững nền nông nghiệp, Thái Lan đã áp dụng một số chiến lược: Chính sách phát triển nông nghiệp: Một trong những nội dung quan trọng nhất là kế hoạch cơ cấu lại mặt hàng nông sản của Bộ Nông nghiệp Thái Lan, nhằm mục đích nâng cao chất lượng và sản lượng của 12 mặt hàng nông sản, trong đó có các mặt hàng như gạo, dứa, tôm sú, gà và cà phê. Chính phủ Thái Lan cho rằng, càng có nhiều nguyên liệu cho chế biến thì ngành công nghiệp chế biến lương thực thực phẩm mới phát triển và càng thu được nhiều ngoại tệ cho đất nước. Nhiều sáng kiến làm gia tăng giá trị cho nông sản được khuyến khích trong chương trình “One Tambon, One Product – OTOP” (mỗi làng, một sản phẩm) và chương trình quỹ làng (Village Fund Program). Về chính sách đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm: Chính phủ Thái Lan thường xuyên thực hiện chương trình quảng bá vệ sinh an toàn thực phẩm. Thái Lan đã phát động chương trình “Năm an toàn thực phẩm và Thái Lan là bếp ăn của thế giới”. Mục đích chương trình này là khuyến khích các nhà chế biến và nông dân có hành động kiểm soát chất lượng vệ sinh thực phẩm để đảm bảo an toàn cho người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu. Bên cạnh đó, Chính phủ thường xuyên hỗ trợ cho doanh nghiệp cải thiện chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm. Do đó, ngày nay, thực phẩm chế biến của Thái Lan được người tiêu dùng ở các thị trường khó tính như: Hoa Kỳ, Nhật Bản và EU chấp nhận. Về tiếp cận thị trường xuất khẩu: Chính phủ Thái Lan là người đại diện thương lượng với Chính phủ các nước để các doanh nghiệp đạt được lợi thế cạnh tranh trong xuất khẩu thực phẩm chế biến. Bên cạnh đó, Chính phủ Thái Lan có chính sách trợ cấp ban đầu cho các nhà máy chế biến và đầu tư trực tiếp vào cơ sở hạ tầng như: Cảng kho lạnh, sàn đấu giá và đầu tư vào nghiên cứu và phát triển; Xúc tiến công nghiệp và phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ…
- Thứ hai, cần tiếp tục hoàn thiện và bổ sung các tiêu chí kỹ thuật trong thương mại mang sắc thái riêng quy định đối với hàng hóa nước ngoài xuất khẩu vào Việt Nam. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Hiện nay để bảo vệ nền sản xuất nội địa, Thái Lan đã đưa các tiêu chuẩn vệ sinh an toàn thực phẩm, quy định về đăng ký và dán nhãn thực phẩm đã qua chế biến rất phức tạp khiến cho các nhà xuất khẩu nước ngoài hao tổn nhiều thời gian và chi phí (mục 2.3.4.1); hoặc như Trung Quốc có rất nhiều quy định ngặt nghèo về vệ sinh y tế tại cửa khẩu và các cảng (mục 2.3.2.3) khiến cho hàng thuỷ sản xuất khẩu vào Trung Quốc gặp không ít khó khăn. Ở Việt Nam, hàng rào kỹ thuật trong thương mại chậm được hình thành vì các hình thức hàng rào kỹ thuật thường rất đa dạng, nếu không hiểu rõ các quy định pháp luật thương mại quốc tế thì việc xây dựng các biện pháp kỹ thuật vô tình là rào cản thương mại, dẫn đến việc vi phạm các Công ước quốc tế. Do chưa lập được nhiều hàng rào kỹ thuật nên hiện nay, một số mặt hàng nông sản như: hoa quả nhập ngoại… tràn vào Việt Nam rất nhiều trong đó có cả những sản phẩm không đảm bảo chất lượng.
Đối với mặt hàng này, hàng rào được xây dựng bằng các tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật, an toàn vệ sinh dịch tễ. Loại hàng rào này đòi hỏi phải có sự phối hợp đồng bộ của các cơ quan chức năng có liên quan. Theo đó, các tiêu chuẩn đối với sản phẩm cuối cùng, các phương pháp sản xuất và chế biến, các thủ tục xét nghiệm, giám định, chứng nhận và chấp nhận… cho đến các quy định về phương pháp thống kê, chọn mẫu và đánh giá đều phải theo các định chuẩn quốc gia được xây dựng phù hợp với qui định của quốc tế.
Hàng rào được xây dựng theo các tiêu chuẩn chế biến và sản xuất dựa theo các quy định về môi trường. Loại hàng rào này chủ yếu áp dụng cho giai đoạn sản xuất, bao gồm từ các định chuẩn về chế độ nuôi trồng… đến những quy định liên quan đến nguyên vật liệu dùng làm bao bì, về tái sinh, về xử lý và thu gom sau quá trình sử dụng. Kèm theo đó là yêu cầu về nhãn mác, đóng gói bao bì, lệ phí môi trường, nhãn sinh thái…được qui định chặt chẽ bằng hệ thống văn bản pháp luật.
Như vậy, hàng rào kỹ thuật trong thương mại, các biện pháp kiểm dịch động thực vật, các tiêu chuẩn về môi trường trong thương mại quốc tế mà chúng ta đang cố gắng quyết tâm xây dựng về bản chất nó cũng giống như các nước, có 3 mục đích cụ thể: giúp bảo hộ sản xuất, bảo vệ người tiêu dùng và gìn giữ môi trường sinh thái trong nước, đồng thời đối phó được với các rào cản của các nước khác trong thương mại quốc tế đang ngày càng hiện đại và tinh vi.
3.2.2. Nâng cao trách nhiệm của các doanh nghiệp góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Việc thực hiện chính sách và pháp luật bảo vệ môi trường, hay trách nhiệm với xã hội tại các doanh nghiệp ở nước ta còn tồn tại nhiều khó khăn và bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong đó có nguyên nhân là do bản thân các doanh nghiệp chưa nhận thức được một cách đúng đắn và đầy đủ về mối quan hệ giữa hoạt động kinh doanh sản xuất của mình với vấn đề môi trường. Để các doanh nghiệp có thể chủ động thực hiện các quy định của pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường, thực hiện sản xuất kinh doanh hiệu quả, góp phần nâng cao vị thế của Việt Nam trên thị trường quốc tế, các doanh nghiệp cần khẳng định vài trò và trách nhiệm của mình ở một số hoạt động sau:
Các doanh nghiệp cần thiết triển khai các chương trình sản xuất sạch hơn: đổi mới nâng cao chất lượng sản phẩm, sử dụng hợp lý, tiết kiệm và đạt hiệu quả cao các hóa chất thuốc nhuộm thân thiện với môi trường, các công nghệ sử dụng ít nước, ít năng lượng, giảm thiểu chất thải nước, chất thải khí…
Thực hiện quản lý chuỗi cung cấp về khía cạnh sinh thái và môi trường. Các doanh nghiệp Việt Nam khi sản xuất cần dựa trên các tiêu chuẩn có liên quan đến hàng hóa của mình để nâng cao chất lượng hàng hóa sang thị trường xuất khẩu, tạo ra lợi thế cạnh tranh bằng chất lượng. Các doanh nghiệp Việt Nam cần phải đa dạng hóa các mặt hàng, mở rộng các thị trường, nâng cao sức cạnh tranh những mặt hàng xuất khẩu của mình.
Tăng cường năng lực nghiên cứu và phát triển thị trường: hiện chúng ta đang gặp rất nhiều khó khăn với các biện pháp tự vệ, các tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường đặc biệt là đối với các thị trường EU và Hoa Kỳ, việc có đầy đủ các thông tin về thị trường sẽ giúp các doanh nghiệp điều chỉnh cơ cấu mặt hàng, mở rộng thị trường ở nước ngoài. Kinh nghiệm của Trung Quốc và Thái Lan đều cho thấy để đối phó với các rào cản thương mại của các nước nhập khẩu, vấn đề thu thập xử lý và phổ biến thông tin cho các doanh nghiệp có vị trí và vai trò hết sức quan trọng.
Tăng cường năng lực sản xuất và chất lượng sản phẩm thông qua việc áp dụng các bộ tiêu chuẩn quốc tế: cạnh tranh gay gắt trên toàn cầu đã buộc các doanh nghiệp liên tục đầu tư, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và hàng hóa khi xuất khẩu. Mặc dù trong những năm gần đây, năng lực xuất khẩu của nước ta liên tục phát triển nhưng thực tế rất nhiều sản phẩm hàng hóa và doanh nghiệp của ta có năng lực cạnh tranh ở mức thấp, ngay cả khi so sánh với các nước láng giềng là Thái Lan và Trung Quốc. Chính vì vậy hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam có thâm nhập các thị trường thì cũng mới chủ yếu đến được với khách hàng ở những phân đoạn thấp và trung bình. Nhiệm vụ đặt ra cho các doanh nghiệp sản xuất hàng xuất khẩu là phải nâng cao trình độ công nghệ sản xuất, tăng các chi phí nghiên cứu phát triển, từ đó tạo ra các sản phẩm có hàm lượng công nghệ cao không những vượt qua được các hàng rào tiêu chuẩn ngày càng cao mà còn chiếm lĩnh được các phân đoạn cao hơn tại các thị trường nước ngoài. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Tăng cường năng lực pháp lý của doanh nghiệp: các doanh nghiệp xuất khẩu cần phải quan tâm đến các khía cạnh pháp lý trong hoạt động của mình. Các doanh nghiệp có thể có các cán bộ pháp lý là biên chế của mình hoặc sử dụng dịch vụ của các công ty tư vấn luật. Điểm mấu chốt là khía cạnh pháp lý phải được cân nhắc thấu đáo và thường xuyên trong mọi hoạt động của doanh nghiệp. Hiện nay, các công ty tư vấn luật của Việt Nam cũng như các công ty tư vấn luật quốc tế đều sẵn sàng cung cấp các dịch vụ của mình cho các doanh nghiệp. Vấn đề là các doanh nghiệp có nhận thức được tầm quan trọng và tác dụng của các chuyên gia tư vấn về pháp lý hay không. Bên cạnh đó, doanh nghiệp cần phải chủ động tìm hiểu luật pháp, tập quán thương mại của thị trường các nước nhập khẩu. Họ cần hết sức tránh các loại rào cản thương mại. Trong trường hợp đã mắc phải các loại rào cản đó, họ cần khôn khéo, tỉnh táo tìm cách tháo gỡ với sự trợ giúp của Chính phủ và hiệp hội.
Để phòng tránh với các vụ kiện thương mại quốc tế, doanh nghiệp cần tăng xuất khẩu hàng có chất lượng cao, có cơ chế dự báo theo dõi thường xuyên sản xuất ở nội địa nhằm phát hiện kịp thời những nguy cơ bị kiện. Thực tiễn thương mại quốc tế cho thấy, tăng trưởng xuất khẩu càng cao thì nguy cơ phải đối mặt với những rào cản thương mại, môi trường từ phía các nước nhập khẩu càng lớn. Trong trường hợp đối phó với các vụ việc điều tra rào cản về tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường, các biện pháp tự vệ và trợ cấp, các doanh nghiệp xuất khẩu nên hợp tác với cơ quan điều tra của nước ngoài. Dẫn chứng trường hợp túi nhựa PE xuất khẩu vào Hoa Kỳ bị nằm trong diện điều tra chống trợ cấp, ngay từ đầu, Công ty Tiến Thịnh của Việt Nam đã tự đề nghị được xếp vào diện bị đơn tự nguyện, phối hợp chặt chẽ với luật sư. Hai công ty nước ngoài còn lại chỉ phối hợp cầm chừng, thậm chí chủ động chuyển nhà máy sang nước khác. Kết quả điều tra công bố từ phía Hoa Kỳ, Công ty Tiến Thịnh hợp tác chặt chẽ với bên điều tra nên được hưởng mức thuế thấp, chỉ 0,44%. Theo quy định của điều tra chống trợ cấp thì mức thuế này gần như bằng 0. Những công ty khác phải chịu mức thuế cao, lên tới 52%. [50]
Để ứng phó với nguy cơ doanh nghiệp Việt Nam phải đối mặt với các vụ kiện, tranh chấp thương mại ngày càng cao và phức tạp, khi định triển khai hoạt động kinh doanh với đối tác nước ngoài, doanh nghiệp Việt Nam nên tập trung nghiên cứu kỹ các hiệp định thương mại tự do đa phương, song phương, đồng thời, cần lưu ý thêm việc sử dụng các dịch vụ tư vấn pháp lý để tránh những rắc rối không cần thiết. Doanh nghiệp nên sử dụng tư vấn pháp lý ngay từ khi bắt đầu đàm phán cho đến khi ký hợp đồng với đối tác, thực hiện hợp đồng, và khi xảy ra tranh chấp, như vậy là chúng ta đã có một bài bản pháp lý để chống lại các vụ kiện.
Ngoài ra, doanh nghiệp Việt Nam cần thiết phải xây dựng tính cộng đồng cao hơn nữa để bảo vệ lợi ích khi tham gia xuất khẩu. Bởi các rào cản thương mại môi trường thường được các nước sử dụng bao gồm các điều kiện về kỹ thuật như: chất lượng, nhãn mác, bao bì, hoặc các đòi hỏi về vệ sinh dịch tễ được áp dụng đối với các hàng hoá nông sản, các sản phẩm động thực vật… Đây là các quy định có tính bắt buộc mà hàng hoá nhập khẩu từ tất cả các nguồn đều phải tuân thủ. Biện pháp đối phó hiệu quả với các loại rào cản là hàng hóa trước khi xuất khẩu phải đáp ứng được đầy đủ các yêu cầu đã đặt ra.
Muốn làm được việc đó, cần duy trì các đơn vị thường trực theo từng chuyên ngành để kiểm soát về điều kiện kỹ thuật, chất lượng sản phẩm, vệ sinh dịch tễ… đối với từng nhóm hàng cụ thể.
3.2.3. Củng cố vai trò của các hiệp hội góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Thông thường khi rào cản về tiêu chuẩn kỹ thuật, môi trường được áp dụng thì đối tượng của nó không chỉ là một hay một số ít các doanh nghiệp mà đối với hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu vào thị trường đó. Vụ việc cá tra Việt Nam bị các thành viên của WWF ở 6 nước Châu Âu đưa vào “danh sách đỏ”, ảnh hưởng tới hầu hết các doanh nghiệp xuất khẩu cá tra Việt Nam. Nếu như các doanh nghiệp cùng chung sức để đối phó với các rào cản thì sẽ có lợi thế hơn rất nhiều so với từng doanh nghiệp đấu tranh lẻ tẻ. Mặt khác, họ lại cần phải hợp tác chặt chẽ trong việc đấu tranh với các biện pháp trừng phạt thương mại của nước nhập khẩu. Đối với tình huống này, giải pháp được tiến hành là thành lập và tham gia các nghiệp đoàn, các hiệp hội của các nhà xuất khẩu. Từ đó tạo thành liên minh thống nhất có chung đối sách với rào cản thì sẽ nhận được phán quyết có lợi hơn. Bài học cho giải pháp này chính là việc hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP) đã có những hành động rất quyết liệt bảo vệ ngành cá tra Việt Nam nói chung và các doanh xuất khẩu cá tra Việt Nam nói riêng.
Hiệp hội là nơi cung cấp các nguồn thông tin quan trọng, có thể tạo doanh thu và cơ hội đào tạo cho các doanh nghiệp thông qua mạng lưới và chia sẻ thông tin, hình thành các nhóm thương mại. Các hiệp hội là nơi cấp nguồn thông tin phong phú để giới thiệu về các thị trường trong nước và quốc tế, hỗ trợ tài chính và cơ hội tiếp cận công nghệ cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các hiệp hội có thể trở thành đối tác với cơ quan chức năng Nhà nước, hoặc các tổ chức quốc tế nhằm bảo đảm giải quyết bức xúc của các doanh nghiệp.
Các hiệp hội hoàn toàn có thể làm tốt những chức năng vốn được xem là của Nhà nước, vừa giảm gánh nặng, vừa hạn chế được phiền hà từ bộ máy hành chính và tăng cường chất lượng dịch vụ dưới sức ép của yêu cầu minh bạch, cạnh tranh. Phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp là giải pháp để tăng mối liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Để hiệp hội, ngành hàng hoạt động hiệu quả hơn, Nhà nước cần tạo điều kiện nhiều hơn để các hiệp hội ngành hàng có thể tham gia vào các chương trình, dự án hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ, xây dựng cơ sở pháp lý cho các hiệp hội, ngành hàng hoạt động; thúc đẩy các hình thức liên kết doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập, phát triển thị trường.
Tuy nhiên, có một thực trạng là nhiều doanh nghiệp không mặn mà tham gia hiệp hội. Một số hiệp hội cũng chưa chứng tỏ vai trò của mình trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới. Các hiệp hội của Việt Nam chưa thực sự có sức cạnh tranh và sự liên kết chặt chẽ. Cá biệt với một số hiệp hội, hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh giữa các hội viên vẫn xảy ra, việc vi phạm nghị quyết của hiệp hội là khá phổ biến nhưng cơ chế ngăn chặn và xử lý lại kém hiệu quả. Các kiến nghị của hiệp hội chỉ tập trung vào kiến nghị với Chính phủ về vấn đề bù lỗ, bù lãi suất, thưởng hoặc hỗ trợ tài chính, một số kiến nghị mang tính chất cục bộ, không phù hợp với thông lệ quốc tế và WTO. Hầu hết các hiệp hội không quan tâm đến công tác dự báo và chuẩn bị các điều kiện để đối phó với các rào cản về môi trường trong thương mại quốc tế khi xuất khẩu hàng hóa ra thị trường nước ngoài.
Lâu nay, các hiệp hội ở nước ta vẫn bị coi là dựng lên để đấy, chứ không có thực quyền. Xảy ra tình trạng này trước hết là nhận thức nhiều người quá đề cao vai trò Nhà nước. Nhiều doanh nghiệp cho rằng Nhà nước có thể cáng đáng và giải quyết mọi công việc trong xã hội. Hiệp hội chỉ là tổ chức phụ trợ, thứ yếu và mang tính biểu tượng. Gia nhập hiệp hội, các doanh nghiệp thường kỳ vọng ở các hiệp hội ngoài việc đại diện bảo vệ quyền lợi, lợi ích cho mình còn phải góp phần xúc tiến thương mại, đầu tư, đào tạo nhân lực, tư vấn và chia sẻ kinh nghiệm, cung cấp các dịch vụ cần thiết khác. Nhiều doanh nghiệp cho rằng việc nộp lệ phí, góp tiền để nuôi hiệp hội thì họ phải có lợi ích nhất định. Tuy nhiên trên thực tế thì các hiệp hội hiện nay với những hạn chế về kinh phí, nhân lực, bộ máy… rất khó để đáp ứng các yêu cầu nói trên của doanh nghiệp
Từ những tồn tại trên, để nâng cao hơn nữa vai trò của các hiệp hội ngành hàng trong việc xử lý đối phó với thực trạng ô nhiễm môi trường trong hoạt động thương mại quốc tế, các hiệp hội phải thành lập hoặc củng cố bộ phận thông tin của hiệp hội để thu thập và xử lý thông tin có tính chất chuyên ngành về các thị trường xuất khẩu chủ yếu.
Các hiệp hội cần tăng cường khả năng sẵn sàng khởi kiện và kháng kiện. Tại hầu hết các nước, việc khởi kiện và kháng kiện đều do các hiệp hội chủ động phát động chứ không phải là do các cơ quan quản lý nhà nước. Vấn đề khởi kiện và kháng kiện trong các vụ tranh chấp thương mại quốc tế không phải vấn đề là để phán xử ai thắng ai thua mà là để đòi hỏi các quyền đối xử bình đẳng theo nguyên tắc không phân biệt đối xử. Lâu nay, các hiệp hội của chúng ta mới chỉ tập trung vào việc đi hầu kiện mà chưa chủ động trong việc khởi kiện và kháng kiện. Vì vậy thời gian tới các hiệp hội tùy theo điều kiện của mình mà cần thiết thì sẵn sàng khởi kiện và kháng kiện. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Phát huy vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp là giải pháp để tăng mối liên kết giữa các doanh nghiệp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế. Để hiệp hội, ngành hàng hoạt động hiệu quả hơn, Nhà nước cần tạo điều kiện nhiều hơn để các hiệp hội ngành hàng có thể tham gia vào các chương trình, dự án hỗ trợ doanh nghiệp của Chính phủ, xây dựng cơ sở pháp lý cho các hiệp hội, ngành hàng hoạt động; thúc đẩy các hình thức liên kết doanh nghiệp, cung cấp các dịch vụ hỗ trợ doanh nghiệp thâm nhập, phát triển thị trường.
Các hiệp hội cần tăng cường vai trò của mình trong việc giáo dục tuyên truyền, phố biến kiến thức chuyên ngành tới từng hội viên. Từ đó nâng cao khả năng nắm bắt các quy định của pháp luật quốc tế, các tiêu chuẩn môi trường của từng quốc gia, từng tổ chức, cách thức thực hiện xuất nhập khẩu vượt qua các rào cản của mỗi quốc gia. Các hiệp hội cần xây dựng cơ chế khen thưởng kịp thời đối với những thành tích nâng cao tính ứng dụng khoa học công nghệ trong công tác bảo vệ môi trường của các hội viên trong phạm vi ngành nghề của mình. Bên cạnh đó, cơ chế kỷ luật cũng cần xây dựng và áp dụng chặt chẽ nhằm nâng cao tính nghiêm minh và vai trò của hiệp hội.
Một trong các cam kết quan trọng khi Việt Nam gia nhập WTO là Nhà nước sẽ không can thiệp sâu vào hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, vì thế vai trò của các hiệp hội doanh nghiệp càng được nâng cao. Điều này đã được thể hiện qua việc số đông các trường hợp tranh chấp, dàn xếp trong thương mại quốc tế là do các hiệp hội đứng ra thực hiện, cùng với sự hỗ trợ của Chính phủ. Do đó, để cạnh tranh, tồn tại và phát triển được, hiệp hội giờ đây phải tham gia hoạt động hội viên, tác động vào sản xuất, tổ chức lưu thông sản phẩm và tham mưu cho Chính phủ, bộ, ngành. Cần nâng cao vai trò của hiệp hội trong việc giám sát các cơ quan nhà nước. Vì đây là những đơn vị có tác động rất lớn đến lợi ích của doanh nghiệp trong tháo gỡ những thủ tục hành chính, để các doanh nghiệp thực hiện đúng luật, đúng cam kết khi nước ta gia nhập WTO.
3.2.4. Xác định trách nhiệm của từng cá nhân đối với hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế
Xây dựng và hoàn thiện các quy định của pháp luật là nhiệm vụ của toàn đảng toàn dân, toàn quân ta. Công tác xây dựng các quy định và tiêu chuẩn môi trường ở các mục 3.2.1 đến 3.2.3 cho thấy chức năng, vai trò rất lớn của nhà nước, các doanh nghiệp, các hiệp hội. Bên cạnh đó không thể không nhắc tới một chủ thể nhỏ bé, nhưng có vai trò đặc biết quan trọng, vai trò của cá nhân trong xã hội. Các chủ thể này có vai trò tác động và hỗ trợ nhau trong công tác bảo vệ môi trường khi Việt Nam tham gia vào các hoạt động thương mại quốc tế. Nhờ có cơ chế của nhà nước mà chúng ta xây dựng và phát huy được tinh thần bảo vệ môi trường trong từng doanh nghiệp, mỗi hiệp hội ngành hàng và đối với từng cá nhân. Việc xây dựng quỹ bảo vệ môi trường, tạo ra quỹ khen thưởng kỷ luật rõ ràng sẽ tác động mạnh đến ý thức của từng cá nhân trong xã hội. Bên cạnh đó, nếu đầu tư giáo dục tốt, từng cá nhân trong xã hội chính là nhân tài của đất nước, quay trở lại góp phần nâng cao cải tiến quy định của pháp luật, cải tiến máy móc, kỹ thuật công nghệ hiện đại nhằm đẩy nhanh tiến độ hội nhập của đất nước. Ý thức sử dụng tiết kiệm tài nguyên của từng cá nhân trong xã hội, ý thức cộng đồng, tuân thủ quy định của pháp luật bảo vệ môi trường giúp môi trường sống của chúng ta ngày càng trong sạch hơn.
Người đứng đầu các doanh nghiệp, các chủ đầu tư cần nâng cao trách nhiệm xã hội trong việc đưa các ứng dụng tiên tiến, công nghệ sản xuất hiện đại vào vận hành, vượt qua các rào cản thương mại môi trường khi xuất khẩu hàng hóa ra thị trường quốc tế. Bên cạnh đó, cần tuyệt đối tuân thủ các cam kết đánh giá tác động môi trường đã ký với cơ quan nhà nước. Trong trường hợp xảy ra sai phạm, chủ doanh nghiệp là người đứng đầu chịu trách nhiệm xử lý giải quyết kịp thời ô nhiễm, đền bù thiệt hại cho người dân. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Để bảo vệ môi trường, phải quy định cụ thể trách nhiệm của mỗi cá nhân, cũng như trách nhiệm của từng bộ, ngành. Trách nhiệm cá nhân được xác định rõ ngay từ cơ chế tổ chức của các cơ quan bộ máy nhà nước trong việc xây dựng giám sát việc bảo vệ môi trường. Khi xảy ra các vấn đề môi trường người dân cần phải báo cho ai, như thế nào? Đây là vấn đề cần được làm rõ trong các thiết chế tổ chức của từng cơ quan chuyên ngành. Cơ quan quản lý cấp trung ương có Cục bảo vệ môi trường, Vụ môi trường, Vụ tác động và đánh giá môi trường…, tuyến tỉnh có Sở Tài nguyên và Môi trường, Phòng Tài nguyên và Môi trường… Hiện nay, các cán bộ quản lý về lĩnh vực chuyên ngành này còn thiếu và yếu, việc giải quyết khiếu nại tố cáo về môi trường bị coi là quá sức. Do đó việc tăng cường nhân lực thực hiện quản lý môi trường là rất cần thiết.
Hiện nay, loại tội phạm về môi trường chưa được xử lý nghiêm khắc và kịp thời khiến cho môi trường sống của con người luôn bị ảnh hưởng. Nguyên do là ngay từ khi cấp giấy phép đầu tư cho các nhà máy, xí nghiệp có khả năng gây ô nhiễm môi trường ở nước ta còn nhiều thiếu xót. Ví dụ như việc lựa chọn vị trí xây dựng những nhà máy này chưa phù hợp với việc phát triển các ngành kinh tế khác và vị trí các khu dân cư. Mặt khác, khi các nhà máy xí nghiệp này được xây dựng và đi vào hoạt động thì việc kiểm tra giám sát của các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về môi trường cũng bộc lộ nhiều hạn chế. Chỉ đến khi dư luận xã hội, quần chúng nhân dân lên tiếng thì các cơ quan chức năng mới vào cuộc để xem xét giải quyết những vụ việc vi phạm. Bên cạnh đó, việc điều tra, truy tố các hành vi vi phạm cũng chưa được các cơ quan bảo vệ pháp luật quan tâm đúng mức. Việc xử lý vi phạm thường chậm chạp, không kịp thời ngăn chặn hậu quả, nguy hại cho môi trường, khi có sai phạm xảy ra việc quy trách nhiệm là khó khăn bởi cơ quan chuyên môn quản lý môi trường còn quản lý lỏng lẻo, bất hợp lý trong việc phân bổ cán bộ quản lý môi trường.
Hiện nay, để xây dựng một cơ chế góp phần bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế, việc xác định trách nhiệm tới từng cá nhân cụ thể trong mỗi vụ việc là cần thiết. Cần sử dụng tổng hợp đồng bộ tất cả các biện pháp từ tuyên truyền, quản lý, kiểm tra giám sát và xử phạt nghiêm khắc kịp thời tất cả các hành vi vi phạm gây ảnh hưởng đến môi trường.
Như vậy, để xây dựng và hoàn thiện pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường thì vai trò và trách nhiệm của các chủ thể như Nhà nước, các doanh nghiệp, hiệp hội và các cá nhân trong xã hội là vô cùng to lớn. Mỗi nhóm chủ thể đều có một chức năng và nhiệm vụ riêng, tuy nhiên để công tác xây dựng và hoàn thiện pháp luật được trọn vẹn thì cần phải có liên kết, hợp lực và ý chí thống nhất quyết tâm của tất cả các chủ thể này.
KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Môi trường là một trong những đặc trưng cơ bản nhất của thời đại, là vấn đề cấp bách mang tính toàn cầu, là thách thức gay gắt nhất đối với tương lai phát triển của cộng đồng thế giới. Hội nghị Thượng đỉnh về Môi trường và phát triển bền vững tại Rio – Janiero, Braxin năm 1992 đã chứng minh rằng, vấn đề suy thoái môi trường ở các nước đang phát triển và những mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế và giá trị môi trường ngày càng trở nên quan trọng hơn. Khi tất cả các nước đều đấu tranh vì mục tiêu bảo vệ môi trường trên phạm vi khu vực hay toàn cầu, trong đó vấn đề quản lý môi trường của riêng mỗi nước đều có yêu cầu trao đổi thông tin về công nghệ, về chính sách, đặc biệt về kinh nghiệm quản lý đòi hỏi ngày một nhiều hơn. Những mối quan hệ quốc tế đa phương, song phương về môi trường trong thời gian qua cho chúng ta thấy tính chất phức tạp của các quan hệ này và cách giải quyết chúng được coi là phương pháp hiệu quả trong hoạt động bảo vệ môi trường ở từng quốc gia, khu vực và toàn cầu.
Sau khi nghiên cứu các quy định của pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường, có thể rút ra một số nội dung chính như sau:
Thứ nhất, từ những vấn về lý luận của luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường, luận văn phân tích một số khái niệm cơ bản như: luật thương mại quốc tế, môi trường, luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường. Từ cách tiếp cận với các khái niệm trên, thấy rằng cần phải nghiên cứu các vấn đề về môi trường trong hoạt động thương mại quốc tế một cách có hệ thống. Trên cơ sở đó mà luật thương mại quốc tế và bảo vệ môi trường ngày càng trở nên gắn bó chặt chẽ và có mối quan hệ biện chứng tác động tương hỗ nhau. Kết thúc chương I, luận văn hệ thống các loại nguồn luật điều chỉnh việc bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế, làm cơ sở cho việc phân tích một số quy định này tại Chương II của luận văn.
Thứ hai, việc nghiên cứu các quy định của WTO như: các tiêu chuẩn quy định kỹ thuật đối với sản phẩm (TBT), các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS)… cho thấy để giải quyết những mối liên quan giữa thương mại và môi trường, các thành viên WTO chỉ hoạt động dựa trên những quy định của WTO về việc giải quyết các vấn đề môi trường. Tuy nhiên họ tin tưởng rằng các chính sách về thương mại và môi trường có thể bổ sung cho nhau.
Việc thực hiện các hiệp định, công ước, điều ước quốc tế về môi trường trong bối cảnh tự do hóa thương mại góp phần tích cực hạn chế ô nhiễm môi trường, khuyến khích sản xuất, trao đổi sản phẩm thân thiện với môi trường. Do đó, chương II của luận văn tiếp tục nghiên cứu một số điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường có liên quan đến hoạt động thương mại quốc tế như: Công ước về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES), Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô dôn, Công ước về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng (BASEL), Công ước về đa dạng sinh học. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
Pháp luật các nước Hoa Kỳ, Trung Quốc, Thụy Điển, Thái Lan, Indonesia về cơ bản đều quy định đầy đủ, chặt chẽ, kết hợp thống nhất giữa tự do hóa thương mại đi đôi với công tác bảo vệ môi trường. Nghiên cứu các quy định này làm cơ sở cho Việt Nam học hỏi kinh nghiệm trong việc đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định về môi trường để phát triển thương mại và bảo vệ môi trường.
Thứ ba, sau khi tổng kết các định hướng cơ bản thực trạng quy định pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế, luận văn đã khẳng định việc xây dựng các quy định tiêu chuẩn này không đơn giản chỉ diễn ra trong một sớm một chiều, không chỉ là nhiệm vụ riêng của Nhà nước, Chính phủ mà là sự đồng lòng nhất trí của toàn dân, cụ thể là các nhóm chủ thể: doanh nghiệp, hiệp hội, cá nhân.
Chính phủ cần đóng một vai trò tích cực hơn trong việc hỗ trợ các doanh nghiệp vượt qua các rào cản môi trường thông qua các hoạt động tạo dựng môi trường kinh doanh thuận lợi cho các doanh nghiệp từ xây dựng cơ sở hạ tầng tới đào tạo nguồn nhân lực bởi các rào cản kỹ thuật hiện nay không chỉ tập trung vào sản phẩm cuối cùng mà còn gắn với toàn bộ quá trình sản xuất và tiêu thụ sản phẩm, từ nguồn nguyên vật liệu tới quy trình sản xuất, vận chuyển, tiêu thụ và người lao động tham gia vào quá trình tạo ra sản phẩm. Hơn nữa sự nỗ lực của các doanh nghiệp trong việc áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế ISO, SA có ý nghĩa sống còn trong quá trình thúc đẩy các mặt hàng nội địa xuất khẩu sang các thị trường nước ngoài. Ngoài ra, cần tăng cường củng cố vai trò của các hiệp hội, xác định trách nhiệm của từng cá nhân đối với việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường.
Đề tài “Các quy định của pháp luật thương mại quốc tế liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường” đã có những đóng góp nhất định vào việc cung cấp những thông tin về hệ thống quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, đánh giá tác động của chúng đối với pháp luật Việt Nam và chỉ ra những hạn chế và khả năng đáp ứng được các yêu cầu đó, đề xuất một số kiến nghị, giải pháp giúp các cơ quan quản lý, các doanh nghiệp điều chỉnh sản xuất kinh doanh theo hướng đáp ứng các quy định tiêu chuẩn môi trường quốc tế.
Với luận văn này, tác giả hy vọng kết quả nghiên cứu của đề tài có giá trị tham khảo và góp phần vào việc hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế. Đây là một đề tài có phạm vi rộng và phức tạp, trong quá trình nghiên cứu, tác giả không tránh khỏi những thiếu sót. Nếu có cơ hội, trong những đề tài nghiên cứu khoa học lần sau, tác giả xin tiếp tục được tìm hiểu sâu sắc từng khía cạnh của vấn đề và hoàn thiện các nội dung đã trình bày. Tác giả rất mong nhận được ý kiến đóng góp của các nhà nghiên cứu, các thầy cô giáo và các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn thiện. Xin chân thành cảm ơn./. Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
