Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Các quy định của pháp luật thương mại quốc tế liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Xu thế toàn cầu hóa, tự do hóa thương mại đang là đặc điểm cơ bản của sự phát triển trên toàn thế giới. Các trung tâm và khu vực kinh tế được hình thành, các hiệp định thương mại khu vực, quốc tế đang là những công cụ pháp lý ràng buộc và là động lực giúp các nước liên kết, hợp tác để phát triển kinh tế, xã hội. Hội nhập để phát triển vừa là cơ hội, vừa là thách thức đối với mỗi quốc gia trên thế giới.
Hội nhập kinh tế đang diễn ra trong bối cảnh các vấn đề về môi trường toàn cầu ngày càng nghiêm trọng. Phát triển bền vững trở thành mục tiêu của các nước trên thế giới. Hàng loạt các Hiệp định, Công ước khu vực và quốc tế về thương mại và môi trường được xây dựng và ngày càng có nhiều nước phê chuẩn, cam kết thực hiện.
Trong vài thập kỷ trở lại đây, môi trường trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhân loại. Sự bùng nổ dân số, tăng trưởng kinh tế mãnh liệt đã làm cho các tài nguyên môi trường bị khai thác và tàn phá với một tốc độ chưa từng thấy. Môi trường suy thoái làm ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hiện nay cũng như các thế hệ mai sau: đất đai trở nên cằn cỗi, lũ lụt nhiều hơn, hạn hán gay gắt hơn, nhiều loài sinh vật bị tuyệt chủng, nước biển dâng cao, tầng ô dôn bị thủng… Nhìn chung, Chính phủ các nước đều thấy sự cần thiết của việc bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, khi áp dụng các biện pháp bảo vệ môi trường trong mối tương tác với phát triển kinh tế quốc tế, trên cơ sở tuân thủ và tôn trọng các cam kết quốc tế, mỗi quốc gia sẽ có những quyết sách riêng.
Các biện pháp quản lý thương mại có liên quan đến môi trường được các nước sử dụng như những biện pháp quan trọng của hệ thống hàng rào kỹ thuật. Những biện pháp này thường được gọi là các “hàng rào xanh” và được các nước phát triển, các nước đang phát triển ở trình độ cao sử dụng tương đối phổ biến và hiệu quả trong việc kiểm soát nhập khẩu các sản phẩm liên quan đến môi trường để bảo vệ các ngành sản xuất trong nước. Đối với các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay, một số “hàng rào xanh” do các nước phát triển đưa ra chính là thách thức về môi trường trong thương mại quốc tế.
Từ những lý do trên, tôi chọn đề tài: “Các quy định của pháp luật thương mại quốc tế liên quan đến vấn đề bảo vệ môi trường”.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Trong những năm gần đây, mối quan hệ giữa pháp luật thương mại và môi trường đã được sự quan tâm nghiên cứu ở bình diện quốc tế cũng như cấp độ quốc gia. Đã có nhiều công trình nghiên cứu phát triển thương mại bền vững ở các nước, đặc biệt là các quốc gia đang tiến hành công nghiệp hóa. Nhiều tổ chức quốc tế cũng đã quan tâm đến vấn đề này ở Việt Nam với một số công trình nghiên cứu:
- UNCTAD và Tổng cục đo lường tiêu chuẩn chất lượng Việt Nam (1998), “áp dụng hệ thống quản lý môi trường ở Việt Nam”; Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
- SIDA Thụy Điển và Cục Môi trường (1999), “Những vấn đề môi trường liên quan đến mở rộng thương mại quốc tế của Việt Nam”;
- UNDP và Cục Xúc tiến thương mại (2001), “Chính sách môi trường trong phát triển thương mại của Việt Nam”.
Bên cạnh đó, nhiều học giả nước ngoài cũng quan tâm đến vấn đề phát triển thương mại và bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Chẳng hạn nghên cứu của Khor (1993) đã đề cập đến vấn đề tự do hóa thương mại ở Việt Nam và việc bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học; nghiên cứu của S. Banergee (1998) về mối quan hệ của ngành thương mại Việt Nam trong việc tiếp cận và sử dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường quốc tế…
Ở Việt Nam, vấn đề về pháp luật thương mại quốc tế và môi trường nói chung và những vấn đề cụ thể liên quan đến chủ đề này cũng đã được đề cập nhiều từ thập niên 90 trở lại đây. Liên quan đến chủ đề nghiên cứu trong luận văn này có một số công trình như:
- Vụ chính sách thương mại đa biên – Bộ Thương mại (2002), “Hoàn thiện chính sách quản lý nhập khẩu nhằm hạn chế ô nhiễm môi trường ở Việt Nam”;
- Dương Thanh An (2002), “Mối quan hệ giữa bảo vệ môi trường và thương mại trong các liên kết thương mại quốc tế và ảnh hưởng của chúng tới hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam”;
- Cục Môi trường (2002), Dự án “Hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường nhằm chủ động hội nhập kinh tế quốc tế”;
- Hồ Trung Thanh (2004), “Khả năng đáp ứng tiêu chuẩn môi trường trong thương mại quốc tế của một số mặt hàng xuất khẩu Việt Nam”;
- Nguyễn Hữu Khải (2005), “Hàng rào phi thuế quan trong chính sách thương mại quốc tế”, NXB Lao động Xã hội, Hà Nội;
- TS Trần Thanh Lâm – Viện tài nguyên nước và môi trường Đông Nam Á (2006), “Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế”, Nxb Lao động, Hà Nội.
- TS Trần Thanh Lâm – Viện tài nguyên nước và môi trường Đông Nam Á (2008), “Quan hệ quốc tế về môi trường”;
- Cử nhân Trần Văn Khương, Thạc sỹ Nguyễn Hồng Quang – Bộ Tài Nguyên và Môi trường (2008), “Pháp luật về bảo vệ môi trường”.
Tuy nhiên, hầu hết các nghiên cứu đều được thực hiện trong giai đoạn trước khi Việt Nam gia nhập WTO. Cũng có một số nghiên cứu chính sách pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường của Việt Nam trong một vài năm trở lại đây, tuy nhiên các nghiên cứu gần đây chỉ phân tích các vấn đề tổng quát trong mối quan hệ giữa luật quốc tế và môi trường chứ chưa cho thấy tác động, ảnh hưởng của chính sách này đến thương mại hoặc có những đề tài chưa phân tích một cách tổng thể những chính sách, quy định pháp luật về thương mại trên bình diện quốc tế đặt ra cho môi trường toàn cầu.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Mục đích nghiên cứu: Trên cơ sở nghiên cứu các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia về bảo vệ môi trường, luận văn đề xuất một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam, đồng thời qua phân tích các tình huống thực tiễn giúp các doanh nghiệp trong nước có cái nhìn sâu sắc hơn về rào cản môi trường khi gia nhập thị trường quốc tế.
Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hóa lý luận chung của pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
- Hệ thống và đánh giá quy định của WTO, quy định của một số điều ước quốc tế tiêu biểu về bảo vệ môi trường có liên quan đến thương mại quốc tế.
- Nghiên cứu và phân tích quy định pháp luật của một số nước trong quá trình bảo vệ môi trường khi tham gia quan hệ thương mại quốc tế.
- Thực trạng các quy định của pháp luật Việt Nam về vấn đề môi trường trong thương mại quốc tế.
- Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật Việt Nam, nâng cao khả năng đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn môi trường liên quan đến thương mại khi Việt Nam gia nhập thị trường quốc tế.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: đề tài tập trung nghiên cứu tác động của một số quy định, tiêu chuẩn môi trường trong pháp luật thương mại quốc tế đến Việt Nam. Khả năng đáp ứng và nội luật hóa các quy định đó vào thực tiễn pháp luật trong nước.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn: các quy định về môi trường trong pháp luật thương mại quốc tế bao gồm rất nhiều lĩnh vực và là một hệ thống các mối quan hệ nhiều chiều, phức tạp.
Trong phạm vi nghiên cứu của luận văn, tôi xin được đưa ra một số vấn đề mang tính tiêu biểu, nổi bật như:
- Nghiên cứu quy định của WTO liên quan đến bảo vệ môi trường;
- Nghiên cứu một số điều ước quốc tế về môi trường mà hiện nay thường áp dụng phổ biến trong thực tiễn và nếu không tuân thủ các quy định này sẽ gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế – xã hội, thiệt hại cho môi trường, xa hơn nữa ảnh hưởng đến sự tồn vong của sự sống trên trái đất;
- Nghiên cứu quy định của một số quốc gia có nền kinh tế phát triển, quốc gia có nền kinh tế đang phát triển làm căn cứ so sánh, rút ra những bài học thực tiễn cho Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp luận: luận văn vận dụng cách tiếp cận truyền thống để nghiên cứu đề tài là phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử. Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Phương pháp nghiên cứu cụ thể: Kết hợp với phương pháp phân tích, so sánh, phương pháp tổng hợp (phương pháp ngoại suy, phương pháp nội suy…) và các phương pháp thu thập thông tin, số liệu nghiên cứu, phương pháp đánh giá, bình luận.
6. Những đóng góp của luận văn
Hệ thống hóa những vấn đề lý luận chung của luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường. Chỉ ra mối tương quan giữa thương mại quốc tế và bảo vệ môi trường làm cơ sở phương pháp luận cho việc phân tích đánh giá thực trạng pháp luật về bảo vệ môi trường của Việt Nam.
Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật một số quốc gia về bảo vệ môi trường, chỉ ra những khó khăn, thuận lợi khi Việt Nam tham gia thị trường quốc tế. Từ đó, rút ra một số kinh nghiệm hoàn thiện pháp luật Việt Nam, giúp cho các doanh nghiệp trong nước điều chỉnh chiến lược kinh doanh, đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường, nâng cao khả năng cạnh tranh, đồng thời thực hiện tốt các quy định về bảo vệ môi trường sinh thái nước ta.
Phân tích thực trạng pháp luật Việt Nam trong quá trình áp dụng pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường mà Việt Nam tham gia. Đưa ra một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật trong nước.
7. Bố cục luận của văn
Ngoài phần mở đầu và kết luận, luận văn được kết cấu thành 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật thương mại quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trường.
- Chương 2: Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước về bảo vệ môi trường có liên quan tới thương mại quốc tế.
- Chương 3: Thực trạng và một số kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế.
Tác giả xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới TS. Nông Quốc Bình – người thầy đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn, giúp đỡ và đóng góp nhiều ý kiến trong suốt quá trình hoàn thiện luận văn.
Do tính phức tạp và phạm vi tương đối rộng của để tài nên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả mong nhận được những ý kiến đóng góp chân thành của quý thầy cô giáo và toàn thể các bạn để tiếp tục hoàn thiện đề tài trong những lần nghiên cứu sau.
Chương 1: Những vấn đề lý luận của pháp luật thương mại quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trường.
1.1. Một số khái niệm
1.1.1. Luật thương mại quốc tế Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Thương mại quốc tế là một hoạt động quan trọng của một quốc gia, đặc biệt trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay thì các quan hệ hợp tác với nước ngoài có thể tác động rất lớn tới việc phát triển kinh tế.
Trên thực tế thương mại quốc tế có đối tượng và chủ thể rất đa dạng và phong phú bởi vậy trong nhiều trường hợp có rất nhiều cách hiểu và sử dụng khái niệm “thương mại quốc tế” chưa thống nhất.
Theo từ điển bách khoa toàn thư mở Wikipedia, “thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ (hàng hóa hữu hình và hàng hóa vô hình) giữa các quốc gia, tuân theo nguyên tắc trao đổi ngang giá nhằm đưa lại lợi ích cho các bên”. [45]
Khoản 1 Điều 3 Luật thương mại năm 2005, “hoạt động thương mại được hiểu là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi, bao gồm: mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lợi khác”. [26]
Trong khi đó, tại Khoản 1, 2 Điều 27 và 28 Luật thương mại năm 2005, việc mua bán hàng hóa quốc tế được hiểu là việc “xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa, theo đó hàng hóa được đưa ra, đưa vào lãnh thổ Việt Nam hoặc khu vực đặc biệt nằm trên lãnh thổ Việt Nam được coi là khu vực hải quan riêng theo quy định của pháp luật. Nói cách khác, thương mại quốc tế được hiểu là các hoạt động thương mại vượt ra khỏi biên giới quốc gia hoặc biên giới hải quan”. [26]
Với cách tiếp cận khái niệm thương mại như trên, nên ở Việt Nam hai thuật ngữ là “International trade” (thương mại quốc tế) và “International commerce” (kinh doanh quốc tế), thường được hiểu chung một nghĩa là thương mại quốc tế. Tuy nhiên ở nhiều nước trên thế giới hai thuật ngữ này có nghĩa khác nhau. Nếu International trade là thuật ngữ chỉ các hoạt động thương mại quốc tế do các quốc gia thực hiện với nhau thì International commerce là thuật ngữ chỉ hoạt động thương mại quốc tế do các thương nhân tiến hành.
Từ đó thấy rằng Việt Nam lấy dấu hiệu hành vi thương mại vượt ra khỏi biên giới quốc gia (bao gồm hành vi của quốc gia và hành vi của thương nhân) làm tiêu chí xác định quan hệ thương mại quốc tế.
- Luật thương mại quốc tế:
Trong hơn một thế kỷ qua, động lực của toàn cầu hóa chính là sự bùng nổ thương mại hàng hóa và dịch vụ. Trong tương lai, thương mại quốc tế vẫn sẽ tiếp tục thúc đẩy hội nhập toàn cầu, đặc biệt là ở những nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam. Bởi vậy, công cụ hỗ trợ đắc lực và hữu hiệu nhất cho thương mại quốc tế, cho toàn cầu hóa và hội nhập, đó chính là luật thương mại quốc tế. Ngày nay, pháp luật thương mại quốc tế đã trở thành một hệ thống khá hoàn chỉnh và đồ sộ, tạo lập hành lang pháp lý cho các hoạt động kinh tế – thương mại quốc tế, là “bà đỡ” cho quá trình toàn cầu hóa, khu vực hóa và hội nhập kinh tế quốc tế. Vậy luật thương mại quốc tế là gì? Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
- Cho đến nay có nhiều cách định nghĩa về luật thương mại quốc tế:
Theo giáo trình luật thương mại quốc tế năm 2005 – Đại học quốc gia Hà Nội, “Luật thương mại quốc tế là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật, bao gồm quy phạm pháp luật quốc gia, quy phạm điều ước và tập quán quốc tế nhằm điều chỉnh các quan hệ thương mại – quan hệ thương mại hàng hóa, thương mại dịch vụ, thương mại đầu tư, và thương mại liên quan đến quyền sở hữu có yếu tố nước ngoài.” [10]
Giáo trình luật thương mại quốc tế năm 2008 của trường Đại học luật Hà Nội lại có cách định nghĩa ngắn gọn hơn: “Luật thương mại quốc tế là tổng hợp các nguyên tắc, các quy phạm điều chỉnh quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động thương mại quốc tế.” [11]
Dù có nhiều cách định nghĩa khác nhau nhưng có thể thấy rằng, luật thương mại quốc tế hiện đại là một ngành luật đặc thù, bao gồm các quy phạm mang tính chất công pháp quốc tế và các quy phạm mang tính chất tư pháp quốc tế. Các quy phạm mang tính chất công pháp quốc tế điều chỉnh quan hệ giữa các quốc gia và chủ thể của luật quốc tế phát sinh trong hoạt động thương mại quốc tế. Còn các quy phạm mang tính chất tư pháp quốc tế điều chỉnh các quan hệ giữa các cá nhân, pháp nhân phát sinh trong hoạt động thương mại quốc tế.
1.1.2. Môi trường Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
- Điều 3 của luật bảo vệ môi trường Việt Nam 2005 có định nghĩa:
“Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật”.
“Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường; khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý và tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học”.
“Thành phần môi trường là yếu tố vật chất tạo thành môi trường như đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác.” [24]
Từ cách định nghĩa trên thì môi trường bao gồm ba nhóm yếu tố sau:
- Các thành tố sinh thái tự nhiên gồm: Đất trồng trọt; lãnh thổ; nước; không khí; động, thực vật; các hệ sinh thái; các trường vật lý (nhiệt, điện, từ, phóng xạ).
- Các thành tố xã hội – nhân văn gồm: Dân số và động lực dân cư, tiêu dùng, xả thải; nghèo đói; giới; dân tộc, phong tục, tập quán, văn hóa, lối sống, thói quen vệ sinh; luật, chính sách, hương ước, lệ làng…; tổ chức cộng đồng, xã hội…
- Các điều kiện tác động (chủ yếu và cơ bản là hoạt động phát triển kinh tế) gồm: Các chương trình và dự án phát triển kinh tế, hoạt động quân sự, chiến ..; Các hoạt động kinh tế: nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công nghiệp, dịch vụ, xây dựng, đô thị hóa…; công nghệ, kỹ thuật, quản lý.
Ba nhóm yếu tố trên tạo thành ba phân hệ của hệ thống môi trường, đảm bảo cuộc sống và sự phát triển của con người với tư cách là thành viên của một cộng đồng hoặc một xã hội.
Các phân hệ nói trên và mỗi thành tố trong từng phân hệ nếu tách riêng thì thuộc phạm vi nghiên cứu và tác động của các lĩnh vực khoa học khác, không phải của lĩnh vực khoa học môi trường: Ví dụ: đất trồng trọt là đối tượng nghiên cứu của khoa học thổ nhưỡng; dân tộc, văn hóa thuộc lĩnh vực khoa học xã hội, nhân văn; công nghiệp, bao bì thuộc lĩnh vực kinh tế.
Nếu xem xét, nghiên cứu, điều khiển, quản lý riêng rẽ từng thành tố, từng phân hệ, thì vấn đề môi trường bị lu mờ và không được đặt đúng vị trí. Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Vấn đề môi trường chỉ được phát hiện và quản lý tốt khi xem xét môi trường trong tính toàn vẹn hệ thống của nó. Môi trường có tính hệ thống. Đó là các hệ thống mở, gồm nhiều cấp, trong đó có người và các yếu tố xã hội – nhân văn, thông qua các điều kiện tác động, tác động vào hệ thống tự nhiên. Không thể có vấn đề môi trường nếu thiếu hoạt động của con người. Trong bất cứ vấn đề môi trường nào cũng có đầy đủ các thành tố của ba phân hệ:
- Phân hệ sinh thái tự nhiên: tạo ra các loại tài nguyên thiên nhiên, năng lượng, nơi cư trú và nơi chứa đựng chất thải.
- Phân hệ xã hội – nhân văn: tạo ra các chủ thể tác động lên hệ tự nhiên.
- Phân hệ các điều kiện: tạo ra các phương thức, các kiểu loại, các mức độ tác. động lên cả hai hệ tự nhiên và hệ xã hội nhân văn. Những tác động lên hệ tự nhiên gây ra do con người và hoạt động phát triển của con người được gọi là tác động môi trường. Những tác động ngược lại của hệ tự nhiên lên xã hội và hoạt động của con người được gọi là sức ép môi trường.
Do môi trường có tính hệ thống nên công tác môi trường đòi hỏi những kiến thức đa ngành, liên ngành. Những quyết định về môi trường chỉ dựa trên một lĩnh vực chuyên môn nhất định không hoàn hảo và không hiệu quả mà cần dựa trên sự hợp tác của nhiều ngành. Quản lý môi trường chính là điều phối sự hợp tác đó trên cơ sở thỏa hiệp tự nguyện và bắt buộc của các ngành nhằm thực hiện các quy định luật pháp về bảo vệ môi trường.
1.1.3. Luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường
Như đã nói ở Mục 1.1.2, để thực hiện tốt các quy định của luật pháp về bảo vệ môi trường cần phải đặt vấn đề môi trường, quản lý môi trường trong tính hệ thống. luật thương mại quốc tế là một ngành luật độc lập, cũng có vai trò góp phần vào quá trình bảo vệ môi trường chung.
Đối với vấn đề bảo vệ môi trường, luật thương mại quốc tế điều chỉnh tác động của thương mại quốc tế lên môi trường, tác động của môi trường đối với thương mại quốc tế và đảm bảo tính hài hòa giữa các mối quan hệ này.
Hiện chưa có quan điểm thống nhất về khái niệm luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường, có thể tạm thời đưa ra một định nghĩa như sau: “Luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường là tổng thể các quy phạm quốc tế điều chỉnh mối quan hệ giữa các chủ thể trong hoạt động thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.”
Việc áp dụng các biện pháp và công cụ môi trường trong thương mại quốc tế đã góp phần tích cực hạn chế ô nhiễm môi trường giữa các nước, khuyến khích sản xuất và trao đổi sản phẩm thân thiện với môi trường. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, chúng được áp dụng như những biện pháp bảo hộ mậu dịch và trở thành rào cản trong buôn bán quốc tế. Trong điều kiện như vậy, việc đáp ứng các quy định và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường thương mại quốc tế đang là thách thức to lớn đối với các nước, đặc biệt là các nước kém phát triển, nơi đang thiếu nhiều điều kiện để thực hiện và áp dụng các hiệp định, công ước và tiêu chuẩn quốc tế về môi trường.
1.2. Mối quan hệ giữa luật thương mại quốc tế và bảo vệ môi trường Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Mối quan hệ giữa thương mại và môi trường là một trong những nội dung cơ bản của mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường. Phần lớn thiệt hại môi trường có nguyên nhân từ sự gia tăng của các hoạt động kinh tế. Thương mại đóng vai trò ngày một lớn trong sự gia tăng các hoạt động kinh tế và vì thế là một trong những tác nhân quan trọng của những biến đổi môi trường. Tuy nhiên, chỉ trong điều kiện tự do hóa thương mại, khi trao đổi sản phẩm và dịch vụ mang tính phổ biến vượt qua khuôn khổ quốc gia, sản xuất ở quy mô lớn thì tác động qua lại giữa thương mại và môi trường mới rõ nét. Dựa trên cơ sở đó mà luật thương mại quốc tế và bảo vệ môi trường ngày càng trở nên gắn bó chặt chẽ và có mối quan hệ tác động tương hỗ nhau. Xuất phát từ các chính sách thương mại sẽ tác động đến hoạt động thương mại và từ đó có tác động nhất định đến hoạt động bảo vệ môi trường. Ví dụ, chính sách cấm buôn bán động thực vật quý hiếm tác động làm cho việc khai thác, buôn bán động thực vật quý hiếm giảm, từ đó tác dụng đến bảo vệ môi trường; chính sách cho phép xuất khẩu than tác động làm cho các hoạt động khai thác than diễn ra nhiều hơn, từ đó gây nguy cơ suy thoái tài nguyên.
1.2.1. Tác động của luật thương mại quốc tế tới bảo vệ môi trường
1.2.1.1 Tác động tích cực
Luật thương mại quốc tế tạo thuận lợi cho hàng hóa thân thiện với môi trường tiếp cận thị trường: Quá trình tự do hóa thương mại toàn cầu đang thúc ép các quốc gia hạn chế và tiến tới loại bỏ các rào cản thương mại để hàng hóa và dịch vụ được di chuyển dễ dàng giữa các quốc gia, tạo nên sự tăng trưởng thương mại toàn cầu. Tuy nhiên, khi các rào cản thương mại bị bãi bỏ thì các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật ngày càng có vai trò quan trọng trong cạnh tranh thương mại quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh các vấn đề môi trường toàn cầu đang có nguy cơ ngày càng gia tăng, nhu cầu người tiêu dùng về các sản phẩm thân thiện với môi trường ngày càng cao thì việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường ở các nước ngày càng trở nên phổ biến và bắt buộc. Trước tình hình đó, các sản phẩm thân thiện với môi trường (đáp ứng các tiêu chuẩn và quy định môi trường) dễ được chấp nhận hơn so với các sản phẩm không tuân thủ các yêu cầu nói trên. Thực tế cho thấy công ty áp dụng các biện pháp quản lý môi trường tốt như ISO 14000, HACCP… dễ được khách hàng tiếp nhận hơn, uy tín cao hơn.
Luật thương mại quốc tế tạo khả năng cạnh tranh cao cho các sản phẩm dịch vụ thân thiện với môi trường: Mặc dù việc áp dụng các tiêu chuẩn, quy định về môi trường trong nhiều trường hợp làm tăng chi phí sản xuất, do vậy trong ngắn hạn có thể ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của hãng. Tuy nhiên, những công ty cũng như sản phẩm của họ có chứng nhận môi trường như chứng chỉ ISO 14000, nhãn sinh thái có lợi thế hơn trong việc vay vốn ngân hàng để mở rộng quy mô sản xuất, dễ tiếp cận các thị trường khó tính. Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Trong tương lai, sẽ đến một thời kỳ mà nhu cầu của người tiêu dùng đối với các sản phẩm và dịch vụ thân thiện với môi trường là thực sự khách quan, việc có chứng chỉ phù hợp với các tiêu chuẩn môi trường như ISO 14000 chẳng hạn sẽ là một lợi thế đáng kể trong đấu thầu quốc tế và quốc gia, tạo uy tín và vị thế của công ty trên thị trường quốc tế, tăng khả năng thâm nhập thị trường.
Bên cạnh đó, việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường sẽ đưa đến cơ hội để cải thiện đáng kể tình trạng quản lý chung của doanh nghiệp, nâng cao hình ảnh, uy tín, mối thiện cảm của các nhà chức trách và người tiêu dùng đối với doanh nghiệp, đảm bảo sự phát triển lâu dài và bền vững của doanh nghiệp.
Pháp luật thương mại quốc tế tạo điều kiện cho các doanh nghiệp áp dụng các biện pháp bảo vệ mội trường được hưởng các chính sách ưu đãi: Ở phạm vi quốc gia, các doanh nghiệp áp dụng những biện pháp bảo vệ môi trường thường được ưu đãi về lãi suất trong vay vốn ngân hàng, mở rộng hoạt động, được các cổ đông quan tâm. Chính phủ nhiều nước cũng đã có nhiều chính sách và biện pháp để hỗ trợ các doanh nghiệp có chiến lược về môi trường rõ rệt. Ở bình diện quốc tế việc thực thi các hiệp định, công ước quốc tế về môi trường cũng như các tiêu chuẩn môi trường cũng được các tổ chức tài chính quốc tế ưu đãi về tài chính. Những dự án về môi trường thường nhận được sự hỗ trợ của các tổ chức tài chính như IMF, WB. Chẳng hạn như với việc cam kết thực hiện hiệp định Montreal, nhiều quốc gia đang phát triển đã nhận được những ưu đãi về tài chính thông qua các quỹ đa phương được xây dựng để giúp các quốc gia đang phát triển loại bỏ việc sử dụng ODS.
Tự do hóa thương mại tạo cho người tiêu dùng nhiều cơ hội lựa chọn các sản phẩm xanh và sạch. Một khi thu nhập gia tăng, nhu cầu về các loại hàng hóa và dịch vụ môi trường cũng tăng theo. Do vậy nhà nước có thể nâng cao các tiêu chuẩn về môi trường. Những công nghệ sản xuất ít gây tổn hại đến môi trường sẽ được phát triển tại những nước có luật bảo vệ môi trường nghiêm ngặt và thương mại là con đường tốt nhất để truyền bá các công nghệ đó.
1.2.1.2. Tác động tích tiêu cực
Các quy định của pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường tạo rào cản trong thương mại quốc tế: Việc sử dụng ngày càng rộng rãi các tiêu chuẩn và quy định môi trường trong thương mại quốc tế nhằm khuyến khích những sản phẩm thân thiện với môi trường có thể tạo nên rào cản thương mại phi thuế quan trong tương lai. Việc bảo hộ mậu dịch thông qua các hàng rào phi thuế quan đang được nhiều quốc gia áp dụng khi các rào cản về thuế quan buộc phải loại bỏ. Xu thế dùng các yêu cầu về hệ thống quản lý môi trường hoặc nhãn môi trường như một trong những rào cản thương mại phi thuế quan là hoàn toàn có thể xảy ra trong tương lai khi các khu mậu dịch tự do được thiết lập và mở rộng ở nhiều khu vực trên thế giới. Vì vậy, việc vượt qua rào cản này có thể là một thách thức lớn lao đối với các doanh nghiệp xuất nhập khẩu trong nhiều năm tới, đặc biệt là các quốc gia đang phát triển, nơi đang còn thiếu nhiều điều kiện để đáp ứng yêu cầu các nhà nhập khẩu.
Các quy định thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường có thể là thách thức đối với các nước đang phát triển:
Thứ nhất, các công ty của các nước đang phát triển không có hệ thống quản lý tại chỗ, do đó họ có thể gặp phải những khó khăn đáng kể trong việc áp dụng các hệ thống quản lý phức tạp hơn.
Thứ hai, trong khi ở những nước phát triển thông tin về các quy định và luật pháp áp dụng có thể nhận được thông qua các kênh thông tin được sử dụng tốt, thì các công ty ở những nước đang phát triển có thể phải đối mặt với các chi phí cao hơn trong việc thu thập thông tin đầy đủ về toàn bộ các quy định và pháp luật phải áp dụng.
Thứ ba, trong khi ở các nước phát triển việc phân tích và đánh giá môi trường được yêu cầu thường xuyên thì các công ty ở những nước đang phát triển có thể phải chịu chi phí đáng kể trong đánh giá tác động môi trường.
Các quy định, tiêu chuẩn về môi trường trong thương mại quốc tế tạo thách thức đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ trong quá trình sản xuất các sản phẩm dịch vụ thân thiện với môi trường.
Những khó khăn mà các doanh nghiệp vừa và nhỏ phải đối mặt trong việc xây dựng và áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường:
- Trước hết là thiếu các nguồn tài chính cần thiết, thiếu cán bộ có trình độ, khó tiếp cận các nguồn thông tin, khó có khả năng chịu được các chi phí có liên quan đến việc xây dựng và chứng nhận.
- Thứ hai, các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó đạt được sự giảm bớt các chi phí cho việc đầu tư vào môi trường sinh lãi.
- Thứ ba, các doanh nghiệp vừa và nhỏ thiếu cơ sở hạ tầng, khả năng vật chất sẵn có cho thiết bị môi trường bị giới hạn.
- Thứ tư, các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó đạt được đầu vào với giá cạnh tranh.
- Thứ năm, các doanh nghiệp vừa và nhỏ khó đảm bảo rằng nguyên liệu thô được sản xuất theo các chuẩn cứ môi trường.
- Thứ sáu, chi phí thử nghiệm, giám định và kiểm định có thể là rất cao.
1.2.2. Tác động của việc bảo vệ môi trường tới luật thương mại quốc tế Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
1.2.2.1 Tác động tích cực
Bảo vệ môi trường làm thuận lợi hóa việc đàm phán quốc tế về các hiệp định thương mại và môi trường: Vấn đề môi trường ngày càng trở nên hết sức quan trọng trong các cuộc đàm phán thương mại quốc tế, khu vực cũng như toàn cầu. Những vòng đàm phán gần đây trong WTO cũng như các tổ chức thương mại khu vực, các hiệp định thương mại song phương cho thấy các cuộc tranh luận xung quanh chủ đề thương mại và môi trường gắn liền với lợi ích của các quốc gia. Trong thực tế, việc xem xét tới yếu tố môi trường đã tăng cường vai trò của các tiêu chuẩn trong các cuộc đàm phán thương mại quốc tế gần đây. Việc áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường trong các cuộc đàm phán như vậy sẽ tạo thuận lợi cho việc đưa ra nghị quyết về các vấn đề liên quan đến thương mại và môi trường. Các tiêu chuẩn môi trường có thể sử dụng như là một chỉ số của sự cam kết và mong muốn của đất nước đẩy mạnh việc bảo vệ môi trường thông qua việc quản lý môi trường tốt hơn trong số các tổ chức doanh nghiệp của các nước này. Lợi thế của phương pháp tiếp cận này có sức thuyết phục cao và có ý nghĩa quan trọng trong chiến lược phát triển thương mại quốc gia thế kỷ 21.
Bảo vệ môi trường làm thuận lợi quá trình tự do hóa thương mại, từ đó tác động tới chính sách thương mại quốc tế: Vì các tiêu chuẩn và quy định môi trường là các tiêu chuẩn quốc tế được dựng theo nguyên tắc thỏa thuận nên các tài liệu này sẽ phục vụ cho việc thống nhất quan điểm của các nước trong cách tiếp cận của họ đối với nhãn sinh thái, quản lý môi trường và đánh giá chu trình sống. Nhận thức và cách tiếp cận thống nhất này sẽ giúp gỡ bỏ nhanh hơn các hàng rào trong thương mại và như vậy nó sẽ hỗ trợ cho quá trình thương mại tự do.
1.2.2.2. Tác động tiêu cực Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Bảo vệ môi trường làm hạn chế khả năng cạnh tranh, gây ảnh hưởng tới quá trình xây dựng các tiêu chuẩn quy chuẩn kỹ thuật trong thương mại quốc tế: Những cuộc tranh chấp thương mại liên quan đến các quy định và tiêu chuẩn môi trường gần đây cho thấy nhiều quốc gia sử dụng các biện pháp và chính sách môi trường để hạn chế nhập khẩu cũng như là một phương thức để tăng cạnh tranh xuất khẩu, tăng cường chỗ đứng trên thị trường, ngay cả khi chưa có áp lực gay gắt từ khách hàng nước ngoài. Như vậy, các biện pháp môi trường có thể được sử dụng một cách tiềm tàng như một công cụ marketing ở cả trong nước và quốc tế. Tuy nhiên, không phải quốc gia nào cũng có đầy đủ các điều kiện để áp dụng các quy định và tiêu chuẩn môi trường để nâng cao khả năng cạnh tranh hàng hóa của mình. Thực tế này là một thách thức lớn đối với các quốc gia đang phát triển cũng như các doanh nghiệp vừa và nhỏ, nơi mà việc áp dụng các biện pháp môi trường có thể làm tăng đáng kể chi phí sản xuất, do vậy làm giảm khả năng cạnh tranh.
Bảo vệ môi trường, sự hài hòa với thiên nhiên là chứng chỉ của một nền kinh tế phát triển bền vững, tuy nhiên nó vô tình đẩy các quy định, tiêu chuẩn môi trường trong thương mại quốc tế trở thành rào cản tới các hoạt động kinh tế, gây ảnh hưởng tới tự do hóa thương mại. Tự do hóa thương mại là một quá trình lâu dài, gắn chặt với quá trình đàm phán để cắt giảm các rào cản thương mại. Các nước, đặc biệt là các nước công nghiệp phát triển, một mặt luôn đi đầu trong việc đòi hỏi phải mở cửa thị trường và thúc đẩy tự do hóa thương mại, mặt khác lại luôn tìm kiếm các rào cản tinh vi và phức tạp hơn thông qua các tiêu chuẩn kỹ thuật, tiêu chuẩn môi trường, các biện pháp hành chính nhằm bảo hộ sản xuất trong nước của họ. Việc lạm dụng chính sách bảo vệ môi trường, bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng của các nước phát triển gây nên trở ngại rất lớn đối với hoạt động xuất khẩu của các nước đang phát triển.
Mối quan hệ giữa luật thương mại quốc tế và bảo vệ môi trường là mối quan hệ biện chứng tác động lẫn nhau. Các chính sách, quy định pháp luật thương mại quốc tế có những tác động tích cực và tiêu cực tới vấn đề bảo vệ môi trường và ngược lại môi trường cũng góp phần tạo nên những thuận lợi và khó khăn trong phát triển kinh tế cũng như trong quá trình xây dựng, thực hiện các chính sách, quy định pháp luật thương mại quốc tế. [1]
1.3. Nguồn luật điều chỉnh việc bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Nguồn của điều chỉnh việc bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế là tổng thể các nguyên tắc và quy phạm pháp luật điều chỉnh các quan hệ thuộc lĩnh vực bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế. Nguồn này bao gồm: pháp luật trong nước, điều ước quốc tế, tập quán quốc tế, thực tiễn xét xử của tòa án và trọng tài thương mại quốc tế (Án lệ).
1.3.1. Pháp luật quốc gia
Hiện nay, pháp luật quốc gia là nguồn cơ bản, chủ yếu điều chỉnh việc bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế. Với tư cách là nguồn điều chỉnh việc bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế, luật quốc gia có thể được thể hiện dưới hình thức văn bản hoặc không được thể hiện dưới hình thức văn bản. Nguồn này được thể hiện dưới hình thức nào thì hoàn toàn phụ thuộc vào từng hệ thống pháp luật nhất định.
Pháp luật quốc gia được áp dụng để điều chỉnh việc bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế trong hai trường hợp, đó là: khi các bên chủ thể thỏa thuận áp dụng và khi có quy phạm xung đột dẫn chiếu đến luật của quốc gia.
Trong hệ thống pháp luật Việt Nam, có rất nhiều văn bản pháp luật là nguồn điều chỉnh việc bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế:
- Hiến pháp nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam 1992; là đạo luật cơ bản, có giá trị pháp lý cao nhất trong hệ thống pháp luật, Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) đã có những quy định mang tính nguyên tắc về bảo vệ môi trường.
- Trong hệ thống các luật, pháp lệnh về bảo vệ môi trường, Luật Bảo vệ môi trường có thể coi là đạo luật có vị trí trung tâm (luật chung) trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường. Luật Bảo vệ môi trường năm 2005 gồm 136 điều được chia làm 15 chương quy định 14 nhóm vấn đề quan trọng.
- Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường còn có các đạo luật, pháp lệnh về bảo vệ các thành tố môi trường (còn gọi là các đạo luật, pháp lệnh về tài nguyên). Cụ thể, đó là các đạo luật, pháp lệnh như: Luật Bảo vệ và phát triển rừng năm 2004; Luật Đất đai năm 2003; Luật Thủy sản năm 2003; Luật Dầu khí năm 1993 (được sửa đổi, bổ sung năm 2000); Luật Tài nguyên nước năm 1998; Luật Khoáng sản năm 1996 (được sửa đổi, bổ sung năm 2005) v.v.
- Ngoài ra, quy định về nghĩa vụ bảo vệ môi trường hoặc nghĩa vụ tuân thủ các quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường đối với các tổ chức, cá nhân còn nằm rải rác trong nhiều đạo luật khác. Trong số đó phải kể đến: Luật Doanh nghiệp năm 2005, Luật Đầu tư năm 2005, Luật Đấu thầu năm 2005, Luật Nhà ở năm 2005, Luật Thanh niên năm 2005; Bộ luật Hàng hải năm 2005; Luật Du lịch năm 2005; Luật Quốc phòng năm 2005; Luật Giáo dục năm 2005; Luật Điện lực năm 2005; Luật Bảo vệ và chăm sóc trẻ em năm 2004; Luật Giao thông đường thủy nội địa năm 2004; Luật Hợp tác xã năm 2003; Luật Xây dựng năm 2003; Luật Biên giới quốc gia năm 2003; Luật Hải quan năm 2001; Luật Di sản văn hóa năm 2001; Luật Phòng cháy, chữa cháy năm 2001; Luật Giao thông đường bộ năm 2001; Luật Khoa học và Công nghệ năm 2000; Luật Hàng không dân dụng năm 1991 (sửa đổi, bổ sung năm 1995); Luật về tiêu chuẩn và kỹ thuật năm 2006; Luật chất lượng sản phẩm hàng hóa 2007; Luật bảo vệ người tiêu dùng 2010…
Một số đạo luật, pháp lệnh còn quy định cụ thể việc xử lý vi phạm pháp luật đối với hành vi vi phạm pháp luật về môi trường. Trong số đó, phải kể đến Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Hình sự năm 1999, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002…
Một số đạo luật, pháp lệnh có những nội dung quan trọng liên quan đến vấn đề tài chính trong bảo vệ môi trường cũng có thể kể đến là: Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp năm 2003; Luật Ngân sách nhà nước năm 2002; Pháp lệnh Thuế tài nguyên, Pháp lệnh Phí và lệ phí… Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
- Luật quốc gia của các nước khác, ví dụ:
Hoa Kỳ: Luật Liên bang về Thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm (Federal Food, Drug, cosmetic Act – FDCA); Luật về bao bì và nhãn hàng (Fair Packaging and Labeling Act – FPLA); Luật bảo vệ chất lượng Thực phẩm (FQPA) 1996, Các quy định về bao gói, nhãn mác; Luật thuế quan năm 1940; Luật an ninh nông nghiệp và phát triển nông thôn…
Nhật Bản: Luật Hải Quan; Luật bảo vệ động thực vật hoang dã; Luật về các chất độc hại; Luật vệ sinh thực phẩm; Luật kiểm dịch thực vật; Luật về các bệnh lây nhiễm qua động vật; Luật trách nhiệm sản phẩm, Luật khai thác thủy sản áp dụng cho các tàu nước ngoài; Luật khuyến khích sử dụng hiệu quả các nguồn tài nguyên; Luật tái sử dụng bao bì, dụng cụ chứa; Luật phòng chống biểu thị thông tin không đúng; Luật đo lường; …
1.3.2. Điều ước quốc tế
Điều ước quốc tế được coi là nguồn điều chỉnh việc bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế. Điều ước quốc tế là sự thỏa thuận giữa các quốc gia, do đó các điều ước có giá trị bắt buộc đối với các nước thành viên trên nguyên tắc tự nguyện thực hiện các cam kết quốc tế (Pacta sunt servanda). Đây là nguyên tắc được áp dụng trong công pháp quốc tế nhằm điều chỉnh hành vi của các quốc gia. Như vậy, khi các nước ký kết hoặc tham gia các điều ước quốc tế về thương mại thì các quy phạm ghi nhận trong các điều ước quốc tế về thương mại này sẽ đương nhiên áp dụng để điều chỉnh hành vi các quốc gia trong hoạt động thương mại quốc tế.
Trong quan hệ thương mại quốc tế, các điều ước quốc tế được áp dụng dựa trên nguyên tắc sau:
- Điều ước quốc tế về thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lý bắt bộc đối với các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế nếu các bên chủ thể này có quốc tịch hoặc có nơi cư trú ở các quốc gia là các nước thành viên của điều ước quốc tế đó.
- Trong trường hợp có sự quy định khác nhau giữa điều ước quốc tế và pháp luật trong nước là thành viên điều ước quốc tế đó thì quy định của điều ước quốc tế được ưu tiên áp dụng.
- Trong trường hợp các bên chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế không mang quốc tịch hoặc không có nơi cứ trú ở các nước thành viên của một điều ước quốc tế về thương mại trong lĩnh vực bảo vệ môi trường thì các quy định trong điều ước này vẫn điều chỉnh quyền và nghĩa vụ của các bên, nếu các bên thỏa thuận áp dụng các điều khoản của điều ước quốc tế đó. Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Những hiệp định môi trường quốc tế có thể được phân thành 3 nhóm chính:
- Các hiệp định kiểm soát ô nhiễm xuyên biên giới hoặc để bảo vệ môi trường toàn cầu, ví dụ như Công ước Viên bảo vệ tầng ô dôn và Nghị định thư Montreal về các chất huỷ hoại tầng ô dôn thực hiện Công ước trên và Hiệp định về thay đổi môi trường.
- Các hiệp định bảo vệ các chủng loại bị đe doạ, các loài chim di trú, và các loại cá và động vật biển. Ví dụ: Hiệp định về thương mại quốc tế đối với những loài có nguy cơ bị diệt chủng (CITES) và Công ước quốc tế quy định về săn bắt cá voi. Trong số các điều khoản của các Hiệp định này là các hướng dẫn về cách thức bắt và giết các loại động vật hoang dã và cá.
- Các hiệp định về quản lý việc sản xuất và thương mại các sản phẩm và các chất nguy hiểm. Ví dụ là Hiệp định Basel về Quản lý di chuyển và thải các chất thải nguy hiểm xuyên biên giới, Hướng dẫn Luân Đôn về việc trao đổi thông tin về các chất hoá học trong thương mại quốc tế.
Cho đến thời điểm hiện nay đã có trên 140 hiệp định quốc tế về môi trường và các công cụ quốc tế về lĩnh vực môi trường, trong số đó có khoảng 20 hiệp định có các quy định liên quan đến thương mại quốc tế.
1.3.2.1. Điều ước quốc tế đa phương
Có thể nói môi trường là một trong số những vấn đề mới của WTO, mặc dù trong lời nói đầu của Hiệp định thành lập WTO có đề cập đến việc “sử dụng tối ưu các nguồn lực của thế giới phù hợp với mục tiêu phát triển bền vững nhằm bảo vệ môi trường và bảo tồn môi trường…” [35] nhưng trong các Hiệp định của WTO không có điều khoản cụ thể nào nói lên mối quan hệ giữa thương mại và môi trường. Vấn đề môi trường trong WTO được đề cập gián tiếp tại một số hiệp định sau:
- Hiệp định chung về thuế quan và mậu dịch (GATT) Điều 20 và Hiệp định chung về thương mại dịch vụ (GATS) Điều 14: những chính sách nhằm bảo vệ sức khỏe con người, động – thực vật thì được miễn không phải tuân theo các quy định của Hiệp định này.
- Hiệp định TBT, Hiệp định SPS: công nhận các nước được đề ra các tiêu chuẩn nhằm bảo vệ môi trường.
- Hiệp định nông nghiệp: các chương trình môi trường không phải cắt giảm trợ cấp.
- Hiệp định SCM cho phép trợ cấp đến 20% để các xí nghiệp có thể đáp ứng tiêu chuẩn môi trường mới.
- Hiệp định TRIPS: có thể từ chối cấp bằng sáng chế đe dọa đến đời sống, sức khỏe con người, động – thực vật hoặc phá hoại môi trường. Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Xu hướng trong các quy định của WTO là gắn vấn đề bảo vệ môi trường với các hoạt động kinh tế trong nước và thương mại quốc tế. Chính vì vậy, mặc dù các hiệp định của WTO không có quy định cụ thể về hoạt động bảo vệ môi trường, chưa có quy định trực tiếp quyền và nghĩa vụ của các chủ thể tham gia vào quá trình bảo vệ môi trường nhưng các quy định của WTO đóng vai trò quan trọng trong quá trình xây dựng các tiêu chuẩn môi trường quốc gia phù hợp với các điều kiện, nhu cầu phát triển.
Ngoài ra còn một số điều ước quốc tế như: Công ước quốc tế về bảo vệ thực vật (International Plant Protection Convention) trong lĩnh vực sức khoẻ thực vật,…
Là thành viên của điều ước quốc tế, Việt Nam và các nước thành viên có nghĩa vụ thực hiện các điều khoản, nội dung của công ước. Việc gia nhập các công ước này là tiền đề quan trọng cho việc hội nhập của pháp luật Việt Nam với những tiêu chuẩn và quy phạm của pháp luật quốc tế.
1.3.2.2. Điều ước quốc tế song phương
Các điều ước quốc tế song phương tạo nền tảng pháp lý cho các quan hệ liên quan đến việc bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế của hai chủ thể luật quốc tế với nhau. Cũng như vậy, ở Việt Nam, các hiệp định nước ta tham gia ký kết đều ghi nhận nguyên tắc tối huệ quốc và nguyên tắc đối xử quốc gia để tạo điều kiện cho doanh nghiệp, công dân của các bên phát triển quan hệ kinh tế thương mại, đi đôi với bảo vệ môi trường:
- Việt Nam – Thái Lan
Năm 2004, Bản ghi nhớ giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Thuỷ sản nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Hợp tác Vương Quốc Thái Lan hợp tác áp dụng biện pháp về vệ sinh và an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật.
Năm 2006, Thoả thuận về hợp tác kỹ thuật về bệnh động vật và kiểm soát an toàn về vệ sinh thuỷ sản giữa Bộ Thuỷ sản Hoàng Gia Thái Lan và Cục quản lý chất lượng và thú y thuỷ sản – Bộ Thuỷ sản nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam.
- Việt Nam – Trung Hoa
Năm 2007, Nghị định thư về yêu cầu kiểm dịch đối với khỉ xuất khẩu từ Việt Nam sang Trung Quốc giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Tổng Cục giám sát chất lượng, Kiểm nghiệm và Kiểm dịch nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa. Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Năm 2008, Hợp tác thỏa thuận về quản lý an toàn thực phẩm giữa Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và Bộ Thuỷ sản nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Cục giám sát, kiểm tra và quản lý chất lượng Trung Hoa.
Năm 2008, Hiệp định giữa Chính phủ nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Chính Phủ nước Cộng Hoà Nhân Dân Trung Hoa về hợp tác trong lĩnh vực thú y và kiểm dịch thực vật.
- Việt Nam – Hoa Kỳ
Năm 2008, Bản ghi nhớ giữa Bộ Y tế Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam và Bộ Y tế và Phúc lợi con người Hợp Chủng Quốc Hoa Kỳ về thực phẩm, thức ăn chăn nuôi và các sản phẩm y tế.
Bản ghi nhớ giữa cơ quan kiểm dịch động vật và bảo vệ thực vật Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ và Cục Thú y, cục Bảo vệ Thực vật Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn nước Cộng Hoà Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam về hợp tác trong động vật và bảo vệ thực vật.
Việt Nam – Bê La Rút: Thỏa thuận hợp tác trong lĩnh vực tiêu chuẩn hóa đo lường và đánh giá sự phù hợp giữa Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam – Ủy Ban nhà nước về tiêu chuẩn hóa Bê La Rút.
Việt Nam – Liên Bang Nga: Hiệp định giữa Bộ Khoa học Công nghệ và Môi trường nước Cộng Hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam và Ủy ban Nhà nước Liên Bang Nga về tiêu chuẩn hóa đo lường về thừa nhận lẫn nhau các kết quả của hoạt động chứng nhận và thử nghiệm.
1.3.3. Tập quán quốc tế
Cùng với pháp luật của quốc gia và điều ước quốc tế, tập quán thương mại quốc tế đóng vai trò quan trọng trong hoạt động thương mại quốc tế với tư cách là nguồn luật. Tập quán thương mại quốc tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời, có nội dung cụ thể, rõ ràng, được áp dụng liên tục và được các chủ thể trong giao dịch thương mại quốc tế chấp nhận một cách phổ biến. Như vậy, không phải bất cứ tập quán thương mại nào cũng có thể được coi là nguồn luật thương mại quốc tế. Tập quán thương mại quốc tế chỉ được coi là nguồn của luật thương mại quốc tế khi nó thỏa mãn các điều kiện pháp lý nhất định.
Cơ sở pháp lý để xác định tập quán thương mại quốc tế là nguồn của luật thương mại quốc tế:
- Tập quán thương mại quốc tế là thói quen thương mại được hình thành lâu đời và phải được áp dụng liên tục;
- Tập quán thương mại phải có nội dung cụ thể rõ ràng;
- Tập quán thương mại phải là thói quen duy nhất trong giao dịch thương mại quốc tế;
- Tập quán thương mại phải được đa số các chủ thể trong thương mại quốc tế biết và chấp nhận.
Về giá trị pháp lý, tập quán thương mại quốc tế không giống với luật quốc gia và điều ước quốc tế về thương mại quốc tế. Tập quán thương mại quốc tế chỉ có giá trị pháp lý trong thương mại quốc tế ở các trường hợp sau: tập quán thương mại được các bên thỏa thuận áp dụng ghi trong hợp đồng; tập quán thương mại được các điều ước quốc tế liên quan quy định áp dụng; tập quán thương mại quốc tế được luật trong nước quy định áp dụng; cơ quan xét xử cho rằng các bên chủ thể đã mặc nhiên áp dụng tập quán thương mại quốc tế trong giao dịch thương mại của họ.[10]
Bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế được đề cập gián tiếp trong các tập quán thương mại quốc tế khác nhau ví dụ như: Các tập quán quốc tế về luật biển. Điều kiện thương mại quốc tế Incoterms, trong các hợp đồng mua bán, việc sử dụng Incoterms làm nguồn tham chiếu cơ bản là điều rất cần thiết. Incoterms không đề cập tới giá hàng, quy cách phẩm chất bao bì, đóng gói; phương thức thanh toán; khi nào quyền sở hữu chuyển từ người bán sang người mua; nguồn luật áp dụng, cơ chế giải quyết tranh chấp; hậu quả của việc vi phạm hợp đồng mà chỉ phân chia rủi ro giữa hai bên trong vấn đề giao hàng. Incoterms không phải là văn bản luật mà chỉ là những khuyến nghị dưới dạng tập quán thương mại phổ biến trên toàn thế giới, chỉ có giá trị khi các bên tự nguyện áp dụng và ghi rõ trong hợp đồng. Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Quan điểm của Việt Nam về tập quán quốc tế nhìn chung đều thống nhất việc áp dụng tập quán theo nguyên tắc: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thỏa thuận thì có thể áp dụng tập quán… tập quán… không được trái với những nguyên tắc, quy định trong Bộ luật này.” [23]
Việc áp dụng tập quán quốc tế được quy định cụ thể tại Điều 5 Luật thương mại 2005 về việc áp dụng điều ước quốc tế, pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế: “Trường hợp điều ước quốc tế mà Cộng hoà Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của điều ước quốc tế đó. Các bên trong giao dịch thương mại có yếu tố nước ngoài được thoả thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế đó không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam.” [26]
1.3.4. Án lệ
Án lệ được hiểu là các bản án hoặc quyết định đã có hiệu lực pháp luật do tòa án hoặc cơ quan trọng tài ban hành. Ở các nước phát triển và các nước thuộc hệ thống Common law, án lệ có vai trò rất quan trọng trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh tế, thương mại.
Một số ví dụ về các trường hợp áp dụng án lệ trong quá trình giải quyết tranh chấp về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế:
Ví dụ: Án lệ WTO Vụ Nhật Bản – Các sản phẩm nông nghiệp, một biện pháp SPS tạm thời phải đáp ứng các yêu cầu: được áp dụng trong các trường hợp mà “các thông tin khoa học liên quan chưa đầy đủ”; phải được xây dựng “trên cơ sở các thông tin đáng tin cậy sẵn có”; nước áp dụng phải nỗ lực “tìm kiếm các thông tin bổ sung cần thiết để có đánh giá rủi ro khách quan hơn”; Phải được xem xét lại “sau một khoảng thời gian hợp lý”.
Án lệ WTO Vụ “Úc – Cá hồi”, một biện pháp SPS sẽ bị xem là “hạn chế thương mại” trên mức cần thiết nếu tồn tại một biện pháp SPS khác đồng thời thoả mãn các điều kiện sau: có thể áp dụng được (có thể tính đến tính khả thi về kỹ thuật, kinh tế); cho phép đạt được mục tiêu bảo vệ về vệ sinh dịch tễ ở mức độ phù hợp; rõ ràng là ít hạn chế thương mại hơn biện pháp SPS đang được xem xét.
Cho đến nay, pháp luật Việt Nam nói chung cũng như pháp luật thương mại Việt Nam nói riêng cũng chỉ mới thừa nhận nguồn của luật bao gồm: các văn bản pháp luật do cơ quan có thẩm quyền của Nhà nước Việt Nam ban hành, các điều ước quốc tế mà Việt Nam ký kết hoặc tham gia và các tập quán quốc tế được Việt Nam thừa nhận. Án lệ chưa được coi là nguồn luật nói chung cũng như nguồn của luật thương mại nói riêng. Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường.
Tóm lại: Nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường giúp luận văn có cái nhìn sâu hơn, tổng thể hơn về quá trình bảo vệ môi trường, làm cơ sở lý luận cho công tác nghiên cứu các quy định thực tế của WTO, quy định của một số điều ước quốc tế đa phương và pháp luật một số nước trên thế giới về bảo vệ môi trường ở Chương 2.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
