Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Quy định của pháp luật quốc tế và pháp luật một số nước về bảo vệ môi trường có liên quan tới thương mại quốc tế dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Quy định của WTO liên quan đến bảo vệ môi trường

Kết thúc vòng đàm phán Urugoay, đến năm 1995, Ủy ban Thương mại và Môi trường (CTE) của WTO, một cơ quan chuyên trách về các vấn đề liên quan đến thương mại và môi trường đã được thành lập. CTE bao gồm các thành viên của WTO và một số quan sát viên từ các tổ chức liên chính phủ. CTE ra đời với chức năng thống nhất mối quan hệ giữa thương mại và môi trường để thúc đẩy sự phát triển bền vững, đồng thời đưa ra các đề xuất thích hợp sửa đổi một số điều khoản của hệ thống thương mại đa phương, nhằm đạt được sự hài hòa giữa thương mại và môi trường. Chức năng của CTE được quy định trong Hiệp định Marrakesh, đó là “xác định các mối liên hệ giữa thương mại và môi trường nhằm thúc đẩy phát triển bền vững”.

Tuy nhiên, các thành viên WTO cũng nhận thức được rằng, WTO không phải là tổ chức bảo vệ môi trường. Nó chỉ có khả năng về chính sách phối hợp giữa lĩnh vực thương mại và môi trường được giới hạn bởi các chính sách thương mại và những khía cạnh của thương mại liên quan đến những chính sách về môi trường, có ảnh hưởng quan trọng đối với thương mại, nhất là thương mại quốc tế.

Để giải quyết những mối liên quan giữa thương mại và môi trường, thành viên của WTO chỉ hoạt động dựa trên những quy định của WTO về việc giải quyết các vấn đề môi trường. Tuy nhiên, họ tin tưởng rằng các chính sách về thương mại và môi trường có thể bổ sung cho nhau. Bảo vệ môi trường góp phần bảo tồn tài nguyên thiên nhiên dựa vào sự tăng trưởng kinh tế. Đồng thời, mở rộng tự do thương mại dẫn đến tăng trưởng kinh tế, góp phần đáp ứng các yêu cầu về bảo vệ môi trường. Để đi đến nhận thức này, vai trò của WTO là tiếp tục mở rộng tự do thương mại, đồng thời đảm bảo rằng các chính sách môi trường không cản trở thương mại và các điều luật thương mại cũng không thể đại diện chính thức để bảo vệ môi trường theo mối quan tâm của một nước.

Vấn đề môi trường chiếm vị trí khá quan trọng trong các quy định của GATT/WTO. Điều này thể hiện khá rõ ngay trong lời nói đầu của Hiệp định Marrakesh: “… mở rộng sản xuất, thương mại hàng hóa và dịch vụ, trong khi đó vẫn đảm bảo việc sử dụng tối ưu nguồn lực của thế giới theo đúng mục tiêu phát triển bền vững, bảo vệ và duy trì môi trường và nâng cao các biện pháp để thực hiện điều đó…”. [34]

Trong hệ thống các văn kiện, thỏa thuận, hiệp định của GATT/WTO, có một số quy định liên quan trực tiếp tới vấn đề môi trường trong thương mại quốc tế. Trong số đó, đáng kể nhất là các Điều 1 và Điều 3 của GATT về việc không phân biệt đối xử, cũng như các mục của Điều 20 về ngoại lệ chung. Ngoài ra vấn đề môi trường được nêu trong các hiệp định khác, ví dụ như: Hiệp định trợ cấp và các biện pháp đối kháng; Hiệp định nông nghiệp; Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT); Hiệp định về áp dụng các biện pháp vệ sinh kiểm dịch động thực vật (SPS); … Các điều khoản WTO liên quan đến vấn đề thương mại và bảo vệ môi trường được trình cụ thể hơn ở dưới đây:

2.1.1. Hiệp định về tiêu chuẩn, quy định kỹ thuật đối với sản phẩm (TBT)

Trong thương mại quốc tế, các “rào cản kỹ thuật đối với thương mại” là các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mà một nước áp dụng đối với hàng hoá nhập khẩu và/hoặc quy trình nhằm đánh giá sự phù hợp của hàng hoá nhập khẩu đối với các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật đó (còn gọi là các biện pháp kỹ thuật – biện pháp TBT). Các biện pháp kỹ thuật này về nguyên tắc là cần thiết và hợp lý nhằm bảo vệ những lợi ích quan trọng như sức khoẻ con người, môi trường, an ninh… Vì vậy, mỗi nước thành viên WTO đều thiết lập và duy trì một hệ thống các biện pháp kỹ thuật riêng đối với hàng hoá của mình và hàng hoá nhập khẩu. Tuy nhiên, trên thực tế, các biện pháp kỹ thuật có thể là những rào cản tiềm ẩn đối với thương mại quốc tế bởi chúng có thể được nước nhập khẩu sử dụng để bảo hộ cho sản xuất trong nước, gây khó khăn cho việc thâm nhập của hàng hoá nước ngoài vào thị trường nước nhập khẩu. Do đó chúng còn được gọi là “rào cản kỹ thuật đối với thương mại”. Ví dụ: Tiêu chuẩn về hiệu suất năng lượng đối với máy giặt, nó cũng chứa đựng các tiêu chuẩn về môi trường, sức khỏe, lao động mà một sản phẩm cần phải được đáp ứng trong vòng đời của nó; các sản phẩm chế tạo từ gỗ rừng bắt buộc phải được khai thác từ những khu rừng mà việc quản lý khai thác đảm bảo tính bền vững. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Hiệp định về các rào cản kỹ thuật đối với thương mại (TBT) quy định các chuẩn mực và tiêu chuẩn đã được ký năm 1979 và được bổ sung tại vòng đàm phán Urugoay. Hiệp định này đã trở thành một bộ phận cấu thành của WTO, được áp dụng cho mọi thành viên của WTO và tuân theo quy chế giải quyết tranh chấp của WTO. Hiệp định này tập trung vào hai nội dung chính: chuẩn mực kỹ thuật và tiêu chuẩn từ khâu đóng gói, dán nhãn mác hay nhãn hiệu chứng nhận sản phẩm đến các thủ tục kiểm tra quy cách của sản phẩm theo những chuẩn mực này. Việc thông qua Hiệp định TBT trong khuôn khổ WTO nhằm thừa nhận sự cần thiết của các biện pháp kỹ thuật đồng thời kiểm soát các biện pháp này sao cho chúng được các nước thành viên WTO sử dụng đúng mục đích và không trở thành công cụ bảo hộ.

Về khía cạnh môi trường, Hiệp định TBT đòi hỏi phải dung hoà được hai mục tiêu trái ngược nhau: vừa bảo đảm cho các nước có quyền tự do bảo vệ an ninh quốc gia, sức khoẻ con người và môi trường, vừa không gây trở ngại không cần thiết đối với hoạt động thương mại. Phạm vi điều chỉnh mới của Hiệp định không chỉ dừng lại ở quy định đối với sản phẩm mà còn liên quan tới quy trình và phương pháp sản xuất.

Chính vì vậy, các bên tham gia hiệp định phải có trách nhiệm ở cả ba cấp độ: xây dựng và áp dụng các quy định kỹ thuật; thành lập các cơ quan đo lường tiêu chuẩn hoạt động tuân theo luật ứng xử đúng mực; và cấp chứng nhận sản phẩm đúng quy cách. Cả ba giai đoạn này phải tôn trọng các quy tắc của hiệp định dù chúng do các tác nhân địa phương, nghiệp đoàn hay tư nhân đảm nhận.

  • Trong phần mở đầu của Hiệp định đã chỉ rõ:

“…Thừa nhận rằng, không một nước nào có thể bị ngăn cản tiến hành các biện pháp cần thiết để bảo đảm chất lượng hàng hóa xuất khẩu của mình, hoặc để bảo vệ cuộc sống hay sức khỏe con người, động, thực vật, bảo vệ môi trường…” [36]

Quy tắc cơ bản: theo Hiệp định TBT, khi ban hành các quy định về kỹ thuật đối với hàng hoá, mỗi nước thành viên WTO đều phải đảm bảo rằng việc áp dụng các quy định này là:

Thứ nhất, không phân biệt đối xử đối với hàng nhập khẩu cùng loại từ tất cả các nguồn, cũng như không phân biệt đối xử giữa hàng nhập khẩu và hàng nội địa cùng loại. Tức là phải đảm bảo thực hiện hai nguyên tắc cơ bản là đối xử quốc gia và đãi ngộ tối huệ quốc. Bên cạnh đó, TBT cũng có những quy định riêng về việc đối xử đặc biệt và khác biệt cho các thành viên đang phát triển. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Thứ hai, tránh tạo ra rào cản không cần thiết đối với thương mại quốc tế (nếu có thể dùng các biện pháp khác ít hạn chế thương mại hơn). Điều này có nghĩa là việc thực hiện các quy định, tiêu chuẩn kỹ thuật này không được vượt quá mức cần thiết để thực hiện các mục tiêu hợp pháp trong đó có tính toán đầy đủ các rủi ro do không thực hiện được các mục tiêu đó. Để đánh giá các rủi ro đó, các yêu cầu sau có thể được xem xét: “… các thông tin khoa học, kỹ thuật hiện có, công nghệ sản xuất có liên quan và mục đích sử dụng cuối cùng dự tính của sản phẩm”. [36]

Thứ ba, minh bạch – thông báo: Hiệp định quy định nghĩa vụ thông báo các yêu cầu kỹ thuật quy trình đánh giá sự phù hợp thông qua cơ chế hỏi đáp quốc gia. Mục đích của quy định này là minh bạch hóa các yêu cầu kỹ thuật đối với hàng nhập khẩu và hạn chế tối đa sự bóp méo thương mại mà các yêu cầu kỹ thuật gồm cả các quy định và tiêu chuẩn môi trường có thể gây ra. Các biện pháp môi trường được thông báo gồm có: các biện pháp hạn chế ô nhiễm, quản lý rác thải, bảo tồn năng lượng, các biện pháp bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các biện pháp thực hiện các hiệp định đa phương về môi trường.

Trong các vụ kiện thương mại liên quan đến môi trường trong khuôn khổ Tổ chức Thương mại thế giới có một ví dụ khá điển hình về việc phá “hàng rào xanh” nhờ áp dụng quy tắc minh bạch và không phân biệt đối xử của WTO. Năm 1997, các nước Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đưa ra vụ kiện chống Hoa Kỳ ban hành lệnh cấm nhập khẩu tôm và các sản phẩm từ tôm với lý do bảo vệ rùa biển. Việc kiện của 4 nước nói trên xuất phát từ Luật Bảo vệ các loài quý hiếm của Hoa Kỳ (ban hành năm 1973), theo đó, ngư dân Hoa Kỳ đánh bắt tôm cần phải sử dụng dụng cụ ngăn chặn rùa biển mắc lưới với mục đích bảo vệ loài rùa biển di cư đang có nguy cơ bị tuyệt chủng vì các hoạt động của con người.

Theo đó, Hoa Kỳ sẽ tiến hành đàm phán nhằm ký kết với các nước thực hiện nhiều hoạt động đánh bắt tôm các thoả thuận về bảo vệ rùa biển. Các loại tôm được đánh bắt với kỹ thuật có thể gây nguy hiểm cho rùa biển được pháp luật Hoa Kỳ bảo vệ sẽ bị cấm nhập khẩu vào nước này. Năm 1989, tại Điều 609 Luật Công (Public Law) 101-162 của Hoa Kỳ, quy định này đã được áp dụng cả đối với các tàu đánh bắt tôm của các nước xuất khẩu vào Hoa Kỳ.

Tuân theo quy định của Hiệp định TBT, Điều 11 – Trợ giúp kỹ thuật cho các Thành viên khác, và Điều 12 – Đối xử đặc biệt và khác biệt cho các Thành viên đang phát triển. Trong hai năm 1991 và 1993, Hoa kỳ đã giành sự ưu đãi cho các nước vùng biển Caribe bằng sự trợ giúp kỹ thuật và tài chính, cho phép có giai đoạn chuyển đổi để ngư dân các nước này có thể sử dụng các dụng cụ ngăn chặn rùa biển mắc vào lưới khi đánh bắt tôm và xuất khẩu vào Hoa Kỳ. Đến tháng 4 năm 1996, các quy định trên đã được áp dụng cho tất cả các loại tôm trên toàn thế giới. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Trước những tổn thất kinh tế về đánh bắt và chế biến tôm do quy định của Hoa Kỳ gây ra, 4 nước Ấn Độ, Malaysia, Pakistan và Thái Lan đã khởi kiện Hoa Kỳ tại WTO. Theo các nước nguyên đơn, việc cấm vận của Hoa Kỳ dựa trên Điều 609 vi phạm Điều 2 của Hiệp định TBT, điều khoản này yêu cầu các thành viên cam kết bảo đảm sao cho việc xây dựng, thông qua và áp dụng các quy chuẩn kỹ thuật phải không nhằm mục đích và/ hoặc tạo ra rào cản không cần thiết cho thương mại quốc tế; vi phạm các Điều 1, 11 và 13 của GATT 1994, làm vô hiệu hóa và phương hại đến các lợi ích mà các nước nguyên đơn đáng lẽ được hưởng.

Cơ quan phúc thẩm của WTO (AB) cho rằng các biện pháp của Hoa Kỳ bảo vệ rùa biển là phù hợp với Điều 20 của GATT, tuy nhiên lại không phù hợp với nguyên tắc tối huệ quốc. Lý do là đã có sự phân biệt đối xử của Hoa Kỳ đối với các thành viên khác nhau của WTO. Báo cáo của cơ quan phúc thẩm của WTO cho thấy quyền bảo vệ môi trường của các quốc gia khi thông qua các biện pháp đơn phương, nhưng mặt khác trong vụ tranh chấp này, quốc gia áp dụng các biện pháp như vậy cũng thấy mình vi phạm nghĩa vụ của WTO. AB cũng nêu lên một thực tế là Hoa Kỳ trong quá trình đàm phán đã không hợp tác chặt chẽ với các nước thành viên WTO khác để làm rõ thế nào là dụng cụ đánh bắt tôm song không phải bắt rùa biển, việc chuyển giao công nghệ như vậy ra sao? Bên cạnh đó, không phải các nước thành viên nào cũng có thể đáp ứng ngay và cùng một lúc các yêu cầu mà Hoa Kỳ đặt ra. Vì vậy nếu có phải đáp ứng thì các thời hạn khác nhau cần được đưa ra cho các nước khác nhau. [46]

Thứ tư, thủ tục đánh giá sự phù hợp: Hiệp định TBT quy định rằng các hệ thống áp dụng để đánh giá sự phù hợp với các quy định kỹ thuật nên được xây dựng và áp dụng sao cho không tạo ra những cản trở đối với thương mại. Theo định hướng này, tại Điều 5 của Hiệp định, các thủ tục đánh giá sự phù hợp không nên được xây dựng và áp dụng cho các sản phẩm nhập khẩu theo các điều kiện kém ưu đãi hơn những quy định áp dụng cho các sản phẩm của nước nhập khẩu; cung cấp cho các nhà cung cấp nước ngoài khi họ có yêu cầu thông tin về thời gian giải quyết và các tài liệu yêu cầu để đánh giá sự phù hợp của sản phẩm mà họ muốn xuất khẩu; các loại phí áp dụng cho các nhà cung cấp nước ngoài cần phải được áp dụng tương đương các loại phí áp dụng cho sản phẩm có nguồn gốc nội địa; nơi đặt cơ quan đánh giá sự phù hợp và việc lấy mẫu thử không được tạo khó khăn bất tiện cho nhà cung cấp nước ngoài; các thủ tục đánh giá sự phù hợp phải có quy định về việc xem xét các khiếu nại trong quá trình thực hiện.

Tại sao WTO không tạo ra những biện pháp kỹ thuật thống nhất chung cho hàng hóa của tất cả các nước thành viên? Các biện pháp kỹ thuật thể hiện những mục tiêu khác nhau của mỗi nước (bảo vệ lợi ích công cộng, cam kết xã hội, thúc đẩy thương mại…) và cũng phản ánh những đặc trưng khác nhau của mỗi nước (đặc biệt về điều kiện địa lý, trình độ phát triển, nhu cầu thương mại và tài chính…). Vì thế, cho đến nay các nước thành viên WTO chưa thể thống nhất về một bộ các biện pháp kỹ thuật chung cho bất kỳ loại hàng hoá nào. Cũng vì lý do này mà Hiệp định TBT không phải là tập hợp các biện pháp kỹ thuật áp dụng trực tiếp, bắt buộc chung ở tất cả các nước thành viên cho từng loại hàng hoá mà chỉ đưa ra các nguyên tắc chung mà các nước phải tuân thủ khi thông qua và thực thi các biện pháp kỹ thuật đối với hàng hoá. Như vậy, Hiệp định TBT cho phép một nước thông qua các quy định, tiêu chuẩn về kỹ thuật và các thủ tục để đưa ra các biện pháp bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, Hiệp định gắn việc áp dụng những biện pháp nói trên với những yêu cầu cụ thể, trong số đó bao gồm tính rõ ràng, minh bạch và sự không phân biệt đối xử. Thông qua các quy định của TBT, các thành viên đã đưa ra những cố gắng để đảm bảo rằng các tiêu chuẩn và quy định kỹ thuật cũng như các thủ tục chứng nhận và kiểm tra sẽ không gây cản trở thương mại. Sự không phân biệt đối xử trong việc chuẩn bị chấp nhận và áp dụng các quy định, tiêu chuẩn về kỹ thuật, các thủ tục đánh giá là một trong những quy tắc chính của Hiệp định này. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Thứ năm, tính hài hòa: Hiệp định TBT cũng nhấn mạnh yêu cầu “hài hòa hoá” các biện pháp kỹ thuật giữa các nước theo hướng: khuyến khích các nước thành viên tham gia vào quá trình hài hoà hoá các tiêu chuẩn và sử dụng các tiêu chuẩn đã được chấp thuận chung làm cơ sở cho các biện pháp kỹ thuật nội địa của mình; khuyến khích các nước nhập khẩu thừa nhận kết quả kiểm định sự phù hợp với tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật áp dụng tại nước xuất khẩu. Việc hài hoà hoá các biện pháp kỹ thuật này được WTO khuyến khích bởi nó sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc lưu thông hàng hoá của doanh nghiệp và người sản xuất; người tiêu dùng cũng được lợi từ sự thống nhất này.

Tham gia các tổ chức tiêu chuẩn hóa quốc tế: Hiệp định TBT khuyến khích các nước sử dụng tiêu chuẩn quốc tế phù hợp với điều kiện nước mình, nhưng nó không đòi hỏi các nước thay đổi mức độ bảo vệ do sự tiêu chuẩn hóa này. Theo Điều 2.4 của Hiệp định, đối với các quy chuẩn kỹ thuật, nếu đã có những tiêu chuẩn kỹ thuật quốc tế chung liên quan thì các nước thành viên WTO phải áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế đó để xây dựng quy chuẩn kỹ thuật nội địa của mình. Quy định này tạo ra một sự thống nhất tương đối về quy chuẩn kỹ thuật đối với hàng hoá ở các nước khác nhau, vì thế tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà xuất khẩu (ví dụ khi doanh nghiệp xuất cùng một mặt hàng đi nhiều nước). Tuy nhiên, một nước có thể không sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế chung nếu các tiêu chuẩn này không hiệu quả và không thích hợp để đạt được mục tiêu quốc gia của mình. Trong trường hợp này, nếu quy chuẩn kỹ thuật dự kiến áp dụng có ảnh hưởng rõ rệt đến thương mại, nước thành viên có nghĩa vụ: Công bố dự thảo các quy chuẩn kỹ thuật; tạo cơ hội để các chủ thể liên quan được bình luận về dự thảo đó; cân nhắc các ý kiến bình luận trong quá trình hoàn thiện và thông qua các quy chuẩn kỹ thuật chính thức.

2.1.2. Hiệp định về các biện pháp kiểm dịch động thực vật (SPS) Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Trong WTO, biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật được hiểu là tất cả các quy định, điều kiện, yêu cầu bắt buộc có tác động đến thương mại quốc tế nhằm bảo vệ tính mạng, sức khoẻ của con người, vật nuôi, động thực vật thông qua việc bảo đảm an toàn thực phẩm và/hoặc ngăn chặn sự xâm nhập của các dịch bệnh có nguồn gốc từ động thực vật. Hình thức của các biện pháp SPS có thể rất đa dạng, ví dụ, đó có thể là yêu cầu về chất lượng, về bao bì, về quy trình đóng gói, phương tiện và cách thức vận chuyển động thực vật, kiểm dịch, phương pháp lấy mẫu, thống kê…

Hiệp định về áp dụng các biện pháp Vệ sinh Kiểm dịch động thực vật của WTO, gọi tắt là Hiệp định SPS, được ban hành và có hiệu lực vào ngày 01/01/1995. Hiệp định SPS liên quan đến sự áp dụng các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm, thú y và bảo vệ thực vật.

Mục đích cơ bản của Hiệp định SPS là duy trì quyền lợi tối cao của tất cả các nước thành viên, xây dựng mức bảo vệ sức khỏe và cuộc sống của con người, động thực vật thích hợp, nhưng vẫn phải đảm bảo rằng các quyền lợi này không bị lạm dụng với mục đích bảo hộ và không được tạo ra các rào cản thương mại quốc tế trá hình.

WTO cho phép áp dụng các biện pháp SPS ở mức cần thiết để bảo vệ sức khoẻ con người, động thực vật và môi trường. Không được sử dụng các biện pháp quá mức cần thiết nhằm ngăn cản thương mại, bảo hộ cho sản xuất trong nước.

  • Các nội dung chính của Hiệp định SPS là:

Khuyến khích các nước thành viên áp dụng tiêu chuẩn quốc tế, khu vực và thiết lập các biện pháp SPS phù hợp với các tiêu chuẩn, hướng dẫn của các tổ chức quốc tế: Ủy ban An toàn thực phẩm (CAC) hay còn gọi là Ủy ban Codex; Tổ chức Thú y thế giới (OIE) và Công ước Bảo vệ thực vật (IPPC), đây là ba tổ chức xây dựng tiêu chuẩn quốc tế được WTO công nhận và cho phép áp dụng trong Hiệp định SPS. (Khoản 4, Điều 3; Mục 3 phụ lục A của SPS).

Hiệp định SPS cho phép các nước tự lựa chọn không sử dụng các tiêu chuẩn quốc tế mà sử dụng các tiêu chuẩn quốc gia. Tuy nhiên, nếu tiêu chuẩn được lựa chọn gây cản trở thương mại hoặc cao hơn tiêu chuẩn quốc tế thì quốc gia đó phải đưa ra các bằng chứng khoa học (dựa trên kết quả đánh giá nguy cơ), chứng minh được tiêu chuẩn quốc tế liên quan không đảm bảo mức độ bảo vệ mà quốc gia đó cho là thích hợp. Ngoài ra, Hiệp định còn hướng dẫn cách bảo vệ khỏi những rủi ro do việc sử dụng các chất phụ gia, các chất bị ô nhiễm, các độc tố gây nên sự nhiễm bệnh trong lương thực, thực phẩm và đồ uống cũng như việc ngăn ngừa sự lan truyền của vi khuẩn. (Điều 3, Mục 1 Phụ lục A).

Các nước thành viên phải công nhận biện pháp SPS của nước thành viên khác là tương đương nếu nước xuất khẩu chứng minh được các biện pháp của mình đáp ứng được mức độ bảo vệ tương tự của nước nhập khẩu. Do đó, để thuận lợi trong thương mại, các nước đã ký kết các hiệp định song phương và đa phương về tương đương và công nhận lẫn nhau đối với các biện pháp SPS. (Điều 4). Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Hiệp định SPS cho phép các quốc gia công nhận vùng an toàn dịch bệnh và chấp nhận các quy định đối với các sản phẩm đến từ các vùng này. Tuy nhiên, Hiệp định nghiêm cấm việc phân biệt đối xử một cách tùy tiện trong việc áp dụng các biện pháp SPS, giữa các nhà sản xuất trong nước và các nhà xuất khẩu, giữa các nhà xuất khẩu nước ngoài khác nhau. (Điều 6; Khoản 2, 3 Điều 2; Mục 6 Phụ lục A). [37]

Các nước thành viên phải thông báo cho các nước khác các quy định SPS mới xây dựng hoặc sửa đổi có ảnh hưởng đến thương mại và phải minh bạch hóa việc áp dụng các quy định liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm, thú y và bảo vệ thực vật. Để đáp ứng yêu cầu này, các nước thiết lập Văn phòng thông báo và điểm hỏi đáp quốc gia về SPS.

Để xử lý vấn đề là khi khoa học chứng minh được sự nguy hại của sản phẩm nhất định đối với sức khỏe, cuộc sống của con người, động thực vật thì đã quá muộn, Hiệp định cho phép các nước thành viên áp dụng biện pháp phòng ngừa để bảo vệ môi trường. Cụ thể là các nước thành viên được phép áp dụng các biện pháp hạn chế nhập khẩu tạm thời đối với trường hợp chưa có đủ thông tin bằng chứng khoa học liên quan. Ví dụ: để ngăn chặn bệnh dịch SARS hay cúm H5N1, người ta có thể tiến hành các biện pháp ngăn chặn tại biên giới ngay từ lúc chưa xác định được đầy đủ và chính xác các thể của các virus liên quan, cách thức lây nhiễm cũng như hệ quả trực tiếp đến sức khoẻ…

Liên quan đến các yêu cầu về đặc tính sản phẩm, quy trình sản xuất, đóng gói… bên cạnh các “biện pháp kỹ thuật”, là các nhóm “biện pháp vệ sinh và kiểm dịch động thực vật”. Trên thực tế, có nhiều điểm giống nhau giữa hai nhóm biện pháp này. Tuy nhiên, WTO có quy định riêng cho mỗi nhóm, tập trung ở hai Hiệp định khác nhau, với các nguyên tắc khác nhau. Tiêu chí để phân biệt hai nhóm biện pháp này là mục tiêu áp dụng của chúng:

Các biện pháp SPS hướng tới mục tiêu cụ thể là bảo vệ cuộc sống, sức khoẻ con người, vật nuôi, động thực vật thông qua việc đảm bảo vệ sinh thực phẩm và ngăn chặn các dịch bệnh.

Các biện pháp TBT hướng tới nhiều mục tiêu chính sách khác nhau (an ninh quốc gia, môi trường, cạnh tranh lành mạnh…).

Ví dụ: Các quy định về thuốc sâu, quy định về lượng thuốc sâu trong thực phẩm hoặc trong thức ăn gia súc nhằm bảo vệ sức khoẻ con người hoặc động vật: Biện pháp SPS; quy định liên quan đến chất lượng, công năng của sản phẩm hoặc những rủi ro về sức khoẻ có thể xảy ra với người sử dụng: Biện pháp TBT.

Ví dụ: Các quy định về bao bì sản phẩm, quy định về hun khử trùng hoặc các biện pháp xử lý khác đối với bao bì sản phẩm (tẩy uế nhằm tránh lây lan dịch bệnh): Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Biện pháp SPS; quy định về kích thước, kiểu chữ in, các loại thông tin về thành phần, loại hàng trên bao bì: Biện pháp TBT.

Việc phân biệt khi nào một biện pháp là TBT hay SPS là rất quan trọng đối với doanh nghiệp bởi mỗi loại biện pháp sẽ chịu sự điều chỉnh của các nguyên tắc và quy định riêng của WTO; trên cơ sở đó, doanh nghiệp biết bảo vệ quyền lợi của mình bằng phương pháp nào thì thích hợp.

Để làm rõ hơn các quy định của Hiệp định SPS, phân tích sâu hơn khả năng áp dụng của các điều khoản nêu trên, sau đây là một Ví dụ: về “tranh chấp liên quan đến khiếu nại của Hoa Kỳ rằng Nhật Bản áp dụng các biện pháp vệ sinh dịch tễ nhằm hạn chế nhập khẩu táo của Hoa Kỳ là vi phạm các nghĩa vụ của Hiệp định SPS”:

Tóm tắt vụ tranh chấp: Nhật Bản đã áp dụng hạn chế kiểm dịch đối với táo Hoa Kỳ để ngăn chặn bệnh Fire Blight do một loại vi khuẩn có nguồn gốc Bắc Hoa Kỳ lan rộng ra nhiều khu vực của Châu Âu, Trung Đông, Úc và New Zealand. Vi khuẩn này xâm hại cả những loại cây trồng canh tác và cây mọc tự nhiên, bao gồm các loại cây ăn quả và các loại thực vật sử dụng trong vườn và bờ rào. Vào ngày 7/5, chính phủ Mỹ đề nghị WTO thành lập một uỷ ban để xem xét vấn đề hạn chế nhập khẩu của Nhật Bản.

Hoa Kỳ khiếu nại các biện pháp mà Nhật áp dụng không có “bằng chứng khoa học đầy đủ” trái với Điều 2.2 của Hiệp định SPS và rằng Nhật không đánh giá rủi ro để chứng tỏ việc áp dụng các biện pháp này cần thiết là vi phạm Điều 5.1 của Hiệp định.

Nhật Bản lập luận rằng trong trường hợp các biện pháp của họ chưa có “bằng chứng khoa học đầy đủ” theo Điều 2.2 của Hiệp định thì các biện pháp này là “các biện pháp tạm thời” theo Điều 5.7 của Hiệp định. Nhật Bản vẫn cho phép nhập khẩu táo Hoa Kỳ vào Nhật nếu các chuyến hàng được chuyên chở trực tiếp đến Nhật không qua bất cứ cảng nào và tuân thủ các tiêu chuẩn sau của Bộ Nông nghiệp, Thuỷ sản và Lâm nghiệp Nhật Bản: Táo Hoa Kỳ được trồng tại các vườn không bị nhiễm vi khuẩn Fire Blight đã được xác nhận (việc xác nhận dựa vào kiểm dịch); Vườn không có các loại cây bị nhiễm bệnh và bao quanh bởi một vùng đệm 500 m; Vườn và vùng đệm phải được kiểm dịch 3 lần một năm và sau mỗi cơn bão (kể cả mưa đá); táo thu hoạch, thùng đựng táo và bên trong phương tiện gói hàng phải được tiệt trùng theo phương pháp clo; táo xuất khẩu sang Nhật phải được tách riêng và chứng nhận bởi cán bộ bảo vệ thực vật của Hoa Kỳ về việc tiệt trùng và không có các loại vi khuẩn thuộc diện kiểm dịch… Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Hoa Kỳ cũng cho rằng không có chứng cứ nào cho thấy “táo chín và không có triệu chứng” có hoặc có thể là vật truyền nhiễm, ổ vi khuẩn hoặc phát tán vi khuẩn Fire Blight. Hoa Kỳ khiếu nại rằng bên này có bằng chứng khoa học về sự hiếm hoi có mặt vi khuẩn và trong các trường hợp đó, không có chứng cứ nào thể hiện rằng táo là tác nhân truyền nhiễm vi khuẩn.

Đối lại Hoa Kỳ, Nhật Bản cho rằng vi khuẩn Fire Blight có thể có cả ở trong những quả táo chín và không có triệu chứng, táo cũng là một tác nhân truyền bệnh. Nhật Bản cũng khiếu nại rằng việc lây nhiễm xuyên đại dương đã từng xảy ra.

Ban Hội thẩm đã xét nhiều bằng chứng chuyên gia của các bên và đã tham vấn các chuyên gia độc lập. Ban Hội thẩm thấy rằng các biện pháp của Nhật Bản, bao gồm các điều kiện cụ thể đối với táo xuất khẩu của Hoa Kỳ là không hợp lý với rủi ro và không có “đầy đủ bằng chứng khoa học” chứng minh rằng táo Hoa Kỳ có khả năng là vật chủ cho việc thâm nhập, là ổ bệnh hoặc phát tán vi khuẩn Fire Blight vào Nhật Bản.

Cơ quan Phúc thẩm bác bỏ lập luận của Nhật Bản rằng Ban Hội thẩm buộc phải cung cấp tiền lệ về cách tiếp cận đối với bằng chứng khoa học của nước nhập khẩu và rủi ro khi phân tích, đánh giá bằng chứng khoa học, xác định rằng Ban Hội thẩm đã không phạm sai lầm xét rằng “đầy đủ” được xác định trong từng trường hợp dựa vào mối quan hệ hợp lý giữa biện pháp SPS và bằng chứng khoa học.

Đến ngày 15/7/2003, Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) đã ra phán quyết khẳng định các biện pháp mà Nhật Bản áp dụng nhằm hạn chế nhập khẩu táo từ Mỹ là trái với các quy định của WTO tại Hiệp định của WTO về các biện pháp vệ sinh và vệ sinh thực vật. Nhật Bản đã áp dụng biện pháp hạn chế nhập khẩu không dựa trên cơ sở khoa học. Việc này đã buộc Nhật Bản phải gỡ bỏ các biện pháp hạn chế nhập khẩu đang được áp dụng đối với táo của Mỹ. [2]

Như vậy, từ việc nghiên cứu vụ tranh chấp cụ thể về việc thực hiện các quy định về an toàn sức khỏe gắn với thương mại và môi trường trong Hiệp định SPS, sẽ giúp Việt Nam nói riêng và các nước trong WTO nói chung bảo vệ được hàng nhập xuất khẩu của mình, tránh được rào cản thương mại; đồng thời quy định của Hiệp định là cơ sở pháp lý giúp các nước thành viên ngăn chặn hợp lý hàng hóa gây tác động xấu tới môi trường vào nước nhập khẩu.

2.1.3. Hiệp định nông nghiệp Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Hàng nông sản vốn là nhóm mặt hàng nhạy cảm trong thương mại quốc tế. Vì vậy, không dễ đạt được thoả thuận về mở cửa thị trường và cắt giảm các hình thức trợ cấp cho loại hàng hoá này.

Coi nông sản là loại hàng hóa nhạy cảm trong thương mại bởi hiện nay có rất nhiều lý do về kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội khiến chính sách đối với thương mại hàng nông sản trở nên đặc biệt “bảo thủ” so với các loại hàng hoá công nghiệp như: thương mại hàng nông sản đụng chạm đến lợi ích của một bộ phận dân cư vốn có thu nhập không cao ở cả các nước phát triển và các nước đang phát triển; mỗi nước đều có nhu cầu đảm bảo nguồn cung lương thực ổn định trong hoàn cảnh thế giới thường xuyên có biến động về thu hoạch và các nguy cơ nạn đói rình rập.

Sau nhiều Vòng đàm phán khó khăn, tại vòng đàm phán Uruguay ngày 1/1/1995, các nước đã thống nhất một cơ chế thương mại riêng cho hàng nông sản, thể hiện tại Hiệp định nông nghiệp. Hiệp định này được xây dựng nhằm mục đích mở rộng tự do hóa thương mại trong lĩnh vực hàng nông sản, tạo cơ sở cho các nước thành viên tiến hành cải cách các chính sách trong nước về thương mại hàng nông sản với việc đưa ra các cam kết về thị trường, cạnh tranh trong xuất khẩu và hỗ trợ sản xuất trong nước. Đặc biệt, Hiệp định cũng đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường.

Đoạn thứ 6 trong phần mở đầu của Hiệp định đã khẳng định sự cam kết của các nước thành viên trong việc cải cách nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường: “Ghi nhận rằng các cam kết trong chương trình cải cách cần phải đạt được một cách bình đẳng giữa tất cả các Thành viên, có xem xét đến các yếu tố phi thương mại, kể cả an ninh lương thực và nhu cầu bảo vệ môi trường, có xem xét đến thoả thuận rằng đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các nước đang phát triển là yếu tố không tách rời trong đàm phán, và có tính đến các hậu quả tiêu cực có thể có của việc thực hiện chương trình cải cách đối với các nước kém phát triển và các nước đang phát triển chủ yếu nhập lương thực”. [38]

Theo Hiệp định thì ngoài các vấn đề thương mại, các quốc gia chỉ có thể đưa ra các biện pháp bảo hộ nông sản dựa trên các lý do nhất định, bao gồm: Những vấn đề không liên quan đến thương mại (ví dụ như vấn đề an ninh lương thực quốc gia); bảo vệ môi trường; các hình thức đối xử đặc biệt và khác biệt đối với các nước đang phát triển; những tác động có thể xảy ra khi thực hiện chương trình cải cách mở cửa thị trường nông sản theo quy định tại Hiệp định (đối với các nước chậm phát triển và nước thuần tuý nhập khẩu lương thực). Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Trên thực tế, bảo vệ môi trường là một trong những biện pháp bảo hộ có phạm vi khá rộng, như vậy nước nhập khẩu hàng nông sản có tương đối nhiều cơ hội để ban hành những quy định không đi theo các nguyên tắc mở cửa thị trường nói chung. Hệ quả là chính sách nông sản của các nước có thể có các ngoại lệ nhất định (thường là bất lợi cho hàng nhập khẩu) mà doanh nghiệp khi xuất khẩu cần dự tính trước để xử lý kịp thời nếu gặp phải.

Vào năm 2001, Hiệp hội cá da trơn của Mỹ (catfish) phản ứng quyết liệt vì không cạnh tranh nổi về giá thành và chất lượng với cá tra Việt Nam. Nhằm bảo hộ cho sản xuất nội địa, Quốc hội Mỹ đã thông qua Luật về ghi nhãn cá catfish (cá tra Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ không được lấy tên và ghi nhãn hiệu là catfish). Việc bảo hộ này có tác dụng nhất thời đối với catfish, do lượng cá tra Việt Nam xuất khẩu sang Mỹ giảm đáng kể, vì phải đi theo một kênh tiêu thụ riêng, có lợi cho thủy sản Hoa Kỳ.

Ngược lại, đứng dưới góc độ sản xuất trong nước, doanh nghiệp nông sản cần quan tâm đến việc bảo vệ môi trường để có thể yêu cầu Chính phủ có biện pháp bảo hộ hợp lý trước hàng nông sản nước ngoài nhập khẩu mà vẫn tuân thủ WTO. Không phải đối phó với quy định ngặt nghèo về tên gọi như Mỹ, nhưng xuất khẩu cá tra sang thị trường Nga cũng bị gián đoạn do tình trạng lơi lỏng trong khâu kiểm soát chất lượng. Một trong những biện pháp bảo vệ môi trường của Nga là khi Nga mở cửa nhập khẩu trở lại (từ tháng 5/2009), đã đưa ra quy định về kiểm tra Listeria (tỷ lệ vi khuẩn gây nhiễm bệnh) đối với cá tra. Yêu cầu của Nga đặc biệt khắt khe, ngay cả thị trường được đánh giá là hết sức khó tính như EU cũng không đưa ra yêu cầu này đối với cá tra Việt Nam. [7]

Điều 14 của Hiệp định: “Các Thành viên nhất trí thực hiện Hiệp định về các biện pháp vệ sinh, kiểm dịch động thực vật …”[38]. Đây là sự thừa nhận và tuân thủ của các nước thành viên khi thực hiện hiệp định, điều này đồng nghĩa với việc khi các quốc gia thành viên trong quá trình thực hiện Hiệp định nông nghiệp cũng phải tuân thủ các quy định của hiệp định SPS về bảo vệ sức khỏe của người, động thực vật, bảo vệ môi trường.

Một trong những nỗ lực đáng ghi nhận nhất là cam kết cắt giảm bảo hộ đối với hàng nông sản nội địa, đặc biệt là các hình thức trợ cấp có liên quan đến quá trình sản xuất nông sản. Các thỏa thuận loại trừ của điều khoản này chính là điều kiện thuận lợi cho những nước đang phát triển. Các nhóm trợ cấp nông nghiệp theo quy định của Hiệp định nông nghiệp.

  • Nhóm trợ cấp trong nước:

Trợ cấp hộp màu xanh lá cây: là trợ cấp được phép, trợ cấp an toàn cho quá trình bảo vệ môi trường. Đặc điểm của các biện pháp hỗ trợ thuộc hộp xanh lá cây là do ngân sách chính phủ chi trả và không mang tính chất hỗ trợ giá. Theo đó, có thể thực hiện những hoạt động hỗ trợ theo các chương trình môi trường, bù đắp chi phí sản xuất phải tăng thêm hoặc sản lượng giảm đi do thực hiện các yêu cầu về môi trường.

Trợ cấp hộp màu xanh da trời: là trợ cấp không phải cắt giảm nếu đang áp dụng. Gồm các khoản chi trả trực tiếp từ ngân sách nhà nước mà gắn với sản xuất và thuộc các chương trình thu hẹp sản xuất nông nghiệp. Các nước không phải cam kết cắt giảm các biện pháp này. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Trợ cấp hộp màu hổ phách: Trợ cấp gây biến dạng thương mại, chỉ được phép nếu dưới các mức cụ thể. Gồm các biện pháp hỗ trợ bị coi là gây bóp méo sản xuất và thương mại, vì thế các nước phải cam kết cắt giảm theo một lộ trình nhất định. Các biện pháp được xếp vào hộp hổ phách có thể là hỗ trợ giá, trợ cấp gắn với sản xuất, tức là tất cả biện pháp hỗ trợ trong nước mà không nằm trong hộp xanh lá cây và xanh da trời. Nhóm trợ cấp này có thể ảnh hưởng trục tiếp tới việc bảo vệ môi trường.

Thực tế ở một số nước đang phát triển, đối với ngành nông nghiệp, một số hình thức trợ cấp được phép nhưng chưa áp dụng như chi cho các chương trình bảo vệ môi trường để hỗ trợ việc sản xuất ở các vùng có điều kiện bất lợi và các chính sách trong hộp xanh da trời (các nước đang phát triển không phải cam kết từ bỏ các hình thức chi trả trực tiếp nếu việc từ bỏ các khoản này dẫn đến thu hẹp việc sản xuất trên một diện tích đất đai cố định hoặc số lượng gia cầm cố định).

Trợ cấp xuất khẩu: Về nguyên tắc, WTO nghiêm cấm các hình thức trợ cấp xuất khẩu. Đối với các thành viên đã áp dụng trợ cấp xuất khẩu phải kê khai và cam kết cắt giảm cả về giá trị trợ cấp và khối lượng nông sản được nhận trợ cấp. Phụ lục 2 của Hiệp định quy định biện pháp trợ cấp liên quan đến bảo vệ môi trường: cung cấp tài chính trực tiếp cho nhà sản xuất và các chương trình hỗ trợ chính phủ trong lĩnh vực nghiên cứu và xây dựng hạ tầng kỹ thuật trong khuôn khổ các chương trình môi trường. Tiêu chuẩn để được trợ cấp tài chính trực tiếp căn cứ vào nội dung của các chương trình bảo tồn hoặc bảo vệ môi trường. Giá trị trợ cấp giới hạn trong khoảng các chi phí phụ trội hoặc khoản thu nhập bị bỏ lỡ để tuân thủ các nghĩa vụ theo các chương trình môi trường.

Điều 12, Phụ lục 2: Thanh toán theo các chương trình môi trường:

  • Quyền được hưởng thanh toán loại này được xác định như là một phần trong chương trình môi trường hoặc giữ gìn môi trường của chính phủ, và phụ thuộc vào việc hoàn thành các điều kiện cụ thể của chương trình, kể cả các điều kiện liên quan đến phương pháp hoặc đầu vào của sản xuất.
  • Trị giá thanh toán chỉ giới hạn trong mức chi phí phụ thêm hoặc tổn thất thu nhập do phải thực hiện các chương trình của Chính phủ. [38]

Các nước đang phát triển thành viên WTO hầu hết là những nước phụ thuộc khá nhiều vào sản xuất nông nghiệp. Đây được xem là nhóm chủ thể dễ bị tổn thương khi các nguyên tắc mở cửa thị trường trong nông nghiệp được thực thi. Vì vậy, Hiệp định nông nghiệp đã ghi nhận những quy định về biện pháp đối xử, mang tính ưu tiên cho các nhóm các nước thành viên này đặc biệt là các vấn đề bảo vệ môi trường trong quá trình sản xuất hàng nông sản.

Là nước đang phát triển, Việt Nam cũng được hưởng các ưu tiên này. Điều này đồng nghĩa với thị trường nông sản trong nước sẽ được mở cửa theo cam kết trong WTO nhưng là mở dần dần. Doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực này sẽ có thời gian để điều chỉnh dần khả năng cạnh tranh của mình. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

2.1.4. Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS)

Quyền sở hữu trí tuệ là một lĩnh vực riêng biệt, mang tính chuyên môn và không phải lúc nào cũng gắn với thương mại. Tuy nhiên, các quy định về việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ cũng như quá trình thực thi việc bảo hộ này trong nhiều trường hợp lại có ảnh hưởng lớn đến việc lưu chuyển, mua bán, sử dụng các sản phẩm trí tuệ. Ví dụ nếu một nước không bảo hộ hoặc bảo hộ lỏng lẻo các quyền sở hữu trí tuệ thì sẽ dẫn tới việc khuyến khích hàng giả, hàng nhái, gây thiệt hại cho chủ sở hữu quyền hay người giữ quyền hợp pháp, khiến các nhà đầu tư và kinh doanh e ngại trong việc nghiên cứu, đưa sản phẩm vào thị trường hoặc đầu tư sản xuất. Ngoài ra nếu mỗi quốc gia có một hệ thống bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ riêng thì sẽ rất phức tạp và gây ra cản trở lớn cho hoạt động thương mại quốc tế.

Hiệp định về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại (TRIPS) tại vòng đàm phán Urugoay được trông chờ sẽ khuyến khích các nghiên cứu, sáng tạo và tạo ra cơ hội tốt hơn cho việc tiếp cận các công nghệ mới, trong đó có các công nghệ về môi trường cho tất cả các nước trên thế giới. TRIPS đã xem xét các vấn đề về quyền sở hữu trí tuệ liên quan đến thương mại với mục đích giảm bớt những trở ngại trong thương mại quốc tế.

Tuy nhiên, Hiệp định cũng đề cập đến một số đối tượng mà các thành viên cần chú ý khi xem xét để cấp bằng bảo hộ sáng chế. Điều 27 cho phép các thành viên của WTO có thể từ chối cấp văn bằng cho những sáng chế cần phải bị cấm khai thác vì mục đích thương mại trong lãnh thổ của mình để bảo vệ trật tự công cộng, giữ gìn đạo đức xã hội, bảo vệ cuộc sống của con người, động, thực vật và để tránh gây tổn hại nghiêm trọng đến môi trường, cụ thể là:

“Điều 27 Đối tượng có khả năng được cấp Patent

  1. Tuỳ thuộc vào quy định tại các khoản 2 và khoản 3 sau đây, patent phải được cấp cho bất kỳ một sáng chế nào, dù là sản phẩm hoặc quy trình, thuộc mọi lĩnh vực công nghệ, với điều kiện sáng chế đó phải mới, có trình độ sáng tạo và có khả năng áp dụng công nghiệp. Tuỳ thuộc vào khoản 4 Điều 65, khoản 8 Điều 70 và khoản 3 Điều này, các patent phải được cấp và các quyền patent phải được hưởng không phân biệt nơi tạo ra sáng chế, lĩnh vực công nghệ và bất kể các sản phẩm được nhập khẩu hoặc được sản xuất trong nước.
  2. Các Thành viên có thể loại trừ không cấp patent cho những sáng chế cần phải bị cấm khai thác nhằm mục đích thương mại trong lãnh thổ của mình để bảo vệ trật tự công cộng hoặc đạo đức xã hội, kể cả để bảo vệ cuộc sống và sức khoẻ của con người và động vật hoặc thực vật hoặc để tránh gây nguy hại nghiêm trọng cho môi trường, với điều kiện những ngoại lệ đó được quy định không chỉ vì lý do duy nhất là việc khai thác các sáng chế tương ứng bị pháp luật của nước đó ngăn cấm. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.
  3. Các Thành viên cũng có thể loại trừ không cấp patent cho:
  4. Các phương pháp chẩn đoán bệnh, phương pháp nội và ngoại khoa để chữa bệnh cho người và động vật;
  5. Thực vật và động vật không phải là các chủng vi sinh, các quy trình sản xuất thực vật và động vật, chủ yếu mang tính chất sinh học và không phải là các quy trình phi sinh học hoặc vi sinh. Tuy nhiên, các Thành viên phải bảo hộ giống cây bằng hệ thống patent hoặc bằng một hệ thống riêng hữu hiệu, hoặc bằng sự kết hợp giữa hai hệ thống đó dưới bất kỳ hình thức nào. Các quy định tại điểm này phải được xem xét lại sau 4 năm kể từ khi Hiệp định WTO bắt đầu có hiệu lực.” [39]

Hiệp định cũng quy định các nước thành viên phải đảm bảo cho các giống cây trồng khác nhau nhằm mục đích đa dạng sinh học thông qua các văn bằng sáng chế hoặc các phương tiện hữu ích khác. Bảo vệ quyền sở hữu công nghiệp đối với giống cây trồng, các vật liệu nhân giống đã đặt ra những nghĩa vụ về môi trường trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, góp phần vào việc sử dụng bền vững các giống cây trồng, kiểm soát các loài sinh vật ngoại lai xâm hại môi trường.

Hiệp định TRIPS được thiết lập với mục tiêu tạo ra một mức chuẩn tương đối trong việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ ở tất cả các nước thành viên. Mặc dù vấn đề môi trường và bảo vệ môi trường được quy định hầu như rất ít và không trực tiếp tuy nhiên lại tạo ra những nguyên tắc, tiêu chuẩn và ảnh hưởng nhất định. Chẳng hạn các quy định đối với nhãn hiệu thương mại, đối tượng bảo hộ bao gồm bất kỳ một dấu hiệu hoặc tổ hợp các dấu hiệu nào có khả năng phân biệt hàng hoá và dịch vụ của một doanh nghiệp với hàng hoá và dịch vụ của doanh nghiệp khác, ví dụ: “…từ, bao gồm cả tên cá nhân, chữ, số, các yếu tố hình và sự kết hợp các mầu sắc cũng như bất kỳ sự kết hợp nào của các yếu tố đó…” (Điều 15) [39]. Các nhà sản xuất có quyển sử dụng nhãn hiệu trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh, không cho phép người khác sử dụng nhãn hiệu trùng hoặc tương tự đến mức gây nhầm lẫn với nhãn hiệu của mình… Nhãn hiệu được khuyến khích để các nhà sản xuất áp dụng nhằm tạo ra những sản phẩm thân thiện với môi trường đồng thời nhắc nhở người tiêu dùng về ý thức bảo vệ môi trường bằng cách chọn mua những sản phẩm đã được dán nhãn. Bên cạnh đó, để được cấp bằng bảo hộ nhãn hiệu, các nhà sản xuất cũng cần phải đáp ứng những điều kiện nhất định, do đó các nhà sản xuất cần phải đầu tư thêm các chi phí để nâng cấp cải tạo hoặc thay thế toàn bộ dây chuyền sản xuất cũ và đương nhiên giá thành hàng hoá sẽ bị ảnh hưởng. Còn nếu không thì hàng hoá của họ sẽ không thể thâm nhập được vào thị trường nước yêu cầu dán nhãn.

Việc thực hiện các cam kết về sở hữu trí tuệ đã góp phần tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh cho các doanh nghiệp của các nước thành viên. Các quy định của TRIPS đã làm hạn chế đáng kể tình trạng hàng giả, hàng nhái và các hành vi vi phạm quyền sở hữu trí tuệ, qua đó tạo tâm lý yên tâm tin tưởng cho cả nhà sản xuất và người tiêu dùng. Một khi quyền sở hữu công nghiệp của nhà sản xuất, doanh nghiệp được bảo đảm thì họ sẽ chú trọng hơn vào việc sáng tạo, nâng cao chất lượng sản phẩm. Người tiêu dùng cũng được tăng cường cơ hội tiêu dùng sản phẩm chất lượng cao và giảm thiểu nguy cơ trở thành nạn nhân của hàng giả, hàng lậu. Đây cũng là mục tiêu của việc bảo vệ môi trường trong quá trình tự dó hóa thương mại.

Trên đây là một số vấn đề liên quan đến bảo vệ môi trường mà TRIPS gián tiếp quy định. Tuân thủ các nguyên tắc và tiêu chuẩn tối thiểu về bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ trong TRIPS là nghĩa vụ bắt buộc đối với các nước thành viên WTO. Doanh nghiệp lại là đối tượng chịu tác động của các quy định mà các nước thành viên ban hành để thực hiện TRIPS. Vì vậy doanh nghiệp cũng cần có hiểu biết cơ bản về TRIPS để định hướng biện pháp thích hợp bảo vệ các lợi ích của mình cũng như xác định chiến lược kinh doanh thích hợp trong những trường hợp khác. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

2.1.5. Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng

Trong WTO, trợ cấp được hiểu là bất kỳ hỗ trợ tài chính nào của Nhà nước hoặc một tổ chức công (trung ương hoặc địa phương) dưới một trong các hình thức sau mang lại lợi ích cho doanh nghiệp, ngành sản xuất: Hỗ trợ trực tiếp bằng tiền chuyển ngay (ví dụ cấp vốn, cho vay, góp cổ phần) hoặc hứa chuyển (ví dụ bảo lãnh cho các khoản vay); miễn hoặc cho qua những khoản thu lẽ ra phải đóng (ví dụ ưu đãi thuế, tín dụng); mua hàng, cung cấp các dịch vụ hoặc hàng hoá (trừ cơ sở hạ tầng chung); thanh toán tiền cho một nhà tài trợ hoặc giao cho một đơn vị tư nhân tiến hành các hoạt động nêu trên theo cách thức mà Chính phủ vẫn làm.

Hiệp định về trợ cấp và các biện pháp đối kháng được áp dụng với các lĩnh vực phi nông nghiệp. Hiệp định chia trợ cấp thành ba loại: Trợ cấp đèn đỏ là trợ cấp hoàn toàn và có thể là đối tượng của các biện pháp đối kháng do các nước khác áp dụng; trợ cấp đèn vàng là trợ cấp không bị cấm nhưng cũng có thể là đối tượng của các biện pháp đối kháng; trợ cấp đèn xanh là trợ cấp không bị cấm và do đó không phải là đối tượng của các biện pháp đối kháng.

Điều 8 của Hiệp định quy định về trợ cấp không bị cấm, hay còn gọi là các trợ cấp được phép. Điều 8.2, điểm c: “hỗ trợ nhằm xúc tiến nâng cấp những phương tiện hạ tầng hiện có cho phù hợp với yêu cầu mới về môi trường do luật pháp, hay các quy định đặt ra, làm cho các hãng phải chịu khó khăn hoặc gánh nặng tài chính lớn hơn” [40].

Như vậy, trợ cấp đèn xanh gồm có trợ cấp phát triển khu vực và bảo vệ môi trường mang tính đặc thù. Chức năng của trợ cấp là giúp đỡ các ngành công nghiệp, nông nghiệp và các ngành khác khắc phục ô nhiễm môi trường trong điều kiện, khi tình trạng ô nhiễm môi trường quá nặng nề hoặc khả năng tài chính của doanh nghiệp không chịu đựng được đối với việc phải xử lý ô nhiễm môi trường.

Sự việc hàng xuất khẩu của Việt Nam phải đối mặt với một vụ điều tra chống trợ cấp túi nhựa PE khi xuất khẩu sang Hoa Kỳ là một bài học cho Việt Nam cũng như các quốc gia có nền kinh tế đang phát triển khi các nước này phải đối phó với những rào cản hợp pháp mà các nước nhập khẩu thường xuyên sử dụng để bảo vệ ngành sản xuất nội địa của mình. Sau 1 năm điều tra, ngày 26/3/2010 Bộ Thương mại Hoa Kỳ (DOC) ra đã kết luận cuối cùng khẳng định có trợ cấp đối với túi nhựa PE Việt Nam. Cuối tháng 4/2010, Ủy ban Thương mại Quốc tế Hoa Kỳ (ITC) ra kết luận cuối cùng khẳng định có thiệt hại (đối với ngành túi nhựa PE Hoa Kỳ). Như vậy túi nhựa PE của Việt Nam đã chính thức bị áp thuế chống trợ cấp [42]. Đây là lần đầu tiên Việt Nam bị kiện chống trợ cấp. Vì vậy các kết luận của DOC về từng chương trình trợ cấp bị cáo buộc trong vụ việc này có ý nghĩa quan trọng không chỉ đối với vụ việc hiện tại mà còn mang tính định hướng các quyết định của DOC trong các vụ việc trong tương lai, nếu có.

Trợ cấp bảo vệ môi trường hỗ trợ ngành công nghiệp nâng cấp thiết bị hiện có nhằm đáp ứng tốt hơn các tiêu chuẩn môi trường theo quy định của pháp luật và được phép sử dụng trợ cấp này khi việc nâng cấp đó sẽ gây ra gánh nặng rất lớn về tài chính cho một công ty. Tuy vậy, trợ cấp chỉ được áp dụng duy nhất một lần, không vượt quá 20% chi phí; không bù đắp giá của việc thay thế hay đưa vào hoạt động các thiết bị xử lý, gắn liền với kế hoạch giảm thiểu ô nhiễm môi trường của công ty.

2.1.6. Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS) Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Hiệp định chung về thương mại và dịch vụ (GATS) lần đầu tiên được đưa ra thương thảo tại vòng đàm phán Uruguay và đã trở thành một bộ phận không thể tách rời trong hệ thống pháp lý của WTO. Mục đích chính của GATS là tạo ra khuôn khổ pháp lý cho tự do hóa thương mại dịch vụ. Các nước thành viên đưa ra các cam kết về việc mở cửa thị trường dịch vụ không phân biệt đối xử trên cơ sở điều chỉnh luật trong nước. Việc điều chỉnh luật sẽ được tiến hành từng bước, hướng tới xóa bỏ hoàn toàn mọi hạn chế đối với các sản phẩm dịch vụ nhập khẩu cũng như đối với nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài khi tiến hành cung cấp dịch vụ theo các phương thức khác nhau. Đồng thời mỗi thành viên phải dành cho nhà cung cấp dịch vụ của các thành viên khác đối xử không kém ưu đãi hơn đối xử mà nước này dành cho một nước thứ ba.

Theo Điều 14 của Hiệp định, các nước thành viên WTO không bị ngăn cản trong việc chấp thuận hoặc thực thi các biện pháp cần thiết để bảo vệ con người, động vật. Tuy nhiên, việc áp dụng các biện pháp này không được gây ra sự phân biệt đối xử hay tạo nên một hình thức hạn chế trá hình đối với thương mại dịch vụ [41]. Vấn đề bảo vệ môi trường vẫn tiếp tục được quy định trong GATS như yếu tố không thể thiếu của tự do hóa thương mại.

Các dịch vụ môi trường trong GATS gồm có 4 ngành: dịch vụ nước thải, dịch vụ chất thải, dịch vụ vệ sinh dịch tễ và các dịch vụ tương tự, các dịch vụ khác (có thể gồm dịch vụ tẩy sạch khí, dịch vụ hạn chế tiếng ồn, dịch vụ bảo vệ cảnh quan thiên nhiên và các dịch vụ bảo vệ môi trường khác). Cách phân loại này tập trung nhiều vào những dịch vụ liên quan tới việc xử lý các hậu quả về môi trường; các loại hình dịch vụ được cung cấp trong quá trình hoạt động của các trang thiết bị, máy móc, nhà xưởng và các dịch vụ cung cấp cho cộng đồng. Dịch vụ môi trường được đặt trong ngành công nghiệp môi trường có tính linh hoạt và gắn kết cao; các công nghệ và sản phẩm nhằm làm giảm rủi ro và giảm thiểu sự ô nhiễm lãng phí các nguồn lực; dịch vụ môi trường được xác định là những dịch vụ được cung cấp để xác định, ngăn chặn, hạn chế, giảm thiểu hoặc khắc phục những thiệt hại môi trường xảy ra đối với đất, nước, không khí, cũng như những vấn đề liên quan tới chất thải, tiếng ồn và hệ sinh thái.

Tiềm lực kinh tế mạnh sẽ tạo nguồn lực tài chính cần thiết cho công tác bảo vệ môi trường, phát triển và tăng cường thể chế bảo vệ môi trường, tạo thuận lợi cho việc trao đổi công nghệ và phát triển các dịch vụ môi trường. Song, đây cũng là một động lực gia tăng cạnh tranh, thúc đẩy khai thác nhiều hơn các nguồn tài nguyên thiên nhiên, những vấn đề về dịch chuyển công nghệ lạc hậu và rác thải xuyên biên giới, như vậy sẽ mang đến cho môi trường nhiều thách thức… Để gắn kết vấn đề bảo vệ môi trường vào chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế và tự do hoá thương mại, đảm bảo phát triển kinh tế đi đôi với tăng cường công tác bảo vệ môi trường các quốc gia thành viên cần có những cam kết tích cực trong quá trình tham gia và thực thi GATS.

Việc tự do hóa các dịch vụ về môi trường trong khuôn khổ GATS sẽ có tác động tích cực đến bảo vệ môi trường như giúp cho chất lượng dịch vụ tốt hơn, các loại hình dịch vụ được phát triển phong phú đa dạng hơn và kết quả là chất lượng môi trường được cải thiện. Tuy nhiên việc này mới chỉ có 22 nước thành viên WTO cam kết mở cửa dịch vụ môi trường, trong đó nhiều nước không cam kết đối với phương thức cung cấp qua biên giới và phương thức di chuyển thể nhân.

Như vậy, các cam kết của các thành viên WTO để phát triển bền vững và môi trường được thể hiện rất rõ trong các quy định nêu trên. Với các nguyên tắc cơ bản về phân biệt đối xử, minh bạch, dự báo giúp thiết lập các khuôn khổ cho các thành viên để thiết kế và thực hiện các biện pháp giải quyết vấn đề môi trường. Với các thỏa thuận mang tính chuyên ngành như các quy định về sản phẩm, vệ sinh dịch tễ… tạo nên phạm vi cho các mục tiêu môi trường phải được tuân theo và cho thương mại liên quan đến các biện pháp cần thiết để được thông qua.

2.2. Một số điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường có liên quan tới hoạt động thương mại quốc tế Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Cho đến thời điểm hiện nay đã có trên 140 hiệp định quốc tế về môi trường và các công cụ quốc tế về lĩnh vực môi trường, trong số đó có khoảng 20 hiệp định có các quy định liên quan đến thương mại quốc tế. Các biện pháp môi trường trong các hiệp định môi trường quốc tế được áp dụng đối với việc vận chuyển buôn bán, trao đổi, khai thác các sản phẩm có ảnh hưởng đến môi trường như chất thải độc hại, động vật hoang dã, các nguồn gen thực động vật, các chất phá huỷ tầng ô dôn…

Nhìn chung, các nghĩa vụ của các thành viên tham gia các hiệp định để kiểm soát thương mại được thể hiện dưới hình thức cấm nhập khẩu hoặc xuất khẩu. Các quy định và biện pháp thương mại trong các hiệp định môi trường đa phương được áp dụng vì những lý do khác nhau, tuỳ thuộc vào mục tiêu chung của mỗi hiệp định. Trong mỗi hiệp định đều nhằm 4 mục đích chính như sau:

Tạo ra khung khổ pháp lý cho các thành viên tham gia thị trường: Như đã từng đề cập, thương mại có thể là nguồn gốc của nhiều vấn đề môi trường, do đó việc giải quyết các vấn đề môi trường không thể tách rời việc áp dụng các biện pháp quản lý thương mại. Một khía cạnh khác là các hạn chế thương mại có thể dễ được chấp nhận hơn. Khi được áp dụng đối với tất cả các thành viên trên một thị trường nhất định, các hạn chế thương mại vì mục đích bảo vệ người tiêu dùng hoặc bảo vệ các nguồn tài nguyên môi trường có thể được chấp nhận như một điều kiện cạnh tranh chung mà họ phải chấp nhận khi tham gia thị trường.

Đóng vai trò ngăn chặn, phòng ngừa các nguy cơ môi trường: Trong thực tế, các biện pháp thương mại được sử dụng để ngăn chặn các nguy cơ môi trường. Ví dụ: một nước có thể áp dụng hạn chế về kích cỡ tôm hùm được phép nhập khẩu (không nhập khẩu tôm quá bé) nhằm mục đích bảo vệ trữ lượng tôm ở các vùng biển quốc tế. Các nước có thể cấm buôn bán vận chuyển các chất thải nguy hại nhằm ngăn chặn nguy cơ môi trường do các chất này gây ra (công ước Basel).

Kiểm soát thị trường và định hướng tiêu dùng: Thị trường có thể có nhu cầu cao đối với một số sản phẩm nhưng việc đáp ứng nhu cầu của thị trường có thể dẫn tới cạn kiệt các nguồn lực môi trường. Rất khó có thể xác định được trị giá của nguồn lực. Đó chính là những ý tưởng lôgic đằng sau các Công ước CITES và CBD;

Đảm bảo sự tuân thủ: Các biện pháp thương mại có thể gây sức ép buộc các nước phải tuân thủ và thực hiện mục tiêu của các MEAs. Việc hạn chế buôn bán các sản phẩm có chứa chất gây thủng tầng ô dôn của Nghị định thư Montreal giữa các nước tham gia và không tham gia Nghị định thư là một ví dụ điển hình. Nó tạo sức ép buộc các nước loại bỏ các chất nêu trên trong sản phẩm của mình hoặc đáp ứng những điều kiện nhất định để tham gia Nghị định thư nếu không muốn giảm kim ngạch thương mại. [48]

Dưới đây là nội dung của một số công ước về môi trường trong đó có các quy định liên quan đến thương mại:

2.2.1. Công ước về buôn bán các loài động, thực vật hoang dã nguy cấp (CITES) Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Hiện nay, trên thế giới đang diễn ra việc buôn bán quốc tế lớn về thực và động vật đã chết hay còn sống, bao gồm: khoảng 500.000 con vẹt sống, 10 triệu da loài bò sát, 10 triệu cây xương rồng, 350 triệu cá cảnh, 50 triệu lông thú… mỗi năm. Buôn bán bất hợp pháp động vật hoang dã mang lại siêu lợi nhuận như buôn bán chất gây nghiện. Việc buôn bán khăn choàng làm từ lông của loài Linh dương Tây Tạng là hoàn toàn bất hợp pháp nhưng lại có thể bán được đến 20,000 Euros, hoặc trứng cá muối từ loài cá tầm có thể bán với giá 8,000 euro/kg ở chợ bán lẻ [43]. Các phương tiện thông tin đại chúng đang nói đến rất nhiều nguy cơ tuyệt chủng của các loài động vật như hổ, voi… do đó nhu cầu về một công ước quốc tế giải quyết vấn đề thương mại đối với những loài động, thực vật này trở nên rõ ràng. Tuy vậy, vào những năm 1960, khi ý tưởng về CITES được đưa ra thì vấn đề còn hết sức mới mẻ. Với mức độ khai thác sử dụng vào mục đích thương mại cao như hiện nay, cùng với nhiều nhân tố khác, nhiều loài động thực vật bị đẩy đến bờ vực tuyệt chủng. Thậm chí, đối với những loài chưa bị đẩy đến nguy cơ tuyệt chủng, sự tồn tại của một công ước như thế nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của thương mại, bảo vệ nguồn tài nguyên cho tương lai là rất quan trọng.

Ngày 1 tháng 7 năm 1975, CITES chính thức có hiệu lực. CITES được coi là một trong những Hiệp định đa phương về môi trường ra đời sớm nhất. CITES ràng buộc trách nhiệm của các nước thành viên tham gia. CITES đưa ra một khuôn khổ mà các nước thành viên phải tuân thủ thông qua hệ thống luật pháp quốc gia của mình. CITES yêu cầu các hoạt động nhập khẩu, xuất khẩu, tái xuất khẩu (xuất khẩu các loài đã được nhập khẩu) các loài chịu sự điều chỉnh của Công ước đều phải được thực hiện thông qua hệ thống cấp phép, hạn ngạch và nhãn mác xuất xứ.

Mục đích của nó là đảm bảo rằng các hoạt động mua bán động vật hoang dã không đe dọa sự sống của chúng. Công ước đang bảo vệ cho hơn 30.000 loài. Ngay từ lời nói đầu của Công ước, đã thể hiện được mục đích của của các nước thành viên:

“Nhận thức được rằng những loài động vật và thực vật hoang dã với vẻ đẹp phong phú và đa dạng của chúng là một phần không thể thay thế của những hệ sinh thái tự nhiên của Trái đất, chúng phải được bảo vệ cho thế hệ hôm nay và những thế hệ mai sau. Ý thức được giá trị to lớn của động và thực vật hoang dã về mặt thẩm mỹ, khoa học, văn hoá, giải trí và kinh tế. Nhận thức được rằng các dân tộc và các Chính phủ phải là những người bảo vệ tốt nhất hệ động, thực vật cần thiết khỏi hiện tượng khai thác quá mức thông qua buôn bán quốc tế. Ý thức được rằng phải có những biện pháp thích hợp cho các mục tiêu trên là cấp bách.” [4]

Công ước đề ra các nguyên tắc cơ bản cho những loài bị đe dọa tuyệt diệt do hoặc có thể do buôn bán, việc buôn mẫu vật của những loài ấy phải tuân theo những quy chế nghiêm ngặt để không tiếp tục đe dọa sự tồn tại của chúng và chỉ có thể thực hiện được trong những trường hợp ngoại lệ; đối với những loài mặc dù chưa bị đe dọa tuyệt diệt nhưng có thể dẫn đến đó nếu việc buôn bán những mẫu vật của những loài đó không tuân theo những quy chế nghiêm ngặt nhằm tránh việc sử dụng không phù hợp với sự tồn tại của chúng. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Theo Điều 8, đối với các quốc gia là thành viên cần tiến hành những biện pháp thích hợp để thi hành có hiệu lực các điều khoản của Công ước và để cấm buôn bán các mẫu vật vi phạm Công ước như: Phạt việc buôn bán hoặc lưu giữ các mẫu vật, hoặc cả hai; Tịch thu hoặc trả lại cho nước xuất khẩu các mẫu vật đó; khi cần thiết, các nước thành viên có thể bằng phương pháp thanh toán nội bộ để chi trả cho những chi phí do hậu quả của việc tịch thu mẫu vật kinh doanh vi phạm những biện pháp sử dụng để thực hiện các điều khoản của CITES, thực hiện chế độ báo cáo thường kỳ việc thực thi Công ước… Mỗi nước đều có nhiệm vụ thiết lập một hệ thống giấy phép riêng của mình để kiểm soát sự di chuyển cuộc sống của các loài hoang dã xuất khẩu và nhập khẩu. Đồng thời, có nhiệm vụ chỉ định một cơ quan quản lý để điều khiển hệ thống giấy phép đó và một cơ quan khoa học nghiên cứu xác định xem việc buôn bán có thể làm hại đến sự tồn tại của các loài hay không.

Công ước này có 3 Phụ lục, trong đó đưa ra danh mục các loại với các cấp độ cần bảo vệ khác nhau:

  • Phụ lục 1: Bao gồm các loại có nguy cơ bị tuyệt chủng. Thương mại đối với các loài này chỉ được phép trong một số trường hợp ngoại lệ;
  • Phụ lục 2: Bao gồm các loài chưa có nguy cơ tuyệt chủng nhưng cần phải kiểm soát thương mại nhằm tránh việc khai thác bừa bãi;
  • Phụ lục 3: Bao gồm các loài được bảo vệ tại ít nhất một quốc gia.

Mỗi nước tham gia phải có một hoặc một vài cơ quan quản lý chuyên trách giám sát hệ thống cấp phép và một vài cơ quan khoa học tư vấn cho các cơ quan chuyên trách tác động của thương mại đối với các loài động thực vật.

Một loài động vật thuộc diện điều chỉnh của CITES chỉ có thể được nhập khẩu, xuất khẩu hoặc tái xuất khẩu từ nước thành viên khi các tài liệu phù hợp được xuất trình khi thông quan tại cửa khẩu. Mới đây, Công ước còn bổ sung thêm biện pháp mới là đình chỉ thương mại tất cả các loài thuộc sự điều chỉnh của CITES đối với những thành viên nào không nộp báo cáo hàng năm trong 3 năm liên tiếp.

Công ước quy định các bên tham gia nếu có tranh chấp gì thì phải giải quyết thông qua đàm phán. Nếu đàm phán không có kết quả, hai bên thống nhất đưa tranh chấp ra trọng tài quốc tế tại La Hay. Phán quyết của trọng tài có giá trị ràng buộc các bên tranh chấp. Cho đến nay vẫn chưa có tranh chấp nào xảy ra. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Quy định của CITES có tác động đáng kể đến thị trường quốc tế về các loài động thực vật nói chung và những loài đang lâm nguy nói riêng. Việc kiểm soát xuất khẩu và kiểm soát nhập khẩu, từng việc kiểm soát này sẽ làm giảm số lượng buôn bán nhưng sẽ có tác động đến giá cả. Kiểm soát xuất khẩu làm tăng chi phí xuất khẩu, từ đó dẫn tới số lượng các loài càng giảm đi, phương pháp để giảm buôn bán cũng dẫn đến giá cả tăng. Mặt khác khi kiểm soát nhập khẩu làm cho giá cả giảm xuống. Thông thường khi kiểm soát nhập khẩu có tác động giảm yêu cầu về loài được nhập khẩu, dẫn đến số lượng giảm xuống và giá cả cũng giảm xuống. Hiệu ứng của việc giảm giá này làm giảm sự khuyến khích, dẫn đến sức ép giảm xuống về thu hoạch và sự giảm đi của các loài. Điều này được chứng minh ở một số sự việc như: nhờ vào kết quả cấm nhập khẩu ngà voi làm cho giá ngà voi của thế giới giảm xuống nhiều, do đó đã làm giảm áp lực săn voi của những kẻ săn trộm ở nhiều nơi của Châu Phi.

CITES được coi là một công ước đa phương thành công. Kể từ khi CITES chính thức có hiệu lực, chưa có một loài nào bị tuyệt chủng do thương mại gây nên. Tính đến cuối tháng 12 năm 2002, CITES đã có 160 nước thành viên. Việt Nam là nước thứ 121 tham gia Công ước này. Việt Nam ký kết Công ước vào ngày 20 tháng 1 năm 1994 và Công ước chính thức có hiệu lực với Việt Nam từ ngày 20 tháng 4 năm 1994.

2.2.2. Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô dôn

Ô dôn nằm trong tầng bình lưu cách mặt đất từ 10 đến 50 km. Các phân tử ô dôn được hình thành từ ba nguyên tử ôxy. Tầng ô dôn có vai trò đặc biệt trong việc bảo vệ mặt đất khỏi những tác động có hại của tia cực tím. Do đó, bất kỳ sự suy giảm nào của ô dôn trên tầng bình lưu cũng có thể gây ra bức xạ của tia cực tím đến bề mặt trái đất. Bức xạ của tia cực tím lên bề mặt trái đất có thể gia tăng bệnh ung thư da, giảm khả năng miễn dịch, tăng các bệnh về mắt…

Năm 1928, các nhà khoa học phát hiện ra rằng các chất Chlorofluorocarbon được tìm thấy trong hoá chất, bột giặt, tủ lạnh, máy điều hoà, dung môi, chất cứu hoả… có thể tồn tại rất lâu và khi những chất này bay đến tầng bình lưu thì chúng có khả năng phá huỷ tầng ô dôn. Năm 1985, thông qua thực nghiệm, các nhà khoa học khẳng định rằng có “lỗ thủng ô dôn” tại Nam Cực và có chiều hướng ngày càng lớn.

Ngày 16/09/1987, Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ô dôn được ký kết. Nghị định thư được xây dựng một cách rất linh hoạt trong đó có quan tâm đến nhu cầu phát triển của các nhóm nước, đặc biệt là các nước đang phát triển. Mục tiêu cuối cùng của Nghị định thư là xoá bỏ các chất gây suy giảm tầng ô dôn (ODS). Nghị định thư này có hiệu lực vào ngày 01/01/1989 với sự tham gia của 29 nước và Cộng đồng Châu Âu, chiếm khoảng 82% lượng tiêu thụ toàn thế giới của các chất gây tổn hại đến tầng ô dôn. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Cốt lõi của Nghị định thư này là cơ chế giám sát sản xuất và tiêu thụ các ODS. Nghị định thư quy định 3 nhóm sản phẩm cần kiểm soát là các ODS, các sản phẩm có chứa ODS, các sản phẩm trong quá trình sản xuất có sử dụng nhưng thành phần cuối cùng không có các ODS. Ban đầu, Nghị định thư đưa tám hoá chất vào danh mục kiểm soát trong đó gồm có 5 chất chlorofluorocarbons (CFC) và 3 chất halon. Cả sản xuất và tiêu thụ các chất CFC phải được cắt giảm 50% từ năm 1986 đến năm 1998, trong khi đó sản xuất và tiêu thụ 3 chất halon kể từ năm 1993 phải dừng ở năm 1986. Lịch trình cắt giảm cụ thể cho từng năm cũng được đưa ra. Bốn lần sửa đổi của Nghị định thư đã liên tục đưa ra thời hạn và mở rộng phạm vi điều chỉnh đối với các chất làm suy giảm tầng ô dôn khác.

Các biện pháp thương mại được sử dụng như một công cụ nhằm đạt được lịch trình xoá bỏ ODS. Các biện pháp này gồm có việc kiểm soát thương mại giữa các nước thành viên thông qua công thức tính tiêu thụ ODS:

Sản xuất cộng nhập khẩu trừ đi lượng xuất khẩu (xuất nhập khẩu các ODS tái sử dụng được khuyến khích, do đó không tính vào lượng tiêu thụ ODS); cấm nhập khẩu ODS và các sản phẩm có chứa ODS từ các nước không phải thành viên, cấm xuất khẩu ODS cho các nước không phải thành viên; thoả thuận hệ thống cấp phép cho thương mại các ODS giữa các nước thành viên nhằm tránh thương mại phi pháp, tự nguyện thông báo các sản phẩm có chứa ODS mà một thành viên không muốn nhập khẩu.

  • Nghị định thư có một số các quy định chính như sau:

Đưa ra thời hạn cắt giảm và xoá bỏ 96 ODS; các nước đang phát triển có giai đoạn chuyển đổi 10 năm. Nghị định thư cũng cho phép các nước đang phát triển có thể sản xuất trên 15% mức họ đã đưa ra cam kết nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng cơ bản của các nước đang phát triển.

Ngoài ra, Nghị định thư cũng có những quy định nhằm hợp lý hoá ngành công nghiệp sản xuất các chất có hại này bằng cách cho phép các bên tham gia chuyển đổi sản xuất cho nhau. Kể từ năm 1993, xuất khẩu từ một nước tham gia Nghị định thư vào một nước không tham gia cũng bị tính vào tổng lượng tiêu thụ chung của nước tham gia nhằm khuyến khích các nước xuất khẩu thuyết phục các nước bạn hàng của mình cùng tham gia vào Nghị định thư.

Nghị định thư không quy định các chính sách và biện pháp cụ thể nào nhằm đạt được các mục tiêu đề ra. Do đó, tại các bên tham gia áp dụng rất nhiều các biện pháp chính sách khác nhau nhằm thực hiện nghĩa vụ của Nghị định thư bao gồm: thuế cho các chất làm suy giảm tầng ô dôn, định lượng sản xuất, hạn ngạch nhập khẩu (trong một số trường hợp có thể chuyển nhượng được), cấm nhập khẩu, giấy phép nhập khẩu, xuất khẩu và sản xuất, yêu cầu nhãn mác sản phẩm, tiêu chuẩn kỹ thuật của sản phẩm, cấm tiêu thụ, các thoả thuận tự nguyện với ngành công nghiệp, và phát triển các vật liệu thay thế. Các biện pháp thương mại được áp dụng trong các biện pháp chính sách hỗn hợp nhằm kiểm soát sản xuất và tiêu thụ trong nước cũng như xuất nhập khẩu. [16]

Cho đến nay, Nghị định thư Montreal được đánh giá là Hiệp định đa phương về môi trường thành công nhất. Theo báo cáo gần đây của UNEP, Nghị định thư Montreal đã góp phần làm giảm 88% ODS và 84% các chất halons (so với mức giữa những năm 1980) [48]. Với tốc độ này, hy vọng đến khoảng năm 2050 lỗ hổng ô dôn tại Nam Cực sẽ được hồi phục. Cùng với sự tham gia của hơn 180 nước, cho tới nay chỉ có một số rất ít nước với khoảng 100 triệu người dân không tham gia Nghị định thư Montreal. Không có nước nào trong số này là nước sản xuất hay tiêu thụ chính các ODS. Đa số đều là những nước nhỏ hoặc mới thành lập. Tất cả các nước thành viên của WTO đều tham gia Nghị định thư Montreal.

2.2.3. Công ước về kiểm soát vận chuyển qua biên giới các phế thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng (BASEL) Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Vào cuối những năm 1980, những quy định chặt chẽ về môi trường tại các nước công nghiệp phát triển dẫn đến chi phí xử lý rác thải nguy hiểm tăng đột biến. Để tiết kiệm chi phí xử lý rác thải, các nhà kinh doanh của các nước này đã vận chuyển rác thải nguy hiểm sang các nước đang phát triển và các nước Đông Âu. Khi các hoạt động này bị tiết lộ và ngày càng trở nên nghiêm trọng, Công ước Basel ra đời vào năm 1989 tại Basel, Thuỵ Sỹ trước sự lên tiếng của các nước đang phát triển trước tình hình bị các nước phát triển biến thành “bãi rác thải độc hại”. Năm 1992, Công ước Basel chính thức có hiệu lực. Năm 1995, bổ sung danh mục cấm xuất khẩu các chất thải độc hại vì bất kỳ lý do nào từ các nước thành viên liên minh Châu Âu (EU), tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế (OECD), tới tất cả các thành viên khác của Công ước.

Nhằm đạt được mục đích giảm khối lượng, độ độc hại của các chất thải được sản sinh, khuyến khích huỷ bỏ chất thải càng gần nơi sản sinh càng tốt, bảo đảm cho chất thải được quản lý một cách tốt nhất để bảo vệ môi trường, ngay từ lời nói đầu của Công ước đã thể hiện:

Tuy không cấm buôn bán các chất này nhưng đặt ra những yêu cầu về buôn bán, nhất là các yêu cầu về thông tin. Công ước đề ra bổn phận cho từng nước là phải cấm xuất khẩu bất cứ chất thải nguy hại nào, trừ trường hợp các nhà chức trách có thẩm quyền về quản lý chất nguy hại của nước nhập khẩu đồng ý bằng văn bản về việc nhập khẩu các chất này và phải có đảm bảo là nước nhập khẩu sẽ có những biện pháp thích hợp để khử bỏ chất thải. Công ước còn có các điều khoản về thông báo, hợp tác về các vấn đề trách nhiệm pháp lý, truyền đạt những thông tin chủ yếu… [5]

Công ước nhìn nhận rằng, những thiệt hại mà các phế thải nguy hiểm và các phế thải khác cũng như việc vận chuyển chúng qua biên giới có thể gây ra đối với sức khỏe con người và môi trường. Việc sản xuất ra nhiều phế thải nguy hiểm và các phế thải khác và việc vận chuyển chúng qua các biên giới là đe dọa ngày càng tăng đối với sức khỏe con người. Công ước yêu cầu các quốc gia phải giám sát để bảo đảm rằng những người sản xuất phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ liên quan đến việc vận chuyển và tiêu hủy các phế thải nguy hại hiểm ác và các loại phế thải khác một cách phù hợp với việc bảo vệ môi trường, bất kể nơi tiêu hủy chúng ở đâu. Các quốc gia có quyền cấm việc đưa vào hoặc tiêu hủy các phế thải của nước ngoài trên lãnh thổ nước mình.

Năm 1998, nhóm công tác kỹ thuật của Công ước Basel đã thống nhất danh mục phân loại các chất thải độc hại và không độc hại. Danh mục này được các nước thành viên thông qua và từ đó làm rõ phạm vi điều chỉnh của Công ước.

Năm 1999, Tuyên bố Bộ trưởng (Tuyên bố Basel) đã đưa ra phương hướng hoạt động cho thập kỷ tiếp theo. Trong suốt thập kỷ đầu tiên (1989 đến 1999), Công ước cơ bản đưa ra một khung pháp lý kiểm soát sự di chuyển “xuyên qua biên giới” của các chất thải nguy hiểm. Công ước cũng phát triển tiêu chí “quản lý môi trường bền vững”.

Một hệ thống kiểm soát dựa trên các thông báo trước bằng văn bản cũng được đưa vào sử dụng. Giai đoạn 2000 đến 2010, Công ước sẽ xây dựng khuôn khổ nhằm thực thi đầy đủ các cam kết. Mặt khác, Công ước cũng sẽ tập trung làm giảm thiểu việc sản xuất ra các chất thải độc hại cả về mặt số lượng lẫn mức độ độc hại. Hội nghị Bộ trưởng tháng 12 năm 1999 đã đặt ra các hoạt động cho giai đoạn này như sau: Chủ động phát triển và sử dụng công nghệ và phương pháp sản xuất sạch hơn; tiếp tục giảm vận chuyển các chất thải và chất thải độc hại; ngăn chặn và giám sát buôn lậu; tăng cường năng lực kỹ thuật và thể chế đến thông qua công nghệ phù hợp, đặc biệt cho các nước đang phát triển và các nước có nền kinh tế chuyển đổi; phát triển hơn nữa các trung tâm đào tạo chuyển giao công nghệ vùng và tiểu vùng.

  • Một số quy định liên quan đến thương mại trong Công ước cụ thể như sau:

Điều 4 của Công ước quy định các bên tham gia có quyền cấm nhập khẩu các chất thải độc hại. Đối với các chất thải mà một bên tham gia không cấm nhập khẩu một cách cụ thể thì bên tham gia xuất khẩu sẽ cấm xuất khẩu nếu nước nhập khẩu không có văn bản cụ thể đồng ý nhập khẩu; Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Nước xuất khẩu cũng có thể cấm xuất khẩu nếu họ có đủ bằng chứng cho thấy nước nhập khẩu không thể xử lý một cách bền vững với môi trường;

Công ước cũng cấm xuất nhập khẩu chất thải độc hại với các nước không phải thành viên của Công ước, không được xuất khẩu rác thải đến vùng Nam Cực và cần phải đáp ứng các yêu cầu về nhãn mác, đóng gói và vận chuyển các chất thải độc hại;

Các nước xuất khẩu phải được sự chấp thuận của nước nhập khẩu. Nước xuất khẩu phải có trách nhiệm nhập khẩu lại nếu rác thải không được xử lý một cách bền vững với môi trường. [5]

Cũng tương tự như các Hiệp định đa phương về môi trường khác, Công ước Basel quy định các tranh chấp phải được giải quyết thông qua tham vấn và đàm phán trước khi đưa ra trọng tài hay toà án quốc tế.

2.2.4. Công ước về đa dạng sinh học

Công ước đa dạng sinh học là một hiệp ước khung được thông qua tại Hội nghị thượng đỉnh về môi trường và phát triển bền vững năm 1992 tại Rio de Janero (Brazin), có hiệu lực từ ngày 29/12/1993. Công ước này có 135 thành viên. Mục tiêu của Công ước là bảo vệ đa dạng sinh học, sử dụng lâu dài các cấu thành của đa dạng sinh học, chia sẻ công bằng và tương thích các lợi ích xuất phát từ việc sử dụng các nguồn gen.

Để đạt được mục tiêu trên, nội dung cơ bản của Công ước tập trung vào bảo tồn đa dạng sinh học và sử dụng bền vững các thành phần của đa dạng sinh học; tiếp cận và chuyển giao công nghệ; quản lý công nghệ sinh học và chia sẻ lợi ích. Ngoài ra, Công ước cũng quy định về các biện pháp khuyến khích bảo vệ đa dạng sinh học, hợp tác quốc tế; trao đổi thông tin; các nguồn tài chính và cơ chế tài chính, v.v… trong việc bảo tồn và phát triển bền vững đa dạng sinh học trên phạm vi toàn cầu.

Thực hiện các nội dung trên, các nước cam kết tiến hành một số hoạt động chính như: xây dựng hệ thống khu bảo tồn, trong đó tiến hành các biện pháp cần thiết để bảo tồn và phát triển bền vững các hệ sinh thái; bảo tồn và phát triển bền vững các loài sinh vật và tài nguyên di truyền; kiểm soát và quản lý rủi ro của sinh vật biến đổi gen đối với môi trường, đa dạng sinh học và sức khoẻ con người; kiểm soát các loài sinh vật ngoại lai xâm hại môi trường.

Nội dung của Công ước không trực tiếp đề cập về các biện pháp thương mại và cũng không quy định trực tiếp về việc áp dụng các biện pháp thương mại cụ thể. Tuy nhiên, Công ước bao gồm một số quy định mà theo cách diễn giải chung thì chúng đòi hỏi phải áp dụng các biện pháp cụ thể và những biện pháp này có thể gây ảnh hưởng đối với thương mại. Ngoài ra, một số quy định có mối quan hệ chặt chẽ với một số Công ước thương mại quốc tế. Dưới đây là một số quy định có liên quan tới việc áp dụng các biện pháp thương mại cụ thể. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Điều 8 của Công ước quy định: “mỗi bên tham gia Công ước phải tôn trọng, bảo tồn và duy trì các kiến thức, sáng kiến và tập tục truyền thống của cộng đồng người bản xứ và địa phương liên quan đến việc bảo tồn và khai thác bền vững sự đa dạng sinh học. Các bên phải ngăn chặn, kiểm soát hoặc loại trừ tận gốc các loài sinh vật lạ đe doạ hệ sinh thái.”

Theo Điều 10 của Công ước: “các bên tham gia phải có những biện pháp để ngăn chặn hoặc giảm thiểu ảnh hưởng bất lợi đối với đa dạng sinh học, bảo vệ và khuyến khích các biện pháp truyền thống để thực hiện mục tiêu khai thác bền vững các yếu tố của đa dạng sinh học.

Điều 14 của Công ước quy định “các bên tham gia phải áp dụng các thủ tục đánh giá tác động môi trường đối với các dự án có nguy cơ gây ảnh hưởng tới đa dạng sinh học, và xúc tiến các biện pháp trong nước để phản ứng khẩn cấp trước những hoạt động hoặc sự việc có nguy cơ ảnh hưởng xấu tới đa dạng sinh học.” [6]

Nhìn chung, các quy định của Công ước mặc dù không quy định cụ thể về các biện pháp thương mại được áp dụng nhưng việc đặt ra những nghĩa vụ về môi trường (cụ thể là bảo vệ và khai thác bền vững đa dạng sinh học) tạo điều kiện cho các bên tham gia Công ước có quyền lựa chọn và áp dụng những biện pháp phù hợp với mình, trong đó có những biện pháp hạn chế thương mại.

Tóm lại, sự tham gia đông đảo vào các Công ước quốc tế về môi trường chứng tỏ hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng, các chính sách thương mại, tài nguyên và môi trường có vai trò hỗ trợ lẫn nhau, nhằm thúc đẩy phát triển bền vững và thực sự nó đang nỗ lực giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. Do đó, một quốc gia để đạt được mục tiêu trở thành một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định, bền vững cần khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên.

2.3. Quy định của pháp luật một số nước về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

2.3.1. Hoa Kỳ

Hoa Kỳ là một thị trường lớn, hoạt động xuất khẩu hàng hóa vào Hoa Kỳ phải chịu sự điều tiết bởi hệ thống luật chặt chẽ, chi tiết, hết sức phức tạp. Một số quy định của pháp luật Hoa Kỳ về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế được áp dụng như sau:

2.3.1.1. Một số luật về môi trường

Hoa Kỳ thường sử dụng các đạo luật hạn chế nhập khẩu nhằm khuyến khích việc bảo vệ các loài động vật như cá heo, các loài cá, chim và các loài có nguy cơ tuyệt chủng khác như:

Luật bảo vệ các loài động vật biển có vú năm 1972 (MMAP): Luật này được ban hành năm 1972 cấm nhập khẩu động vật biển có vú và các sản phẩm của các loài động vật này, trừ một số ít trường hợp đặc biệt như vì mục đích nghiên cứu khoa học. Luật này cũng dành quyền cho Bộ trưởng Tài chính cấm nhập khẩu cá hoặc các sản phẩm chế biến từ cá được đánh bắt bằng kỹ thuật dẫn đến làm chết hoặc bị thương nghiêm trọng các loài động vật có vú ở đại dương vượt quá mức tiêu chuẩn của Hoa Kỳ.

Luật bảo tồn cá heo quốc tế: Luật này uỷ quyền cho Bộ trưởng Ngoại giao Hoa Kỳ ký kết các thỏa thuận quốc tế tạm ngừng trên phạm vi toàn cầu trong thời gian ít nhất là 5 năm bắt đầu từ 1/3/1994 tập quán cố ý bao vây cá heo bằng lưới quét trong khi đánh bắt cá ngừ. Những qui định về cấm vận nhập khẩu vào Hoa Kỳ theo Luật MMPA sẽ không áp dụng với những nước ký kết thỏa thuận tạm ngừng nói trên với Hoa Kỳ. Tuy nhiên, Luật này cũng dành quyền cho Tổng thống chỉ đạo Bộ Tài chính cấm nhập khẩu một số mặt hàng từ nước đã ký thỏa thuận tạm ngừng nói trên với Hoa Kỳ song sau đó lại không thực hiện. Bộ Thương mại có trách nhiệm theo dõi thực hiện các thoả thuận tạm ngừng.

Luật chương trình bảo tồn cá heo quốc tế 1997: Luật này được ban hành năm 1997 sửa đổi Luật MMPA cho phép nhập khẩu tự do vào Hoa Kỳ cá ngừ vây vàng và sản phẩm chế biến cá này từ các nước tham gia Tuyên bố Panama, một thỏa thuận quốc tế ký năm 1995 về chương trình bảo tồn cá heo quốc tế. Các sản phẩm nhập khẩu vào Hoa Kỳ theo Luật này phải có ký hiệu “an toàn cá heo” (dolphin-safe). Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Luật thực thi lệnh cấm đánh cá ngoài khơi xa bằng lưới quét: Luật này được ban hành năm 1992 nhằm hỗ trợ cho việc thực thi trên phạm vi quốc tế Nghị quyết của Liên hiệp quốc cấm đánh bắt cá bằng lưới quét qui mô lớn ở ngoài khơi xa sau ngày 31/12/1992. Theo Luật này, Bộ Thương mại có trách nhiệm định kỳ phát hiện và báo cáo lên Tổng thống những nước vi phạm lệnh cấm của Liên hiệp quốc, Trong vòng 30 ngày sau khi nhận được báo cáo của Bộ Thương mại, Tổng thống phải tiến hành tham vấn với nước bị phát hiện vi phạm để thỏa thuận chấm dứt ngay lập tức vi phạm đó. Nếu trong vòng 90 ngày tham vấn không đạt được kết quả thỏa đáng thì Tổng thống sẽ chỉ đạo Bộ trưởng Tài chính cấm nhập khẩu các loại thủy sản có vỏ (tôm, cua, sò, hến…), cá và các sản phẩm cá, và thiết bị câu cá thể thao từ nước liên quan. Nếu nước vi phạm không chấm dứt việc đánh bắt bằng lưới quét qui mô lớn trong vòng 6 tháng sau khi bị phát hiện hoặc có hành động trả đũa đối với lệnh cấm nhập ban đầu của Hoa Kỳ thì nước đó sẽ bị cấm vận thêm các mặt hàng khác.

Đạo luật bảo vệ các loài chim tự nhiên năm 1992: Bộ trưởng Nội vụ được quyền cấm nhập khẩu các loại chim hiếm được ghi trong các phụ lục của Công ước thương mại quốc tế về buôn bán động vật có nguy cơ bị diệt chủng. [33]

2.3.1.2. Các quy định về tiêu chuẩn vệ sinh dịch tễ

Để bảo vệ lợi ích kinh tế, an ninh, sức khỏe người tiêu dùng và bảo tồn động thực vật trong nước, Chính phủ và Hải quan Hoa Kỳ đưa ra những đạo luật quy định về vệ sinh dịch tễ hoặc tiêu chuẩn kỹ thuật nhằm hạn chế hoặc cấm một số loại hàng hóa nhập khẩu vào thị trường Hoa Kỳ.

Cơ quan quản lý Thực phẩm và Dược phẩm (FDA) chịu trách nhiệm quản lý nhà nước về nhập khẩu thực phẩm vào Hoa kỳ. Các quy định của FDA về nhập khẩu thực phẩm rất nhiều và chặt chẽ. Theo luật, thực phẩm nhập khẩu thuộc quyền quản lý của FDA sẽ phải được FDA kiểm tra tại cảng đến trước khi được phép nhập khẩu vào thị trường. Nếu hàng bị phát hiện không phù hợp với quy định hiện hành thì có thể bị giữ lại tại cửa khẩu. FDA có thể cho phép tái chế lô hàng cho phù hợp trước khi có quyết định cuối cùng cho phép nhập lô hàng. Tuy nhiên, mọi công việc tuyển lựa lại, tái chế hoặc làm lại nhãn hàng phải được tiến hành dưới sự giám sát của nhân viên FDA. Mọi chi phí liên quan do người nhập khẩu chịu. Nếu hàng đã được tái chế hoặc làm lại nhãn mà vẫn không đạt yêu cầu thì FDA sẽ yêu cầu tái xuất hoặc tiêu hủy.

Việc cho phép tái chế là ưu đãi mà FDA có thể giành cho người nhập khẩu chứ không phải quyền đương nhiên các nhà nhập khẩu được hưởng. Vì vậy, nếu người nhập khẩu tiếp tục có các chuyến hàng tương tự không phù hợp, thì sẽ có nguy cơ bị FDA coi là lạm dụng ưu đãi và sẽ không tiếp tục cho phép người nhập khẩu tái chế hàng. Thay vào đó FDA sẽ yêu cầu người nhập khẩu hủy hoặc tái xuất khẩu lô hàng. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

  • Các mặt hàng nông sản:

Pho mát, sữa và các sản phẩm sữa: Phải tuân theo các yêu cầu của Cơ quan quản lý thực phẩm và Dược phẩm (FDA) và của Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ và hầu hết phải xin giấy phép nhập khẩu và quản lý bằng hạn ngạch của Vụ quản lý đối ngoại (FAS) thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ.

Nhập khẩu sữa và kem phải tuân theo các điều luật về nhập khẩu sữa. Các sản phẩm này chỉ được nhập khẩu bởi những người có giấy phép nhập khẩu do các cơ quan: Bộ Y tế, FDA, Trung tâm an toàn thực phẩm và dinh dưỡng, Văn phòng nhãn hiệu thực phẩm và Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ cấp.

Hoa quả, rau và hạt các loại: phải qua giám định và được cấp giấy chứng nhận của Cơ quan giám định và an toàn thực phẩm thuộc bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Các điều kiện hạn chế khác có thể được áp đặt bởi Cơ quan giám định thực vật và động vật thuộc Bộ Nông nghiệp theo Luật kiểm dịch thực vật (Plan Quarantine Act) và cơ quan FDA theo Luật thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm Liên bang (Federal Food, Drug and Cosmetic Act).

Động vật sống, thịt và các sản phẩm thịt: phải đáp ứng các điều kiện về giám định và kiểm dịch của cơ quan giám định động và thực vật (APHIS), Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ. Các loại trên phải có giấy phép nhập khẩu của APHIS trước khi giao hàng từ nước xuất xứ. Nhập khẩu các động vật phải kèm theo chứng chỉ sức khỏe của chúng và chỉ được đưa vào qua một số cảng nhất định nơi có các cơ sở kiểm dịch. Động thực vật hoang dã và vật nuôi cảnh hoặc bất kỳ bộ phận hay sản phẩm của chúng kể cả trứng chim phải xin phép Cơ quan kiểm soát cá và động thực vật hoang dã (US Fish and Wildlife service), trung tâm kiểm dịch thuộc Bộ Y tế và cơ quan thú y của APHIS thuộc Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ.

Cây và các sản phẩm từ cây: phải tuân theo các quy định của Bộ Nông nghiệp, có thể bị hạn chế hoặc cấm hoặc đòi hỏi có giấy phép nhập khẩu. Việc nhập khẩu hạt rau và các hạt giống nông sản phải tuân theo quy định của Luật hạt thực vật Liên bang năm 1939 (Federal Seed Act) và các quy định của Cục tiêu thụ nông sản (Agricultural Marketing Service) thuộc Bộ Nông nghiệp.

  • Hàng tiêu dùng:

Các mặt hàng như đồ điện gia dụng, hàng điện tử… phải tuân theo quy định của Bộ Năng lượng, Hội đồng thương mại Liên bang, Điều luật: “The Energy Policy and Convention Act”, Luật Quản lý bức xạ cho sức khỏe và an toàn năm 1968 (Radiation Cotrol for health and Safety Act).

Thực phẩm, thuốc chữa bệnh, mỹ phẩm và trang bị y tế: phải tuân theo các quy định của Luật về thực phẩm, dược phẩm và mỹ phẩm liên bang (Federal, Food, Drug and Consmetic Act) do Cơ quan quản lý thực phẩm và dược phẩm (FAS) của Bộ Y tế quản lý. [32] Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Thực phẩm làm giả, kém chất lượng hoặc bị coi là bất hợp pháp và không được phép tiêu thụ và nhập khẩu vào Hoa Kỳ. Mặt hàng thực phẩm bị coi là hàng giả kém phẩm chất trong các trường hợp sau: có tạp chất độc hoặc có khả năng gây hại lẫn vào trong quá trình sản xuất hoặc chế biến hoặc tự nhiên phát sinh; có chứa chất phụ gia mà trước khi đưa vào sử dụng FDA đã xác định là không an toàn; có dư lượng thuốc trừ sâu không được phép sử dụng, hoặc vượt quá mức theo quy định của Cơ quan Bảo vệ Môi trường (EPA); dùng các chất phẩm màu không được FDA chứng nhận; có thành phần bị coi là bẩn, ôi thiu, bị phân hủy; sản phẩm từ động vật có bệnh hay chết không phải do giết mổ; sản phẩm được chế biến, đóng gói, hoặc lưu giữ trong điều kiện không vệ sinh mà có thể bị ô nhiễm do bẩn hoặc gây hại cho sức khỏe; hàng đựng trong vật liệu bao bì có chứa chất độc hoặc chất có hại. Một số vật liệu bao bì được coi là chất phụ gia và phải tuân theo các quy định về chất phụ gia.

Theo Luật liên bang về Thực phẩm, Dược phẩm và Mỹ phẩm Hoa Kỳ, thực phẩm phải được chế biến tại các cơ sở đảm bảo vệ sinh, không nhiễm bẩn (ví dụ: lông chuột, phân, xác và phân côn trùng, ký sinh trùng). Thực phẩm bị bẩn được coi là hàng kém phẩm chất, bất kể nó có hại cho sức khỏe hay không và các phòng thí nghiệm có giám định có phát hiện ra các chất bẩn này hay không. Luật pháp không cho phép lưu thông các loại hàng bất hợp pháp bất kể nguồn gốc từ đâu. Người nhập khẩu phải đảm bảo các sản phẩm của mình phải được đóng gói và vận chuyển sao cho không bị giảm phẩm chất do bị hư hỏng hoặc bị ô nghiễm trên đường vận chuyển.

Hải sản: phải tuân theo các quy định của Cơ quan ngư nghiệp quốc gia (National Marinie Fisheries Service) thuộc Cục quản lý môi trường và biển thuộc Bộ Thương mại.

Hàng dệt, len, sản phẩm lông thú: phải tuân theo quy định trong Luật xác định sản phẩm may mặc (Textile Fiber Products Indentification Act); Luật nhãn hiệu hàng len năm 1939 (Wool Products Labeling Act 1939); Luật nhãn hiệu hàng lông thú (Fur Products Label Act).

Rượu cồn, bia: phải xin phép văn phòng Rượu, Thuốc lá và Vũ khí thuộc Bộ Tài chính. Ngoài ra còn phải tuân theo Luật quản lý Rượu của Liên bang (Federal Alcohol Administration Act) và cấm nhập rượu, bia qua đường bưu điện. Các nhãn hiệu dán trên chai rượu cồn, rượu vang và bia phải xin chứng chỉ phê duyệt nhãn hiệu của Văn phòng Rượu, Thuốc lá và Vũ khí. Chứng chỉ này xin hoặc ảnh chụp nhãn hiệu phải gửi cho Hải quan trước khi nhận hàng. Ngoài ra nhập khẩu rượu và bia còn phải tuân theo các quy định của cơ quan FDA thuộc Bộ Y tế. Nếu nhập khẩu rượu kèm giỏ đựng chai làm từ chất liệu là cây thì phải theo các quy định thực vật của cơ quan APHIS thuộc Bộ Nông nghiệp. Trên nhãn hiệu phải ghi chú rõ phụ nữ không uống rượu khi có thai; không uống rượu khi lái xe hoặc vận hành máy; uống rượu có hại cho sức khỏe… [32]

2.3.1.3. Quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật, chất lượng sản phẩm Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Căn cứ vào Hiệp định đa biên về những trở ngại kỹ thuật đối với hàng hóa trong khuôn khổ GATT, Luật về các hiệp định thương mại năm 1979 của Hoa Kỳ đã đưa ra những quy định việc áp dụng các tiêu chuẩn và thủ tục xin cấp giấy chứng nhận chất lượng sản phẩm tại Hoa Kỳ. Tuy vậy, những quy định đó được Hoa Kỳ áp dụng làm phương tiện để phân biệt đối xử với các loại hàng nhập. Chế độ cấp giấy chứng nhận hàng phù hợp tiêu chuẩn cũng được dùng để hạn chế hàng nhập hoặc phân biệt đối xử. Thực chất đây là hàng rào phi thuế quan để Hoa Kỳ bảo hộ hợp lệ cho sản xuất trong nước.

Chính sách của Hoa Kỳ về áp dụng các tiêu chuẩn kỹ thuật và thủ tục quy trình công nhận chất lượng hàng nhập khẩu dựa trên Hiệp định hàng rào kỹ thuật đối với thương mại của vòng đàm phán Uruguay cùng với Luật áp dụng các hiệp định của WTO và chương 9 của Hiệp định thương mại tự do Bắc Mỹ và các văn bản luật áp dụng hiệp định này.

Được áp dụng vì mục đích an toàn sức khoẻ đối với sản phẩm nhập khẩu với số lượng lớn, gồm: thực phẩm, đồ uống, thuốc lá, mỹ phẩm, thuốc, thiết bị y tế, máy X-quang và xe có động cơ. Nói chung, các hàng hóa được bán ở thị trường Hoa Kỳ dù là sản phẩm nội địa hay nhập khẩu đều phải đáp ứng được những đòi hỏi của Nhà nước về nhãn hiệu, độ an toàn và đảm bảo sức khoẻ. Nhà sản xuất nhất thiết phải chịu trách nhiệm đối với việc đáp ứng những yêu cầu trên khi đưa sản phẩm ra thị trường. Các cơ quan chức năng sẽ tiến hành những biện pháp cưỡng bức nếu những quy định trên bị vi phạm.

Hệ thống quy định về tiêu chuẩn kỹ thuật có thể do Uỷ ban cố vấn khu vực tư nhân cấp liên bang, tiểu bang, quận huyện đưa ra. Một số tiêu chuẩn do công ty bảo hiểm tư nhân đòi hỏi, sản phẩm muốn được các công ty này bảo hiểm phải thoả mãn các tiêu chuẩn của họ đề ra.

Các tiêu chuẩn này có thể bao gồm các thông số, đặc điểm cho mỗi loại hàng hoá. Ví dụ như: Quy định về an toàn và đảm bảo sức khỏe người tiêu dùng. Đặc biệt là nhóm hàng công; Bắt buộc nước xuất khẩu phải thực hiện đầy đủ quy trình sản xuất theo tiêu chuẩn của hệ thống HACCP; Mỹ áp dụng theo tiêu chuẩn quốc tế đối với các nhà sản xuất sử dụng lao động theo độ tuổi, được phép đảm bảo quyền lợi và chế độ bồi thường cho người lao động và cho phép họ thực hiện quyền tự do hội họp và tham gia vào các hiệp hội khác nhau; Quy định về bảo vệ môi trường dựa theo tiêu chuẩn ISO 19000. Trong đó các nhà sản xuất phải tuân thủ các yêu cầu về thực hiện trách nhiệm xử lý môi trường và việc sử dụng nguyên liệu không làm mất cân bằng sinh thái và các sản phẩm sản xuất ra phải đảm bảo đạt các tính chất không gây ô nhiễm môi trường; Quy định về tiêu chuẩn chất lượng của hàng hóa được áp dụng theo tiêu chuẩn ISO 9000. Đây cũng không phải là tiêu chuẩn bắt buộc đối với hàng hóa xuất khẩu vào Mỹ. Mặc dù tuân thủ theo các thông số kỹ thuật này có thể không phải là bắt buộc nhưng những ai không tuân thủ thì thị trường tẩy chay.

2.3.1.4. Quy định về xuất xứ và ký mã hiệu hàng hoá

  • Ký mã hiệu hàng hoá: Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Nếu hàng hoá không được ghi mã hiệu phù hợp tại thời điểm làm thủ tục nhập khẩu, người nhập khẩu phải nộp một khoản thuế ký mã hiệu bằng 10% trị giá hải quan của mặt hàng đó, trừ khi lô hàng đó được tái xuất, tiêu huỷ, hoặc được ghi mã hiệu lại dưới sự giám sát của hải quan, trước khi lô hàng bị thanh lý.

  • Nhãn hiệu, thương hiệu, bản quyền:

Đạo luật về Nhãn hiệu năm 1946 và Đạo luật Thuế quan năm 1930: Cấm nhập khẩu các hàng ghi mã hiệu, nhãn hiệu có nơi nhận giả, hoặc mô tả giả mạo, kể cả việc dùng những chữ hoặc biểu tượng nhằm giả mạo việc mô tả hàng hoá. Việc bóc, tháo, che phủ hoặc thay đổi các ký hiệu tên nước xuất sứ sau khi ra nhận hàng sẽ bị xử phạt theo luật hình sự.

Luật Hải quan Hoa Kỳ quy định mặt hàng do nước ngoài sản xuất phải được ghi nhãn hiệu ở những vị trí dễ thấy, rõ ràng, khó tẩy xóa, theo đúng nội dung của hàng hóa. Các quy định cụ thể về ghi nhãn mác hàng nhập khẩu như sau: nhãn hàng phải ghi rõ ràng trên bao bì hàng hóa tên người mua cuối cùng ở Hoa Kỳ, tên bằng tiếng Anh nước xuất xứ. Hàng tới tay người tiêu dùng cuối cùng ghi trên các bao bì, vật dụng chứa đựng bao bì tiêu dùng của sản phẩm cũng phải ghi rõ nước xuất xứ của hàng hóa bên trong. Qua nhãn hiệu hàng hóa, người tiêu dùng Hoa Kỳ phải biết được nước xuất xứ của hàng hóa.

Luật Hoa Kỳ quy định các nhãn hiệu hàng hóa phải được đăng ký tại Cục Hải quan Hoa Kỳ. Hàng hóa mang nhãn hiệu giả hoặc sao chép, bắt chước một nhãn hiệu đã đăng ký bản quyền của công ty Hoa Kỳ hoặc nước ngoài sẽ bị cấm nhập khẩu vào Hoa Kỳ, trừ khi đã có hồ sơ đăng ký nhãn hiệu ở Hoa Kỳ, đã nộp cho Ủy ban Hải quan và được lưu giữ theo quy định hiện hành. Hải quan Hoa Kỳ cũng có những biện pháp tương tự để chống lại những chuyến hàng không được phép nhập mang các tên hiệu có hồ sơ lưu giữ tại cơ quan hải quan theo quy định hiện hành.

  • Quy tắc xuất xứ:

Quy định về xuất xứ được ghi trong luật thuế quan năm 1930 và 1984, Luật Thương mại và cạnh tranh năm 1988. Trong đó đưa ra các quy định như sau: Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Mọi hàng nhập khẩu vào Hoa Kỳ đều phải ghi tại vị trí dễ thấy, bằng cách không thể phai, mờ, tuỳ theo bản chất hàng hoá cho phép, bằng tiếng Anh tên của nước xuất xứ, để cho người mua cuối cùng ở Hoa Kỳ biết được tên của nước đã sản xuất ra hàng hoá đó, trừ một số mặt hàng theo danh sách riêng được miễn ghi tên nước xuất xứ.

Về mức phạt và các biện pháp xử lý có liên quan. Mức phạt đối với các nhà xuất khẩu vi phạm quy định về xuất xứ thường tương đương với 10% giá trị hàng hóa khi đưa vào lãnh thổ hải quan của Mỹ. Hàng nhập không đáp ứng đúng yêu cầu về ghi mác sẽ bị giữ lại ở khu vực hải quan Hoa Kỳ cho tới khi người nhập khẩu thu xếp tái xuất trở lại, phá huỷ đi hoặc tới khi hàng được xem là bỏ để Chính phủ định đoạt toàn bộ hoặc từng phần. [17]

Hoa Kỳ là quốc gia giàu và mạnh nhất trên thế giới hiện nay, là một trong ba trung tâm kinh tế của thế giới. Hiện nay, Hoa Kỳ đóng vai trò quan trọng nhất trong việc thúc đẩy kinh tế thế giới phát triển. Bên cạnh đó, Hoa Kỳ còn đóng vai trò đầu tàu trong nhiều tổ chức kinh tế và chính trị trên thế giới, như Tổ chức thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF), Ngân hàng thế giới (WB). Bên cạnh những chính sách thương mại sắc bén, Hoa Kỳ có rất nhiều điều luật để bảo vệ người tiêu dùng, bảo vệ nền sản xuất, bảo vệ môi trường.

Hiện nay, Hoa Kỳ đang đối mặt với sự cạnh tranh của luồng hàng hoá từ các nước đang phát triển, trong đó có Việt Nam với giá thấp, lao động rẻ và kỹ thuật trung bình so với hàng hoá của Hoa Kỳ. Kết quả là Hoa Kỳ đã phản ứng lại tình trạng này bằng cách đặt ra nhiều yêu cầu chặt chẽ gây khó khăn cho các nhà xuất khẩu, đặc biệt là từ các nước đang phát triển khi họ muốn xuất khẩu sản phẩm sang Hoa Kỳ. Việc gia nhập WTO đã mở ra cánh cửa cho hàng hoá của Việt Nam như thuỷ sản, dệt may, giầy dép, cà phê… thâm nhập vào thị trường Hoa Kỳ. Tuy nhiên, hiện vẫn còn có nhiều rào cản đối với việc tăng cường mở rộng xuất khẩu của Việt Nam vào thị trường này..

2.3.2. Trung Quốc

Là một quốc gia có nền kinh tế chuyển đổi, trong quá trình công nghiệp hóa và hội nhập kinh tế quốc tế, Trung Quốc phải đối mặt với nhiều vấn đề về môi trường. Một số vấn đề do hậu quả của cơ chế tập trung để lại như chính sách ưu tiên phát triển công nghiệp nặng, chính sách hợp tác hóa… Một số khác phát sinh do quá trình tự do hóa thương mại nhanh chóng. Cụ thể: các nguy cơ thiên tai như lũ lụt và hạn hán, các vấn đề môi trường như ô nhiễm không khí do sử dụng các nhiên liệu có chứa nhiều lưu huỳnh dẫn đến mưa a xít, ô nhiễm nguồn nước do khí thải công nghiệp, phá rừng, săn bắt và buôn bán trái phép động vật hoang dã. Đáp ứng yêu cầu môi trường của các nước nhập khẩu nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu cũng là một vấn đề được Trung Quốc coi trọng. Bởi vì nhiều mặt hàng xuất khẩu hiện nay của Trung Quốc nhạy cảm với môi trường.

Chiến lược phát triển bền vững của Trung Quốc được triển khai từ đầu thập niên 90 thế kỷ 20 được thể hiện một cách rõ nét trong chương trình nghị sự 21 (1993). Một số nội dung quan trọng liên quan đến thương mại và môi trường của chiến lược này là phát triển bền vững nông nghiệp, bền vững đa dạng sinh học, bền vững thương mại. Chiến lược này được xây dựng trên cơ sở xuất phát từ mối quan hệ tổng thể giữa môi trường và phát triển, mục tiêu là sự phát triển hài hòa giữa kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật với dân số, tài nguyên và môi trường với tiền đề giữ vững tốc độ phát triển kinh tế cao, thực hiện việc sử dụng tổng hợp và lâu dài tài nguyên, không ngừng cải thiện chất lượng môi trường, không những làm cho người Trung Quốc đương đại có thể lấy từ kho tài sản quý giá của thiên nhiên những gì mà mình cần, đồng thời, còn để lại cho đời sau môi trường sinh thái và tài nguyên để họ có thể tiếp tục sử dụng những gì mà họ cần. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Trên cơ sở định hướng chiến lược phát triển kinh tế xã hội của đất nước, các chính sách thương mại và chính sách môi trường của Trung Quốc đảm bảo phát triển bền vững tập trung chủ yếu vào một số vấn đề như quản lý xuất nhập khẩu, hạn chế suy thoái môi trường, nâng cao khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn môi trường để mở rộng xuất khẩu, quản lý lưu thông trong nước. Cụ thể:

Quản lý xuất nhập khẩu: Quy chế quản lý xuất nhập khẩu của Trung Quốc quy định danh mục hàng hóa xuất khẩu có ảnh hưởng đến môi trường như hàng cấm xuất nhập khẩu, hạn chế xuất nhập khẩu, hàng xuất nhập khẩu theo hạn ngạch. Chẳng hạn, danh mục cấm xuất khẩu quy định 4 nhóm hàng là xương hổ, động vật hoang dã chưa hoặc đã qua chế biến, sừng tê giác, thuốc phiện và chất gây nghiện, chất nổ; 68 mặt hàng đã qua sử dụng, 54 mặt hàng quản lý bằng giấy phép. Quy định về danh mục cấm hoặc hạn chế nhập khẩu của Trung Quốc cũng rất cụ thể gồm 18 nhóm hàng và 644 mặt hàng. Quy chế cũng quy định những đối tượng được phép xuất nhập khẩu. Quy chế này còn quy định hạn ngạch một số mặt hàng xuất nhập khẩu nhạy cảm đối với môi trường như nông sản, thủy sản, hóa chất…

2.3.2.2. Quy định về bao gói, nhãn mác

Theo Luật Trung Quốc về những tiêu chuẩn an toàn và chất lượng sản phẩm, một số mặt hàng nhập khẩu yêu cầu phải được giám định và chứng nhận phù hợp với những tiêu chuẩn bắt buộc của quốc gia, những tiêu chuẩn mậu dịch trong nước và những tiêu chuẩn quy định trong hợp đồng. Một số sản phẩm được cấp giấy chứng nhận chất lượng sẽ được dán nhãn an toàn sản phẩm.

Mọi hàng hóa lưu thông trên thị trường Trung Quốc đều phải có mác kèm theo các thông tin liên quan bằng tiếng Trung Quốc. Cơ quan kiểm dịch chất lượng và y tế quốc gia yêu cầu hàng thực phẩm nhập khẩu như: kẹo, rượu, quả hạch, thực phẩm đóng hộp và pho mát phải được dán tem và chứng nhận an toàn sản phẩm trước khi cho xuất khẩu và nhập khẩu. Nhà nhập khẩu phải chịu chi phí dán nhãn có hình, nhãn có hình chỉ được đính vào sản phẩm khi có sự đồng ý của cơ quan Kiểm dịch hàng xuất nhập khẩu Nhà nước (SACI).

Chính phủ Trung Quốc đưa ra hệ thống chứng nhận an toàn, áp dụng cho 132 mặt hàng. Với hệ thống này, các nhà sản xuất muốn xuất khẩu hoặc bán hàng ở Trung Quốc phải có được dấu CCC. Hệ thống bắt đầu được áp dụng vào 1/5/2002 và hoàn toàn có hiệu lực vào 1/5/2003. CCC là viết tắt của từ “China Compulsory Certification” (Chứng nhận bắt buộc của Trung Quốc). Cục công nhận và chứng nhận Trung Quốc (CNCA) chịu trách nhiệm quản lý hệ thống tiêu chuẩn mới vốn được phát triển để đáp ứng được những yêu cầu đặt ra cho việc Trung Quốc gia nhập vào WTO.

Kiểm tra giám sát hoạt động thương mại gây ô nhiễm: Để quản lý xuất nhập khẩu các sản phẩm ảnh hưởng đến môi trường, Trung Quốc ban hành quy định về kiểm nghiệm, kiểm dịch hàng xuất nhập khẩu. Các quy định trong lĩnh vực này gồm:

Hàng miễn kiểm nghiệm, kiểm dịch: Doanh nghiệp nhà nước phải có hệ thống chất lượng hoàn thiện và nó phải có sự giám sát, đồng ý của Cục kiểm nghiệm Nhà nước và được cấp chứng nhận do cơ quan kiểm tra chất lượng cấp. Doanh nghiệp sản xuất phải có sự chấp nhận của Ủy ban về tiêu chuẩn theo ISO 9000. Chất lượng hàng miễn kiểm phải ổn định lâu dài. Tỷ lệ hợp cách xuất khẩu phải đạt 100% liên tục trong 3 năm. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Hàng liên quan đến an toàn vệ sinh và có yêu cầu đặc biệt bắt buộc kiểm nghiệm, kiểm dịch: Lương thực, dầu ăn, thực phẩm, đồ chơi, đồ điện. Hàng dễ biến chất hoặc hàng rời. Hàng mà Hợp đồng quy định tỷ lệ, thành phần, hàm lượng trong giấy chứng nhận hàng hóa cấp. Đồ đựng, đóng gói hàng nguy hiểm trong xuất nhập khẩu.

Quy định về chế độ giấy phép an toàn chất lượng hàng nhập khẩu: Hàng liên quan đến an toàn vệ sinh thực phẩm, bảo vệ môi trường, bảo hộ lao động khi nhập khẩu vào Trung Quốc phải thực hiện chế độ giấy phép an toàn chất lượng nhập khẩu. Hàng nhập khẩu nằm trong danh mục bắt buộc phải có giấy phép, khi chưa được cấp giấy phép an toàn chất lượng thì không được nhập khẩu. Hàng chỉ được cấp giấy phép an toàn chất lượng khi đạt các yêu cầu phù hợp với luật pháp và tiêu chuẩn quy định của Trung Quốc.

Các quy định về vệ sinh y tế tại cảng, cửa khẩu Trung Quốc: Tại các cảng, cửa khẩu Trung Quốc có các bộ phận giám sát vệ sinh. Đối tượng kiểm dịch vệ sinh y tế gồm các phương tiện giao thông, khách xuất nhập cảnh. Ngoài những quy định chung nêu tại Luật kiểm dịch động thực vật xuất nhập cảnh, quy định về kiểm nghiệm, kiểm dịch hàng xuất nhập khẩu, Trung Quốc còn ban hành các quy định cụ thể cho từng loại hàng hóa. Chẳng hạn, ngày 23/12/2002, Tổng cục kiểm dịch, kiểm nghiệm chất lượng quốc gia Trung Quốc đã gửi công hàm số 888 cho các nước và khu vực xuất khẩu hàng thủy sản sang Trung Quốc phải xin giấy phép chứng nhận kiểm nghiệm, kiểm dịch hàng thủy sản và phải tuân thủ các điều kiện do Trung Quốc quy định mới được phép xuất khẩu vào Trung Quốc. [21]

Áp dụng hệ thống tiêu chuẩn môi trường: Nhằm nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường của nước nhập khẩu, đặc biệt đối với hàng nông sản, thủy sản, công nghiệp chế biến, Trung Quốc đã khuyến khích và hỗ trợ các doanh nghiệp áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế như HACCP, ISO 14000…, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát quá trình sản xuất, đóng gói, vận chuyển và bảo quản hàng xuất khẩu, phổ biến công nghệ sạch, năng lượng sạch cho các cơ sở sản xuất, cung cấp cho họ thông tin kịp thời về yêu cầu của nước nhập khẩu. Hệ thống nhãn hiệu xanh, thực phẩm xanh đã được áp dụng. Để nâng cao sức cạnh tranh của hàng nông sản, đồng thời thúc đẩy phát triển nông nghiệp bền vững Trung Quốc đã áp dụng chính sách “hộp xanh” và “hộp vàng” trong nông nghiệp. Đối với nhóm nông sản được hưởng chính sách hộp xanh, nhà nước tăng cường hỗ trợ như giảm thuế, hỗ trợ kỹ thuật, cung cấp dịch vụ, đầu tư cơ sở hạ tầng. Đối với nhóm được hưởng chính sách hộp vàng, Nhà nước chuyển trợ cấp ở khâu lưu thông sang các khâu liên quan đến quá trình sản xuất, chế biến như ưu đãi vật tư nông nghiệp, giống cây trồng, vật nuôi, phân bón, năng lượng.

Ngoài ra, Chính phủ Trung Quốc còn sử dụng các chính sách thuế để hạn chế khai thác tài nguyên, quy định các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh có điều kiện để bảo vệ môi trường trong nước, tăng cường hợp tác giữa các Bộ ngành trong vấn đề bảo vệ môi trường…

Nhìn chung, hệ thống chính sách về thương mại và môi trường của Trung Quốc tương đối đầy đủ và toàn diện. Tuy nhiên tình trạng ô nhiễm môi trường vẫn gia tăng. Điều này có nguyên nhân do nhận thức của người tiêu dùng, doanh nghiệp và những người thực thi chính sách về môi trường còn yếu kém, quá coi trọng mục tiêu kinh tế, phát triển kinh tế bằng mọi giá. Phát triển kinh tế quá nóng ở Trung Quốc hiện nay đang đặt ra nhiều vấn đề môi trường cấp bách đối với Trung Quốc.

2.3.3. Thụy Điển Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

2.3.3.1 Quy định về tiêu chuẩn đối với hàng hóa

Muốn bán hàng vào các siêu thị ở Thụy Điển, trước hết phải sản xuất được hàng thành phẩm có chất lượng cao, bao gói theo yêu cầu của các tập đoàn siêu thị; phải đảm bảo cung cấp hàng đều đặn và ổn định về số lượng và chất lượng với giá cạnh tranh. Người tiêu dùng Thụy Điển coi trọng chất lượng với giá cạnh tranh. Họ quen với các thương hiệu lớn truyền thống. Hàng thành phẩm chất lượng cao, số lượng lớn và ổn định thì nên bán qua các tập đoàn siêu thị; hàng có số lượng không lớn và đa dạng thì nên bán qua đại lý hoặc các công ty nhỏ và vừa; hàng ở dạng nguyên liệu thô thì nên bán trực tiếp cho các nhà máy chế biến.

Thụy điển là một thành viên của EU do đó hàng hóa muốn đạt tiêu chuẩn của Thụy Điển trước hết phải đạt tiêu chuẩn của EU. Nhìn chung, thị trường EU có nhu cầu cao về chất lượng sản phẩm, các quy định tập trung đến các nội dung sau:

Tiêu chuẩn hóa sản phẩm: Theo truyền thống, các tiêu chuẩn được sử dụng để mô tả chất lượng và tính năng của hàng hóa dịch vụ và chúng rất quan trọng đối với sự phát triển của thị trường toàn cầu. Hầu hết các tiêu chuẩn đều được xây dựng theo yêu cầu của nền công nghiệp. Tiêu chuẩn hóa không chỉ quan trọng trong lĩnh vực sức khỏe, an toàn còn trong lĩnh vực quản lý chất lượng, sản xuất mang tính môi trường trách nhiệm xã hội. Việc tiêu chuẩn hóa sẽ tạo ra các nhãn hiệu hàng hóa, các giấy chứng nhận nhằm chứng minh cho việc tuân thủ các tiêu chuẩn mà các doanh nghiệp áp dụng, tạo điều kiện tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trên thương trường.

Quản lý chất lượng sản phẩm: Đây là tiêu chuẩn quan trọng để quyết định năng lực cạnh tranh của sản phẩm. Tiêu chuẩn quản lý chất lượng liên quan đến phương thức quản lý. Tiêu chuẩn này khác với tiêu chuẩn hàng hóa, nhãn hiệu hàng hóa có liên quan đến sản phẩm hay quá trình sản xuất. Đăng ký tiêu chuẩn quản lý chất lượng là quá trình tự nguyện, tiêu chuẩn này sẽ giúp cho người tiêu dùng có cách nhìn nhận về doanh nghiệp trên thị trường, đặc biệt là khi doanh nghiệp được cấp chứng nhận theo tiêu chuẩn quản lý được quốc tế công nhận. Các tiêu chuẩn quản lý chất lượng quan trọng nhất thuộc nhóm tiêu chuẩn ISO 9000. Các nhà sản xuất được cấp chứng chỉ ISO 9001 hay ISO 9002 thực sự đã sở hữu một tài sản quan trọng đáp ứng yêu cầu hội nhập kinh tế quốc tế. Đây là một đặc điểm hỗ trợ bán hàng cơ bản trong kinh doanh ở thị trường EU vốn rất mạnh, đặc điểm này cũng giúp tăng thêm lòng tin của khách hàng. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Về sức khỏe và an toàn thực phẩm: Đối với các sản phẩm công nghiệp chế tạo cần phải đạt nhãn CE (European Conformity) là một nhãn bắt buộc đối với nhiều sản phẩm công nghiệp. Mục đích của nhãn CE là đặt ra yêu cầu chung đối với các nhà sản xuất nhằm chỉ đưa ra những sản phẩm an toàn ở thị trường EU. Nhãn CE được xem là một giấy thông hành của nhà sản xuất lưu thông nhiều sản phẩm công nghiệp như máy móc thiết bị, các thiết bị điện có điện thế thấp, đồ chơi, các thiết bị an toàn cá nhân… Trên thị trường EU, nhãn CE chỉ ra rằng sản phẩm đáp ứng các nhu cầu về luật định và có thể được áp dụng về an toàn, sức khỏe, môi trường và bảo vệ người tiêu dùng.

Đối với sản phẩm thực phẩm thì tiêu chuẩn HACCP được áp dụng cho ngành công nghiệp thực phẩm, điều này sẽ xác định rằng các công ty thực phẩm xác định từng khía cạnh ảnh hưởng đến an toàn thực phẩm.

Về môi trường: Nhiều quốc gia Châu Âu thỏa thuận mang tính tình nguyện và mang tính pháp lý được thông qua giữa chính phủ và các nhà sản xuất. Các thỏa thuận không chỉ áp dụng cho sản phẩm mà được áp dụng cho bao bì của sản phẩm. Các nhà xuất khẩu của Việt Nam phải tuân thủ những quy định về môi trường để được xuất khẩu. Các nhà xuất khẩu buộc phải xem xét ảnh hưởng môi trường của sản phẩm mình, của quá trình sản xuất và đóng gói. Do đó, các nhà xuất khẩu Việt Nam phải hiểu rằng việc tuân thủ các quy định về sản phẩm là rất cần thiết, tuy nhiên việc đầu tiên là đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng là điều quan trọng trong thành công tại thị trường EU.

Ngoài các tiêu chí quan trọng về chất lượng, vệ sinh, an toàn và môi trường đã đề cập ở trên, các vấn đề xã hội ngày càng có tầm quan trọng. Ngày nay, có nhiều người dân Châu Âu cho rằng các doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm về đạo đức đối với nhân viên của họ nói riêng và an toàn xã hội nói chung. Người tiêu dùng ngày càng coi trọng “đạo đức kinh doanh” như một tiêu chí để lựa chọn và đàm phán trong kinh doanh.

2.3.3.2. Quy định về kiểm dịch động thực vật

Chứng nhận vệ sinh: Đối với hàng hóa có khả năng chứa các bệnh động thực vật dễ lây lan, khi nhập khẩu vào Thụy Điển bắt buộc phải có giấy chứng nhận vệ sinh mang tên nước xuất xứ. Các loại hàng hóa đòi hỏi phải có chứng nhận vệ sinh bao gồm: Các loại động vật sống; các sản phẩm từ động vật (thịt, các sản phẩm từ thịt và thức ăn động vật); các sản phẩm thực vật như khoai tây, cây trồng, hạt giống.

Giấy chứng nhận vệ sinh phải được hợp pháp hóa bởi cơ quan có thẩm quyền của nước sản xuất hoặc xuất khẩu. Ngoài ra, Thụy Điển còn áp dụng các quy định về hạn chế nhập khẩu đối với hàng hóa đặc biệt để đảm bảo an toàn và sức khỏe cộng đồng, hoặc để phòng trừ nguy cơ dịch bệnh cho động thực vật trong nước.

Kiểm dịch động thực vật sống và sản phẩm từ động vật: Bất cứ ai muốn nhập khẩu động vật sống hay các sản phẩm từ động vật đều phải đăng ký với Ủy ban Nông nghiệp Thụy Điển về việc nhập khẩu hàng hóa đó. Đối với một số loại hàng nhất định, cần phải có sự cho phép từ phía Ủy ban Nông nghiệp Thụy Điển. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Tờ khai nhập khẩu động vật, phôi, trứng, tinh trùng và các sản phẩm từ động vật khác từ nước thức ba phải được nộp cho Cơ quan thanh tra thú y biên giới trước khi tiến hành nhập khẩu ít nhất 1 ngày. Nhập khẩu các loại hàng hóa nêu trên từ các quốc gia trực thuộc EU phải báo trước cho Bộ Nông nghiệp Thụy Điển.

Việc nhập khẩu động vật và các sản phẩm từ động vật từ các nước thế giới thứ ba phải được thực hiện tại địa điểm nhập khẩu định trước (địa điểm thanh tra biên giới). Tuy nhiên điều này không áp dụng đối với những loại chim cảnh được nhập khẩu và khai báo tại cơ quan hải quan.

Việc vận chuyển hàng hóa phải luôn kèm theo chứng nhận y tế hoặc chứng nhận khác do một cơ quan có thẩm quyền tại nước xuất khẩu cấp.

Kiểm dịch các loại cây trồng: Bất cứ cá nhân nào muốn nhập khẩu cây trồng, đất, phân bón, thuốc trừ sâu hoặc chất kích thích tăng trưởng trên cơ sở buôn bán kinh doanh đều phải đăng ký với Bộ Nông nghiệp Thụy Điển.

Cơ quan thanh tra của Bộ Nông nghiệp Thụy Điển chịu trách nhiệm thanh tra các loại cây trồng nhập khẩu. Một số mặt hàng liên quan đến cây trồng nhất định phải có giấy chứng nhận y tế đi kèm. Một số đối tượng nhất định có thể không được phép nhập khẩu vào Thụy Điển, bao gồm các loại cây nhất định có biểu hiện bị nhiễm bệnh và sâu hại.

Kiểm tra thực phẩm: Nhà nhập khẩu muốn nhập khẩu thực phẩm vào Thụy Điển với mục đích thương mại bắt buộc phải có cơ sở tại Thụy Điển và phải đăng ký với Ủy ban Dinh dưỡng và Thực phẩm về các mặt hàng nhập khẩu.

Nhà nhập khẩu phải thông báo trước cho cơ quan thanh tra biên giới đầy đủ về lượng hàng nhập khẩu và phải sử dụng mẫu tờ khai đặc biệt. Việc nhập khẩu thực phẩm từ các nước thế giới thứ ba phải được thực hiện tại địa điểm nhập khẩu đã định sẵn.

Việc nhập khẩu thực phẩm hay động vật sống từ nước thế giới thứ ba tiến hành sau khi Bộ Nông nghiệp Thụy Điển phê duyệt. Khi nhập khẩu các loại thực phẩm khác, cần phải có sự chấp thuận từ phía Ủy ban Dinh dưỡng và Thực phẩm.

Việc nhập khẩu thực phẩm chứa thịt hoặc các sản phẩm sữa nhằm mục đích tiêu dùng cá nhân sẽ bị cấm trừ khi có kèm theo văn bản cần thiết từ các cơ quan thú y của nước xuất xứ. Sữa giành cho trẻ sơ sinh, thức ăn và các loại thức ăn đặc biệt phục vụ cho mục đích sức khỏe có thể được nhập khẩu với điều kiện những sản phẩm này không cần phải bảo quản lạnh trước khi sử dụng, được bao gói dán nhãn hợp lý để bán trực tiếp cho người sử dụng, và bao gói vẫn còn nguyên vẹn.

2.3.3.3. Yêu cầu về bao gói và nhãn mác

Quy định về nhãn mác: Hiện nay, các quy định về nhãn mác của Thụy Điển phù hợp với các quy định chung của EU. Thụy Điển không yêu cầu hàng nhập khẩu ghi tên nước xuất xứ trên nhãn hàng hóa. Tuy nhiên, các hàng hóa sai tên xuất xứ đều bị cấm. Đối với một số mặt hàng, ví dụ dược phẩm, hóa chất, hàng thực phẩm cần phải tuân thủ quy định và yêu cầu ghi mác đặc biệt.

Thụy Điển có quy định về dán nhãn, vệ sinh và y tế rất nghiêm ngặt cũng như các yêu cầu phức tạp để giám sát chất lượng hàng hóa. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Ví dụ: Một gói hàng thực phẩm bán lẻ phải ghi tên nhà sản xuất, nhà đóng gói và nhà nhập khẩu, tên thương mại của sản phẩm, trọng lượng hoặc khối lượng tịnh, các thành phần theo yêu cầu giảm dần về trọng lượng, ngày sử dụng sau cùng, hướng dẫn bảo quản nếu sản phẩm dễ hư hỏng, hoặc chỉ định giữ xa tầm tay trẻ em. Các thông tin trên được mô tả bằng tiếng Thụy Điển và nhà nhập khẩu có thể hỗ trợ các công ty trong việc sắp xếp hợp lý các thông tin trên nhãn mác.

Một số quy định về nhãn mác đối với sản phẩm cụ thể như sau: Nhãn của thực phẩm chứa đường phải nêu rõ tên loại đường, bao gồm: đường Lactoza, đường hóa học, đường Mantoza, đường hoa quả và đường mía; thực phẩm chứa đường Sacarin và đường hóa học phải được ghi nhãn theo quy định riêng; nhãn mác của thực phẩm đóng gói có thời hạn sử dụng phải nêu rõ ngày hết hạn; nhãn mác của thực phẩm đông lạnh phải nêu rõ chỉ dẫn bảo quản và sử dụng; nhãn mác của sản phẩm mật ong phải nêu tên nước xuất xứ; nhãn mác của sản phẩm pho mát phải nêu tên nước xuất xứ và hàm lượng chất béo; các hóa chất độc hại cần phải tuân thủ quy định riêng về ghi nhãn mác. Nhãn mác bên ngoài container đựng hóa chất độc hại phải nêu tên và tính năng của sản phẩm, tên và địa chỉ nhà sản xuất và nhà nhập khẩu và chỉ thị rõ những chất độc hại này phải được giữ xa trẻ em; thuốc được ghi nhãn theo phương thức riêng theo quy định của Bộ Y tế; thiết bị bảo quản đông lạnh nội địa phải được ghi nhãn với đầy đủ các chi tiết tiêu thụ năng lượng.

Quy định về bao gói: Thụy Điển không đưa ra các quy định đặc biệt nào về việc bao gói sản phẩm. Tuy nhiên, Thụy Điển không khuyến khích sử dụng cỏ khô, rơm hoặc bao tải để bao gói hàng. Trong trường hợp sử dụng thì cần phải có giấy chứng nhận vệ sinh kèm theo. Bên ngoài thùng đựng hàng nên có ký hiệu của người ủy nhiệm, ký hiệu của cảng và được đánh số (tương ứng với danh mục hàng đóng gói) trừ khi hàng đã được nhận dạng theo một cách nào khác. Vận chuyển gói hàng vượt quá trọng lượng 1000 tấn phải được đánh dấu trọng lượng tổng. [20]

Thụy Điển là một quốc gia rất tôn trọng luật pháp và tính dân chủ cao, do vậy người tiêu dùng luôn có xu hướng tìm hiểu kỹ lưỡng trước khi sử dụng bất kỳ một loại sản phẩm nào. Thị hiếu của người tiêu dùng Thụy Điển có xu hướng thích dùng hàng ngoại, nhưng phải là hàng có thương hiệu. Do vậy, ngoài các “hàng rào kỹ thuật” chung của EU, doanh nghiệp xuất khẩu của Việt Nam muốn đưa hàng vào Thụy Điển cần phải tìm cho mình một nhãn hiệu uy tín, bên cạnh đó cũng cần chú trọng xây dựng thương hiệu riêng để tạo chỗ đứng lâu dài trên thị trường. Hiện giày dép Việt Nam chiếm đến 10% thị trường Thụy Điển, nhưng lại xuất khẩu qua nước thứ ba, nên người tiêu dùng Thụy Điển hoàn toàn không biết đó là hàng của Việt Nam.

2.3.4. Thái Lan Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Trong hơn ba thập kỷ qua, Thái Lan đã đạt được sự tăng trưởng kinh tế đáng khâm phục. Một trong những động lực tăng trưởng chủ yếu của kinh tế Thái Lan là phát triển xuất khẩu các mặt hàng có lợi thế về tài nguyên và nguồn lao động trẻ. Đó là hàng nông sản, thủy sản, các sản phẩm công nghiệp chế biến như da giày, dệt may. Khoảng 60% lực lượng lao động của Thái Lan làm trong ngành nông nghiệp. Lúa là loại cây trồng quan trọng nhất của quốc gia này; Thái Lan là một quốc gia xuất khẩu gạo lớn trên thế giới. Các sản phẩm nông nghiệp khác có số lượng đáng kể là cá và các thủy sản, sắn, cao su, ngũ cốc và đường ăn. Kim ngạch xuất khẩu các thực phẩm chế biến như cá ngừ, dứa, đóng hộp và tôm đông lạnh đang gia tăng. Đây là những mặt hàng nhạy cảm với môi trường và những mặt hàng của Thái Lan đòi hỏi rất cao về tiêu chuẩn môi trường. Chẳng hạn, hàng thủy sản đòi hỏi các tiêu chuẩn về vệ sinh an toàn thực phẩm (dư lượng độc tố – cloruaphenicol và dư lượng vi sinh) cũng như các yêu cầu về PMM – quy trình đánh bắt, bao bì đóng gói, bảo quản, vận chuyển…

Thái Lan cũng đã từng bị phía Hoa Kỳ, EU, Nhật Bản từ chối nhập khẩu tôm vì không đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm theo tiêu chuẩn HACCP. Đặc biệt vụ kiện giữa Thái Lan và Hoa Kỳ liên quan đến việc sử dụng các phương tiện đánh bắt tôm biển không hợp lý. Hoa Kỳ từ chối nhập khẩu tôm của Thái Lan vì nước này sử dụng loại lưới đánh bắt tôm có thể đe dọa sự sống của các loài rùa biển. Tuy vụ kiện này, phía Thái Lan đã thắng nhưng mất rất nhiều thời gian và chi phí để hầu kiện. Hàng dệt may của Thái Lan cũng có thể bị từ chối nhập khẩu nếu sử dụng những hóa chất bị cấm như thuốc nhuộm Azo, hóa chất bị cấm ở Đức kể từ ngày 1/7/1995. Tương tự một số sản phẩm khác như đồ gỗ, nông sản cũng có thể bị tẩy chay nếu không tuân thủ các yêu cầu của các nước nhập khẩu. Những ngành sản xuất chủ lực nói trên ở Thái Lan cũng là những ngành nguy cơ gây ô nhiễm môi trường cao ở trong nước. Chính vì vậy, Thái Lan buộc phải áp dụng nhiều biện pháp để một mặt đối phó với những hàng rào môi trường nhằm mở rộng thương mại quốc tế, mặt khác bảo vệ môi trường trong nước.

Để đảm bảo phát triển bền vững, Chính phủ Thái Lan đã kết hợp các vấn đề kinh tế và vấn đề môi trường ngay từ khâu lập kế hoạch, tập trung chủ yếu vào các vấn đề môi trường quan trọng như bảo tồn tài nguyên đa dạng sinh học, hạn chế ô nhiễm công nghiệp, hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện các yêu cầu về môi trường, khuyến khích tiêu dùng theo hướng thân thiện với môi trường, sử dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường.

2.3.4.1. Quy định về bao gói, nhãn mác

Bao gói: Bao gói nên được làm bằng chất liệu đảm bảo và có khả năng chịu nhiệt và chịu ẩm. Nhà sản xuất cũng nên chú ý đến khả năng hàng hóa sẽ để ở kho có không gian mở, vì vậy bao gói nên sử dụng chất liệu không thấm nước. Nên tránh sử dụng cỏ khô và rơm để làm bao gói.

Nhãn mác: Chính phủ Thái Lan có những quy định rất chặt chẽ về nhãn mác đối với các sản phẩm bơ, sữa, đồ ăn cho trẻ em, đồ ăn đóng hộp, dấm, các loại nước giải khát, dầu ăn, thuốc súng… Nhãn mác của sản phẩm thực phẩm phải được cấp phép bởi cơ quan quản lý về Thực phẩm và Dược phẩm. Khi tiến hành thủ tục xin cấp giấy phép, đối với mỗi sản phẩm, nhà nhập khẩu phải nộp hai mẫu sản phẩm, chỉ rõ tỷ lệ phần trăm từng thành phần và hợp chất có trong sản phẩm đó và nộp sáu nhãn mác sản phẩm. [19] Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Ví dụ: Thực phẩm nhập khẩu vào Thái Lan phải được dán nhãn mác với những thông tin rõ ràng và thường bao gồm những nội dung sau: Tên và nhãn hiệu sản phẩm (bao gồm cả tên sản phẩm và tên thương mại); số giấy phép đăng ký; tên và địa chỉ nhà sản xuất; tên và địa chỉ nhà nhập khẩu; ngày sản xuất và ngày hết hạn sử dụng sản phẩm; số lượng và trọng lượng tịnh; hướng dẫn sử dụng. Đối với đồ uống, trên nhãn mác phải ghi rõ tỷ lệ phần trăm của lượng cồn có trong sản phẩm đó, những cảnh báo về tác hại đến sức khỏe khi sử dụng sản phẩm (nếu có) và phải in bằng tiếng Thái.

Đối với mỹ phẩm, có những quy định riêng về nhãn mác, nhãn mác phải bằng tiếng Thái và chỉ rõ những thông tin sau: Tên của loại mỹ phẩm, tên và địa chỉ nhà sản xuất, hướng dẫn sử dụng, thành phần có trong sản phẩm, những phản ứng phụ khi sử dụng sản phẩm (nếu có).

2.3.4.2. Quy định về kiểm dịch động thực vật

Tất cả các mặt hàng thực phẩm nhập vào Thái Lan đều phải tuân theo các yêu cầu về y tế và an toàn (bao gồm cả việc đăng ký với Bộ Y tế) và các tiêu chuẩn quốc gia Thái Lan. Các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu vào Thái Lan phải có giấy chứng nhận kiểm dịch y tế thực phẩm kèm theo lô hàng nhập khẩu. Theo quy định của Cơ quan kiểm dịch thực phẩm Thái Lan, hàng hóa thực phẩm phải được chứng nhận cụ thể như sau: Các loại thực phẩm phù hợp tiêu chuẩn vệ sinh quy định, thích hợp cho người sử dụng, được phép xuất nhập khẩu. [19]

Hiện nay, Thái Lan là một trong số các nước xuất khẩu chủ yếu tôm và cá hồi vào các thị trường có các quy định và tiêu chuẩn ngặt nghèo về môi trường như Mỹ, Nhật Bản và EU. Ngành nuôi tôm và đánh bắt cá của Thái Lan là hai ngành có sản lượng lớn nhất trong khu vực. Trong ngành nuôi tôm, kể từ tháng 11 năm 1992, nông dân nuôi tôm phải đăng ký với Bộ Hải sản, các trang trại lớn phải xây dựng khu xử lý nước và các chất thải phải đáp ứng được tiêu chuẩn BOD áp dụng cho ngành này. Ngoài ra, Thái Lan còn thành lập nhiều trung tâm kiểm tra chất lượng tôm xuất khẩu như dư lượng độc tố, kiểm tra chặt chẽ nguồn thuốc phòng bệnh được sử dụng. Để đảm bảo chất lượng của sản phẩm xuất khẩu, Bộ Thủy sản phối hợp với Bộ Y tế và Bộ Thương mại tăng cường các biện pháp kiểm tra dư lượng kháng sinh trong thủy sản xuất khẩu cũng như nguồn thuốc phòng bệnh được sử dụng. Các trung tâm khuyến ngư được thành lập với sự hỗ trợ công nghệ và chuyên gia của Chính Phủ giúp cho các hộ nuôi trồng quy mô nhỏ hiểu biết về quy trình nuôi trồng và phương pháp đánh bắt, cập nhật và cung cấp thông tin kịp thời về các yêu cầu môi trường của nước nhập khẩu.

Để tiếp cận thị trường EU, Thái Lan đã có những biện pháp cứng rắn trong việc tuân thủ các quy định về an toàn vệ sinh thực phẩm. Thái Lan kiên quyết cấm sử dụng thuốc kháng sinh trong chăn nuôi vì chúng có liên quan đến bệnh ung thư, trong đó có CAP từ lâu đã là trở ngại lớn đối với xuất khẩu tôm của Thái Lan vào EU. Mọi trường hợp vi phạm đều bị đình chỉ hoạt động kinh doanh, sản xuất và bị phạt 10.000 baht. Thái Lan cũng cấm sử dụng các chất gây ô nhiễm môi trường mà EU nêu ra trong Phụ lục của Chỉ thị 96/23/EEC. Họ xây dựng các tiêu chuẩn ngành về vùng nuôi an toàn vệ sinh thực phẩm và sạch bệnh đối với các cơ sở nuôi công nghiệp. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Ngành chế biến nông sản là một trong những ngành sản xuất chủ lực của Thái Lan. Tuy nhiên việc tăng năng suất cây trồng cũng đi liền với việc sử dụng chưa hợp lý quỹ đất, rừng, hóa chất, thuốc bảo vệ thực vật. Điều này đã ảnh hưởng đến chất lượng nông sản xuất khẩu, môi trường sinh thái ở nông thôn và sức khỏe của bà con nông dân. Trong thương mại quốc tế, việc lạm dụng quá mức thuốc trừ sâu và thuốc bảo vệ thực vật ở Thái Lan đã gặp phải phản ứng của Nhật Bản bằng việc hạn chế nhập khẩu rau quả. Chính vì vậy, từ năm 1992, Thái Lan đã áp dụng nhiều biện pháp để hạn chế ô nhiễm môi trường, nâng cao khả năng đáp ứng các quy định môi trường của nước nhập khẩu như ban hành các tiêu chuẩn chất lượng của sản phẩm như gạo, cà phê, kiểm soát chặt chẽ nguồn thuốc trừ sâu và phân bón, quy định mức sử dụng hóa chất trong nông nghiệp, giảm trợ cấp trong nông nghiệp.

2.3.4.3. Quy định về tiêu chuẩn đối với hàng hóa và dịch vụ

Thái Lan rất coi trọng việc hàng xuất khẩu được sản xuất tại nước này phải phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế như: ISO 9000, ISO 14000. Ngoài ra các nhà chế biến lương thực cần tuân thủ hệ thống HACCP.

Viện tiêu chuẩn công nghiệp Thái Lan (TISI) là tổ chức tiêu chuẩn quốc gia thuộc Bộ Công nghiệp. Chính phủ Thái Lan yêu cầu bắt buộc có giấy chứng nhận đối với 60 sản phẩm trong 10 lĩnh vực như nông nghiệp, vật liệu xây dựng, hàng tiêu dùng, đồ điện và linh kiện, ống nhựa PVC, dược phẩm, bình khí gas hóa lỏng và ô tô. Giấy chứng nhận đối với các sản phẩm khác dựa trên cơ sở tự nguyện. Sản phẩm công nghiệp có giấy chứng nhận của TISI nhìn chung được coi là có chất lượng tốt và tiêu chuẩn cao. TISI đã chứng nhận hơn 1921 sản phẩm trên cơ sở tự nguyện.

Công nghiệp dệt của Thái Lan là một ngành được đầu tư phát triển từ rất sớm. Mặc dù ngành này đã mang lại hiệu quả kinh tế cao nhưng tác hại môi trường của nó cũng rất lớn. Đó là ô nhiễm bụi, ô nhiễm nước do sử dụng nhiều loại hóa chất độc hại ở khâu nhuộm.

Để hạn chế ô nhiễm môi trường và vượt qua rào cản thương mại do việc sử dụng thuốc nhuộm Azo, từ năm 1996 Thái Lan đã áp dụng nhiều biện pháp để xử lý môi trường trong ngành dệt như sử dụng thuốc nhuộm không chứa Azo. Đáp ứng yêu cầu này hàng dệt may của Thái Lan đã có sức cạnh tranh ở một số thị trường thuộc EU, đặc biệt là Đức.

2.3.4.4. Quyền sở hữu trí tuệ Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Thủ tục áp dụng nhãn hiệu thương mại của chính phủ Thái Lan được quy định từ năm 1998. Việc bảo vệ nhãn hiệu thương mại theo luật pháp ở Thái Lan thường tốn thời gian và chi phí, nhưng quá trình này thường được diễn ra một cách trung thực. Sửa đổi luật sáng chế của Thái Lan có hiệu lực từ năm 1999, cộng đồng các công ty nói chung khá hài lòng với các điều khoản mới này, mặc dù việc áp dụng sáng chế có thể mất 5 năm ở một số ngành, như ngành dược phẩm.

Như vậy, Thái Lan đã áp dụng nhiều biện pháp để bảo vệ môi trường và nâng cao khả năng cạnh tranh của sản phẩm xuất khẩu, đặc biệt là thủy sản, rau quả và hàng dệt may. Những biện pháp chủ yếu được áp dụng là nâng cao hiểu biết về môi trường cho doanh nghiệp và các nhà quản lý; xây dựng hệ thống tiêu chuẩn quốc gia phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, ban hành các quy định về bao bì, đóng gói, nhãn sinh thái; áp dụng các phương pháp sản xuất sạch, sử dụng các công cụ kinh tế như thuế, lệ phí môi trường; chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp như tín dụng (quỹ môi trường).

Ngoài ra, Thái Lan còn tham gia nhiều hiệp định quốc tế về môi trường để được hưởng các ưu đãi tài chính. Việc hạ thấp mức độ sử dụng ODS xuống dưới mức 0.3kg/người, Thái Lan đã được hưởng ưu đãi 10 năm về tài chính do quỹ quốc tế giúp các nước đang phát triển loại bỏ ODS, CFC. Tham gia rộng rãi các hiệp định thương mại đa phương cũng giúp cho Thái Lan có vị thế thuận lợi trong giải quyết các vấn đề tranh chấp thương mại liên quan đến môi trường như vụ cấm nhập khẩu cá hồi và tôm của Mỹ. Thái Lan cũng là một trong những nước đang phát triển đầu tiên áp dụng nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả.

Tóm lại, Thái Lan đã có nhiều biện pháp để đối phó với các hàng rào môi trường nhằm nâng cao khả năng tiếp cận thị trường. Một trong những thành công của Thái Lan là ứng phó kịp thời trước những thay đổi quy định và tiêu chuẩn của nước nhập khẩu để từ đó có những giải pháp thích hợp. Sự kết hợp hài hòa biện pháp hỗ trợ, khuyến khích với những biện pháp bắt buộc trên cơ sở pháp luật đã có tác dụng tích cực để đối phó với yêu cầu của thị trường.

2.3.5. Indonesia

Indonesia là một trong số những quốc gia Đông Nam Á tương đối thành công trong phát triển kinh tế hướng về xuất khẩu. Xuất khẩu trong nhiều năm là động lực tăng trưởng kinh tế của quốc gia này. Những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu là dầu thô, gỗ, cao su, thủy sản và cà phê. Như vậy, phần lớn những mặt hàng xuất khẩu chủ yếu của Indonesia là những mặt hàng nhạy cảm với môi trường và có nhu cầu cao ở các nước nhập khẩu như EU, Hoa Kỳ, Nhật Bản. Chính vì vậy, Chính phủ Indonesia đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm bảo vệ nguồn lợi tự nhiên, môi trường sinh thái và đáp ứng các yêu cầu môi trường của nước nhập khẩu.

Chính sách trợ cấp đối với các hoạt động kinh tế thân thiện với môi trường như miễn thuế nhập khẩu đối với các thiết bị dùng để giảm ô nhiễm môi trường, trợ cấp cho các doanh nghiệp có các ứng dụng môi trường để hạn chế chi phí của họ, đồng thời giúp họ có sức cạnh tranh. Indonesia còn lập quỹ quốc gia để giảm ô nhiễm. Quỹ này trợ cấp cho các doanh nghiệp để xử lý vấn đề môi trường của mình dưới dạng vay vốn. Nhờ những biện pháp như vậy mà các doanh nghiệp có thể tiết kiệm chi phí, đầu tư cải thiện tình trạng môi trường của mình, đáp ứng các yêu cầu của khách hàng trong và ngoài nước. Chính phủ ban hành quy định: “Các dự án có tính trọng yếu về mặt môi trường phải thành lập quỹ bảo vệ môi trường và có giấy chứng nhận tiêu chuẩn môi trường” và thực hiện Chương trình phát triển bền vững. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Các công cụ thị trường khác như thuế ô nhiễm, các loại phí và áp dụng ở các mức độ khác nhau các tiêu chuẩn môi trường quốc tế như ISO 14000, ISO Nhằm tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có được các chứng nhận về môi trường, các cơ quan chức năng đã phối hợp với các tổ chức quốc tế lập các cơ sở cấp chứng nhận môi trường cho các doanh nghiệp trong nước, hỗ trợ họ về thông tin và một phần kinh phí.

Việc cấp nhãn sinh thái đối với sản phẩm cũng là một cố gắng của Indonesia trong việc thích nghi dần với môi trường cạnh tranh mới. Nhãn hiệu sinh thái quốc gia Indonesia cấp cho các sản phẩm gỗ và các sản phẩm có nguồn gốc đa dạng sinh học khác. Điều này đã hạn chế được sức ép nhập khẩu gỗ từ Indonesia. Viện nhãn sinh học quốc gia Indonesia được giao nhiệm vụ tiến hành nghiên cứu các tiêu chuẩn và tiêu chí đối với hệ thống quản lý rừng có hiệu quả. Viện này đồng thời cũng giám sát thực địa để xem các tiêu chuẩn đặt ra phù hợp với trình độ hay chưa. Hiện tại ở Indonesia đã sử dụng hai loại nhãn đối với sản phẩm gỗ: (1) Dán nhãn toàn bộ, căn cứ vào việc phân tích toàn bộ vòng đời sản phẩm. Tức là đánh giá tác động môi trường của sản phẩm đó từ khi còn là nguyên liệu thô cho đến khi trở thành phế liệu và (2) Nhãn sinh học đơn, tức là chỉ xác định ảnh hưởng môi trường của sản phẩm tại một giai đoạn nhất định. Tuy nhiên việc áp dụng này đã làm hạn chế thương mại ngành gỗ do tăng chi phí ở khâu chứng nhận mác sinh học và kiểm định chất lượng rừng trồng.

Về kiểm dịch động thực vật: Tất cả các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu vào Indonesia đều phải tuân theo yêu cầu về y tế và an toàn (Bao gồm việc đăng ký với Bộ Y tế) và các tiêu chuẩn quốc gia Indonesia (SNI). Ngoài ra, từ tháng 5/2000, hoa quả nhập khẩu cần phải có giấy chứng nhận là không có sâu bệnh, và khoai tây nhập khẩu không chứa mầm bệnh. Các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu vào Indonesia phải có giấy chứng nhận kiểm dịch y tế thực phẩm kèm theo lô hàng nhập khẩu. Theo quy định của cơ quan kiểm dịch thực phẩm Indonesia (Bedan POM), hàng hóa thực phẩm phải được chứng nhận cụ thể như sau: các loại thực phẩm phù hợp tiêu chuẩn vệ sinh quy định, thích hợp cho người sử dụng, được phép xuất nhập khẩu.

Một số mặt hàng thực phẩm nhất định cần phải có giấy chứng nhận halal, nghĩa là động vật đã được giết mổ theo giới luật Hồi giáo và phải được thông qua trước khi nhập khẩu. Đồng thời, thực phẩm phải có giấy chứng nhận không chứa dioxin.

Kể từ năm 1996, việc sản xuất, nhập khẩu và phân phối các phụ gia thực phẩm (như vitamin, khoáng chất, chiết xuất, amino acid, dạng cô đặc hoặc hỗn hợp) đều phải được các công ty dược phẩm hoặc các công ty phụ gia thực phẩm đăng ký với chính quyền địa phương, và phải được sản xuất tuân theo thông lệ về sản xuất thực phẩm. Các yêu cầu về vệ sinh an toàn đều được thiết lập cùng với các giới hạn tối đa hàng ngày đối với vitamin và khoáng chất.

Tất cả các thực phẩm chế biến đều được Văn phòng quốc gia về Kiểm soát Thuốc và Thực phẩm (BPOM) của Indonesia kiểm tra. Các mặt hàng thực phẩm nhập khẩu phải có sổ đăng ký do BPOM cấp. Việc nhập khẩu động vật sống cũng cần phải có giấy chứng nhận đã được kiểm tra do dịch vụ Thú ý Indonesia cấp. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Tất cả các thiết bị y khoa, đồ trang sức và các thiết bị y tế gia dụng đều phải đăng ký với Văn phòng Thực phẩm và Thuốc. Dược phẩm nhập khẩu và sản xuất nội địa cũng cần phải có chứng nhận phân tích từ nhà sản xuất. Thuốc bán không cần đơn bác sỹ thì phải có sách hướng dẫn sử dụng kèm theo. Các nhà bán lẻ bị cấm việc tái đóng gói hoặc pha trộn thuốc. [18]

Tham gia vào các hiệp định thương mại và môi trường thế giới cũng là một trong những biện pháp hạn chế ô nhiễm môi trường trong nước và giúp các doanh nghiệp Indonesia nâng cao nhận thức về yêu cầu môi trường trong thương mại quốc tế hiện đại.

Bên cạnh những biện pháp chung để đối phó với các rào cản môi trường các nước, Indonesia đã có nhiều biện pháp cụ thể để nâng cao khả năng đáp ứng các yêu cầu môi trường của nước nhập khẩu đối với một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực, đặc biệt là thủy sản.

Riêng đối với lĩnh vực nông nghiệp, nuôi trồng thủy sản và đánh bắt hải sản, Indonesia ngoài việc quan tâm tới việc nâng cao chất lượng, đa dạng hóa sản phẩm, còn đặc biệt quan tâm tới vấn đề bảo vệ môi trường và bảo tồn tài nguyên thiên nhiên. Indonesia đã có những chính sách, biện pháp mạnh và đồng bộ để quản lý hoạt động nuôi trồng và chế biến nông thủy sản, hạn chế tối đa mức ô nhiễm môi trường để đảm bảo sức khỏe cho người dân, nâng cao khả năng cạnh tranh và uy tín của hàng nông thủy sản xuất khẩu.

Để đáp ứng tốt các quy định môi trường của các nước như EU, Nhật Bản, Hoa Kỳ đối với nhập khẩu hàng nông thủy sản, Indonesia đã triển khai thực hiện: Quản lý hoạt động nuôi trồng và chế biến nông thủy sản chặt chẽ và thống nhất từ trung ương đến địa phương; kiểm soát chặt chẽ hoạt động nhập khẩu thức ăn, hóa chất, kháng sinh, thuốc bảo vệ thực vật phục vụ nuôi trồng nông thủy sản, đặc biệt là những chất gây ô nhiễm môi trường; đầu tư thiết bị kiểm tra hiện đại; đào tạo và nâng cao trình độ của cán bộ kiểm tra; xây dựng quy phạm thực hành nuôi tốt (GAP) và áp dụng đại trà trong cả nước; nghiên cứu lai tạo giống thủy sản có năng suất, chất lượng cao, tạo ra giống thủy sản sạch; công tác khuyến ngư, đẩy mạnh tuyên truyền phổ biến các quy định về môi trường các nước đối với hàng nông thủy sản nhập khẩu cho các hộ nuôi trồng nông thủy sản, tập huấn, chuyển giao công nghệ về nuôi trồng thủy sản sạch, sơ chế và bảo quản nguyên liệu cho nông, ngư dân; xây dựng các trung tâm quan trắc cảnh báo môi trường tại các vùng nuôi.

Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều nhận thấy rằng, các chính sách thương mại, tài nguyên và môi trường có vai trò hỗ trợ lẫn nhau, nhằm thúc đẩy phát triển bền vững và thực sự nó đang nỗ lực giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ môi trường. Do đó, một quốc gia để đạt được mục tiêu trở thành một nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao, ổn định, bền vững cần khai thác và sử dụng hợp lý các nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực tự nhiên. Trong xu thế toàn cầu hoá, tự do hoá thương mại, các nước đang phát triển rất quan tâm tới việc chống lại và loại bỏ khả năng tiếp cận thị trường của các sản phẩm nhập khẩu vào nước họ mà không tuân thủ các quy trình sản xuất, các sản phẩm không phù hợp với yêu cầu bảo vệ môi trường. Qua việc nghiên cứu pháp luật thực định của một số nước về bảo vệ môi trường trong thương mại quốc tế, có thể thấy rằng mỗi nước đều đặt ra cho mình những nguyên tắc xử sự riêng của mình nhưng không nằm ngoài xu thế trên của thương mại quốc tế. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

Đối với các nước có nền kinh tế phát triển hàng đầu trên thế giới, có thị trường khó tính như Mỹ, Trung Quốc, Thụy Điển… họ có hành lang pháp lý bảo vệ môi trường, bảo vệ người tiêu dùng rất chặt chẽ, hệ thống. Họ có các cơ quan chức năng thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát, kiểm định tiêu chuẩn chất lượng hoạt động quy củ và có chế tài xác đáng đối với các hành vi phi phạm các quy định liên quan đến bảo vệ môi trường, bảo vệ sức khỏe cộng đồng. Họ có các tiêu chuẩn chặt chẽ từ khâu sản xuất đến tiêu dùng sản phẩm, những tiêu chuẩn về chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn về môi trường, nhãn mác bao bì sản phẩm… quy định khắt khe và dường như tạo ra những rào cản thương mại buộc các nước xuất khẩu phải vượt qua.

Đối với các quốc gia có nền kinh tế hoạt động chủ yếu dựa vào xuất khẩu như Thái Lan, Indonesia, các mặt hàng xuất khẩu chủ yếu mang tính nhạy cảm với môi trường như: hàng nông sản, thủy sản, gạo, da giầy, dệt may… Là các nước thuộc khu vực Đông Nam Á – khu vực có điều kiện tự nhiên và xã hội thuận lợi cho sự tăng trưởng kinh tế. Chính sách pháp luật, các biện pháp phát triển kinh tế đi đôi với bảo vệ môi trường, các biện pháp vượt qua các rào cản kỹ thuật sang các thị trường khó tính luôn là tôn chỉ hoạt động của các nước này. Để đáp ứng yêu cầu nhập khẩu của các nước phát triển, Thái Lan, Indonesia phải đưa ra những chính sách sản xuất hợp lý, tuân thủ và thực hiện theo các tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật mang tính quốc tế như: ISO 9001, ISO 14000, HACCP…

Đối với mặt hàng thực phẩm, các nước này luôn có định hướng cho doanh nghiệp xây dựng khu sản xuất, nuôi trồng đáp ứng được tiêu chuẩn chất lượng, kiểm tra chặt chẽ dư lượng độc tố, nguồn thuốc phòng bệnh. Chính phủ của họ luôn chú trọng đầu tư, hỗ trợ về công nghệ và chuyên gia, giúp cho việc nuôi trồng và phương pháp đánh bắt không tổn hại môi trường; cập nhật và cung cấp thông tin kịp thời về các yêu cầu môi trường của nước nhập khẩu.

Doanh nghiệp Việt Nam nói riêng và các nhà hoạch định pháp luật Việt Nam nói chung cần có tiếp thu có chọn lọc trên cơ sở học hỏi kinh nghiệm để áp dụng vào thực tiễn nước ta. Việc ứng dụng kinh nghiệm phát triển thương mại và bảo vệ môi trường của các quốc gia này vào Việt Nam sẽ được triển khai rõ hơn tại Chương 3 của luận văn. Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Hoàn thiện pháp luật thương mại về bảo vệ môi trường

One thought on “Luận văn: Quy định pháp luật quốc tế về bảo vệ môi trường

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật thương mại quốc tế về bảo vệ môi trường

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464