Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Theo quy định tại Điều 1 Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2016, vụ việc dân sự bao gồm vụ án dân sự và việc dân sự. Do hai loại vụ việc dân sự có những sự khác biệt nhất định nên Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định hai loại thủ tục giải quyết, theo đó vụ án dân sự được giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự còn việc dân sự được giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự.
Sau khi Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành có hiệu lực từ ngày 01/01/2017, hàng năm Toà án nhân dân các cấp thụ lý và giải quyết hàng nghìn việc dân sự, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức. Tuy nhiên, sau hơn 5 năm thi hành, một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự đã bộc lộ những hạn chế, bất cập; có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác; có những quy định chưa phù hợp hoặc không còn phù hợp với thực tiễn, chưa đầy đủ, thiếu rõ ràng dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau ; có những quy định chưa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự; thiếu nhiều quy định điều chỉnh quan hệ xã hội mới phát sinh… và cho đến nay vẫn chưa có văn bản hướng dẫn cụ thể hóa, do đó đã gây nhiều trở ngại cho hoạt động của Tòa án nhân dân trong quá trình giải quyết các tranh chấp dân sự. Bên cạnh đó nhằm thực hiện Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2017 của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2030, tiếp tục từng bước hoàn thiện một cách căn bản hệ thống pháp luật tố tụng dân sự nói chung và Bộ luật tố tụng dân sự nói riêng, bảo đảm ngày càng tốt hơn quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân trong tố tụng dân sự đồng thời tạo điều kiện để Tòa án thực hiện tốt hơn công tác xét xử, ngày 29/3/2023, tại kỳ họp thứ chín, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa (XHCN) Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục giải quyết việc dân sự , Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự đã sửa đổi, bổ sung một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự như quy định về thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự; thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự v .v… làm cho chế định thủ tục giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam được hoàn thiện hơn. Tuy vậy, để nhận thức được đầy đủ, đúng và áp dụng thống nhất trong thực tiễn các quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì cần phải tiếp tục nghiên cứu làm rõ nhiều vấn đề liên quan. Với mong muốn góp phần làm rõ những vấn đề liên quan đến thủ tục giải quyết việc dân sự, tìm ra các giải pháp hoàn thiện và thực hiện chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam, học viên đã chọn đề tài “Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam” làm đề tài luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
Khi Bộ luật tố tụng dân sự mới ban hành, để áp dụng đúng đắn quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự của Bộ luật này năm 2019 Tòa án nhân dân tối cao đã có công trình nghiên cứu khoa học cấp Bộ với đề tài “Cơ sở lý luận và thực tiễn thi hành quy định tại Phần thứ năm: Thủ tục giải quyết việc dân sự của Bộ luật tố tụng dân sự” do tiến sĩ Nguyễn Văn Dũng làm Chủ nhiệm đề tài. Ngoài ra còn một số bài viết về vấn đề này như “Một số quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự” và “Những vấn đề cơ bản về thủ tục giải quyết một số việc dân sự” của tác giả Tưởng Duy Lượng trong cuốn Pháp luật tố tụng dân sự và thực tiễn xét xử do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2021; “Về thủ tục giải quyết việc dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự” của thạc sĩ Tống Công Cường đăng trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 11-2019; “Vấn đề nhập, tách các yêu cầu trong vụ việc dân sự và cơ chế chuyển hóa giữa việc dân sự, vụ án dân sự” của tiến sĩ Trần Anh Tuấn đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 9-2018 (số 18) “Thẩm quyền của Tòa án nhân dân cấp huyện trong việc giải quyết các vụ việc dân sự” của Tưởng Duy Lượng đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 8-2019 (số 15, số 16); “Những vướng mắc từ việc giải quyết ly hôn với người biệt tích” của Thái Quý đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 6-2019 (số 12); “Bàn về một số vướng mắc thường gặp trong giải quyết vụ việc dân sự” của Đỗ Văn Chỉnh đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ I tháng 10-2020 (số 19); “Thủ tục giải quyết yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú” của tiến sĩ Nguyễn Minh Hằng, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, kỳ II tháng 8-2021; “Một số vấn đề liên quan đến việc dân sự” của Nguyễn Thanh Hải đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 8-2019 (số 16); “Một số vấn đề về thủ tục giải quyết việc dân sự theo Bộ luật tố tụng dân sự năm 2016” của thạc sĩ Vũ Thị Hồng Vân đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 5-2018 (số 9); “Một số vấn đề về thủ tục sơ thẩm giải quyết việc dân sự trong Bộ luật tố tụng dân sự” của thạc sĩ Đặng Thanh Hoa, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 5/2018 (số 9); “Thủ tục giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự” của tiến sĩ Lê Thu Hà, đăng trên Tạp chí Tòa án nhân dân, tháng 6-2018 (số 12) v.v… Tuy vậy, các công trình nghiên cứu này chỉ mới làm rõ được một số vấn đề liên quan đến chế định giải quyết việc dân sự, mặt khác do được thực hiện trong thời gian Nhà nước ta chưa ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự nên nhiều vấn đề liên quan mới nảy sinh từ khi Nhà nước ta ban hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự còn chưa được nghiên cứu giải quyết.
3. Mục đích và nhiệm vụ của việc nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài là làm rõ một số vấn đề lý luận, nội dung của chế định giải quyết việc dân sự và thực tiễn thực hiện chúng từ đó, thấy được những vướng mắc, bất cập và đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam. Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
Để đạt được mục đích nghiên cứu nếu trên, việc nghiên cứu đề tài có các nhiệm vụ sau:
- Nghiên cứu những vấn đề lý luận của chế định giải quyết việc dân sự như khái niệm việc dân sự, khái niệm và cơ sở của chế định việc dân sự v…
- Nghiên cứu các quy định chung của chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật Việt Nam hiện hành và các quy định của pháp luật tố tụng dân sự tương ứng để so sánh, tham khảo.
- Khảo sát thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự tại các Tòa án Việt Nam để nhận diện các bất cập của chế định giải quyết vi ệc dân sự và đề xuất được các giải pháp hoàn thiện.
4. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu đề tài là các quan điểm của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp, những vấn đề về lý luận chế định giải quyết việc dân sự, các quy định của chế định này trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn thực hiện chúng tại các Tòa án Việt Nam v.v… Tuy vậy, do giới hạn của một đề tài luận văn thạc sĩ việc nghiên cứu đề tài chỉ tập trung vào một số vấn đề như khái niệm, ý nghĩa, cơ sở, nội dung và vai trò của chế định giải quyết việc dân sự, các quy định về thẩm quyền, thủ tục giải quyết việc nói chung (không nghiên cứu thủ tục giải quyết các loại việc dân sự cụ thể) của chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng chúng tại các Tòa án Việt Nam trong những năm gần đây.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Việc nghiên cứu được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm của Đảng về nhà nước và pháp luật, bảo vệ quyền con người nói chung và quyền công dân nói riêng.
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các phương pháp nghiên cứu khoa học truyền thống như phương pháp phân tích, tổng hợp, so sánh, hệ thống hoá… trên cơ sở xem xét tính phù hợp, thống nhất của các quy định của chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng Việt Nam hiện hành với vấn đề lý luận, với thực tiễn hoạt động giải quyết việc dân sự tại Tòa án để làm rõ các vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu đề tài.
6. Những điểm mới của luận văn
Luận văn là công trình nghiên cứu chuyên sâu về chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam sau khi Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành và có những điểm mới sau đây:
- Hoàn thiện khái niệm và làm rõ ý nghĩa, cơ sở của chế định giải quyết việc dân sự.
- Phân tích làm rõ nội dung các quy định chung của chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành và đánh giá đúng được thực trạng của chúng.
- Đề xuất được những giải pháp cụ thể, góp phần vào việc sửa đổi toàn diện Bộ luật tố tụng dân sự theo Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XIII. Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
Luận văn là tài liệu tham khảo trong nghiên cứu, giảng dạy tại các cơ sở đào tạo luật và trong việc xây dựng các văn bản hướng dẫn thi hành các quy định của chế định giải quyết việc dân sự tại Phần thứ năm Bộ luật tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về chế định giải quyết việc dân sự.
- Chương 2: Nội dung của chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành.
- Chương 3: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự và kiến nghị.
Chương 1 Những vấn đề lý luận về chế định giải quyết việc dân sư trong pháp luật tố tụng dân sự
1.1 Khái niệm và đặc điểm của việc dân sư
1.1.1. Khái niệm việc dân sự
Ở Việt Nam trước năm 2016, theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh thủ tục giải quyết các tranh chấp lao động không có khái niệm việc dân sự mà tất cả các tranh chấp, yêu cầu phát sinh từ quan hệ pháp luật dân sự, hôn nhân và gia đình (HN&GĐ), kinh doanh thương mại và lao động đều được gọi là vụ án. Mỗi loại vụ án, bao gồm cả những việc có tranh chấp và những việc không có tranh chấp được Tòa án thụ lý giải quyết chung theo một thủ tục. Việc quy định như vậy đã không đáp ứng được yêu cầu giải quyết các vụ việc tại Tòa án nhân dân và đòi hỏi của đời sống xã hội. Tất cả các vụ việc dù có tranh chấp hay không có tranh chấp, đơn giản hay phức tạp đều được giải quyết theo một thủ tục, trình tự dẫn đến không giải quyết kịp thời vụ việc, không bảo đảm được quyền và lợi ích của các chủ thể, gây lãng phí cả về thời gian, công sức và tiền bạc của công dân và Nhà nước.
Đứng trước yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội, các tranh chấp trong quan hệ dân sự không ngừng phát sinh đòi hỏi phải hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự để bảo đảm hiệu quả của việc giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu tại Tòa án nhân dân. Để cụ hóa các nội dung chỉ đạo của Đảng về cải cách tư pháp ở Việt Nam và đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn, ngày 15/6/2016 tại kỳ họp thứ V, Quốc hội khóa XI đã thông qua Bộ luật tố tụng dân sự của nước Cộng hòa Xã hội chủ nghĩa Việt Nam đánh dấu bước phát triển mới của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
- Lần đầu tiên khái niệm việc dân sự được quy định tại Điều 311 BLTTDS, theo đó:
Việc dân sự là việc cá nhân , tổ chức không có tranh chấp, nhưng có yêu cầu Toà án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Toà án công nhận cho mình quyền về dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động [22]. Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
Như vậy, việc dân sự được hiểu là việc mà cá nhân, tổ chức không có tranh chấp về quyền và lợi ích hợp pháp giữa các bên do các bên đã thoả thuận được với nhau, tuy nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình các bên yêu cầu Toà án công nhận giá trị pháp lý của sự thoả thuận đó. Hoặc trường hợp chỉ có một bên khi có một sự kiện pháp lý nào đó làm phát sinh quyền và nghiã vụ dân sự hoặc quyền về dân sự yêu cầu Toà án xác nhận sự kiện pháp lý đó; công nhận hoặc không công nhận quyền, nghĩa vụ dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Khác với vụ án dân sự, việc dân sự là loại việc mà giữa các chủ thể với nhau không có tranh chấp về quyền và lợi ích , vụ án dân sự được phát sinh do có tranh chấp về quyền lợi, nghĩa vụ giữa các bên (nguyên đơn và bị đơn ) mà tự họ không thể giải quyết được nên một trong các bên đã khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết. Việc dân sự được phát sinh chỉ do một tuyến chủ thể, mà khi có một sự kiện pháp lý nào đó là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh -thương mại, lao động của mình hoặc của người khác liên quan đến quyền lợi của mình hoặc của cơ quan, tổ chức khác; hoặc phát sinh quyền về dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh – thương mại, lao động thì chính chủ thể này yêu cầu Toà án xem xét để công nhận hay không công nhận các sự kiện pháp lý và các quyền đó cho họ . Hiện nay, về cơ bản thì nội hàm của khái niệm việc dân sự cũng đã và đang được nhiều nước quy định. Ví dụ: Bộ luật tố tụng dân sự của Pháp quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự: “Thẩm phán quyết định giải quyết các việc dân sự theo qu y định của pháp luật khi có yêu cầu trong trường hợp không có tranh chấp; căn cứ vào tính chất của vụ việc hoặc tư cách của người yêu cầu mà vụ việc thuộc quyền quyết định của Thẩm phán ” [16]. Tương tự, Bộ luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga cũng quy định về thủ tục đặc biệt để giải quyết các vụ việc dân sự trong trường hợp không có tranh chấp:
Trong trường hợp khi thụ lý đơn hoặc khi giải quyết vụ việc theo thủ tục đặc biệt mà thấy rằng tranh chấp phải được giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án, thì Tòa án ra quyết định không xem xét đơn yêu cầu, trong đó có giải thích cho người gửi đơn và những người khác liên quan quyền yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án [35].
Bộ luật tố tụng dân sự của Cộng hòa nhân dân Trung Hoa mặc dù không quy định tên gọi là việc dân sự nhưng quy định về trình tự đặc biệt đối với những loại việc không có tranh chấp:
Tòa án nhân dân áp dụng những quy định của chương này xử lý những vụ án: vụ án về tư cách cử tri những vụ án tuyên bố mất tích hoặc tuyên bố tử vong, những vụ án về nhận định công dân không có năng lực hành vi dân sự hoặc năng lực hành vi dân sự hạn chế và những vụ án về tài sản vô chủ…
Trong quá trình xét xử những vụ án theo trình tự của chương này, trường hợp phát hiện vụ án thuộc về tranh chấp quyền lợi dân sự thì nên quyết định kết thúc trình tự đặc biệt và báo cho những người có quan hệ về lợi ích biết để có thể khởi tố theo thủ tục khác [36].
Như vậy, qua phân tích và nghiên cứu tìm hiểu các quy định về việc dân sự tại một số nước như trên nhận thấy có sự tương đồng về khái niệm việc dân sự giữa pháp luật tố tụng dân sự của Việt Nam với pháp luật tố tụng dân sự của một số nước trên thế giới đều là loại việc có bản chất là không có tranh chấp.
1.1.2. Đặc điểm của việc dân sự Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
Bản chất việc dân sự là việc không có tranh chấp. Trong các vụ việc dân sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động của mình hoặc của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động; yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận của các đương sự về quan hệ pháp luật dân sự, kinh doanh thương mại và lao động. Từ các vụ việc cụ thể mà các bên hoặc đã tự thỏa thuận được với nhau về các tình tiết của sự việc cũng như quyền và lợi ích và cùng yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó (các yêu cầu về Hôn nhân và gia đình như công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản; thỏa thuận chấm dứt quan hệ hôn nhân trái pháp luật…) hoặc chỉ có một bên yêu cầu Tòa án xác định một sự kiện pháp lý như yêu cầu xác định năng lực hành vi dân sự của một cá nhân; công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại và lao động; yêu cầu Tòa án hỗ trợ cho việc bảo vệ quyền lợi của mình trong quá trình Trọng tài thương mại giải quyết tranh chấp… Qua đó cho thấy, việc dân sự có các đặc điểm sau:
- Thứ nhất, không có nguyên đơn và bị đơn trong việc dân sự mà chỉ có người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự.
Nguyên đơn là người đứng đơn khởi kiện, người được cá nhân, cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật tố tụng đứng đơn khởi kiện để yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án dân sự khi quyền và lợi ích hợp pháp của người đó bị xâm hại và bị đơn là người bị nguyên đơn khởi kiện hoặc cá nhân, cơ quan, tổ chức khác khởi kiện theo quy định của pháp luật khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bị người đó xâm phạm. Do đó, nguyên đơn và bị đơn là chủ thể của trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án dân sự.
Việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, Hôn nhân và gia đình… do đó, với bản chất là không có tranh chấp, do một tuyến chủ thể yêu cầu khi có những sự kiện xảy ra làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của một bên hoặc làm phát sinh quyền, nghĩa vụ của một bên, chẳng hạn như sự kiện tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, để đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp và nghĩa vụ dân sự của một bên là vợ, chồng đối với một bên là vợ, chồng bị tâm thần như cần phải được chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh, cần phải có người đại diện trong các giao dịch dân sự, cần phải có người quản lý tài sản một cách hợp pháp… thì một bên vợ, chồng có quyền yêu cầu Tòa án tuyên bố người vợ hoặc người chồng đó bị mất năng lực hành vi dân sự. Như vậy, đương sự trong việc dân sự chỉ là một bên yêu cầu, không có tranh chấp giữa các bên như vụ án dân sự do đó không có nguyên đơn và bị đơn như trong vụ án dân sự.
- Thứ hai, các đương sự trong việc dân sự không có tranh chấp với nhau về quyền và nghĩa vụ dân sự. Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
Như trên đã phân tích, việc dân sự là việc cá nhân, cơ quan, tổ chức khi có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận cho mình một sự kiện pháp lý để từ đó làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, Hôn nhân và gia đình… hoặc yêu cầu Tòa án công nhận cho mình quyền về dân sự, Hôn nhân và gia đình, và việc yêu cầu này được thực hiện với điều kiện do một tuyến chủ thể là một bên yêu cầu như sự kiện một người bị mất năng lực hành vi dân sự như đã phân tích trên đây hoặc do cả hai bên yêu cầu nhưng việc yêu cầu phải căn cứ vào sự tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên như sự kiện thuận tình ly hôn trong Hôn nhân và gia đình, bởi việc ly hôn ở đây là có sự “thuận tình” giữa các bên, là sự tự giải quyết giữa các bên do các bên đều tự nhận thấy mục đích của hôn nhân không đạt được và tự nguyện đồng ý về việc ly hôn; cùng thỏa thuận được với nhau về quyền và nghĩa vụ đối với con cái và tài sản; không yêu cầu Tòa án giải quyết tranh chấp về con cái và tài sản mà chỉ yêu cầu Tòa án công nhận việc thuận tình ly hôn để thực hiện quyền và nghĩa vụ dân sự cũng như Hôn nhân và gia đình. Do đó, việc dân sự không có tranh chấp mà chỉ có yêu cầu công nhận hoặc không công nhận quyền và nghĩa vụ dân sự.
- Thứ ba, từ yêu cầu của đương sự Tòa án sẽ công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý mà từ sự kiện đó làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự; từ yêu cầu của đương sự Tòa án công nhận quyền dân sự cho họ.
Sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự có nghĩa là khi sự kiện đó xảy ra làm thay đổi cơ bản về quyền và nghĩa vụ dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức, do đó, để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì cá nhân, cơ quan, tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận sự kiện pháp lý đó để tránh sự xáo trộn trong trong quan hệ dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của cá nhân, cơ quan, tổ chức đó, làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp cũng như nghĩa vụ họ. Ví dụ, anh Nguyễn Văn A là quản đốc phân xưởng phụ trách một dây chuyền sản xuất thiết bị tại nhà máy sản xuất bóng đèn X bị tâm thần đã được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận, không thể làm chủ được hành vi của mình, làm ảnh hưởng và gây thiệt hại đối với nhà máy X… do đó theo yêu cầu của Nhà máy X yêu cầu Tòa án ra quyết định tuyên bố anh Nguyễn Văn A mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở kết luận của cơ quan y tế có thẩm quyền, Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tuyên bố anh Nguyễn Văn A bị mất năng lực hành vi dân sự và đồng thời trong Quyết định đó Tòa án quyết định người đại diện theo pháp luật cho anh Nguyễn Văn A và phạm vi đại diện theo quy định tại Điều 321 Bộ luật tố tụng dân sự để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của anh Nguyễn Văn A trong quan hệ lao động với nhà máy X nói riêng và quan hệ dân sự, Hôn nhân và gia đình nói chung… đồng thời Quyết định tuyên bố anh A mất năng lực hành vi dân sự làm phát sinh nghĩa vụ giám hộ đương nhiên của vợ hoặc cha, mẹ hoặc anh, chị em ruột đối với anh Nguyễn Văn A như việc chăm sóc, bảo đảm việc điều trị bệnh cho anh A, đại diện cho anh A trong các giao dịch dân sự, quản lý tài sản riêng của anh A và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp khác của anh A theo quy định tại Điều 67 Bộ luật dân sự (BLDS) năm 2017. Và cũng xuất phát từ việc nhà máy X yêu cầu Tòa án công nhận anh Nguyễn Văn A là người bị mất năng lực hành vi dân sự mà làm phát sinh quyền và nghĩa vụ lao động của nhà máy X; cũng như quyền và nghĩa vụ dân sự của những người thân trong gia đình anh A đối với anh A.
1.2 Khái niệm, đặc điểm, cơ sở và ý nghĩa của chế định giải quyết việc dân sự Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
1.2.1. Khái niệm chế định giải quyết việc dân sư
Để bảo đảm trật tự xã hội, mọi hoạt động của các cá nhân, tổ chức đều phải được thực hiện trên cơ sở của pháp luật, mọi hành động xâm phạm lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tập thể và của công dân đều bị xử lý theo pháp luật. Trong trường hợp có vi phạm hoặc tranh chấp các chủ thể đều có quyền tự quyết định, định đoạt quyền và lợi ích hợp pháp của họ và lựa chọn cách thức, biện pháp giải quyết tranh chấp phù hợp với quy định của pháp luật tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự “đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó” [22] đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của luật tố tụng dân sự và là một trong các yếu tố phản ánh bản chất của tố tụng dân sự. Theo đó, khi mỗi cá nhân, tổ chức bị xâm phạm quyền và lợi ích có thể lựa chọn cho mình cách giải quyết tốt nhất, phù hợp với quy định của pháp luật để khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết hay còn gọi là tham gia quá trình tố tụng tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích của mình. Tuy nhiên, để bảo vệ quyền và lợi ích của mình, việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án giải quyết cũng không phải là “tùy tiện” mà phải theo đúng quy định của pháp luật tố tụng về quyền khởi kiện, phạm vi khởi kiện, cách thức thực hiện quyền khởi kiện, trình tự, thủ tục khởi kiện, thời hiệu yêu cầu… Khi cá nhân, tổ chức mà phát sinh những mâu thuẫn, tranh chấp thì làm đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục, trình tự giải quyết vụ án dân sự; cá nhân, tổ chức không phát sinh tranh chấp nhưng có yêu cầu ghi nhận về một sự kiện pháp lý nào đó thì làm đơn yêu cầu Tòa án giải quyết theo thủ tục, trình tự giải quyết việc dân sự. Để bảo đảm việc giải quyết nhanh chóng và đúng đắn vụ việc dân sự, pháp luật tố tụng dân sự quy định các thủ tục tố tụng tương ứng với vụ, việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án, theo đó có các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự và các quy định về trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự.
Trong pháp luật Việt Nam nói chung và pháp luật tố tụng dân sự nói riêng chưa có một văn bản hoặc điều luật nào định nghĩa thế nào là chế định giải quyết việc dân sự. Từ khi Bộ luật tố tụng dân sự được ban hành và có hiệu lực cho đến nay tuy đã có nhiều công trình khoa học nghiên cứu về thủ tục giải quyết việc dân sự nhưng các công trình đó cũng mới chỉ phân tích về khái niệm việc dân sự, nêu lên phạm vi áp dụng, những vấn đề thuộc về chủ thể, nội dung và thủ tục giải quyết việc dân sự mà chưa đưa ra được khái niệm về chế định giải quyết việc dân sự. Theo Từ điển tiếng Việt thì chế định là “Đặt ra, quy định thành thể lệ, chế độ. Chế định một bộ luật”; “Toàn bộ nói chung những quan hệ pháp lý được quy định về một vấn đề. Quyền sở hữu là một chế định của ngành luật dân sự” [38, tr. 149]. Theo Từ điển Luật học thì “chế định” là tổng thể các quy phạm pháp luật điều chỉnh nhóm quan hệ xã hội gần gũi, có cùng tính chất trong phạm vi mỗi ngành luật vốn bao gồm nhiều chế định. Ví dụ: ngành luật dân sự có các chế định như chế định quyền sở hữu, chế định hợp đồng, chế định thừa kế, chế định quyền tác giả…[34, tr. 122]. Như vậy, tổng hợp các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về nguyên tắc, thẩm quyền, thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự, thủ tục nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự, thủ tục chuẩn bị xét đơn yêu cầu, thủ tục tiến hành giải quyết việc dân sự v.v…có thể trở thành một chế định của pháp luật tố tụng dân sự – Chế định giải quyết việc dân sự. Từ đó, có thể đi đến kết luận: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự là tổng hợp các quy định của pháp luật tố tụng dân sự về trình tự và thủ tục giải quyết việc dân sự tại Tòa án nhân dân. Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
Trong pháp luật Việt Nam hiện hành, chế định giải quyết việc dân sự bao gồm các quy định chung tại Chương XX của Bộ luật tố tụng dân sự và các quy định tại các chương khác của Bộ luật tố tụng dân sự, các quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự và các văn bản hướng dẫn thi hành các đạo luật này. Theo đó, nội dung của chế định giải quyết việc dân sự tại Phần thứ năm Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2023 gồm có các quy định về nguyên tắc, thẩm quyền giải quyết việc dân sự của Tòa án; thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự; thủ tục nộp đơn yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự; thủ tục chuẩn bị xét đơn yêu cầu; những người tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự; thủ tục tiến hành giải quyết việc dân sự; thời hạn kháng cáo, kháng nghị; thủ tục phúc thẩm quyết định giải quyết việc dân sự bị kháng cáo, kháng nghị.
1.2.2. Đặc điểm của chế định giải quyết việc dân sự
Bản chất của việc dân sự là không có tranh chấp, chứng cứ rõ ràng, không cần nhiều thời gian để thu thập chứng cứ và các bên đã tự nguyện, thỏa thuận… nên đòi hỏi pháp luật tố tụng dân sự cần phải quy định một chế định riêng để giải quyết các yêu cầu phát sinh trong thực tiễn đời sống xã hội sao cho phù hợp với bản chất của nó. Theo đó, các nhà làm luật đã căn cứ vào bản chất của việc dân sự quy định cách thức, trình tự giải quyết việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án một cách mềm dẻo, linh hoạt, đơn giản để mang lại hiệu quả thiết thực cho cơ quan tố tụng và người tham gia tố tụng và có các đặc điểm sau đây:
- Thứ nhất, thời hạn tố tụng giải quyết việc dân sự được quy định ngắn hơn so với thời hạn tố tụng giải quyết vụ án dân sự.
Theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự thì thời hạn chuẩn bị xét xử vụ án dân sự được quy định là bốn tháng kể từ ngày thụ lý, đối với các vụ án có tính chất phức tạp hoặc do trở ngại khách quan thì thời hạn xét xử được gia hạn không quá hai tháng là sáu tháng. Thời hạn mở phiên tòa được quy định là một tháng kể từ ngày có quyết định đưa vụ án ra xét xử, trong trường hợp có lý do chính đáng thì thời hạn này là hai tháng.
Thời hạn tố tụng giải quyết việc dân sự ngắn hơn so với thời hạn tố tụng giải quyết vụ án dân sự, ví dụ: Thời hạn chuẩn bị phiên họp giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự, hạn chế năng lực hành vi dân sự, tuyên bố một người là đã chết là 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn, trong thời hạn này Thẩm phán được phân công giải quyết việc dân sự phải ra một trong các quyết định: đình chỉ, tạm đình chỉ, mở phiên họp xét đơn yêu cầu. Thời hạn mở phiên họp được quy định là mười lăm ngày kể từ ngày ra quyết định mở phiên họp.
Bên cạnh đó, đối với thủ tục yêu cầu thông báo tìm kiếm người vắng mặt tại nơi cư trú và thủ tục giải quyết yêu cầu tuyên bố một người mất tích thì thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu là hai mươi ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu.
- Thứ hai, quy định thành phần giải quyết việc dân sự ở cấp sơ thẩm do một Thẩm phán giải quyết, không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân. Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
Xuất phát từ bản chất việc dân sự là không có tranh chấp, do các bên tự nguyện yêu cầu hoặc thỏa thuận, chứng cứ rõ ràng do đó, pháp luật tố tụng dân sự quy định về thành phần giải quyết việc dân sự ở cấp sơ thẩm đơn giản hơn, do một Thẩm phán giải quyết, không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân, trừ những yêu cầu công nhận và cho thi hành ở Việt Nam hoặc không công nhận những bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài hoặc công nhận và cho thi hành ở Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài thì do một Hội đồng gồm ba Thẩm phán giải quyết không có Hội thẩm nhân dân. Trong khi đó thành phần giải quyết vụ án dân sự theo quy định tại Điều 52 Bộ luật tố tụng dân sự thì thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án dân sự gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân,, trong trường hợp đặc biệt thì gồm hai Thẩm phán và ba Hội thẩm nhân dân. Như vậy, với quy định về thành phần giải quyết việc dân sự như trên nên thủ tục xem xét và ra quyết định của Bộ luật tố tụng dân sự đơn giản và nhanh chóng hơn rất nhiều so với thủ tục nghị án và tuyên án trong phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án dân sự.
- Thứ ba, quy định Tòa án mở phiên họp để giải quyết việc dân sự mà không phải là phiên tòa như như đối với giải quyết vụ án dân sự.
Phiên tòa được hiểu là phiên xét xử trong vụ án dân sự để giải quyết tranh chấp giữa các bên, có sự tham gia của một bên khởi kiện là nguyên đơn và một bên bị kiện là bị đơn, do đó có sự đối kháng giữa các bên; có sự tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên và có phần tranh luận giữa các bên với nhau. Trong khi đó việc giải quyết việc dân sự không có phần tranh luận do bản chất của việc dân sự là không có tranh chấp nên không có sự đối kháng về quyền lợi giữa các bên, không có sự tham gia tố tụng của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu hay người có liên quan do đó không có phần tranh luận, việc giải quyết được thực hiện như một cuộc họp giữa một bên là Thẩm phán và một bên là người yêu cầu, Thẩm phán không phải đánh giá chứng cứ và phân xử giữa các bên, chỉ nghe lời trình bày của người yêu cầu, những lời khai của người làm chứng, người giám định (nếu có) và xem xét tài liệu, chứng cứ liên quan rồi ra Quyết định, do đó Bộ luật tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự đã quy định là phiên họp giải quyết việc dân sự.
- Thứ tư, quy định thủ tục hòa giải không được áp dụng “tuyệt đối” đối với việc giải quyết việc dân sự.
Xét về mặt lý luận thì hoạt động hòa giải chỉ đặt ra khi có mâu thuẫn, tranh chấp giữa các bên trong các quan hệ về dân sự, kinh doanh, Hôn nhân và gia đình. Việc dân sự là việc không có tranh chấp giữa các bên, không cần tìm kiếm giải pháp đồng thuận giữa các bên do không có sự đối kháng về quyền và nghĩa vụ hoặc là những yêu cầu công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ làm phát sinh quyền, nghĩa vụ và quá trình giải quyết do một bên yêu cầu với một bên là Tòa án có thẩm quyền giải quyết, do đó, đối với việc dân sự không có thủ tục hòa giải trừ loại việc công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn vì đây là yêu cầu về Hôn nhân và gia đình bắt buộc phải qua thủ tục hòa giải theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình. Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
- Thứ năm, quy định tại phiên họp giải quyết việc dân sự không có phần tranh luận.
Bản chất của việc dân sự là không có tranh chấp, đương sự chỉ yêu cầu Tòa án xác định một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự của họ hay công nhận quyền, nghĩa vụ dân sự của họ. Vì vậy, chế định giải quyết việc dân sự không quy định phần tranh luận tại phiên họp giải quyết việc dân sự. Sau khi nghe các bên đương sự trình bày và đại diện Viện kiểm sát phát biểu, Thẩm phán xem xét ra quyết định giải quyết việc dân sự.
Thứ sáu, thời hạn kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự được quy định ngắn hơn so với thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm (trừ một vài việc dân sự cụ thể thời hạn kháng cáo, kháng nghị được quy định như thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm).
Thời hạn kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định giải quyết việc dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự được quy định là bảy ngày kể từ ngày ra quyết định hoặc nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc ngày được thông báo, niêm yết và mười lăm ngày đối với kháng nghị của Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp kể từ ngày Tòa án ra quyết định, do đó, ngắn hơn so với quy định về thời hạn kháng cáo, kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm là mười lăm ngày kể từ ngày tuyên án hoặc từ ngày bản án được giao và ba mươi ngày kể từ ngày tuyên án đối với Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp.
Thứ bảy, thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị không phải tiến hành mở phiên tòa, không phải triệu tập các đương sự trừ khi thấy cần thiết.
Bởi bản chất việc dân sự chỉ là yêu cầu nhằm công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý hoặc một quyền dân sự mà không có tranh chấp; chỉ có một bên chủ thể đến Tòa án để đưa ra yêu cầu, do đó thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm chỉ là phiên họp để xem xét lại nội dung kháng cáo, kháng nghị đối với Quyết định giải quyết việc dân sự, chẳng hạn đối với yêu cầu tuyên bố một người là mất tích Tòa án sẽ xem xét lại tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ việc dân sự đó hoặc xem xét có hay không việc vi phạm thủ tục tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm theo quy định của pháp luật tố tụng, do đó, với ý nghĩa là một thủ tục đơn giản nên Bộ luật tố tụng dân sự quy định thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị không phải mở phiên tòa mà là phiên họp, không phải triệu tập các đương sự trừ khi thấy cần phải xác định rõ về nội dung kháng cáo của đương sự.
- Thứ tám, không quy định tái thẩm đối với một số quyết định giải quyết việc dân sự.
Thủ tục tái thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị khi phát hiện những tình tiết mới mà làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định đó mà Tòa án và bản thân các đương sự đã không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định đó. Đối với một số việc dân sự như yêu cầu tuyên bố một người mất tích, yêu cầu tuyên bố một người là đã chết thì người bị tuyên bố là mất tích hoặc đã chết trở về hoặc người có quyền, lợi ích liên quan nếu có tin tức xác thực là người bị yêu cầu đó còn sống thì theo quy định của pháp luật tố tụng có quyền tự mình yêu cầu chính Tòa án ra quyết định giải quyết việc dân sự ra quyết định hủy bỏ quyết định giải quyết việc dân sự đó bởi chính sự trở về hoặc bằng chứng xác thực về sự trở về của họ không còn thuộc tình trạng “đã chết” là bằng chứng đầy đủ nhất cho yêu cầu hủy đó là có căn cứ, do đó, không áp dụng theo trình tự tái thẩm. Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
- Thứ chín, quy định hình thức văn bản của việc giải quyết việc dân sự là quyết định.
Như trên đã phân tích về bản chất của việc dân sự không có tranh chấp và chỉ là yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý hoặc một quyền dân sự, do đó, có thể hiểu việc dân sự mang tính hành chính hơn là tư pháp. Đương sự chỉ là một bên chủ thể có yêu cầu gửi đến Tòa án, Tòa án không phải xem xét về nội dung vụ việc mà chỉ xem xét các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp chứng minh cho yêu cầu của họ là có căn cứ, hợp pháp để Tòa án công nhận hoặc không công nhận sự kiện pháp lý hoặc quyền dân sự nào đó đang diễn ra tại thời điểm ấy. Tòa án chỉ tiến hành phiên họp để xem xét và công nhận hay không công nhận yêu cầu đó mà không phải mở phiên tòa, do đó, sau khi xem xét đầy đủ các căn cứ pháp lý và xét yêu cầu của họ, Tòa án sẽ ra Quyết định công nhận hay không công nhận mà không phải là bản án, và quyết định này có thể được chính Tòa án đã ra quyết định hủy bỏ khi có những căn cứ nhất định như việc người bị tuyên bố là mất tích trở về…
Như vậy, qua các đặc điểm của trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự trên đây có thể khái quát đặc điểm của chế định dân sự như sau: Rút ngắn về thời hạn, đơn giản thành phần giải quyết và về thủ tục giải quyết việc dân sự nhằm giải quyết nhanh chóng, kịp thời việc dân sự nhưng vẫn bảo đảm tính đúng đắn, chính xác của pháp luật và bảo đảm được quyền và lợi ích của các đương sự; tiết kiệm được chi phí về thời gian, tiền bạc, công sức của Nhà nước, nhân dân.
1.2.3. Cơ sở của chế định giải quyết việc dân sự
1.2.3.1. Cơ sở lý luận của chế định giải quyết việc dân sự
Nhìn nhận được nhu cầu hợp lý của thực tiễn và tính logic trong khoa học pháp lý về nhu cầu cần phải quy định một thủ tục để giải quyết các vụ việc dân sự trong những trường hợp nhất định như việc dân sự mà không có tranh chấp, chứng cứ rõ ràng và do các bên tự nguyện thỏa thuận, Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02 tháng 01 năm 2014 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” khẳng định: “Nghiên cứu để quy định và thực hiện thủ tục rút gọn đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng…”, “tiếp tục xây dựng và hoàn thiện pháp luật về tư pháp, khẩn trương ban hành Bộ luật tố tụng dân sự…” [5]. Như vậy, từ những yêu cầu cụ thể này của công cuộc cải cách tư pháp đòi hỏi phải xây dựng Bộ luật tố tụng dân sự trong đó phải quy định cơ chế xét xử linh hoạt, đơn giản, gọn nhẹ, giải quyết các yêu cầu của đương sự một cách nhanh chóng, tiết kiệm được cả về thời gian, công sức và chi phí tố tụng của Nhà nước cũng như của các đương sự, bảo đảm bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.
Bên cạnh đó, chế định giải quyết việc dân sự còn xuất phát từ nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự. Theo quy định tại Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự “Đương sự có quyền quyết định việc khởi kiện, yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết vụ, việc dân sự. Tòa án chỉ thụ lý giải quyết vụ việc dân sự khi có đơn khởi kiện, đơn yêu cầu của đương sự và chỉ giải quyết trong phạm vi đơn khởi kiện, đơn yêu cầu đó” [22]. Đây là nguyên tắc xuất phát từ tính tự chủ, tự định đoạt, tự chịu trách nhiệm …, theo đó, các đương sự quyền chấm dứt, thay đổi các yêu cầu của mình hoặc thỏa thuận với nhau một cách tự nguyện không trái pháp luật và đạo đức xã hội. Các chủ thể có quyền quyết định phương thức thực hiện quyền, nghĩa vụ, quyết định cách thức để giải quyết tranh chấp hoặc yêu cầu của mình theo đúng quy định của pháp luật một cách nhanh nhất, kịp thời nhất để bảo đảm được quyền và lợi ích hợp pháp của mình tại Tòa án. Trong trường hợp các chủ thể đã giải quyết được tranh chấp bằng con đường thỏa thuận và muốn sự thỏa thuận đó có giá trị về mặt pháp lý thì có quyền yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó mà không phải mất nhiều thời gian, trình tự thủ tục phức tạp theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự hoặc trong trường hợp các chủ thể có các sự kiện pháp lý xảy ra làm phát sinh quyền, nghĩa vụ dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động của mình thì có quyền yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận sự kiện pháp lý đó.
1.2.3.2 Cơ sở thực tiễn của chế định giải quyết việc dân sự Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
Trước đây, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế và Pháp lệnh thủ tục giải quyết tranh chấp lao động không có quy định riêng cho việc giải quyết bất cứ một loại vụ việc nào. Tất cả các vụ việc dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh tế và lao động đều phải được thực hiện qua những thủ tục chung cho việc giải quyết các vụ án dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh tế và lao động. Có nghĩa là việc giải quyết tất cả các vụ án trên đều phải tuân theo thủ tục, trình tự, thời hạn tố tụng do pháp luật quy định chung, không phân biệt đơn giản hay phức tạp, chứng cứ đầy đủ, rõ ràng, đã được các đương sự thỏa thuận, và không có tranh chấp để được rút ngắn thời gian hoặc bất cứ một thủ tục nào. Do đó, đã dẫn đến thực tiễn giải quyết các vụ việc tại các Tòa án nhân dân luôn nằm trong tình trạng tồn đọng, gây bức xúc cho các đương sự, lãng phí thời gian, tiền bạc của Nhà nước và của đương sự, không bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự, không phát huy được tính chủ động của Thẩm phán. Theo các nhà nghiên cứu thì trong thời thời gian này với các quy định của các pháp lệnh về thủ tục giải quyết các vụ án dân sự, kinh tế và lao động đã kéo theo việc tồn đọng án tại các Tòa án nhân dân, ví dụ: năm 2013 là 17.145 vụ; năm 2014 là 25.117 vụ; năm 2015 là 17.245 vụ; năm 2016 là 17.391 vụ [32] …
Ngoài ra, một cơ sở thực tiễn nữa cũng rất quan trọng trong xây dựng chế định giải quyết việc dân sự là trên thế giới đã có một số nước có nền pháp luật tiên tiến như Cộng hòa Liên bang Nga, Cộng hòa Pháp, Cộng hòa nhân dân Trung Hoa… đã có các chương quy định riêng về thủ tục đặc biệt để giải quyết những yêu cầu không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý nào đó là căn cứ phát sinh quyền và nghĩa vụ dân sự, Hôn nhân và gia đình… Như vậy, việc đòi hỏi các nhà làm luật xây dựng chế định giải quyết việc dân sự là phù hợp với xu thế chung, đáp ứng được yêu cầu xã hội, tận dụng được những kinh nghiệm của những quy định trước đây của nước ta và trên thế giới.
1.2.4. Ý nghĩa của chế định giải quyết việc dân sự
Trước đây khi giải quyết các vụ án về dân sự chỉ áp dụng một thủ tục tố tụng giải quyết các vụ án dân sự chung nhất, dù là có tranh chấp hay không có tranh chấp, việc giải quyết phải theo một trình tự thủ tục tố tụng nhất định với một khoảng thời gian nhất định không được rút ngắn thời gian và cũng không được bỏ qua một thủ tục nào, dẫn đến một thời gian dài trong thực tế có nhiều loại việc như tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hay tuyên bố một người mất tích mặc dù có đầy đủ căn cứ chứng minh về yêu cầu của đương sự là đầy đủ, rõ ràng nhưng Tòa án vẫn phải áp dụng các quy định về thủ tục, trình tự giải quyết vụ án dân sự như: thời hạn chuẩn bị xét xử là bốn tháng và vẫn phải mở phiên tòa để giải quyết như vậy vừa rườm rà, kéo dài việc giải quyết, gây mất thời gian, tốn kém cho Nhà nước và công dân. Bộ luật tố tụng dân sự với tư cách là luật quy định về những nguyên tắc cơ bản trong tố tụng dân sự; trình tự, thủ tục khởi kiện để Toà án giải quyết các vụ án về tranh chấp dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động; trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự, việc dân sự,… nên phải chứa đựng những quy phạm về trình tự, thủ tục tố tụng. Do đó, cần thiết thiết kế những quy định mềm dẻo, mang tính linh hoạt để làm sao vừa phải phù hợp với các quy định của pháp luật có liên quan, vừa tối đa giải quyết được yêu cầu của thực tiễn bảo vệ cá nhân, tổ chức trước thực tế ngày càng nhiều sự vi phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ. Do đó, việc quy định chế định giải quyết việc dân sự có ý nghĩa như sau:
- Thứ nhất, quán triệt, thể chế hóa kịp thời các chủ trương, nghị quyết của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp.
Quán triệt văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X Ban chấp hành Trung ương Đảng, tiếp tục tiến trình hoàn thiện hóa hệ thống pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 48-NQ/TW về chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến 2022, định hướng đến 2030 và Nghị quyết số 49-NQ/TW về chiến lược cải cách tư pháp đến 2030: “Hoàn thiện pháp luật dân sự, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức khi tham gia giao dịch, thúc đẩy các quan hệ dân sự phát triển lành mạnh…” “Tiếp tục hoàn thiện thủ tục tố tụng dân sự…” [7]. Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
- Thứ hai, đáp ứng yêu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam.
Chế định giải quyết việc dân sự đáp ứng được nhu cầu hợp lý của thực tiễn và tính logic trong khoa học pháp lý về nhu cầu cần có thủ tục riêng để giải quyết các loại việc dân sự không có tranh chấp, do một bên yêu cầu hoặc do các bên thỏa thuận yêu cầu Tòa án công nhận hoặc không công nhận một sự kiện pháp lý làm phát sinh quyền và nghĩa vụ… hoặc một sự thỏa thuận của các bên đương sự… và công nhận hoặc không công nhận quyền về dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại và lao động. Tạo điều kiện cho Tòa án giải quyết các yêu cầu về dân sự bằng trình tự thủ tục giải quyết việc dân sự đơn giản, nhanh chóng và kịp thời, giảm tải được số lượng lớn về án tồn đọng về giải quyết việc dân sự.
- Thứ ba, bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự trong tố tụng dân sự.
Điều 4 Bộ luật dân sự ghi nhận “Quyền tự do, cam kết thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự được pháp luật bảo đảm, nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội” [19]. Các chủ thể có quyền tự do quyết định việc tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, quyết định nội dung của quan hệ, quyết định phương thức thực hiện quyền, nghĩa vụ, quyết định cách thức để giải quyết tranh chấp. Trong trường hợp các chủ thể đã giải quyết được tranh chấp bằng con đường thỏa thuận và muốn sự thỏa thuận đó có giá trị về mặt pháp lý thì yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó.
- Thứ tư, giảm đáng kể các chi phí tố tụng.
Xuất phát từ bản chất của việc dân sự Pháp lệnh về án phí, lệ phí Tòa án quy định về lệ phí đối với các việc dân sự thấp hơn án phí trong các vụ án xét xử theo thủ tục thông thường. Bên cạnh đó vì vụ án đơn giản, cần xét xử nhanh nên các chi phí đi lại, thu thập chứng cứ,… đều ở mức thấp hoặc không phát sinh. Tòa án cũng không phải tiến hành nhiều thủ tục tố tụng mà gần như chỉ căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do đương sự cung cấp nên không phát sinh những chi phí tố tụng như: giám định, định giá, thu thập chứng cứ,…
- Thứ năm, thủ tục giải quyết việc dân sự được quy định đơn giản và thời gian giải quyết việc dân sự được quy định rút ngắn.
Các công việc giải quyết việc dân sự được quy định đơn giản, thời gian giải quyết việc dân sự được quy định rút ngắn hơn so với thời gian tiến hành xét xử theo thủ tục thông thường từ đó giảm đáng kể thời gian đi lại của đương sự và thời gian giải quyết vụ việc của Tòa án. Mặt khác, pháp luật cũng quy định một số quyết định của Tòa án có hiệu lực thi hành ngay như quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, quyết định công nhận thuận tình ly hôn…Từ đó, đã kịp thời được nguyện vọng của người dân và yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
- Thứ sáu, về tính thuận lợi đối với người dân và Tòa án.
Xét xử theo thủ tục giải quyết việc dân sự tạo nhiều thuận lợi cho tố tụng của người dân và thuận lợi cho việc xét xử của Tòa án. Giải quyết theo thủ tục giải quyết việc dân sự còn tạo thuận lợi cho đương sự trong việc yêu cầu, tham gia tố tụng và các hoạt động tố tụng khác. Trong việc dân sự không có tranh chấp, chứng cứ rõ ràng thì người yêu cầu không phải trải qua tất cả các giai đoạn tố tụng như thủ tục xét xử thông thường mà chỉ cần thực hiện một số thủ tục luật định cần thiết để giải quyết vụ việc.Việc tiến hành các công việc phục vụ cho hoạt động xét xử của Thẩm phán cũng được Thẩm phán chủ động tiến hành thuận lợi hơn vì không phải thực hiện đầy đủ các quy định, thủ tục như thủ tục xét xử vụ án.
Bên cạnh đó, việc xét xử theo thủ tục giải quyết việc dân sự cũng khuyến khích người dân sử dụng Tòa án như là một cách thức có hiệu quả để giải quyết những tranh chấp mà có thể thỏa thuận được với nhau.
- Thứ bảy, về tác động đối với hiệu xuất, hiệu quả công tác xét xử của Tòa án.
Xét xử theo thủ tục giải quyết việc dân sự góp phần nâng cao hiệu xuất, hiệu quả công tác xét xử của Tòa án nói chung và Thẩm phán nói riêng. Xét xử theo chế định giải quyết việc dân sự tạo điều kiện cho Thẩm phán chủ động giải quyết vụ việc một cách linh hoạt, thúc đẩy Tòa án giải quyết kịp thời hàng loạt vụ việc dân sự đơn giản. Thẩm phán tiến hành xét xử theo chế định giải quyết việc dân sự có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong phạm vi nhiệm vụ, quyền hạn được giao.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
Qua nghiên cứu những vấn đề lý luận về chế định giải quyết việc dân sự cho thấy chế định giải quyết việc dân sự pháp luật tố tụng dân sự là tổng hợp các quy định của pháp luật về trình tự và thủ tục giải quyết việc dân sự tại Tòa án nhân dân có thẩm quyền. Chế định giải quyết việc dân sự bao gồm các quy định về phạm vi áp dụng và thẩm quyền giải quyết của Tòa án; thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự; thủ tục yêu cầu và thủ tục tiến hành giải quyết việc dân sự v.v… Cơ sở của chế định giải quyết việc dân sự là đòi hỏi của thực tiễn đời sống xã hội cần phải quy định thủ tục đơn giản, nhanh gọn để giải quyết được các yêu cầu của đương sự hoặc các tranh chấp về dân sự mà giữa các bên đương sự đã tìm được sự thỏa thuận một cách nhanh nhất, hiệu quả nhất. Xuất phát từ bản chất việc dân sự là không có tranh chấp, không có mâu thuẫn, xung đột, đối kháng về quyền và lợi ích, chỉ có một bên chủ thể yêu cầu nên Tòa án chỉ cần xem xét yêu cầu, chứng cứ tài liệu kèm theo và ra quyết định công nhận hay không công nhận sự kiện pháp lý hoặc yêu cầu dân sự đó. Do đó, trình tự, thủ tục giải quyết việc dân sự phải được quy định đơn giản. Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành có ý nghĩa to lớn vừa thể chế hóa được quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về cải cách tư pháp vừa bảo đảm việc giải quyết các yêu cầu của đương sự một cách nhanh chóng, tiết kiệm được cả về thời gian, công sức, tiền của của Nhà nước và của đương sự, bảo đảm việc bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
