Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Nội dung của chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1 Những quy định chung về giải quyết việc dân sự

2.1.1. Những loại việc dân sự thuộc thẩm quyền của Tòa án nhân dân

Các yêu cầu giải quyết việc dân sự chủ yếu quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, Luật LHN&GĐ năm 2012 và một số văn bản quy phạm pháp luật khác. Căn cứ tính chất, đặc điểm, nội dung của các yêu cầu giải quyết việc dân sự cụ thể, Bộ luật tố tụng dân sự và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự quy định về thẩm quyền của Tòa án nhân dân các cấp giải quyết việc dân sự cụ thể như sau:

2.1.1.1. Tòa án nhân dân cấp huyện

Tòa án nhân dân cấp huyện giải quyết các việc dân sự sau: Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự; tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự; yêu cầu tuyên bố một người mất tích, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích; yêu cầu tuyên bố một người là đã chết, hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết; yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật; yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con; yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn; yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn; yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi; yêu cầu tuyên bố văn bản công chứng vô hiệu; yêu cầu xác định quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản; phân chia tài sản chung để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án dân sự.

2.1.1.2. Tòa án nhân dân cấp tỉnh

Tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết các việc dân sự sau: Yêu cầu về dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp huyện mà có đương sự hoặc tài sản liên quan đến việc giải quyết việc dân sự ở nước ngoài hoặc cần phải ủy thác tư pháp cho cơ quan lãnh sự của Việt Nam ở nước ngoài, cho Tòa án nước ngoài; yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định của Luật Trọng tài thương mại; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các bản án, quyết định về dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài và bản án, quyết định khác của Tòa án nước ngoài mà theo pháp luật của Việt Nam được coi là bản án, quyết định dân sự; yêu cầu không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam; yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các quyết định của Trọng tài nước ngoài và các yêu cầu khác về dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại (trừ trường hợp yêu cầu hủy bỏ quyết định của Đại hội đồng cổ đông theo quy định tại Điều 107 Luật Doanh nghiệp), lao động mà pháp luật có quy định.

Tuy nhiên, đối với các yêu cầu yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam các bản án, quyết định về dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài và bản án, quyết định khác của Tòa án nước ngoài mà theo pháp luật của Việt Nam được coi là bản án, quyết định dân sự; yêu cầu không công nhận bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam thì Tòa án sẽ không được áp dụng thủ tục quy định tại Chương XX mà áp dụng các điều luật khác của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết, cụ thể là áp dụng quy định tại Phần thứ sáu của Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài; quyết định của Trọng tài nước ngoài.

2.1.2. Nguyên tắc giải quyết việc dân sự Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

Thủ tục giải quyết việc dân sự được quy định tại Phần thứ năm từ Điều 311 đến Điều 341 của Bộ luật tố tụng dân sự, trong đó phần quy định chung về thủ tục giải quyết việc dân sự được quy định tại Chương XX từ Điều 311 đến Điều 318. Theo quy định tại Điều 311 thì Tòa án áp dụng những quy định của Chương XX, đồng thời áp dụng những quy định khác của Bộ luật tố tụng dân sự không trái với quy định tại Chương XX để giải quyết những việc dân sự quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4 và 6 Điều 26, các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 7 Điều 28, khoản 1 và 4 Điều 30 và khoản 3 Điều 32 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2023.

Ngoài ra đối với những việc dân sự quy định tại các khoản 5 Điều 26, khoản 6 Điều 28, khoản 2 và 3 Điều 30 và khoản 1 và 2 Điều 32 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự được giải quyết theo trình tự riêng.

Theo những quy định trên, thì việc áp dụng Điều 311 được thực hiện theo nguyên tắc khi giải quyết việc dân sự, Tòa án trước hết áp dụng những quy định tại Chương XX Phần thứ năm của Bộ luật tố tụng dân sự để giải quyết. Đồng thời, Tòa án cũng áp dụng những quy định khác của Bộ luật nhưng không trái với những quy định tại Chương XX để giải quyết các việc dân sự như thời hạn xét xử, thành phần Hội đồng xét xử, thủ tục thụ lý đơn, thời hạn chuẩn bị xét xử…để giải quyết những việc dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Ví dụ: các vấn đề về thụ lý đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự, tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết việc dân sự mặc dù Chương XX không quy định nhưng khi giải quyết việc dân sự Thẩm phán cần áp dụng các quy định tương ứng trong Phần thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2023. Quy định khác của Bộ luật tố tụng dân sự trái với quy định tại Chương XX được hiểu là quy định mâu thuẫn với quy định tại Chương XX, không phù hợp với bản chất của việc dân sự, ví dụ: đối với các quy định tại Chương XIII về thủ tục hòa giải, mặc dù tại Điều 10 Bộ luật tố tụng dân sự quy định “Tòa án có trách nhiệm tiến hành hòa giải và tạo điều kiện thuận lợi để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ việc dân sự theo quy định của Bộ luật này” [22]. Song, do bản chất việc dân sự là không có yếu tố tranh chấp về quyền, nghĩa vụ dân sự nên không cần tiến hành thủ tục hòa giải vì vậy không áp dụng quy định tại Chương XIII về hòa giải để hòa giải việc dân sự trừ việc giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn theo quy định tại Điều 90 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2012. Tuy nhiên, về áp dụng hòa giải trong thủ tục giải quyết việc dân sự hiện nay vẫn tồn tại hai cách hiểu khác nhau, cách hiểu thứ nhất áp dụng hòa giải theo quy định tại Điều 88 và Điều 90 LHN&GĐ về công nhận thuận tình ly hôn và theo hướng dẫn tại Công văn số 107/KHXX ngày 23-6-2018 của Viện khoa học xét xử khi giải quyết thuận tình ly hôn vẫn tiến hành hòa giải, nếu các bên vẫn giữ nguyên yêu cầu công nhận ly hôn nhưng có tranh chấp về nuôi dưỡng con chung và tài sản mà Tòa án lại hòa giải thành thì Tòa án sẽ ra Quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự. Cách hiểu thứ hai cho rằng: Chỉ áp dụng hòa giải trong thủ tục giải quyết vụ án dân sự với bản chất của vụ án dân sự là có tranh chấp về quyền và lợi ích của các bên đương sự, do đó, pháp luật quy định cần phải áp dụng hòa giải để các bên đương sự từ đó có thể thương lượng, thỏa thuận về việc giải quyết tranh chấp…giúp cho Tòa án tiến hành giải quyết vụ án dân sự được nhanh chóng, tiết kiệm được thời gian và tiền bạc cho Nhà nước mà vẫn bảo đảm được quyền và lợi ích của các bên đương sự. Còn đối với việc dân sự mà ở đó chỉ có một bên chủ thể là người yêu cầu, không có tranh chấp về quyền và lợi ích nên không áp dụng hòa giải vì không phù hợp và không cần thiết. Như vậy, dẫn đến một thực tế là áp dụng không thống nhất trong thủ tục giải quyết việc dân sự về việc hòa giải, một số Tòa án đối với loại việc dân sự vẫn tiến hành hòa giải trong giai đoạn chuẩn bị giải quyết việc dân sự và một số Tòa án không tiến hành hòa giải.

Một vấn đề cần lưu ý nữa là khi áp dụng các quy định tại các điều khoản tương tự của Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án cần phải viện dẫn Điều 311. Ví dụ: Khi ra quyết định tạm đình chỉ giải quyết việc dân sự phải viện dẫn các căn cứ pháp lý là Điều 311 và Điều 189 Bộ luật tố tụng dân sự. Như vậy, khi giải quyết việc dân sự có thể Tòa án phải áp dụng song song, đồng thời cả quy định tại Chương XX và cả các quy định tại các chương khác của Bộ luật tố tụng dân sự.

2.1.3. Người có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự

Cá nhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp có quyền tự mình hoặc thông qua người đại diện hợp pháp để yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự của mình, quyền yêu cầu giải quyết việc dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khác, lợi ích công cộng và lợi ích nhà nước cũng phải đáp ứng được các quy định về cá nhân như đối với vụ án dân sự:

Cá nhân là người có đầy đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự, có khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện làm đơn yêu cầu. Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

Cá nhân là người từ đủ nười lăm tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi không mất năng lực hành vi dân sự, không bị hạn chế năng lực hành vi dân sự đã tham gia lao động theo hợp đồng lao động hoặc giao dịch dân sự bằng tài sản riêng của mình, thì có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn yêu cầu.

Cá nhân là người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, thì người đại diện hợp pháp của họ (đại diện theo pháp luật) có thể tự mình hoặc nhờ người khác làm hộ đơn khởi kiện. Điều 141 Bộ luật dân sự quy định người đại diện theo pháp luật bao gồm: cha, mẹ đối với con chưa thành niên; người giám hộ đối với người được giám hộ; người được Tòa án chỉ định đối với người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự [19].

Đối với cơ quan, tổ chức thì người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn. Người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức được tuân thủ theo quy định của pháp luật về đại diện tại Chương VII của Bộ luật dân sự năm 2017. Người đại diện hợp pháp của cơ quan, tổ chức có thể là người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức hoặc người được người đại diện theo pháp luật ủy quyền (người đại diện theo ủy quyền) Việc đóng dấu cũng phải được thực hiện theo đúng quy định của Nhà nước về con dấu cũng như vị trí đóng dấu. Đây là thủ tục hành chính bắt buộc bởi cơ quan, tổ chức là đối tượng quản lý nhà nước và tổ chức, hoạt động của các cơ quan, tổ chức này được quy định hết sức chặt chẽ. Việc xác định đại diện hợp pháp của cơ quan nhà nước yêu cầu giải quyết việc dân sự phải căn cứ vào quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan đó trong các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan. Việc xác định đại diện của tổ chức yêu cầu giải quyết việc dân sự như doanh nghiệp, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp… phải căn cứ vào quy định tại điều lệ hoạt động của tổ chức đó.

2.1.4. Thành phần giải quyết việc dân sự Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

Thành phần giải quyết việc dân sự không gọi là Hội đồng xét xử và cũng không có sự tham gia của Hội thẩm nhân dân như trong thành phần xét xử sơ thẩm vụ án dân sự (gồm một Thẩm phán và hai Hội thẩm nhân dân; trong trường hợp đặc biệt gồm hai Thẩm phán và một Hội thẩm nhân dân). Tùy theo tính chất, nội dung của mỗi loại việc dân sự mà thành phần giải quyết việc dân sự được quy định như sau:

2.1.4.1. Những loại việc dân sự khi giải quyết phải có ba Thẩm phán

Những yêu cầu về dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động sau đây khi giải quyết phải do một tập thể gồm ba Thẩm phán:

  • Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về dân sự, quyết định về tài sản trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
  • Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định về Hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định về Hôn nhân và gia đình của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
  • Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định kinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
  • Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài.
  • Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định lao động của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết định lao động của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại Việt Nam.
  • Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định lao động của Trọng tài nước ngoài.
  • Các yêu cầu khác về lao động mà pháp luật có quy định.
  • Việc xét kháng cáo, kháng nghị đối với quyết định giải quyết việc dân sự cũng luôn luôn là ba Thẩm phán.

2.1.4.2. Những loại việc dân sự khi giải quyết chỉ có một Thẩm phán

  • Những yêu cầu về dân sự, Hôn nhân và gia đình, kinh doanh, thương mại, lao động khác không thuộc các trường hợp nêu trên đều do một Thẩm phán giải quyết.
  • Yêu cầu liên quan đến việc Trọng tại thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp theo quy định tại Điều 53 và Điều 71 Luật Trọng tài thương mại năm 2022. Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

2.1.5. Thành phần tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự

  • Viện kiểm sát nhân dân

Theo quy định tại Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự thì việc tham dự phiên họp giải quyết việc dân sự của Kiểm sát viên của Viện kiểm sát nhân dân là bắt buộc, nếu Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên họp vắng mặt với bất kỳ lý do gì thì Tòa án đều phải hoãn phiên họp. Như vậy, sự có mặt của Kiểm sát viên tại phiên họp là bắt buộc với tư cách người tiến hành tố tụng, đại diện cho Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp thực hiện việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong giải quyết việc dân sự [37]. Tuy nhiên, trường hợp Kiểm sát viên được phân công tham gia phiên họp mà vắng mặt thì Tòa án hoãn phiên họp.

  • Người có đơn yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ

Người có đơn yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của họ phải tham gia phiên họp theo giấy triệu tập của Tòa án theo quy định tại khoản 3 Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự: Người có đơn yêu cầu có mặt tại phiên họp vừa là quyền, vừa là nghĩa vụ của họ. Vì vậy, người yêu cầu phải có trách nhiệm với việc đưa ra yêu cầu của mình là yêu cầu Tòa án công nhận cho họ một sự kiện pháp lý hoặc công nhận quyền của họ. Về hậu quả sự vắng mặt của người có đơn yêu cầu thì:

Nếu người có đơn yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất có lý do chính đáng thì Tòa án hoãn phiên họp. Ví dụ: Người yêu cầu bị ốm nặng hoặc bị thiên tai, hỏa hoạn…Tuy nhiên, nếu trong trường hợp này mà người có đơn yêu cầu đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt họ thì Tòa án không hoãn phiên họp mà tiến hành giải quyết vắng mặt họ. Về khái niệm ‘lý do chính đáng’ thì hiện nay còn nhiều cách hiểu khác nhau, như thế nào để được coi là có lý do chính đáng và như thế nào để được coi là không có lý do chính đáng? Nếu trường hợp người yêu cầu vắng mặt lần thứ nhất mà có lý do không chính đáng thì Tòa án xử lý như thế nào ? Tòa án có tiếp tục tiến hành phiên họp và coi đây là trường hợp người có đơn yêu cầu từ bỏ yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự không? Đây cũng là một ý kiến đòi hỏi cần phải có giải thích cụ thể. Về lý do chính đáng đã có văn bản hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao [30], theo đó, lý do chính đáng được hiểu là trường hợp bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan khác (như: do thiên tai, địch hoạ, bị tai nạn, ốm nặng phải đi bệnh viện cấp cứu, người thân bị chết,…) làm cho người yêu cầu không thể thực hiện được việc tham gia phiên tòa. Còn về lý do không chính đáng thì pháp luật tố tụng dân sự không có hướng dẫn. Theo chúng tôi, việc quy định Tòa án hoãn phiên tòa khi có lý do chính đáng là nhằm mục đích không khuyến khích việc vắng mặt khi Tòa án mở phiên họp giải quyết lần thứ nhất, nhưng thực tế cuộc sống không thể lường trước được những trường hợp xảy ra sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan dẫn đến người yêu cầu không thể tham gia được phiên họp, nên chúng tôi cho rằng việc quy định phải có lý do chính đáng thì Tòa án mới hoãn phiên họp là phù hợp với thực tiễn cuộc sống và bảo đảm được quyền, lợi ích của người dân. Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

Nếu người có đơn yêu cầu đã được triệu tập hợp lệ tham gia phiên họp lần thứ hai mà vẫn vắng mặt thì bị coi là từ bỏ yêu cầu, theo đó, Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự. Quy định này nhằm ngăn chặn tình trạng thiếu nghiêm túc, coi thường pháp luật và cơ quan pháp luật, do đó, việc bị sung công quỹ nhà nước khoản tiền tạm ứng lệ phí giải quyết việc dân sự cũng có thể coi như một “chế tài” của nhà nước đối với thái độ đó [12, tr. 175]. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự hiện hành quy định nếu thời hiệu yêu cầu vẫn còn thì sau khi có quyết định đình chỉ giải quyết việc dân sự đó, người yêu cầu vẫn có quyền nộp đơn yêu cầu, tài liệu, chứng cứ kèm theo cho Tòa án để Tòa án giải quyết.

  • Người có liên quan, người làm chứng, người giám định và người phiên dịch

Theo quy định tại khoản 4 Điều 313 Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án phải triệu tập người có liên quan hoặc đại diện hợp pháp của họ tham gia phiên họp do nội dung giải quyết việc dân sự sẽ ảnh hưởng, liên quan tới quyền và nghĩa vụ dân sự của họ. Đối với người đại diện hợp pháp thì Tòa án sẽ kiểm tra tính hợp pháp của việc đại diện đó theo quy định của Bộ luật dân sự.

Người làm chứng, người giám định, người phiên dịch có thể được Tòa án triệu tập tham gia phiên họp, có nghĩa là sự tham gia của họ là không bắt buộc theo quy định của pháp luật mà chỉ trong trường hợp cần thiết, Tòa án sẽ triệu tập họ. Về người phiên dịch thì trong trường hợp cần phải có người phiên dịch nếu có người tham gia tố tụng sử dụng tiếng dân tộc hoặc tiếng nước ngoài. Người giám định phải tham gia phiên họp trong trường hợp do kết luận giám định chưa rõ ràng, có mâu thuẫn cần phải kiểm tra và xác định thêm. Đối với sự vắng mặt của người liên quan, người làm chứng, người phiên dịch và người giám định thì pháp luật tố tụng dân sự quy định Tòa án có thể xem xét, nhận định, đánh giá tính cần thiết về sự có mặt của họ mà quyết định việc hoãn phiên họp hay vẫn tiến hành phiên họp. Như vậy, đối với nhóm người này trong trường hợp nếu sự vắng mặt của họ dẫn đến không thể giải quyết được việc dân sự thì Tòa án yêu cầu họ phải có mặt hoặc hoãn phiên tòa nếu họ vắng mặt.

2.1.6. Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

Thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự được thực hiện theo quy định của pháp luật dân sự và pháp luật tố tụng dân sự. Cụ thể:

Theo quy định tại Bộ luật dân sự, thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự xác lập, thực hiện; do bị nhầm lẫn; do bị lừa dối, đe dọa; do người xác lập không nhận thức và làm chủ được hành vi của mình; do không tuân thủ quy định về hình thức là hai năm, kể từ ngày giao dịch dân sự được xác lập (Điều 136 Bộ luật dân sự).

Theo quy định tại khoản 22 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, thời hiệu yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự đối với các yêu cầu liên quan đến quyền dân sự về nhân thân của cá nhân là không áp dụng thời hiệu yêu cầu. Đây là một trong những điểm mới của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự. Trước đây, theo quy định tại Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự về thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự là một năm kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu, đã dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau, một số việc dân sự không thể áp dụng thời hiệu được. Xuất phát từ vướng mắc như vậy trong thực tiễn giải quyết các loại việc dân sự tại Tòa án, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự đã sửa đổi, bổ sung quy định đối với các yêu cầu có liên quan đến quyền dân sự về nhân thân của cá nhân thì không áp dụng thời hiệu, cụ thể như sau:

  • Yêu cầu tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự;
  • Yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc quyết định tuyên bố hạn chế năng lực hành vi dân sự:
  • Yêu cầu tuyên bố một người mất tích; yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người mất tích;
  • Yêu cầu tuyên bố một người là đã chết; yêu cầu hủy bỏ quyết định tuyên bố một người là đã chết;
  • Yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật;
  • Yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con;
  • Yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn;
  • Yêu cầu hạn chế quyền của cha, mẹ đối với con chưa thành niên hoặc quyền thăm nom con sau khi ly hôn;
  • Yêu cầu chấm dứt việc nuôi con nuôi. Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

Việc loại trừ thời hiệu đối với yêu cầu giải quyết việc dân sự về quyền nhân thân là đúng đắn, giải quyết được vướng mắc trong thực tiễn đời sống xã hội, phù hợp với thông lệ quốc tế và quy định hiện hành của Bộ luật dân sự năm 2017 và Luật Hôn nhân và gia đình năm 2012 của Việt Nam. Đối với các yêu cầu chưa được văn bản quy phạm pháp luật nào quy định cụ thể thì thời hiệu yêu cầu để Tòa án giải quyết việc dân sự là một năm, kể từ ngày phát sinh quyền yêu cầu (Điều 159 Bộ luật tố tụng dân sự).

Bên cạnh đó Bộ luật dân sự quy định về thời gian không tính vào thời hiệu yêu cầu giải quyết việc dân sự (i) sự kiện bất khả kháng, hoặc trở ngại khách quan; (ii) Chưa có người đại diện trong trường hợp người có quyền khởi kiện, người có quyền yêu cầu chưa thành niên, mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự; (iii) chưa có người đại diện khác thay thế hoặc vì lý do chính đáng khác mà không thể tiếp tục đại diện được trong trường hợp người đại diện của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự chết.

2.2 Những quy định về thủ tục giải quyết việc dân sự Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

2.2.1 Thụ lý việc dân sự

Người yêu cầu Tòa án giải quyết việc dân sự phải làm đơn theo các nội dung chính quy định tại khoản 2 Điều 312 của Bộ luật tố tụng dân sự và gửi đơn đến Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Nội dung Điều 312 vẫn được giữ nguyên như trước đây do trên thực tế áp dụng những quy định về đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự tại Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự vẫn đáp ứng được các điều kiện để Tòa án thụ lý, giải quyết đúng đắn, kịp thời các yêu cầu dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Người gửi đơn yêu cầu Tòa án giải quyết phải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ chứng minh cho yêu cầu của mình là có căn cứ và hợp pháp. Về phương thức gửi đơn yêu cầu, thủ tục nhận đơn yêu cầu, trả lại đơn, yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu, khiếu nại và giải quyết khiếu nại về việc trả lại đơn yêu cầu, thụ lý, phân công Thẩm phán giải quyết, Tòa án căn cứ vào quy định tại Điều 311 của Bộ luật tố tụng dân sự, áp dụng những quy định chung về thủ tục nhận đơn, thụ lý đơn, xem xét đơn khởi kiện đối với vụ án dân sự theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2024/NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2024 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, cụ thể:

  • Về việc gửi đơn yêu cầu

Để bảo đảm cho việc làm đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự đúng và thống nhất, Toà án yêu cầu người yêu cầu làm đơn yêu cầu phải có đầy đủ nội dung quy định tại Điều 312 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nguyên tắc, khi gửi đơn yêu cầu cho Toà án, người yêu cầu phải gửi kèm theo tài liệu, chứng cứ để chứng minh họ là người có quyền yêu cầu và những yêu cầu của họ là có căn cứ và hợp pháp. Các tài liệu, chứng cứ khác, người yêu cầu phải tự mình bổ sung hoặc bổ sung theo yêu cầu của Toà án trong quá trình giải quyết vụ án.

Ví dụ: Khi gửi đơn yêu cầu Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì về nguyên tắc người yêu cầu phải gửi kèm theo đơn bản kết luận của cơ quan chuyên môn và các chứng cứ khác để chứng minh người đó bị bệnh tâm thần hoặc mắc các bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình. Ngoài những chứng cứ trên, người yêu cầu còn phải gửi kèm theo các tài liệu chứng minh quyền yêu cầu, các tài liệu về người bị yêu cầu: chứng minh thư của người yêu cầu, giấy khai sinh của người bị yêu cầu…

  • Về việc nhận đơn yêu cầu Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

Theo quy định tại Điều 311 Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục nhận đơn yêu cầu giải quyết việc dân sự được áp dụng tương tự như quy định tại Điều 167 Bộ luật tố tụng dân sự về thủ tục nhận đơn khởi kiện vụ án dân sự, theo đó trình tự việc nhận đơn yêu cầu được thực hiện như sau:

  • Toà án phải có sổ nhận đơn để ghi ngày tháng năm nhận đơn của đương sự làm căn cứ xác định ngày yêu cầu.
  • Toà án thực hiện thủ tục nhận đơn của người yêu cầu như sau:
  • Trường hợp người yêu cầu trực tiếp nộp đơn tại Toà án thì Toà án ghi ngày, tháng, năm người yêu cầu nộp đơn vào sổ nhận đơn. Ngày yêu cầu được xác định là ngày nộp đơn.

Trường hợp người yêu cầu gửi đơn đến Toà án qua bưu điện thì Toà án ghi ngày, tháng, năm nhận đơn do bưu điện chuyển đến vào sổ nhận đơn và ngày, tháng, năm đương sự gửi đơn theo ngày, tháng, năm có dấu bưu điện nơi gửi đơn. Phong bì có dấu bưu điện phải được đính kèm đơn yêu cầu. Ngày yêu cầu được xác định là ngày có dấu bưu điện nơi gửi. Trường hợp không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu điện trên phong bì, thì Toà án phải ghi chú trong sổ nhận đơn là “không xác định được ngày, tháng, năm theo dấu bưu điện”. Trong trường hợp này, ngày yêu cầu được xác định là ngày Toà án nhận được đơn do bưu điện chuyển đến.

Toà án phải ghi (hoặc đóng dấu nhận đơn có ghi) ngày, tháng, năm nhận đơn vào góc trên bên trái của đơn yêu cầu. Việc giao nhận chứng cứ do người yêu cầu nộp hoặc gửi kèm theo đơn yêu cầu được thực hiện theo hướng dẫn tại Điều 4 Nghị quyết số 04/2024/NQ-HĐTP ngày 03-12-2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định về “Chứng minh và chứng cứ” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.

Khi nhận đơn yêu cầu, xét thấy đơn yêu cầu không có đầy đủ các nội dung quy định tại khoản 2 Điều 312 của Bộ luật tố tụng dân sự (Ví dụ: đơn yêu cầu không nêu các vấn đề cụ thể yêu cầu Tòa án giải quyết, không ghi rõ tên, địa chỉ của những người có liên quan đến việc giải quyết đơn yêu cầu, cuối đơn không có chữ ký của người yêu cầu hoặc điểm chỉ…) thì theo tinh thần Điều 311 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án yêu cầu người gửi đơn sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu trong một thời hạn do Tòa án ấn định. Thời hạn sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu không tính vào thời hiệu yêu cầu.

  • Thụ lý đơn yêu cầu Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

Sau khi nhận đơn yêu cầu, Toà án phải cấp giấy báo nhận đơn yêu cầu cho người yêu cầu; nếu Toà án nhận đơn yêu cầu gửi qua bưu điện, thì Toà án gửi giấy báo nhận đơn yêu cầu để thông báo cho người yêu cầu biết. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Thẩm phán được phân công xem xét đơn yêu cầu phải có một trong các quyết định tiến hành thủ tục thụ lý vụ việc, nếu vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của mình theo quy định tại Điều 311 của Bộ luật tố tụng dân sự hoặc chuyển đơn yêu cầu cho Toà án có thẩm quyền và thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu biết. Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐTP ngày 03/12/2024 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định tại Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì thủ tục chuyển đơn yêu cầu được thực hiện theo quy định tại Điều 37 của Bộ luật tố tụng dân sự. Theo đó khi xét thấy việc dân sự đã được thụ lý không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình mà thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân địa phương khác cùng cấp hoặc khác cấp, thì Tòa án đã thụ lý vụ việc dân sự ra quyết định chuyển hồ sơ việc dân sự cho Tòa án có thẩm quyền và xoá sổ thụ lý. Trong trường hợp đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí, thì Tòa án chuyển hồ sơ vụ việc dân sự không phải trả lại tiền tạm ứng án phí cho đương sự mà tiền tạm ứng án phí đã nộp được xử lý khi Tòa án có thẩm quyền giải quyết việc dân sự. Quyết định chuyển hồ sơ việc dân sự do Thẩm phán được phân công giải quyết việc dân sự ký tên và đóng dấu của Tòa án. Quyết định này phải được gửi ngay cho Viện kiểm sát cùng cấp, đương sự, cá nhân, cơ quan, tổ chức có liên quan. Tòa án có thẩm quyền sau khi nhận được quyết định chuyển vụ việc dân sự và hồ sơ vụ việc dân sự phải vào sổ thụ lý và tiếp tục giải quyết vụ việc đó theo quy định chung, hoặc trả lại đơn yêu cầu cho người yêu cầu, nếu việc dân sự không thuộc thẩm quyền của Tòa án; người yêu cầu không có quyền yêu cầu; người yêu cầu chưa đủ điều kiện để yêu cầu giải quyết việc dân sự; người yêu cầu không có đủ năng lực hành vi tố tụng dân sự là người không có khả năng tự mình thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng dân sự hoặc ủy quyền cho người đại diện tham gia tố tụng dân sự theo quy định tại Điều 57 của Bộ luật tố tụng dân sự; người yêu cầu không nộp tiền lệ phí yêu cầu giải quyết việc dân sự theo quy định của pháp luật.

Việc trả lại đơn khởi kiện phải được Toà án thông báo bằng văn bản cho người yêu cầu và Viện kiểm sát cùng cấp biết; trong đó cần ghi rõ lý do trả lại đơn yêu cầu thuộc trường hợp nào theo quy định tại khoản 1 Điều 168 của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2023. Thông báo này có thể được giao trực tiếp hoặc gửi cho người khởi kiện qua bưu điện. Việc giao hoặc gửi thông báo này phải có sổ theo dõi.

Khoản 1 Điều 168 của Bộ luật tố tụng dân sự đã được Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi bổ sung đã bỏ căn cứ trả lại đơn khởi kiện vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết, vì vậy, Toà án không được lấy lý do thời hiệu khởi kiện đã hết để trả lại đơn yêu cầu. Trường hợp đã có bản án, quyết định của Toà án bác yêu cầu hoặc đình chỉ vì lý do thời hiệu khởi kiện đã hết, thì Toà án căn cứ điểm b khoản 1 Điều 168 của Bộ luật tố tụng dân sự để trả lại đơn khởi kiện và giải thích cho họ biết họ có quyền làm đơn đề nghị xem xét vụ việc theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định nêu trên.

  • Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

Khi nhận đơn yêu cầu hoặc sau khi nhận đơn yêu cầu xét thấy đơn yêu cầu không có đủ các nội dung quy định tại Điều 312 của Bộ luật tố tụng dân sự, thì tuỳ theo yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn mà Toà án yêu cầu người yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu theo thời hạn do Toà án ấn định, nhưng không quá ba mươi ngày, kể từ ngày người yêu cầu nhận được văn bản của Toà án yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu. Trong trường hợp đặc biệt, Toà án có thể gia hạn thêm, nhưng không quá mười lăm ngày, kể từ ngày kết thúc thời hạn do Toà án ấn định nêu trên.

Yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu phải được làm bằng văn bản, trong đó phải nêu rõ những vấn đề cần sửa đổi, bổ sung cho người yêu cầu biết để họ thực hiện. Văn bản này có thể được giao trực tiếp hoặc gửi cho người yêu cầu qua bưu điện. Thời gian thực hiện việc sửa đổi, bổ sung đơn yêu cầu không tính vào thời hiệu yêu cầu. Nếu hết thời hạn do Toà án ấn định mà người yêu cầu không sửa đổi, bổ sung theo yêu cầu của Toà án, thì Toà án căn cứ vào khoản 2 Điều 169 của Bộ luật tố tụng dân sự trả lại đơn yêu cầu và tài liệu, chứng cứ kèm theo cho họ.

  • Khiếu nại việc trả lại đơn yêu cầu

Người yêu cầu có quyền khiếu nại việc trả lại đơn trong thời hạn 3 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu và các tài liệu, chứng cứ kèm theo do Tòa án trả lại với Chánh án Tòa án đã trả lại đơn đó. Trong thời hạn 3 ngày Chánh án Tòa án phải xem xét giải quyết và ra một trong các quyết định: Giữ nguyên việc trả lại đơn yêu cầu hoặc nhận lại đơn yêu cầu và tài liệu chứng cứ kèm theo để thụ lý giải quyết. Nếu sau khi nhận đơn yêu cầu giải quyết theo đúng thẩm quyền của mình thì Tòa án phải thông báo ngay cho người yêu cầu nộp lệ phí (trong trường hợp họ phải nộp) trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo của Tòa án. Tòa án thụ lý giải quyết việc dân sự khi người yêu cầu nộp cho Tòa án biên lai nộp lệ phí.

  • Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu

Thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu không được quy định cụ thể tại Chương XX của Bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên, theo quy định tại Điều 311 căn cứ vào thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu đối với các yêu cầu cụ thể quy định tại các chương XXI, XXII, XXIII và XXIV của Bộ luật tố tụng dân sự, có thể ấn định thời hạn chuẩn bị xét xử chung để Tòa án giải quyết việc dân sự là từ 20 đến không quá 30 ngày kể từ ngày Tòa án thụ lý đơn yêu cầu, tùy từng yêu cầu theo quy định tại Phần thứ năm của Bộ luật tố tụng dân sự. Hết thời hạn đó, Tòa án phải ra quyết định mở phiên họp để xét đơn yêu cầu chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của họ, và Tòa án không gia hạn thời hạn chuẩn bị xét đơn yêu cầu.

2.2.2. Thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

Giải quyết việc dân sự đòi hỏi phải bảo đảm tính công khai, minh bạch. Mọi tình tiết, chứng cứ phải được xem xét, thẩm tra công khai tại phiên họp, đây cũng là nguyên tắc xét xử công khai được thực hiện trong phiên tòa xét xử vụ án dân sự. Khác với phiên tòa xét xử vụ án dân sự, phiên họp giải quyết việc dân sự không giải quyết tranh chấp về quyền và nghĩa vụ dân sự mà là giải quyết việc công nhận hay không công nhận một sự kiện pháp lý, công nhận quyền dân sự của cá nhân, cơ quan, tổ chức. Tuy nhiên, phiên họp giải quyết việc dân sự cũng phải tuân theo các nguyên tắc cơ bản của thủ tục tố tụng dân sự: bảo đảm pháp chế Xã hội chủ nghĩa, quyền quyết định và tự định đoạt của đương sự, cung cấp chứng cứ và chứng minh trong tố tụng dân sự, bình đẳng về quyền và nghĩa vụ, tiếng nói và chữ viết trong tố tụng dân sự quy định tại Chương II phần những quy định chung cũng như nguyên tắc xét xử liên tục, trực tiếp bằng lời nói tại Điều 197 Bộ luật tố tụng dân sự. Cụ thể trình tự thủ tục như sau:

  • Chuẩn bị cho phiên họp

Đối với vụ án dân sự, Tòa án có thể mở phiên tòa công khai hoặc xét xử kín đối với những trường hợp để bảo vệ bí mật của Nhà nước, bí mật đời tư, thì đối với việc dân sự, Tòa án phải mở phiên họp công khai giải quyết việc dân sự bằng việc ra quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự. Quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự áp dụng tương tự như quy định về quyết định đưa vụ án ra xét xử quy định tại Điều 195 Bộ luật tố tụng dân sự, theo đó, quyết định mở phiên họp giải quyết việc dân sự phải có các nội dung chính như ngày, tháng, năm ra quyết định; tên Tòa án ra quyết định; việc dân sự được đưa ra giải quyết; họ, tên, địa chỉ của người yêu cầu, người có liên quan và những người tham gia tố tụng khác (nếu có); giờ, ngày, tháng, năm mở phiên họp; địa điểm mở phiên họp và họ, tên những người tiến hành tố tụng. Quyết định này phải do Thẩm phán được phân công giải quyết việc dân sự (nếu việc dân sự do một Hội đồng 3 Thẩm phán giải quyết thì Thẩm phán chủ trì phiên họp) ký tên và đóng dấu Tòa án.

Theo quy định tại khoản 3 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì Viện kiểm sát nhân dân tham gia tất cả các phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự. Vì vậy, từ khi thụ lý việc dân sự cho đến khi ra quyết định mở phiên họp dân sự Tòa án phải có trách nhiệm gửi thông báo việc thụ lý việc dân sự, quyết định mở phiên họp dân sự, chuyển hồ sơ việc dân sự, thông báo kiểm sát viên tham gia phiên họp [37]. Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

  • Thay đổi người tiến hành tố tụng khi giải quyết việc dân sự

Đây là quy định mới được quy định tại Điều 313 a Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự và được hướng dẫn tại Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐTP ngày 03/12/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự. Trước khi mở phiên họp, nếu thay đổi Thẩm phán, Thư ký Tòa án thì Chánh án của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó có thẩm quyền quyết định việc thay đổi; nếu Thẩm phán bị thay đổi là Chánh án của Tòa án đang giải quyết việc dân sự đó thì việc thay đổi do Chánh án Tòa án cấp trên trực tiếp quyết định. Tại phiên họp, việc thay đổi Thẩm phán được thực hiện như sau:

  • Trường hợp việc dân sự do một Thẩm phán giải quyết thì việc thay đổi Thẩm phán được quy định tương tự như trước khi mở phiên họp.
  • Trường hợp việc dân sự do một Hội đồng giải quyết việc dân sự gồm ba Thẩm phán giải quyết thì Hội đồng giải quyết việc dân sự sẽ quyết định việc thay đổi thành viên Hội đồng.

Về thay đổi Kiểm sát viên trước khi mở phiên họp và tại phiên họp cũng được điều luật quy định thực hiện như thay đổi Thẩm phán trước khi mở phiên họp.

Hình thức, thủ tục thay đổi người tiến hành tố tụng trước phiên họp và tại phiên họp áp dụng tương tự các quy định về thay đổi người tiến hành tố tụng trước phiên tòa và tại phiên tòa.

  • Thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự

Thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự được sửa đổi, bổ sung mới tại khoản 55 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 05/2024/NQ-HĐTP ngày 03/12/2024 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa án cấp sơ thẩm” của Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự, theo đó, khi tiến hành phiên họp, Thẩm phán giải quyết việc dân sự không chỉ phải tuân thủ đầy đủ các thủ tục đó mà còn phải tuân thủ đúng trình tự theo thứ tự mà Điều luật đã quy định. Căn cứ tính chất, ý nghĩa của mỗi thành phần tham gia phiên họp mà pháp luật tố tụng quy định cụ thể chủ thể thực hiện các thủ tục, trình tự tiến hành các thủ tục và nội dung của từng thủ tục. Thẩm phán được phân công giải quyết việc dân sự là Chủ tọa, điều hành phiên họp, giải thích quyền và nghĩa vụ của những người tham gia phiên họp, có trách nhiệm bảo đảm cho các thành phần tham dự phiên họp được thực hiện đúng và đầy đủ nội dung các thủ tục đó. Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự hiện hành thì thành phần tham gia phiên họp giải quyết việc dân sự đã có một bổ sung mới là “người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu”; “người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan” và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan. Theo đó, Thẩm phán xem xét, quyết định chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu giải quyết việc dân sự trên cơ sở căn cứ vào nội dung được người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người yêu cầu, người yêu cầu hoặc người đại diện hợp pháp của người yêu cầu, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc người đại diện hợp pháp của họ, người làm chứng, người giám định, người phiên dịch trình bày theo đúng các bước thủ tục trên. Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

So với thủ tục tiến hành phiên tòa sơ thẩm dân sự, thủ tục tiến hành phiên họp giải quyết việc dân sự được rút gọn hơn. Ở thủ tục khai mạc phiên họp không có thủ tục giới thiệu họ, tên những người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch và hỏi những người có quyền yêu cầu về yêu cầu thay đổi thay người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch. Hoặc ở phiên họp cũng không có thủ tục hỏi, tranh luận và nghị án.

Về ý kiến của Viện kiểm sát tại phiên họp: Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự quy định tại phiên họp sơ thẩm giải quyết việc dân sự, sau khi những người tham gia tố tụng trình bày, giải thích, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc giải quyết việc dân sự.

Trường hợp người được triệu tập (giám định viên, người làm chứng, người yêu cầu…) vắng mặt thì Thẩm phán phải công bố nội dung các kết luận giám định, nội dung lời khai hoặc các tài liệu khác mà họ đã cung cấp, khai báo với Tòa án, đây chính là nguyên tắc công khai trong giải quyết việc dân sự.

Biên bản phiên họp việc dân sự cũng tương tự như biên bản phiên tòa dân sự, phải được Thư ký phiên họp ghi thành biên bản. Biên bản phải ghi được mọi diễn biến phiên họp từ khi bắt đầu cho đến khi kết thúc phiên họp theo đúng trình tự quy định tại khoản 1 Điều 314 Bộ luật tố tụng dân sự, phải có chữ ký của Thẩm phán chủ trì phiên họp, thư ký ghi biên bản. Kiểm sát và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên họp có quyền được xem biên bản phiên họp ngay sau khi kết thúc và được quyền yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ sung và ký xác nhận.

2.2.3. Kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

2.2.3.1. Kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự theo thủ tục phúc thẩm

Quy định về chủ thể có quyền kháng cáo đối với việc dân sự rộng hơn chủ thể có quyền kháng cáo trong vụ án dân sự. Trong vụ án dân sự chỉ có các chủ thể có quyền khởi kiện mới có quyền kháng cáo còn trong việc dân sự thì trong việc dân sự người yêu cầu, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định giải quyết việc dân sự đều có quyền kháng cáo. Viện kiểm sát cùng cấp, Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm.

Các quyết định giải quyết việc dân sự đều có thể bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, trừ các quyết định giải quyết việc dân sự sau đây theo quy định tại Điều 316 Bộ luật tố tụng dân sự:

  • Quyết định yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản khi ly hôn.
  • Quyết định yêu cầu công nhận sự thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau khi ly hôn.

Quyết định giải quyết việc dân sự đối với hai loại việc dân sự này không thuộc đối tượng bị kháng cáo, kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm, bởi lẽ: đây là những quyết định có bản chất là công nhận sự thỏa thuận của các đương sự.

Thủ tục phúc thẩm giải quyết việc dân sự bị kháng cáo, kháng nghị được thực hiện theo quy định tại Điều 280 của Bộ luật tố tụng dân sự. Thủ tục phúc thẩm đối với quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị khác với thủ tục xét xử phúc thẩm bản án sơ thẩm dân sự bị kháng cáo, kháng nghị. Theo đó, việc phúc thẩm đối với quyết định giải quyết việc dân sự bị kháng cáo, kháng nghị được thực hiện bởi Hội đồng phúc thẩm gồm 3 Thẩm phán. Hội đồng phúc thẩm mở phiên họp nhưng không phải triệu tập người yêu cầu, người có liên quan, song, trường hợp cần phải nghe ý kiến của họ trước khi ra quyết định thì Tòa án phải triệu tập. Hội đồng phúc thẩm xem xét quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị và có quyền: giữ nguyên quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; sửa quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm; hủy quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm để tiếp tục giải quyết vụ án. Quyết định phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày ra quyết định. Điều 318 Bộ luật tố tụng dân sự dẫn chiếu các quy định cụ thể về thủ tục phúc thẩm đối với các quyết định giải quyết việc dân sự tại Điều 280 có tính đặc thù, đơn giản đúng với bản chất của việc dân sự khác với thủ tục phúc thẩm đối với bản án trong giải quyết vụ án dân sự. Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

Về thời hạn kháng cáo, kháng nghị: Thời hạn kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự được tính kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Theo đó, người yêu cầu, cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến quyết định giải quyết việc dân sự có quyền kháng cáo quyết định đó trong thời hạn bảy ngày (07) kể từ ngày Tòa án ra quyết định. Điều 317 Bộ luật tố tụng dân sự quy định trong trường hợp họ không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn đó tính từ ngày nhận được quyết định giải quyết việc dân sự hoặc kể từ ngày quyết định đó được thông báo, niêm yết.

Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự trong thời hạn bảy (07) ngày; Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị thời hạn mười lăm (15) ngày, kể từ ngày Tòa án ra quyết định.

Riêng đối với trường hợp yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài Điều 354 và Điều 355 Bộ luật tố tụng dân sự quy định thời hạn kháng cáo là mười lăm (15) ngày, kể từ ngày ra các quyết định: đình chỉ việc xét đơn yêu cầu, mở phiên họp xét đơn yêu cầu, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, không công nhận bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài, thì đương sự, người đại diện hợp pháp của họ. Thời hạn kháng nghị của Viện kiểm sát cùng cấp là mười lăm (15) ngày; của Viện kiểm sát nhân dân tối cao là ba mươi (30) ngày.

Trường hợp đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được quyết định đó. Thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn kháng cáo.

Đối với thủ tục yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài thì thời hạn kháng cáo là mười lăm (15) ngày kể từ ngày Tòa án ra các quyết định theo Điều 368 và Điều 369 Bộ luật tố tụng dân sự: đình chỉ việc xét đơn yêu cầu, mở phiên họp xét đơn yêu cầu, công nhận và cho thi hành tại Việt Nam, không công nhận quyết định của Trọng tài nước ngoài, thì đương sự, người đại diện hợp pháp của họ, Viện kiểm sát cùng cấp có quyền kháng cáo, kháng nghị quyết định đó. Đối với Viện kiểm sát nhân dân tối cao thì thời hạn trên là ba mươi (30) ngày.

Trường hợp đương sự, người đại diện hợp pháp của họ không có mặt tại phiên họp xét đơn yêu cầu thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày họ nhận được quyết định đó. Thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hạn kháng cáo. Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

2.2.3.2. Kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm

Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự vẫn giữ nguyên như quy định tại Bộ luật tố tụng dân sự và không quy định về kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm quyết định giải quyết việc dân sự. Đối với một số việc dân sự theo quy định tại Điều 322, 333 và 338 Bộ luật tố tụng dân sự thì sau khi quyết định giải quyết việc dân sự có hiệu lực pháp luật mà có căn cứ làm thay đổi nội dung thì các chủ thể có quyền yêu cầu chính Tòa án đã ra quyết định giải quyết việc dân sự ra quyết định hủy bỏ quyết định giải quyết việc dân sự trước đó. Do đó, đối với những loại việc dân sự này Tòa án không áp dụng thủ tục tái thẩm. Đối với những trường hợp khi phát hiện quyết định giải quyết việc dân sự không phù hợp với tình tiết khách quan của vụ án; có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng; có sai lầm nghiêm trọng trong việc áp dụng pháp luật (Điều 283 Bộ luật tố tụng dân sự) hoặc khi phát hiện sự thỏa thuận đó là bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật, trái đạo đức xã hội (Điều 188 Bộ luật tố tụng dân sự) hoặc có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của quyết định (Điều 305 Bộ luật tố tụng dân sự) thì theo tinh thần quy định tại Điều 311 Bộ luật tố tụng dân sự và căn cứ vào các quy định tương ứng của Bộ luật này người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm có thể kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm quy định tại Chương XVIII và Chương XIX của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2023 và hướng dẫn tại Thông tư liên tịch số 03/2025/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 15-10-2025 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao “Hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương XVIII về thủ tục giám đốc thẩm và Chương XIXa về thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2023”. Tuy nhiên, về vấn đề giám đốc thẩm và tái thẩm quyết định giải quyết việc dân sự cũng có ý kiến cho rằng theo tinh thần quy định về hiệu lực của Quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại Khoản 2 Điều 188 là mâu thuẫn với quy định tại Điều 316 Bộ luật tố tụng dân sự về kháng cáo, kháng nghị quyết định giải quyết việc dân sự [11, tr. 32]. Theo chúng tôi, đây là hai quy định hoàn toàn độc lập, quy định tại Điều 316 xuất phát từ quan điểm của các nhà làm luật khi xây dựng chế định thủ tục giải quyết việc dân sự nhằm đáp ứng được chủ trương của Đảng trong công cuộc cải cách tư pháp từng bước được thực hiện theo tinh thần tại Nghị quyết số 08-NQ/TW ngay 02 tháng 01 năm 2014 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới” khẳng định: “Nghiên cứu để quy định và thực hiện thủ tục rút gọn đối với những vụ án đơn giản, chứng cứ rõ ràng…” [5]. Theo đó xây dựng một cơ chế xét xử linh hoạt, đơn giản, gọn nhẹ, giải quyết các yêu cầu của đương sự một cách nhanh chóng, tiết kiệm được cả về thời gian, công sức và chi phí tố tụng của Nhà nước cũng như của các đương sự, bảo đảm bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Do đó, việc quy định đối với một số loại yêu cầu như yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn, nuôi con, chia tài sản và yêu cầu công nhận thỏa thuận về thay đổi người trực tiếp nuôi con sau ly hôn là có hiệu lực pháp luật ngay sau khi ra Quyết định, bởi đây là những yêu cầu xuất phát từ sự tự nguyện, thỏa thuận giữa các bên nhưng có yêu cầu được Tòa án ra quyết định để công nhận sự kiện pháp lý đó. Tuy nhiên, pháp luật tố tụng dân sự cũng đã có dự tính trước những trường hợp mà thực tế có thể xảy ra đối với những trường hợp việc thỏa thuận đó là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật bằng quy định tại Khoản 2 Điều 188, theo đó, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các bên đã có hiệu lực pháp luật nhưng nếu có căn cứ là do bị nhầm lẫn, lừa dối, đe dọa hoặc trái pháp luật sẽ được xem xét theo thủ tục giám đốc thẩm.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

Có thể nhận thấy rằng Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự thì chế định giải quyết việc dân sự đã được quy định tương đối đầy đủ, bảo đảm nguyên tắc tôn trọng quyền tự định đoạt của đương sự, quyền tự do, cam kết thỏa thuận trong việc xác lập quyền, nghĩa vụ dân sự nếu cam kết, thỏa thuận đó không vi phạm điều cấm của pháp luật, và không trái đạo đức xã hội. Các chủ thể có quyền tự do quyết định việc tham gia vào quan hệ pháp luật dân sự, quyết định nội dung của quan hệ, quyết định phương thức thực hiện quyền, nghĩa vụ, quyết định cách thức để giải quyết tranh chấp và trong trường hợp các chủ thể đã giải quyết được tranh chấp bằng con đường thỏa thuận và muốn sự thỏa thuận đó có giá trị về mặt pháp lý thì yêu cầu Tòa án công nhận sự thỏa thuận đó. Với các quy định tại Phần thứ năm và các quy định tại các Chương khác trong Bộ luật tố tụng dân sự, chế định giải quyết việc dân sự đã góp phần xây dựng cơ chế xét xử linh hoạt, đơn giản, gọn nhẹ, giải quyết các yêu cầu của đương sự một cách nhanh chóng, tiết kiệm được cả về thời gian, công sức và chi phí tố tụng của Nhà nước cũng như của các đương sự, bảo đảm bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Tuy nhiên, qua việc nghiên cứu luận văn cũng cho thấy một số quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về chế định giải quyết việc dân sự mặc dù đã được sửa đổi, bổ sung nhưng trong thực tiễn giải quyết các việc dân sự tại Tòa án nhân dân cấp sơ thẩm đã phát sinh những điểm hạn chế, bất cập mà chúng tôi sẽ trình bày tại Chương 3 sau đây như có hay không tiến hành hòa giải khi giải quyết yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; đơn yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn; thủ tục ly hôn với người bị tuyên bố mất tích; ngày chết của người bị yêu cầu tuyên bố là đã chết và khó khăn trong việc chuyển từ việc dân sự sang vụ án dân sự trong trường hợp phát sinh tranh chấp. Vì vậy, để nâng cao hiệu quả việc giải quyết việc dân sự cần phải tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện pháp luật khắc phục những hạn chế này. Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định giải quyết việc dân sự

One thought on “Luận văn: Giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng dân sự

  1. Pingback: Luận văn: Chế định giải quyết việc dân sự trong pháp luật tố tụng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464