Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1. Nâng cao hoàn thiện quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn
3.1.1. Hoàn thiện quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn
Việc lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ thu gom CTR cần có sự can thiệp của Nhà nước để đảm bảo sự cân bằng lợi ích giữa các chủ thể có liên quan và giải quyết được các vấn đề mang tính tổng hợp và phức tạp như kinh tế, môi trường, lợi ích của các chủ thể kinh doanh và lợi ích của cả cộng đồng. Tại Việt Nam, khi ngân sách địa phương không thể bao cấp cho một số dịch vụ công ích như trước đây nữa thì tình trạng “thống trị” lâu năm của các doanh nghiệp nhà nước hoặc có vốn nhà nước sẽ cản trở mục tiêu và chính sách của Nhà nước đối với các dịch vụ này. Do vậy, việc mở cửa, tạo điều kiện cho các chủ thể tư tham gia dịch vụ và dành cho họ sự khuyến khích, ưu đãi đồng bỏ để họ được kinh doanh một cách minh bạch và bình đẳng, còn Nhà nước sẽ giữ vai trò kiểm tra, giám sát điều tiết để đảm bảo các mục tiêu công là nhiệm vụ quan trọng và cấp bách hiện nay.
Xu hướng phổ biến trên thế giới hiện nay là Nhà nước chuyển giao việc thực hiện hoạt động thu gom cho các chủ thể tư thông qua cơ chế đặt hàng hoặc đấu thầu, trong đó phương thức đấu thầu lựa chọn chủ thể thu gom được coi là phương thức ưu việt nhằm: (i) Xóa bỏ tình trạng độc quyền của các doanh nghiệp nhà nước, các tổ thu gom rác dân lập, huy động được nguồn lực xã hội đầu tư cho công tác thu gom nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung: (ii) Tạo ra sự cạnh tranh lành mạnh giữa các chủ thể cung ứng dịch vụ đặc biệt là cạnh tranh về giá dịch vụ nhằm giảm chi phí cho Nhà nước và người dân; (iii) Tạo động lực để buộc người cung ứng dịch vụ phải nâng cao chất lượng thu gom như đầu tư mua sắm trang thiết bị, đào tạo người lao động để đáp ứng yêu cầu của hồ sơ mời thầu… Tuy nhiên, trên thực tế, tình trạng chậm trễ và “địa phương hoá” các quy định về lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ, cùng với những khuất tất trong đấu thầu và cơ chế quản lý lạc hậu ở các địa phương đã trở thành rào cản đối với chủ thể tư nhân trong việc tham gia cung ứng dịch vụ, đặc biệt là việc mở rộng địa bàn hoạt động, cung ứng dịch vụ ở nhiều địa phương khác nhau. Do vậy, trong tương lai, theo tác giả cần thực hiện một số giải pháp sau:
Thứ nhất, để khắc phục tình trạng khan hiếm chủ thể cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn cũng như vấn đề tồn đọng CTR tại các cơ sở sản xuất kinh doanh nhỏ lẻ do không chuyển giao được CTR pháp luật cần thiết phải thừa nhận sự đa dạng về chủ thể cung ứng dịch vụ dựa trên cơ sở phân hóa rõ ràng theo khối lượng CTR cần quản lý. Bên cạnh các tổ chức kinh tế pháp luật cần thừa nhận hộ kinh doanh cũng được phép tham gia cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn cho các cơ sở sản xuất, kinh doanh có quy mô nhỏ, khối lượng CTR phát sinh ít. Cũng giống như các tổ chức kinh tế, để được cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn, hộ kinh doanh cần phải đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, nhân sự và phải có giấy phép do cơ quan có thẩm quyền cấp. Hơn nữa để đảm bảo an toàn, hiệu quả, tránh tình trạng lách luật cần phải quy định rõ hộ kinh doanh chỉ được phép ký hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn với chủ nguồn thải có khối lượng CTR phát sinh không quá 600kg/năm. Quy định này đảm bảo được quyền tự do kinh doanh cho các chủ thể là hộ kinh doanh, góp phần phát huy được các nguồn lực xã hội tham gia vào hoạt động thu gom chất thải rắn, đảm bảo hiệu quả, an toàn trong hoạt động thu gom chất thải rắn tại các cơ sở có quy mô nhỏ.
Đồng thời, pháp luật cần phải quy định rõ, các đơn vị dịch vụ công ích của nhà nước phải có trách nhiệm ký hợp đồng nhận chuyển giao CTR với các chủ nguồn thải CTR kể cả các chủ nguồn thải có khối lượng CTR ít và không thể ký được hợp đồng chuyển giao do không có chủ thể cung ứng dịch vụ hoặc có nhưng không tiếp nhận, đưa những quy định này vào trong điều luật cụ thể đó là điều luật liên quan đến trách nhiệm của cơ sở thu gom, vận chuyển CTR được quy định tại điều 77 Luật BVMT và Điều 61 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP. Khi quy định bắt buộc các đơn vị dịch vụ công ích của nhà nước phải tham gia cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn cho các đối tượng nêu trên sẽ góp phần mang lại hiệu quả trong hoạt động thu gom chất thải rắn, tránh được tình trạng ùn ứ CTR, hạn chế gian dối trong hoạt động thu gom chất thải rắn, phát huy được vai trò, trách nhiệm của nhà nước trong hoạt động BVMT thông qua việc đầu tư vào các cơ sở dịch vụ công ích để thực hiện dịch vụ thu gom chất thải rắn. Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Hơn nữa, nhà nước cần phải tiếp tục thực hiện chính sách thu hút nguồn lực đầu tư nước ngoài. Các nhà đầu tư nước ngoài sẽ đóng vai trò quan trọng trong việc giải quyết tình trạng khan hiếm chủ thể cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn ở Việt Nam hiện nay bằng việc mở rộng lĩnh vực ngành nghề thu hút đầu tư trong đó có môi trường, thu gom CTR tại Luật Đầu tư . Khi thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư sẽ vừa đáp ứng được nhu cầu trong nước vừa tạo được nguồn thu cho ngân sách thông qua các công cụ thuế, phí. Để thu hút được các nhà đầu tư nước ngoài đòi chúng ta phải mạnh dạn mở cửa hơn nữa đối với các phân ngành dịch vụ môi trường. Cụ thể tại biểu cam kết dịch vụ của Việt Nam khi gia nhập WTO, đối với dịch vụ xử lý rác thải cần bỏ đi sự hạn chế tiếp cận thị trường, cho phép công ty nước ngoài được phép thực hiện thu gom rác thải trực tiếp từ các hộ gia đình, trong đó có CTR. Khi các doanh nghiệp nước ngoài được phép trực tiếp thu gom CTR từ các hộ gia đình sẽ góp phần giảm thiểu tình trạng ứ động CTR tại các hộ gia đình. Ngoài ra, cần phải tạo được môi trường kinh doanh thông thoáng, xây dựng và phát triển được cơ chế thị trường cho dịch vụ môi trường, đảm bảo rõ ràng, minh bạch, đơn giản trong thủ tục cấp phép, quy định cụ thể hóa các chính sách ưu đãi đặc biệt là các ưu đãi về thuế, xây dựng hệ thống quản lý hành chính đơn giản, tinh gọn. Khi các vấn đề trên được đảm bảo sẽ mang lại hiệu quả cao trong việc thu hút các nhà đầu tư nước ngoài tham gia đầu tư vào hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn tại Việt Nam.
Thứ hai, để thu hút các chủ thể tham gia vào hoạt động cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn cần thiết phải thừa nhận dịch vụ thu gom chất thải rắn là dịch vụ công ích giống như dịch vụ thu gom, phân loại, xử lý chất thải rắn. Để làm được điều này cần phải quy định theo hướng bổ sung thêm dịch vụ thu gom chất thải rắn vào danh mục và đưa loại hình dịch vụ này vào nhóm các sản phẩm, dịch vụ công ích thực hiện theo phương thức đấu thầu tại Nghị định số 32/2019/NĐ-CP quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên, Bởi những nguyên nhân sau:
Một là, khi đưa dịch vụ thu gom chất thải rắn vào danh mục sản phẩm, dịch vụ công ích sẽ buộc nhà nước phải tham gia đầu tư để hình thành nên các chủ thể cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn dưới dạng các đơn vị dịch vụ công ích của nhà nước giống như dịch vụ thu gom, phân loại, xử lý chất thải rắn. Với sự tham gia của nhà nước kết hợp cùng sự đầu tư từ các nguồn lực tư nhân sẽ mang lại hiệu quả trong công tác thu gom chất thải rắn. Tuy nhiên, để sự hỗ trợ của nhà nước được hiệu quả, Nghị định số 32/2019/NĐ-CP phải quy định rõ nhà nước chỉ đầu tư vốn ban đầu để hình thành tài sản phục vụ mục tiêu sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích và các chủ thể cung ứng dịch vụ phải tự bù đắp chi phí phát sinh trong quá trình thực hiện. Việc quy định như vậy sẽ tránh sự ỷ lại, hạn chế gánh nặng ngân sách nhà nước, tạo được sự công bằng giữa các chủ thể kinh doanh dịch vụ quản lý đối với các loại chất thải. Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Hai là, khi đưa dịch vụ thu gom chất thải rắn vào nhóm các sản phẩm, dịch vụ công ích thực hiện theo phương thức đấu thầu sẽ tạo ra hiệu quả trong việc lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn. Thông qua hình thức đấu thầu sẽ giúp các chủ nguồn thải và các chủ thể có nhu cầu sử dụng dịch vụ thu gom chất thải rắn có thể lựa chọn được chủ thể cung cấp dịch vụ có năng lực, vừa chất lượng, hiệu quả, vừa mang lại giá cả hợp lý nhất, tránh được tình trạng mơ hồ, không đánh giá được thực lực của các chủ thể cung ứng. Đồng thời, thông qua cơ chế đấu thầu còn tạo được sự cạnh tranh công bằng giữa các chủ thể kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn. Chủ thể nào có năng lực, đáp ứng đầy đủ điều kiện, giá cả hợp lý thì sẽ được chọn để thực hiện dịch vụ, chủ thể nào không đáp ứng được thì sẽ bị loại.
Đồng thời, để đảm bảo xác định thống nhất quyền được hưởng và nghĩa vụ phải thực hiện cho chủ thể kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn, cần phải thiết lập một quy định xác định cụ thể các quyền và nghĩa vụ dành riêng cho chủ thể này. Đối với quyền, cần phải quy định cụ thể các quyền mà chủ thể kinh doanh dịch vụ được hưởng như: Quyền được ký hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn; quyền được cung cấp thông tin; quyền được trả tiền cho việc thực hiện dịch vụ; quyền được cấp các chứng từ có liên quan đến hoạt động kinh doanh khi đã đáp ứng đủ các điều kiện pháp luật quy định; quyền được nhà nước và các cơ quan chuyên ngành hỗ trợ, tạo điều kiện để thực hiện hoạt động kinh doanh… Đối với nghĩa vụ, cũng giống như quyền, cần phải quy định cụ thể các nghĩa vụ mà chủ thể kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn phải thực hiện như: Phải đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh và bảo đảm duy trì đủ điều kiện đầu tư kinh doanh đó trong suốt quá trình hoạt động; phải bảo đảm và chịu trách nhiệm về chất lượng thu gom chất thải rắn theo tiêu chuẩn do pháp luật quy định hoặc tiêu chuẩn đã đăng ký hoặc công bố; phải đảm bảo tính trung thực, chính xác của thông tin liên quan đến hoạt động thu gom chất thải rắn.
3.1.2. Hoàn thiện quy định về hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn
- Hình thức, nội dung hợp đồng
Để khắc phục những điểm bất cập trong hợp đồng kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn, cần thiết phải ban hành một văn bản quy phạm pháp luật quy định hướng dẫn các biểu mẫu hợp đồng dịch vụ dành riêng cho hoạt động thu gom chất thải rắn. Theo tác giả, hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn cần được chia thành ba loại giống như hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt, gồm: hợp đồng dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý CTR; hợp đồng dịch vụ thu gom và vận chuyển CTR; hợp đồng dịch vụ xử lý CTR. Tương ứng với từng loại hợp đồng thì sẽ có một biểu mẫu hướng dẫn cụ thể thống nhất về mặt nội dung, hình thức. Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Về nội dung biểu mẫu hợp đồng, pháp luật môi trường có thể sử dụng kinh nghiệm của Luật Thương mại năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2015. Cụ thể, trong nội dung của hợp đồng chuyển giao trách nhiệm thu gom chất thải rắn cần phải có các điều khoản điều chỉnh các vấn đề về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên trong hợp đồng như: trách nhiệm giao CTR và chứng từ liên quan; địa điểm, thời hạn giao CTR; thời điểm chuyển rủi ro; trách nhiệm của các bên trong việc phân loại, bảo quản, lưu giữ CTR trước và sau khi chuyển giao; trách nhiệm của chủ nguồn thải CTR khi giao không đúng loại CTR đã được quy định trong hợp đồng;
Trách nhiệm của chủ xử lý CTR đối với chủ nguồn thải khi không đảm bảo điều kiện để hành nghề thu gom chất thải rắn, hoặc không đảm bảo đúng quy trình, kỹ thuật trong quá trình thu gom chất thải rắn gây ra hậu quả về môi trường… Đặc biệt, cần bắt buộc phải quy định cụ thể trong hợp đồng về thời gian tiếp nhận CTR và xử lý CTR sau khi chuyển giao để tránh trường hợp chủ cung ứng dịch vụ không thực hiện việc thu gom CTR đúng theo yêu cầu, dẫn đến tình trạng CTR không được xử lý, ứ đọng lại gây nguy hiểm cho môi trường và con người. Đồng thời, trong hợp đồng cũng cần phải quy định rõ chủ nguồn thải có quyền giám sát quá trình xử lý CTR của bên cung ứng dịch vụ, bởi do hiện nay pháp luật không còn quy định trách nhiệm giám sát của chủ nguồn thải CTR sau khi chuyển giao CTR. Việc quy định như vậy sẽ điều chỉnh hợp đồng một cách chi tiết hơn mà không sợ bị chồng lấn giữa các quy định pháp luật, từ đó góp phần giảm thiểu các rủi ro pháp lý và những tranh chấp không đáng có có thể phát sinh, cũng như giúp đạt được mục đích thu gom chất thải rắn một cách có hệ thống, an toàn, tránh được tình gian dối trong qúa trình xử lý. Ngoài ra pháp luật cần phải quy định rõ trong hợp đồng phải có các điều khoản về vấn đề đảm bảo quyền lợi của bên sử dụng dịch vụ thu gom chất thải rắn khi bên cung cấp dịch vụ có sự điều chỉnh hoặc cấp lại giấy phép theo quy định của pháp luật.
- Đăng ký hợp đồng và xác định trách nhiệm của các chủ thể có liên quan
Để tạo sự thống nhất trong việc xác định trách nhiệm của các chủ thể liên quan đến vấn đề đăng ký hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn, cần phải quy định rõ: “Chủ nguồn thải CTR đăng ký hợp đồng tại Sở Tài nguyên và Môi trường nơi phát sinh CTR, chủ thể cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn đăng ký hợp đồng tại Bộ Tài nguyên và Môi trường”. Quy định như vậy sẽ tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, đảm bảo tính thống nhất, tránh tình trạng tranh chấp, mâu thuẫn, chồng chéo trách nhiệm trong việc đăng ký, tiếp nhận hợp đồng chuyển giao trách nhiệm thu gom chất thải rắn của các chủ thể có liên quan.
Đồng thời, để đảm bảo thống nhất, tinh gọn trong quản lý nhà nước đối với hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn, nên bỏ quy định Sở Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm quản lý hợp đồng liên quan đến các tổ chức, cá nhân có Giấy phép thu gom chất thải rắn do tỉnh cấp và giao trách nhiệm này về luôn cho Bộ Tài nguyên và Môi trường, lúc này Sở Tài nguyên và Môi trường chỉ có trách nhiệm quản lý các hợp đồng liên quan đến chủ nguồn thải CTR do Sở Tài nguyên và Môi trường cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTR. Xuất phát từ nội dung hợp đồng của hai bên đều như nhau, vì vậy việc giao Bộ trưởng Tài nguyên và Môi trường quản lý luôn cả hợp đồng liên quan đến các tổ chức, cá nhân có Giấy phép thu gom chất thải rắn do tỉnh cấp sẽ đảm bảo đồng bộ với nội dung “Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường có trách nhiệm tổ chức quản lý, kiểm tra điều kiện, hoạt động và các hồ sơ, hợp đồng, báo cáo, chứng từ liên quan đến các chủ xử lý CTR”; từ đó sẽ góp phần giảm gánh nhẹ cho Sở Tài nguyên và Môi trường. Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Xuất phát từ những bất cập trên, tác giả kiến nghị sửa đổi bổ sung quy định về việc đăng ký hợp đồng thu gom chất thải rắn theo hướng trao quyền cho cơ quan địa phương cụ thể là UBND các cấp trong việc tiếp nhận đăng ký hợp đồng thu gom chất thải rắn đúng theo thẩm quyền, cụ thể sửa đổi bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 86 Luật BVMT như sau: “đ) Ban hành quy trình thủ tục có liên quan đến việc tiếp nhận hồ sơ đăng ký hợp đồng trong hoạt động kinh doanh chất thải tại địa phương”.
Tóm lại, hợp đồng kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn là một dạng hợp đồng đặc biệt, có vai trò rất quan trọng trong việc quyết định đến thành công trong các giao dịch chuyển giao trách nhiệm thu gom chất thải rắn giữa các chủ thể. Tuy nhiên, hiện nay các quy định pháp luật môi trường điều chỉnh về loại hợp đồng dịch vụ này còn nhiều thiếu sót, hạn chế, bất cập. Chính vì vậy, việc nghiên cứu và hoàn thiện các quy định pháp luật điều chỉnh đối với loại hợp đồng này là rất quan trọng và cần thiết.
- Trách nhiệm giám sát của chủ nguồn thải sau khi ký kết Hợp đồng dịch vụ thu gom CTR
Về kỹ thuật lập pháp thì Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường đã bỏ trách nhiệm giám sát hoạt động thu gom chất thải rắn của chủ nguồn thải CTR sau khi chuyển giao. Trong chừng mực nhất định, việc bỏ quy định này tạo được sự tinh giản, khả thi trong việc ràng buộc trách nhiệm đối với chủ nguồn thải CTR. Tuy nhiên, dựa trên nguyên lý người sản sinh chất thải phải chịu trách nhiệm tới cùng đối với chất thải phát sinh, thì trách nhiệm tiếp tục giám sát quá trình thu gom chất thải rắn là cần thiết. Nếu chủ nguồn thải CTR không thực hiện việc kiểm tra, giám sát các hoạt động thu gom chất thải rắn sau khi chuyển giao thì sẽ rất dễ xảy ra tình trạng các chủ thể cung ứng dịch vụ sẽ không thực hiện theo đúng yêu cầu quản lý đặt ra, điều này rất nguy hiểm cho môi trường và con người nếu như CTR không được xử lý đúng theo các quy trình kỹ thuật và yêu cầu quản lý theo quy định.
Một số vụ việc trên thực tế đã cho thấy sự gian dối trong quá trình xử lý CTR như: Công ty Tân Phương Đông sau khi thu gom bùn thải nguy hại từ Công ty Hào Dương đã đem đi đổ ra các bô rác trên địa bàn tỉnh Bình Dương gây ô nhiễm môi trường cho đến nay không thể thu hồi để xử lý hay Công ty TNHH Tỷ Xuân, Công ty Hào Dương, Công ty Kingmaker, Công ty Sung hyun Vina là chủ nguồn thải các loại CTR nhưng trong quá trình ký hợp đồng không kiểm tra năng lực đối tác, thấy giá thành xử lý thấp là đồng ý ký hợp đồng, thiếu trách nhiệm trong công tác kiểm tra giám sát đối với CTR, vi phạm các qui định về thu gom chất thải rắn theo qui định về bảo vệ môi trường”. Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Do vậy, tác giả kiến nghị cần bổ sung thêm trách nhiệm giám sát của chủ nguồn thải vào quy định tại điều 85 Luật BNMT theo hướng như sau: “8. Theo dõi, giám sát việc thu gom chất thải của chủ nguồn thải khác trong việc xả thải, trong việc thu gom, vận chuyển, tiếp nhận và xử lý CTR”.
- Hoàn thiện quy định về giá cung ứng dịch vụ thu gom CTR
Thứ nhất, hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật bằng việc khắc phục, điều chỉnh các vướng mắc, bất cập trong quy định của các văn bản quy phạm pháp luật môi trường.
Do bản chất là một mối quan hệ dân sự giữa các tổ chức, cá nhân trong hoạt động sản xuất, kinh doanh với nhau, vì vậy Luật Môi trường không nên can thiệp quá sâu vào thỏa thuận về giá của các bên trong hợp đồng dịch vụ thu gom CTR. Thay vào đó, Luật chỉ đưa ra những quy định về nguyên tắc xác định giá, về các cơ sở tính chi phí thu gom CTR để giúp các bên dễ dàng hơn khi xác định giá dịch vụ thu gom CTR.
Theo tác giả, cơ sở tính chi phí quản lý chất thải rắn sinh hoạt được áp dụng để tính chi phí thu gom CTR. Cụ thể, khi xác định mức giá dịch vụ thu gom CTR, cần căn cứ vào: Chi phí vận hành, duy trì; Chi phí khấu hao, máy móc, nhà xưởng, công trình được đầu tư cho xử lý CTR đạt tiêu chuẩn, quy chuẩn kỹ thuật theo quy định. Cùng với đó, cần xem xét cả chi phí lập lưu trữ hồ sơ, lập báo cáo thu gom CTR, vì đây là hoạt động thường xuyên và bắt buộc của cơ sở xử lý CTR nên chi phí này cũng cần được tính trong quá trình định giá dịch vụ.
Thứ hai, trên cơ sở cách tính chi phí thu gom CTR, chủ thể kinh doanh dịch vụ thu gom CTR sẽ tiến hành xây dựng bảng khung giá dịch vụ, chi tiết đối với từng loại CTR được cấp phép xử lý.
Khung giá dịch vụ này phải được xác định dựa trên chi phí thu gom CTR, điều kiện về hạ tầng, điều kiện KT&XH và giá của dịch vụ đó trong các điều kiện tương tự về phương thức vận chuyển, thời điểm cung ứng, thị trường địa lý… Sau khi hoàn thành, chủ thể kinh doanh dịch vụ cần gửi khung giá này đến Sở Tài chính để thẩm định và Sở Tài nguyên và Môi trường để theo dõi quản lý; đồng thời niêm yết công khai khung giá dịch vụ thu gom CTR trên website hoặc trụ sở làm việc của cơ sở kinh doanh dịch vụ để tiện theo dõi.
Khi giao kết hợp đồng, nếu giá dịch vụ đưa ra trong một hợp đồng thu gom CTR vượt quá khung giá một cách bất hợp lý thì buộc chủ xử lý CTR phải giải trình. Nếu chủ xử lý CTR không giải trình được lý do vượt quá khung giá một cách chính đáng, thì sẽ áp dụng mức giá cao nhất trong khung giá để xác định giá dịch vụ. Ngoài ra, thỏa thuận trong hợp đồng cần nêu rõ đơn giá đã bao gồm giá thu gom, vận chuyển hay chưa để tránh bất đồng khi giải thích hợp đồng.
Từ những nguyên do trên, tác giả kiến nghị cần sửa đổi bổ sung quy định tại Điều 79 Luật BVMT 2020 và Điều 29 Thông tư 02/2022/TT-BTNMT theo hướng bổ sung quy định về việc UBND cấp tỉnh có thẩm quyền ban hành khung giá dịch vụ thu gom CTR tại địa phương mình và các doanh nghiệp thu gom hoạt động tại địa phương cân đối với địa hình, điều kiện của địa phương mình để lập bảng giá dịch vụ cụ thể.
3.2. Giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.
3.2.1. Nghiên cứu, phát triển, chuyển giao công nghệ xử lý theo hướng giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế chất thải rắn
Một là Xây dựng và ban hành danh mục công nghệ xử lý chất thải rắn để khuyến cáo các địa phương áp dụng cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, trong đó chú trọng đến các công nghệ xử lý đi kèm với các giải pháp giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế và thu hồi năng lượng từ chất thải, hạn chế tối đa lượng chất thải phải chôn lấp, ứng dụng các công nghệ sẵn có tốt nhất, công nghệ thân thiện môi trường, tiết kiệm đất và thu hồi tài nguyên, năng lượng.
Hai là, Xây dựng phương án chuyển đổi phương pháp xử lý chất thải rắn bằng phương pháp chôn lấp truyền thống sang đốt để thu hồi năng lượng ở các thành phố lớn, có hướng dẫn xử lý tro đáy, tro bay phát sinh phù hợp; đẩy mạnh thực hiện chính sách ưu đãi giá mua, bán điện từ xử lý chất thải rắn đã ban hành.
Ba là Đẩy mạnh việc xây dựng các mô hình điểm về phân loại tại nguồn (phù hợp với các công nghệ xử lý chất thải rắn; đặc biệt là việc phân loại để làm cơ sở cho việc áp dụng các công nghệ thu hồi năng lượng từ chất thải); thu gom, vận chuyển, tái chế, tái sử dụng và thu hồi năng lượng từ chất thải rắn nhằm lựa chọn các mô hình phù hợp để nhân rộng trên phạm vi cả nước.
Bốn là Xây dựng và triển khai chương trình khắc phục ô nhiễm và cải thiện môi trường đối với các bãi chôn lấp chất thải rắn không hợp vệ sinh hiện nay bằng một số giải pháp như: (i) Lựa chọn các địa điểm hợp lý để đầu tư các trung tâm xử lý và tái chế chất thải ở quy mô liên vùng, liên tỉnh; xây dựng kế hoạch và tổ chức cải tạo, xử lý các bãi chôn lấp chất thải rắn tại các đô thị, nông thôn đã đóng cửa để tái sử dụng đất; xây dựng cập nhật và tích hợp cơ sở dữ liệu về quản lý chất thải rắn vào hệ thống cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia; (ii) Ứng dụng công nghệ thông tin trong giám sát, quản lý hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn. Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Năm là, Cập nhật và triển khai thực hiện các giải pháp giảm thiểu chất thải nhựa khó phân hủy như: (i) Đánh giá tổng thể thực trạng thu gom, xử lý và tái chế chất thải nhựa; xây dựng các mô hình thu gom, xử lý chất thải rắn nhựa; (ii) Xây dựng và triển khai chương trình giảm thiểu chất thải nhựa một cách đồng bộ từ công tác phân loại, thu gom, vận chuyển và xử lý phù hợp với điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, cơ sở hạ tầng của từng địa phương; (iii) Xây dựng các mô hình “nói không với chất thải nhựa sử dụng một lần và túi ni lông khó phân hủy”, quy định giảm thiểu nhựa trong bao bì, thiết bị lưu chứa chất thải rắn tại hộ gia đình, chủ nguồn thải và tại khu vực công cộng phục vụ công tác phân loại tại nguồn và giảm thiểu chất thải nhựa phát sinh
Bên cạnh đó, cần tăng cường giới thiệu các sản phẩm thay thế thân thiện với môi trường. Tuyên truyền, vận động và tổ chức ký cam kết giảm thiểu chất thải nhựa, không sử dụng sản phẩm nhựa dùng một lần đối với các cơ sở sản xuất, các tổ chức phân phối sản phẩm, trung tâm thương mại, cửa hàng, nhà hàng, chợ, siêu thị; thúc đẩy hoạt động Liên minh tái chế bao bì Việt Nam
3.2.2. Nâng cao nhận thức doanh nghiệp về việc hạn chế chất thải rắn Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Rà soát, đánh giá hiệu quả công tác đào tạo, truyền thông và nâng cao nhận thức doanh nghiệp về thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn và chất thải nhựa; sửa đổi, xây dựng chương trình, tài liệu tuyên truyền và đầu tư các phương tiện, thiết bị đảm bảo hoạt động thường xuyên, hiệu quả. Đẩy mạnh việc tuyên truyền, đào tạo và tổ chức các khoá tập huấn cho doanh nghiệp về sản xuất sạch hơn, hoạt động giảm thiểu phát sinh chất thải rắn, quy trình thu gom, vận chuyển, xử lý, tái chế chất thải rắn theo các quy định tại Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản pháp luật liên quan đối với các cộng đồng dân cư, tổ chức, cá nhân.
Xây dựng và thực hiện các chương trình đào tạo, truyền thông nâng cao nhận thức của doanh nghiệp, các cơ sở sản xuất, kinh doanh dịch vụ về giảm thiểu, phân loại tại nguồn, tái chế, tái sử dụng, thải bỏ chất thải rắn. với nội dung và thời lượng phù hợp với nhận thức của từng thành phần đối tượng. Tăng cường trao đổi, tham quan, học tập kinh nghiệm trong triển khai công tác quản lý chất thải rắn, chú trọng đến tính khả thi, sự phù hợp khi triển quản lý chất thải rắn
Triển khai áp dụng cùng mô hình xử lý chất thải rắn giữa các địa phương. Đẩy mạnh việc xây dựng và phổ biến cơ sở dữ liệu và trang thông tin điện tử về chất thải rắn, các tài liệu hướng dẫn kỹ thuật về quản lý, xử lý chất thải rắn.
Việc thu gom CTR hiện nay vẫn còn gặp nhiều khó khăn phần lớn xuất phát từ ý thức của người dân trong việc tập kết rác thải, phân loại rác thải … do vậy bên cạnh việc nâng cao nhận thức của doanh nghiệp thu gom CTR thì cần có những giải pháp cụ thể đảm bảo việc thu gom đảm bảo hiệu quả hơn trong thực tế ví như thực hiện việc thu gom tại một địa điểm tập kết cụ thể, thu gom theo ngày chẵn lẻ hoặc ngày nào trong tuần, giờ nào trong ngày thu gom … Cần có biện pháp cụ thể khi người dân không tuân thủ theo những quy định đã đặt ra thì sẽ không tiến hành thu gom đối với người dân đó. Đây là biện pháp nhằm nâng cao nhận thức của người dân về CTR cũng như đảm bảo hiệu quả việc thu gom CTR hiện nay.
3.2.3. Ban hành cơ chế khuyến khích, ưu đãi đầu tư đối với các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm thân thiện với môi trường
Dưới góc độ pháp lý thì Luật BVMT năm 2020 định nghĩa: “Sản phẩm, dịch vụ thân thiện môi trường là sản phẩm, dịch vụ được tạo ra từ các nguyên liệu, vật liệu, công nghệ sản xuất và quản lý thân thiện môi trường, giảm tác động tiêu cực đến môi trường trong quá trình sử dụng, thải bỏ, bảo đảm an toàn cho môi trường, sức khỏe con người và được cơ quan có thẩm quyền chứng nhận hoặc công nhận ”. Đồng thời, Luật BVMT quy định sản phẩm thân thiện với môi trường là sản phẩm đáp ứng các tiêu chí nhãn sinh thái Việt Nam và được chứng nhận nhãn sinh thái. Như vậy, khi NTD lựa chọn những sản phẩm thân thiện với môi trường sẽ làm giảm những tác động tiêu cực tới môi trường gây ra từ quá trình sản xuất và tiêu dùng. Nói cách khác, việc sử dụng các sản phẩm thân thiện với môi trường (tiêu dùng xanh) sẽ gián tiếp thúc đẩy sản xuất thân thiện với môi trường (sản xuất xanh). Đây cũng là giải pháp hữu hiệu cho việc giảm thiểu nguy cơ biến đổi khí hậu
Tuy nhiên hiện nay các quy định về sử dụng sản phẩm thân thiện môi trường mới chỉ dừng lại việc ghi nhận các nguyên tắc trong Luật BVMT năm 2020; mà chưa được các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền ban hành các văn bản hướng hướng dẫn thi hành và áp dụng triển khai trên thực tế. Do đó, để thúc đẩy các doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh sản phẩm thân thiện với môi trường thì cần sớm ban hành các quy định cụ thể điều chỉnh lĩnh vực này như: các quy định về trách nhiệm của Nhà nước, của các doanh nghiệp trong sản xuất, tiêu thụ sản phẩm thân thiện với môi trường; những ưu đãi hỗ trợ, ưu đãi đầu tư….vvv. Điều này sẽ tạo cơ sở pháp lý và khuyến khích các doanh nghiệp đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm thân thiện với môi trường, qua đó thực hiện tốt hơn trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp trong lĩnh vực BVMT.
3.2.4 Giải pháp về chi phí thu gom chất thải rắn Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Việc thu gom chất thải rắn của các doanh nghiệp thu gom chất thải rắn là hoạt động cần được đầu tư và cần có sự cải tiến về cơ sở vật chất, phương tiện kỹ thuật đảm bảo cho việc thu gom CTR đặc biệt đối với CTR nguy hại. Trong khi đó, chi phí xử lý CTR là cơ sở để xác định giá dịch vụ và chất lượng của hoạt động thu gom CTR đồng thời đây cũng là căn cứ để ký kết được nhiều hợp đồng thu gom CTR của doanh nghiệp kinh doanh.
Do vậy, nhằm đảm bảo cho hoạt động kinh doanh thu gom CTR được đảm bảo sự vận hành và đưa ngành nghề này là ngành nghề kinh doanh thông dụng trong nền kinh tế thì cần thiết phải có chính sách về giá và chi phí thu gom CTR một cách hợp lý vừa đảm bảo cho nhu cầu của người dân, vừa đảm bảo cho hoạt động của các doanh nghiệp thu gom mà cần thiết phải có giải pháp cụ thể về chi phí thu gom này theo hướng hoặc quy định chi phí này đúng nghĩa dịch vụ của nó đó là “dịch vụ” do các bên thỏa thuân, hoặc theo hướng phân bổ kinh phí sự nghiệp môi trường để đảm bảo cho hoạt động này như hiện nay, lại có sự hạn chế nhất định trong sự cạnh tranh giữa doanh nghiệp ngoài nhà nước và tổ chức Nhà nước thực hiện kinh doanh trong lĩnh vực này.
3.2.5 Giải pháp trong việc lựa chọn chủ đầu tư
Hiện nay, việc lựa chọn doanh nghiệp tiến hành hoạt động thu gom CTR được thực hiện theo hình thức đấu thầu. Việc tổ chức đấu thầu lựa doanh nghiệp tổ chức thu gom chất thải rắn vẫn còn có những hạn chế nhất định ví dụ như còn phụ thuộc phần nhiều vào quen biết, đã thực hiện việc thu gom trước đó, qua giới thiệu … chứ chưa thực sự công khai minh bạch, dẫn đến việc hạn chế của nhiều doanh nghiệp mới gia nhập vào việc kinh doanh thu gom CTR hiện nay.
Như vậy, để đưa hoạt động này đảm bảo ngành nghề này phổ biến trong nền kinh tế, cũng như đảm bảo sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thu gom với nhau cần có hướng điều chỉnh cụ thể trong việc tổ chức hoạt động đấu thầu theo hướng công khai minh bạch đặc biệt là các thông tin liên quan đến khối lượng thu gom, địa điểm tập kết, giá và phí, phương tiện vận chuyển…
Kết luận Chương 3
Trong phạm vi Chương 3, tác giả đã đề xuất các định hướng và giải pháp hoàn hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ thu gom CTR. Các giải pháp này tập trung vào việc xóa bỏ, sửa đổi, bổ sung, điều chỉnh một số quy định bất cập của pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ thu gom CTR, trong đó chủ yếu là các quy định tại Luật BVMT 2020, Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường, Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường. Đồng thời, qua đó góp phần nâng cao hiệu quả trong việc áp dụng, thực thi các quy định pháp luật vào thực tiễn hoạt động điều kiện kinh doanh dịch vụ thu gom CTR đạt kết quả tốt nhất.
KẾT LUẬN Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Tại Việt Nam hoạt động kinh doanh thu gom dịch vụ chất thải rắn là việc cung ứng một dịch vụ công ích, theo đó bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ thu gom và được nhận thù lao, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán thù lao và được sử dụng dịch vụ thu gom chất thải rắn thông qua hợp đồng dịch vụ. Trong đó nước ta đang định hướng xã hội hóa hoạt động thu gom chất thải rắn trên phạm vi cả nước bằng việc khuyến khích các cá nhân, tổ chức tham gia vào các hoạt động dịch vụ môi trường trong đó có hoạt động thu gom chất thải rắn.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn tác giả tập trung vào nghiên cứu một số nội dung của pháp luật điều chỉnh điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn như chủ thể tiến hành, hợp đồng dịch vụ thu gom và các điều kiện để tiến hành hoạt động thu gom chất thải rắn. Dưới góc độ giới hạn phạm vi nêu trên tác giả cũng tập trung nghiên cứu tình hình thực tiễn việc thu gom chất thải rắn ở một số nội dung thực thi pháp luật quy định. Qua đó đánh giá được tác động của điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn đến môi trường xã hội cũng như sự phát triển kinh tế xã hội và xu hướng phát triển của các ngành nghề có liên quan đến môi trường trong thời gian tới.
Thực tế cho thấy công tác thu gom chất thải rắn ở Việt Nam nói chung và tại Bình Dương nói riêng vẫn còn nhiều bất cập mà nguyên nhân xuất phát từ sự quản lý long lẻo thiếu thống nhất, văn bản pháp luật vẫn chưa đầy đủ và còn thiếu nhiều quy phạm điều chỉnh, ý thức người dân trong công tác này vẫn còn hạn chế do vậy việc quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn vẫn là rất cần thiết cùng với đó là các chính sách hoàn thiện hơn nữa đối với những quy định này. Việc đề ra giải pháp không chỉ dừng lại ở việc định hướng chính sách mà cần phải đưa ra những giải pháp cụ thể trong đó bao gồm cả giải pháp hoàn thiện quy định pháp luật cũng như giải pháp nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật trong việc áp dụng quy định về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn. Tại nội dung của luận văn tác giả đã đưa ra một số giải pháp cụ thể đối với những vấn đề trên. Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn