Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn – thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn thực hiện đề tài
Trên thế giới, dịch vụ Bảo vệ môi trường (trong đó có điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn) là một ngành kinh tế có đóng góp quan trọng vào GDP, được nhiều quốc gia quan tâm, đặc biệt là ở những nước phát triển. Quá trình hội nhập kinh tế quốc tế với xu hướng tự do hóa thương mại hàng hóa và dịch vụ ngày càng được mở rộng thì mở cửa thị trường dịch vụ BVMT trở thành một trong những nội dung quan trọng trong các khuôn khổ hợp tác quốc tế. Việt Nam cũng đang phải cam kết thực hiện ngày càng nhiều hơn các cam kết quốc tế có liên quan đến môi trường, trong khi các doanh nghiệp đang gặp phải những thách thức trong việc đáp ứng các yêu cầu về môi trường trong xuất khẩu sang các thị trường của các nước phát triển thì việc mở cửa thị trường dịch vụ BVMT sẽ tạo điều kiện cho các đối tác nước ngoài đầu tư, kinh doanh trong lĩnh vực này tại Việt Nam đồng thời hỗ trợ các doanh nghiệp trong nước BVMT với chi phí thấp hơn.
Nhằm mục đích bảo vệ môi trường và tận dụng được nguồn rác thải để tái chế với phương châm “rác là tài nguyên” thì hoạt động thu gom rác thải đóng vai trò rất quan trong trong việc phân loại, tái chế và tận dụng được nguồn tài nguyên này. Để có được nguồn tài nguyên từ rác thì rác thải phải được phân loại, thu gom và tái chế đúng cách.
Đối với hoạt động thu gom rác thải loại khác thì “Theo Bộ Tài nguyên và Môi trường, lượng rác thải rắn thu gom tăng gấp đôi trong khoảng thời gian 2015 – 2019, từ mức 32,4 nghìn tấn/ngày lên 65 nghìn tấn/ngày, trong đó, đô thị thải ra 35,6 nghìn tấn/ngày (hơn 50%). Riêng Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh thải ra 16.000 tấn rác mỗi ngày, tương đương 33,6% cả nước. Năm 2019, chỉ 85% lượng rác thải rắn thu gom được xử lý đạt tiêu chuẩn kỹ thuật quốc gia.
Nhà nước định hướng thương mại hóa hoạt động trong môi trường, do vậy Nhà nước cho phép hoạt động thu gom chất thải là hoạt được được phép kinh doanh tuy nhiên hoạt động kinh doanh này là hoạt động kinh doanh có điều kiện. Quy định này xuất phát từ việc chất thải không phải là một loại hàng hóa thông thường, nó cũng không phải chỉ bao gồm rác thải thông thường mà còn bao gồm cả rác thải nguy hại, nếu thu gom không đúng cách thì có thể lại gây ô nhiễm môi trường nghiêm trong hơn. Hơn nữa, quy định về chất thải có thể tái chế của các quốc gia cũng khác nhau do vậy để có thể quản lý, kiểm soát cũng như phát huy được nguồn tài nguyên từ chất thải thì Nhà nước quy định chặt chẽ về điều kiện kinh doanh đối với thu gom chất thải rắn.
Ở tỉnh Bình Dương việc thực hiện các quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR trong thời gian qua đã thu được những thành quả đáng kể trong việc bảo vệ môi trường, tuy nhiên thực tiễn cho thấy vẫn còn nhiều bất cập trong quá trình thực hiện, quá trình thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR của các chủ đầu tư, các cấp chính quyền và Nhân dân vẫn còn mang tính hình thức, chất lượng, hiệu quả không cao. Tình trạng vi phạm pháp luật về môi trường gia tăng đã làm cho môi trường ở nhiều khu vực bị ô nhiễm nghiêm trọng. Mặc dù, văn bản pháp luật về các quy định về điều kiện kinh doanh thu gom CTR được ban hành với số lượng lớn song ít được thực thi hoặc thực thi không đầy đủ làm cho môi trường ở một số địa phương đã và đang bị ô nhiễm nghiêm trọng. Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Do vậy, việc nghiên cứu, phân tích, đánh giá thực trạng pháp luật và thực tiễn thi hành pháp luật từ đó tìm ra các nguyên nhân và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR là việc làm hết sức cần thiết. Từ tất cả các lý do nêu trên, tác giả đã lựa chọn đề tài nghiên cứu: ““Pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn – thực tiễn áp dụng tại tỉnh Bình Dương” để làm luận văn thạc sĩ luật học, chuyên ngành Luật kinh tế.
2. Mục tiêu và câu hỏi nghiên cứu
2.1 Mục tiêu chung
Mục đích nghiên cứu của luận văn nhằm làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR cũng như thực tiễn thực hiện pháp luật tại tỉnh Bình Dương, qua đó đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR trong thời gian tới, góp phần bảo vệ môi trưởng sống trong lành của người dân.
2.2 Mục tiêu cụ thể
Để đạt được mục tiêu chung đã nêu trên, các mục tiêu cụ thể của luận văn được xác định cụ thể như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu các vấn đề lý luận về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn (Khái niệm, đặc điểm về điều kiện điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn,…)
Thứ hai, phân tích và đánh giá thực trạng pháp luật Việt Nam hiện hành về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn theo Luật môi trường năm 2020, và văn bản hướng dẫn thi hành.
Thứ ba, phân tích và đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn từ năm 2016 đến nay. Từ đó chỉ ra những mặt đạt được, những mặt còn hạn chế, nguyên nhân của những hạn chế này.
Thứ tư, đề xuất một số giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
2.3. Câu hỏi nghiên cứu
Luận văn được hoàn thành dựa trên việc giải quyết những câu hỏi nghiên cứu cụ thể đó là:
- Câu hỏi 1: Điều kiện kinh doanh thu gom CTR được hiểu như thế nào? Vai trò?
- Câu hỏi 2: Pháp luật quy định về điều kiện kinh doanh thu gom CTR có những nội dung gì? Có hạn chế gì? Bất cập gì?
- Câu hỏi 3: Thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR tại tỉnh Bình Dương những năm gần đây như thế nào? Có vướng mắc gì?
- Câu hỏi 4: Có đề xuất giải pháp nào để hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR? Làm thế nào để nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR tại tỉnh Bình Dương.
3. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Trong những năm gần đây, vấn đề bảo vệ môi trường đang ngày càng được quan tâm trong đó có cả những vấn đề về chất thải rắn, do đó khung pháp luật về điều kiện thu gom chất thải rắn cũng có một số công trình nghiên cứu có liên quan đến đề tài nghiên cứu như:
- Thứ nhất, nhóm các luận văn
Chiêm Phong Phi (2015), “Pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn thông thường” , Luận văn thạc sỹ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Luận văn nghiên cứu các vấn đề lý luận về hoạt động kinh doanh thu gom chất thải rắn thông thường và quy định của pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn thông thường ở những khía cạnh như chủ thể, điều kiện, hợp đồng dịch vụ và trách nhiệm quản lý của cơ quan nhà nước. Từ đó đưa ra những kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về kinh doanh dịch vụ chất thải rắn thông thường. Những vẫn đề nghiên cứu tại Luận văn có thể là nguồn tham khảo của cho vấn đề đang nghiên cứu.
Đậu Hổng Cảnh (2019), “Pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt, qua thực tiễn tại tỉnh Quảng Trị”, Luận văn Thạc sỹ, Trường Đại học Luật – Đại học Huế. Luận văn đã khái quát một số vấn đề lý luận về xử lý rác thải sinh hoạt đồng thời nghiên cứu quy định của pháp luật về xử lý rác thải sinh hoạt qua một số nội dung như trách nhiệm của tổ chức, cá nhân phát sinh rác thải sinh hoạt, thu gom rác thải sinh hoạt, hợp đồng dịch vụ, chi phí thu gom … Nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật xử lý rác thải sinh hoạt tại tỉnh Quảng Trị qua đó đánh giá thực tiễn và đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện quy định pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả xử lý rác thải sinh hoạt tại địa bàn nghiên cứu. Mặc dù luận văn này chưa có sự phân tích chuyên sâu về thu gom chất thải rắn, nhưng tại một số nội dung nghiên cứu trong luận văn có đề cập đến việc thu gom chất thải, hợp đồng thu gom … có thể là nguồn tham khảo cho vấn đề đang được nghiên cứu về điều kiện thu gom chất thải rắn.
Trần Linh Huân (2018), “Pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại”, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại học Luật Thành phố Hồ Chí Minh. Luận văn nêu lên những vấn đề tổng quan về quản lý chất thải nguy hại và pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại. Nghiên cứu thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, đánh giá thực trạng từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện quy định của pháp luật cũng như nâng cao hiệu quả áp dụng pháp luật về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại. Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề về kinh doanh dịch vụ quản lý chất thải nguy hại, tuy nhiên tại một số nội dung nghiên cứu của luận văn có đề cập đến điều kiện thu gom, điều kiện kinh doanh, yêu cầu về quản lý Nhà nước … có thể sử dụng để tham khảo cho vấn đề điều kiện thu gom chất thải rắn mà tác giả đang nghiên cứu. Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Ngô Thu Uyên (2020), “Pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ .Trường Đại học Luật Hà Nội. Luận văn trình bày những vấn đề lý luận về quản lý chất thải rắn sinh hoạt và đưa ra những vấn đề về thực trạng pháp luật và thực tiễn thực hiện pháp luật quản lý chất thải rắn sinh hoạt tại Việt Nam trong giai đoạn nghiên cứu, từ đó đưa ra những giải pháp nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả th hành pháp luật về vấn đề nghiên cứu. Luận văn tập trung nghiên cứu về quản lý chất thải rắn, tuy nhiên, tại một số nội dung nghiên cứu của Luận văn có một phần nhỏ để cập đến vấn đề thu gom chất thải rắn.
- Thứ hai, nhóm các bài viết khoa học
Nguyễn Văn Diễm (2022), “Thực trạng thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải trên địa bàn Thành phố Hà Nội”, Tạp chí Công thương điện tử; truy vấn tại: Bài viết phân tích thực tiễn chính sách và tổ chức thực hiện chính sách thu gom, vận chuyển, lưu giữ và xử lý chất thải trên địa bàn Thành phố Hà Nội.
Lê Kim Nguyệt, Chử Trọng Nghĩa (2022), “Quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn tại Thành phố Hà Nội và đề xuất hướng hoàn thiện pháp luật”, Tạp chí Dân chủ và pháp luật điện tử; truy vấn tại: Trong bài viết này, nhóm tác giả đánh giá thực trạng về quản lý chất thải rắn sinh hoạt từ thực tiễn tại Thành phố Hà Nội, từ đó, đề ra các yêu cầu hoàn thiện pháp luật về quản lý chất thải rắn sinh hoạt ở Việt Nam.
Hoàng Thị Huê, Bùi Thị Thu Trang, Nguyễn Thị Hồng Hạnh, Nguyễn Thị Hoài Thương (2022), “Kinh nghiệm quốc tế về quản lý chất thải rắn và bài học đối với Việt Nam”, Tạp chí KH&CN Việt Nam điện tử; truy vấn tại: Từ kết quả nghiên cứu của bài viết tác giả nhận định: “Nhiều quốc gia trên thế giới đã có chính sách thiết thực về quản lý, thu gom và xử lý chất thải rắn sinh hoạt (CTRSH). Để giảm gánh nặng chi phí cho người dân, chính quyền nhiều nơi cũng tiến hành trợ giá cho các công ty thu gom rác. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy, khi triển khai những quy định của pháp luật về quản lý CTRSH, hầu hết các quốc gia đều thực hiện theo quy trình, đầu tiên là tham vấn ý kiến cộng đồng, đánh giá nhận thức, thái độ, hành vi của người dân và sau đó triển khai thực hiện. Hiện nay, Luật Bảo vệ môi trường 2020 đã bổ sung nhiều nội dung mới liên quan đến quản lý CTRSH. Tuy nhiên, khi đưa luật vào thực tế đến năm 2025 thì lộ trình cần thiết phải thực hiện là nghiên cứu nhận thức từ đó điều chỉnh hành vi của người dân, đồng thời phổ biến các quy định pháp luật vào cuộc sống”.
Lê Mạnh Tuyến, Mai Thị Chúc Hạnh (2020), “Nâng cao vai trò của cộng đồng trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt”, Tạp chí Công thương điện tử; truy vấn tại: Trong bài viết này, tác giả nêu và phân tích khái niệm cũng như vai trò của cộng đồng trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt, từ đó đề xuất biện pháp nâng cao vai trò của cộng đồng trong quản lý chất thải rắn sinh hoạt.
- Đánh giá về tình hình nghiên cứu và những vấn đề tác giả kế thừa
Thứ nhất, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đưa ra các quan điểm về điều kiện kinh doanh thu gom CTR và đồng thời cũng đã chỉ ra các đặc điểm, vài trò và phân loại điều kiện kinh doanh thu gom CTR được tác giả kế thừa và phát triển. Đây cũng là cơ sở lý luận làm tiền đề để tác giả tiếp tục phát triển các khái niệm về điều kiện kinh doanh thu gom CTR, pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR. Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Thứ hai, các nghiên cứu nêu trên đã mô tả được một phần bức tranh tổng thể thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR và thực trạng áp dụng pháp luật tại Việt Nam trong thời gian qua.
Thứ ba, các bài viết, công trình nghiên cứu trên đã phần nào đưa ra được một số nhận định, đánh giá chung về thực trạng pháp luật về phát triển dịch vụ môi trường của Việt Nam và qua đó đóng góp một số giải pháp cho việc hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR của Việt Nam dưới nhiều góc độ khác nhau.
Tuy nhiên những công trình nghiên cứu nêu trên cũng có phần nào còn hạn chế trong phạm vi vấn đề nghiên cứu ở một hoặc một số lĩnh vực cụ thể mà chưa hoàn toàn tập trung vào vấn đề điều kiện kinh doanh thu gom CTR, đồng thời phạm vi thời gian nghiên cứu của các công trình nêu trên cũng đã quá lâu, chưa thực sự phù hợp với sự phát triển của nền kinh tế thị trường, yêu cầu của xã hội trong việc thu gom chất thải rắn hiện nay. Do vậy, đề tài nghiên cứu “Pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn, thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Bình Dương” là công trình nghiên cứu đảm bảo tính mới về mặt khoa học cũng như đáp ứng được nhu cầu thực tiễn hiện nay với vấn đề môi trường, cụ thể là vấn đề thu gom chất thải rắn.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
- Các vấn đề lý luận pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR
- Các quy định pháp luật hiện hành về điều kiện kinh doanh thu gom CTR (Luật BVMT 2020, Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định số 60/2016/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 136/2018/NĐ-CP) quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường; Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường và một số văn bản hướng dẫn có liên quan khác)
- Thực tiễn việc thực thi pháp luật về kinh doanh chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Bình Dương thông qua các báo cáo về thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR tại Tỉnh Bình Dương.
- Trên cơ sở quy định pháp luật và thực tiễn đưa ra một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về điều kiện kinh doanh
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Thứ nhất, về nội dung nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu điều kiện kinh doanh thu gom CTR theo Luật môi trường năm 2020 và các Nghị định, thông tư hướng dẫn thi hành về điều kiện kinh doanh thu gom CTR (Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường; Thông tư 02/2022/TT-BTNMT hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường…vvv).
Thứ hai, giới hạn về không gian và thời gian
- Về không gian: Tỉnh Bình Dương
- Về thời gian nghiên cứu: Giai đoạn năm 2016 đến năm 2022
5. Phương pháp nghiên cứu Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Các phương pháp nghiên cứu được sử dụng trong luận văn như sau:
- Phương pháp phân tích – tổng hợp: Phương pháp nghiên cứu này được sử dụng trong suốt quá trình nghiên cứu để tổng quan các công trình nghiên cứu lý luận và thực tiễn về điều kiện kinh doanh thu gom CTR; nghiên cứu về khái niệm, đặc điểm của pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR; đánh giá, bình luận các quan điểm, các quy định pháp luật, các tình huống thực tiễn làm cơ sở cho những kết luận khoa học cũng như đưa ra những giải pháp để hoàn thiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR;
- Phương pháp so sánh: Phương pháp nghiên cứu này sử dụng nhằm so sánh các quan điểm của các luật gia về điều kiện kinh doanh thu gom CTR.
- Phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học đã sử dụng phương pháp khảo sát, điều tra xã hội học để tìm hiểu ý kiến, quan điểm của cán bộ quản lý nhà nước, người dân về thực tiễn áp dụng pháp luật về đều kiện kinh doanh thu gom CTR tại Tỉnh Bình Dương
6. Đóng góp khoa học và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt khoa học
Đề tài có ý nghĩa khoa học trong việc làm rõ hơn dưới góc độ luật học những vấn đề lý luận về thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR, góp phần làm phong phú và hoàn thiện hơn nhận thức lý luận về thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR. Qua đó, đề tài góp phần nâng cao nhận thức của đội ngũ cán bộ, công chức và các chủ thể thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR một cách chủ động, tích cực.
Đề tài góp phần bổ sung, hoàn thiện lý luận về thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR. Đề tài là cơ sở cho các cơ quan nhà nước có thẩm quyền xây dựng pháp luật; nghiên cứu, sửa đổi, bổ sung những quy định của pháp luật có liên quan đến thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR chưa hoàn thiện.
6.2. Về mặt thực tiễn Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Đề tài có thể là tài liệu tham khảo hữu ích cho các địa phương khác về việc thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR. Theo đó, kết quả nghiên cứu của đề tài còn là cơ sở để các cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp và cá nhân xây dựng và áp dụng các biện pháp thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR có hiệu quả trên địa bàn tỉnh Bình Dương trong thời gian tới
Đề tài có thể được sử dụng làm tài liệu giảng dạy, học tập và nghiên cứu khoa học về thực hiện pháp luật nói chung và thực hiện pháp luật BVMT
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo và Danh mục viết tắt; phần chính của luận văn có 03 chương và những nội dung cơ bản sau:
- Chương 1: Khái quát pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn và thực tiễn thực hiện pháp luật tại Tỉnh Bình Dương
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT PHÁP LUẬT VỀ ĐIỀU KIỆN KINH DOANH THU GOM CHẤT THẢI RẮN
1.1. Khái niệm và đặc điểm của pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn
1.1.1. Khái niệm và đặc điểm về chất thải rắn và thu gom chất thải rắn
- Khái niệm về chất thải rắn Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Theo cách hiểu thông thường, chất thải là những chất mà con người bỏ đi, không tiếp tục sử dụng nữa. Khi bị thải bỏ, những chất này tồn tại trong môi trường dưới những trạng thái nhất định và có thể gây ra rất nhiều tác động bất lợi cho môi trường cũng như sức khoẻ con người. Chất thải, chất thải rắn là vấn đề quan trọng trong cuộc sống ngày nay vì vậy chúng ta cần phải nghiên cứu và tìm hiểu để từ đó biết cách để quản lý, phân loại, và tận dụng, đồng thời cũng xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể khi không tuân thủ quy trình xả, thải theo quy định của pháp luật.
Dưới góc độ ngữ nghĩa, chất thải được hiểu là những “chất” không còn sử dụng được nữa bị con người “thải” ra trong các hoạt động khác nhau. Chất thải được sản sinh trong các hoạt động khác nhau của con người thì được gọi với những thuật ngữ khác nhau như: chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thì gọi là rác thải; chất thải phát sinh sau khi sử dụng nguyên liệu trong quá trình sản xuất thì gọi là phế liệu; chất thải phát sinh sau quá trình sử dụng nước thì gọi là nước thải…
Từ điển Tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học định nghĩa “Chất thải là rác thải và những đồ vật bị bỏ đi nói chung”. Theo cách hiểu của khái niệm này, chất thải bao gồm rác là những thứ vụn vặt bị vất bỏ vương vãi, làm bẩn và đồ vật không có giá trị, không có tác dụng nên không giữ lại.
Từ điển môi trường Anh – Việt và Việt – Anh định nghĩa “Chất thải (waste) là bất kỳ chất gì, rắn, lỏng hoặc khí mà cơ thể hoặc hệ thống sinh ra nó không còn sử dụng được nữa và cần có biện pháp thải bỏ”.
Khái niệm chất thải cũng được sử dụng trong pháp luật quốc tế về môi trường, được đề cập tại Công ước Basel. Theo đó, Điều 2 khoản 1 Công ước Basel định nghĩa: “Chất thải là chất hoặc các đồ vật mà người ta tiêu huỷ, có ý định tiêu huỷ hoặc phải tiêu huỷ theo qui định của pháp luật quốc gia”. Yếu tố quyết định để xác định một vật chất hoặc một đồ vật đó có bị chủ sở hữu “tiêu huỷ, có ý định tiêu huỷ hoặc phải tiêu huỷ” hay không
Khái niệm chất thải còn được đề cập trong pháp luật của khối liên kết chính trị – kinh tế. Liên minh Châu Âu (EU). Điều 1 Nghị định 259/93 của EU về vận chuyển chất thải ngày 1/2/1993 có hiệu lực từ ngày 6/5/1994 định nghĩa: “Chất thải có nghĩa là bất kỳ chất hoặc vật nào nằm trong danh mục phân loại tại Phụ lục I mà người giữ chúng thải bỏ hoặc có ý định thải bỏ”. Theo định nghĩa này, một vật chất sẽ là chất thải khi chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp vật chất đó không có ý định sử dụng hoặc không được tiếp tục sử dụng theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Theo Điều 3 khoản 1 Luật khuyến khích kinh tế tuần hoàn và đảm bảo xử lý các chất thải phù hợp với môi trường ngày 27/9/1994 được sửa đổi bổ sung ngày 25/8/1998 của CHLB Đức: “Chất thải là tất cả các động sản thuộc Phụ lục I của luật này mà chủ sở hữu từ bỏ, có ý muốn từ bỏ hoặc bắt buộc phải từ bỏ. Những chất thải có khả năng tái chế được thì chủ sở hữu có nghĩa vụ thực hiện các biện pháp tái chế. Trong trường hợp không tái chế được thì chủ sở hữu có nghĩa vụ xử lý”. Theo định nghĩa này, chỉ có động sản mới có thể trở thành chất thải, bất động sản không thể trở thành chất thải. Một động sản có thể trở thành chất thải hay không phụ thuộc vào việc đánh giá động sản đó có bị “từ bỏ” hoặc phải “từ bỏ” hay không. Cả hai định nghĩa trên đều có một điểm chung là “vật chất được xác định là chất thải khi nó nằm trong Phụ lục I của Luật”. Như vậy, những quan điểm nêu trên có điểm chung đó là đều quan tâm đến việc đưa vật chất nào và không đưa vật chất nào vào trong Phụ lục của mình. Giả sử có những vật chất chưa được đưa vào Phụ lục nhưng nó lại có nguy cơ gây ảnh hưởng đến môi trường khi chủ sở hữu thải bỏ thì sẽ được xác định như thế nào, đây là hạn chế mà các nhà làm luật cần phải bổ sung. Hơn nữa, điều này sẽ khó khi áp dụng vào Việt Nam bởi chung ta chưa đảm bảo được yếu tố về mặt kỹ thuật, công nghệ khi xác định các dạng vật chất nằm trong danh mục chất thải thuộc sở hữu của các chủ thể khác nhau.
Pháp luật Việt Nam có quy định khác so với hai văn bản pháp luật trên, pháp luật Việt Nam đã liệt kê cụ thể các dạng vật chất phát sinh trong các hoạt động của con người và tồn tại dưới các dang khác nhau: Khí, lỏng, rắn… Quan niệm về chất thải còn được xem xét trên khía cạnh kinh tế. Theo quan điểm chung thì chất thải có thể hiểu là chất có thể gây ô nhiễm môi trường; làm cho môi trường suy thoái, hoặc gây ra sự cố môi trường. Nguồn gốc phát sinh ra chất thải là những gì mà chủ sở hữu chúng hiện tại không sử dụng và thải bỏ. Tuy nhiên, việc chủ sở hữu hiện tại không muốn sử dụng và thải bỏ có thể vì nhiều lý do khác nhau như công nghệ, sở thích, nhu cầu.v.v.. Việc thải bỏ bao gồm từ thu gom, xử lý cho đến chôn lấp an toàn chất thải đều có ý nghĩa là cá nhân hay xã hội phải bỏ ra một khoản chi phí nhất định. Việc ít thải bỏ chất thải cũng có nghĩa là nguyên vật liệu, năng lượng … được sử dụng hiệu quả hơn. Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Nghị định số 59/2007/NĐ-CP ngày 09/04/2007 Về quản lý chất thải rán thì: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn, được thải ra từ quá trình sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt hoặc các hoạt động khác. Chất thải rắn bao gồm chất thải rắn thông thường và chất thải rắn nguy hại.
Sau đó Nghị định số 38/2015/NĐ-CP ngày 24/4/2015 của Chính phủ Về Quản lý chất thải và phế liệu đưa ra định nghĩa: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc sệt (còn gọi là bùn nhão) được thải ra từ sản xuất, kinh doanh, dịch vụ sinh hoạt hoặc các hoạt động khác”. Quy định này cho thấy quan điểm về chất thải rắn đã có sự mở rộng hơn về đối tượng điều chỉnh trong đó bao gồm cả “bùn thải” không thuộc thể rắn. Quy định theo hướng mở rộng hơn này cho thấy sự phù hợp và bao quát hơn đồng thời cho thấy sự phù hợp trong sự thay đổi của chất thải môi trường trong sự điều chỉnh trong quy định của pháp luật cũng như thay đổi của pháp luật thế giới về chất thải rắn.
Tiếp theo đó, Luật Bảo vệ môi trường 2020 đưa ra khái niệm một cách ngắn gọn đó là: “Chất thải rắn là chất thải ở thể rắn hoặc bùn thải”9. Như vậy Luật Bảo vệ môi trường 2020 đưa ra khái niệm một cách ngắn gọn theo trạng thái của chất thải ở thể rắn hoặc ở thể bùn thải. Đồng thời tại Nghị định 08/2022/NĐ-CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ Quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường đưa ra hai phân loại của chất thải rắn đó là chất thải rắn thông thường và chất thải rắn sinh hoạt. Theo đó, “Chất thải rắn thông thường là chất thải rắn không thuộc danh mục chất thải rắn và không thuộc danh mục chất thải công nghiệp phải kiểm soát có yếu tố nguy hại vượt ngưỡng chất thải nguy hại” và “Chất thải rắn sinh hoạt (còn gọi là rác thải sinh hoạt) là chất thải rắn phát sinh trong sinh hoạt thường ngày của con người”.
Từ những phân tích nêu trên có thể đưa ra khái niệm: “Chất thải rắn là một dạng vật chất tồn tại ở thể rắn hoặc bùn thải phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt và các hoạt động khác của con người”.
- Khái niệm về thu gom chất thải rắn
Theo nghĩa từ điển Tiếng Việt thì thu gom hiểu theo nghĩa thông thường là việc “lấy từ nhiều nơi, nhiều nguồn rải rác để tập trung lại như thu gom phế liệu, thu gom rác thải để xử lý”.
Dưới góc độ pháp lý, Khoản 5 Điều 3 Nghị định 59/2007/NĐ-CP về quản lý chất thải rắn trước đây quy định “Thu gom chất thải rắn là hoạt động tập hợp, phân loại, đóng gói và lưu giữ tạm thời chất thải rắn tại nhiều điểm thu gom tới địa điểm hoặc cơ sở được cơ quan nhà nước có thẩm quyền chấp thuận”. Tuy nhiên hiện nay Luật BVMT năm 2020 và các văn bản hướng dẫn thi hành (Nghị định số 08/2022/NĐ- CP ngày 10/01/2022 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của Luật Bảo vệ môi trường; Thông tư 02/2022/TT-BTNMT hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường) thì nhà làm luật đã không còn tiếp tục đưa ra khái niệm về “thu gom chất thải” như các văn bản trước đây
Hiện nay, công tác thu gom CTR thông thường tạm thời được chia làm hai giai đoạn chính (giai đoạn sơ cấp và thứ cấp), cụ thể như sau: Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
- Giai đoạn sơ cấp: Là giai đoạn thu gom từ nguồn thải, nơi phát sinh đến các thiết bị dùng để thu gom, chứa tạm thời, các bô rác, điểm hẹn, trạm trung chuyến. Giai đoạn này có sự tham gia chủ yếu của người dân, chủ yếu là thu gom thủ công từ đường phố và các hộ gia đình, các công sở, trung tâm. (việc thu gom này chủ yếu do các đường dây rác dân lập, các hợp tác xã thu gom rác đảm nhiệm)
- Giai đoạn thứ cấp: Là giai đoạn thu gom từ các thiết bị chứa rác, các điểm hẹn, điểm tập kết rác để đưa đến nơi tái chế, xử lý rác thải theo quy định của cơ quan chức năng.
Như vậy, thu gom là một công đoạn trong quy trình quản lý chất thải, là giai đoạn sau khi đã giảm phát thải, tái chế, tái sử dụng. Giai đoạn thu gom nhằm giải quyết hậu quả của chất thải, có thể thấy thu gom là một hoạt động có nhiều công đoạn nhỏ (thu gom từ các nhà ở, các hộ gia đình, các nguồn thải, sau đó tập trung lại tại một địa điểm nhất định (địa điểm tập kết hoặc trạm trung chuyển). Sau đó, thu gom từ các điểm tập kết, các trạm trung chuyển để đưa đến nơi xử lý theo quy định). Do vậy, trong hoạt động thu gom còn bao gồm cả hoạt động tập hợp, vận chuyển và lưu giữ tạm thời chất thải trong khoảng thời gian nhất định, thông thường là 2 ngày với rác thải tại nguồn và trong ngày với rác thải đã tập trung ở điểm hẹn, trạm trung chuyển, trước khi đưa đến nơi xử lý.
Có ý kiến nhận định: “Thu gom CTR là hoạt động thu nhặt, tập hợp CTR từ các nguồn thải, các điểm tập kết sau khi đã thực hiện phân loại và lưu giữ tạm thời trước khi vận chuyển đến nơi xử lý theo quy định, thu gom CTR là một giai đoạn trong quá trình thu gom chất thải rắn. Quá trình thu gom CTR là một quá trình có nhiều công đoạn nhỏ phải làm trong hoạt động thu gom chất thải rắn, bao gồm việc thu gom từ các nguồn thải sau đó tập trung thành một điểm gọi là điểm tập kết hoặc trung chuyển, sau đó tiếp tục thu gom từ các điểm tập kết, trung chuyển để đưa đến nơi xử lý theo đúng quy định. Việc thu gom CTR chỉ được phép thực hiện bởi các tổ chức, cá nhân có Giấy phép xử lý CTR, các phương tiện, thiết bị thu gom CTR phải đáp ứng yêu cầu kỹ thuật và quy trình quản lý theo quy định. Do đó, dịch vụ thu gom chất thải rắn có một số đặc trưng pháp lý cơ bản sau:
Thứ nhất, thu gom chất thải rắn (CTR) là một dịch vụ công, mang tính xã hội, với mục tiêu chính là phục vụ lợi ích của cộng đồng; mọi người dân đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận dịch vụ với tư cách là đối tượng phục vụ của Nhà nước. Ngay cả khi Nhà nước chuyển giao dịch vụ này cho tư nhân cung ứng, Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm bảo đảm sự công bằng trong phân phối các dịch vụ. Dưới góc độ kinh tế học, “các hoạt động thuộc khu vực công cộng là hoạt động nhằm tạo ra các sản phẩm, dịch vụ phục vụ cho nhu cầu xã hội do Nhà nước trực tiếp đầu tư, quản lí hoặc do tư nhân đầu tư, quản lí nhưng có sự chi phối đặc biệt của Nhà nước thông qua hệ thống pháp luật, chính sách, quy định, tiêu chuẩn riêng biệt”. Do là chủ thể chịu trách nhiệm xã hội đối với hoạt động cung ứng dịch vụ này, nên Nhà nước phải là chủ thể lựa chọn bên cung ứng dịch vụ thu gom CTR để phục vụ cho lợi ích của cộng đồng.
Thứ hai, bản chất của hoạt động thu gom CTR là hoạt động khắc phục hậu quả của hành vi xả thải. Theo kinh tế học, khi một chủ thể phát thải ra môi trường, gây thiệt hại cho môi trường thì thiệt hại đó gọi là thiệt hại xã hội và chi phí để khắc phục thiệt hại đó gọi là chi phí xã hội. Nhưng, thực tế là xã hội phải chi trả để xử lý và khắc phục thiệt hại cho môi trường, còn đối với người gây ô nhiễm, chi phí khắc phục đó là chi phí ngoại ứng (external cost). Sự bất cân xứng giữa chi phí xã hội và chi phí cá nhân, sự phân bổ chi phí bất hợp lý sẽ dẫn đến sự phân bổ bất hợp lý các nguồn lực xã hội và ô nhiễm là một dạng phân bổ chi phí bất hợp lý. Trong nhiều thập kỷ, các nhà kinh tế học đã cố gắng tìm ra nhiều giải pháp cho vấn đề ngoại ứng như mô hình thuế Pigouvian, mô hình chuyển giao quyền sở hữu của Ronald Coase… và các giải pháp này chính là cơ sở cho nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” (The Polluter Pays Principle – PPP). Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Dưới góc độ kinh tế, người gây ô nhiễm phải gánh chịu chi phí phòng ngừa ô nhiễm và các biện pháp kiểm soát để khuyến khích việc sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên môi trường khan hiếm và để tránh việc bóp méo thương mại và đầu tư quốc tế. Những chi phí này sẽ do Nhà nước quyết định để đảm bảo môi trường ở trong một trạng thái có thể chấp nhận được. Do đó, nguyên tắc này tập trung vào những chi phí phòng ngừa và các biện pháp kiểm soát ô nhiễm; còn dưới góc độ pháp lý, nguyên tắc này được mở rộng và tập trung vào chi phí khắc phục thiệt hại do ô nhiễm môi trường gây ra. Như vậy, chủ thể phải trả tiền là những chủ thể khai thác, sử dụng tài nguyên thiên nhiên và những chủ thể gây ô nhiễm môi trường. Hiện nay, quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi cũng đặt ra yêu cầu phải thể chế hoá đầy đủ nguyên tắc PPP thông qua hoàn thiện các công cụ kinh tế, cơ chế tài chính phù hợp với thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, nhằm điều tiết các hành vi theo hướng thân thiện môi trường, nâng cao trách nhiệm, thu hút sự tham gia của tổ chức, cá nhân trong bảo vệ môi trường. Bên cạnh đó, hoạt động thu gom CTR mang lại lợi ích về môi trường để người dân được hưởng, cụ thể là hoạt động này tạo ra hiệu ứng tích cực góp phần bảo vệ môi trường, giữ gìn vệ sinh môi trường, bảo vệ sức khỏe, tính mạng con người.
Theo nguyên tắc “Người được hưởng lợi phải trả tiền” (Benefits Pay Principle – BPP), chính cộng đồng bao gồm các thành viên với tư cách là người được hưởng lợi từ hoạt động thu gom chất thải sẽ phải trả chi phí thu gom. Do dịch vụ này mang tính xã hội như đã trình bày ở trên nên tính kinh tế, lợi nhuận không phải là điều kiện tiên quyết và duy nhất chi phối hoạt động cung ứng dịch vụ. Việc trao đổi dịch vụ công nói chung và dịch vụ thu gom CTR nói riêng được thực hiện không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ. Đối với các loại hàng hóa thông thường, giá cả hàng hóa được xác định trên cơ sở giá trị là sức lao động kết tỉnh trong nó, trong khi đó, hàng hóa chất lượng môi trường là loại hàng hóa có tính trừu tượng, phi thị trường, không có hàng hóa cùng loại để tham chiếu giá trị. Do không có thị trường để trao đổi, mua bán nên cũng không có sẵn giá cả để làm thước đo tương đối cho việc đánh giá giá trị hay lợi ích. Dưới góc độ kinh tế, các nhà kinh tế học đã đưa ra các tiêu chí để đánh giá giá trị hàng hóa của môi trường. Kinh tế học đưa ra hướng tiếp cận giá trị hàng hóa chất lượng môi trường là giá trị tâm sinh. Tiếp cận tâm sinh không đánh giá giá trị dựa trên sự thỏa mãn nhu cầu của con người mà giá trị phải dựa trên vai trò sinh thái hay quan điểm sâu sắc về sinh thái; nghĩa là việc sử dụng các tài nguyên môi trường nhằm thoả mãn bất kỳ nhu cầu nào của con người, ngoại trừ các nhu cầu cần cho sự sống của con người, đều là phi đạo đức. Bởi vì, tất cả các thành phần của hệ sinh thái, bao gồm hệ sinh thái, đều có giá trị thực chất của nó và có quyền được tồn tại dưới dạng bất biến. Để có thể xác định giá trị tâm sinh của hàng hóa môi trường làm cơ sở có đơn giá trong đàm phán, thỏa thuận cung ứng dịch vụ cũng cần phải có sự can thiệp của Nhà nước. thông qua việc ban hành đơn giá dịch vụ. Do vậy, dù theo nguyên tắc “Người được hưởng lợi phải trả tiền” hay nguyên tắc “Người gây ô nhiễm phải trả tiền” nêu trên thì việc Nhà nước lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ là điều kiện thuận lợi và hợp lý để Nhà nước có thể can thiệp vào mức giá dịch vụ được cung ứng để vừa đảm bảo sự cân bằng về lợi ích trong quan hệ cung ứng dịch vụ mang lại lợi ích cho cộng đồng và đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của người dân.
Thứ ba, dù xem xét dưới góc độ kinh tế, môi trường hay góc độ pháp lý thì sự can thiệp của Nhà nước vào việc lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ là rất cần thiết để vừa đảm bảo sự cân bằng lợi ích giữa các bên, vừa bảo vệ môi trường nhằm thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. Tuy nhiên, trong nền kinh tế thị trường, việc lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ nói chung và dịch vụ thu gom CTR nói riêng cần được thực hiện theo cơ chế thị trường, tuân thủ quy luật cung, cầu, quy luật về giá trị và đặc biệt là tạo ra thị trường dịch vụ có tính cạnh tranh lành mạnh. Dù dịch vụ thu gom CTR mang bản chất của dịch vụ công, dù người sử dụng dịch vụ là Nhà nước hay chủ nguồn thải thì việc cung ứng và sử dụng dịch vụ phải đảm bảo về hiệu quả kinh tế, khuyến khích tư nhân tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công. Bên cạnh đó, trong mối quan hệ giữa Nhà nước với người dân, Nhà nước chính là người cung ứng dịch vụ thu gom CTR, còn các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình là người sử dụng dịch vụ và phải trả tiền cho Nhà nước một cách trực tiếp (trả phí thu gom) hoặc gián tiếp (đóng góp vào ngân sách Nhà nước để Nhà nước dùng ngân sách chi trả). Để có được sự đồng thuận của người dân với tư cách là người trả tiền cho việc sử dụng dịch vụ, Nhà nước cần có cơ chế bảo đảm cho người dân được tham gia vào quá trình lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ.
Thứ tư, dịch vụ thu gom CTR là dịch vụ công, do Nhà nước tổ chức thực hiện và chịu trách nhiệm đối với chất lượng dịch vụ được cung ứng. Nhà nước có thể sử dụng nhiều phương thức khác nhau để tổ chức thực hiện việc cung ứng dịch vụ này. Chẳng hạn, Nhà nước có thể tự mình thực hiện thông qua cơ chế giao kế hoạch, nhiệm vụ cho các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp hoặc để cho các chủ thể tư nhân khác tham gia thực hiện thông qua phương thức đặt hàng hoặc đấu thầu. Trong điều kiện kinh tế thị trường, cơ chế lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ cần đảm bảo tính công khai, minh bạch, cạnh tranh nhằm giảm giá thành dịch vụ và nâng cao chất lượng của công tác thu gom.
Từ các phân tích trên có thể hiểu: “Thu gom chất thải rắn là hoạt động thu nhặt, tập hợp rác thải từ các nguồn thải, các điểm tập kết, sau khi đã thực hiện phân loại chất thải và lưu giữ tạm thời trước khi vận chuyển đến nơi xử lý theo quy định, là một giai đoạn trong quy trình quản lý chất thải” Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
1.1.1.3 Khái niệm và đặc điểm của kinh doanh thu gom chất thải rắn
Hiện tại, trong phân ngành dịch vụ của WTO, dịch vụ môi trường nằm trong số 12 lĩnh vực thuộc Danh mục phân ngành dịch vụ (W120). Tuy nhiên, WTO cũng chưa đưa ra được định nghĩa chính xác về từng ngành dịch vụ cho nên nhiều cam kết trong khuôn khổ WTO được thực hiện dựa trên sự phân loại và định nghĩa của Hệ thống phân loại sản phẩm trung tâm của Liên Hợp Quốc (CPC). Mỗi ngành dịch vụ trong WTO đều tương ứng với một mã CPC nhất định. Như vậy, dịch vụ môi trường được xem là một trong 12 ngành dịch vụ theo sự phân loại của CPC. Theo định nghĩa của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD) về DVMT như sau: “Dịch vụ môi trường là những dịch vụ được cung ứng nhằm quản lý, phòng ngừa, hạn chế, giảm thiểu hoặc khắc phục những thiệt hại về môi trường nước, không khí, đất, cũng như giải quyết nh ng vấn đề liên quan đến chất thải, tiếng ồn và hệ sinh thái”. Theo khái niệm này, DVMT sẽ bao gồm: (i) việc quản lý ô nhiễm hoặc xây dựng, lắp đặt thiết bị để quản lý ô nhiễm, (ii) cung ứng công nghệ và sản phẩm sạch hơn và (iii) cung ứng các công nghệ và sản phẩm nhằm giảm bớt những rủi ro môi trường, giảm thiểu ô nhiễm và việc sử dụng các nguồn lực.
Dưới góc nhìn so sánh, pháp luật Hoa Kỳ định nghĩa DVMT là các hoạt động dịch vụ tạo ra doanh thu, liên quan đến việc tuân thủ các quy định về môi trường, đánh giá môi trường, phân tích môi trường, bảo vệ môi trường, kiểm soát ô nhiễm, quản lý chất thải, phục hồi môi trường, cung ứng các tài nguyên môi trường như nước, vật liệu có thể tái sinh, và năng lượng; và các hoạt động cải thiện hiệu quả năng lượng và tài nguyên, tăng năng suất, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế bền vững; hoặc Cộng đồng Châu Âu đề xuất mở rộng phạm vi DVMT, bao gồm toàn bộ vòng đời sử dụng nước (water cycle) và bảo vệ bảo tồn cảnh quan, hệ sinh thái và đa dạng sinh học. Cách định nghĩa này hiện nhận được sự ủng hộ của Hoa Kỳ, Liên minh Châu Âu, Canada và Nhật Bản. Ngoài ra, Diễn đàn Thương mại và Phát triển của Liên Hợp Quốc (UNCTAD) mô tả DVMT bao hàm 4 nhóm chính: (1) dịch vụ hạ tầng môi trường (cốt lõi), gồm quản lý nước và quản lý chất thải; (2) các dịch vụ như thiết kế, xây dựng, lắp đặt, vận hành; (3) phục hồi gồm làm sạch địa điểm, phản ứng khẩn cấp đối với các sự cố, phục hồi, đánh giá; và (4) dịch vụ hỗ trợ môi trường gồm phân tích, giám sát, luật pháp, tham vấn, kiểm toán, nghiên cứu và phát triển (R&D)
Ở Việt Nam hiện nay, khác với Luật BVMT trước đây thì tại khoản 1 Điều 144 của Luật BVMT năm 2020 đã đưa ra định nghĩa thống nhất về DVMT được hiểu là ngành kinh tế cung ứng dịch vụ đo lường, kiểm soát, hạn chế, phòng ngừa và giảm thiểu ô nhiễm môi trường nước, không khí, đất và sử dụng hiệu quả tài nguyên thiên nhiên; xử lý chất thải, các chất ô nhiễm khác; bảo tồn đa dạng sinh học và các dịch vụ khác có liên quan. Đồng thời, Luật cũng nhấn mạnh quan điểm về phát triển dịch vụ môi trường của Nhà nước theo hướng: “Nhà nước có chính sách phát triển thị trường dịch vụ môi trường; thúc đẩy tự do hóa thương mại đối với dịch vụ môi trường theo lộ trình phù hợp với cam kết quốc tế; khuyến khích tổ chức, cá nhân đầu tư nghiên cứu, cung ứng dịch vụ môi trường”. Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Dưới góc độ pháp lý, theo quy định tại khoản 21, Điều 4 Luật doanh nghiệp năm 2020 thì khái niệm “kinh doanh” được hiểu việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả công đoạn của quá trình từ đầu tư, sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích tìm kiếm lợi nhuận”. Theo quan điểm của các giáo trình về chủ thể kinh doanh thì dưới góc độ pháp lý khi xác định hành vi kinh doanh chúng ta thường quan tâm đến việc có hay không có mục tiêu lợi nhuận, chứ không quan tâm đến việc thực hiện hành vi đó như thế nào. Lợi nhuận là đích cuối cùng của các nhà kinh doanh, bất cứ hoạt động nào nhằm mục đích kiếm lời trên thị trường cũng là hoạt động kinh doanh.
Kinh doanh thu gom chất thải rắn là một loại hình kinh doanh dịch vụ môi trường, mặc dù loại hình kinh doanh dịch vụ này đã được hình thành khá lâu nhưng đến nay vẫn chưa có một khái niệm cụ thể nào về hoạt động này.
Từ các phân tích trên có thể hiểu: “Kinh doanh thu gom chất thải rắn là hình thức cung ứng dịch vụ, theo đó bên cung ứng dịch vụ có nghĩa vụ thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động trong quy trình thu gom chất thải rắn và nhận thu lao, bên sử dụng dịch vụ có nghĩa vụ thanh toán thù lao và được sử dụng dịch vụ thu gom chất thải rắn thông qua hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn.
- Từ khái niệm trên có thể thấy, kinh doanh thu gom chất thải rắn có một số đặc trưng pháp lý cơ bản sau:
Thứ nhất, hành vi kinh doanh thu gom chất thải rắn diễn ra trên thị trường. Có thể hiểu một cách khái quát, thị trường là nơi gặp gỡ giữa người mua và người bán. Thị trường kinh doanh thu gom chất thải rắn là nơi thực hiện hoạt động chuyển giao và tiếp nhận trách nhiệm thu gom chất thải rắn giữa chủ nguồn thải CTR đóng vai trò là khách hàng có nhu cầu sử dụng dịch vụ thu gom chất thải rắn và chủ thể kinh doanh thu gom chất thải rắn đóng vai trò là các doanh nghiệp đưa ra các loại hình dịch vụ đạt điều kiện theo quy định của pháp luật. Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Hoạt động kinh doanh thu gom chất thải rắn diễn ra trên thị trường mang tính chất tự do, bình đẳng, các chủ thể có quyền tự do kinh doanh nhưng không phải tự do vô tổ chức mà luôn đặt trong trật tự thị trường để đảm bảo sự phát triển có định hướng của thị trường, giải quyết hài hòa hợp lý về lợi ích của các chủ thể tham gia, không để ai có thể vì lợi ích của mình mà xâm phạm đến quyền và lợi ích của người khác. Chủ thể sử dụng dịch vụ được phép tùy ý lựa chọn đối tượng cung ứng dịch vụ đạt chất lượng, đáp ứng đủ điều kiện pháp luật và giá thành hợp lý nhất cho mình mà không bị bất kỳ rào cản gì. Bên cạnh đó, sau khi lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ cả hai bên có thể tự do thỏa thuận các điều khoản cần thiết trong hợp đồng dựa trên cơ sở pháp luật theo tiêu chí tự nguyện.
Thứ hai, hoạt động kinh doanh thu gom chất thải rắn được thực hiện thông qua hợp đồng bằng văn bản và phải được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Hợp đồng kinh doanh thu gom chất thải rắn được thiết lập bằng văn bản giữa chủ thể cung ứng dịch vụ và chủ thể sử dụng dịch vụ, là cơ sở để ràng buộc trách nhiệm của các chủ thể này, đồng thời cũng là căn cứ để giải quyết khi có tranh chấp phát sinh. Nội dung của hợp đồng phải thể hiện đầy đủ các thỏa thuận về công việc thực hiện, thù lao thanh toán, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên. Tuy nhiên, có một điểm cần lưu ý là khác với các loại hợp đồng thương mại, dịch vụ thông thường khác, hợp đồng kinh doanh thu gom chất thải rắn sau khi được xác lập, các bên phải thực hiện trách nhiệm đăng ký hợp đồng này tại cơ quan quản lý có thẩm quyền. Như vậy, dù hợp đồng được xác lập dựa trên sự thỏa thuận của các bên nhưng việc thực hiện hợp đồng phải chịu sự quản lý, giám sát của nhà nước. Điều này xuất phát từ đặc thù của hoạt động kinh doanh dịch thu gom chất thải rắn là một hoạt động luôn tiềm ẩn nhiều rủi ro vì vậy cần có sự quản lý, theo dõi, giám sát chặt chẽ của các cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền nhằm đảm bảo các bên tham gia hợp đồng thực hiện đúng trách nhiệm, nghĩa vụ của mình theo quy định pháp luật, góp phần ngăn ngừa, hạn chế những hành vi phạm trong quá trình thực hiện các công việc liên quan đến hoạt động kinh doanh thu gom CTR
Thứ ba, hành vi kinh doanh thu gom chất thải rắn mang tính chất thường xuyên với mục đích sinh lời. Sau khi được cấp giấy phép chủ thể kinh doanh thu gom chất thải rắn sẽ phải thực hiện thường xuyên các hoạt động thu gom CTR theo quy định của pháp luật. Trong trường hợp nếu sau một năm kể từ ngày được cấp Giấy phép xử lý CTR chủ thể được cấp giấy phép không hoạt động sẽ bị nhà nước thu hồi, trừ những trường hợp bất khả kháng. Bản chất của hoạt động kinh doanh thu gom chất thải rắn là một dạng hoạt động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời, lợi nhuận tạo ra là động lực để các chủ thể tham gia vào hoạt động cung ứng loại hình dịch vụ này. Khi ký hợp đồng tiếp nhận trách nhiệm thu gom chất thải rắn do chủ nguồn thải CTR chuyển giao, chủ thể cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn luôn nhắm đến lợi nhuận đạt được là khoản thanh toán mình sẽ được nhận sau khi hoàn tất công việc cung ứng dịch vụ cho bên sử dụng dịch vụ dựa trên cơ sở hợp đồng đã được ký kết giữa hai bên.
1.1.2 Khái niệm pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Trong khoa học pháp lý ở Việt Nam hiện nay, có nhiều quan điểm khác nhau về “điều kiện kinh doanh”. Có ý kiến cho rằng: “Điều kiện kinh doanh trước hết phải được hiểu là một trong những công cụ quản lý được Nhà nước sử dụng để thiết lập và duy trì trật tự trong hoạt động kinh doanh. Nó đặt ra những yêu cầu mà chủ thể kinh doanh phải đáp ứng như yêu cầu về nguồn lực con người, tài chính, cơ sở vật chất, quy trình quản lý, quy trình kỹ thuật, địa điểm kinh doanh v.v… Do vậy, điều kiện kinh doanh không chỉ là những yêu cầu về gia nhập thị trường đối với doanh nghiệp mà còn là những yêu cầu mà doanh nghiệp phải duy trì trong suốt quá trình hoạt động kinh doanh”; ý kiến khác lại cho rằng: “Điều kiện kinh doanh là những yêu cầu, đòi hỏi mà chủ thể kinh doanh phải có hay phải thực hiện trước khi tiến hành các hoạt động đầu tư kinh doanh nhất định như sản xuất, phân phối, buôn bán, dịch vụ nhằm mục đích thu lợi nhuận”. Theo quan điểm của Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương thì điều kiện kinh doanh nói chung là tập hợp các công cụ mà Chính phủ sử dụng để đặt ra các yêu cầu đối với công dân và doanh nghiệp.
Trước đây trong LDN năm 2005 mặc dù không định nghĩa trực tiếp về điều kiện kinh doanh tuy nhiên tại Khoản 2 Điều 7 Luật Doanh nghiệp năm 2005 đã đưa ra giải thích về “ điều kiện kinh doanh” được hiểu là các yêu cầu mà doanh nghiệp phải có hoặc phải thực hiện khi kinh doanh ngành, nghề cụ thể, được thể hiện bằng giấy phép kinh doanh, giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh, chứng chỉ hành nghề, chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp, yêu cầu về vốn pháp định hoặc yêu cầu khác”. Tuy nhiên, đến Luật DN năm 2014; và Luật DN năm 2020 thì quy định này đã được bãi bỏ và không được tiếp tục duy trì trong các văn bản hướng dẫn thi hành.
Khác với Luật doanh nghiệp thì Luật đầu tư năm 2005; và 2014 mặc dù không giải thích trực tiếp thuật ngữ “ điều kiện kinh doanh”; tuy nhiên trong các văn bản hướng dẫn thi hành luật thì nhà làm luật đã có định nghĩa cụ thể (chẳng hạn tại Khoản 7 Điều 2 Nghị định số 118/2015/NĐ-CP ngày 12 tháng 11 năm 2015 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Đầu tư quy định): “Điều kiện kinh doanh là điều kiện mà cá nhân, tổ chức phải đáp ứng theo quy định của luật, pháp lệnh, nghị định và điều ước quốc tế về đầu tư khi thực hiện hoạt động đầu tư, kinh doanh trong các ngành, nghề quy định tại Phụ lục 4 Luật Đầu tư”.
Hiện nay, khái niệm về điều kiện kinh doanh đã được luật hoá tại khoản 9 Điều 3 Luật Đầu tư năm 2020 với khái niệm chính thức như sau: “Điều kiện kinh doanh là điều kiện cá nhân, tổ chức phải đáp ứng khi thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh trong ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện”. Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Nhìn chung, đa số các luật gia đều nhìn nhận việc Nhà nước đặt ra điều kiện kinh doanh không phải để hạn chế doanh nghiệp mà là để thực thi trách nhiệm của mình trong việc bảo vệ những lợi ích mà Nhà nước quan tâm, bao gồm lợi ích tư (lợi ích của người tiêu dùng được sử dụng những hàng hoá, dịch vụ có chất lượng và an toàn) và lợi ích công (quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khoẻ cộng đồng, môi trường sinh thái).
Trong khoa học pháp lý, pháp luật về điều kiện kinh doanh có thể hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện quản lý nhà nước đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện.
Đối tượng điều chỉnh của pháp luật về điều kiện kinh doanh là mối quan hệ phát sinh trong hoạt động quản lý kinh tế của Nhà nước. Theo đó, Nhà nước dựa trên pháp luật về điều kiện đầu tư, kinh doanh để quản lý, điều tiết hoạt động kinh doanh đối với các ngành nghề đầu tư, kinh doanh nhất định theo mục đích của mình. Tuy nhiên, cũng giống như các mối quan hệ khác phát sinh trong quá trình quản lý nhà nước, đây không phải là những quan hệ mang tính chất hành chính đơn thuần, vì dù bị chi phối bởi yếu tố quyền lực công, quan hệ trên vẫn mang yếu tố tài sản, trách nhiệm vật chất và bị chi phối bởi các quy luật kinh tế.
Phương pháp điều chỉnh của pháp luật về điều kiện kinh doanh là phương pháp mệnh lệnh và phương pháp hướng dẫn mà không dùng phương pháp thỏa thuận bình đẳng. Trong mối quan hệ này, chủ thể kinh doanh phải tuân thủ đúng, đủ các yêu cầu, trình tự, thủ tục cần thiết để được kinh doanh ngành nghề nhất định. Các cơ quan quản lý nhà nước có trách nhiệm hướng dẫn, xác nhận đủ điều kiện kinh doanh và kiểm tra chủ thể kinh doanh theo đúng quy định của pháp luật.
Dưới góc độ pháp lý, các quy định pháp luật điều chỉnh về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn có vai trò đặc biệt quan trọng, được xem là điều kiện cốt lõi để giải quyết triệt để các vấn đề phát sinh trong điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn. Thông qua các quy định pháp luật sẽ quy định rõ ràng, cụ thể về quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm mang tính ràng buộc của các chủ thể có liên quan đến hoạt động thu gom CTR như chủ nguồn thải CTR, chủ thể cung ứng dịch vụ thu gom CTR, các cơ quan quản lý nhà nước. Khi quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các chủ thể được thể chế hóa buộc các chủ thể phải thực hiện đúng và đầy đủ các yêu cầu của pháp luật khi tham gia vào các quan hệ xã hội phát sinh trong điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn. Nếu các chủ thể này không tuân thủ và thực hiện đúng theo trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của mình tùy vào mức độ vi phạm sẽ bị áp dụng các chế tài như bị xử phạt vi phạm hành chính, bồi thường thiệt hại, truy cứu trách nhiệm hình sự, khắc phục hậu quả… Với việc phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi, các chủ thể buộc thay vì thực hiện các hành vi tiêu cực, bất chấp mọi thủ đoạn gian lận gây thiệt hại lợi ích của các chủ thể khác, làm ảnh hưởng đến sự ổn định, phát triển của nền kinh tế sẽ phải tự ý thức điều chỉnh hành vi của mình theo chiều hướng tích cực, tự giác tuân thủ đúng theo các yêu cầu của pháp luật nhằm mang lại hiệu quả cao trong công tác thu gom CTR. Điều này vừa thúc đẩy phát triển kinh tế, nâng cao hiệu quả BVMT vừa tạo cơ sở pháp lý rõ ràng, thống nhất giúp cho các chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ thu gom CTR có thể tự bảo vệ được quyền lợi của mình, hạn chế những rủi ro có thể phát sinh. Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Bên cạnh đó, thông qua các quy tắc xử sự chung điều chỉnh các mối quan hệ phát sinh trong điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn, pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn đã cụ thể hóa các quy định từ các văn bản nguồn như LTM 2005, LDN 2020; LĐT 2020; Luật BVMT 2020, Công ước Basel, các cam kết của Việt Nam khi gia nhập WTO… thành các yêu cầu về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn một cách minh bạch, phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội trong nước và xu hướng hội nhập quốc tế. Qua đó không chỉ tạo điều kiện thuận lợi cho các chủ thể kinh doanh được quyền tự do lựa chọn mô hình hoạt động phù hợp với năng lực, nhu cầu xã hội, thỏa mãn yêu cầu của người sử dụng mà còn giúp nhà nước duy trì được môi trường cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng giữa các chủ thể điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn đảm bảo hài hòa lợi ích giữa các chủ thể và xã hội.
Ở góc độ khác, pháp luật điều chỉnh về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn còn góp phần đảm bảo thực hiện các yêu cầu trong xu hướng hội nhập quốc tế và toàn cầu hóa trong lĩnh vực hoạt động kinh doanh dịch vụ môi trường. Song song với quá trình hội nhập kinh tế thế giới, việc mở cửa thị trường và tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho các ngành dịch vụ nói chung và ngành dịch vụ môi trường nói riêng là một vấn đề rất quan trọng và không thể thiếu trong các hoạt động đàm phán thương mại song phương, đa phương, cũng như các khuôn khổ hợp tác quốc tế. Rõ nét nhất là sau khi gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đã cam kết về mở cửa thị trường dịch vụ môi trường ở năm phân ngành trong WTO bao gồm: Dịch vụ xử lý nước thải; dịch vụ xử lý rác thải; dịch vụ làm sạch khí thải; dịch vụ xử lý tiếng ồn và dịch vụ đánh giá tác động của môi trường. Do vậy, việc xây dựng chính sách và cơ sở pháp lý để phát triển dịch vụ môi trường, trong đó có dịch vụ thu gom CTR đang là một nhu cầu hết sức cấp thiết ở Việt Nam.
Trong khoa học luật thì pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh có thể hiểu là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện quản lý nhà nước đối với các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Pháp luật về điều kiện đầu tư kinh doanh không có quy định chung trong một văn bản mà tồn tại ở nhiều văn bản luật chuyên ngành khác nhau và có nội dung cơ bản sau: Quy định về điều kiện đầu tư kinh doanh và các hình thức của điều kiện đầu tư kinh doanh; quy định về các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện; quy định cách thức đáp ứng các điều kiện đầu tư kinh doanh, thời điểm phải đáp ứng điều kiện đầu tư kinh doanh; quy định về quản lý nhà nước đối với điều kiện đầu tư kinh doanh…
Từ các phân tích trên có thể hiểu pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn là tổng thể các quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, điều chỉnh mối quan hệ phát sinh giữa Nhà nước với tổ chức, cá nhân nhằm thực hiện quản lý nhà nước đối với hoạt động kinh doanh thu gom chất thải rắn.
1.2 Nội dung pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Các văn bản pháp luật hiện nay chưa có những quy định cụ thể điều chỉnh về điều kiện kinh doanh thu gom CTR mà điều kiện kinh doanh thu gom CTR hiện nay đang điều chỉnh tại các văn bản pháp luật khác nhau. Tuy nhiên, khái quát tại các văn bản pháp luật khác nhau có thể thấy nội dung quy định của pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom CTR bao gồm: Chủ thể kinh doanh dịch vụ thu gom CTR, hợp đồng thu gom CTR, các điều kiện cần thiết về cơ sở vật chất để được phép hoạt động kinh doanh thu gom CTR … Tuy nhiên, với thời lượng và phạm vi nghiên cứu tại luận văn có sự hạn chế nhất định, do vậy tác giả đề cập đến nội dung chủ yếu đó là:
- Thứ nhất, quy định về chủ thể kinh doanh dịch vụ thu gom CTR.
Kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn có vai trò quan trọng trong việc đảm bảo chất lượng môi trường, bảo vệ sức khỏe con người, góp phần vào việc thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội, thực hiện mục tiêu phát triển bền vững. CTR là một loại chất thải có đặc tính nguy hiểm cao, vì vậy, kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn là một ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Muốn thực hiện hoạt động này đòi hỏi các chủ thể kinh doanh phải đáp ứng rất nhiều các điều kiện khác nhau theo quy định pháp luật. Chính vì vậy, Luật Bảo vệ môi trường năm 2020 và các văn bản liên quan đưa ra rất nhiều quy định về trách nhiệm buộc chủ thể kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn phải tuân thủ thực hiện. Việc tuân thủ, thực hiện đúng theo các trách nhiệm được quy định sẽ giúp đảm bảo hiệu quả an toàn trong công tác thu gom chất thải rắn.
Bản chất của hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn là một động kinh doanh nhằm mục đích sinh lời. Lợi nhuận được tạo ra là động lực để các chủ thể tham gia vào hoạt động cung ứng loại hình dịch vụ này. Khi tham gia xác lập hợp đồng chuyển giao trách nhiệm thu gom chất thải rắn, các bên đều mong muốn đạt được mục đích của mình một cách hiệu quả nhất. Đối với chủ thể kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn, để cung ứng được loại hình dịch vụ này đòi hỏi phải đầu tư nhiều thời gian, công sức, chi phí để đáp ứng các điều kiện khắt khe về nhân sự và cơ sở vật chất do pháp luật quy định. Chính vì vậy, chủ thể cung ứng dịch vụ sẽ được hưởng các quyền lợi chính đáng trong hoạt động kinh doanh, đồng thời cũng phải thực hiện các nghĩa vụ cần thiết để đảm bảo lợi ích của bên sử dụng dịch vụ. Việc xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn là rất quan trọng và cần thiết, là cơ sở để bảo vệ quyền lợi chính đáng mà các chủ thể này được hưởng cũng như xác định được các dạng trách nhiệm pháp lý mà các chủ thể này phải gánh chịu khi không đảm bảo thực hiện đúng các nghĩa vụ đặt ra khi tiếp nhận trách nhiệm thu gom chất thải rắn từ chủ nguồn thải.
- Thứ hai, quy định về hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn.
Hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn sẽ là cơ sở quan trọng để các bên tham gia hợp đồng ràng buộc nhau về quyền và nghĩa vụ cũng như các trách nhiệm sau khi chuyển giao, là căn cứ quan trọng để giải quyết tranh chấp và yêu cầu bồi thường thiệt hại khi có tranh chấp và thiệt hại xảy ra trên thực tế. Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
1.3 Vai trò của kinh doanh thu gom chất thải rắn
Thứ nhất, kinh doanh dịch vụ thu gom CTR giúp thực hiện tốt công tác phòng ngừa, khắc phục được các vấn đề về ô nhiễm môi trường, sự cố môi trường, góp phần BVMT và quyền được sống trong môi trường trong lành của con người. Quyền được sống trong môi trường trong lành được khẳng định là một trong những quyền tự nhiên cơ bản của con người, quyền này đã được ghi nhận trong luật pháp quốc tế và luật pháp của hầu hết các quốc gia trên thế giới. Tuy nhiên, thực trạng ô nhiễm môi trường ngày càng nghiêm trọng, sự cố môi trường ngày càng gia tăng về cường độ và tần suất, điều này đã xâm phạm nghiêm trọng đến quyền tự nhiên của con người. Một trong những nguyên nhân gây ô nhiễm, suy thoái môi trường là do CTR gây ra, với các đặc tính nguy hại, CTR có khả năng gây ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đến chất lượng môi trường, sức khỏe, tính mạng con người nếu như không được quản lý hiệu quả. Chính vì vậy, hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom CTR hiệu quả sẽ góp vai trò quan trọng trong việc BVMT. Vì thông qua quá trình cung cấp các dịch vụ thu gom CTR, con người có thể giảm thiểu, phòng ngừa, ứng phó, khắc phục được những vấn đề về ô nhiễm môi trường, suy thoái môi trường do CTR gây ra, từ đó góp phần đảm bảo quyền được sống trong môi trường trong lành của con người.
Thứ hai, thông qua hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom CTR nhà nước tạo được khoảng không gian cho các chủ thể tự do thực hiện hoạt động sản xuất kinh doanh phù hợp quy định pháp luật, điều này thúc đẩy sự phát triển đa dạng của ngành dịch vụ trong đó có ngành dịch vụ môi trường. Qua đó, thu hút nhiều chủ thể khác nhau bao gồm cả các chủ thể trong nước và nước ngoài cùng tham gia vào việc cung ứng loại hình dịch vụ thu gom chất thải rắn. Từ đó nâng cao năng lực cạnh tranh giữa các chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ để có thể tạo ra chất lượng dịch vụ tốt nhất, có lợi cho chủ thể sử dụng.
Thứ ba, kinh doanh dịch vụ thu gom CTR góp phần thúc đẩy sự phát triển của hoạt động nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến hiện đại vào công tác BVMT trong quá trình thu gom chất thải rắn.
CTR là một loại chất thải có nhiều độc tính nguy hiểm, vì vậy hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom CTR đòi hỏi phải sử dụng công nghệ, trang thiết bị, phương tiện hiện đại để vừa đáp ứng được yêu cầu về BVMT vừa đảm bảo an toàn về tính mạng, sức khỏe cho những người tham gia thực hiện các hoạt động thu gom chất thải rắn. Những đòi hỏi trên đã góp phần vào việc thúc đẩy phát triển các hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học kỹ thuật hiện đại để đáp ứng nhu cầu kiểm soát ô nhiễm môi trường, từ đó góp phần tạo động lực cho sự phát triển của nền kinh tế dựa trên cơ sở BVMT.
Thứ tư, kinh doanh dịch vụ thu gom CTR mang lại các giá trị kinh tế, góp phần ổn định xã hội. Khi có sự xuất hiện của ngành nghề kinh doanh dịch vụ thu gom CTR sẽ mang lại nhiều lợi ích kinh tế cho các chủ thể có liên quan. Đối với chủ nguồn thải, việc cung ứng các loại hình kinh doanh dịch vụ thu gom CTR là một trong những giải pháp tối ưu giúp các chủ thể sản xuất, kinh doanh tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đảm bảo được các nghĩa vụ theo yêu cầu bằng việc sử dụng dịch vụ thu gom chất thải rắn do các chủ thể cung ứng dịch vụ cung cấp. Đối với các chủ thể cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn, khi tham gia cung ứng dịch vụ sẽ thu được lợi nhuận từ việc đầu tư trang thiết bị, phương tiện, nhân lực, đáp ứng được yêu cầu doanh thu và lợi nhuận. Đối với nhà nước, sẽ thu được một phần kinh phí vào ngân sách thông qua các công cụ thuế, phí liên quan đến hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom CTR, điều này tạo động lực phát triển nền kinh tế, ổn định xã hội. Ngoài ra, khi doanh nghiệp đầu tư kinh doanh dịch vụ thu gom CTR sẽ phát sinh nhu cầu sử dụng lao động, điều này tạo công ăn việc làm và thu nhập cho một số bộ phận người dân, giúp họ không rơi vào các tệ nạn qua đó góp phần đảm bảo trật tự an toàn xã hội.
1.4 Yếu tố ảnh hưởng đến pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Để thực hiện việc thu gom chất thải rắn và thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn đạt hiệu quả còn phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến pháp luật về điều kiện thu gom chất thải rắn có thể kể đến đó là:
Thứ nhất, đó là yếu tố tự nhiên, địa lý tại mỗi địa phương. Yếu tố tự nhiên, kinh tế xã hội tại các địa phương khác nhau có ảnh hưởng đến định đến việc thực hiện thu gom chất thải rắn. Cụ thể tại các địa phương ở vùng sâu, vùng xã, địa hình phức tạp, dân cư cách xa nhau thì việc tiến hành thu gom chất thải rắn sẽ khó khăn hơn so với những địa phương ở vùng đồng bằng đô thi, do điều kiện đi lại, vận chuyển thuận tiện hơn. Cùng với đó là các tổ chức tiến hành kinh doanh thu gom chất thải rắn cũng có phần dễ dàng hơn.
Thứ hai, đó là sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Sự phát triển của nền kinh tế xã hội có ảnh hưởng trực tiếp đến việc phát triển của các tổ chức thu gom chất thải rắn cũng như việc thu gom chất thải rắn. Có thể nói, nền kinh tế càng phát triển thì khối lượng CTR phát sinh hay thải ra môi trường sẽ ngày càng nhiều và có chiều hướng gia tăng. Với khối lượng CTR ngày càng gia tăng thì việc thu gom CTR phải được quan tâm hơn nữa đồng thời phải được thực hiện một cách thường xuyên liên tục với khối lượng công việc lớn, dẫn đến các tổ chức kinh doanh thu gom CTR cũng phải đảm bảo các điều kiện cần thiết để tiến hành những công việc ngày càng tăng về khối lượng công việc này.
Thứ ba, đó là yếu tố pháp luật, chính sách của Nhà nước. Chính sách, pháp luật của Nhà nước là cơ sở pháp lý cũng như là kim chỉ nam cho các tổ chức, người dân thực hiện việc thu gom CTR trong thực tế. Pháp luật có ổn định, đảm bảo thống nhất thì việc thực hiện pháp luật của các tổ chức, cá nhân trong xã hội mới được đảm bảo tuân thủ và thống nhất, tránh việc chồng chéo, mâu thuẫn hay thiếu quy định điều chỉnh … Bên cạnh đó, nếu pháp luật quy định còn có sự thiếu rõ ràng, thiếu quy định điều chỉnh thì việc thực hiện bảo vệ môi trường, chính sách thu gom CTR sẽ phần nào lỏng lẻo, thiếu sự tuân thủ và gây khó khăn trong công tác bảo vệ môi trường, khối lượng CTR ngày càng gia tăng mà không có xu hướng giảm.
Thứ tư, đó là yếu tố con người. Con người ở đây bao gồm cả con người trong công tác quản lý, con người trực tiếp thực hiện kinh doanh thu gom và người dân trực tiếp xả CTR ra môi trường. Yếu tố nhân lực từ phía cơ quan nhà nước và tại tổ chức kinh doanh thu gom CTR có chất lượng tốt góp phần cho hoạt động kinh doanh thu gom CTR đạt hiệu quả cao, có tính thống nhất đồng bộ và dễ dàng trong công tác quản lý, ngược lại nguồn nhân lực này thiếu đảm bảo sẽ dẫn đến hoạt động thu gom bị trì trệ, thiếu thống nhất. Bên cạnh nguồn nhân lực từ phía cơ quan nhà nước và tổ chức kinh doanh thu gom CTR thì phần lớn ý thức từ chính người dân xả CTR ra môi trường cũng có phần nào ảnh hưởng đến hoạt động này. Bởi lẽ, có cầu ắt có cung, người có CTR mới dùng dịch vụ thu gom CTR. Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
Thứ năm, Yếu tố công nghệ, khoa học kỹ thuật. Tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ, thiết bị máy móc có ảnh hưởng lớn đến tổ chức quản lý thu gom, vận chuyển, xử lý CTR. Nhờ có tiến bộ khoa học kỹ thuật mà ngày càng có nhiều công nghệ mới, thiết bị máy móc mới. Vì vậy, để có thể cạnh tranh trong việc kinh doanh thu gom CTR cũng như để việc thu gom được hiệu quả, đạt công suất cao thì việc mua sắm các thiết bị máy móc, công nghệ tiến tiến là yếu tố quyết định. Thiết bị, máy móc mới có tính hiện đại thì sẽ phát huy được trình độ tay nghề, kỹ năng, kinh nghiệm của đội ngũ cán bộ trong đơn vị, nâng cao được chất lượng dịch vụ, đáp ứng kịp thời.
Kết luận Chương 1
Từ những phân tích trong Chương 1, có thể đưa ra những kết luận sau:
Thứ nhất, chất thải rắn là một dạng chất thải có khả năng gây nguy hiểm cao cho con người và môi trường vì vậy thu gom CTR là một hoạt động vô cùng quan trọng và cần thiết trong cuộc sống hiện nay. Thực hiện tốt công tác thu gom CTR sẽ góp phần tích cực vào việc duy trì chất lượng cuộc sống và bảo vệ môi trường được hiệu quả.
Thứ hai, hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom CTR là một hệ quả tất yếu của nhu cầu xã hội trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay. Hoạt động này vừa đáp ứng được nhu cầu thực hiện các nghĩa vụ của chủ nguồn thải chất thải rắn khi họ không có khả năng quản lý đạt yêu cầu, vừa tạo được lợi nhuận cho các chủ thể thực hiện cung ứng dịch vụ thu gom CTR. Qua đó, góp phần tạo được động lực phát triển kinh tế, ổn định xã hội, bảo vệ môi trường, hướng đến mục tiêu phát triển bền vững.
Thứ ba, Để hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom CTR được đi vào nề nếp và hoạt động hiệu quả thì sự điều chỉnh của các quy định pháp luật về hoạt động này đóng vai trò quan trọng đặc biệt và không thể thiếu. Pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ thu gom CTR vừa ràng buộc được trách nhiệm, quyền và nghĩa vụ của các chủ thể có liên quan, vừa duy trì được các quy luật cung cầu của thị trường, đảm bảo cạnh tranh lành mạnh, tạo điều kiện để các chủ thể cùng tham gia vào hoạt động cung ứng và sử dụng loại dịch vụ hữu ích này. Xuất phát từ yêu cầu đó, trong thời gian qua, nhà nước đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh về hoạt động thu gom CTR. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ thu gom CTR chưa được cụ thể hóa thành một hệ thống pháp luật riêng biệt mà còn quy định rời rạc trong nhiều văn bản pháp luật khác nhau.
Thứ tư, việc kinh doanh thu gom CTR có được thuận lợi, dễ dàng hay không phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó các yếu tố cơ bản có thể kể đến như điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội, yếu tố pháp luật, yếu tố tổ chức bộ máy, công nghệ, con người … Mỗi yếu tố có ảnh hưởng nhất định đến việc kinh doanh thu gom chất CTR nhất định mà cần nghiên cứu các yếu tố này để có thể thực hiện tốt hơn việc kinh doanh thu gom CTR trong thực tế. Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn