Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn hay nhất năm 2025 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn và thực tiễn thực hiện pháp luật tại Tỉnh Bình Dương dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực trạng pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn

Liên quan đến điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn không thể không nói đến doanh nghiệp thực hiện việc kinh doanh thu gom chất thải rắn. Để có thể tiến hành hoạt động kinh doanh thu gom chất thải rắn thì doanh nghiệp, tổ chức tiến hành thu gom chất thải rắn phải đảm bảo đáp ứng được các yêu cầu để có thể thành lập doanh nghiệp, hoạt động theo mô hình đã đăng ký.

  • Một là, vấn đề điều kiện thành lập doanh nghiệp.

Thu gom CTR là một dịch vụ công nên trước hết Nhà nước phải là chủ thể cung ứng loại dịch vụ này. Từ năm 1996, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/CP ngày 02/10/1996 về doanh nghiệp nhà nước hoạt động công ích, theo đó, các doanh nghiệp nhà nước cung ứng dịch vụ do Nhà nước giao kế hoạch hoặc đặt hàng và theo giá, khung giá hoặc phí do Nhà nước quy định, hoạt động chủ yếu không vì mục tiêu lợi nhuận. Như vậy, Nhà nước thành lập các doanh nghiệp của mình để cung ứng dịch vụ công nói chung và dịch vụ thu gom CTR nói riêng theo cơ chế giao kế hoạch hoặc đặt hàng. Tuy nhiên, những vấn đề liên quan đến môi trường là những vấn đề vô cùng phức tạp, rộng lớn, lâu dài và liên quan đến lợi ích của rất nhiều người, nên Nhà nước không thể tự mình giải quyết những vấn đề đó, mà cần sự hợp tác, nỗ lực từ phía cộng đồng. Đối với công tác thu gom CTR, Nhà nước khuyến khích phát triển các hình thức tổ chức quản lý môi trường do tập thể và tư nhân đảm nhiệm tham gia vào quá trình và thị trưởng cung ứng dịch vụ trong khuôn khổ pháp luật về môi trường và trên cơ sở thích ứng những điều kiện và hoàn cảnh cụ thể của từng địa phương.

Chính phủ và Thủ tướng Chính phủ đã lần lượt ban hành Nghị định số 31/2005/NĐ-CP về sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, Quyết định số 256/2006/QĐ-TTg về quy chế đấu thầu, đặt hàng, giao kế hoạch thực hiện sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích, Nghị định số 130/2013/NĐ-CP ngày 16/10/2013 về sản xuất cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích, Nghị định số 32/2019/NĐ-CP ngày 10/4/2019 về quy định giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu cung cấp sản phẩm, dịch vụ công sử dụng ngân sách nhà nước từ nguồn kinh phí chi thường xuyên; theo đó, đối tượng áp dụng của các văn bản này được mở rộng, không chỉ bao gồm doanh nghiệp nhà nước, mà còn bao gồm cả doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác và hợp tác xã. Các doanh nghiệp có thể thuộc sở hữu của Nhà nước như các công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) một thành viên Môi trường đô thị ở các địa phương hoặc các doanh nghiệp do các tổ chức, cá nhân thành lập. Việc thành lập các doanh nghiệp này được thực hiện theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp, còn các hợp tác xã thì được thành lập theo quy định của Luật Hợp tác xã và các văn bản hướng dẫn thi hành. Với chủ trương xã hội hoá dịch vụ công, các doanh nghiệp nhà nước dần được cổ phần hoá, trong khi đó, các doanh nghiệp thuộc thành phần kinh tế tư nhân ngày càng có cơ hội tham gia vào việc cung ứng dịch vụ công. Ngoài sự tham gia của các doanh nghiệp, hợp tác xã, các cá nhân cũng có thể tham gia vào các Tổ thu gom rác dân lập. Sự có mặt của nhiều nhà cung cấp dịch vụ sẽ làm tăng mức độ cạnh tranh, đòi hỏi các nhà cung cấp dịch vụ phải nâng cao chất lượng dịch vụ để làm hài lòng người dân. Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Quy định của pháp luật môi trường, luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành pháp luật cho thấy, việc kinh doanh chất thải rắn là một ngành nghề kinh doanh có điều kiện. Điều này có nghĩa là, để thành lập được doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thu gom chất thải rắn thì doanh nghiệp đó phải đáp ứng được những điều kiện nhất định theo quy định của pháp luật đó là:

Về chủ thể thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu gom chất thải rắn. Trước đây, bên cạnh việc mở rộng chủ thể tham gia cung ứng dịch vụ, phương thức lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ cũng dần đa dạng hơn, chuyển từ giao kế hoạch hoặc đặt hàng sang giao nhiệm vụ, đặt hàng hoặc đấu thầu. Cụ thể, theo Nghị định số 130/2013/NĐ-CP về sản xuất cung ứng sản phẩm dịch vụ công ích, dịch vụ thu gom, phân loại, xử lý chất thải rắn, vệ sinh công cộng là dịch vụ công ích được thực hiện theo phương thức đấu thầu, trưởng hợp không đủ điều kiện đấu thầu thì áp dụng phương thức đặt hàng. Nghị định số 32/2019/NĐ-CP hiện hành quy định dịch vụ môi trường thuộc nhóm dịch vụ sự nghiệp công thực hiện theo 3 phương thức là giao nhiệm vụ, đặt hàng và đấu thầu. Trong ba phương thức này, đấu thầu được xem là hình thức cạnh tranh văn minh trong nền kinh tế thị trưởng. Thông qua phương thức đấu thầu, Nhà nước sẽ lựa chọn được chủ thể cung ứng dịch vụ đáp ứng được điều kiện do Nhà nước đặt ra và với mức giá dịch vụ cạnh tranh, hợp lý. So với phương thức đặt hàng, việc đấu thầu công khai giúp tiết kiệm ngân sách, tăng hiệu quả, chất lượng thu gom và tránh tình trạng đổ vấy trách nhiệm cho nhau. Chủ trương của Đảng và pháp luật của Nhà nước đều khuyến khích xã hội hoá dịch vụ công nói chung và dịch vụ thu gom CTR nói riêng. Nhưng trước khi có thể tiến hành được giao hay đấu thầu thì chủ thể đó phải đảm bảo là doanh nghiệp, tổ chức có đăng ký hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực, ngành nghề thu gom CTR.

Theo Luật Doanh nghiệp 2020 thì điều kiện chủ thể có thể thành lập doanh nghiệp đó là: có đầy đủ năng lực hành vi và năng lực nhận thức về pháp luật, không thuộc diện không được phép thành lập doanh nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 17 Luật Doanh nghiệp 2020 bao gồm nhưng người không có quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp như cán bộ, công chức, viên chức, sĩ quan, hạ sĩ quan …. Bởi vì những đối tượng này có thể ảnh hưởng đến quyền lợi ích hoặc tài sản của nhà nước, cơ quan tại nơi làm việc hoặc thậm chí sẽ trục lợi bất chính từ chính hoạt động thành lập quản lý doanh nghiệp của mình.

Bên cạnh việc đáp ứng điều kiện về chủ thể thì doanh nghiệp còn phải đáp ứng đẩy đủ các tiêu chuẩn về mặt cơ sở vật chất, phương tiện vận chuyển, trụ sở … đảm bảo cho hoạt động thu gom chất thải rắn theo quy định tại Luật Bảo vệ Môi trường và Thông tư 02/2022/TT-BTNMT ví dụ như đối với địa điểm tập kết thu gom và trạm trung chuyển chất thải rắn phải đảm bảo theo quy chuẩn quốc gia, có bán kính và khoảng cách an toàn về môi trường đối với khu dân cư hay như Phương tiện cơ giới vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt phải đáp ứng các yêu cầu về an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật về giao thông vận tải. Xe chuyên dụng cuốn ép chất thải rắn sinh hoạt phải có thiết bị lưu chứa nước rỉ rác.

Phương tiện vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt phải bảo đảm không rơi vãi chất thải rắn sinh hoạt, rò rỉ nước rỉ rác, phát tán mùi trong quá trình vận chuyển; phải vệ sinh, phun xịt khử mùi trước khi ra khỏi khu vực trạm trung chuyển, cơ sở xử lý và sau khi hoàn thành thu gom, vận chuyển chất thải rắn sinh hoạt…. Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Khi đã tiến đầy đủ các điều kiện tiêu chuẩn theo quy định đáp ứng các điều kiện của pháp luật về việc kinh doanh thu gom chất thải rắn thì chủ thể thành lập doanh nghiệp tiến hành chuẩn vị và nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tuy nhiên thực tế cho thấy, doanh nghiệp muốn kinh doanh hoạt động trong lĩnh vực thu gom CTR hiện nay vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn, bởi lẽ có thể thấy đây là ngành nghề kinh doanh có điều kiện, tuy nhiên pháp luật lại chưa có sự thống nhất về các điều kiện cụ thể doanh nghiệp cần đáp ứng để có thể tiến hành đăng ký kinh doanh. Ví dụ, hiện nay chủ thể muốn thành lập doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thu gom CTR cần phải đảm bảo các điều kiện như: điều kiện về giấy phép môi trường, điều kiện về địa điểm thu gom, phương tiện vận chuyển, địa điểm xử lý rác thải … mà mỗi loại điều kiện được quy định tại các văn bản pháp luật khác nhau buộc các chủ thể có liên quan trong việc cấp phép đăng ký doanh nghiệp bao gồm cả chủ thể thành lập và cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần phải nắm bắt rõ ràng từng điều kiện và các trình tự thủ tục đảm bảo điều kiện cụ thể, Xuất phát từ sự phức tạp trong quy định về điều kiện này mà thực tế khi tiến hành đăng ký doanh nghiệp trong lĩnh vực môi trường nói chung và kinh doanh thu gom CTR nói riêng vẫn còn có nhiều hạn chế đó là các doanh nghiệp còn có sự vi phạm trong các điều kiện này như việc địa điểm kinh doanh chưa đảm bảo, địa điểm tập kết rác thải còn gây bức xúc … do chưa có sự giám sát và kiểm tra chặt chẽ từ phía cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.

  • Hai là, vấn đề hồ sơ, thủ tục cấp phép thành lập doanh nghiệp.

Thủ tục thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu gom CTR cũng tương tự như việc thành lập doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực ngành nghề khác theo Luật doanh nghiệp đó là bao gồm những bước cơ bản như:

  • Bước 1: Chuẩn bị hồ sơ đăng ký doanh nghiệp

Ở giai đoạn này, doanh nghiệp cần chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, giấy tờ pháp lý để nộp theo quy định. Tùy thuộc vào loại hình doanh nghiệp và quy mô hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ chất thải rắn mà hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp cũng có sự khác nhau, tuy nhiên về cơ bản những loại giấy tờ này bao gồm: Giấy đề nghị đăng ký thành lập doanh nghiệp theo mẫu, giấy tờ pháp lý của cá nhân đối với người thành lập doanh nghiệp, danh sách thành viên (nếu là công ty hợp động, công ty TNHH) hoặc danh sách thành viên đối với công ty cổ phần; Điều lệ của công ty; Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư đối với doanh nghiệp nước ngoài theo Luật đầu tư. Ngoài ra đối với doanh nghiệp tiến hành thu gom CTR nguy hại thì bên cạnh những loại giấy tờ trên thì doanh nghiệp đó còn phải đảm bảo điều kiện về báo cáo đánh giá tác động môi trường được Bộ Tài nguyên và Môi trường phê duyệt hoặc giấy tờ hợp lệ khác thay thể, điều kiện về địa điểm, hệ thống thiết bị xử lý chất thải …

  • Bước 2: Nộp hồ sơ lên cơ quan đăng ký kinh doanh có thẩm quyền

Việc nộp hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp hiện nay có thể được thực hiện theo hai cách đó là nộp trực tiếp tại Phòng đăng ký kinh doanh hoặc tại bộ phận một cửa nơi tiếp nhận và trả kết quả hồ sơ, hồ sơ cũng có thể được nộp theo hình thức trực tuyến qua cổng thông tin điện tử: https://dangkyquamang. đối với doanh nghiệp đã có tài khoản đăng ký kinh doanh hoặc chữ ký số công cộng đồng thời nộp hồ sơ bản gốc tại Phòng đăng ký kinh doanh nơi nhận kết quả.

  • Bước 3: Nhận kết quả hồ sơ là Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp và tiến hành hoạt động.

Trong thời hạn 03 – 05 ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ hợp lệ thì Văn phòng đăng ký kinh doanh, Sở kế hoạch đầu tư sẽ cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp cho công ty và tiến hành hoạt động kể từ ngày có Giấy chứng nhận đăng ký.

Trong giai đoạn này, doanh nghiệp xin đăng ký thành lập doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện về mặt nhận sự, con dấu, điều kiện cơ sở vật chất đảm bảo cho doanh nghiệp sau khi đăng ký đi vào hoạt động bình thường. Ví dụ như: thực hiện việc mua chữ ký số, thuê dịch vụ kế toán, góp vốn, in hóa đơn, mở tài khoản ngân hàng và đóng thuế … đảm bảo cho việc doanh nghiệp tiến hành vận hành bình thường. Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Thực tế cho thấy, thu gom CTR là loại hình kinh doanh theo hướng dịch vụ và việc doanh nghiệp cung cấp dịch vụ này nếu muốn thực hiện việc thu gom CTR có thể thông qua hình thức được Nhà nước Giao hoặc đấu thầu do vậy có thể thấy đây là lĩnh vực ngành nghề khó cạnh tranh, kinh doanh và khó mở rộng thị trường tiềm năng. Đồng thời đây cũng là quy định gây nhiều hạn chế để doanh nghiệp có thể tiến hành thu gom CTR trong thực tế, gây những chậm trễ nhất định. Ví như, Tại TP. Hồ Chí Minh, ngày 26/6/2015, UBND thành phố ra Quyết định số 3114/QĐ-UBND Ban hành Kế hoạch tổ chức triển khai thực hiện Nghị định số 130/2013/NĐ-CP. Theo Quyết định này, dịch vụ thu gom CTR được giao cho Sở Tài nguyên và Môi trường. Ngày 5/4/2017, UBND thành phố đã ban hành Quyết định Số 1545/QĐ-STNMT- CTR về phân cấp cho UBND 24 quận huyện quản lý và thực hiện công tác thu gom, vận chuyển CTR trên địa bàn quận huyện. Tính đến tháng 4/2018, mới chỉ có 5 quận thực hiện việc đấu thầu dịch vụ quét, thu gom và vận chuyển rác thải là quận 4, quận 12, quận Tân Phú, quận Bình Tân và quận Thủ Đức; còn lại 19 quận huyện khác chưa thực hiện việc này. TP. Hồ Chí Minh đã chỉ đạo quyết liệt để từ quý 2/2018, thực hiện đấu thầu tại tất cả 24 quận, huyện của thành phố.

Tại Hà Nội, UBND thành phố đã ban hành Quyết định số 77/2014/QĐ-UBND ngày 10/10/2014 Ban hành quy chế lựa chọn nhà thầu sản xuất và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích trên địa bàn thành phố Hà Nội. Điều 3 của Quyết định này xác định rõ các sản phẩm, dịch vụ thuộc danh mục B của Nghị định 130/2013/NĐ-CP, trong đó có dịch vụ thu gom CTR sẽ được ưu tiên đấu thầu để lựa chọn chủ thể cung ứng dịch vụ. Hiện nay, Hà Nội đã thực hiện đấu thầu thu gom rác ở tất cả 30 quận, huyện và thị xã Sơn Tây, tiết kiệm 34,2% so với phương thức đặt hàng như trước đây, tương đương với 4000 tỷ đồng.

Ngoài TP. Hồ Chí Minh và Hà Nội, việc thực hiện đấu thầu ở các địa phương khác diễn ra khá chậm chạp, nhiều địa phương còn chưa ban hành quy chế lựa chọn nhà thầu cung ứng sản phẩm, dịch vụ công ích tại địa phương minh. Tại Đà Nẵng, Quyết định số 19/QĐ-UBND ngày 7/5/2018 của UBND thành phố Đà Nẵng về quản lý dịch vụ công ích vệ sinh môi trường xác định sang năm 2019, các quận, huyện sẽ được toàn quyền thực hiện việc mời thầu dịch vụ vệ sinh môi trường. Tại Lạng Sơn, ngày 13/4/2018, UBND tỉnh Lạng Sơn ban hành Công văn số 327/UBND-KTTH về việc triển khai công tác đấu thầu dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải trên địa bàn tỉnh Lạng Sơn và xác định thực hiện thí điểm đấu thầu đối với công tác thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt cho giai đoạn từ ngày 01/7/2018 đến ngày 31/12/2020 tại các huyện: Hữu Lũng, Bình Gia, Văn Lãng và thành phố Lạng Sơn. Báo cáo về quản lý chất thải rắn tại các địa phương khác cũng ghi nhận sự chậm trễ trong việc xã hội hóa cung ứng dịch vụ và tình trạng thiếu vắng các quy định về đấu thầu đối với dịch vụ công ích nói chung và dịch vụ thu gom CTR nói riêng. Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Ba là, quy định về cấp giấy phép môi trường. Trong hoạt động thu gom CTR việc cấp giấy phép môi trường và cấp giấy phép đăng ký kinh doanh là hai hoạt động khác nhau và là hai loại giấy tờ khác nhau. Có thể thấy, doanh nghiệp được cấp giấy phép đăng ký doanh nghiệp được thực hiện tại Văn phòng đăng ký kinh doanh thuộc sở kế hoạch và đầu tư, tuy nhiên, giấy phép môi trường được cấp bởi cơ quan Tài nguyên môi trường mà đứng đầu là Bộ Tài nguyên môi trường, các cơ quan địa phương ở cấp dưới. Có thể nói giấy phép môi trường là điều kiện cần để doanh nghiệp kinh doanh CTR có thể tiến hành hoạt động kinh doanh bình thường.

Về khái niệm, hai loại giấy tờ này đã có sự khác nhau cơ bản, Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản do cơ quan đăng ký kinh doanh ghi nhận những thông tin về việc đăng ký doanh nghiệp cấp cho doanh nghiệp, còn Giấy phép môi trường là văn bản do cơ quan quản lý nhà có thẩm quyền cấp cho hoạt động có liên quan đến chất thải nhằm mục đích cho hoạt thu gom chất thải được phép quản lý chất thải từ các vật liệu, nguyên liệu thu gom đảm bảo theo yêu cầu và điều kiện về bảo vệ môi trường.

Việc cấp giấy phép môi trường cũng phải đảm bảo tuân thủ đúng quy định của pháp luật về đối tượng, thẩm quyền, trình tự thủ tục cấp nhằm mục đích kiểm soát các hoạt động kinh doanh có liên quan đến lĩnh vực môi trường một cách chặt chẽ, đảm bảo an toàn và chất lượng nhất cho môi trường sống cũng như sức khỏe của con người.

Về đối tượng phải cấp giấy phép môi trường theo Luật BVMT chia ra hai đối tượng cụ thể đó là: (i) dự án đầu tư thuộc nhóm I, II, III theo danh mục dự án đầu tư theo quy định của chính phủ; (ii) dự án đầu tư, cơ sở, khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp hoạt động trước ngày 01/01/2022.

Về thẩm quyền cấp Giấy phép môi trường được quy định cụ thể tại điều 41 Luật BVMT theo đó có bốn cơ quan chủ quản được phép cấp giấy phép môi trường bao gồm:

  • Bộ Tài nguyên và môi trường có thẩm quyền cấp giấy phép môi trường đối dự án đầu tư buộc phải có giấy phép môi trường theo quy định tại điều 39 Luật BVMT hoặc dự án đầu tư buộc phải có giấy phép môi trường nằm trên địa bản từ 02 tỉnh trở lên. Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.
  • Bộ Quốc phòng, Bộ Công an có thẩm quyền cấp giấy phép môi trường đối các dự án thuộc bí mật nhà nước về quốc phòng an ninh.
  • UBND cấp tỉnh có thẩm quyền cấp giấy phép môi trường đối với các dự án đầu tư thuộc nhóm II, nhóm III mà nằm trên địa bàn từ 2 đơn vị hành chính cấp huyện trở lên được đối tượng đã được phê duyệt kết quả thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền.
  • UBND cấp huyện có thẩm quyền cấp giấy phép môi trường đối với các đối tượng buộc phải cấp giấy phép môi trường theo quy định của pháp luật.

Như vậy, việc quy định thẩm quyền cấp giấy phép môi trường thuộc nhiều cơ quan chức năng khác nhau đảm bảo về tính chất, quy mô của hoạt động thu gom CTR có tác động đến phạm vi địa lý, tính chất an ninh quốc phòng … Tuy nhiên, bên cạnh đó việc quy định nhiều cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép môi trường cũng dẫn đến việc khó xác định thẩm quyền, doanh nghiệp sẽ bị rối và khó khăn trong việc xác định thẩm quyền để nộp hồ sơ xin cấp phép.

Về thủ tục cấp giấy phép môi trường. Việc cấp giấy phép môi trường cũng được thực hiện theo thủ tục hành chính nhà nước, như vậy tương tự như hồ sơ xin cấp các loại giấy phép khác, hồ sơ xin cấp giấy phép môi trường cũng phải đảm bảo về mặt hồ sơ đó là phải có: (i) văn bản đề nghị cấp giấy phép môi trường; (ii) Báo cáo đề xuất cấp giấy phép môi trường; (iii) các loại tài liệu kỹ thuật, pháp lý có liên quan đến dự án thu gom CTR …

Sau khi chuẩn bị đầy đủ các loại giấy tờ hồ sơ hợp lệ thì doanh nghiệp kinh doanh thu gom CTR tiến hành gửi hồ sơ đề nghị cấp giấy phép môi trường đến cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Việc gửi hồ sơ có thể được tiến hành theo hai cách: trực tiếp tại trụ sở cơ quan có thẩm quyền hoặc trực tuyến thông qua cổng thông tin điện tử dịch vụ công trực tuyến. Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm tiếp nhận và kiểm tra hồ sơ về tính đầy đủ, hợp lệ của hồ sơ đồng thời công khai nội dung báo cáo đề xuất cấp giấy phép môi trường trừ trường hợp đối tượng thuộc bí mật nhà nước, bí mật doanh nghiệp … Việc cấp giấy phép môi trường phải được dựa trên cơ sở thẩm định báo cáo đề xuất cấp giấy phép môi trường thông qua quyết định của hội đồng thẩm định.

Tùy thuộc vào đối tượng cấp giấy phép môi trường cũng như cơ quan có thẩm quyền cấp giấy phép mà thời hạn cấp giấy phép cũng có sự khác nhau, thông thường kéo dài không quá 30 ngày đối với giấy phép thuộc thẩm quyền của UBND các cấp và không quá 45 ngày đối với giấy phép thuộc thẩm quyền của cấp Bộ.

Quy định của pháp luật về cấp giấy phép môi trường một cách khái quát có phần tương đối đầy đủ tuy nhiên quá trình thực thi pháp luật có liên quan đến vấn đề này thực chất vẫn còn gặp rất nhiều khó khăn đặc biệt là trong việc tiến hành thủ tục cấp giấy phép như thành lập Hội đồng thẩm định hay chi phí thẩm định … Quy định của pháp luật có thời hạn tối đa 30 ngày đối với giấy phép thuộc thẩm quyền của UBND các cấp và không quá 45 ngày đối với giấy phép thuộc thẩm quyền của cấp Bộ, nhưng thực tế để thực hiện được việc cấp giấy phép môi trường từ khi nộp hồ sơ xin cấp giấy phép đến khi được cấp có thể kéo dài đến cả năm hoặc hơn nữa, chưa kể đối với thủ tục cấp đổi, cấp lại cũng gặp không ít khó khăn trong trình tự thủ tục chưa có sự rõ ràng bởi lẽ Luật chỉ quy định cấp đổi trong trường hợp có sự thay đổi tên chủ dự án còn những trường hợp khác thì chưa được quy định cụ thể, do vậy khi doanh nghiệp nghiệp muốn cấp đổi thì phải chờ đến khi giấy phép cũ hết hiệu lực thì mới được phép đăng ký giấy phép môi trường mới. Cùng lúc đó liên quan đến việc xác định thẩm quyền cấp giấy phép môi trường để doanh nghiệp nộp hồ sơ cũng là vấn đề gặp nhiều khó khăn bởi lẽ cơ quan Tài nguyên môi trường còn thiếu nhiều cơ sở để có thể xác định, đánh giá cụ thể đối với sức chịu đựng của môi trường hay nói cách khác là yếu tố nhạy cảm về môi trương trong mối liên hệ với việc cấp giấy phép môi trường.

2.2 Thực trạng quy định về hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

2.2.1. Hình thức hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn

Khi pháp luật không quy định hướng dẫn rõ ràng về hình thức, biểu mẫu của hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn sẽ dẫn đến tình trạng không tạo được sự thống nhất về mặt hình thức, gây khó khăn cho các chủ thể trong việc tiếp cận, xây dựng các hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn, gây khó khăn cho công tác quản lý nhà nước trong việc kiểm tra, giám sát loại hợp đồng này do các chủ thể giao kết hợp đồng sử dụng rất nhiều loại mẫu hợp đồng khác nhau.

2.2.2. Nội dung hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn

Mặc dù về cơ bản các bên được quyền tự do thỏa thuận các nội dung điều khoản liên quan bên trong hợp đồng nhưng nếu không có sự quy định hướng dẫn cụ thể sẽ rất dễ dẫn đến tình trạng các nội dung được thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn đôi khi lại không đầy đủ hoặc thậm chí thỏa thuận sai quy định pháp luật. Điều này cũng dễ hiểu vì khi tham gia vào việc xác lập hợp đồng chuyển giao trách nhiệm thu gom chất thải rắn không phải chủ thể nào cũng có đầy đủ trình độ, kiến thức chuyên môn về vấn đề này. Giấy phép môi trường là điều kiện cần để doanh nghiệp có thể tiến hành thu gom CTR và đây cũng là căn cứ để thực hiện trách nhiệm kiểm tra, thanh tra, giám sát của cơ quan Nhà nước đối với hoạt động thu gom CTR cũng như là cơ sở để doanh nghiệp này thực hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường của mình.

Trên thực tế, các loại hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn thường do các cơ sở cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn soạn thảo trước với những điều khoản có lợi cho bên cung ứng dịch vụ và sau đó chuyển cho chủ thể phát sinh CTR có nhu cầu sử dụng dịch vụ để xem xét, ký kết. Tuy nhiên, sau khi được giao cho hợp đồng thì đa phần các chủ thể phát sinh CTR có nhu cầu sử dụng dịch vụ thu gom chất thải rắn thường chỉ chủ yếu quan tâm đến vấn đề về giá cả, phương thức thanh toán và sau đó nếu cảm thấy phù hợp về mặt kinh tế thì tiến hành ký mà không cần quan tâm đến các vấn đề pháp lý khác có liên quan, hoặc nếu có quan tâm thì các chủ thể này cũng khó để xác định được đâu là những nội dung cần thiết bắt buộc phải có để đảm bảo tính đầy đủ, phù hợp đối với loại hợp đồng này, vì đây là một loại hình dịch vụ mà đối tượng của nó có tính đặc thù nguy hiểm mang tính chuyên môn cao nhưng chưa có quy định hướng dẫn cụ thể. Mặc dù trên thực tế, sau khi hợp đồng được ký kết thì sẽ đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền để cơ quan này kiểm tra, xem xét, quản lý nhưng vì pháp luật không có quy định hướng dẫn cụ thể nên có những trường hợp cán bộ chuyên môn họ không có đủ cơ sở pháp lý để xem xét tính đúng và đủ đối với loại hợp đồng này. Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Hơn nữa, pháp luật không quy định hướng dẫn rõ ràng, cụ thể về những nội dung cần phải có trong một hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn dẫn đến tình trạng bỏ sót một số nội dung điều khoản quan trọng trong hợp đồng như các vấn đề về giám sát, kiểm tra hoạt động thực hiện các trách nhiệm thu gom chất thải rắn, nghiệm thu hoạt động thực hiện thu gom chất thải rắn, tạm dừng hoặc ngưng thực hiện hoạt động thu gom chất thải rắn, đảm bảo quyền lợi cho bên sử dụng dịch vụ trong khoảng thời gian xin cấp lại, điều chỉnh giấy phép… Việc không có các điều khoản thỏa thuận này có thể sẽ phát sinh các vấn đề khó khăn cho các chủ thể tham gia nếu như có tranh chấp phát sinh. Ngoài ra, đối tượng của hợp đồng kinh doanh dịch vụ ở đây là CTR, một loại chất thải có khả gây ra tác động tiêu cực cao cho môi trường và con người vì vậy đòi hỏi độ chi tiết, cụ thể, rõ ràng trong các điều khoản thỏa thuận trong hợp đồng chuyển giao CTR phải cao hơn nhiều so với các loại chất thải thông thường khác. Bên cạnh đó, cũng có trường hợp vì pháp luật không có quy định hướng dẫn cụ thể nên các chủ thể tham gia vào hợp đồng cố tình thỏa thuận sai theo hướng lách luật để nhằm thu lợi bất chính.

2.2.3. Đăng ký hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn

Vấn đề về đăng ký hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn hiện nay pháp luật quy định cũng chưa rõ ràng. Về kỹ thuật lập pháp thì Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường chỉ dừng lại ở việc quy định khi chuyển giao trách nhiệm thu gom chất thải rắn thì phải thành lập hợp đồng, nhưng có phải đăng ký hợp đồng cho các cơ quan quản lý nhà nước hay không và nếu có thì chủ thể nào có trách nhiệm thực hiện việc đăng ký thì pháp luật không quy định cụ thể. Trên thực tế, việc không có sự quy định rõ ràng về trách nhiệm đăng ký hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn thuộc về chủ thể nào thì rất dễ dẫn đến tình trạng đùn đẩy, tranh chấp lẫn nhau giữa chủ nguồn thải CTR và chủ thể kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn trong việc thực hiện trách nhiệm đăng ký. Đồng thời, trong trường hợp các bên không chịu thực hiện trách nhiệm đăng ký hợp đồng thì sẽ truy cứu trách nhiệm của chủ thể nào.

Bên cạnh đó, một vấn đề nữa không thể không kể đến đó là nếu phải đăng ký thì đăng ký tại cơ quan nào, cơ quan nào có thẩm quyền tiếp nhận việc đăng ký. Hiện nay, pháp luật điều chỉnh về hoạt động thu gom chất thải rắn quy định chưa cụ thể rõ ràng, minh thị vấn đề này, điều này tạo ra cách hiểu không thống nhất, gây khó khăn cho các chủ thể trong việc xác định vấn đề đăng ký, đặc biệt là các chủ thể không có kiến thức chuyên môn về pháp luật môi trường. Hiện nay, có thể hiểu cả Sở Tài nguyên và Môi trường và Bộ Tài nguyên và Môi trường đều có quyền tiếp nhận việc đăng ký hợp đồng dịch vụ thu gom chất thải rắn, các chủ thể có liên quan sẽ phải đăng ký hợp đồng tại hai cơ quan này để họ thực hiện các hoạt động kiểm tra, quản lý. Tuy nhiên, đó chỉ là cách suy luận thông qua các quy định gián tiếp chứ vẫn chưa có một quy định trực tiếp nào xác định rõ chủ thể nào có thẩm quyền tiếp nhận việc đăng ký.

2.2.4. Quy định về giá cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Thứ nhất, giá dịch vụ thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt bao gồm (Khoản 1, Điều 29, Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT )

  • Giá dịch vụ áp dụng đối với tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải rắn sinh hoạt là chi phí hộ gia đình, cá nhân, cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp theo quy định tại các khoản 1, 3 và 4 Điều 79 Luật Bảo vệ môi trường phải trả cho hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải rắn sinh hoạt;
  • Giá dịch vụ áp dụng đối với chủ đầu tư, cơ sở thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt là chi phí mà Ủy ban nhân dân các cấp chi trả cho chủ đầu tư, cơ sở được lựa chọn theo quy định tại khoản 1 Điều 77, khoản 2 Điều 78 Luật Bảo vệ môi trường và Điều 59 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP để cung cấp dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt.

Thứ hai, nguyên tắc định giá dịch vụ áp dụng đối với tổ chức, cá nhân phát sinh chất thải rắn sinh hoạt được quy định như sau (Khoản 2, Điều 29, Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT )

  • Giá dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ hộ gia đình, cá nhân và các đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 58 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP được tính theo nguyên tắc có sự bù đắp thông qua ngân sách địa phương;
  • Giá dịch vụ thu gom, vận chuyển, xử lý chất thải rắn sinh hoạt phát sinh từ cơ quan, tổ chức, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, chủ đầu tư xây dựng và kinh doanh hạ tầng khu sản xuất, kinh doanh, dịch vụ tập trung, cụm công nghiệp theo quy định tại khoản 2 Điều 58 Nghị định số 08/2022/NĐ-CP được tính trên nguyên tắc tính đúng, tính đủ chi phí cho hoạt động thu gom, vận chuyển và xử lý. Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Trong các văn bản pháp luật môi trường điều chỉnh về hoạt động thu gom chất thải rắn như Luật Bảo vệ Môi trường năm 2020; Nghị định 08/2022/NĐ-CP hướng dẫn Luật Bảo vệ môi trường, Nghị định số 60/2016/NĐ-CP (sửa đổi bổ sung bởi Nghị định 136/2018/NĐ-CP) quy định một số điều kiện đầu tư kinh doanh trong lĩnh vực tài nguyên và môi trường; Thông tư số 02/2022/TT-BTNMT quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Bảo vệ môi trường chỉ mới tập trung vào khía cạnh kỹ thuật, còn các khía cạnh kinh tế liên quan đến thu gom chất thải rắn, nhất là chi phí quản lý thì hầu như chưa được nghiên cứu, triển khai. Thực tế này dẫn đến những bất cập sau:

Một là, khi không có các quy định cụ thể hướng dẫn về mức giá dịch vụ thu gom chất thải rắn, các chủ thể cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn sẽ tùy tiện áp dụng mức giá cho dịch vụ của mình mà các chủ nguồn thải khác sẽ không có căn cứ, cơ sở nào để xác định mức giá được đưa ra là phù hợp hay không.

Nếu dựa vào mức giá dịch vụ quản lý chất thải rắn sinh hoạt để xác định mức giá dịch vụ thu gom chất thải rắn là không phù hợp. Thực tế, dịch vụ thu gom chất thải rắn không thể sử dụng mức giá giống với mức giá được xác định đối với chất thải rắn sinh hoạt

Chi phí này được tính vào hoạt động thu gom CTR không chỉ là các khoản đầu tư về cơ sở vật chất, đào tạo nguồn nhân lực mà nó còn bao gồm cả các chi phí khác như các khoản chi phí đầu tư vào việc xin giấy phép xử lý CTR, đây là một khoản chi phí không nhỏ, bởi để thực hiện được các thủ tục này thì các chủ thể phải đầu tư một khoản tiền lớn liên quan đến quá trình lập, thẩm định, phê duyệt, thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường… Các khoản chi phí này cũng là những khoản chi phí không thể tách rời khỏi việc định giá dịch vụ, do đó việc xác định giá dịch vụ thu gom chất thải rắn không thể xác định theo như mức giá dịch vụ quản lý các loại chất thải thông thường khác.

Hai là, việc không đưa ra các quy định về mức giá dịch vụ thu gom chất thải rắn còn tạo ra lỗ hổng trong việc xác định thỏa thuận mức giá dịch vụ giữa chủ thể sử dụng và chủ thể cung ứng, làm cho giá dịch vụ dao động giữa các chủ thể có sự khác biệt khá lớn.

Do không có các quy định cụ thể về xác định mức giá dịch vụ thu gom chất thải rắn nên có những DN đã đưa ra mức giá dịch vụ quản lý thấp để thu hút các chủ thể phát sinh CTR sử dụng dịch vụ của mình, nhưng sau đó họ lại thực hiện các hoạt động thu gom chất thải rắn không đáp ứng đúng theo các yêu cầu đã cam kết trước đó. Điều này không những gây nên hiện tượng cạnh tranh không lành mạnh trên thị trường cung ứng dịch vụ môi trường mà còn tạo những hệ quả nguy hại cho môi trường do việc thu gom, vận chuyển, xử lý CTR không đúng các yêu cầu. Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Mặt khác, có những địa phương do số lượng chủ thể cung ứng dịch vụ thu gom chất thải rắn vẫn còn khá khiêm tốn dẫn đến tình trạng “cầu” nhiều hơn “cung” nên đã dẫn đến hệ quả các cơ sở kinh doanh loại hình dịch vụ này đã đưa giá rất cao. Điển hình tại TP. Hà Nội, có những thời điểm DN buộc phải trả chi phí thu gom và xử lý lên đến 40 triệu đồng/tấn CTR, thay vì từ 2,5-12 triệu đồng/tấn chất thải. Để đối phó với các cơ quan chức năng và giá xử lý CTR leo cao, chủ thể có nhu cầu sử dụng dịch vụ không có nhiều sự lựa chọn đã buộc phải chấp nhận hoặc tìm cách lách luật bằng cách ký hợp đồng khống với các đơn vị có chức năng thu gom, xử lý CTR.

Theo đó, mỗi tháng công ty trả cho đơn vị xử lý một số tiền theo thỏa thuận mà không hề chuyển giao bất kỳ CTR nào hoặc chuyển giao lấy lệ, khi có đoàn thanh tra, kiểm tra môi trường đến kiểm tra chỉ cần đơn vị xuất trình được chứng từ và hợp đồng chứng minh có chuyển giao CTR là an toàn.

Hoặc có những DN có quy mô sản xuất vừa và nhỏ khi không thể đáp ứng được mức phí chuyển giao, xử lý CTR đã áp dụng nhiều biện pháp nhằm tuồn CTR ra ngoài mà không phải trả chi phí hoặc phải trả chi phí với giá rất thấp (nhiều DN lén thải bỏ ra ngoài môi trường hoặc trộn lẫn CTR vào chất thải công nghiệp không nguy hại hoặc chất thải sinh hoạt để phải trả chi phí chuyển giao như chất thải thông thường, khoảng 1/10 giá thành chuyển giao CTR).

Ba là, trong cùng một văn bản quy phạm pháp luật lại được điều chỉnh về giá dịch vụ, trong khi đó hoạt động thu gom chất thải rắn, chất thải rắn công nghiệp thông thường lại không.

Có thể theo các nhà làm luật, chủ thể phát sinh chất thải rắn sinh hoạt hầu hết là các cá nhân, hộ gia đình, mà cá nhân và hộ gia đình là bên yếu thế, ít hiểu biết về pháp luật nên cần được bảo vệ. Đó là lý do tại sao giá dịch vụ xử lý chất thải rắn sinh hoạt của mọi cơ sở xử lý đều phải được Sở Tài chính hoặc Bộ Tài chính thẩm định và UBND cấp tỉnh phê duyệt. Tuy nhiên, dù chủ thể quan hệ hợp đồng thu gom chất thải rắn và chất thải rắn công nghiệp thông thường hầu hết đều là tổ chức kinh tế thì luôn có khả năng có một bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng.

Ví dụ tại Thành phố Hồ Chí Minh, mức giá sàn dịch vụ thu gom CTR đó là 48.000 đồng/hộ/ tháng, và các quận huyện sẽ căn cứ vào giá này để quyết định mức giá tại địa phương. Tại Quận 1, Công ty TNHH MTV Dịch vụ công ích Quận 1 áp dụng giá thu gom chất thải rắn sinh hoạt trên địa bàn quận từ 1/3/2023 đến ngày 31/12/2023 cụ thể: đối với người dân có khối lượng rác phát sinh không quá 120kg/tháng thì sẽ đóng 66.000 đồng tiền phí thu gom và vận chuyển rác (bao gồm thuế giá trị gia tăng). Cụ thể, tiền phí thu gom là 42.640 đồng, phí vận chuyển là 17.360 đồng, thuế giá trị gia tăng là 6.000 đồng. Tuy nhiên, việc thu giá thu gom rác như trên vẫn nhận nhiều ý kiến trái chiều từ phía người dân. Đến năm 2021, Giá thu gom rác là 364 đồng/kg với phương án thu gom thủ công, 166 đồng/kg với phương án thu gom cơ giới và tiền vận chuyển 227 đồng/kg. Từ năm 2022 trở đi, giá thu gom vẫn không thay đổi, tuy nhiên tiền vận chuyển sẽ tăng lên 247 đồng/kg và thu thêm một khoản 475 đồng/kg cho chi phí xử lý rác.

2.3. Thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn tại Tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

2.3.1.  Khái quát về thực tiễn kinh doanh thu gom chất thải rắn tại Tỉnh Bình Dương

Bình Dương là tỉnh thuộc miền Đông Nam bộ, nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Phía Đông giáp tỉnh Đồng Nai, phía Bắc giáp tỉnh Bình Phước, phía Tây giáp tỉnh Tây Ninh và một phần thành phố Hồ Chí Minh, phía Nam giáp thành phố Hồ Chí Minh và một phần tỉnh Đồng Nai. Theo thông tin thống kê mới nhất, tỉnh Bình Dương có diện tích tự nhiên là 2.694,43 km2 (chiếm khoảng 0,83% diện tích cả nước, khoảng 12% diện tích miền Đông Nam bộ); dân số trung bình 2.568.689 người, GRDP bình quân đầu người đạt 151 triệu đồng/ năm; 09 đơn vị hành chính cấp huyện (gồm: thành phố Thủ Dầu Một, thành phố Dĩ An,thành phố Thuận An, thị xã Bến Cát, thị xã Tân Uyên và các huyện Bàu Bàng, Bắc Tân Uyên, Dầu Tiếng, Phú Giáo) và 91 đơn vị hành chính cấp xã (41 xã, 45 phường, 05 thị trấn).

Với tỷ lệ đô thị ở mức 82% (2020), Bình Dương hiện là tỉnh có tỷ lệ đô thị hóa cao nhất. Do đó nhu cầu về nhà, đất trên địa bàn Tỉnh Bình Dương ngày càng gia tăng qua các năm. Đặc biệt tại các khu công nghiệp, khu kinh tế, khu chế xuất tập trung số lượng công nhân, NLĐ chiếm tỉ lệ cao [Tính đến nay, trên địa bàn tỉnh có 29 khu công nghiệp, trong đó có 27 khu công nghiệp đi vào hoạt động với tổng diện tích 12.670,5 ha, tỷ lệ cho thuê đạt 87,4% và 12 cụm công nghiệp với tổng diện tích 790 ha, tỷ lệ lấp đầy 67,4%. Một số khu công nghiệp hiện đại, được đầu tư hạ tầng hoàn chỉnh, có tốc độ thu hút đầu tư nhanh và khả năng quản lý sản xuất, bảo vệ môi trường tốt như VSIP 1, VSIP 2, Đồng An, Mỹ Phước…vvv].

Trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện có 29 KCN với diện tích 10.963ha, trong đó có 27 KCN đang hoạt động với tỷ lệ cho thuê đạt 88,13%. Các KCN đều có hệ thống xử lý nước thải tập trung, có lắp đặt hệ thống quan trắc tự động và camera quan sát. Qua kết quả quan trắc, giám sát cho thấy, tổng lưu lượng nước thải của nước thải từ các KCN là 286.603m3/ngày; các doanh nghiệp trong KCN thực hiện đấu nối nước thải vào hệ thống xử lý tập trung tương đối tốt, cơ bản đạt tỷ lệ 100%; nước thải sau xử lý thường xuyên đạt quy chuẩn về môi trường Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Theo Quyết định số 1788/QĐ-TTg ngày 1/10/2013 của Thủ tướng Chính phủ, trên địa bàn tỉnh Bình Dương có 12 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Dưới sự kiểm tra, hướng dẫn và xử lý của Sở TN&MT, Phòng TN&MT các huyện, thị, các cơ sở gây ô nhiễm môi trường này đã ý thức hơn trong công tác BVMT và tiến hành thực hiện các biện pháp khắc phục ô nhiễm, đến nay đã có 12/12 cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng hoàn thành khắc phục ô nhiễm triệt để.

Tính đến cuối năm 2021, tỷ lệ rác đô thị được thu gom đạt 98,2%; tỷ lệ rác công nghiệp không nguy hại được thu gom, xử lý và tái chế khoảng 95%; tỷ lệ chất thải nguy hại và chất thải y tế được thu gom, xử lý và tiêu hủy đạt 100%. Để quản lý hiệu quả chất thải rắn, ngoài 4 khu xử lý chất thải rắn đã được quy hoạch trong đồ án Quy hoạch tổng thể quản lý – xử lý chất thải rắn Bình Dương đến năm 2030 tại Quyết định số 1942/QĐ-UBND ngày 12/8/2013, UBND tỉnh đã bổ sung Nhà máy tái chế và xử lý chất thải – Công ty TNHH Tuấn Đạt vào quy hoạch tổng thể quản lý – Xử lý chất thải rắn đến năm 2030 theo Quyết định số 1061/QĐ-UBND ngày 23/4/2018.

  • Bảng 2.1: Thống kê danh sách doanh nghiệp thực hiện việc thu gom chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Thông qua bảng thống kê này cho thấy, hiện nay số lượng các tổ chức là công ty hoạt động kinh doanh thu gom CTR trên địa bàn tỉnh Bình Dương vẫn đang còn có sự hạn chế nhất định, chưa có tính cạnh tranh cao, đồng thời các tổ chức này được thành lập chủ yếu tại các địa phương là khu dân cư đông đúc, thành thị hoặc các khu công nghiệp lớn mà chưa có sự phân bổ về các địa phương ở vùng nông thôn, vùng dân cư có điều kiện kinh tế ít phát triển hơn.

Về giá, phí thu gom chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nay đang được thực hiện tùy từng khu vực khác nhau mà mức phí, giá này cũng khác nhau tuy nhiên phải tuân thủ theo mức giá trần của UBND tỉnh Bình Dương theo Quyết định 64/2016/QĐ-UBND quy định mức giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bình Dương.

  • Bảng 2.2: Mức giá tối đa dịch vụ thu gom chất thải rắn trên địa bàn Tỉnh Bình Dương

Nhìn chung giá dịch vụ được quy định tại Bình Dương tuân thủ theo mức giá trần của UBND tỉnh Bình Dương ban hành tại Quyết định 64/2016/QĐ-UBND quy định mức giá tối đa dịch vụ thu gom, vận chuyển rác thải sinh hoạt trên địa bàn tỉnh Bình Dương. So với mức giá tại các địa phương khác trên cả nước thì có thể thấy, mức giá này là không cao so với các địa phương khác, tuy nhiên quy định này hiện đang có sự phân biệt giữa các hộ gia đình ở khu vực thị trấn và ở xã mà chưa có sự phân biệt cụ thể về mức giá ở các tổ chức kinh doanh, dịch vụ … có xả thải tại các khu vực này với nhau.

2.3.2. Đánh giá thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn tại Tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

  • Những kết quả đạt được

Thứ nhất, về công tác thẩm định và cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTR, quy trình cấp Sổ Đăng ký chủ nguồn thải CTR bao gồm: tiếp nhận các hồ sơ của doanh nghiệp tự kê khai đăng ký cấp sổ theo cơ chế “Một cửa”, sau đó hồ sơ sẽ được chuyển về cho Chi cục BVMT thông qua phòng Kiểm soát ô nhiễm, kiểm tra và thẩm định hồ sơ. Hiện nay, tỉnh Bình Dương đang nỗ lực thực hiện công tác cải cách hành chính mạnh mẽ, thời gian thực hiện thủ tục hành chính được rút ngắn từ 50-60% so với quy định của Bộ Tài nguyên và Môi trường. Giai đoạn 2017-2021, số lượng các chủ nguồn thải đã lập hồ sơ xin đăng ký chủ nguồn thải CTR như sau:

  • Bảng 2.3: Tình hình cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải trên địa bàn tỉnh Bình Dương

Từ năm 2015 đến năm 2020, tình hình cấp sổ đăng ký chủ nguồn thải trên địa bản tỉnh Bình Dương có xu hướng ngày càng gia tăng, đặc biệt trong xu thế nền kinh tế đang phát triển theo hướng hội nhập nền kinh tế quốc tế. Bình Dương lại là tỉnh trọng điểm thu hút nhiều nguồn đầu tư cho hoạt động phát triển kinh tế từ cả nước ngoài lẫn trong nước. Tuy nhiên, qua đây cũng cho thấy, việc cấp sổ đăng ký chủ nguồn thải cũng gây không ít khó khăn cho doanh nghiệp trong việc thực hiện thủ tục hành chính liên quan đến vấn đề này như việc phải đăng ký nhiều lần gây khó khăn và tốn kém cho doanh nghiệp, cũng như khó khăn cho cơ quan Nhà nước trong việc đơn giản hóa thủ tục hành chính.

Thứ hai, về công tác phân loại, thu gom, vận chuyển, xử lý CTR và thực hiện chế độ báo cáo quản lý chất thải rắn định kỳ

Trong giai đoạn vừa qua, tỉnh Bình Dương đã rất nỗ lực trong công tác quản lý chất thải rắn với nhiều các biện pháp được triển khai đồng bộ như tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật, kiểm tra uốn nắn nhắc nhở… Kết quả bước đầu đã đạt được nhiều thành công đáng khích lệ, tỷ lệ các cơ sở sản xuất kinh doanh chấp hành tốt các quy định về quản lý chất thải rắn ngày càng tăng

Nhìn chung hình thức quản lý chất thải rắn hiện nay tại các cơ sở sản xuất kinh doanh là phân loại thu gom, lưu giữ trong kho, khi nào khối lượng CTR đạt số lượng lớn thì tiến hành thuê đơn vị chức năng vận chuyển, xử lý.

Việc thực hiện chế độ báo cáo định kỳ công tác quản lý chất thải rắn đối với cơ quan quản lý nhà nước đã được các cơ sở sản xuất kinh doanh quan tâm thực hiện, thống kê Số lượng các doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo định kỳ công tác quản lý chất thải rắn một số năm gần đây như sau:

  • Bảng 2.4: Thống kê số lượng các doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo định kỳ công tác về hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn ở tỉnh Bình Dương Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Như vậy, từ năm 2017 đến nay, số lượng các doanh nghiệp thực hiện chế độ báo cáo định kỳ công tác thu gom chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã tăng lên liên tục và đáng kể. Điều đó thể hiện ý thức chấp hành pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn của các doanh nghiệp ở tỉnh Bình Dương ngày càng nâng lên.

Thứ ba, về công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giám sát, kiểm soát việc chấp hành các quy định về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn.

Công tác thanh tra, kiểm tra, trả lời, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân, trả lời kiến nghị cử tri liên quan đến vấn đề BVMT đã được chú trọng thực hiện nghiêm túc. Hoạt động thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm đang dần đổi mới, đã bám sát định hướng của ngành và chỉ đạo của cấp trên, các đợt thanh tra, kiểm tra đều có sự phối hợp thực hiện giữa các cấp các ngành, nội dung về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn đã được quan tâm thực hiện.

Trung bình mỗi năm, trên địa bàn tỉnh Bình Dương diễn ra khoảng 40 – 50 đợt thanh tra, kiểm tra, tương ứng với 40-50 đơn vị được thanh tra kiểm tra liên quan đến công tác bảo vệ môi trường. Trong năm 2016, Thanh tra Sở Tài nguyên và Môi trường đã lập biên bản xử lý vi phạm hành chính đối với 12 đối tượng vi phạm liên quan đến CTR, với tổng số tiền phạt là hơn 200 triệu đồng, với các lỗi chính như: không thực hiện báo cáo định kỳ, không nộp chứng từ CTR với cơ quan quản lý nhà nước, không có Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTR, không thu gom, phân loại CTR…

Thứ tư, về công tác đầu tư và xã hội hóa kinh phí sự nghiệp môi trường

Hiện nay công tác BVMT rất được Tỉnh ủy, HĐND, UBND tỉnh quan tâm chỉ đạo. Kinh phí chi sự nghiệp môi trường ở tất cả các cấp (tỉnh, huyện, xã) đều tăng qua các năm. Các công trình, dự án xử lý ô nhiễm, cải thiện môi trường được đầu tư tập trung vào các vấn đề trọng điểm như: Các điểm gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng; Chất thải sinh hoạt; nước thải sinh hoạt đô thị; nước thải công nghiệp, chăn nuôi,

Bên cạnh đó, tỉnh Bình Dương từng bước thực hiện xã hội hoá công tác BVMT trong đầu tư, tranh thủ được các nguồn lực từ các tổ chức quốc tế, các doanh nghiệp và dân cư cho công tác bảo vệ môi trường, thu hút đầu tư xây dựng các công trình xử lý chất thải, đổi mới công nghệ theo hướng thân thiện với môi trường. Trong giai đoạn 2016-2020 tỉnh Bình Dương đã từng bước triển khai khá kịp thời đáp ứng công tác phòng ngừa khác phục ô nhiễm môi trường, đánh giá chất lượng môi trường, hỗ trợ công tác xử lý chất thải. Báo cáo của hội Liên hiệp phụ nữ Tỉnh Bình Dương sau 2 năm triển khai thực hiện dự án “Tổng hợp nguồn lực xã hội trong công tác giảm thiểu rác thải trên địa bàn TP Dĩ An, Bình Dương” đã hoàn thành, đáp ứng được mục tiêu đề ra và đạt nhiều kết quả đáng ghi nhận. Trong đó, 100% người dân trong địa bàn thực hiện dự án với tổng 1.800 hộ dân đã được tuyên truyền, nắm bắt thông tin về việc thực hiện phân loại rác tại nguồn. 80% hộ dân có ý thức thực hiện phân loại rác theo tiêu chí của dự án trên địa bàn 2 phường tham gia mô hình dự án. Hoàn thành việc tuyên truyền, ký kết 100 bản cam kết giảm thiểu rác thải nhựa tại các nhà hàng, quán ăn và phát các vật dụng thân thiện môi trường.

Thứ năm, về công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng

Công tác tuyên truyền pháp luật quản lý chất thải nguy hại cho cộng đồng dân cư, doanh nghiệp có vai trò hết sức quan trọng nhằm nâng cao nhận thức của cá nhân, tổ chức trong thực hiện pháp luật về quản lý chất thải nguy hại trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Thời gian qua, tỉnh Bình Dương thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, hội nghị tuyên truyền nâng cao nhận thức cộng đồng trong công tác bảo vệ môi trường nói chung và kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn nói riêng, bên cạnh đó phối hợp với các cơ quan trung ương, địa phương, các kênh thông tin báo đài tổ chức các phong trào thi đua, tuyên truyền phổ biến kiến thức về bảo vệ môi trường… Trong năm 2015, Sở TN&MT Bình Dương đã triển khai tập huấn Nghị định 38/2015/NĐ- CP và Thông tư 36/2015/TT-BTNMT về quản lý chất thải và CTR tới đông đảo các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ trên địa bàn tỉnh.

Thông qua những hoạt động tuyên truyền nêu trên, nhận thức của mỗi người dân, cán bộ, viên chức cũng như các doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Bình Dương về các văn bản quy phạm pháp luật bảo vệ môi trường, kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn đã được nâng lên và tác động tích cực đến hiệu quả thực hiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn ở tỉnh Bình Dương.

Tóm lại, thời gian qua, việc thực hiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã có nhiều kết quả tích cực như: công tác ban hành các văn bản quy phạm pháp luật để cụ thể hóa các văn bản của cấp trên đã được quan tâm, chú trọng có thể kể đến như: Quyết định số 23/2016/QĐ-UBND ngày 05/8/2016 của UBND tỉnh Bình Dương ban hành Quy định về quản lý chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Bình Dương; Kế hoạch số 6613/KH-UBND ngày 22/12/2021 của UBND tỉnh Bình Dương Kế hoạch tăng cường công tác quản lý chất thải nhựa trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2021-2026; hay Kế hoạch số 5902/KH-UBND ngày 18/11/ 2021 của UBND tỉnh Bình Dương Kế hoạch thu gom, vận chuyển và xử lý chất thải y tế nguy hại trên địa bàn tỉnh Bình Dương giai đoạn 2021-2025…; Bên cạnh đó việc quản lý nguồn CTR đã được thực hiện đúng quy trình, công tác thu gom xử lý CTR và công tác thanh tra, kiểm tra việc thực hiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn đã được tăng cường. Đồng thời, công tác tuyên truyền, giáo dục và công tác xã hội hóa để đầu tư cho sự nghiệp bảo vệ môi trường được quan tâm và có bước phát triển mới. Điều đó khẳng định, pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn trên địa bàn tỉnh Bình Dương đã được thực hiện tương đối tốt.

  • Những vướng mắc, tồn tại

Thứ nhất, về hệ thống chính sách pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn

Hiện nay, tỉnh Bình Dương chưa có Quy chế cụ thể riêng về QLCTR để thống nhất cơ chế phối hợp quản lý giữa các sở ban ngành và các địa phương cho phù hợp với nhu cầu phát triển KT – XH của địa phương. Thiếu cơ chế đặc thù khuyến khích các tổ chức cá nhân có công nghệ xử lý CTR hợp lý đăng ký tự xử lý CTR như các nhà máy xi măng, các bệnh viện. Tiến độ quy hoạch xây dựng khu xử lý chất thải tập trung chậm, việc xây cơ chế, chính sách thu hút các tổ chức cá nhân trong nước và ngoài nước đầu tư khu xử lý chất thải tập trung chưa được triển khai đồng bộ.

Những hạn chế về hệ thống chính sách pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn nêu trên đã ảnh hưởng không nhỏ đến chất lượng thực hiện pháp luật về QL CTR trên địa bàn tỉnh Bình Dương hiện nay.

Thứ hai, về tổ chức, bộ máy thực hiện công tác QLCTR Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Theo tiến trình phát triển kinh tế xã hội mạnh mẽ của tỉnh, khối lượng công việc bảo vệ môi trường ngày càng tăng nhưng việc bố trí nguồn nhân lực và trang thiết bị thực hiện công tác quản lý môi trường lại chưa đáp ứng được nhu cầu thực tiễn. Nhìn chung, đội ngũ thực hiện công tác quản lý môi trường của tỉnh Bình Dương còn thiếu và yếu, phần lớn lại là cán bộ kiêm nhiệm, không chuyên đang già hóa, tập trung chủ yếu tại cấp huyện, xã, trong khi đội ngũ cán bộ trẻ lại thiếu kinh nghiệm, chưa được đào tạo bổ sung.

Ngoài ra, đầu tư trang thiết bị máy móc phục vụ công tác quản lý môi trường chưa được quan tâm đúng tầm, phần lớn các thiết bị được hưởng thụ từ các dự án được triển khai trên địa bàn tỉnh Bình Dương. Công tác đào tạo, hướng dẫn cán bộ sử dụng không được chú trọng, có tình trạng thiết bị không được sử dụng, bảo dưỡng gây lãng phí.

Công tác thu gom chất thải rắn hiện nay của tỉnh Bình Dương khá thụ động, quản lý khó theo kịp thực tế, do đơn vị trực tiếp làm công tác QLCTR là Phòng Kiểm soát Ô nhiễm (được coi là đơn vị nòng cốt trong công tác BVMT nói chung) chỉ có 04 cán bộ và phải kiêm nhiệm nhiều công việc khác theo chức năng nhiệm vụ.

Thứ ba, về công tác thẩm định và cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTR

Mặc dù các cấp các ngành quản lý đã rất tích cực tuyên truyền phổ biến kiến thức việc chấp hành pháp luật về BVMT đối với CTN pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn nhưng với nguồn nhân lực rất mỏng hiện nay của các cơ quan quản lý về môi trường kết với ý thức tự giác chấp hành của các cơ sở sản xuất kinh doanh chưa cao dẫn đến thực trạng công tác thẩm định và cấp Sổ đăng ký chủ nguồn thải CTR còn hạn chế. Đây thực sự là một khó khăn, trở ngại trong công tác quản lý chất thải rắn hiện nay của tỉnh Bình Dương.

Thứ tư, về công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm và giám sát, kiểm soát việc chấp hành các quy định về kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn

Kiểm tra, thanh tra là một phương thức quan trọng để bảo đảm thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về bảo vệ môi trường, đặc biệt là công tác quản lý chất thải rắn, tuy nhiên hiện nay công tác triển khai đang gặp rất nhiều hạn chế như: Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Một là, chi cục Bảo vệ Môi trường là cơ quan nòng cốt trực tiếp tham mưu, thực hiện công tác quản lý nhà nước về BVMT nói chung và công tác quản lý chất thải rắn nói riêng nhưng lại không được giao chức năng thanh tra chuyên ngành, trong khi đó lực lượng thanh tra Sở TN&MT lại mỏng, không có cán bộ chuyên môn, chuyên trách về môi trường.

Hai là, lực lượng trực tiếp thực hiện nhiệm vụ quản lý môi trường làm việc theo chế độ hành chính (8h/ngày và 5 ngày/tuần) trong khi đó hầu hết các cơ sở sản xuất kinh doanh dịch vụ lại hoạt động thường xuyên, dẫn đến khó khăn trong quản lý, xử lý thiếu kịp thời.

Ba là, công tác phối hợp xử lý, cung cấp thông tin giữa cơ quan có thẩm quyền phát hiện và lập biên bản vi phạm với cơ quan có thẩm quyền xử lý hiệu quả chưa cao.

Bốn là, về việc thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính và cưỡng chế thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính: Trên thực tế xảy ra nhiều trường hợp cơ quan có thẩm quyền đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nhưng tổ chức vi phạm không chấp hành Quyết định xử phạt bởi vì đơn vị làm ăn hiệu quả chưa cao, cố tình trốn tránh. Vì vậy việc tổ chức thi hành Quyết định xử phạt gặp nhiều khó khăn, chi phí để tổ chức lực lượng cưỡng chế thi hành Quyết định xử phạt lớn hơn rất nhiều so với mức tiền phạt.

Năm là, công tác giải quyết, trả lời đơn thư khiếu nại, tố cáo, kiến nghị, phản ánh của công dân liên quan đến công tác bảo vệ môi trường rất quan trọng, ngày càng phức tạp nhưng lại chưa được quan tâm đúng tầm, thiếu nhân lực thực hiện, chưa được bố trí nguồn ngân sách để triển khai thực hiện.

Sáu là, công tác thanh, kiểm tra xử lý vi phạm mới chỉ dừng lại ở mức nhắc nhở, chưa xử phạt nghiêm các trường hợp vi phạm nên tính răn đe chưa cao.

Thứ năm, về công tác đầu tư và xã hội hóa hoạt động kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn

Hiện nay kinh phí đầu tư cho công tác quản lý môi trường nói chung và quản lý, xử lý các điểm ô nhiễm môi trường tại các địa phương nói riêng còn rất nhiều hạn chế. Nguồn kinh phí 1% ngân sách của tỉnh như hiện nay cho công tác BVMT còn quá ít so với thực tế. Bên cạnh đó, vẫn đang xảy ra tình trạng đầu tư dàn trải, manh mún không thực sự hiệu quả như dự án điều tra thống kê nguồn thải, quy hoạch địa điểm xử lý chất thải rắn, chất thải độc hại, địa điểm các khu nghĩa trang cho nông thôn, làng nghề, địa điểm xây dựng khu chôn lấp gia súc, gia cầm bị dịch bệnh Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Bên cạnh đó, các nguồn lực từ xã hội chưa được phát huy cũng như chưa được cộng đồng thực sự quan tâm. Chưa có chính sách thỏa đáng kêu gọi thu hút đầu tư xây dựng các công trình dịch vụ phục vụ cho công tác BVMT. Mặt khác chi phí đầu tư cho các khâu thu gom, vận chuyển, xử lý đòi hỏi rất cao, đặc biệt kinh phí đầu tư cho xử lý. Hiện nay, các đơn vị xử lý tư nhân hoạt động với nguồn vốn đầu tư tư nhân 100% và tự tìm nguồn vốn đầu tư nâng cấp mở rộng sản xuất. Như vậy, họ chỉ chú trọng đến lợi nhuận kinh tế thông qua việc lựa chọn các đơn vị có lượng phế liệu cao, đẩy đơn giá xử lý của các đơn vị phát sinh nhiều rác không có giá trị tái chế lên cao, gia tăng thêm áp lực cho các đơn vị này.

Kinh phí đầu tư cho hoạt động bảo vệ môi trường còn thấp nên chưa đáp ứng được các yêu cầu bảo vệ môi trường đặc biệt là xử lý chất thải y tế nguy hại tại các đơn vị phát sinh chất thải y tế, ngoài ra việc bố trí vốn đối ứng cho các dự án đầu tư xây dựng các hệ thống xử lý nước thải, rác thải y tế sử dụng vốn sự nghiệp môi trường còn gặp nhiều khó khăn (theo quy định, Trung ương chỉ hỗ trợ 50%).

Các hệ thống xử lý nước thải được xây dựng dựa trên kinh phí hỗ trợ của ngân sách, của các cơ quan tổ chức sau khi nghiệm thu, bàn giao, đi vào hoạt động lại thiếu kinh phí vận hành hoạt động, duy tu bảo dưỡng thường xuyên, bên cạnh đó ý thức đóng góp kinh phí vận hành, duy tu, bảo dưỡng của các cá nhân, các cơ sở được hưởng lợi từ công trình còn ỷ nại, thiếu tính tự giác, coi đó không phải là trách nhiệm của mình, dẫn đến các công trình hoạt động không hiệu quả hoặc không hoạt động gây thất thoát, lãng phí.

Các dự án về xử lý rác thải và BVMT đòi hỏi nguồn kinh phí lớn từ ngân sách nhà nước, tuy nhiên trong thời gian qua kinh phí đầu tư của tỉnh Bình Dương còn hạn chế, chưa đáp ứng được so với những mục tiêu, nhiệm vụ cần thực hiện.

Thứ sáu, Về công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng về thu gom chất thải rắn

Đối với công tác tuyên truyền, sự tham gia của cộng đồng ở tỉnh Bình Dương còn có nhiều hạn chế: công tác tuyên truyền vẫn chưa thực sự đi vào cộng đồng, tiềm năng của cộng đồng trong BVMT vẫn chưa được phát huy đầy đủ, sự tham gia của cộng đồng vào các quá trình đóng góp ý kiến ra quyết định, hoạch định chính sách và các hoạt động quản lý chất thải rắn vẫn còn nhiều hạn chế; Trách nhiệm của doanh nghiệp cũng như cộng đồng đối với việc tuân thủ pháp luật về BVMT còn chưa cao.

Nhận thức chung của doanh nghiệp về an toàn, sức khoẻ và môi trường trong kinh doanh dịch vụ thu gom chất thải rắn hiện còn ở mức giới hạn. Vấn đề xã hội hoá trong dịch vụ thu gom chất thải rắn còn chưa hợp lý. Khái niệm giảm thiểu CTR và sản xuất sạch hơn còn xa lạ đối với nhiều doanh nghiệp và trong cộng đồng.

Các nguồn lực từ xã hội chưa được phát huy, chưa được cộng đồng thực sự quan tâm, chưa có chính sách thỏa đáng kêu gọi thu hút đầu tư xây dựng các công trình dịch vụ phục vụ cho công tác BVMT.

Kết luận Chương 2 Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

Trong phạm vi Chương 2, tác giả đã phân tích và chỉ ra được những điểm bất cập trong quy định pháp luật liên quan đến điều kiện kinh doanh dịch vụ thu gom CTR. Đó là những bất cập trong quy định pháp luật về các vấn đề như: Chủ thể kinh doanh dịch vụ thu gom CTR, hợp đồng chuyển giao trách nhiệm thu gom CTR,. Trong quá trình phân tích, tác giả cũng đã lồng ghép các thông tin, vụ việc thực tiễn để chứng minh và làm rõ hơn về các vấn đề cần phân tích để từ đó đưa ra cái nhìn tổng quan và đánh giá chung về những điểm bất cập trong quy định pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ thu gom CTR.

Đồng thời, luận văn đã phân tích thực tiễn thực hiện pháp luật về điều kiện kinh doanh dịch vụ thu gom CTR trên địa bàn tỉnh Bình Dương cho thấy việc thực hiện pháp luật trên địa bàn Tỉnh trong thời gian qua có rất nhiều kết quả tích cực về hệ thống chính sách, văn bản pháp luật; tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về môi trường; công tác cấp sổ đăng ký chủ nguồn tải CTR; công tác thu gom, vận chuyển, xử lý CTR; công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm CTR; về công tác đầu tư, xã hội hóa kinh phí sự nghiệp môi trường cũng như công tác tuyên truyền nâng cao nhận thức của cộng đồng. Tuy nhiên, thực tiễn thực hiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ thu gom CTR trên địa bàn tỉnh Bình Dương vẫn còn một số hạn chế cần phải khắc phục. Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn

One thought on “Luận văn: Thực trạng pháp luật kinh doanh thu gom chất thải rắn

  1. Pingback: Luận văn: Pháp luật điều kiện kinh doanh thu gom chất thải rắn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464