Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch và thực tiễn quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hộ tịch là những sự kiện cơ bản xác nhận tình trạng nhân thân của một con người từ khi sinh ra đến khi chết. Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và quyền nhân thân của con người được Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định để xác định sự kiện hộ tịch như: quyền thay đổi họ tên; quyền xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh; quyền được khai tử; quyền được kết hôn; quyền ly hôn; quyền nhận, không nhận cha, mẹ, con; quyền đối với quốc tịch…
Thực hiện pháp luật về hộ tịch không những liên quan đến nhân thân của con người mà còn liên quan đến chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, cơ cấu, nguyên tắc tổ chức và hoạt động của cơ quan Nhà nước, thể chế hóa mối quan hệ giữa Đảng lãnh đạo, nhân dân làm chủ, Nhà nước quản lý.
Thực hiện pháp luật về hộ tịch tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước công nhận và bảo hộ quyền con người, quyền, nghĩa vụ công dân. Đồng thời quản lý hộ tịch còn góp phần vào các biện pháp quản lý dân cư một cách khoa học , phục vụ cho việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, an ninh – quốc phòng của đất nước.
Trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, hội nhập quốc tế diễn ra ngày càng sâu rộng việc dịch chuyển dân cư trong nước và quốc tế ngày càng gia tăng , quyền con người, quyền công dân đòi hỏi được ghi nhận và bảo đảm thực hiện ở mức cao hơn . Để tạo cơ sở pháp lý lâu dài , ổn định, thống nhất cho công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch, nhất là trong việc triển khai thi hành Hiến pháp năm 2013 với nhiều quy địṇh mới đề cao quyền con người, quyền, nghĩa vụ cơ bản của công dân; đồng thời tạo sự chuyển biến mạnh mẽ công tác thực hiện pháp luật về hô ̣ tịch theo hướng từng bước chuyên nghiêp mới, phù hợp với yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ mới.
Trên thực tế, công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch vẫn còn một số tồn tại, bất cập chưa đáp ứng được yêu cầu cải cách hành chính và cải cách Tư pháp trong giai đoạn mới, tình trạng các cơ quan, tổ chức, đoàn thể chưa xác định đúng giá trị pháp lý của giấy tờ hộ tịch, còn gây nhiều khó khăn cho công dân. Thực trạng trên có nguyên nhân xuất phát từ nhận thức chưa đầy đủ quy định của pháp luật về đăng ký và quản lý hộ tịch của một bộ phận cán bộ, công chức và nhân dân; sự phối hợp thiếu nhịp nhàng giữa các cơ quan nhà nước trong việc giải quyết những sai sót trong hồ sơ, giấy tờ cá nhân; công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật, trợ giúp pháp lý về đăng ký và quản lý hộ tịch chưa thực sự sâu rộng; năng lực của một số công chức còn hạn chế. Tuy công việc liên quan đến nhân thân của một con người và cũng liên quan đến nhiều lĩnh vực khác của xã hội, nhưng nhìn từ góc độ bên ngoài thì rất “thầm lặng” và ít được quan tâm.
Xã Đông Hưng là một xã thuộc huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng đang trong giai đoạn phát triển với tỷ lệ tăng trưởng dân số cao nên công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch đóng vai trò rất quan trọng trong việc xây dựng, hoạch định chính sách phát triển kinh tế của xã. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Vì vậy, nghiên cứu công tác thực hiện pháp luật về hộ tịch nói chung cũng như ở thực tế xã Đông Hưng nói riêng nhằm làm rõ hơn cơ sở lý luận, thực tiễn của việc thực hiện pháp luật về hộ tịch và đưa ra những ý kiến góp phần nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật về hộ tịch trên địa bàn xã Đông Hưng. Đây chính là lý do tôi lựa chọn đề tài “Pháp luật về quản lý hộ tịch và thực tiễn quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng”
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Tình hình nghiên cứu đề tài.
Có thể khẳng định quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động khó khăn và phức tạp đòi hỏi nhà quản lý phải có hiểu biết sâu rộng về lĩnh vực chuyên môn và cần thiết hơn đó là sự thông thạo về đặc điểm dân cư, tập quán, truyền thống, văn hóa, trình độ phát triển của địa phương thực hiện hoạt động quản lý. Có như vậy nhà quản lý mới có thể áp dụng pháp luật một cách linh hoạt, và đưa ra được những quyết định quản lý phù hợp, mang lại hiệu quả cao.
Đề tài hộ tịch và pháp luật về hộ tịch từ lâu đã thu hút sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học cũng như những nhà quản lý chuyên môn trong công tác hộ tịch. Đề tài này được khai thác ở nhiều khía cạnh, góc độ khác nhau qua các công trình nghiên cứu tiêu biểu như:
- Nguyễn Thị Lài, “Quản lý nhà nước về hộ tịch từ thực tiễn tỉnh Quảng Bình”
- Trương Thị Vân Anh, “Quản lý nhà nước về hộ tịch ở cấp xã, thực tiễn ở huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội”
- Và một số bài viết, công trình nghiên cứu khác được đăng trên các ấn phẩm báo chí như:
- Nguyễn Công Khanh, “Triển khai thi hành Luật hộ tịch một trong những biện pháp quan trọng bảo đảm thực thi quyền con người theo Hiến pháp năm 2013” [24].
- Đinh Ngọc Giang, “Quản lý nhà nước về hộ tịch ở nước ta hiện nay” [19].
- Cục lãnh sự Bộ ngoại giao, “Kinh nghiệm thực tiễn và một số kiến nghị về công tác đăng ký, quản lý hộ tịch tại các cơ quan đại diện Việt Nam ở nước ngoài” [17]. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
- Nguyễn Ngọc Bích, “Thẩm quyền đăng kí hộ tịch theo Luật Hộ tịch và vấn đề thực hiện” [6]…
Tóm lại, thông qua những công trình nghiên cứu chính nêu trên, có thể thấy các công trình nghiên cứu đã nhấn mạnh những khía cạnh pháp lý liên quan đến quản lý hộ tịch. Những phân tích, đánh giá của các tác giả là những kinh nghiệm quý báu cho việc hoàn thiện pháp luật quản lý nhà nước về hộ tịch. Tuy nhiên, tất cả các bài nghiên cứu cũng như công trình nêu trên đều dưới dạng công trình định hướng nghiên cứu từ lý luận cho đến thực tiễn, từ tổng thể cho đến từng khía cạnh liên quan đến quản lý hộ tịch, chưa có một công trình nghiên cứu thực tiễn về quản lý hộ tịch trên địa bàn thành phố Hải phòng giai đoạn trước và sau khi có Luật Hộ tịch. Việc phân tích và nhận định sâu hơn các vấn đề quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn cụ thể là ở xã Đông Hưng hiện nay là vấn đề cần được khai thác, nghiên cứu và thực hiện một cách hợp lý, linh hoạt nhằm đạt được hiệu quả thực hiện công tác quản lý hộ tịch tại xã Đông Hưng nói riêng và thành phố Hải Phòng nói chung một cách tốt nhất.
3. Mục tiêu nghiên cứu
Mục đích của đề tài là dựa trên kiến thức lý luận để nghiên cứu các vấn đề pháp lý liên quan đến quản lý hộ tịch, tìm hiểu thực tiễn áp dụng luật thực định về quản lý hộ tịch trên địa bàn xã Đông Hưng. Từ đó, tìm hiểu những quy định bất cập, chưa cụ thể, trên cơ sở đó có những nhận xét, kiến nghị về hướng giải quyết các vấn đề pháp lý về quản lý hộ tịch cũng như giải pháp phù hợp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý hộ tịch tại xã Đông Hưng
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
4.1 Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là hệ thống quy phạm pháp luật điều chỉnh về lĩnh vực hộ tịch đặc biệt là luật hộ tịch năm Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
4.2 Phạm vi nghiên cứu:
Về phạm vi không gian luận văn nghiên cứu công tác quản lý nhà nước về Hộ tịch tại các cấp hành chính thuộc địa bàn xã Đông Hưng.
Về phạm vi thời gian luận văn tập trung phân tích thực tiễn áp dụng các quy định của pháp luật và thực trạng hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch tại xã Đông Hưng từ năm 2020 đếm năm 2022 theo luật hộ tịch 2014.
5. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu dựa trên các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật biện chứng và duy vật lịch sử theo quan điểm khoa học của chủ nghĩa Mác – Lê nin. Tồn tại xã hội quyết định ý thức xã hội, đồng thời giữa chúng có mối liên hệ biện chứng. Pháp luật là một bộ phận của kiến trúc thượng tầng xã hội, được hình thành từ một cơ sở hạ tầng phù hợp. Pháp luật được coi là tấm gương phản chiếu xã hội, còn về phần mình, xã hội được coi là cơ sở thực tiễn của pháp luật. Về lý thuyết và thực tiến cho thấy, các quy định của pháp luật phù hợp với sự phát triển của các điều kiện kinh tế, văn hóa, xã hội thì mới có tính khả thi trong quá trình thực hiện và áp dụng pháp luật; từ đó tạo cơ sở cho xã hội ổn định và phát triển.
Ngoài ra, trong quá trình thực hiện đề tài này, tôi đã sử dụng một số phương pháp nghiên cứu phổ biến như: Phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp so sánh; phương pháp thống kê.
6. Ý nghĩa lý luận.
Hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch là một hình thức hoạt động của quản lý nhà nước do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở pháp luật và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch nhằm đảm bảo quyền con người, quyền công dân góp phần phục vụ phát triển kinh tế xã hội của địa phương và đất nước.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, Luận văn được kết cấu thành 3 chương, cụ thể:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về hộ tịch.
- Chương 2: Thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch tại xã Đông Hưng.
- Chương 3: Quan điểm và giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hộ tịch.
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ HỘ TỊCH
1.1. Khái niệm, đặc điểm của quản lý Nhà nước về hộ tịch
1.1.1. Khái niệm, đặc điểm về hộ tịch
1.1.1.1. Khái niệm hộ tịch Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Hộ tịch là những sự kiện được quy định xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết. Đây là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên của chính quyền các cấp, nhằm theo dõi thực trạng và biến động về hộ tịch, trên cơ sở đó bảo hộ các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân và gia đình, đồng thời góp phần xây dựng các chính sách về kinh tế, xã hội, an ninh quốc phòng và dân số, kế hoạch hóa gia đình. Công tác quản lý hộ tịch là một tổng thể của nhiều công việc như tuyên truyền giáo dục pháp luật về hộ tịch, tổ chức đăng ký hộ tịch, báo cáo thống kê tăng, giảm dân số, kiểm tra, xử lý vi phạm về đăng ký hộ tịch. Các công việc nêu trên phải được tiến hành thường xuyên tại cơ sở nhằm bảo đảm kịp thời, chính xác đồng thời phải thuận tiện, tránh gây phiền hà cho dân. Theo quan niệm truyền thống: Đăng ký hộ tịch là việc ghi chép vào Sổ các sự kiện về việc hộ tịch của các hộ lại nhằm quản lý việc biến động tự nhiên, biến động xã hội của các sự kiện đó, trên cơ sở đó xác định nghĩa vụ đối với Nhà nước như đóng thuế, nghĩa vụ nô dịch, quân dịch … Theo quan niệm hiện tại: Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện sinh, tử, kết hôn, ly hôn, giám hộ, thay đổi họ, tên, xác định dân tộc, cải chính hộ tịch và các sự kiện khác theo quy định của pháp luật về hộ tịch.
Theo điều 2, Luật Hộ tịch năm 2014 quy định:
- Hộ tịch là những sự kiện được quy định, xác định tình trạng nhân thân của cá nhân từ khi sinh ra đến khi chết.
- Đăng ký hộ tịch là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận hoặc ghi vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch của cá nhân, tạo cơ sở pháp lý để Nhà nước bảo hộ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, thực hiện quản lý về dân cư”. [14; tr.1]
Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân và quyền nhân thân của con người được Hiến pháp năm 2013 và Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định để xác định sự kiện hộ tịch như: quyền có họ tên; quyền thay đổi họ; quyền thay đổi tên; quyền xác định, xác định lại dân tộc; quyền được khai sinh; khai tử; quyền được kết hôn, ly hôn; quyền đối với quốc tịch…
Như vậy, Luật Hộ tịch năm 2014 đã sử dụng phương pháp mô tả để phản ánh đầy đủ, toàn diện khái niệm đăng ký hộ tịch. Tuy nhiên, về mặt kỹ thuật, trong khái niệm đăng ký hộ tịch, chữ “tịch” đã có giá trị biểu đạt tương đương với “đăng ký”. Chữ “tịch” có nghĩa là “sổ sách đăng ký quan hệ lệ thuộc. Điều này tạo nên sự trùng lặp về ý nghĩa khi giải thích khái niệm. Đây là một nét đặc trưng của việc sử dụng ngôn ngữ Hán – Việt. Hạn chế có thể được khắc phục nếu thay thế khái niệm đăng ký hộ tịch bằng khái niệm thuần Việt “đăng ký tình trạng dân sự”. Tuy nhiên đây là khái niệm xa lạ với người dân. Do đó, việc sử dụng khái niệm thay thế “đăng ký tình trạng dân sự” mặc dù có thể đạt được sự chặt chẽ về mặt học thuật nhưng lại hoàn toàn không có tính đại chúng, hạn chế khả năng phổ biến trong đời sống xã hội. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Như vậy, sự kết hợp giữa khái niệm “hộ tịch” (mà đúng hơn là sự kiện “hộ tịch”) và “đăng ký hộ tịch” mới có thể mang lại cách hiểu đầy đủ về khái niệm “hộ tịch”, vì khái niệm “hộ tịch là những sự kiện được quy định, xác định tình trạng nhân thân của một người từ khi sinh ra đến khi chết” là một khái niệm “mở”, theo đó, chỉ có thể hiểu “những sự kiện được quy định, xác định tình trạng nhân thân của một người” là những sự kiện nào khi viện dẫn tới định nghĩa về “đăng ký hộ tịch”.
1.1.1.2. Đặc điểm của hộ tịch
Từ quan niệm trên về hộ tịch, có thể thấy, hộ tịch có những đặc điểm chủ yếu sau:
Thứ nhất, hộ tịch là một giá trị nhân thân, gắn chặt với cá nhân con người, bởi vì, mỗi người chỉ có một thời điểm sinh, một thời điểm chết. Các dấu hiệu về cha đẻ, mẹ đẻ, dân tộc, giới tính là những dấu hiệu giúp người ta phân biệt từng cá nhân con người. Do đó, đây là các giá trị nhân thân gắn với một con người cụ thể từ khi sinh ra đến khi chết
Thứ hai, hộ tịch là những giá trị, về nguyên tắc không chuyển đổi cho người khác. Đặc điểm này là hệ quả của của đặc điểm thứ nhất. Do đó, việc thực hiện các sự kiện hộ tịch phải do trực tiếp cá nhân người đó thực hiện, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác (như: khai sinh có thể do bố, mẹ đi đăng ký khai sinh; khai tử do người thân của người chết đăng ký khai tử).
Thứ ba, hộ tịch là những sự kiện nhân thân không lượng hoá được thành tiền. Chính vì vậy, hộ tịch không phải là một loại hàng hóa có thể trao đổi trên thị trường.
1.1.2 Khái niệm, đặc điểm của Quản lý Nhà nước về hộ tịch Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
1.1.2.1 Khái niệm quản lý nhà nước về hộ tịch
Quản lý là hoạt động mang tính đặc thù của con người, là sự tác động có mục đích của các chủ thể quản lý đối với các đối Tượng quản lý. Quản lý xuất hiện ở bất kỳ nơi nào, lúc nào nếu ở nơi đó có hoạt động chung của con người. Mục đích và nhiệm vụ của quản lý là điều khiển, chỉ đạo hoạt động chung của con người, phối hợp hoạt động riêng lẻ của từng cá nhân thành một hoạt động chung thống nhất của cả tập thể và hướng hoạt động chung đó theo những phương hướng thống nhất, nhằm đạt được mục tiêu đã định trước.
Khi Nhà nước xuất hiện thì phần lớn các công việc của xã hội do nhà nước quản lý. Khái niệm quản lý nhà nước theo nghĩa rộng: Là hoạt động tổ chức, điều hành của cả bộ máy nhà nước, nghĩa là bao hàm cả sự tác động, tổ chức của quyền lực nhà nước trên các phương diện lập pháp hành pháp và Tư pháp. Theo cách hiểu này, quản lý nhà nước được đặt trong cơ chế “Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, nhân dân lao động làm chủ.
Theo nghĩa hẹp, Quản lý nhà nước chủ yếu là quá trình tổ chức, điều hành của hệ thống cơ quan hành chính nhà nước đối với các quá trình xã hội và hành vi hoạt động của con người theo pháp luật nhằm đạt được những mục tiêu yêu cầu nhiệm vụ quản lý nhà nước. Đồng thời, các cơ quan nhà nước nói chung còn thực hiện các hoạt động có tính chất chấp hành, điều hành, tính chất hành chính nhà nước nhằm xây dựng tổ chức bộ máy và củng cố chế độ công tác nội bộ của mình. Chẳng hạn ra quyết định thành lập, chia tách, sáp nhập các đơn vị tổ chức thuộc bộ máy của mình; đề bạt, khen thưởng, kỷ luật cán bộ, công chức, ban hành quy chế làm việc nội bộ… Quản lý nhà nước theo nghĩa hẹp này còn đồng nghĩa với khái niệm quản lý hành chính nhà nước.
Từ các khái niệm trên về quản lý nhà nước ta rút ra được khái niệm về quản lý nhà nước về hộ tịch: là một nội dung trong quản lý hành chính nhà nước về Hành chính – Tư pháp, quản lý về hộ tịch có thể hiểu là một hình thức hoạt động của nhà nước, do các chủ thể có thẩm quyền thực hiện trên cơ sở và để thi hành pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch, góp phần vào bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân, phục vụ cho công cuộc phát triển kinh tế- xã hội.
1.1.2.2. Đặc điểm quản lý nhà nước về hộ tịch Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Quản lý nhà nước đối với hộ tịch là một lĩnh vực quản lý thân trạng của công dân và thực trạng của từng gia đình với những nét chính yếu nhất. Vì vậy, hoạt động quản lý hộ tịch có những đặc điểm sau:
Một là, quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động mang tính quyền lực. Quyền lực trong quản lý nhà nước đối với hộ tịch thể hiện ở việc các chủ thể có thẩm quyền thể hiện ý chí nhà nước thông qua phương tiện nhất định, trong đó phương tiện cơ bản và đặc biệt quan trọng được sử dụng là Luật Hộ tịch.
Hai là, hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch có tính chấp hành và điều hành.
Trên cơ sở quy định pháp luật nhằm hiện thực hóa pháp luật. Tính chấp hành và điều hành của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện trong việc những hoạt động này được tiến hành theo quy định pháp luật và của chủ thể quản lý thì cũng không được vượt quá khuôn khổ pháp luật, điều hành cấp dưới, trực tiếp áp dụng pháp luật hoặc tổ chức những hoạt động thực tiễn.
Ba là, quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động có tính thống nhất, được tổ chức chặt chẽ và mang tính liên tục Công tác quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động mang tính thống nhất, bộ máy các cơ quan quản lý nhà nước về hộ tịch được tổ chức từ Trung ương tới địa phương, nhờ đó các hoạt động của bộ máy được chỉ đạo, điều hành, hướng dẫn kịp thời, thống nhất, bảo đảm lợi ích chung của cả nước, bảo đảm sự liên kết, phối hợp nhịp nhàng giữa các địa phương tạo ra sức mạnh tổng hợp của cả nước, tránh được sự cục bộ phân hóa giữa các địa phương hay vùng miền khác nhau. Chính đặc điểm đặc thù này được coi là cơ sở quan trọng trong việc xác lập quy định về tổ chức bộ máy quản lý hộ tịch gọn nhẹ, có sự linh hoạt trong tổ chức, có đội ngũ công chức năng động sáng tạo và chịu trách nhiệm đối với hoạt động của mình.
Bốn là, quản lý nhà nước về hộ tịch là hoạt động được tiến hành bởi những chủ thể có quyền năng hành pháp là các công chức trong bộ máy nhà nước. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Chủ thể chủ yếu thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch là các cơ quan quản lý hành chính nhà nước. Cụ thể như sau:
Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch.
Bộ Tư pháp là cơ quan giúp Chính phủ thực hiện thống nhất quản lý nhà nước về hộ tịch trong phạm vi cả nước.
Bộ Ngoại giao phối hợp với Bộ Tư pháp trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của mình thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch đối với công dân Việt Nam ở nước ngoài.
Bộ Công an chủ trì, phối hợp với Bộ Tư pháp, Bộ ngoại giao và các bộ, ngành liên quan tham mưu giúp Chính phủ bảo đảm kết nối, an ninh, an toàn thông tin Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư với Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử theo quy định.
Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương. Sở Tư pháp giúp Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch theo quy định.
Ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương mình. Phòng Tư pháp giúp ủy ban nhân dân cấp huyện thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn trong quản lý nhà nước về hộ tịch theo phân cấp. Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện chịu trách nhiệm về công tác đăng ký và quản lý hộ tịch của địa phương.
Ủy ban nhân dân cấp xã có nhiệm vụ thực hiện quản lý nhà nước về hộ tịch tại địa phương và thực hiện đăng ký các việc hộ tịch thuộc thẩm quyền của Ủy ban nhân dân cấp xã theo quy định. Cán bộ Tư pháp hộ tịch có trách nhiệm giúp ủy ban nhân dân cấp xã thực hiện các nhiệm vụ, quyền hạn nói trên trừ trường hợp giải quyết tố cáo. Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp xã chịu trách nhiệm về tình hình đăng ký và quản lý hộ tịch của địa phương.
1.1.2.3 Vai trò của quản lý nhà nước về hộ tịch Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Trong xã hội hiện nay, khi quyền con người luôn được nhận thức như một giá trị cốt lõi của nhân loại thì cùng với nó, hầu hết các quốc gia đều nhận thức đúng đắn về tầm quan trọng của quản lý hộ tịch. Nếu như quản lý dân cư được coi là nội dung hàng đầu trong quản lý xã hội thì quản lý hộ tịch chính là khâu trung tâm của hoạt động quản lý dân cư. Hoạt động quản lý hộ tịch là cơ sở pháp lý để nhà nước ghi nhận và bảo hộ các quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Cho nên, quản lý hộ tịch luôn được Đảng và nhà nước ta đặc biệt chú trọng, là lĩnh vực có mối liên hệ mật thiết với hiệu quả của việc quản lý dân cư nói chung.
Theo đó, vai trò của quản lý nhà nước về hộ tịch được thể hiện trên các mặt cơ bản sau:
1/ Hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch thể hiện tập trung nhất, sinh động sự tôn trọng và bảo đảm của Nhà nước đối với việc thực hiện một số quyền nhân thân cơ bản của công dân được ghi nhận trong Hiến pháp và Bộ luật Dân sự hiện hành. Ở phương diện này, Đăng ký hộ tịch chính là phương tiện để người dân thực hiện, hưởng các quyền nhân thân được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013 và trong Bộ luật Dân sự 2015 như: quyền đối với họ tên, quyền xác định lại dân tộc, quyền đối với quốc tịch, quyền kết hôn, quyền được nuôi con nuôi… Các dữ liệu về tình trạng nhân thân của mỗi cá nhân thể hiện trên các giấy tờ hộ tịch là sự khẳng định địa vị pháp lý của mỗi cá nhân, thể hiện khả năng, điều kiện cá nhân tham gia vào các quan hệ pháp luật.
2/ Quản lý hộ tịch góp phần khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc bảo đảm trật tự xã hội. Hệ thống sổ bộ hộ tịch có thể giúp việc truy nguyên nguồn gốc của cá nhân một cách dễ dàng. Các giấy tờ hộ tịch do cơ quan có thẩm quyền cấp được lập theo trình tự và thủ tục chặt chẽ là sự khẳng định chính thức của nhà nước về giá trị pháp lý để cá nhân thực hiện các quan hệ trong gia đình và xã hội.
3/ Quản lý hộ tịch là cơ sở để nhà nước hoạch định chính sách phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, an ninh quốc phòng… và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chính sách đó. Các dữ liệu hộ tịch được thống kê đầy đủ, chính xác, cập nhật thường xuyên, kịp thời và có hệ thống là nguồn thông tin hết sức quý báu hỗ trợ đắc lực cho việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế – xã hội phù hợp với từng địa phương, từng giai đoạn phát triển, giúp tiết kiệm chi phí xã hội.
Với ý nghĩa quan trọng như vậy nên trong tiến trình phát triển của mỗi quốc gia, vấn đề xây dựng hệ thống quản lý hộ tịch và khai thác để phục vụ mục đích quản lý xã hội trên mọi lĩnh vực đời sống luôn được quan tâm, chú trọng.
1.2. Nội dung và phương pháp quản lý nhà nước về hộ tịch Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
1.2.1. Nội dung quản lý nhà nước về hộ tịch
1.2.1.1. Đăng ký khai sinh
Theo Điều 30 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định: “Cá nhân khi sinh ra có quyền được khai sinh.”[12;tr.11]
Theo Điều 13 Luật trẻ em năm 2016 quy định: “Trẻ em có quyền được khai sinh, khai tử, có họ, tên, có quốc tịch; được xác định cha, mẹ, dân tộc, giới tính theo quy định của pháp luật.”[18;tr.3]
Theo Điều 7 Công ước Liên hợp quốc về quyền trẻ em quy định: “Trẻ em phải được đăng ký ngay lập tức sau khi được sinh ra và có quyền có họ tên, có quốc tịch ngay từ khi chào đời, và trong chừng mực có thể, quyền được biết cha mẹ mình và được cha mẹ mình chăm sóc.”[7;tr.1]
Từ những vấn đề trên cho thấy vấn đề khai sinh trong công tác quản lý hộ tịch là một vấn đề quan trọng và không thể không thực hiện.
Đăng ký khai sinh là biện pháp đầu tiên của quản lý hành chính nhà nước trong lĩnh vực đăng ký hộ tịch. Thông qua quản lý hành chính trong lĩnh vực đăng ký khai sinh đã giúp cho Nhà nước theo dõi được sự biến động tự nhiên của dân số, từ đó đề ra các chính sách phát triển kinh tế – xã hội trên phạm vi cả nước cũng như trong từng địa phương; mặt khác đăng ký khai sinh một cách đầy đủ, chính xác là bảo vệ quyền của trẻ em được đăng ký khai sinh ngay từ khi sinh ra theo quy định của pháp luật và phù hợp với thông lệ quốc tế.
- Thẩm quyền đăng ký khai sinh:
Ủy ban nhân dân cấp xã nơi cư trú của người cha hoặc người mẹ thực hiện đăng ký khai sinh.
- Thời hạn đăng ký khai sinh: Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Trong thời hạn 60 ngày, kể từ ngày sinh con, cha, mẹ có trách nhiệm đi khai sinh cho con; nếu cha, mẹ không thể đi khai sinh, thì ông, bà hoặc những người thân thích khác đi khai sinh cho trẻ em.
- Thủ tục đăng ký khai sinh:
Người đi đăng ký khai sinh nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy chứng sinh cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Trường hợp không có giấy chứng sinh thì nộp văn bản của người làm chứng xác nhận về việc sinh; nếu không có người làm chứng thì phải có giấy cam đoan về việc sinh; trường hợp khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi phải có biên bản xác nhận việc trẻ bị bỏ rơi do cơ quan có thẩm quyền lập; trường hợp khai sinh cho trẻ em sinh ra do mang thai hộ phải có văn bản chứng minh việc mang thai hộ theo quy định pháp luật.
Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy thông tin khai sinh đầy đủ và phù hợp, công chức Tư pháp – hộ tịch ghi nội dung khai sinh theo quy định Luật hộ tịch và vào Sổ hộ tịch; cập nhật vào cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử, cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư để lấy số định danh cá nhân.
Công chức Tư pháp – hộ tịch và người đi đăng ký khai sinh cùng ký tên vào Sổ hộ tịch. Chủ tịch UBND cấp xã cấp Giấy khai sinh cho người được đăng ký khai sinh.
Chính phủ quy định chi tiết việc đăng ký khai sinh cho trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ, trẻ em sinh ra do mang thai hộ; việc xác định quê quán của trẻ em bị bỏ rơi, trẻ em chưa xác định được cha, mẹ.
Người phát hiện trẻ sơ sinh bị bỏ rơi có trách nhiệm bảo vệ trẻ và báo ngay cho UBND cấp xã hoặc Công an xã, phường, thị trấn, nơi trẻ bị bỏ rơi để lập biên bản và tìm người hoặc tổ chức tạm thời nuôi dưỡng trẻ em đó.
1.2.1.2. Đăng ký kết hôn
Theo khoản 5 Điều 3 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Kết hôn là việc nam, nữ xác lập quan hệ vợ chồng theo quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn và đăng ký kết hôn.”
Điều kiện kết hôn:
Nam, nữ kết hôn với nhau phải tuân theo các điều kiện sau đây:
- Nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên;
- Việc kết hôn do nam và nữ tự nguyện quyết định;
- Không bị mất năng lực hành vi dân sự;
Việc kết hôn không thuộc một trong các trường hợp cấm kết hôn được quy định cụ thể như sau:
- Kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo; Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
- Tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, lừa dối kết hôn, cản trở kết hôn;
- Người đang có vợ, có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người khác hoặc chưa có vợ, chưa có chồng mà kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng với người đang có chồng, có vợ;
Kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng; [15;tr3]
- Thẩm quyền đăng ký kết hôn:
UBND cấp xã nơi cư trú của một trong hai bên nam, nữ thực hiện đăng ký kết hôn.
- Thời hạn:
Trong thời hạn 05 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy hai bên nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình, thì UBND cấp xã đăng ký kết hôn cho hai bên nam, nữ.
- Thủ tục đăng ký kết hôn:
Hai bên nam, nữ nộp tờ khai đăng ký kết hôn theo mẫu quy định cho cơ quan đăng ký hộ tịch và cùng có mặt khi đăng ký kết hôn.
Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, công chức Tư pháp – hộ tịch ghi việc kết hôn vào Sổ hộ tịch, cùng hai bên nam, nữ ký tên vào Sổ hộ tịch. Hai bên nam, nữ cùng ký vào Giấy chứng nhận kết hôn; công chức Tư pháp – hộ tịch báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã tổ chức trao Giấy chứng nhận kết hôn cho hai bên nam, nữ. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
1.2.1.3. Đăng ký khai tử
Theo Điều 30 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định quyền được khai tử:
- Cá nhân chết phải được khai tử.
- Trẻ em sinh ra mà sống được từ hai mươi bốn giờ trở lên mới chết thì phải được khai sinh và khai tử; nếu sinh ra mà sống dưới hai mươi bốn giờ thì không phải khai sinh và khai tử, trừ trường hợp cha đẻ, mẹ đẻ có yêu cầu.
- Việc khai tử do pháp luật về hộ tịch quy định”[12;tr14]
Đăng ký khai tử là một trong những lĩnh vực quản lý của nhà nước ta về đăng ký hộ tịch nhằm theo dõi sự biến động tự nhiên dân số. Đăng ký khai tử là việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác nhận sự kiện chết của một người và ghi vào sổ đăng ký khai tử. Trên cơ sở đó, chấm dứt quan hệ của người đó đối với gia đình, xã hội đồng thời phát sinh quyền và nghĩa vụ của thân nhân người chết.
- Thẩm quyền đăng ký khai tử:
UBND cấp xã nơi cư trú cuối cùng của người chết thực hiện việc đăng ký khai tử. Trường hợp không xác định được nơi cư trú cuối cùng của người chết thì UBND cấp xã nơi người đó chết hoặc nơi phát hiện thi thể người chết thực hiện việc đăng ký khai tử.
- Thời hạn đi khai tử và trách nhiệm khai tử:
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày có người chết thì vợ, chồng hoặc con, cha, mẹ hoặc người thân thích khác của người chết có trách nhiệm đi đăng ký khai tử; trường hợp người chết không có người thân thích thì đại diện của cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan có trách nhiệm đi khai tử.
Công chức Tư pháp – hộ tịch thường xuyên kiểm tra, đôn đốc việc khai tử cho người chết; trường hợp không xác định được người có trách nhiệm đi khai tử thì công chức tư pháp – hộ tịch thực hiện đăng ký khai tử.
- Thủ tục đăng ký khai tử
Người có trách nhiệm đi đăng ký khai tử nộp tờ khai theo mẫu quy định và Giấy báo tử hoặc giấy tờ khác thay giấy báo tử cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Ngay sau khi nhận giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc khai tử đúng thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung khai tử vào Sổ hộ tịch, cùng người đi khai tử ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã cấp trích lục cho người đi khai tử.
Công chức tư pháp – hộ tịch khóa thông tin hộ tịch của người chết trong cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.
1.2.1.4. Đăng ký giám hộ
Theo Điều 46 Bộ Luật Dân sự năm 2015 quy định: “Giám hộ là việc cá nhân, tổ chức (sau đây gọi chung là người giám hộ) được pháp luật quy định hoặc được cử để thực hiện việc chăm sóc và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người chưa thành niên, người mất năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi (sau đây gọi chung là người được giám hộ)”[12;tr.17].
Theo luật dân sự Việt Nam thì sự giám hộ được quy định cụ thể như đối với người chưa thành niên không còn cha, mẹ hoặc mất hành vi dân sự, bị hạn chế hành vi dân sự, bị tòa án hạn chế quyền làm cha, mẹ hoặc người đó do cha, mẹ không có điều kiện chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng.
- Thẩm quyền đăng ký việc giám hộ:
UBND cấp xã nơi cư trú của người được giám hộ hoặc người giám hộ thực hiện đăng ký giám hộ.
UBND cấp xã nơi đã đăng ký giám hộ thực hiện đăng ký chấm dứt giám hộ.
- Thủ tục đăng ký việc giám hộ:
Người yêu cầu đăng ký giám hộ nộp tờ khai đăng ký giám hộ theo mẫu quy định và văn bản cử người giám hộ theo quy định của Bộ luật Dân sự cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
- Thời hạn:
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy đủ điều kiện theo quy định pháp luật thì công chức Tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch và cùng người đi đăng ký giám hộ ký vào Sổ hộ tịch, báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
1.2.1.5. Đăng ký việc nhận cha, mẹ, con
Việc nhận cha, mẹ, con theo quy định được thực hiện, nếu bên nhận, bên được nhận là cha, mẹ, con còn sống vào thời điểm đăng ký nhận cha, mẹ, con và việc nhận cha, mẹ, con là tự nguyện và không có tranh chấp.
Người con đã thành niên hoặc người giám hộ của người con chưa thành niên hoặc đã thành niên nhưng mất năng lực hành vi dân sự cũng được làm thủ tục nhận cha, mẹ. Trong trường hợp cha, mẹ đã chết; nếu việc nhận cha, mẹ là tự nguyện và không có tranh chấp.
- Thẩm quyền đăng ký việc nhận cha, mẹ, con:
UBND cấp xã, nơi cư trú của người nhận hoặc người được nhận là cha, mẹ, con thực hiện đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.
- Thủ tục đăng ký việc nhận cha, mẹ, con:
Người yêu cầu đăng ký nhận cha, mẹ, con nộp tờ khai theo mẫu quy định và chứng cứ chứng minh quan hệ cha con hoặc mẹ con cho cơ quan đăng ký hộ tịch. Khi đăng ký nhận cha, mẹ, con các bên phải có mặt.
- Thời hạn: Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Trong thời hạn 03 ngày, kể từ ngày nhận đủ giấy tờ hợp lệ, nếu xét thấy việc nhận cha, mẹ, con là đúng sự thật và không có tranh chấp, thì UBND cấp xã đăng ký việc nhận cha, mẹ, con.
Trường hợp cần phải xác minh, thì thời hạn nói trên được kéo dài thêm không quá 05 ngày.
Khi đăng ký việc nhận cha, mẹ, con, các bên cha, mẹ, con phải có mặt, trừ trường hợp người được nhận là cha hoặc mẹ đã chết. Cán bộ Tư pháp hộ tịch ghi vào Sổ đăng ký việc nhận cha, mẹ, con và quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Chủ tịch UBND cấp xã ký và cấp cho mỗi bên một bản chính quyết định công nhận việc nhận cha, mẹ, con. Bản sao quyết định được cấp theo yêu cầu của các bên.
1.2.1.6. Đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch
Đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch là việc thay đổi họ, chữ đệm và tên của cá nhân trong nội dung khai sinh đã đăng ký khi có căn cứ theo quy định của pháp luật dân sự. Thay đổi thông tin về cha, mẹ trong nội dung khai sinh đã đăng ký sau khi được nhận làm con nuôi theo quy định của Luật nuôi con nuôi.
- Thẩm quyền đăng ký thay đổi, cải chính, bổ sung hộ tịch.
UBND cấp xã nơi đã đăng ký hộ tịch trước đây hoặc nơi cư trú của cá nhân có thẩm quyền giải quyết việc thay đổi, cải chính hộ tịch cho người chưa đủ 14 tuổi; bổ sung hộ tịch cho công dân Việt Nam cư trú ở trong nước.
- Thủ tục đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch
- Người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
- Trường hợp đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch không phải tại nơi đăng ký hộ tịch trước đây thì UBND cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến UBND nơi đăng ký hộ tịch trước đây để ghi vào Sổ hộ tịch.
Trường hợp nơi đăng ký hộ tịch trước đây là cơ quan đại diện thì UBND cấp xã phải thông báo bằng văn bản kèm theo bản sao trích lục hộ tịch đến Bộ Ngoại giao để chuyển đến cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.
- Thời hạn. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận đủ giấy tờ theo quy định, nếu thấy việc thay đổi, cải chính hộ tịch là có cơ sở, phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật có liên quan, công chức Tư pháp – hộ tịch ghi vào Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch ký vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch UBND cấp xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp thay đổi, cải chính hộ tịch liên quan đến Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn thì công chức Tư pháp – hộ tịch ghi nội dung thay đổi, cải chính hộ tịch vào Giấy khai sinh, Giấy chứng nhận kết hôn.
Trường hợp cần phải xác minh thì thời hạn được kéo dài thêm không quá 03 ngày làm việc.
- Thủ tục bổ sung hộ tịch.
- Người yêu cầu bổ sung hộ tịch nộp tờ khai theo mẫu quy định và giấy tờ liên quan cho cơ quan đăng ký hộ tịch.
- Ngay sau khi nhận đủ giấy tờ theo quy định nếu thấy yêu cầu bổ sung hộ tịch là đúng, công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung bổ sung vào mục tương ứng trong Sổ hộ tịch, cùng người yêu cầu ký tên vào Sổ hộ tịch và báo cáo Chủ tịch UBND xã cấp trích lục cho người yêu cầu.
Trường hợp bổ sung hộ tịch vào giấy khai sinh, giấy chứng nhận kết hôn thì công chức tư pháp – hộ tịch ghi nội dung bổ sung vào mục tương ứng và đóng dấu vào nội dung bổ sung.
1.2.1.7. Ghi vào sổ hộ tịch việc thay đổi hộ khẩu theo bản án, quyết định của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền
Những thay đổi hộ tịch:
- Thay đổi quốc tịch;
- Xác định cha, mẹ, con;
- Xác định lại giới tính;
- Nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi;
- Ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn;
- Công nhận giám hộ;
Tuyên bố hoặc huỷ tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.
- Trách nhiệm thông báo khi có sự thay đổi hộ tịch:
Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật liên quan đến thay đổi hộ tịch của cá nhân theo quy định, Tòa án nhân dân, cơ quan nhà nước có thẩm quyền có trách nhiệm thông báo bằng văn bản kèm theo trích lục bản án, bản sao quyết định đến UBND nơi đã đăng ký hộ tịch của cá nhân để ghi vào Sổ hộ tịch; trường hợp nơi đăng ký hộ tịch là cơ quan đại diện thì thông báo cho Bộ Ngoại giao để chuyển đến cơ quan đại diện ghi vào Sổ hộ tịch.
Trường hợp thay đổi quốc tịch thì việc thông báo được thực hiện theo quy định của pháp luật về quốc tịch.
1.3. Luật hộ tịch ở một số quốc gia Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
1.3.1. Pháp luật về hộ tịch ở Đức
Pháp luật hộ tịch Đức còn quy định các giấy tờ hộ tịch. Các giấy tờ hộ tịch là bản trích lục có chứng thực hoặc bản sao có chứng thực được trích từ sổ đăng ký hộ tịch tại cơ quan đăng ký hộ tịch. Như vậy, nếu như pháp luật hộ tịch một số quốc gia quy định bản chính giấy tờ hộ tịch là bản gốc thì pháp luật Đức quy định giấy tờ hộ tịch chỉ là bản sao, chỉ có sổ đăng ký hộ tịch là bản gốc.
Việc đăng ký khai sinh: Trẻ mới sinh phải được khai báo với cơ quan hộ tịch có thẩm quyền trong một thời hạn nhất định, tuỳ theo quy định của mỗi bang, có bang quy định thời gian đăng ký khai sinh là trong vòng 14 ngày, kể từ ngày sinh.
Cơ sở để đăng ký khai sinh là giấy chứng sinh của nhà hộ sinh hoặc người đỡ đẻ lập. Ngoài ra phải đính kèm giấy tờ trích lục từ sổ gia đình (ví dụ như Giấy chứng nhận kết hôn) nếu một cơ quan hộ tịch khác quản lý sổ này.
Thủ tục đăng ký khai sinh được quy định cụ thể như sau:
Trong trường hợp cha mẹ kết hôn với nhau, thì người đi đăng ký khai sinh phải mang theo Giấy chứng nhận kết hôn hoặc trích sao từ sổ gia đình; ảnh của bố mẹ; giấy đồng ý của bố mẹ về việc đồng ý ghi tên mình vào Giấy khai sinh của con.
Đối với những người góa hoặc ly hôn, phải xuất trình bản sao mới nhất từ sổ gia đình hoặc Giấy chứng nhận kết hôn có ghi chú thích hợp (ghi chú việc ly hôn hoặc ghi chú việc chết của người kia). Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Đối với công dân nước ngoài, thì phải xuất trình hộ chiếu hoặc giấy tờ tùy thân khác để chứng minh về quốc tịch.
Pháp luật quy định cụ thể rò tên họ của đứa trẻ khi khai sinh. Đứa trẻ sinh ra có quyền nhận họ của bố mẹ; trường hợp vợ chồng mang họ khác nhau, thì họ của con là cha mẹ cùng lựa chọn và phải ghi rò bằng văn bản để trình công chức hộ tịch và tuyên bố này có giá trị ràng buộc đối với tất cả các con khác được sinh ra từ cuộc hôn nhân của cặp vợ chồng này (có nghĩa là những đứa con tiếp theo của họ cũng sẽ phải lựa chọn theo họ của đứa con đầu)
Trong trường hợp người mẹ độc thân (con ngoài giá thú), thì con sẽ theo họ của mẹ. Người con chỉ được mang họ cha khi người cha nhận con và cam kết cấp dưỡng nuôi con.
Đứa trẻ sinh ra từ ngân hàng trứng, ngân hàng tinh trùng, thì tên của cha mẹ sẽ được ghi theo tên của cha mẹ nuôi. Đứa trẻ sinh ra do mang thai hộ, khi khai sinh người có trứng được khai là mẹ đẻ.
Trong trường hợp trẻ được nhận làm con nuôi, thì tên của cha mẹ đẻ vẫn được ghi trong Giấy khai sinh của con nuôi trừ trường hợp muốn bảo lưu.
Trường hợp không có tên của cha mẹ đẻ thì được ghi tên của cha mẹ nuôi và cán bộ hộ tịch sẽ kẹp giấy ghi không rò cha mẹ đẻ vào hồ sơ nuôi con nuôi. Người con nuôi có quyền kiện đòi xác định cha mẹ đẻ (hiện nay Tòa án Đức vẫn chưa có có sự giải quyết thỏa đáng nào để bảo đảm quyền tối cao của nhân thân đã được ghi nhận trong Hiến pháp đối với cả người cho tinh trùng và đứa trẻ).
Trong trường hợp trẻ sinh ra rồi sau đó chết thì việc khai sinh sẽ được thực hiện đồng thời với việc khai tử. Nếu trẻ sinh ra có biểu hiện chết thì xác đứa trẻ nặng ít nhất là 0,5 kg thì bắt buộc phải đăng ký khai sinh và ghi sinh ra đã chết. Trường hợp sảy thai hoặc khi sinh ra đã chết mà trẻ đó nặng dưới 0,5 kg thì không có nghĩa vụ khai để đăng ký khai sinh.
Việc đăng ký kết hôn: Từ năm 2001, pháp luật Đức cho phép kết hôn giữa hai người đồng giới. Việc kết hôn giữa hai người đồng giới được ghi vào một sổ riêng (Sổ đăng ký các cặp đồng giới). Điều kiện kết hôn giữa hai người đồng tính phải là người đã thành niên, có năng lực pháp luật: có khả năng thực hiện những nghĩa vụ và hưởng những quyền lợi, phải không có cản trở liên quan đến việc kết hôn giữa hai người (như hiện tại không kết hôn với ai; nếu đã kết hôn thì phải ly hôn theo pháp luật).
Những cặp này cũng có những quyền lợi và nghĩa vụ như những cặp kết hôn khác giới, cũng như có quyền nuôi con nuôi và hai người sẽ quyết định cho người con nuôi được mang họ của một trong hai người hoặc cả hai họ liền nhau.
Khi hai người đồng giới đã kết hôn với nhau, thì họ không được quyền kết hôn với người khác (muốn kết hôn với người khác họ phải đến Tòa án để làm thủ tục kết thúc việc sống chung như vợ chồng).
Việc nhận cha, mẹ, con: Việc nhận cha, mẹ, con được thực hiện tại một trong ba nơi: công chứng viên, cơ quan thanh thiếu niên hoặc công chức hộ tịch. Người cha chỉ cần tuyên bố mình là cha đứa trẻ, tuyên bố đó được người mẹ chấp nhận thì sẽ ghi vào sổ đăng ký khai sinh nội dung khai về người cha.
Việc đăng ký khai tử: Việc đăng ký khai tử (ghi vào Sổ đăng ký khai tử) ở Đức nhằm chống sự khai man, làm giả giấy tờ. Qua thông tin ghi trong Sổ đăng ký khai tử sẽ xác định được ai là người có quyền thừa kế. Việc đăng ký khai tử được thực hiện theo địa hạt.
1.3.2. Pháp luật về hộ tịch ở Nhật Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Ở Nhật Bản, Luật Hộ tịch Nhật Bản quy định hộ tịch được lập thành bản chính và bản phụ (Điều 8). Bản chính được lưu giữ tại Uỷ ban hành chính thành phố hoặc Uỷ ban hành chính làng, huyện. Bản phụ được gửi cho Cục Tư pháp quản hạt hoặc Sở Tư pháp địa phương hoặc các Chi cục trực thuộc lưu trữ. Cá nhân cũng có thể yêu cầu được giao cho giấy chứng nhận liên quan đến các mục ghi chép trong bản sao hoặc bản trích lục hộ tịch hoặc bản hộ tịch đó trừ trường hợp không có mục đích chính đáng.
Cán bộ thực hiện đăng ký hộ tịch sẽ ghi vào sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch.
Vấn đề đăng ký hộ tịch được Luật hộ tịch Nhật Bản xác định là nghĩa vụ của công dân. Vì vậy, khi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng sẽ bị áp dụng chế tài. Luật hộ tịch Nhật Bản quy định phạm vi điều chỉnh tương đối rộng, bao gồm việc khai sinh, khai tử, kết hôn, đăng ký thừa nhận con thông qua việc tuyên bố ý chí, nhận nuôi con nuôi, thông báo tuyên bố mất tích, chấm dứt việc nuôi con nuôi, thông báo về tình trạng hôn nhân… việc thông báo này được coi là nghĩa vụ.
Theo pháp luật đăng ký hộ tịch của Nhật Bản, trong trường hợp thông báo sai và dẫn đến việc ghi vào sổ đăng ký hộ tịch không đúng sự thật thì người thông báo sai sẽ bị phạt tù có thời hạn không quá 5 năm hoặc bị phạt tiền. Khi kê khai sai trong hộ tịch có thể sửa thông qua thủ tục pháp lý. Như vậy, pháp luật về đăng ký hộ tịch Nhật Bản đề cập đến việc “sửa” các vấn đề liên quan đến hộ tịch. Thuật ngữ này tương tự như thuật ngữ “cải chính” trong pháp luật hộ tịch Việt Nam.
Đối với việc đăng ký khai sinh phải được thực hiện trong vòng 14 ngày (đối với trường hợp sinh ở ngoài Nhật Bản thì là trong vòng 3 tháng). Trường hợp bác sỹ, hộ sinh hoặc người khác chứng kiến việc sinh đẻ thì nộp đơn đăng ký kèm với giấy chứng sinh do một trong các người đó lập theo thứ tự bác sỹ, hộ sinh, người khác theo qui định của thông Tư Bộ tư pháp, thông tư Bộ y tế, Bộ lao động, trừ trường hợp có lý do không tránh khỏi. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Trường hợp sinh đẻ trên tàu hỏa hoặc các phương tiên vận tải khác (trừ tàu thủy, áp dụng tương tự với các qui định dưới đây) thì có quyền đăng ký khai sinh tại địa điểm mà người mẹ rời khỏi phương tiện vận chuyển đó, nếu là sinh trên tàu thủy không có nhật ký tàu thì là nơi đầu tiên tàu đó ghé vào. Khi tàu cập cảng nước ngoài, thuyền trưởng phải nhanh chóng gửi cho đại sứ, công sứ hoặc lãnh sự Nhật Bản tại nước đó bản sao nhật ký hàng hải có liên quan đến việc sinh đẻ đó, và đại sứ, công sứ hoặc lãnh sự Nhật Bản phải nhanh chóng thông qua Bộ trưởng ngoại giao gửi cho chủ tịch xã phường thị trấn nơi có hộ tịch bản sao đó.
Việc đăng ký khai sinh cho trẻ trong giá thú phải do bố hoặc mẹ thực hiện, nếu bố mẹ ly hôn trước khi sinh trẻ thì phải do mẹ thực hiện.
Trường hợp người phải đăng ký theo qui đinh không thể đăng ký được thì người đại diện theo pháp luật của người đó có quyền đăng ký.
Trường hợp sinh tại bệnh viện, nhà tù hoặc các trại công cộng, nếu cả bố và mẹ đều không thể đăng ký khai sinh được thì giám đốc hoặc người quản lý của các trại công cộng đó phải đăng ký.
Đối với việc công nhận cha mẹ con: người định công nhận quan hệ cha con ghi vào đơn đăng ký các nội dung dưới đây và phải đăng ký các nội dung đó; trường hợp bố công nhận thì ghi họ tên và nơi đăng ký hộ tịch của mẹ; nếu công nhận con đã tử vong thì ghi ngày tháng năm tử vong và họ tên của ông bà bố mẹ, trực hệ, ngày tháng năm sinh và nơi đăng ký hộ tịch. Trường hợp công nhận con đang là thai nhi thì ghi nội dung đó, họ tên và nơi đăng ký hộ tịch của mẹ vào đơn đăng ký và phải đăng ký tại nơi đăng ký hộ tịch của mẹ.
1.3.3. Pháp luật về hộ tịch ở Đài Loan Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Luật Hộ tịch của Đài Loan quy định rất rộng những vấn đề liên quan đến cá nhân mỗi người, bao gồm việc lập hộ, việc sinh, tử, đăng ký thừa nhận, nhận nuôi con nuôi, đăng ký kết hôn, ly hôn, đăng ký giám hộ, tuyên bố chết, đăng ký di dời (chuyển đến, chuyển đi, thay đổi địa chỉ nơi ở).
Pháp luật hộ tịch của Đài Loan cho phép uỷ thác đăng ký hộ tịch dưới hình thức bằng văn bản. Mở rộng diện những người được xin đăng ký sau khi phát sinh hoặc xác định việc đăng ký hộ tịch mà không có người xin đăng ký. Người có quyền lợi liên quan có thể là người xin đăng ký. Ngoài ra, Luật Hộ tịch Đài Loan còn quy định vấn đề thay đổi, cải chính và huỷ, xoá và sửa việc đăng ký hộ tịch.
1.3.4. Pháp luật về hộ tịch ở Hàn Quốc
Ở Hàn Quốc, việc thực hiện đăng ký hộ tịch bằng điện tử, người dân có thể đến đăng ký hộ tịch tại bất kỳ cơ quan đăng ký hộ tịch (cấp quận hoặc cấp phường).
Đối với việc đăng ký khai sinh: pháp luật Hàn Quốc quy định thời hạn đăng ký khai sinh trong vòng một tháng kể từ ngày sinh. Đăng ký trong thời hạn quy định sẽ được miễn phí; nếu đăng ký quá hạn thì người đi đăng ký khai sinh sẽ phải nộp tiền phạt, tuỳ theo thời hạn mà mức nộp phạt sẽ khác nhau. Cha, mẹ phải có trách nhiệm đi đăng ký khai sinh cho con, trường hợp cha mẹ không đi được thì có thể viết giấy uỷ quyền nhưng phải trực tiếp khai và ký vào hồ sơ, nếu không có giấy uỷ quyền thì không được đăng ký khai sinh. Người đi đăng ký khai sinh đến đăng ký trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện đến Uỷ ban nhân dân phường nơi người đó sinh sống hoặc Uỷ ban nhân dân quận. Nếu đăng ký ở quận thì phường sẽ nhận thông tin qua mạng để cấp giấy khai sinh. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Trường hợp trẻ em chết ngay sau khi sinh: vừa làm thủ tục đăng ký khai sinh, vừa đăng ký khai tử cùng lúc.
Đối với việc đăng ký kết hôn: Ở Hàn Quốc, khi hai công dân Hàn Quốc đăng ký kết hôn, chỉ cần làm Giấy đăng ký sau đó đến đăng ký tại cơ quan hộ tịch là được công nhận mà không cần phải nộp thêm bất cứ một loại giấy tờ nào khác. Cơ quan hộ tịch có trách nhiệm tìm kiếm thông tin trên mạng để xác định về tình trạng hôn nhận của mỗi bên kết hôn. Trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài thì phái người nước ngoài có trách nhiệm phải tự chứng minh về tình trạng hôn nhân của mình.
1.3.5. Pháp luật về hộ tịch ở Lào
Luật Hộ tịch Lào điều chỉnh các việc về hộ tịch:
Đối với việc đăng ký khai sinh: Luật Hộ tịch Lào quy định sau khi nhận được giấy chứng sinh từ trưởng bản, người làm đơn phải đi đăng ký khai sinh ở cơ đăng ký hộ tịch của chính quyền huyện, thị trấn nơi mình cư trú trong vòng 30 ngày kể từ ngày nhận được giấy chứng sinh. Bộ phận đăng ký hộ tịch tại Sứ quán hoặc Lãnh sự quán nước CHDCND Lào tại nước ngoài, sau khi nhận được thông báo có trẻ mới sinh cũng phải đăng ký khai sinh trong vòng 05 ngày kể từ ngày nhận được thông tin.
Đối với việc đăng ký kết hôn, ly hôn: Đăng ký kết hôn, ly hôn được tiến hành tại cơ quan đăng ký hộ tịch của chính quyền huyện, thị xã nơi cả hai cư trú hoặc nơi ở của một trong hai người hoặc nơi ở của bố mẹ của một hoặc cả hai người. Cơ quan đăng ký hộ tịch phải đăng ký và cấp Giấy chứng nhận kết hôn, ly hôn trong vòng 03 ngày kể từ ngày nhận được đơn.
Việc đăng ký kết hôn, ly hôn giữa công dân Lào và công dân nước ngoài thực hiện tại cơ quan đăng ký hộ tịch của chính quyền tỉnh, thành phố. Việc đăng ký kết hôn của công dân Lào tại nước ngoài thực hiện tại Phòng đăng ký hộ tịch tại Sứ quán hoặc Lãnh sự quán nước CHDCND Lào tại nước đó.
Đối với việc đăng ký nhận cha: Nếu như Luật Hộ tịch Ai-len và một số nước không quy định cụ thể vấn đề nhận cha thì Luật Hộ tịch Lào quy định rò về thủ tục này. Đăng ký nhận cha được tiến hành tại cơ quan đăng ký hộ tịch của cơ quan Tư pháp nơi tòa án có quyết định về việc nhận cha.
Cơ quan đăng ký hộ tịch phải đăng ký và cấp Giấy chứng nhận nhận cha trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày quyết định của tòa án có hiệu lực. Việc đăng ký nhận cha được tiến hành tại cơ quan đăng ký hộ tịch của cơ quan Tư pháp người giám hộ cư trú. Cơ quan đăng ký hộ tịch phải đăng ký và cấp giấy chứng nhận giám hộ trong thời hạn 10 ngày kể từ ngày trưởng bản xác định người giám hộ. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Đối với việc đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch: Việc thay đổi họ và tên của cá nhân tới tuổi vị thành niên được tiến hành tại cơ quan đăng ký hộ khẩu của Cơ quan công an nơi người đăng ký thường trú. Trong trường hợp việc thay đổi họ hoặc tên là trẻ em chưa tới tuổi vị thành niên được tiến hành tại cơ quan đăng ký hộ khẩu nơi bố mẹ hoặc người giám hộ thường trú.
Cơ quan đăng ký hộ khẩu của Cơ quan công an nói trên cần phải đăng ký và cấp giấy chứng nhận việc thay đổi họ hoặc tên trong vòng 5 ngày làm việc hành chính tình từ ngày nhận được đơn đăng ký.
Đối với việc đăng ký khai tử: Nếu một cá nhân trong gia đình chết thì đại diện gia đình phải thông báo cho Trưởng bản. Khi nhận được tin có người chết, trưởng bản hoặc cán bộ công an phải cấp giấy chứng tử trong thời hạn 05 ngày để làm bằng chứng. Trường hợp chết mà không rò nguyên nhân hoặc chết vì dịch bệnh nguy hiểm thì phải khẩn trương thông báo cho cán bộ công an hoặc cán bộ y tế và tạm hoãn cấp Giấy chứng tử đến khi nhận được chỉ đạo từ các cơ quan hữu quan. Cá nhân nào chữa trị cho bệnh nhân hoặc trong quá trình đỡ đẻ theo chuyên môn của mình mà người bệnh hoặc trẻ sơ sinh bị chết thì cá nhân đó phải cấp Giấy chứng tử ngay lập tức.
Nhìn chung, mỗi quốc gia đều có những quy định riêng về phương thức đăng ký hộ tịch cho phù hợp với điều kiện kinh tế – xã hội, lịch sử của quốc gia.
1.3.6. So sánh luật hộ tịch của một số quốc gia với Việt Nam
Qua phần trình bày về phương thức đăng ký và thủ tục đăng ký hộ tịch của một số nước trên thế giới, đối chiếu với các quy định của pháp luật về hộ tịch của Việt Nam cho thấy có sự tương đồng rất cao. Cụ thể là:
Thứ nhất, về khái niệm: Trong khoa học pháp lý một số nước trên thế giới, có thể nhận thấy khái niệm về hộ tịch đã được đề cập. Thuật ngữ “Civil registration” (tiếng Anh) được hiểu là việc đăng ký đúng thời hạn các sự kiện sinh, tử, kết hôn với chính quyền trong thời hạn quy định. Trong Bộ luật Dân sự của Cộng hoà Pháp không đưa ra khái niệm riêng về hộ tịch mà chỉ đưa ra khái niệm “Chứng thư hộ tịch”; nhưng trong tiếng Pháp thì từ “registre de tat civil” cũng được hiểu là việc đăng ký dân sự của cá nhân. Như vậy, cả hai khái niệm nêu trên đều có thể hiểu nghĩa đó là việc “đăng ký tình trạng dân sự của cá nhân”. Các nước có hệ thống pháp luật theo truyền thống là luật thành văn (còn gọi là hệ thống luật lục địa) với đại diện tiêu biểu nhất là Pháp thì khái niệm này thường gắn liền với khái niệm “Thân trạng” và được hiểu là “căn cước, tình trạng dân sự của một cá nhân” (tiếng Pháp là état des personnes). Theo các tài liệu và được Liên hiệp quốc công nhận và chính thức sử dụng thường xuyên thì khái niệm “Civil registration” có nghĩa là: “Đăng ký hộ tịch là việc ghi nhớ liên tục đặc điểm về sự tồn tại và tình trạng dân sự của mỗi cá nhân liên quan đến dân số được quy định bởi sắc lệnh, luật hoặc điều lệ phù hợp với yêu cầu của pháp luật mỗi quốc gia”. Như vậy, có thể thấy về mặt ngôn ngữ học, từ “Hộ tịch” đang được sử dụng trong pháp luật Việt Nam hiện hành đều có sự tương đồng về ngữ nghĩa với các khái niệm của pháp luật về hộ tịch. Hộ tịch theo quy định của Việt Nam cũng như các nước trên thế giới chứa đựng những thông tin rất quan trọng về cá nhân nên việc cân nhắc lựa chọn phương thức đăng ký hộ tịch là rất cần thiết để tạo điều kiện thuận lợi trong việc quản lý hộ tịch cũng như đăng ký hộ tịch của công dân.
Thứ hai, đều có các quy định về trách nhiệm cụ thể cho đối tượng phải đăng ký cho từng loại việc hộ tịch cụ thể (người có trách nhiệm phải đăng ký hộ tịch mà không thực hiện thì phải chịu xử phạt hành chính). Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Thứ ba, pháp luật của các nước đều có những quy định về thủ tục đăng ký hộ tịch thông thường và thủ tục đăng ký hộ tịch trong những trường hợp đặc biệt (đăng ký khai sinh cho con ngoài giá thú, đăng ký khai sinh cho trẻ bị bỏ rơi v.v…)
Thứ Tư, về thời hạn đăng ký hộ tịch, đối với một số loại việc hộ tịch: sinh, tử thì pháp luật của nhiều nước đều có quy định cụ thể về thời hạn đi đăng ký hộ tịch đối với người có trách nhiệm phải đăng ký hộ tịch.
Pháp luật của CHLB Đức và Nhật Bản quy định việc sinh phải được đăng ký trong thời hạn 14 ngày kể từ ngày đứa trẻ được sinh ra và tối đa không quá 03 tháng, còn đăng ký khai tử phải thực hiện trong thời hạn 7 ngày (Nhật Bản).
Thứ năm, ở tất cả các nước trên thế giới, trong đó có cả Việt Nam, việc đăng ký hộ tịch đều được ghi vào sổ đăng ký và các sổ này được lưu giữ trong nhiều năm các sổ này là cơ sở để cấp các trích lục giấy tờ cho người dân khi có yêu cầu. Hiện nay ngoài việc lưu trữ sổ theo hình thức thủ công, nhiều nước đã thực hiện việc lưu trữ dữ liệu hộ tịch thông qua hệ cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử.
Riêng đối với hình thức các loại sổ đăng ký hộ tịch, qua nghiên cứu pháp luật của một số nước cho thấy có quy định khác nhau, có nước quy định mỗi loại việc hộ tịch được lập thành một sổ riêng (CH Pháp) nhưng cũng có nước quy định việc đăng ký hộ tịch được ghi chung vào một quyển sổ được gọi là sổ gia đình (Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan). Ở thời điểm hiện tại Việt nam thực hiện việc đăng ký hộ tịch vào các loại sổ riêng cho từng việc hộ tịch cụ thể: sổ đăng ký khai sinh, sổ đăng ký kết hôn, sổ đăng ký khai tử v.v…
Việc cấp các giấy tờ hộ tịch cho người dân cũng có sự khác nhau giữa các nước. Nếu như pháp luật hộ tịch một số quốc gia quy định bản chính giấy tờ hộ tịch là bản gốc (trong đó có Việt Nam) thì nhiều quốc gia lại quy định sổ đăng ký hộ tịch mới là bản gốc, còn các giấy tờ hộ tịch cấp cho người dân chỉ là bản sao (CHLB Đức, Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan). Xu hướng này là phổ biến ở nhiều quốc gia trên thế giới. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
Về nơi đăng ký hộ tịch: qua nghiên cứu pháp luật về hộ tịch ở một số nước: CH Pháp, CHLB Đức, Hàn Quốc, Nhật Bản v.v… cho thấy có sự quy định khác nhau, tùy vào đặc điểm về lịch sử, địa lý, cũng như cơ cấu bộ máy hành chính của các quốc gia mà mỗi quốc gia có sự quy định khác nhau về thẩm quyền đăng ký hộ tịch.
Nhưng đối với các nước phát triển: Pháp, CHLB Đức, CH Áo, Nhật Bản, Hàn Quốc v.v… thì người dân có thể đến bất cứ cơ quan nào, cấp nào để đăng ký hộ tịch, miễn là cơ quan đó có thẩm quyền đăng ký hộ tịch mà không phụ thuộc vào nơi cư trú của người có yêu cầu đăng ký hộ tịch. Cơ quan đăng ký hộ tịch (không phải nơi lưu trữ hộ tịch gốc của người dân) sau khi đăng ký hộ tịch phải thông báo về nơi quản lý hộ tịch gốc của người dân để nơi này cập nhật về thông tin về hộ tịch của người dân đó. Tuy nhiên ở một số nước trong đó có Việt Nam có sự phân biệt rò ràng nơi đăng ký hộ tịch, trong đó việc đăng ký hộ tịch thực hiện theo nơi cư trú.
Với việc pháp luật của Việt Nam quy định việc đăng ký hộ tịch theo nơi cư trú thì dẫn đến một bất cập trong trường hợp một người thay đổi nhiều nơi cư trú khác nhau, sẽ dấn đến tình trạng không quản lý được quá trình biến động về hộ tịch của công dân, nhất là hiện nay khi Việt Nam chưa có cơ sở dữ liệu chung về hộ tịch (kể cả trong phạm vi huyện, tỉnh).
Tiểu kết chương 1
Làm rõ những vấn đề lý luận về quản lý nhà nước về hộ tịch có ý nghĩ to lớn cho việc nghiên cứu đề tài: “Pháp luật về quản lý hộ tịch và thực tiễn quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng, huyện Tiên Lãng, Hải Phòng”. Trên cơ sở lý luận về đặc điểm, vai trò, nội dung, nguyên tắc của quản lý nhà nước về hộ tịch giúp nghiên cứu thực trạng quản lý về hộ tịch ở xã Đông Hưng một cách khoa học và đúng cách. Khóa luận: Pháp luật về quản lý hộ tịch tại UBND xã Đông Hưng.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
