Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo quy định của pháp luật Việt Nam – Lý luận và thực tiễn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài.
Xã hội ngày càng tiến bộ thì việc con người chúng ta bắt đầu quan tâm nhiều hơn đến các giá trị vật chất và đòi hỏi một sự khắt khe với những việc có thể mang lại lợi ích cũng như bất lợi cho cá nhân. Những giá trị vật chất đó được thể hiện một cách rõ ràng qua việc trao đổi và mua bán, nếu như trở lại những năm về trước việc trao đổi này được thể hiện qua việc trao đổi giữa vật và vật hoặc những thứ có giá trị tương đương thì ngày nay mọi thứ được quy hết về giá trị tiền tệ. Nhu cầu trao đổi, mua bán các vật phẩm, tài sản có giá trị lớn ngày một nhiều và trở nên phổ biến trong xã hội thì cũng là lúc một loại văn bản mang giá trị pháp lý ra đời: Đó là Hợp đồng giao dịch dân sự. Chủ đích của Hợp đồng giao dịch dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên chủ thể, các bên tham gia để từ đó nhằm bảo vệ tài sản, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng giao dịch dân sự. Nó cũng được coi là điều cần thiết của các loại hình văn bản pháp lý. Pháp luật về hợp đồng cũng đang ngày một xây dựng và hoàn thiện để đáp ứng nhu cầu thực tiễn của một xã hội tiến bộ.
Khi giao kết hợp đồng dân sự, các bên giao kết đều có nguyện vọng thực hiện xong hợp đồng. Thông thường, hợp đồng dân sự chấm dứt theo ý chí của các bên giao kết. Hợp đồng thông thường chấm dứt khi các bên đã thực hiện xong công việc, xong nghĩa vụ hợp đồng trong thời hạn đã thỏa thuận tại hợp đồng, khi các bên đều đã đạt được mong muốn, mục đích của mình, các nghĩa vụ đã được thực hiện toàn bộ, các quyền tương ứng đã được đáp ứng. Các bên kết thúc hợp đồng trong “vui vẻ” khi các bên đều đáp ứng được mục đích của nhau. Hợp đồng dân sự cũng có thể chấm dứt “giữa chừng” theo thỏa thuận của các bên khi nghĩa vụ trong hợp đồng chưa hoàn thành hay thời hạn của hợp đồng chưa hết. Tuy nhiên, còn có những hợp đồng dân sự kết thúc do ý chí của một bên. Trong nền kinh tế thị trường, đối tượng của hợp đồng, thời hạn, chủ thể, quyền và nghĩa vụ, cách thức thực hiện hợp đồng, sự kiện khách quan tác động tới hợp đồng rất đa dạng và phức tạp nên việc thực hiện hợp đồng không phải lúc nào cũng dễ dàng, suôn sẻ. Do đó, khi hợp đồng đang thực hiện, xảy ra việc một bên trong hợp đồng muốn (và cần) chấm dứt hợp đồng ngay để bảo vệ quyền lợi cho mình khi họ có quyền thì dù bên kia vẫn muốn tiếp tục thực hiện hợp dồng cũng không duy trì hợp đồng được, đó là đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng là cần thiết vì trong hợp đồng được giao kết, các bên đã xác lập quyền và nghĩa vụ với nhau, nghĩa vụ của bên này tương ứng với quyền của bên kia. Để đảm bảo quyền lợi của bên có quyền thì cần đề cao trách nhiệm của bên có nghĩa vụ. Khi hợp đồng đã giao kết, đang trong quá trình thực hiện mà vì lý do nào đó như: bên đối tác vi phạm hợp đồng hoặc vì lý do khách quan (không ai có lỗi), thậm chí cả trường hợp một bên thấy “không có lợi” thì một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng ấy, bởi vì nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi của chính họ hoặc người khác, cộng đồng. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng phải dựa trên cơ sở sự thỏa thuận của chính cá chủ thể hợp đồng ấy hoặc pháp luật có quy định. Quyền này có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi chính đáng cho chủ thể của hợp đồng dân sự và ngày càng được chú ý, quan tâm. Chính vì vậy, pháp luật về hợp đồng dân sự ở nước ta đã từng bước ghi nhận, hoàn thiện quy định về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự. Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự được quy định tại Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015, ngoài ra còn được quy định rải rác trong một số hợp đồng dân sự chuyên biệt trong Bộ luật dân sự hay lẻ tẻ trong một số văn bản pháp luật khác. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một văn bản quy phạm pháp luật nào quy định một cách rõ ràng, đầy đủ các về điều kiện, nguyên nhân, hậu quả, trình tự thủ tục đơn phương chấm dứt hợp đồng, chưa xây dựng nên những nguyên tắc cho vấn đề này. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự trên thực tiễn còn gặp nhiều bất cập, các bên chưa còn hiểu rõ quyền và nghĩa vụ của mình nên điều đó khiến cho việc thi hành cũng như áp dụng quy định còn gặp nhiều hạn chế cũng như xảy ra tranh cãi. Từ thực trạng nói trên, tác giả đã lựa chọn đề tài “Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật Việt Nam – Lý Luận và thực tiễn” làm luận văn tốt nghiệp để phân tích cũng như làm rõ về khái niệm, nguyên tắc, điều kiện và hậu quả phát sinh về vấn đề này để các bên có thể tự bảo vệ quyền lợi của mình cũng như giúp các cơ quan có thẩm quyền xem xét và giải quyết các vụ việc có liên quan.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài.
Sau khi lựa chọn đề tài trên, nhận thấy tính cấp thiết cũng như mức độ quan trọng của đề tài, tác giả tìm hiểu được một số bài viết cũng như công trình nghiên cứu đã được công bố trên mạng internet. Cụ thể như sau:
“Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo pháp luật dân sự Việt Nam”, Luận văn thạc sĩ học – Nguyễn Thị Ngọc Oanh (2010); Luận văn đã làm sáng tỏ những vấn đề lý luận cơ bản về đơn phương chấm dứt hợp đồng, phân tích sâu về đơn phương chấm dứt hợp đồng có sự vi phạm của bên đối tác và đơn phương chấm dứt hợp đồng không có sự vi phạm của bên đối tác theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005. Tuy nhiên, luận văn chưa tập trung đi sâu phân tích và đánh giá thực trạng quy định của Bộ luật dân sựu hiện hành về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo các góc độ khác nhau
“Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005”, Luận văn thạc sĩ học – Đoàn Việt Dũng (2011); Luận văn đã làm rõ về các vấn đề cơ bản của đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự năm 2005, phân tích về quyền đơn phương, hậu quả pháp lý cũng như các quy trình, thủ tục liên quan đến vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên, Bộ luật dân sự năm 2005 đã được thay thế bằng Bộ luật dân sự năm 2015, vì vậy luận văn không còn phù hợp với thời điểm hiện tại.
“Hoàn thiện quy định về trách nhiệm của người sử dụng lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật”, nghiên cứu lập pháp, Văn phòng Quốc hội – Trần Hoàng Hải, Đỗ Hải Hà (2011); Bài viết tập trung vào vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật của người lao đồng nên không đủ bao quát toàn bộ vấn đề của đơn phương chấm dứt hợp đồng.
“Bình luận khoa học những điểm mới mẻ của Bộ luật Dân sự 2015”, Nhà xuất bản Hồng Đức, Hà Nội – Đỗ Văn Đại (2016); Bài viết nhận xét một cách khách quan về hợp đồng, cũng như giải thích rõ tính hơp pháp cũng như sự phù hợp của hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, tác giả lại không đi sâu vào vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng, sự phát triển của đơn phương chấm dứt hợp đồng trong Bộ luật Dân sự năm 2015 so với các bộ luật trước đấy.
“Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ học – Nguyễn Lê Tân Huy, 2018. Luận văn mang tính chất khách quan cao, làm rõ các vấn đề cơ bản của đơn phương chấm dứt hợp đồng, đồng thời cũng nêu rõ thực trạng của quy định đơn phương chấm dứt hợp đồng hiện nay.
“Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người lao động theo pháp luật lao động Việt Nam hiện nay”, Luận văn thạc sĩ học – Nguyễn Duy Vinh Quang, Luận văn chỉ mang được một trong những lĩnh vực của dân sự là lao đồng nên phạm vi còn hẹp, chưa bao quát được toàn bộ vấn đề trong Bộ luật dân sự. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Đây là một số công trình nghiên cứu cũng như bài viết mang tính chất tổng hợp cũng như làm rõ được các vấn đề trong đơn phương chấm dứt hợp đồng. Tác giả lựa chọn nghiên cứu đề tài này để mang cái nhìn khách quan cũng như lựa chọn cách thức dễ tiếp cận hơn cho mọi người tuy nhiên cũng sẽ phân tích các vấn đề liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu đề tài
Mục đích nghiên cứu của đề tài đưa ra, phân tích và làm sáng tỏ các quy định hiện hành về chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự, thực trạng pháp luật Việt Nam về đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng cũng như những bất cập trong thực tiễn xử lý các vụ việc có liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng. Qua đó, luận văn sẽ đề xuất một số phương hướng hoàn thiện các quy định hiện hành về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
Với mục đích nghiên cứu nên trên, nhiệm vụ nghiên cứu đề tài sẽ tập trung làm rõ một số vấn đề như sau:
- Thứ nhất: Nghiên cứu các vấn đề lý luận liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự như: lịch sử hình thành, khái niệm, đặc điểm của đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự, nội dung của đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự, căn cứ và hệ quả pháp lý của đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
- Thứ hai: Phân tích, làm rõ các quy định của pháp luật Việt Nam hiện hành về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
- Thứ ba: Nêu lên thực trạng áp dụng quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng hiện nay. Đồng thời viện dẫn, phân tích các bản án có liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự trên thực tế.
- Thứ tư: Dựa trên cơ sở lý luận, phân tích cá nhân cũng như thực trạng về chế tài đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự, tác giả đưa ra một số đề xuất về phương phướng hoàn thiện các quy định pháp luật hiện hành cũng như cơ chế bảo đảm thực hiện thiện các quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là các quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự; thực trạng việc áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự 2015 về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự và các phương hướng cải thiện, biện pháp sửa đổi bổ sung quy định của pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài bao gồm: – Các vấn đề lý luận cơ bản về ĐPCDHĐDS như: khái niệm, đặc điểm, phân loại, trình tự, hậu quả của ĐPCDHĐDS; so sánh ĐPCDHĐDS với hủy bỏ HĐDS, so sánh ĐPCDHĐDS với ĐPCDHĐ khác. – Phân tích thực trạng các quy định của BLDS năm 2005 về ĐPCDHĐDS có so sánh với các văn bản pháp luật nước ta và nước ngoài có liên quan – Đề xuất và kiến nghị hoàn thiện các quy định của BLDS về ĐPCDHĐ.
Phạm vi nghiên cứu của luận văn là cơ sở lý luận về đơn phương chấm dứt hợp đồng thực hiện hợp đồng dân sự, phân tích các quy định của pháp luật hiện hành. Trong đó, tác giả sẽ chủ yếu nghiên cứu trong phạm vi Bộ luật Dân sự 2015, Bộ luật Dân sự 2005 đồng thời tham khảo thêm các ấn phẩm nghiên cứu, phân tích, các luật chuyên ngành khác và một số văn bản pháp luật (nếu có). Trong phạm vi của đề tài, tác giả cũng sẽ nêu lên thực trạng, đưa ra giải pháp, nêu ra đề xuất, kiến nghị để góp phần hoàn thiện các quy phạm pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
5. Phương pháp nghiên cứu đề tài.
Trong quá trình nghiên cứu, tác giả đã sử dụng một số phương pháp như: diễn giải, phân tích, suy luận logic, tổng hợp, bình luận, đối chiếu, so sánh,… để làm rõ những vấn đề nghiên cứu trong phạm vi của đề tài.
Đồng thời, tác giả cũng sưu tầm một số bản án thực tế về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
6. Những điểm mới của đề tài.
Luận văn là công trình nghiên cứu có tính hệ thống những vấn đề liên quan đến đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
Trong luận văn có những điểm mới sau đây: Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
- Về ý nghĩa lý luận: Tập trung phân tích, đánh giá thực trạng quy định của BLDS năm 2015 về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự, so sánh với quy định của pháp luật dân sự nước ta trước đó và quy định của pháp luật một số nước về vấn đề này
- Về ý nghĩa thực tiễn: Đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định của BLDS về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
7. Cấu trúc của luận văn.
Luận văn gồm 3 chương chính:
- Chương 1: Những vấn đề lý luận cơ bản về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
- Chương 2: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo quy định của Bộ luật dân sự 2015.
- Chương 3: Đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG DÂN SỰ
1.1. Khái quát về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
1.1.1. Khái niệm về hợp đồng dân sự.
Trong cuộc sống hàng ngày, để đáp ứng nhu cầu của mình chúng ta thiết lập với nhau những trao đổi, giao dịch thông qua các hình thức khác nhau. Trong các hình thức giao dịch đó có một hình thức pháp lý gọi là hợp đồng. Trong xã hội hiện đại và ngày càng hội nhập với thế giới hiện nay, hình thức pháp lý này ngày càng thể hiện được vai trò quan trọng của mình trong việc xác lập, rằng buộc, điều chỉnh các giao dịch dân sự, thương mại, đặc biệt là trong trao đổi hàng hoác, dịch vụ giữa các cá nhân, doanh nghiệp với nhau, thúc đẩy nền kinh tế phát triển mạnh mẽ hơn.
Do đó, nghiên cứu về pháp luật về hợp đồng là điều rất cần thiết và quan trọng. Với phạm vi của hợp đồng, tác giả xin đề cập đến một khía cạnh trong pháp luật của hợp đồng – Đó là vấn đề đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự. Để tìm hiểu về vấn đề này, trước tiên chúng ta nên tìm hiểu thế nào là hợp đồng dân sự, đặc điểm của hợp đồng dân sự, quyền và nghĩa vụ các bên trong hợp đồng dân sự. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cũng như mỗi tổ chức phải tham gia nhiều mối quan hệ xã hội khác nhau. Trong đó, việc các bên thiết lập với nhau những quan hệ để qua đó chuyển giao cho nhau các lợi ích vật chất nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng, đóng một vai trò quan trọng, là một tất yếu đối với mọi đời sổng xã hội. Tuy nhiên, việc chuyển giao các lợi ích vật chất đó không phải tự nhiên hình thành bởi tài sản (vốn là hiện thân của các lợi ích vật chất) không thể tự tìm đến với nhau để thiết lập các quan hệ. Các quan hệ tài sản chỉ được hình thành từ những hành vi có ý chí của các chủ thể. C.Mác nói rằng: “Tự chúng, hàng hóa không thể đi đến thị trường và trao đổi với nhau được. Muốn cho những vật đó trao đổi với nhau thì những người giữ chúng phải đối xử với nhau như những người mà ý chí nằm trong các vật”. Mặt khác, nếu chỉ có một bên thể hiện ý chí của mình mà không được bên kia chấp nhận cũng không thể hình thành một quan hệ để qua đó thực hiện việc chuyển giao tài sản hoặc làm một công việc đối với nhau được. Do đó, chỉ khi nào có sự thể hiện và thống nhất ý chí giữa các bên thì quan hệ trao đổi lợi ích vật chất mới được hình thành. Quan hệ đó được gọi là hợp đồng dân sự. Như vậy, cơ sở đầu tiên để hình thành một hợp đồng dân sự là việc thoả thuận bằng ý chí tự nguyện của các bên. Tuy nhiên, hợp đồng đó chỉ có hiệu lực pháp luật (chỉ được pháp luật công nhận và bảo vệ) khi ý chí của các bên phù hợp với ý chí của Nhà nước. Các bên được tự do thoả thuận để thiết lập hợp đồng nhưng sự “tự do” ấy phải được đặt trong giới hạn bởi lợi ích của người khác, lợi ích chung của xã hội và trật tự công cộng. Nếu để các bên tự do vô hạn thì hợp đồng dân sự sẽ trở thành phương tiện để kẻ giàu bóc lột người nghèo và sẽ là nguy cơ đối với lợi ích chung của xã hội. Vì vậy, phải đi xa hơn nữa trong vấn đề tăng cường sự can thiệp của nhà nước vào các “quan hệ pháp luật tư”, các việc dân sự… không được bỏ qua một khả năng tối thiểu nào để mở rộng sự can thiệp của nhà nước vào những quan hệ dân luật”. Khi ý chí của các bên trong hợp đồng phù hợp với ý chí của Nhà nước thì hợp đồng dân sự có hiệu lực như pháp luật đối với các bên giao kết. Nghĩa là, từ lúc đó, các bên đã tự nhận về mình những nghĩa vụ pháp lí nhất định. Sự “can thiệp” của nhà nước không những là việc buộc các bên phải giao kết hợp đồng phù hợp với lợi ích chung và đạo đức xã hội mà còn buộc các bên phải thực hiện họp đồng đúng với những cam kết mà họ đã thoả thuận. Theo nội dung đã cam kết, dưới sự hỗ trợ của pháp luật, các bên phải thực hiện đối với nhau các quyền và nghĩa vụ dân sự.
Khái niệm về hợp đồng dân sự cần phải được xem xét ở nhiều phương diện khác nhau. Theo phương diện khách quan thì hợp đồng dân sự là do các quy phạm pháp luật của Nhà nước ban hành nhàm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình dịch chuyên các lợi ích vật chất giữa các chủ thể với nhau.
Theo phương diện chủ quan, hợp đồng dân sự là một giao dịch dân sự mà trong đó các bên tự trao đổi ý chí với nhau nhằm đi đến sự thoả thuận để cùng nhau làm phát sinh các quyền và nghĩa vụ dân sự nhất định. Theo phương diện này, họp đồng dân sự vừa được xem xét ở dạng cụ thể vừa được xem xét ở dạng khái quát. Điều 1 Pháp lệnh hợp đồng dân sự năm 1991 định nghĩa cụ thể như sau: “hợp đồng dân sự là sự thoả thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một việc hoặc không làm một việc, dịch vụ hoặc các thoả thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng“. Sự liệt kê cụ thể bao giờ cũng roi vào tình trạng không đầy đủ và để quy định của pháp luật có thể bao trùm được toàn bộ các hợp đồng dân sự xảy ra trong thực tế, Điều 385 Bộ luật dân sự 2015 đã định nghĩa nó ở dạng khái quát hơn: “Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự”. Như vậy, hợp đồng dân sự không chỉ là sự thoả thuận để một bên chuyển giao tài sản, thực hiện một công việc cho bên kia mà có thể còn là sự thoả thuận để thay đổi hay chấm dứt các nghĩa vụ đó. Tuy nhiên, hợp đồng dân sự và pháp luật về hợp đồng dân sự là hai khái niệm không đồng nhất với nhau. Hợp đồng dân sự theo nghĩa chủ quan là một quan hệ xã hội được hình thành từ sự thoả thuận của các bên để thoả mãn nhu cầu trao đổi trong giao lưu dân sự. Còn pháp luật về hợp đồng dân sự là sự thừa nhận, là yêu cầu của nhà nước đối với các giao lưu dân sự đó. Các bộ cổ luật đã từng tồn tại ở Việt Nam (như Bộ luật Hồng Đức, Bộ luật Gia Long) không có quy định riêng về hợp đồng[6]. Nghĩa là, trong các thời kì đó, ở Việt Nam chưa có “luật riêng” về hợp đồng dân sự, mặc dù trong thực tế hình thành rất nhiều quan hệ hợp đồng giữa các chủ thể với nhau. Các quy định của hợp đồng không nhiều, chủ yếu quy định về mua bán cho vay, ngoài ra, các nguyên tắc chung về giao kết thực hiện hợp đồng được quy định xen kẽ trong các quy định hình sự. Hành vi phạm họp đồng là hành vi vi phạm pháp luật, cho nên người vi phạm phải chịu trách nhiệm hình sự.
1.1.2. Đặc điểm của hợp đồng dân sự. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều bên, nhưng là sự thỏa thuận thống nhất ý chí và ý chí đó phải phù hợp với ý chí của Nhà nước. Hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận giữa hai hoặc nhiều người mà tạo lập nên một nghĩa vụ làm hoặc không làm một việc cụ thể, nếu chỉ là ý chí của một bên thì đó được gọi là hành vi pháp lý đơn phương. Tuy nhiên, thỏa thuận không dựa trên sự tự nguyện của các bên, tức là không có sự thống nhất ý chí thì hợp đồng dân sự đó bị tuyên vô hiệu khi có yêu cầu. Nguyên tắc của pháp luật dân sự là bình đẳng, dựa trên sự thỏa thuận, tự nguyện, thiện chí của các bên nên nếu không có sự thống nhất ý chí thì không được coi là hợp đồng dân sự. Chỉ khi thống nhất ý chí thì quyền và nghĩa vụ dân sự mới phát sinh. Đồng thời, sự thỏa thuận thống nhất ý chí còn phải phù hợp với ý chí của Nhà nước để Nhà nước kiểm soát và cho phép Hợp đồng dân sự phát sinh trên thực tế.
Hợp đồng dân sự là một sự kiện pháp lý làm phát sinh hậu quả pháp lý: Xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể. Sự kiện pháp lý là sự kiện hoặc hành vi mà pháp luật quy định khi xuất hiện thì sẽ xác lập, thay đổi hay chấm dứt quan hệ pháp luật. Hợp đồng dân sự là một sự kiện pháp lý, theo đó các bên khi có nhu cầu tham gia giao lưu dân sự nhằm thỏa mãn mục đích của mình sẽ tiến hành thực hiện.
Nghĩa vụ dân sự được phát sinh từ hai nguồn gốc là hành vi pháp lý hoặc sự kiện pháp lý. Sự kiện pháp lý bao gồm các sự kiện, hoặc tự nguyện (như vi phạm) hoặc không tự nguyện; hợp pháp hoặc không hợp pháp mà hậu quả pháp lý cụ thể của chúng được xác định không phải bởi các bên mà bởi pháp luật. Tự nguyện trong sự kiện pháp lý chỉ là tự nguyện đối với hậu quả thiệt hại chứ không tự nguyện đối với hậu quả pháp lý.
Hành vi pháp lý là một sự thể hiện ý chí nhằm làm phát sinh ra một hậu quả pháp lý, có nghĩa là làm phát sinh, thay đổi hay chấm dứt một quyền lợi. Sự thể hiện ý chỉ có thể là đơn phương (như đề nghị giao kết hợp đồng) hoặc có thể là đa phương, hay còn gọi là sự thống nhất ý chí, có nghĩa là sự thỏa thuận, mà sự thỏa thuận có mục đích xác lập, thay đổi hay chấm dứt quyền lợi được gọi là hợp đồng. Vậy nên hợp đồng thường được định nghĩa là sự thỏa thuận giữa hai hay nhiều người xác lập nhằm thay đổi, chấm dứt quyền và nghĩa vụ dân sự của các bên chủ thể. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Mục đích hướng tới của các bên khi tham gia hợp đồng là để xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự. Quyền và nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng có phạm vi rất rộng, trước đây trong Điều 1 Pháp lệnh hợp đòng dân sự ngày 29/4/1991 quy định hợp đồng dân sự là sự thỏa thuận của các bên về xác lập, thay đổi hay chấm dứt các quyền và nghĩa vụ của các bên trong mua bán, thuê, vay, mượn, tặng, cho tài sản, làm một hoặc không làm công việc, dịch vụ hoặc các thỏa thuận khác mà trong đó một hoặc các bên nhằm đáp ứng đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, tiêu dùng. Theo quy định của pháp luật hiện hành thì không liệt kê cụ thể các quyền và nghĩa vụ đó tuy nhiên về bản chất thì các quyền và nghĩa vụ mà các bên hướng tới khi giao kết, thực hiện hợp đồng là những quyền và nghĩa vụ để đáp ứng, thỏa mãn nhu cầu trong sinh hoạt, tiêu dụng đó cũng chính là một trong những đặc điểm cơ bản để phân biệt giữa hợp đồng dân sự với các hợp đồng kinh tế, thương mại. Yếu tố này giúp phân biệt hợp đồng dân sự với hợp đồng kinh tế. Mục đích của hợp đồng kinh tế khi các bên chủ thể tham gia là mục đích kinh doanh nhằm phát sinh lợi nhuận trong khi đó, hợp đồng dân sự các bên tham gia nhằm thỏa mãn như cầu sinh hoạt, tiêu dùng.
- Nội dung của hợp đồng dân sự là quyền và nghĩa vụ mà các bên chủ thể quy định cho nhau.
Hợp đồng là sự thống nhất của ý chí các chủ thể tham gia giao kết, nội dung của hợp đồng thể hiện rõ ý chỉ đó của các bên trong phần quyền và nghĩa vụ cụ thể. Vì vậy, hợp đồng ít nhất phải có hai bên chủ động cùng nhau tạo lập một quan hệ nghĩa vụ pháp lý cụ thể. Nếu phân tích hợp đồng từ các lời hứa hay sự cam kết, thì hợp đồng có thể được xem là một phương thức mà theo đó người này thương lượng với người khác để có thể tạo ra sự đảm bảo rằng những lời hứa hay sự cam kết của họ có đời sống dài lâu hơn so với những trạng thái dễ thay đổi trong suy nghĩ của họ. Điều này nghĩa là khi đã cam kết thực sự và mong muốn tạo lập ra một hậu quả pháp lý, những người cam kết bị ràng buộc vào cam kết của mình (trừ trường hợp trở ngại khách quan, bất khả kháng) mà pháp luật gọi đó là nghĩa vụ.
1.2. Nguyên tắc cơ bản trong hợp đồng dân sự. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự trong BLDS năm 2015, có thể rút ra hai nguyên tắc cơ bản của luật tư là nguyên tắc tự do ý chí (khoản 2) và nguyên tắc thiện chí (khoản 3). Trong đó, nguyên tắc tự do ý chí là cơ sở cho hai tiểu nguyên tắc của nó là nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng và tự do ý chí có sự giới hạn bởi các trật tự công cộng (khoản 4). Điều 5. Áp dụng tập quán của Bộ luật tuy không được coi là “nguyên tắc cơ bản” của pháp luật dân sự, nhưng ở cấp độ chế định hợp đồng, nó là một quy định chung mang tính khái quát áp dụng cho cả chế định thì vẫn nên được coi là nguyên tắc cơ bản của pháp luật về hợp đồng. Như vậy, pháp luật hợp đồng Việt Nam có ba nguyên tắc cơ bản: nguyên tắc tự do ý chí, nguyên tắc thiện chí và nguyên tắc áp dụng tập quán.
1.2.1. Nguyên tắc tự do ý chí hay tự do hợp đồng
Nguyên tắc tự do ý chí trong pháp luật hợp đồng được hiểu là các bên được tự do giao kết hợp đồng hay thỏa thuận về việc xác lập quyền và nghĩa vụ dân sự theo ý chí của mình miễn là nó không trái với trật tự công cộng. Nguyên tắc này khi chiếu vào việc thực hiện nghĩa vụ dân sự phát sinh từ hợp đồng lại mang một sắc thái khác, làm phát sinh một tiểu nguyên tắc là nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng. Theo một số tài liệu mà tác giả đọc được, nguyên tắc tự do ý chí trong luật hợp đồng là một sản phẩm lịch sử của các lý thuyết về tự do thế kỷ 18, ảnh hưởng mạnh mẽ đến các BLDS của Pháp và Đức, gián tiếp ảnh hưởng tới pháp luật hợp đồng của Việt Nam. Lý thuyết này ủng hộ tự do ý chí vô giới hạn vì tin rằng sự tự do thương lượng giữa các cá nhân với nhau để ràng buộc chính mình sẽ mang lại công bằng và sự tự do cạnh tranh sẽ mang lại sự thịnh vượng về kinh tế[11], đã dẫn tới hệ quả là coi hợp đồng và hành vi pháp lý đơn phương là một nguồn gốc quan trọng của nghĩa vụ (đề cao nghĩa vụ dân sự thay vì nghĩa vụ pháp định) vì nó đến từ chính ý chí của chủ thể bị ràng buộc. Đó cũng là hai căn cứ phát sinh nghĩa vụ đầu tiên trong BLDS Việt Nam năm 2015 tại Điều 275.
Một người có quyền tự do giao kết hợp đồng, nghĩa là tự do quyết định mình sẽ bị ràng buộc như thế nào. Và một khi đã tuyên bố ý chí về sự tự ràng buộc thì người đó không còn được tự do thực hiện nghĩa vụ nữa, mà sẽ bị cưỡng chế thực hiện. Hiệu lực ràng buộc của hợp đồng còn được gọi dưới cái tên Latin pacta sunt servanda, được hiểu đơn giản là “cam kết phải được tôn trọng”[10]. Khoản 2 Điều 3 Bộ luật Dân sự Việt Nam năm 2015 quy định về nguyên tắc tự do ý chí như sau: “Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”. Thứ nhất, việc gộp chung nhóm xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền đều đặt trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận có thể tạo ra rủi ro pháp lý khi một người có thể tự do thực hiện và chấm dứt nghĩa vụ dân sự của mình chứ không phải là sự ràng buộc phải thực hiện nghĩa vụ dân sự đó. Có lẽ khi áp dụng, các thẩm phán cần hiểu cụm từ “trên cơ sở” một cách linh hoạt. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Thứ hai là sự mở rộng tự do ý chí của các bên gây ra sự mâu thuẫn trong chính bộ luật. BLDS năm 2005 ở Điều 4 quy định “Cam kết, thoả thuận hợp pháp có hiệu lực bắt buộc thực hiện đối với các bên và phải được cá nhân, pháp nhân, chủ thể khác tôn trọng”. Sự thay đổi thuật ngữ từ “hợp pháp” thành “không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội” khiến khoản 2 Điều 3 BLDS Việt Nam năm 2015 có thể bỏ qua quy định về những điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mà vẫn công nhận hiệu lực của hợp đồng. Chẳng hạn điều kiện về hình thức phải công chứng. Một hợp đồng theo luật phải công chứng mới có hiệu lực, thì có thể coi sự không công chứng là vi phạm điều cấm của luật hay không? Có thể thấy quy định này chưa chú ý đến sự khác biệt giữa nội hàm của các cụm từ “trái pháp luật”, “không hợp pháp” và “vi phạm điều cấm của luật”.
Thứ ba là sự bỏ đi từ “bắt buộc” trong cụm từ “hiệu lực bắt buộc thực hiện”, khiến cụm từ “hiệu lực thực hiện” không rõ nghĩa. Sự ràng buộc thực hiện đến từ sự tự do ý chí và là một yếu tố quan trọng của hợp đồng nói riêng và hành vi pháp lý nói chung. Vì vậy cần nhấn mạnh sự ràng buộc ở trong nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.
1.2.2. Nguyên tắc thiện chí
“Thiện chí” bắt nguồn từ thuật ngữ Latin “bona fide”, trong tiếng Anh là “good faith”, là thuật ngữ trừu tượng và chỉ được làm rõ nghĩa khi gắn chặt với hoàn cảnh cụ thể của một ứng xử cụ thể[10]. Thiện chí không được định nghĩa bởi luật, mang nghĩa về mặt luân lý nhiều hơn với liên hệ gần gũi về sự trung thực, không có sự ác ý hay tư lợi bất chính.
Điều 6 BLDS năm 2005 quy định về nguyên tắc thiện chí như sau: “Trong quan hệ dân sự, các bên phải thiện chí, trung thực trong việc xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự, không bên nào được lừa dối bên nào”. Khoản 2 Điều 3 BLDS năm 2015 đã lược bớt đoạn “không bên nào được lừa dối bên nào” ra khỏi nguyên tắc thiện chí: “Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực”.
Nguyên tắc thiện chí ở BLDS năm 2005 nhấn mạnh về yếu tố phi lừa dối của sự thiện chí, tức là cách thức hành xử chứ không nhấn mạnh vào động cơ hay mục đích của hành vi. Còn theo quy định mới của BLDS năm 2015 về nguyên tắc thiện chí rằng, nguyên tắc này chưa đủ lớn khi không đề cập tới thiện chí trong giải quyết tranh chấp và trong một số trường hợp đặc biệt khác[3]. Sự bổ sung thêm vào nguyên tắc rằng giai đoạn chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự, các bên cũng phải tuân thủ nghĩa vụ thiện chí có thể coi là một nỗ lực khái quát hóa thiện chí cho tất cả các giai đoạn của một hợp đồng, nhưng không nhắc đến thiện chí trong việc giải quyết tranh chấp mà bao gồm nhiều phương thức khác nhau từ thương lượng, hòa giải đặc biệt cần sự thiện chí, đến trọng tài, tòa án thì vẫn còn thiếu sót. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Vì nội hàm của thuật ngữ “thiện chí” không rõ ràng, cần phải giải nghĩa trong những trường hợp cụ thể nên việc xác định nội dung của nguyên tắc thiện chí cần phải được giao cho tòa án. Ngày nay các tòa án ở Hoa Kỳ có khuynh hướng tiếp cận học thuyết về sự thiện chí theo hai khía cạnh về sự công bằng và khía cạnh kinh tế học. Tương đồng như vậy, Vũ Văn Mẫu nhận xét rằng, một sự thi hành thành ý không thể trái với sự công bằng. Còn về mặt kinh tế, khi sự thi hành quá thiệt cho trái chủ và quá lợi cho người thụ trái thì bị coi là không thành ý.
Trong lĩnh vực luật hợp đồng, đặc biệt là ở giai đoạn giao kết, nguyên tắc thiện chí được giải thích gần gũi với nguyên tắc tự do ý chí, có nghĩa là việc xác lập hợp đồng và các điều kiện của nó phụ thuộc vào ý chí của các bên. Trong giai đoạn thực hiện hợp đồng, nguyên tắc này có thể không gắn với ý chí của các bên lúc đầu mà lại gắn với sự công bằng về lợi ích giữa các bên hoặc với việc chấp nhận sự thực hiện chủ yếu chứ không phải thực hiện đúng và đầy đủ các nghĩa vụ của hợp đồng, thiện chí là sự thông cảm cho những thiếu sót khi thực hiện nghĩa vụ của đối phương. Đặc biệt sự vận dụng nguyên tắc này trong một số hoàn cảnh đặc thù có thể coi là tạo ra ngoại lệ cho nguyên tắc hiệu lực ràng buộc của hợp đồng, đó là trong trường hợp thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi (hardship).
1.2.3. Nguyên tắc áp dụng tập quán Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Nguyên tắc này trong khoa học pháp lý được một số học giả đề cập như là một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật hợp đồng nói riêng và pháp luật dân sự nói chung. Một nền pháp luật theo hệ thống dân luật thường có hai nguồn cơ bản là luật thành văn và tập quán pháp. Bộ luật Dân sự năm Việt Nam đặt thứ tự ưu tiên áp dụng của tập quán chỉ sau thỏa thuận của các bên và luật thành văn. Tập quán đóng vai trò quan trọng trong việc bổ khuyết những khoảng trống hay giải thích những vấn đề chưa rõ ràng của hợp đồng, nếu pháp luật thực định cũng không có giải pháp cho vấn đề đó. Định nghĩa về tập quán trong khoản 1 Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015 nêu ra ba đặc điểm chính yếu của tập quán, đó là có nội dung rõ ràng đủ để xác định quyền và nghĩa vụ của chủ thể, được hình thành và lặp đi lặp lại nhiều lần trong thời gian dài và được mọi người cùng thừa nhận như là những quy tắc ràng buộc. Theo khoản 2 Điều 5 Bộ luật Dân sự năm 2015 thì hai điều kiện để áp dụng tập quán là:
- Thiếu vắng giải pháp cho vấn đề pháp lý từ các nguồn gốc nghĩa vụ có tính ưu tiên cao hơn là sự thỏa thuận và quy định pháp luật;
- Tập quán không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự.
Có lẽ chính vì yếu tố thứ hai nên nhà làm luật Việt Nam đã không xếp quy định áp dụng tập quán vào những nguyên tắc cơ bản của Bộ luật hay của pháp luật dân sự nói chung.
Quy định chung về áp dụng tập quán tuy đã được công nhận từ lâu nhưng vấn đề chính yếu của nguyên tắc này là cụ thể hóa nó. Sự áp dụng tập quán có đặc điểm khác biệt đặc thù với các áp dụng các nguồn pháp luật khác như luật và án lệ, bởi lẽ nó không “thành văn” cả về nghĩa pháp lý và nghĩa thông dụng. Tập quán có khi không được ghi nhận trong một văn bản nào cả mà chỉ là một quy tắc được nhiều người ngầm định tuân thủ. Trong một tranh chấp cần viện đến tập quán tất yếu sẽ xuất hiện vấn đề chứng minh tập quán. Như vậy cần có những quy định chi tiết để hướng dẫn các tòa án trong việc đánh giá tính xác thực của những quy phạm được các bên viện dẫn xem chúng có đáp ứng đủ điều kiện của một tập quán hay không, bên nào có nghĩa vụ chứng minh tập quán, v.v.. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Khái niệm đơn phương chấm dứt hợp đồng. Đặc điểm của đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Khái niệm của đơn phương chấm dứt hợp đồng
Khi đề cập đến từ “đơn phương” , chúng ta thường hiểu là sự biểu lộ, sự mong muốn từ một phía. Để tìm hiểu về “đơn phương”, tác giả xin được trích dẫn một số định nghĩa tại một cuốn “Từ điển tiếng Việt”. Theo đó, đơn phương có nghĩa là “từ một bên, không có sự thỏa thuận hoặc tham gia của bên đối địch”. Việc giải thích như vậy không thể giải quyết được toàn bộ ý nghĩa của từ “đơn phương” vì không phải lúc nào bên kia cũng là bên đối địch. Theo một cuốn từ điển năm 2004, giải thích về từ “đơn phương” như sau”: Đây là một tính từ có tính chất của một bên, phân biệt với song phương. Việc giải thích như vậy tuy rằng có phần sát nghĩa hơn nhưng mà vẫn hạn chế vì mục đích, ý chí của một bên và không chỉ phân biệt với “song phương” mà còn phân biệt với “đa phương”.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự trước hết là việc chấm dứt hợp đồng dân sự theo ý chí của “riêng một bên”[15]. Đây là hành động có ý chí, ý chí đó thể hiện sự mong muốn, nguyện vọng của bên có hành động đơn phương. Hợp đồng dân sự cũng giống như các sự vật, hiện tượng nói chung trong thế giới vật chất, trải qua quá trình phát sinh, phát triển và chấm dứt nhưng giao kết hợp đồng dân sự là hành vi của cá nhân có đầy đủ năng lực hành vi dân sự nên việc giao kết, thực hiện và chấm dứt hợp đồng dân sự phát sinh từ những hành vi có ý thức của các bên giao kết. Hành vi có ý thức đó có khi do hai bên cùng thống nhất, có khi là do ý chí của một bên nhưng ý chí đó phải “đúng”. Vì thế mà bên kia mới chấp nhận. Nếu việc chấm dứt hợp đồng do hai bên cùng thỏa thuận khi hợp đồng đang thực hiện thì không phải là Đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Việc chấm dứt hợp đồng dân sự do một bên mong muốn, yêu cầu diễn ra “nửa chừng” khi hợp đồng dân sự đã giao kết, đang trong quá trình thực hiện, chưa thực hiện xong nghĩa vụ hợp đồng và chưa hết thời hạn hợp đồng. Khi hợp đồng dân sự giao kết, đang trong quá trình thực hiện, chưa thực hiện xong nghĩa vụ hợp đồng và chưa hết thời hạn hợp đồng. Khi giao kết hợp đồng dân sự, hai bên đều có mục đích nhất định, hướng tới lợi ích nhất định nên đều mong muốn hợp đồng đó được thực hiện xong với những nghĩa vụ được hoàn thành, những quyền lợi tương đương được đáp ứng. Nhưng chấm dứt hợp đồng dân sự do đơn phương yêu cầu là chấm dứt “nửa chừng” – chấm dứt khi đã thực hiện được “một phần” những gì thỏa thuận, kể cả nghĩa vụ và thời hạn; hợp đồng đã giao kết, đang thực hiện nhưng chưa xong thì chấm dứt, còn đang dang dở so với thỏa thuận ban đầu. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Ý chí chấm dứt hợp đồng “nửa chừng” của một bên nào đó phải “đúng”, tức là bên đó có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Quyền đó thể hiện bên đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự được làm như vậy và bên kia không được phản đối, cản trở. Khoản 1 Điều 29 Pháp lệnh năm 1991 quy định như sau: “Một bên có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng theo điều kiện mà các bên đã thỏa thuận trong hợp đồng hoặc do pháp luật quy định”. Sau đó Bộ luật dân sự 1995 quy định quy định tại khoản 1 Điều 420: “Một bên có quyền đơn phương đình chỉ thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện đình chỉ mà các bên đã thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Năm 2005, Bộ luật dân sự quy định quyền này tại khoản 1 Điều 426: “Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật quy định”. Khoản 1 Điều 428 Bộ luật dân sự 2015 quy định như sau về đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự: “Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định”. Như vậy, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự được ghi lại trong bốn văn bản quy phạm pháp luật chủ yếu của ngành luật dân sự trong từng thời kỳ khác nhau, đều khẳng định quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự có được do thỏa thuận trong hợp đồng hoặc pháp luật quy định. Trên cơ sở đó, nếu ở điều kiện, hoàn cảnh đã thỏa thuận hoặc pháp luật quy định một bên có quyền đơn phương chấm dứt họp đồng dân sự thì bên đó có quyền này, ý chí của bên đó là đúng và bên kia buộc phải chấp nhận, nghĩa là sự đồng ý của bên còn lại là không cần thiết, mọi thỏa thuận đều không còn mang tính chất ràng buộc, các bên không phải tiếp tục thực hiện hợp đồng. Một trong hai cơ sở của quyền này là sự thỏa thuận từ trước khi giao kết hợp đồng dân sự, có nghĩa nó xuất phát từ ý chí của các bên tham gia hợp đồng. Khi giao kết hợp đồng dân sự, các bên đã thống nhất ý chí là trong những trường hợp nhất định thì một bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng, vì “hợp đồng dân sự là là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi và chấm dứt các quyền và nghĩa vụ dân sự” nên việc thỏa thuận chấm dứt hợp đồng dân sự luôn được coi trọng. Do đó, quyền đơn phương chấm dứt từ sự thỏa thuận khi giao kết được ghi nhận, Ngoài sự thỏa thuận, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng còn được dựa trên cơ sở của quy định pháp luật. Theo quy định tại Bộ luật dân sự 2015, thì quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng phát sinh khi một trong hai bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng dân sự. Điều này làm ảnh hưởng đến quyền lợi và nghĩa vụ của bên còn lại trong quá trình thực hiện hợp đồng. Tuy nhiên, bên đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng phải thông báo ngay cho bên còn lại để biết về việc chấm dứt hợp đồng, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường (Khoản 2 Điều 428). Thời điểm mà bên kia nhận được thông báo chấm dứt hợp đồng dân sự cũng là thời điểm các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ, trừ thỏa thuận về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại và thỏa thuận để giải quyết tranh chấp. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện. Bên bị ảnh hưởng hay bên bị thiệt hại do hành vi không đúng của bên kia sẽ được nhận bồi thường (theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định pháp luật – Điều 13 Bộ luật dân sự 2015) Nếu như trong trường hợp việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng không có căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 428 thì bên đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng và phải thực hiện trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
1.2.4. Đặc điểm của đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng có các đặc điểm sau: Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
- Hợp đồng dân sự được chấm dứt do ý chí của một bên chủ thể
Đây là đặc điểm cần đề cập đầu tiên vì nó thể hiện tính “đơn phương” của sự việc, hành động. Nếu như HĐDS được chấm dứt khi hợp đồng đã hoàn thành hay được chấm dứt khi đang thực hiện do các bên cùng thỏa thuận thì không phải là đơn phương chấm dứt mà do ý chí của các bên (song phương hoặc đa phương). HĐDS chấm dứt theo ý chí của các bên chủ thể thể hiện sự đồng ý, nhất trí, thống nhất về việc chấm dứt hợp đồng; các bên đều thỏa thuận từ trước hay thỏa thuận vào thời điểm nào đó đang thực hiện vì thế cùng mong muốn kết thúc. Với ĐPCDHĐDS thì vào thời điểm HDDS đang thực hiện, một bên thông báo chấm dứt do chính bản thân họ mong muốn và đề đạt, tức là thể hiện ý chí của mình. Vào thời điểm thể hiện ý chí này thì ý chí mang tính đơn phương nhưng nếu việc ĐPCDHĐDS đã được thỏa thuận từ khi giao kết hợp đồng thì ban đầu lại là ý chí của các bên.
- Bên thể hiện ý chí chấm dứt hợp đồng phải có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự.
Do HĐDS đang có hiệu lực nên để thể hiện mong muốn chấm dứt nó, bên thể hiện ý chí đó phải có quyền ĐPCDHĐDS. Chính nhờ quyền đó mà bên kia hoặc cả những chủ thể có liên quan khác mới công nhận việc ĐPCDHĐDS là đúng, không cản trở được, phải bồi thường thiệt hại (BTTH) (nếu có). Quyền ĐPCDHĐDS của bên đó có được có thể do thỏa thuận trong hợp đồng hoặc được pháp luật quy định, trên cơ sở đó một bên được phép thể hiện ý chí về việc chấm dứt hợp đồng trong điều kiện nhất định. Chính nhờ sự thỏa thuận hay quy định của pháp luật mà gọi là quyền, bên kia không thể cản trở ý chí chấm dứt hợp đồng vì nó đúng. Khi quyền này được thực hiện, sự đồng ý của bên kia là không cần thiết và các bên không tiếp tục thực hiện nghĩa vụ nữa. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
- Hợp đồng dân sự bị chấm dứt có thời hạn thực hiện nhất định.
Thời hạn thực hiện HĐDS là khoảng thời gian được các bên thỏa thuận HĐDS có hiệu lực, trong khoảng thời gian đó bên có nghĩa vụ phải thực hiện nghĩa vụ đúng như đã thỏa thuận. Với khoảng thời gian đó, một bên định lượng được mức độ ảnh hưởng của việc tiếp tục thực hiện HĐDS với mình nên có ý chí ĐPCDHĐ. Vì nguy cơ quyền lợi của mình bị ảnh hưởng so với mục đích ban đầu khi giao kết hợp đồng mà bên ĐPCDHĐDS muốn việc thực hiện “dừng lại” càng sớm càng tốt, đó không chỉ là mốc về hoạt động (thực hiện nghĩa vụ đến đâu) mà còn là mốc về thời gian. Vì thế ĐPCDHĐDS là chấm dứt “nửa chừng” HĐDS. Đối với những hợp đồng được các bên thực hiện ngay sau khi hợp đồng có hiệu lực, thời hạn thực hiện quá ngắn thì hợp đồng được hoàn thành ngay, nhanh chóng và chấm dứt. Do đó, chỉ với những hợp đồng có thời hạn thực hiện nhất định thì vấn đề ĐPCDHĐ mới được đặt ra. Việc đặt ra ĐPCDHĐDS trước khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng khi thấy rõ một bên sẽ vi phạm hợp đồng hoặc có thể dự báo thiệt hại xảy ra trong tương lai nếu tiếp tục thực hiện hợp đồng hoặc sau khi hết thời hạn thực hiện hợp đồng mà quyền và lợi ích hợp pháp của các bên không đạt được vì hợp đồng không được thực hiện như dự tính.
- Mục đích, nguyện vọng ban đầu của một hoặc các bên khi giao kết thường chưa đáp ứng được trọn vẹn khi hợp đồng chấm dứt HĐDS là sự thỏa thuận giữa các bên về việc xác lập, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, NVDS.
Do đó, khi giao kết hợp đồng, các bên đều hướng tới một lợi ích nhất định, đều muốn đạt được mục đích nào đó như: trong hợp đồng mua bán tài sản, một bên muốn bán tài sản lấy tiền còn một bên muốn mua tài sản bằng tiền… Lợi ích đó chỉ đạt được khi hợp đồng được thực hiện đúng như dự kiến ban đầu của các bên (thực hiện đầy đủ về nghĩa vụ, thời gian…) khi giao kết. Nhưng nhiều hợp đồng đã giao kết mà một hoặc các bên có sự vi phạm hợp đồng như vi phạm về thực hiện nghĩa vụ với nhau, nghĩa vụ với nhà nước… khiến cho bên kia bị ảnh hưởng đến quyền lợi ban đầu dự kiến hoặc có những hợp đồng mà tiếp tục thực hiện có thể gây ra một thiệt hại trong tương lai. Vì thế, để đảm bảo lợi ích của mình mà một bên chủ thể có thể đưa ra yêu cầu chấm dứt hợp đồng và bên kia không được phép từ chối. Mặc dù lợi ích của các bên ít nhiều được bảo đảm (nếu so với việc tiếp tục thực hiện hợp đồng ấy) do ĐPCDHĐDS nhưng bao giờ cũng thấp hơn so với trường hợp chấm dứt hợp đồng khi hợp đồng đã được hoàn thành là do các bên chưa thực hiện xong các nghĩa vụ phát sinh từ hợp đồng. HĐDS hoàn thành và chấm dứt đáp ứng đầy đủ mục đích, nguyện vọng ban đầu của các bên. Vì chưa đáp ứng trọn vẹn mục đích, nguyện vọng của một hoặc các bên nên mức độ “vui vẻ” với việc chấm dứt HĐDS đó là không cao với bên chưa được đáp ứng trọn vẹn mục đích, nguyện vọng đó. Nếu các bên đều đã được đáp ứng trọn vẹn mục đích ban đầu của mình thì hợp đồng chấm dứt theo thỏa thuận của các bên, kể cả khi chưa hết thời hạn hợp đồng. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
- Nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng dân sự.
Bản chất và cũng là ý nghĩa lớn nhất của việc luật dân sự quy định về ĐPCDHĐDS chính là nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền ĐPCDHĐDS vì qua việc thực hiện quyền này mà quyền lợi của bên có quyền ĐPCDHĐDS được đảm bảo, hạn chế mức độ thiệt thòi cho họ so với việc tiếp tục thực hiện hợp đồng trong những điều kiện, tình thế đe dọa đến quyền lợi của bên đó. HĐDS (là sự biểu hiện và thống nhất ý chí giữa các bên) được hình thành, nghĩa là được Nhà nước bảo vệ lợi ích cho các bên thông qua các quy định của pháp luật. Do đó việc hình thành, thay đổi hay chấm dứt hợp đồng là kết quả của sự thỏa thuận của các bên và đáp ứng quyền lợi của các bên. Tuy nhiên với ĐPCDHĐDS thì mục đích chính là bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền chấm dứt hợp đồng. Quy định quyền ĐPCDHĐDS nhằm bảo vệ quyền lợi cho bên có quyền ĐPCDHĐDS thể hiện dưới hai góc độ sau:
- Khi có hoặc sẽ có sự vi phạm của bên đối tác: thì ĐPCDHĐ bảo vệ quyền lợi cho bên kia nhưng được coi như là một chế tài đối với bên vi phạm và vì chịu chế tài này nên quyền lợi của bên vi phạm không được đảm bảo.
- Khi không có sự vi phạm của bên đối tác nhưng theo dự báo thì nếu việc tiếp tục thực hiện hợp đồng sẽ gây ra một thiệt hại cho bên một hoặc các bên: Nếu hợp đồng tiếp tục thực hiện thì có thể một bên hoặc các bên bị thiệt hại nhưng chủ yếu là bên có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Vì thế đơn phương chấm dứt hợp đồng được coi là một biện pháp mang tính đề phòng, ngăn ngừa rủi ro, hạn chế thiệt hại xảy ra trong tương lai.
1.2.5. Căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Thông thường, hợp đồng có thể bị đơn phương chấm dứt thực hiện khi có các căn cứ sau đây:
Một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng. Khoản 2 Điều 423 Bộ luật Dân sự năm 2015 đã đưa ra định nghĩa về “vi phạm nghiêm trọng”. Theo đó, “vi phạm nghiêm trọng là việc không thực hiện đúng nghĩa vụ của một bên đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Luật Thương mại 2005 cũng có một thuật ngữ mang tính chất tương tự, đó là thuật ngữ “vi phạm cơ bản” khi quy định về trường hợp một bên có quyền đình chỉ thực hiện hợp đồng nếu bên kia “vi phạm cơ bản nghĩa vụ hợp đồng”. Đồng thời Luật Thương mại cũng đưa ra định nghĩa về “vi phạm cơ bản” tại Khoản 13 Điều 3, theo đó “vi phạm cơ bản là sự vi phạm hợp đồng của một bên gây thiệt hại cho bên kia đến mức làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng”. Việc Bộ luật Dân sự 2015 sử dụng thuật ngữ “vi phạm nghiêm trọng” mà không sử dụng thuật ngữ “vi phạm cơ bản” như trong Luật Thương mại xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau. Về mặt bản chất, khái niệm “vi phạm nghiêm trọng” trong Bộ luật Dân sự và “vi phạm cơ bản” trong Luật Thương mại là tương tự nhau. Khác với quy định trong PICC khi đưa ra định nghĩa về “vi phạm nghiêm trọng” theo hướng liệt kê, Bộ luật Dân sự 2015 đưa ra định nghĩa về “vi phạm nghiêm trọng” mang tính chất bao quát được các trường hợp có thể xảy ra trên thực tế khi các bên thực hiện hợp đồng. “Mục đích của việc giao kết hợp đồng” là các lợi ích mà các bên tham gia quan hệ hợp đồng mong muốn đạt được. Mục đích của việc giao kết hợp đồng cũng là nguồn gốc của mọi giao dịch dân sự. Do đó việc quy định một bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng làm cho bên kia không đạt được mục đích của việc giao kết hợp đồng thì cấu thành một “vi phạm nghiêm trọng” là hoàn toàn thuyết phục. Như vậy, khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng thì bên kia có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Và ngược lại, nếu một bên vi phạm nghĩa vụ nhưng không phải là “nghĩa vụ nghiêm trọng” thì bên kia không có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng (nếu các bên không có thỏa thuận khác). Bên chấm dứt hợp đồng trong trường hợp này sẽ được xác định là bên vi phạm hợp đồng và phải chịu trách nhiệm dân sự cho việc vi phạm nghĩa vụ của mình theo khoản 5 Điều 428 Bộ luật Dân sự năm 2015. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Các bên có thỏa thuận về căn cứ để một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Căn cứ thứ hai cho việc đơn phương chấm dứt hợp đồng là thỏa thuận của các bên. Các bên có thể thỏa thuận về hành vi vi phạm là điều kiện để một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Thỏa thuận này, như đã phân tích ở quyền tự do hợp đồng, phải không trái với điều cấm của luật và không trái với đạo đức xã hội. Các bên có thể tự do thỏa thuận về các trường hợp, điều kiện cho việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng tùy theo mục đích, điều kiện, nhu cầu giao kết hợp đồng của các bên, dù vi phạm mà các bên thỏa thuận có thể là vi phạm nghiêm trọng hoặc không nghiêm trọng. Ví dụ, bên A nhận gia công cho bên B 1000 cây dù có in logo của bên B để bên B làm quà tặng tri ân cho khách hàng, hai bên có thể thỏa thuận về việc trong trường hợp nếu bên B phát hiện ra việc bên A cũng nhận gia công cây dù cho một công ty nào khác với kiểu dáng giống với kiểu dáng của bên
B thì bên B có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Rõ ràng vi phạm mà hai bên thỏa thuận trong trường hợp này không phải là vi phạm nghiêm trọng (vì không làm mất mục đích của việc giao kết hợp đồng của bên B) nhưng vẫn là căn cứ để bên B có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng vì hai bên đã có thỏa thuận.
Pháp luật có quy định về căn cứ đơn phương chấm dứt hợp đồng mà căn cứ đó đã phát sinh. Nếu các bên không có thỏa thuận về đơn phương chấm dứt hợp đồng, một bên vi phạm nghĩa vụ trong hợp đồng nhưng không phải là vi phạm nghiêm trọng, thì các bên vẫn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng trong trường hợp pháp luật có quy định. BLDS 2015 trong chương XVI – Một số hợp đồng thông dụng, có vài quy định về quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng trong một số trường hợp cụ thể. Ví dụ như quy định tại khoản 2 Điều 481 Bộ luật Dân sự năm 2015 về hợp đồng thuê tài sản thì: “Trường hợp các bên thỏa thuận việc trả tiền thuê theo kỳ hạn thì bên cho thuê có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nếu bên thuê không trả tiền trong ba kỳ liên tiếp, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”. Do đó trong trường hợp các bên không có thỏa thuận, không có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì các bên có thể áp dụng quy định này làm căn cứ cho việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Hoặc tại khoản 1 Điều 520 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng dịch vụ: “Trường hợp việc tiếp tục thực hiện công việc không có lợi cho bên sử dụng dịch vụ thì bên sử dụng dịch vụ có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng, nhưng phải báo cho bên cung ứng dịch vụ biết trước một thời gian hợp lý; bên sử dụng dịch vụ phải trả tiền công theo phần dịch vụ mà bên cung ứng dịch vụ đã thực hiện và bồi thường thiệt hại”. Do đó, căn cứ quy định này thì nếu các bên không có thỏa thuận, không có hành vi vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ thì bên sử dụng dịch vụ vẫn có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng nếu xét thấy việc tiếp tục thực hiện hợp công việc không có lợi cho mình.
Mục đích của giao dịch dân sự nói chung hay hợp đồng nói riêng là lợi ích mà các bên mong muốn đạt được từ việc xác lập các giao dịch dân sự hay hợp đồng đó.
Do đó, khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng, làm cho mục đích khi xác lập hợp đồng của bên còn lại không đạt được nữa thì bên còn lại không còn lý do để tiếp tục thực hiện hợp đồng. Và do đó, bên còn lại còn có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Hợp đồng cũng có thể bị đơn phương chấm dứt thực hiện trong trường hợp các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định như đã phân tích ở phần trên. Bên cạnh các căn cứ để một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng thì hướng xử lý trường hợp một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng không có căn cứ cũng cần được đặt ra. Thông thường, khi một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng không có căn cứ thì được xem là bên vi phạm nghĩa vụ và phải chịu trách nhiệm dân sự do hành vi vi phạm nghĩa vụ của mình theo quy định.
1.2.6. So sánh giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự và hủy bỏ hợp đồng dân sự. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự và hủy bỏ hợp đồng dân sự là hai chế định về hợp đồng khác nhau tuy nhiên vẫn có nhiều người nhầm lẫn giữa hai chế định này vì nó đều mang ý nghĩa cho việc hợp đồng sẽ không được tiếp tục thực hiện nhưng bản chất và hành vi pháp lý của khái niệm này lại khác nhau.
a) Sự giống nhau của đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng.
- Đều là hành vi pháp lý của một bên trong hợp đồng làm căn cứ chấm dứt hợp đồng khi có những điều kiện do pháp luật quy định hoặc các bên có thỏa thuận;
- Bên hủy bỏ, bên đơn phương chấm dứt hợp đồng phải thông báo ngay cho bên kia biết về việc hủy bỏ, nếu không thông báo mà gây thiệt hại thì phải bồi thường;
- Hậu quả pháp lý của đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng là việc kết thúc việc thực hiện hợp đồng;
- Cả hai đều do một bên thực hiện;
- Chỉ không phải bồi thường khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng. Đây cũng là điều kiện để áp dụng việc hủy bỏ hay đơn phương chấm dứt hợp đồng.
b) Điểm khác nhau giữa đơn phương chấm dứt hợp đồng và hủy bỏ hợp đồng.
- Về căn cứ pháp lý:
Đơn phương chấm dứt hợp đồng quy định tại Điều 428 Bộ luật dân sự 2015;
Hủy bỏ hợp đồng quy định tại Điều 423 Bộ luật dân sự 2015.
Các trường hợp hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng.
Đơn phương chấm dứt hợp đồng: Khi một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng; Do hai bên thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
Hủy bỏ hợp đồng: Một bên có quyền hủy bỏ hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp sau: Bên kia vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận; Bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng hoặc do pháp luật quy định. Cụ thể như chậm thực hiện nghĩa vụ của mình trong hợp đồng hoặc không có khả năng làm, do tài sản bị hư hại, bị hỏng, bị mất.
- Điều kiện áp dụng:
Đơn phương chấm dứt hợp đồng: Một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định. Có nghĩa là, đơn phương chấm dứt hợp đồng có thể dựa trên sự thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật mà không cần xuất phát từ sự vi phạm hợp đồng; Không bắt buộc phải có sự vi phạm hợp đồng bởi hai bên có thể thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định.
Hủy bỏ hợp đồng: Một bên vi phạm hợp đồng là điều kiện hủy bỏ mà các bên đã thỏa thuận; Một bên vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ hợp đồng; Các trường hợp pháp luật có quy định, như: Chậm thực hiện nghĩa vụ, hợp đồng không có khả năng thực hiện, tài sản bị mất, hư hỏng. Như vậy điều kiện áp dụng để hủy bỏ hợp đồng phải có sự vi phạm hợp đồng.
- Hệ quả pháp lý:
Đơn phương chấm dứt hơp đồng: Hợp đồng chấm dứt kể từ thời điểm bên kia nhận được thông báo chấm dứt. Các bên không phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ. Hợp đồng có hiệu lực cho đến thời điểm thông báo chấm dứt. Hợp đồng dừng thực hiện và chấm dứt hiệu lực của hợp đồng. Bên đã thực hiện nghĩa vụ có quyền yêu cầu bên kia thanh toán phần nghĩa vụ đã thực hiện.
Hủy bỏ hợp đồng: Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận; Hoàn trả cho nhau những gì đã nhận sau khi trừ đi chi phí;
Như vậy, Hợp đồng không có hiệu lực từ thời điểm giao kết, các bên không phải thực hiện nghĩa vụ đã thỏa thuận. Có nghĩa là, hợp đồng coi như không tồn tại từ trước. Hợp đồng sẽ bị tiêu hủy, hủy bỏ hoàn toàn. Các bên hoàn trả cho nhau những gì đã nhận. Khóa luận: Đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự theo pháp luật.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Khóa luận: Pháp luật đơn phương chấm dứt hợp đồng dân sự

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com
