Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng hay nhất năm 2024 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch tại xã Đông Hưng dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Pháp luật Việt Nam về quản lý hộ tịch.

Quản lý hộ tịch là một hình thức hoạt động của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước về hộ tịch và đăng ký hộ tịch góp phần vào bảo đảm, bảo vệ quyền con người, quyền công dân và phù hợp với tình hình thực tế tại các địa phương trên phạm vi cả nước.

2.1.1. Các quy định của pháp luật về hoạt dộng đăng ký hộ tịch

Theo quy định tại Luật hộ tịch 2014 đã quy định về những nội dung cần phải đăng ký và ghi vào sổ hộ tịch cụ thể như sau:

“Xác nhận vào sổ hộ tịch những sự kiện sau: Kết hôn, khai sinh, khai tử, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch.

Và ghi vào sổ hộ tịch những thông tin sau: Thay đổi quốc tịch, xác định cha, mẹ, con, xác định lại giới tính, nuôi con nuôi, chấm dứt việc nuôi con nuôi, ly hôn, hủy việc kết hôn trái pháp luật, công nhận việc kết hôn, công nhận giám hộ, tuyên bố hoặc hủy tuyên bố một người mất tích, đã chết, bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự và các sự kiện hộ tịch khác theo quy định của pháp luật.” [9;tr.1] Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

Bên cạnh đó, nghị định 123/2015/NĐ-CP cũng đã bổ sung thêm một số quy định về các nội dung đăng ký hộ tịch như việc đăng ký khai sinh đối với trẻ em sinh ra do mang thai hộ để phù hợp với luật hôn nhân và gia đình 2014.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Luận Văn Thạc Sĩ Ngành Luật

2.1.2. Quy định của pháp luật về thẩm quyền đăng ký, quản lý hộ tịch

Luật hộ tịch 2014 đã có những quy định cụ thể về thẩm quyền đăng ký và quản lý hộ tịch so với Nghị định 158/2005/ND-CP thì luật hộ tịch 2014 quy định từ 01/01/2016 thẩm quyền đăng ký các sự kiện hộ tịch được thực hiện ở 2 cấp:

Cấp huyện và cấp xã, trong đó Ủy ban nhân dân cấp huyện đăng ký hộ tịch trong các trường hợp sau: “Xác nhận vào Sổ hộ tịch các sự kiện hộ tịch: Khai sinh, kết hôn, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, thay đổi, cải chính hộ tịch, xác định lại dân tộc, bổ sung thông tin hộ tịch, khai tử có yếu tố nước ngoài. Đăng ký thay đổi, cải chính hộ tịch cho công dân Việt Nam từ đủ 14 tuổi trở lên cư trú ở trong nước, xác định lại dân tộc. Ghi vào Sổ hộ tịch sự kiện khai sinh kết hôn, ly hôn, hủy việc kết hôn, giám hộ, nhận cha, mẹ, con, xác định cha, mẹ, con, nuôi con nuôi; thay đổi hộ tịch; khai tử của công dân Việt Nam đã được giải quyết tại cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài.” Luật hộ tịch đã cho phép UBND huyện dược giải quyết thủ tục dăng ký họ tịch có yếu tố nước ngoài bao gồm kết hôn với người ngoại quốc, với sự điều chỉnh này sẽ tháo bỏ tình trạng chờ đợi khi phải gửi các hồ sơ giấy tờ lên Sở Tư pháp.

Vấn đề được UBND cấp huyện quan tâm nhiều nhất là việc tiếp nhận thẩm quyền đăng ký hộ tịch có yếu tố nước ngoài. Hầu hết ở các địa phương trên cả nước đều lo lắng về yêu cầu trình độ ngoại ngữ của cán bộ, những quy định về phỏng vấn, hay không có sự hỗ trợ đồng bộ từ các cơ quan chức năng liên quan (công an, ngoại vụ, công chứng, dịch thuật,…) sẽ gặp những khó khăn nhất định khi thực hiện nhiệm vụ mới… Tuy nhiên, Nghị định số 123/2015/NĐ– CP ngày 15/11/2015 quy định tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Hộ tịch đã quy định Tương đối cụ thể và thuận lợi cho cán bộ hộ tịch cấp huyện, giảm tối đa không phải được thực hiện trong mọi trường hợp mà chỉ khi “căn cứ tình hình cụ thể, khi cần thiết, Bộ Tư pháp báo cáo Thủ Tướng Chính phủ quy định bổ sung thủ tục phỏng vấn khi giải quyết yêu cầu đăng ký kết hôn nhằm bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên và hiệu quả quản lý nhà nước”: khi giải quyết việc kết hôn có yếu tố nước ngoài thị trong giai đoạn đầu, đối với địa phương nào có nhiều việc, chắc chắn cũng sẽ có những bỡ ngỡ, khó khăn ban đầu, nhưng theo Cục Hộ tịch, 38 quốc tịch, chứng thực – Bộ Tư pháp, Cục đã lưu ý các địa phương căn cứ vào tình hình thực tế, Sở Tư pháp có thể biệt phải cán bộ xuống huyện một thời gian, khi nào ở cấp huyện làm tốt thì rút người lên hoặc tăng cường tập huấn, chỉ đạo về chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ cấp huyện. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

Ngoài ra luật hộ tịch 2014 còn quy định cho UBND cấp huyện thẩm quyền thanh tra kiểm tra các hoạt động hộ tịch thuộc thẩm quyền với mục têu nâng cao tính tự chủ và chịu trách nhiệm của chính quyền địa phương với công tác hộ tịch và giảm gánh nặng lên chính quyền cấp trên.

2.1.3. Quy định về thủ tục và thời gian đăng ký hộ tịch

Luật Hộ tịch 2014 ra đời đã có những quy định mang tính cải cách mạnh mẽ về thủ tục hành chính, nhằm đơn giản hóa, cắt giảm thủ tục hành chính trong đăng ký hộ tịch (từ 46 thủ tục hiện hành xuống còn khoảng 25 thủ tục). Điều đó đem lại những lợi ích thiết thực cho người dân, bảo đảm đơn giản, thuận lợi, tiết kiệm chi phí xã hội.

Bên cạnh đó, luật hộ tịch cũng quy định chỉ cấp bản chính đối với giấy khai sinh và giấy chứng nhận kết hôn, đối với những sự kiện hộ tịch khác thì sau khi hoàn tất thủ tục đăng ký người dân sẽ được cấp Trích lục hộ tịch Tương ứng, bản chính trích lục hộ tịch được chứng thực bản sao. Luật cũng quy định giảm thời hạn giải quyết đối với hầu hết các sự kiện hộ tịch, những sự việc hộ tịch đơn giản được giải quyết trong ngày, trường hợp nhận hồ sơ sau 15 giờ mà không giải quyết được ngay thì trả kết quả trong ngày làm việc tiếp theo.

Các cá nhân có quyền lựa chọn cơ quan đăng ký hộ tịch cho mình mà không phụ thuộc vào nơi cư trú, cá nhân có thể được đăng ký hộ tịch tại nơi thường trú, tạm trú hoặc nơi đang sinh sống. Ngoài ra luật cũng quy định cá nhân được phép lựa chọn đăng ký khai tại UBND nơi cư trú của cha hoặc mẹ thay vì ưu tiên lựa chọn nơi cư trú của mẹ như trước đây. Cá nhân cũng có quyền lựa chọn phương thức đăng ký như nộp hồ sơ trực tiếp, qua bưu chính hoặc qua hết thống đăng ký trực tuyến trong điều kiện cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin cho phép. Tuy nhiên những quy định mới của Luật Hộ tịch 2014 về thủ tục đăng ký hộ tịch đã tạo ra một số bất cập sau: Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

Việc quy định được lựa chọn nơi đăng ký hộ tịch đã tạo ra áp lực không hề nhỏ đối với cơ quan hộ tịch ở những địa phương mà có nhiều người tạm trú, người đang sinh sống mà không có hộ khẩu thường trú. Theo đó không những lượng công việc sẽ tăng lên dáng kể, mà độ phức tạp của công việc cũng vì thế mà tăng theo. Những người không có hộ khẩu thường trú sẽ dễ thường xuyên biến động gây khó khăn cho công tác quản lý cũng như việc thực hiện đăng ký hộ tịch. Với tình trạng công chức và lượng công việc như hiện nay, thì quy định giảm thời hạn giải quyết đăng ký hộ tịch sẽ không tránh khỏi việc trễ hẹn, tạo sự bức xúc cho công dân. Quy định rút ngắn thời hạn là quy định tích cực, mang tính cải cách thủ tục hành chính, tạo thuận lợi cho người dân, nhưng cùng với đó ta cũng cần phải giải quyết phù hợp về số lượng, về khoản bồi dưỡng cho công chức đề khuyến khích họ tâm huyết, nhiệt tình giải quyết tốt công việc. Thói quen của người đi đăng ký khai sinh thường là đồng thời đăng ký hộ khẩu thường trú tại nơi đó, nên khi quy định về việc được đăng ký khai sinh tại cơ quan đăng ký tạm trú, nơi đang sinh sống thì nhiều khi người dân chỉ thực hiện đăng ký khai sinh mà quên làm thêm thủ tục về nơi đăng ký hộ khẩu thường trú.

Việc quy định yêu cầu người đi đăng ký hộ tịch ký tên vào sổ hộ tịch trong trường hợp nộp hồ sơ qua bưu chính, hệ thống trực tuyến mà không trực tiếp đi đăng ký cũng gây ra lúng túng cho cơ quan, công chức hộ tịch nếu không có hướng dẫn cụ thể. Luật mới quy định nhiều thủ tục mở cho nhân dân, hạn chế các loại giấy tờ phải nộp… nhưng lại đặt nhiều trách nhiệm lên vai các công chức Tư pháp hộ tịc . Tuy nhiên, không phải công chức Tư pháp hộ tịch nào cũng tạo điều kiện thuận lợi cho công dân như Luật quy định vì sợ chịu trách nhiệm, sợ gặp phải sai sót khi làm việc, có rất nhiều công chức Tư pháp hộ tịch vẫn đòi hỏi công dân những giấy tờ hộ tịch mà luật không quy định cần phải có, vẫn yêu cầu công dân chứng thực giấy tờ hồ sơ khi nộp đăng ký hộ tịch, không dám hoặc từ chối những việc hộ tịch mà Luật quy định đáng ra công chức hộ tịch phải làm. Có những việc xác minh mà đáng ra công chức Tư pháp hộ tịch sẽ phải tự mình gửi hồ sơ liên hệ để xác minh sự việc, nhưng do bận quá nhiều việc, ngại khó khăn mà họ lại bắt công dân tự mình xác minh.

2.1.4.  Quy định về dữ liệu hộ tịch Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

Cơ sở dữ liệu hộ tịch là tài sản quốc gia, lưu trữ toàn bộ thông tin hộ tịch của mọi cá nhân đã đăng ký, làm cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, nhằm phục vụ nhu cầu tra cứu thông tin, quản lý, hoạch định chính sách. Cơ sở dữ liệu hộ tịch bao gồm: Sổ hộ tịch và cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là căn cứ để cấp bản sao trích lục hộ tịch. Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử là một điểm mới trong luật hộ tịch nhằm hướng đến Chính phủ điện tử, nó là cơ sở dữ liệu ngành được lập trên cơ sở tin học hoá công tác đăng ký hộ tịch. Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử được lập để lưu trữ, cập nhật, quản lý, tra cứu thông tin hộ tịch, phục vụ nhu cầu đăng ký hộ tịch trực tuyến, được kết nối để cung cấp, trao đổi thông tin hộ tịch cơ bản của cá nhân cho cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư. Ngoài ra việc lưu trữ thông tin hộ tịch còn được thực hiện thông qua sổ hộ tịch trước đây sổ hộ tịch được lưu trữ làm 2 bản nhưng hiện nay nhờ có cơ sở dữ liệu điện tử mà việc lưu trữ được giảm đi chỉ còn 1 quyển sổ theo từng loại hộ tịch được đăng ký.

2.1.5. Quy định của pháp luật về việc cấp sổ định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh.

Theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Hộ tịch năm 2014: “Cấp số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh được nhận định là quy định mang tính đột phá trong công tác quản lý hộ tịch và quản lý dân cư, là tiền đề quan trọng để tiến tới mục tiêu cắt giảm nhiều loại giấy tờ, tạo thuận lợi cao nhất cho người dân khi tham gia giao dịch, thực hiện thủ tục hành chính”[14,tr5]. Nhằm quy định chi tiết về việc cấp số định danh cá nhân khi đăng ký khai sinh theo Luật Hộ tịch 2014, ngày 31/12/2015 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 137/ 2015/NĐ –CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Căn cước công dân. Nội dung Nghị định quy định Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, cấu trúc số định danh cá nhân, phương thức kết nối, cập nhật, khai thác, chia sẻ thông tin giữa Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành: quy định cụ thể thủ tục cấp số định danh cá nhân cho các nhóm đối Tượng được xác định tại Đề án 896. Về việc cấp số định danh cá nhân khi Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư chưa được vận hành hoặc Cơ sở dữ liệu hộ tịch điện tử chưa được kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, đối với nhóm trẻ em được thực hiện đăng ký khai sinh từ ngày 01-01-2016, Nghị định đã quy định cụ thể sự phối hợp giữa cơ quan Tư pháp và cơ quan công an, theo đó cơ quan quản lý, đăng ký hộ tịch cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu hộ tịch và cập nhật thông tin vào Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư thông qua tài khoản truy cập do cơ quan quản lý Cơ sở dữ liệu quốc gia về dân cư, Bộ Công an, cung cấp để lấy số định danh cá nhân từ Trung tâm cấp số định danh cá nhân cấp cho người được đăng ký khai sinh. Do đó đã bảo đảm việc cấp số định danh cá nhân không phát sinh thêm thủ tục hay kéo dài quy trình giải quyết việc đăng ký khai sinh. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

2.1.6. Công tác cán bộ, công chức

Để triển khai, thi hành các quy định của luật hộ tịch 2014 và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan khác thì các vấn đề liên quan đến cán bộ, công chức vẫn là một điều quan trọng, đấy là một vấn đề mấu chốt ảnh hưởng đến hiệu quả của việc triển khai, thực hiện. Theo quy định tại điều 74 luật hộ tịch 2014 thì cán bộ, công chứ Tư pháp- hộ tịch cấp xã phải có trình độ từ trung cấp luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch, công chức làm công tác hộ tịch tại phòng Tư pháp phải có trình độ cử nhân luật trở lên và đã được bồi dưỡng nghiệp vụ hộ tịch. Đối với một số tỉnh thành thì vấn đề này không phải vấn đề đáng lo ngại, tuy nhiên ở những tỉnh thành đặc biệt là vùng sâu, vùng xa,… thì những yêu cầu của luật hộ tịch 2014 là một diều đáng lo ngại, họ sẽ phải bố trí thời gian, sắp xếp người thay thế, vấn đề về kinh phí cũng là một trong số những khó khăn lớn gặp phải,…. Bên cạnh những quy định mới, nhiệm vụ mới,… Cũng đòi hỏi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ, công chức vì vậy cần tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn, trao đổi trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ công chức.

2.2. Thực trạng công tác quản lý Nhà nước về hộ tịch ở xã Đông Hưng. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

2.2.1. Ban hành các văn bản quản lý Nhà nước đối với hộ tịch.

Nhằm thực hiện việc đăng ký và quản lý hộ tịch trên địa bàn xã được thực hiện đúng các quy định của pháp luật, UBND xã hàng năm đều đưa ra kế hoạch trọng tâm trong công tác tư pháp nhằm củng cố và nâng cao vai trò, trách nhiệm của ngành tư pháp xã trong công tác quản lý nhà nước trên địa bàn xã. Xây dựng đội ngũ cán bộ tư pháp trong sạch vững mạnh theo hướng nâng cao đạo đức công vụ, chuyên nghiệp, hiện đại; tập trung thực hiện tốt các nhiệm vụ công tác tư pháp để phục vụ một cách hiệu quả những nhiệm vụ về phát triển kinh tế xã hội; nâng cao nhận thức, ý thức trách nhiệm của các ngành các cấp về công tác tư pháp; đảm bảo triển khai thực hiện một cách đồng bộ, có hiệu quả công tác tư pháp trên địa bàn huyện trong đó có công tác hộ tịch. UBND xã yêu cầu làm tốt công tác tuyên truyền pháp luật đăng ký và quản lý hộ tịch, thực hiện tốt đăng ký và quản lý hộ tịch thuộc thẩm quyền của Uỷ ban nhân dân cấp xã theo đúng quy định tại Luật hộ tịch năm 2014 và Thông tư hướng dẫn số 04/2020/TT-BTP về hướng dẫn thi hành, trong đó công tác đăng ký khai sinh, khai tử đạt đạt 95% trở lên đăng ký đúng hạn.

2.2.2.  Phổ biến, giáo dục pháp luật về hộ tịch trên địa bàn cấp xã Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

Trong những năm qua cấp uỷ, chính quyền xã luôn quan tâm đến công tác tư pháp – hộ tịch, đến nay cán bộ tư pháp – hộ tịch trên địa bàn xã đã có đủ năng lực chuyên môn đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, Hội đồng tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật và đội ngũ tuyên truyền viên thường xuyên được củng cố kiện toàn, chất lượng chuyên môn công tác tư pháp – hộ tịch của UBND xã đã có nhiều chuyển biển tích cực góp phần vào việc phát triển kinh tế – xã hội và giữ vững an ninh trật tự trên địa bàn xã.

Trong công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật UBND xã đã quan tâm chỉ đạo công chức tư pháp xã tham mưu xây dựng những kế hoạch tuyên truyền pháp luật sát với tình hình thực tế của địa phương, luôn duy trì Hội đồng phối hợp tuyên truyền phổ biến, giáo dục pháp luật và đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật của UBND xã từ 4 đến 6 thành viên, quan tâm đầu tư kinh phí chi cho công tác tuyên truyền pháp luật theo quy định, việc triển khai tuyên truyền pháp luật tới nhân dân trên hệ thống đài truyền thanh xã, qua các hội nghị tập huấn ngoài ra ở các thôn trong xã được chủ động lồng ghép đa dạng với các hình thức như: Họp sinh hoạt câu lạc bộ trợ giúp pháp lý, sinh hoạt các đoàn thể nhân dân, sinh hoạt chi bộ, chi hội. Câu lạc bộ là một hình thức tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật có hiệu quả, phù hợp với mọi đối Tượng nhằm nâng cao trình độ dân trí  pháp lý đồng thời tạo điều kiện tốt để mỗi hội viên trở thành một tuyên truyền viên để mọi người cùng tham gia chấp hành pháp luật. Bên cạnh đó UBND các xã đã thực hiện niêm yết công khai các thủ tục hành chính về hộ tịch tại bộ phận một cửa, bố trí công chức Tư pháp hộ tịch làm tốt công tác đăng ký hộ tịch, ngoài ra trực tiếp làm công tác chứng thực đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ, có đầy đủ các mẫu dấu chứng thực, sổ chứng thực theo quy định.

Tủ sách pháp luật của các UBND xã được quản lý và khai thác sử dụng có hiệu quả, hiện nay có xã đã có khoảng 300 đầu sách pháp luật, phục vụ tốt cho việc nghiên cứu tìm hiểu pháp luật của cán bộ và nhân dân. Tủ sách pháp luật có ý nghĩa quan trọng trong việc truyền tải chủ trương, chính sách của Đảng và pháp luật của Nhà nước đến cán bộ nhân dân. Tủ sách là nguồn thông tin về các văn bản pháp luật giúp người đọc có điều kiện tập hợp, tìm hiểu, tra cứu và vận dụng các quy định pháp luật vào thực tế một cách đầy đủ, chính xác và có hệ thống. Đối với cán bộ, công chức ở cơ sở, sách pháp luật là công cụ, phương tiện giúp họ tiếp cận, tìm hiểu, vận dụng đúng chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật Nhà nước vào việc điều hành, giải quyết các công việc hàng ngày ở địa phương. Việc xây dựng tủ sách pháp luật góp phần tăng cường tuyên truyền phố biến giáo dục pháp luật rộng rãi trong cán bộ, nhân dân tạo điều kiện cho việc chấp hành pháp luật, giám sát thực thi pháp luật. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

Việc thực hiện mở sổ “Cá biệt” để theo dõi quản lý tủ sách pháp luật theo quy định, việc phân loại xắp sếp các loại sách khoa học thành các loại: Bộ luật, Luật; Pháp lệnh; sách tham khảo, hướng dẫn chuyên môn, nghiệp vụ; công báo, báo chí, từ năm 2009 đến nay tủ sách pháp luật của xã được mua bổ sung các đầu sách pháp luật mới, phục vụ tốt cho cán bộ và nhân dân tới tìm đọc việc luân chuyển đầu sách từ tủ sách pháp luật ở xã, xuống các nhà văn hoá thôn, cụm dân cư có tủ sách pháp luật cũng được duy trì thực hiện, ngoài ra còn tổ chức sinh hoạt một buổi, tuyên truyền pháp luật tại các thôn, cụm dân cư.

Đối với công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, UBND xã đã thường xuyên triển khai tuyên truyền, phổ biến sâu rộng trong nhân dân các quy định của Luật hộ tịch năm 2014; Nghị định 123/2015/ NĐ-CP ngày 15/11/2015 của Chính phủ về việc quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật hộ tịch. Nhận thức được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của công tác Tư pháp hộ tịch trong việc phát triển kinh tế – văn hoá – xã hội và giữ gìn an ninh trật tự trên địa bàn xã, trong thời gian qua cấp uỷ, chính quyền các xã Đông Hưng đã tăng cường quan tâm củng cố công tác tư pháp bằng việc: Cử và tạo điều kiện cho công chức tư pháp – hộ tịch xã được theo học các lớp đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn; giới thiệu công chức tư pháp – hộ tịch xã tham gia Ban chấp hành Đảng uỷ xã nhiệm kỳ 2020 – 2025; quy hoạch công chức tư pháp – hộ tịch xã vào đội ngũ cán bộ lãnh đạo nguồn kế cần cho giai đoạn tiếp theo; chú trọng công tác bồi dưỡng nghiệp vụ hoà giải cho đội ngũ hoà giải viên ở các thôn trong xã, tăng cường củng cố và kiện toàn hội đồng tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật và đội ngũ tuyên truyền viên pháp luật cấp xã, phối hợp Mặt trận tổ quốc cùng các ban, ngành đoàn thể trong xã tổ chức tốt công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật trong các hội, đoàn thể quần chúng nhân dân, khẳng định vị trí của công tác đăng ký và quản lý hộ tịch đối với sự phát triển kinh tế – xã hội của xã.

2.2.3. Hoạt động đăng ký hộ tịch trên địa bàn xã Đông Hưng

  • Đăng ký khai sinh

Bảng 2.1: Tổng số đăng ký khai sinh từ năm 2020 – 2022

NỘI DUNG ĐVT 2020 2021 2022
Đăng ký khai sinh Trường hợp 166 187 175
Nam Trường hợp 90 89 85
Nữ Trường hợp 76 98 90
Đăng ký đúng hạn Trường hợp 164 187 170
Đăng ký quá hạn Trường hợp 2 0 5

Nguồn: ( Số liệu thống kê của UBND xã Đông Hưng)

Qua bảng số liệu cho ta thấy đăng ký khai sinh có sự biến động: Từ năm 2020 có 166 trường hợp trong đó đăng ký đúng hạn 164, đăng ký quá hạn 2; năm 2021 tăng lên 21 trường hợp: đúng hạn 187, quá hạn 0 và giảm xuống 9 trường hợp năm 2022 trong đó đúng hạn 170, quá hạn 5. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

  • Đăng ký lại việc sinh

Bảng 2.2: Tổng số đăng ký lại việc sinh từ năm 2020 – 2022

NỘI DUNG ĐVT 2020 2021 2022
Đăng ký lại việc sinh Trường hợp 35 26 37

Nguồn: ( Số liệu thống kê của UBND xã Đông Hưng)

Đăng ký lại việc sinh nhìn chung không có sự thay đổi nhiều: Năm 2020 – 2021 giảm 09 trường hợp và năm 2022 tăng lên 11 trường hợp.

  • Đăng ký kết hôn

Bảng 2.3: Tổng số đăng ký kết hôn từ năm 2020 – 2022

NỘI DUNG ĐVT 2020 2021 2017
Đăng ký kết hôn Cặp 46 42 38
Kết hôn lần đầu Cặp 44 38 36
Kết hôn lần hai Cặp 2 4 2

Nguồn: ( Số liệu thống kê của UBND xã Đông Hưng)

Qua bảng số liệu cho ta thấy rõ việc đăng ký kết hôn có sự thay đổi trong từng năm cụ thể: 2020 đến 2022 giảm từ 46 trường hợp xuống còn 38 trường hợp. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

  • Giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân

Bảng 2.4: Tổng số giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân từ  2020 – 2022

NỘI DUNG ĐVT 2020 2021 2022
Giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân Trường hợp 21 41 54

Nguồn: ( Số liệu thống kê của UBND xã Đông Hưng)

Từ năm 2020 – 2022 thì việc xin giấy chứng nhận tình trạng hôn nhân tăng từ 21 trường hợp lên 54 trường hợp.

  • Đăng ký khai tử

Bảng 2.5: Tổng số đăng ký khai tử từ năm 2020 – 2022

 NỘI DUNG ĐVT 2020 2021 2022
Đăng ký khai tử Trường hợp 32 23 29
Nam Trường hợp 25 13 18
Nữ Trường hợp 16 10 11
Đăng ký đúng hạn Trường hợp 29 18 27
Đăng ký quá hạn Trường hợp 3 5 2

Nguồn: ( Số liệu thống kê của UBND xã Đông Hưng)

Bảng số liệu cho ta thấy đăng ký khai tử có sự thay đổi, năm 2020 có 32 trường hợp, năm 2022 giảm còn 23 trường hợp và năm 2022 tăng lên 29 trường hợp.  Nhìn chung đăng ký khai tử quá hạn còn cao so với quy định của pháp luật.

  • Đăng ký nuôi con nuôi, việc nhận cha, mẹ, con, thay đổi cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc

Bảng 2.6: Đăng ký nuôi con nuôi, việc nhận cha, mẹ, con, thay đổi cải chính, bổ sung hộ tịch, xác định lại dân tộc từ năm 2020 – 2022 Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

NỘI DUNG ĐVT 2020 2021 2022
Đăng ký nuôi con nuôi Trường hợp 0 0 0
Đăng ký nhận cha, mẹ, con Trường hợp 0 0 1
Thay đổi, họ tên, chữ đệm Trường hợp 0 0 0
Cải chính Trường hợp 0 0 0
Xác định lại dân tộc Trường hợp 0 0 0

( Số liệu thống kê của UBND xã Đông Hưng)

Từ năm 2021 – 2022 thì đăng ký nuôi con nuôi, thay đổi họ tên chữ đệm, cải chính, xác định lại dân tộc không có trường hợp nào, đăng ký nhận cha, mẹ, con có 01 trường hợp.

2.2.4. Giám sát, kiểm tra quá trình thực hiện quản lý hộ tịch ở xã Đông Hưng. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

Đây là một nội dung quan trọng đã được cấp uỷ, chính quyền địa phương quan tâm chỉ đạo sát sao, bằng văn bản cụ thể để triển khai tổ chức thực hiện việc giám sát, kiểm tra hàng năm đối với việc thực hiện công tác quản lý hộ tịch trên địa bàn xã nhằm phát hiện những thiếu sót trong quản lý nhà nước về hộ tịch ở địa phương, từ đó để nâng cao vai trò trách nhiệm của tập thể, cá nhân người đứng đầu ở chính quyền  xã nói chung của công chức tư pháp – hộ tịch nói riêng trong thực hiện đăng ký và quản lý hộ tịch thuộc thẩm quyền do vậy những năm qua công tác đăng ký và quản lý hộ tịch của các xã Đông Hưng đều được đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật không có đơn thư khiếu nại về lĩnh vực Tư pháp hộ tịch.

2.2.5. Đánh giá việc thực hiện quản lý Nhà nước về hộ tịch ở xã Đông Hưng

2.2.5.1. Những ưu điểm

  • Thứ nhất, ưu điểm nổi lên trong công tác đăng ký và quản lý hộ tịch ở xã là uỷ ban nhân dân xã đã quan tâm lãnh đạo công tác đăng ký, quản lý hộ tịch.

Cơ sở vật chất, phương tiện làm việc của Tư pháp được bố trí đảm bảo hơn cho hoạt động. Các cán bộ tiếp tiếp nhận nhanh ứng dụng công nghệ số trong hoạt động Tư pháp nhằn giảm bớt đi lại và nhanh gọn hơn đối với nhân nhân. Công chức tư pháp – hộ tịch thường xuyên được cử đi bồi dưỡng, tập huấn do Tư pháp cấp trên tổ chức. Tư pháp cấp xã đã tham mưu cho UBND xã tiếp nhận và giải quyết hầu hết các loại việc đăng ký hộ tịch đúng thẩm quyền, giải quyết kịp thời các yêu cầu của công dân; các loại sổ, biểu mẫu dùng để đăng ký hộ tịch sử dụng đúng mẫu Bộ Tư pháp ban hành, chữ viết trong sổ hộ tịch rõ ràng, dễ đọc; sổ lưu và hồ sơ lưu về đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn, đăng ký lại việc sinh, thay đổi, cải chính hộ tịch được lưu trữ đầy đủ, sắp xếp ngăn nắp, khoa học thuận lợi cho công tác tra cứu, sao lục khi cần. Niêm yết các thủ tục, trình tự, thời gian và lệ phí về hộ tịch đúng quy định pháp luật, thuận lợi cho dân khi có yêu cầu…

  • Thứ hai, tuyên truyền về pháp luật hộ tịch được quan tâm.

 Xác định công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật về hộ tịch có vai trò và ý nghĩa quan trọng. Để thực hiện tốt công tác đăng ký và quản lý hộ tịch, trước hết phải làm cho cán bộ và nhân dân hiểu biết về mục đích, ý nghĩa của công tác đăng ký, quản lý hộ tịch; quyền và nghĩa vụ công dân về đăng ký hộ tịch. Tổ chức tuyên truyền lồng ghép thông qua các hội nghị bằng nhiều hình thức đa dạng phong phú như thông qua các hội nghị các đoàn thể nằm trong khối mặt trận xã, ngoài ra còn nhận gần 200 tài liệu ở cấp trên cho UBND các xã làm tài liệu tuyên truyền, việc tuyên truyền về hộ tịch còn được thực hiện thông qua các tủ sách pháp luật được đặt tại UBND xã, nhà văn hoá thôn, cụm dân cư nơi có tủ sách pháp luật để nhân dân tự tìm hiểu pháp luật nói chung và hộ tịch nói riêng. Đồng thời lập chuyên mục tuyên truyền trên hệ thống loa truyền thanh của xã để người dân hiểu và tự giác thực hiện đăng ký hộ tịch theo quy định. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

  • Thứ ba, công tác giám sát, kiểm tra về đăng ký và quản lý hộ tịch được thực hiện đúng theo quy định.

UBND xã đã thực hiện việc niêm yết công khai các thủ tục, trình tự, thời gian và lệ phí về hộ tịch đúng quy định pháp luật thuận lợi cho dân khi có yêu cầu. Mọi công dân khi đến đăng ký khai sinh đều được cán bộ tư pháp – hộ tịch hướng dẫn cụ thể, đảm bảo đầy đủ và chính xác. Việc đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn, cho nhận con nuôi; thay đổi, cải chính hộ tịch… được thực hiện đúng trình tự, thủ tục và thời hạn quy định; hạn chế tình trạng đăng ký khai sinh quá hạn…

  • Thứ Tư, công tác thống kê báo cáo cho thấy, UBND xã đã thực hiện tốt tổng hợp số liệu thống kê hộ tịch báo cáo định kỳ hàng tháng, quý, cả năm theo đúng quy định, tất cả báo cáo về hộ tịch đều được thực hiện theo đúng mẫu quy định của Bộ Tư pháp, do vậy công tác quản lý nhà nước về hộ tịch những năm qua trên địa bàn xã được thực hiện đảm bảo về nội dụng theo quy định.

Số liệu thống kê hộ tịch được thực hiện đúng theo quy định tại Điều 73 Nghị định 158/2005/NĐ-CP đó là số liệu thống kê hộ tịch phải được lập (theo mẫu quy định) theo định kỳ 6 tháng và 1 năm. Nhìn chung những năm qua số liệu thống kế về hộ tịch của xã được thực hiện đảm bảo chính xác về nội dung và thời hạn, thời gian theo quy định.

  • Thứ năm, công tác lưu trữ sổ sách được thực hiện tốt.

Các loại sổ, biểu mẫu dùng để đăng ký hộ tịch được sử dụng đúng mẫu Bộ Tư pháp ban hành, công chức Tư pháp – hộ tịch đã sử dụng sổ kép, thực hiện khoá sổ (ghi rõ vào trang cuối sổ tổng số trang, tổng số sự kiện hộ tịch đã đăng ký), đóng giáp lai từ trang đầu đến trang cuối sổ theo đúng quy định và chuyển lưu 01 quyển đến UBND huyện thực hiện lưu trữ theo quy định; chữ viết trong sổ hộ tịch rõ ràng, dễ đọc; sổ lưu và hồ sơ lưu về đăng ký khai sinh, khai tử, kết hôn, đăng ký lại việc sinh, thay đổi, cải chính hộ tịch được lưu trữ đầy đủ, sắp xếp ngăn nắp, khoa học thuận lợi cho công tác tra cứu, sao lục khi cần, các tủ đựng lưu trữ sổ sách hộ tịch được UBND xã trang bị riêng đảm bảo cho công tác lưu trữ.

2.2.5.2. Những hạn chế

  • Thứ nhất, tình trạng đăng ký hộ tịch quá hạn vẫn còn trong nhân dân: Số lượng đăng ký khai sinh quá hạn còn cao; tỷ lệ đăng ký khai tử còn thấp, những ai chết có chế độ tử tuất, xin đất mộ thì mới đến xã khai tử, việc này đã ảnh hưởng đến thi hành pháp luật về hộ tịch và quản lý của chính quyền địa phương.

Cùng với việc nam, nữ kết hôn phải gửi đơn đến UBND xã có thẩm quyền trong một thời gian nhất định để cấp có thẩm quyền thẩm định, xem xét những điều kiện cần và đủ của đôi bên quyết định cho kết hôn hoặc không cho kết hôn.

Nhưng trong thực tế khi nam nữ đến trụ sở UBND xã nơi họ cư trú để đăng ký kết hôn họ mới đồng thời nộp đơn xin kết hôn. Từ những việc trên đã thể hiện sự lỏng lẻo trong công tác quản lý và trách nhiệm của các cán bộ có thẩm quyền còn chủ quan, thiếu tinh thần trách nhiệm; bỏ qua những thủ tục bắt buộc để làm qua loa, nhanh gọn, làm mất đi tính trang trọng và ý nghĩa thiết thực của việc kết hôn. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

  • Thứ hai, về ghi chép trong sổ sách hộ tịch, còn nhiều trường hợp ghi không đủ nội dung, dữ kiện trong mẫu giấy tờ hộ tịch và sổ hộ tịch có sẵn như: nơi sinh trong giấy khai sinh chỉ ghi địa danh xã, còn viết tắt; trong sổ hộ tịch thì không ghi tên, chức vụ của người ký cấp giấy tờ hộ tịch và không có chữ ký của người đi khai sinh; cột ghi chú không ghi đăng ký quá hạn, đăng ký lại, ghi chưa chính xác về quan hệ giữa người đi khai với người được đăng ký sự kiện hộ tịch; sử dụng nhiều màu mực cho một sự kiện đăng ký hộ tịch, khi tẩy xóa, sửa chữa không thực hiện việc ghi chú và đóng dấu theo đúng nguyên tắc quy định tại Điều 69 Nghị định 158/2005/NĐ-CP…; giữa giấy tờ hộ tịch và sổ hộ tịch không trùng khớp về nội dung đăng ký hộ tịch.

Khi xác nhận nội dung trong giấy tờ hộ tịch như giấy xác nhận tình trạng hôn nhân, tờ khai đăng ký kết hôn.. không ghi rõ chức danh của người ký cấp giấy xác nhận mà chỉ có chữ ký và đóng dấu. Một số trường hợp đăng ký lại việc sinh không có xác nhận của UBND cấp xã nơi đã đăng ký khai sinh trước đây về việc sổ hộ tịch và bản chính giấy tờ hộ tịch đã bị mất hoặc hư hỏng không sử dụng được.

  • Thứ ba, thực hiện thủ tục đăng ký hộ tịch, đăng ký sự kiện hộ tịch chỉ dựa vào lời khai của người đi khai mà không yêu cầu cung cấp đủ giấy tờ theo qui định để chứng minh sự kiện hộ tịch là có thật.

Có những trường hợp phức tạp, do quen biết, nể nang, sợ dân phản ánh nên không đi thực tế xác minh làm rõ mà vẫn ký cấp, suy cho cùng đã làm hợp thức hóa cái sai của họ thành cái đúng.

 2.2.5.3. Những nguyên nhân của hạn chế

Thực tế của hoạt động quản lý nhà nước về hộ tịch ở trên địa bàn xã Đông Hưng cho thấy, những hạn chế nêu trên xuất phát từ những nguyên nhân sau:

  • Một là, nguyên nhân từ hệ thống pháp luật về hộ tịch: không đồng bộ về cấp độ giữa văn bản pháp luật về hộ tịch với văn bản pháp luật khác có liên quan đến lĩnh vực hộ tịch Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

Hiện tại, trong hệ thống các văn bản pháp luật có liên quan đến lĩnh vực nhân thân con người thì văn bản điều chỉnh trực tiếp chỉ ban hành dừng ở cấp độ Nghị định còn một số lĩnh vực khác liên quan đến quản lý con người ( có liên quan mật thiết tới lĩnh vực hộ tịch) hầu hết ban hành ở cấp độ luật như : Luật Nuôi con nuôi, Luật Quốc tịch, Luật Lý lịch Tư pháp, Luật Cư trú…chính từ sự không cân bằng về cấp độ văn bản (giữa một bên là các quy định của luật, với một bên là các quy định của nghị định) đã dẫn đến việc làm giảm hiệu lực thi hành của các văn bản pháp luật trong lĩnh vực hộ tịch. Thậm chí, có văn bản ở cấp độ ngành có liên quan đến lĩnh vực hộ tịch mà có quy định khác với các văn bản pháp luật về hộ tịch, thì các quy định của pháp luật về hộ tịch trong trường hợp này cũng không thực hiện, mà chỉ được thực hiện theo quy định riêng của ngành đó.

Mặt khác, do các văn bản pháp luật về hộ tịch mới dừng lại ở cấp độ Nghị định, nên mọi vấn đề liên quan đến việc sửa đổi, bổ sung pháp luật về hộ tịch hoàn toàn phải phụ thuộc và tuân theo các quy định ở các văn bản ở cấp độ luật chuyên ngành khác.

Trong quá trình thực hiện chức năng quản lý và đăng ký hộ tịch, ngoài việc phải phụ thuộc quá nhiều vào các văn bản pháp luật chuyên ngành khác, thì bản thân lĩnh vực hộ tịch cũng Tương đối nhiều văn bản điều chỉnh lĩnh vực hộ tịch.

Sổ đăng ký hộ tịch hiện đang lưu trữ ghi chép không đầy đủ, rõ ràng, thiếu nhiều nội dung như: mục phần khai về cha mẹ trong sổ đăng ký khai sinh chỉ ghi về cha hoặc mẹ; cấp giấy khai sinh không ghi số, quyển số hoặc cấp bản chính nhưng không vào sổ hộ tịch. Số gốc và bản chính giấy khai sinh không trùng nhau…

Việc cấp Giấy xác nhận tình trạng hôn nhân cho công dân có nhiều nơi tạm trú khác nhau còn gặp nhiều khó khăn do không đủ điều kiện, thời gian để xác minh.

Quy chế quản lý văn bằng chỉ cấp một lần nên khi có sai sót hoặc cần đính chính thì chưa được thụ lý giải quyết do chưa có văn bản hướng dẫn của ngành. Khó khăn cho công dân trong trường hợp có sai lệch giữa văn bằng, chứng chỉ với giấy tờ hộ tịch.

Chế tài xử phạt vi phạm hành chính đối với các trường hợp vi phạm quy định về đăng ký và quản lý hộ tịch còn thấp, mặt khác nếu thực hiện xử phạt thường thì rơi vào các đối Tượng nghèo, đối Tượng chính sách… sẽ dẫn đến người dân không thực hiện việc đăng ký khai sinh cho đứa trẻ.

  • Hai là, những nguyên nhân từ sự yếu kém trong năng lực quản lý về đăng ký, quản lý hộ tịch.

Bên cạnh nguyên nhân về mặt pháp luật, thì còn có nguyên nhân đó là việc thiếu hụt đội ngũ công chức làm công tác hộ tịch cả về số lượng và chất lượng. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

Công chức tư pháp ngoài nhiệm vụ đăng ký hộ tịch còn phải thực hiện chứng thực theo Nghị định 23/2015 NĐ-CP trong khi hầu hết chỉ có 1 cán bộ Tư pháp, hạn chế về trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của cán bộ quản lý hộ tịch cấp xã. Một khó khăn nữa đối với cán bộ công chức quản lý hộ tịch ở xã là ngoài nhiệm vụ giúp uỷ ban nhân dân xã thực hiện chức năng quản lý và đăng ký hộ tịch, họ còn phải đảm nhận nhiều công việc khác nhau (theo thống kê thì công chức tư pháp – hộ tịch phải đảm nhiệm 12 đầu việc), ngoài nhiệm vụ về đăng ký hộ tịch được quy định ra, công chức Tư pháp hộ tịch còn phải thực hiện các việc khác theo quy định của pháp luật như: chứng thực, hoà giải, trợ giúp pháp lý, phổ biến giáo dục pháp luật… các việc khác do uỷ ban nhân dân giao chính vì vậy, họ không đủ thời gian để tập trung thực hiện tốt nhiệm vụ hộ tịch được giao.

  • Ba là, tính không hợp lý của hệ thống tổ chức cơ quan đăng ký hộ tịch: Tại Tư pháp xã có từ 5 đến 7 thành viên, chủ tịch hoặc phó chủ tịch uỷ ban nhân dân xã là trưởng ban Tư pháp, cán bộ công chức Tư pháp – hộ tịch là phó trưởng ban, các thành viên khác gồm chủ tịch mặt trận Tổ quốc, công an, địa chính, phụ nữ xã.

Kinh phí phục vụ cho công tác đăng ký quản lý hộ tịch chưa được quy định cụ thể nên lúng túng khi thực hiện. Ở địa phương chưa cấp kinh phí ban đầu cho việc mua sổ, biểu mẫu hộ tịch nên còn luẩn quẩn trong việc nhận và thanh toán biểu mẫu. Nhận trước và thanh toán sau để kịp thời phục vụ, khi có tiền thu lệ phí biểu mẫu thì mới thanh toán do vậy cán bộ Tư pháp phải mở sổ theo dõi việc nhận và thanh toán biểu mẫu, mất nhiều thời gian.

 Việc tìm hiểu và nghiên cứu của các văn bản pháp luật liên quan đến lĩnh vực hộ tịch gặp nhiều khó khăn trên địa bàn xã do thường bị thay đổi về cán bộ mỗi khi bầu cử, do sắp xếp cán bộ, do công tác đào tạo bồi dưỡng cán bộ kế cận còn chưa được coi trọng, thiếu nguồn bổ sung…từ đó dẫn đến việc áp dụng sai pháp luật đồng thời cũng dẫn đến tình trạng áp dụng pháp luật về hộ tịch không thống nhất. Cùng một loại việc hộ tịch nhưng việc giải quyết không giống nhau.

Tiểu kết chương 2

Qua nghiên cứu thực trạng quản lý nhà nước về hộ tịch xã Đông Hưng cho ta thấy các đặc thù trong quản lý nhà nước về hộ tịch trên địa bàn; thực tiễn quản lý nhà nước về hộ tịch để thấy được những ưu điểm và hạn chế trong công tác này. Từ Những ưu điểm cần phát huy, hạn chế nhằm khắc phục dể có những giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hộ tịch tại xã Đông Hưng. Khóa luận: Thực trạng quản lý nhà nước hộ tịch tại xã Đông Hưng.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ: 

===>>> Khóa luận: Giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về hộ tịch

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464