Chia sẻ chuyên mục Đề tài Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm khóa luận tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài khóa luận tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm khóa luận thì với đề tài Khóa luận: Giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – chi nhánh Hà Nội – phòng giao dịch Thanh Nhàn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cùng với bước chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế đã được thúc đẩy mạnh mẽ. Cạnh tranh là điều không thể tránh khỏi. Hiện nay, nước ta có quá nhiều ngân hàng thương mại (NHTM) trong khi đó, quy mô của nền kinh tế nước ta còn khá khiêm tốn. Thị trường ngân hàng Việt Nam vốn đã “chật hẹp” nay lại càng chật hẹp hơn, buộc các ngân hàng thương mại trong nước phải cạnh tranh với nhau để giành, giữ thị trường. Dưới sức ép của quy luật cạnh tranh, các ngân hàng khi tham gia thị trường buộc phải tìm nhiều các biện pháp nâng cao năng lực kinh doanh để tồn tại và phát triển trên thị trường. Để làm được điều đó, ngân hàng cần phải có nguồn vốn dồi dào. Mặt khác nguồn vốn tự có lại chiếm một tỷ trọng rất nhỏ trong tổng nguồn vốn của ngân hàng. Vì vậy, vấn đề đặt ra là các ngân hàng thương mại cần có những giải pháp để tăng cường huy động vốn đặc biệt là nguồn tiền gửi nhằm đáp ứng nhu cầu kinh tế nói chung và nhằm đảm bảo hoạt động của ngân hàng nói riêng.
Trong những năm qua cùng với những hoạt động tài chính ngân hàng, ACB – PGD Thanh Nhàn luôn tự đổi mới và hoàn thiện, khắc phục những hạn chế và khó khăn còn tồn tại góp phần không nhỏ trong việc nâng cao hoạt động của PGD và hoạt động của hệ thống ACB. Tuy nhiên, công tác huy động tiền gửi tại đơn vị vẫn còn nhiều bất cập, cơ cấu tiền gửi huy động được không ổn định.
Xuất phát từ thực tế trên, kết hợp với quá trình thực tập ACB – PGD Thanh Nhàn, cùng với sự hướng dẫn tận tình của giảng viên Ths. Trần Thị Như Trang nên tác giả đã chọn đề tài “Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu – chi nhánh Hà Nội – PGD Thanh Nhàn ” làm đề tài cho chuyên đề tốt nghiệp của tác giả.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Dịch Vụ Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Tài Chính – Ngân Hàng
2. Mục đích nghiên cứu Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Mục tiêu nghiên cứu của luận văn là tìm hiểu về hoạt động huy động nguồn vốn tiền gửi của ngân hàng và các chỉ tiêu ảnh hưởng đến hoạt động huy động nguồn vốn tiền gửi của ngân hàng. Đồng thời, thông qua việc phân tích, đánh giá tình hình thực tế công tác huy động nguồn vốn tiền gửi từ tổ chức kinh tế và dân cư của Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu – Chi nhánh Hà Nội – PGD Thanh Nhàn , đưa ra những giải pháp cụ thể, khả thi nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động nguồn vốn tiền gửi tại PGD.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động huy động nguồn vốn tiền gửi của
Ngân hàng thương mại và thực trạng Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu – Chi nhánh Hà Nội – Thanh Nhàn dựa trên các yếu tố: quy mô, cơ cấu, chi phí vốn tiền gửi với khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn tiền gửi thông qua phân tích cụ thể các số liệu của ngân hàng trong 3 năm 2013 – 2015.
Phạm vi nghiên cứu: Nghiên cứu trên phạm vi Ngân hàng Thương Mại Cổ Phần Á Châu – PGD Thanh Nhàn thuộc địa bàn quận Hai Bà Trưng – Hà Nội.
4. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng phương pháp mô tả – giải thích, đối chiếu – so sánh, phân tích – tổng hợp. Ngoài ra luận văn còn thu thập thêm thông tin và số liệu liên quan đến vấn đề nghiên cứu từ các sách giáo trình tham khảo tạp chí, báo báo điện tử các quy định liên quan đến hoạt động huy động vốn của NHTM và ngân hàng nhà nước Việt Nam.
5. Nội dung kết cấu khoá luận
Kết cấu của luận văn gồm 3 chương:
Chương I : Cơ sở lý luận về hoạt động huy động vốn tiền gửi của Ngân hàng thương mại.
Chương II : Thực trạng hoạt động huy động tiền gửi tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – chi nhánh Hà Nội – PGD Thanh Nhàn.
Chương III : Một số giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng thương mại cổ phần Á Châu – chi nhánh Hà Nội – PGD Thanh Nhàn.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TIỀN GỬI TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Khái quát về NHTM trong nền kinh tế thị trường Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là một tổ chức tài chính trung gian kinh doanh tiền tệ dưới hình thức huy động, cho vay, đầu tư và cung cấp các dịch vụ khác. Là tổ chức thu hút tiết kiệm lớn nhất, đóng vai trò thủ quỹ cho toàn xã hội. Lịch sử hình thành và phát triển của ngân hàng gắn liền với lịch sử phát triển của nền sản xuất hàng hóa.
Căn cứ vào mục đích hoạt động và tính chất, Luật Ngân hàng của Pháp năm 1941 đã quy định “Ngân hàng là những xí nghiệp hay cơ sở thường xuyên nhận của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác các số tiền mà họ dùng cho chính họ vào các nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hay dịch vụ tài chính”. mỗi nước khác nhau, thì quan niệm của họ về Ngân hàng cũng khác nhau.
Luật tổ chức tín dụng của Việt Nam quy định tại điều 20 khoản mục
“ Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu hoạt đông, các loại hình ngân hàng gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng phát triển, ngân hàng đầu tư, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình ngân hàng khác”.
Tại khoản mục 7 của điều 20 luật các tổ chức tín dụng của Việt Nam quy định: “Hoạt động ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng với nội dung thường xuyên là nhận tiền gửi, sử dụng số tiền này để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán”.
NHTM là một định chế tài chính thực hiện chức năng kinh doanh tiền tê. Dù dưới bất kỳ hình thức nào, các NHTM luôn luôn đặt lợi nhuận của mình lên đầu tiên. Để đạt được điều đó, công cụ duy nhất mà các ngân hàng phải có đó chính là vốn.
1.1.2 Vai trò của NHTM đối với sự phát triển của nền kinh tế
Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp đặc biệt trong nền kinh tế, nó không chỉ tạo ra lợi nhuận cho xã hội mà còn thúc đẩy kinh tế của mỗi quốc gia phát triển. Vậy nên NHTM có những vai trò chính sau: Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế
NHTM là chủ thể chính đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất kinh doanh. NHTM đứng ra huy động các nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế như: Vốn tạm thời được giải phóng ra từ quá trình sản xuất, vốn từ nguồn tiết kiệm của các cá nhân trong xã hội. Bằng vốn huy động được trong nền kinh tế, thông qua hoạt động tín dụng, NHTM cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh tế và đáp ứng các nhu cầu vốn một cách kịp thời cho quá trình tái sản xuất. Nhờ các hoạt động của hệ thống NHTM đặc biệt là hoạt động tín dụng, các doanh nghiệp có điều kiện mở rộng sản xuất, cải tiến máy móc công nghệ, tăng năng suất lao động, nâng cao hiệu quả kinh tế.
NHTM là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường
Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan như: Quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh… Và sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường trên mọi phương diện. Để có thể đáp ứng tốt nhất yêu cầu của thị trường, doanh nghiệp không những phải nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán…Bên cạnh đó còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây truyền công nghệ, tìm tòi sử dụng nguyên vật liệu mới, mở rộng quy mô sản xuất một cách hợp lý… Những hoạt động này đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư, nhiều khi vượt qua khả năng vốn tự có của doanh nghiệp. Do đó, để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn nhằm thoả mãn nhu cầu về nguồn vốn đầu tư của mình. Thông qua hoạt động tín dụng, NHTM chính là chiếc cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường.
NHTM là công cụ nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, NHTM hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình góp phần vào việc thực hiện các mục tiêu của chính sách tiền tệ quốc gia như: ổn định giá cả, kiềm chế lạm phát, tạo công ăn việc làm, ổn định lãi suất, ổn định thị trường tài chính, thị trường ngoại hối, ổn định và tăng trưởng kinh tế. Thông qua việc cung ứng tín dụng cho các ngành trong nền kinh tế, NHTM thực hiện việc dẫn dắt các luồng tiền, tập hợp và phân chia vốn của thị trường, điều khiển chúng một cách có hiệu quả và thực thi vai trò điều tiết gián tiếp vĩ mô: “Nhà nước điều tiết ngân hàng, ngân hàng dẫn dắt thị trường”.
NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế
Trong nền kinh tế thị trường khi mà các mối quan hệ hàng hoá tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế – xã hội giữa các nước trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Vì vậy, nền tài chính của mỗi nước cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM cùng các hoạt động kinh doanh của mình đã đóng góp một vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ kinh doanh như nhận tiền gửi, cho vay, nghiệp vụ thanh toán, nghiệp vụ ngoại hối và các nghiệp vụ khác, Ngân hàng thương mại đã tạo điều kiện thúc đẩy ngoại thương không ngừng được mở rộng. Thông qua các hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các NHTM nước ngoài, hệ thống NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.
1.1.3 Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
1.1.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn
NHTM kinh doanh một loại hàng hóa đặt biết đó chính là tiền tệ. Để có thể kinh doanh được mặt hàng này phát luật có quy định rõ, để thành lập được. NHTM phải có một lượng vốn nhất định. Đó chính là loại vốn ngân hàng sử dụng lâu dài, thường dùng để mua sắm trang thiết bị, cơ sở hạn tầng. Vốn này còn có thể được Nhà nước cấp hoặc do các thành viên đóng góp. Ngoài ra, vốn do ngân hàng sở hữu nó còn bao gồm cả vốn bổ sung trong quá trình họat động của ngân hàng như là vốn bổ sung do phát hành thêm cổ phần, lợi nhuận không chia…, các quỹ của ngân hàng như là quỹ dự phòng, quỹ khen thưởng, quỹ phúc lợi, ….Và nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần. Tuy nhiên trong ngân hàng vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng rất nhỏ cho nên ngân hàng kinh doanh phần lớn dựa trên số vốn huy động. Ngân hàng sẽ huy động được vốn từ các tổ chức, doanh nghiệp, dân cư. Ngân hàng huy động vốn dưới 2 hình thức đó là huy động tiền gửi và vay tiền.
Huy động tiền gửi: tiền gửi của khách hàng chính là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM. Nó chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn tiền của ngân hàng. Chính vì thế, trong bối cảnh kinh tế thị trường như hiện nay, cạnh tranh để có thể huy động được nhiều vốn với chất lượng ngày càng cao đòi hỏi ngân hàng phải đưa và các loại hình huy động phong phú hấp dẫn đối với người đi gửi tiền. NHTM thực hiện rất nhiều các hình thức huy động tiền gửi để phù hợp với mục đích của từng khách hàng mà ngân hàng hướng tới: tiền gửi thanh toán, tiền gửi có kỳ hạn của các doanh nghiệp, các TCXH, tiền gửi tiết kiệm của dân cư và tiền gửi của các ngân hàng khác.
Nguồn đi vay: Khi mà tiền gửi không đủ để đáp ứng được nhu cầu cấp bách của các ngân hàng thì các ngân hàng sẽ phải vay mượn thêm để đáp ứng khả năng chi trả, thanh toán. Lúc đó, ngân hàng có thể vay NHNN, vay các TCTD khác, vay trên thị trường vốn.
1.1.3.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn
Nghiệp vụ đầu tư cho vay chính là nghiệp vụ sử dụng vốn của NHTM. Nó là nghiệp vụ cơ bản, đặc trưng mang tính truyền thống. Nghiệp vụ này mang lại nguồn thu nhập chủ yếu cho NHTM. Với số tiền mà ngân hàng huy động được, ngân hàng tiến hành dự trữ tiền mặt để dảm bảo tỷ lệ dự trữ bắt buộc ( tỷ lệ này do NHNN quy định ) của NHNN và đáp ứng khả năng thanh toán cho ngân hàng. Sau đó ngân hàng với tiến hành cho vay và đầu tư. Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Nghiệp vụ cho vay: cho vay là một quan hệ kinh tế, trong đó chủ thể này chuyển giao quyền sử dụng một lượng giá trị ( có thể bằng tiền hoặc bằng hiện vật ) cho một chủ thể khác trong một khoảng thời gian nhất định, sau khoảng thời gian đó, chủ thể đi vay phải trả cho chủ thể cho vay một khoản lớn hơn ban đầu phần dôi ra người ta gọi là lãi còn phần ban đầu thì gọi là gốc. Cho vay là hoạt động cơ bản nhất của NHTM, nó đem lại phần thu nhập cho ngân hàng nhưng cũng chứa đựng nhiều rủi ro nhất và đưa đến cho ngân hàng nhiều tổn thất nếu rủi ro xảy ra. Chính vì thế, để đảm bảo an toàn và khả năng sinh lời thì các NHTM để thực hiện các nguyên tắc sau :
Thứ nhất: Khách hàng phải cam kết với ngân hàng trả cả gốc lẫn lãi trong khoảng thời gian xác định. Điều này rất quan trọng vì các khoản ngân hàng cho vay hầu hết là các nguồn mà ngân hàng huy động được nên chính bản thân ngân hàng cũng phải trả gốc và lãi trong thời gian xác định. Điều này để đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng.
Thứ hai: khách hàng phải cam kết sử dụng số tiền mà khách hàng đã vay ngân hàng đúng vào mục đích và khách hàng đã ký kết trong hợp đồng. Điều này sẽ giúp cho ngân hàng dễ dàng quản lý các khoản cho vay hơn. Nếu ngân hàng thấy khách hàng sử dụng không đúng mục đích hoặc trái với mục đích hoặc trái với quy định của pháp luật thì ngân hàng phải xem xét và có cách giải quyết để tránh được rủi ro nhất cho mình.
Thứ ba: ngân hàng tài trợ dựa trên phương án hoặc dự án có hiệu quả. Khách hàng phải chứng minh rằng số vốn mà mình vay ngân hàng sử dụng có hiệu quả và ngân hàng có khả năng thu hồi lại được vốn. Ngân hàng sẽ tiền hành thu thập thông tin, phân tích, thẩm định và xem xét phương án, dự án có hiệu quả hay không. Nếu ngân hàng thấy dự án không khả thi thì ngân hàng đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo khi vay ngân hàng.
Hoạt động đầu tư:
Ngân hàng thường chia chứng khoán thành 2 loại: chứng khoán có tính thanh khoản và chứng khoán kém thanh khoản. Chứng khoán có tính thanh khoản cao thường là các chứng khoán an toàn, dễ bán, dễ quy đổi thành tiền, ít giảm giá nên thường có tỷ lệ sinh lời thấp. Còn các chứng khoán kém thanh khoản là các chứng khoán có mức rủi ro cao nên thường các chứng khoán đó sẽ có tỷ lệ sinh lời cao. Chính vì thế, ngân hàng có thể dự trữ thứ cấp bằng các chứng khoán có tính thanh khoản co thay cho tiền mặt. Vì chúng có thể đảm bảo được tính thanh khoản vừa tăng tỷ lệ lợi tức cho ngân hàng. Đồng thời, các ngân hàng sẽ dựa vào tình hình tài chính của công ty mà ngân hàng đầu tư vào chứng khoán kém thanh khoản để tăng thêm thu nhập.
1.1.3.3 Nghiệp vụ cung ứng các dịch vụ ngân hàng Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
- Cung cấp các phương tiện thanh toán.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán trong nước cho khách hàng.
- Thực hiện dịch vụ thu hộ và chi hộ.
- Thực hiện các dịch vụ thanh toán khác theo quy định của NHNN.
- Thực hiện dịch vụ thu và phát tiền mặt cho khách hàng.
- Tổ chức hệ thống thanh toán nội bộ và tham gia hệ thống thanh toán liên NH
- Tham gia hệ thống thanh toán quốc tế khi được NHNN cho phép.
1.1.3.4 Các hoạt động khác
Góp vốn và mua cổ phần:
Góp vốn, mua cổ phần các doanh nghiệp và tổ chức tín dụng khác.
Góp vốn, mua cổ phần và liên doanh với ngân hàng nước ngoài.
Kinh doanh ngoại hối: có thể trực tiếp kinh doanh hoặc thành lập công ty trực thuộc.
Tham gia thị trường tiền tệ :thông qua hình thức mua bán công cụ
Ủy thác và nhận ủy thác: trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng kể cả việc quản lý tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước.
Cung ứng dịch vụ bảo hiểm: có thể thành lập hoặc công ty liên doanh để kinh doanh bảo hiểm.
Tư vấn tài chính: cung ứng qua hình thức tư vấn trực tiếp hoặc thành lập công ty tư vấn trực thuộc.
Bảo quản vật quý giá: bảo quản vật quý, giấy tờ có giá, cho thuê tủ két, cầm cố và các dịch vụ khác. xuất kinh doanh cũng như tiêu dùng. So với các nước phát triển như Mỹ, Nhật, …. Họ có hơn 1000 dịch vụ thì ở Việt Nam, các dịch vụ mà ngân hàng cung cấp còn khá nghèo nàn, chủ yếu là các dịch vụ mua bán ngoại tê, nhận tiền gửi, cho vay, bảo lãnh, bao thanh toán, chuyển và nhận tiền, các dịch vụ tư vấn ủy thác và các dịch vụ đại lý. Các ngân hàng cần phải đa dạng hóa các dịch vụ trung gian để là tăng thêm thu nhập từ dịch vụ, tăng uy tín , khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
1.1.4 Nguồn vốn và nghiệp vụ huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
1.1.4.1 Nguồn vốn của Ngân hàng thương mại
Tiền tệ chính là đối tượng kinh doanh của NHTM. Do đó, vốn của NHTM chủ yếu là vốn bằng tiền. NHTM kinh doanh phần lớn dựa trên số vốn mà ngân hàng huy động được (ngoài ra ngân hàng phải có một số vốn nhất định gọi là vồn pháp định ). Với số vốn đó ngân hàng kinh doanh để trang trải chi phí huy động và tích lũy để phục vụ sự phát triển của ngân hàng. Có nhiều hình thức sử dụng vốn với các mức độ sinh lời và rủi ro khác nhau. Vì thế, tùy vào định hướng cũng như cách thức thực hiện của từng đơn vị. Ngân hàng đã làm nhiệm vụ chuyển tiền từ tay người tiết kiệm sang tay của những nhà đầu tư đang cần vốn để sản xuất kinh doanh để làm tăng nhanh quá trình luân chuyển vốn từ người thừa vốn sang người thiếu vốn. Và như thế, ngân hàng đã làm nhiệm vụ phục vụ và kích thích mọi hoạt động phát triển kinh tế.
Theo giáo trình “Nghiệp vụ ngân hàng thương mại” do PGS.TS Nguyễn Đăng Dờn biên soạn nguồn vốn của NHTM được định nghĩa như sau: “Nguồn vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác”.
Nguồn vốn đóng vai trò quan trọng, quyết định sự sống còn của các NHTM nguồn vốn chính là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh của mình. Quyết định đến quy mô hoạt động tín dụng và các hoạt động dịch vụ khác của ngân hàng; quyết định đến năng lực cạnh tranh và đảm bảo uy tín của ngân hàng ở trong nước cũng như trên trường quốc tế. Cơ cấu của nguồn vốn của NHTM có thể chia thành 4 nhòm cơ bản như nguồn vốn chủ sở hữu, nguồn vốn tiền gửi, nguồn đi vay và các nguồn khác.
1.1.4.2 Nghiệp vụ huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Khái niệm huy động vốn
Các nhà kinh tế học đưa ra định nghĩa về hoạt động huy động vốn của NHTM rằng: “Huy động vốn là hoạt động của ngân hàng nhằm huy động được các giá trị tiền tệ từ các tổ chức kinh tế và cá nhân trong xã hội thông qua quá trình thực hiện các nghiệp vụ tín dụng, thanh toán, các nghiệp vụ kinh doanh khác và được dùng làm vốn để kinh doanh”.
Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các chủ sở hữu khác nhau. Ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và có trách nhiệm hoàn trả đúng hạn cả gốc và lãi khi đến kỳ hạn (tiền gửi có kỳ hạn) hoặc khi họ có nhu cầu rút vốn (tiền gửi không kỳ hạn).Vốn huy động đóng vai trò rất quan trọng đối với mọi hoạt động kinh doanh của NHTM.
Vốn huy động luôn biến động, nên ngân hàng không được phép sử dụng hết số vốn đó vào kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán.Có nhiều hình thức khác nhau mà NHTM sử dụng để huy động vốn như: Nhận tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
Bên cạnh các hình thức huy động trên, NHTM còn sử dụng một số hình thức khác để thu hút các khoản tiền tiết kiệm của các chủ thể trong nền kinh tế như: Phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu. Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Tính tất yếu của việc huy động vốn
Vốn là nguồn lực quan trọng để kinh doanh, các NHTM bằng nhiều biện pháp đa dạng hoá các hình thức huy động vốn phong phú, hấp dẫn, lãi suất linh hoạt, đổi mới phong cách giao dịch, ứng dụng công nghệ thông tin vào các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng, phục vụ khách hàng nhanh chóng, chính xác và an toàn. Điều này tất yếu dẫn đến sự tăng trưởng nhanh chóng của nguồn vốn huy động. Trên cơ sở nguồn vốn huy động dồi dào, ngân hàng có điều kiện quản lý, điều hành cân đối vốn một cách chặt chẽ, linh hoạt, sử dụng hiệu quả các nguồn vốn để mở rộng hoạt động kinh doanh, không chỉ dừng lại ở các hoạt động kinh doanh truyền thống mà còn cung cấp các sản phẩm kinh doanh hiện đại, đẩy mạnh cải tiến thanh toán không dùng tiền mặt, phát triển, mở rộng quan hệ đại lý với các ngân hàng nước ngoài, từ đó mở rộng phạm vi hoạt động, nâng cao khả năng cạnh tranh, vị thế, uy tín của ngân hàng ở thị trường trong và ngoài nước.
Hoạt động huy động vốn hiệu quả giúp ngân hàng đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả cho khách hàng và đảm bảo hoạt động kinh doanh không bị ngừng trệ. Khi một ngân hàng do thiếu vốn mà từ chối một khoản cho vay đúng mục đích, có khả năng trả nợ của khách hàng là điều không tốt, ngân hàng sẽ mất cơ hội đầu tư, giảm uy tín, khách hàng có thể nghi ngờ về hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Hoạt động huy động vốn tiền gửi của NHTM góp phần thực thi chính sách tiền tệ, kiềm chế lạm phát. Thông qua các nghiệp vụ nhận tiền gửi ngân hàng huy động được một lượng vốn khá lớn trong nền kinh tế, giảm dần lượng tiền mặt trong lưu thông, góp phần giảm áp lực tăng giá cả hàng hóa ổn định giá trị đồng tiền. Đồng thời, nguồn vốn tiền gửi là cơ sở cho các khoản vay để thực hiện các dự án khả thi, mang lại hiệu quả kinh tế xã hội cao, phát triển các ngành nghề mới, tạo ra công ăn việc làm, nâng cao thu nhập, đời sống của người dân…
Với tầm quan trọng như vậy, các NHTM cần phải hết sức chú trọng tới việc nâng cao chất lượng và đa dạng hoá các hình thức huy động vốn.
1.2 Nguồn vốn tiền gửi và vai trò của nguồn vốn tiền gửi
1.2.1 Khái niệm nguồn vốn tiền gửi
Theo luật các TCTD nước ta quy định: Tiền gửi là tiền mà các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại nhằm mục đích phục vụ các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt, tiết kiệm và một số mục đích khác. Là giá trị tiền tệ mà NHTM nhận được từ khách hàng là cá nhân hoặc tổ chức kinh tế.
Đặc điểm cơ bản của nguồn vốn này không thuộc sở hữu của ngân hàng thương mại. Tiền gửi chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn và là cơ sở tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng. Để gia tăng VTG trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau. Tiền gửi đa dạng về loại hình, kỳ hạn và phân tán khắp nơi. Vốn huy động tiền gửi hình thành từ hai nguồn chính là: Tiền gửi của các cá nhân và tiền gửi từ các tổ chức kinh tế.
1.2.2 Cơ cấu vốn tiền gửi Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
1.2.2.1 Cơ cấu vốn tiền gửi theo đối tượng
1.2.2.1.1 Tiền gửi dân cư
Tiền gửi dân cư là lượng tiền nhàn rỗi của khách hàng gửi vào ngân hàng để hưởng lãi hoặc để tiết kiệm cho chi tiêu tương lai. Đây là nguồn vốn có tính ổn định cao nên các NHTM luôn chú trọng đến các hình thức huy động với lãi suất hấp dẫn để thu hút lượng khách hàng này.
1.2.2.1.2 Tiền gửi các tổ chức kinh tế – xã hội
Tiền gửi các tổ chức kinh tế, xã hội là khối lượng tiền mà các tổ chức gửi vào ngân hàng với mục đích chủ yếu là thanh toán và nhằm sinh lời khi có nguồn vốn nhàn rỗi chưa cần dùng đến. Nó đóng vai trò rất quan trọng trong tổng nguồn vốn huy động của ngân hàng đồng thời loại tiền gửi này cũng chiếm tỷ trọng lớn. Đây là nguồn vốn tiền gửi có tính ổn định cao nhất trong tổng nguồn vốn huy động và cũng là nguồn vốn chủ yếu để Ngân hàng thực hiện kinh doanh và đầu tư.
1.2.2.2 Cơ cấu vốn tiền gửi theo loại tiền
1.2.2.2.1 Tiền gửi bằng nội tệ (VND)
Ngoài việc phân biệt nguồn vốn huy động tiền gửi theo đối tượng, theo kỳ hạn thì việc xác định vốn tiền gửi theo đồng tiền Việt Nam đồng huy động cũng rất quan trọng. Tiền gửi bằng nội tệ là nguồn tiền huy động chủ yếu nên các NHTM luôn chú trọng đa dạng các gói sản phẩm huy động.
1.2.2.2.2 Tiền gửi bằng ngoại tệ
Tiền gửi bằng ngoại tệ là khoản tiền gửi chiếm tỉ trọng không cao nhưng nó giúp ngân hàng duy trì mối quan hệ với các cá nhân, doanh nghiệp,TCKT có nhu cầu sử dụng ngoại tệ thường xuyên. Nên các NHTM vẫn chú trọng tới các gói sản phẩm huy động tiền gửi bằng đồng ngoại tệ.
1.2.2.3 Cơ cấu vốn tiền gửi theo kỳ hạn Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
1.2.2.3.1 Tiền gửi không kỳ hạn ( Demand deposit )
Là các loại tiền gửi không hoàn toàn theo quy tắc khả dụng, nghĩa là người gửi có quyền rút tiền vào bất cứ lúc nào họ muốn. Ngân hàng sẽ sắp xếp loại tiền gửi này vào nhóm tiền gửi không kỳ hạn, nghĩa là các khoản gửi với thời gian không xác định. Người vừa mới gửi tiền sáng nay nếu cần có thể rút ra ngay vào buổi chiều cùng ngày. Nếu không có nhu cầu sử dụng người gửi có thể một tháng hoặc một năm sau mới rút ra…Tính bất định về thời gian gửi, cùng với đặc điểm có thể rút ra bất cứ lúc nào cần đã làm cho loại tiền gửi này có tên gọi theo tiếng anh là tiền gửi theo yêu cầu (demand deposits). Tiền gửi không kỳ hạn vào mỗi thời điểm trong các tài khoản không kỳ hạn của các NHTM tạo khả năng có thể viết séc để chi tiền hoặc chuyển nhượng khi cần. Vì vậy, tiền gửi không kỳ hạn còn được gọi với tên khác là tiền trong tài khoản séc (checking accounts). Đối với loại tiền gửi này khách hàng không có ý định để dành và cũng không chú trọng đến tiền lãi. Khách hàng chỉ muốn đổi hình thức tiền tệ này bằng một hình thức tiền tệ khác và thích thanh toán bằng các phương thức không dùng tiền mặt hơn là bằng tiền mặt.
Việt Nam, tiền gửi không kỳ hạn được hiểu là loại tiền gửi mà khách hàng có thể rút ra bất cứ lúc nào và ngân hàng phải thực hiện theo yêu cầu này. Tiền gửi không kỳ hạn bao gồm:
Tiền gửi thanh toán: Là loại tiền gửi để thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh và tiêu dùng. Đây là một bộ phận tiền đang chờ thanh toán mà không phải là tiền để dành, do vậy khách hàng gửi tiền không mất quyền sử dụng số tiền này. Họ có thể rút ra, chuyển nhượng hoặc chi trả trong thanh toán bất cứ lúc nào theo yêu cầu.
Tiền gửi không kỳ hạn (thuần túy): Đây là loại tiền gửi thể hiện khoản tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng, họ gửi tiền vào ngân hàng không mang tính chất để thanh toán mà nhằm mục đích an toàn tài sản, khi cần khách hàng đến ngân hàng rút tiền để chi tiêu.
1.2.2.3.2 Tiền gửi có kỳ hạn ( Time deposit )
Là một cam kết gửi tiền giữa Ngân Hàng với khách hàng trong một kỳ hạn nhất định. Tiền gửi có kì hạn thường có lãi suất cao hơn tiền gửi không kì hạn. Mục đích của người gửi tiền có kỳ hạn là để lấy lãi. Do tính chất loại nguồn vốn này tương đối ổn định, ngân hàng có thể sử dụng phần lớn số dư này để cho vay trung và dài hạn phụ thuộc vào thời hạn của tiển gửi. Nếu nguồn vốn này chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn vốn tiền gửi thì sẽ tạo điều kiện thuận lợi, chủ động cho ngân hàng trong quá trình kinh doanh.
Là sản phẩm tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, theo đó, khách hàng được quyền rút từng phần tiền gửi gốc một cách linh hoạt. Với mỗi kỳ hạn khác nhau, ngân hàng áp dụng các lãi suất khác nhau, thông thường thời hạn càng dài thì lãi suất càng cao. Theo đúng nguyên tắc khách hàng chỉ có thể rút tiền gửi loại này theo đúng quy định, tuy nhiên để nâng cao uy tín và chất lượng phục vụ, lôi kéo khách hàng, ngân hàng cho phép khách hàng rút trước thời hạn nhưng với điều kiện hưởng lãi suất thấp hơn.
1.2.2.3.3 Tiền gửi tiết kiệm Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Là khoản tiền của cá nhân được gửi vào tài khoản tiền gửi tiết kiệm, được xác nhận trên sổ tiết kiệm và được hưởng lãi theo quy định của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Bao gồm:
Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:
Là tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền có thể rút theo yêu cầu mà không cần báo trước vào bất cứ ngày làm việc nào của tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Đối với khách hàng khi chọn lựa hình thức gửi tiền này thì mục tiêu an toàn và tiện lợi quan trọng hơn mục tiêu sinh lời. Đối với ngân hàng, vì loại tiền này khách hàng muốn rút bất cứ lúc nào cũng được nên ngân hàng phải đảm bảo quỹ để chi trả và khó lên kế hoạch sử dụng tiền để cấp tín dụng. Do vậy ngân hàng thường trả lãi rất thấp cho loại tiền gửi này.
Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:
Là loại tiền gửi tiết kiệm mà người gửi tiền chỉ có thể rút tiền sau một kỳ hạn gửi tiền nhất định theo thỏa thuận với tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm. Mục tiêu quan trọng của khách hàng khi lựa chọn hình thức gửi tiền này là lợi tức có được theo định kỳ. Do vậy lãi suất đóng vai trò quan trọng để thu hút đối tượng khách hàng này. Dĩ nhiên lãi suất trả cho loại tiền gửi tiết kiệm định kỳ cao hơn loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Mức lãi suất còn thay đổi tùy theo kỳ hạn (3,6,9 hay 12 tháng), tùy theo loại đồng tiền gửi tiết kiệm là (VNĐ, USD, EUR hay vàng) và còn tùy theo uy tín, rủi ro của ngân hàng nhận tiền gửi.
1.2.2.3.4 Tiền gửi thanh toán
Thông qua tài khoản giao dịch tại NHTM người sử dụng có thể phát hành séc hoặc lệnh chi trả cho người khác (ủy nhiệm chi). Để huy động được nguồn vốn này ngân hàng phải nâng cao chất lượng trong nghiệp vụ thanh toán, tiện lợi nhanh chóng, ngân hàng còn phải trả lãi cho khoản tiền này, thường là bằng với lãi suất tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Các cá nhân muốn mở tài khoản thanh toán tại NHTM ngoài những quy định về mặt pháp lý còn phải để một khoản số dư tối thiểu trong tài khoản.
1.2.2.3.5 Tiền gửi khác
Ngoài ra, ngân hàng còn có các khoản tiền gửi khác như: tiền gửi ký quỹ, tiền gửi vốn chuyên dùng, tiền gửi của Kho bạc Nhà nước, tiền gửi của các Tổ chức đoàn thể xã hội… Nhằm mục đích nhờ thanh toán hộ và một số mục đích khác, các Tổ chức tín dụng có thể gửi tiền tại ngân hàng. Tuy nhiên, quy mô nguồn tiền gửi này thường không lớn và ít được tiến hành phổ biến.
Tóm lại: Trên thực tế, nhu cầu sử dụng vốn của các NHTM rất lớn, nguồn tiền gửi các ngân hàng huy động được không phải lúc nào cũng đủ đáp ứng. Đôi khi, để tài trợ cho hoạt động kinh doanh của mình các NHTM còn huy động vốn bằng cách đi vay. Vốn tiền gửi là nguồn vốn chiếm tỷ trọng cao nhất trong tổng nguồn vốn của NHTM là nguồn vốn chủ yếu để ngân hàng kinh doanh, nó phản ánh bản chất của ngân hàng “đi vay để cho vay”.
1.2.3 Vai trò của vốn tiền gửi Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Đối với nền kinh tế
Chức năng huy động nguồn vốn tiền gửi của ngân hàng có vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy tăng trưởng kinh tế vì nó đáp ứng nhu cầu vốn để đảm bảo cho quá trình tái sản xuất được thực hiện liên tục và mở rộng quy mô sản xuất.Nhờ đó ngân hàng đa biến vốn nhàn rỗi thành vốn hoạt động,kích thích quá trình luân chuyển vốn,thúc đẩy sản xuất kinh doanh,thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Đối với ngân hàng
Nguồn vốn tiền gửi là nguồn vốn chủ yếu để thực hiện các nghiệp vụ sinh lời của ngân hàng như cho vay,đầu tư,cung cấp các dịch vụ thanh toán,..Quy mô nguồn vốn tiền gửi thể hiện năng lực tài chính và uy tín của ngân hàng.Nguồn vốn huy động càng lớn càng thể hiện năng lực tài chính mạnh mẽ và sự tin tưởng của khách hàng vào ngân hàng,góp phần củng cố vững chắc vị thế của ngân hàng trên thị trường.
Đối với người gửi tiền
Khi gửi tiền vào ngân hàng ngoài tính chất an toàn còn được hưởng các dịch vụ thanh toán an toàn,uy nhiệm chi,ủy nhiệm thu,thanh toán qua hệ thống máy ATM, thanh toán thông qua Internet… Đối với tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi có kỳ hạn, khách hàng được hưởng lãi và có thể tích lũy tiền để thực hiện mục đích nào đó cho tương lai. Không những thế, trong những trường hợp khách hàng gặp khó khăn về mặt tài chính, ngân hàng có thể tài trợ cho khách hàng bằng các hình thức cầm cố, chiết khấu sổ tiết kiệm, cho vay, bảo lãnh… Vì thế mà công tác huy động vốn tiền gửi rất cần thiết để đáp ứng tất cả các nhu cầu tài chính của nhiều đối tượng khách hàng khác nhau và từ đó ngân hàng luôn có một mạng lưới khách hàng rộng khắp.
1.3 Hiệu quả huy động vốn tiền gửi
1.3.1 Khái niệm
Theo một số nhà quản trị học thì Hiệu quả là sự so sánh giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra. Khi so sánh giữa kết quả và chi phí thì cần phải so sánh dưới dạng thương số, hoặc kết quả/ chi phí hoặc chi phí/ kết quả. Mỗi cách so sánh đó đều cung cấp các thông tin có ý nghĩa khác nhau. Đặc biệt không thể tính kết quả bằng cách lấy kết quả – chi phí vì như vậy chỉ cho ra một chỉ tiêu kết quả chứ không phải chỉ tiêu kết quả.
Khái niệm hiệu quả như trên cho thấy rằng chỉ khi nào đạt được kết quả cao nhất trong điều kiện chi phí thấp nhất mới được coi là có hiệu quả. Tuy nhiên trên thực tế, việc xác định kết quả nào là cao nhất với chi phí thấp nhất là rất khó.
Như vậy, theo các nhà quản trị học: hiệu quả huy động vốn được thể hiện khả năng đáp ứng cao nhất nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Đó chính là sự đáp ứng kịp thời, đầy đủ, nhu cầu sử dụng vốn với chi phí hợp lý.
1.3.2 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn tiền gửi Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Khi đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn, ta thường tập trung vào 2 nhóm chỉ tiêu sau đây:
1.3.2.1 Các chỉ tiêu định lượng
Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn tiền gửi nghĩa : Chỉ tiêu này phản ánh sự tăng trưởng nguồn vốn tiền gửi của ngân hàng. Nếu tỷ lệ này lớn hơn 100% chứng tỏ quy mô, khối lượng vốn tiền gửi của ngân hàng năm này được mở rộng hơn so với năm trước, tương ứng với kết quả là số phần trăm vượt bậc của năm này so với năm trước. Việc mở rộng quy mô huy động vốn tiền gửi một cách liên tục cộng với tốc độ tăng trưởng vốn tiền gửi ngày càng cao sẽ chứng tỏ quy mô hoạt động của ngân hàng ngày càng lớn, hiệu quả huy động vốn tiền gửi của ngân hàng đang được cải thiện và nâng cao.
Cơ cấu nguồn vốn tiền gửi
Ý nghĩa : Cơ cấu vốn tiền gửi là tỷ trọng mỗi loại tiền gửi trên tổng nguồn VTG. Chỉ tiêu này cho biết tỷ lệ giữa các loại vốn tiền gửi trong tổng nguồn vốn tiền gửi, nguồn vốn tiền gửi loại nào nhiều nhất, nguồn vốn tiền gửi loại nào ít nhất. Từ đó, thấy sự phù hợp cân đối giữa các loại nguồn vốn tiền gửi trong tổng nguồn vốn tiền gửi hay chưa, ngân hàng định hướng đầu tư hoặc cho vay vào lĩnh vực nào, với quy mô tương ứng bao nhiêu thì cũng sẽ có kế hoạch xây dựng cơ cấu nguồn VTG tương ứng. Ngoài ra, cơ cấu này còn chịu tác động bởi mục đích gửi tiền của khách hàng, tình hình kinh tế khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng. Cơ cấu nguồn VTG cần đa dạng, cân đối trong đó cần đảm bảo một tỷ lệ hợp lý giữa vốn tiền gửi ngắn hạn so với trung và dài hạn, giữa nội tệ và ngoại tệ…
Chi phí huy động vốn tiền gửi trên tổng chi phí
Chi phí huy động vốn tiền gửi là những khoản chi phí ngân hàng phải bỏ ra để thực hiện việc huy động VTG của ngân hàng. Chỉ tiêu huy động vốn tiền gửi được thể hiện thông qua chỉ tiêu tỷ trọng các khoản mục chi phí. Quản lý chi phí vốn là hoạt động thường xuyên và quan trọng của mỗi ngân hàng, vì mỗi sự thay đổi về cơ cấu nguồn vốn hay lãi suất đều có thể làm thay đổi chi phí trả lãi, từ đó ảnh hưởng đến thu nhập ròng của ngân hàng.
Tổng chi phí huy độngVTG bình quân = (chi phí huy động / tổng chi phí)*100% nghĩa : Chỉ tiêu này đánh giá chi phí mà ngân hàng phải bỏ ra cho hoạt động huy động vốn tiền gửi so với tổng chi phí hoạt động. Tỷ lệ này càng thấp cho thấy hoạt động huy động vốn tiền gửi của ngân hàng càng hiệu quả.
Chi phí trả lãi tiền gửi bình quân
Ý nghĩa : Chi phí trả lãi TG bình quân là khoản chi phí chiếm tỷ trọng lớn nhất, nó là yếu tố quyết định đến việc hoạch định lãi suất cho vay, do vậy ngân hàng cần phải phân tích cụ thể chỉ tiêu lãi suất bình quân đầu vào.
Chỉ tiêu này phản ánh số tiền mà ngân hàng phải bỏ ra cho một đồng vốn tiền gửi huy động được. Nếu chi phí trả lãi bình quân giảm theo từng năm, kèm theo sự tăng trưởng về quy mô vốn tiền gửi chứng tỏ công tác huy động vốn của ngân hàng đạt được những hiệu qu ả nhất định. Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Khả năng đáp ứng nhu cầu kinh doanh
Để đánh giá khả năng đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn, thường sử dụng các chỉ tiêu so sánh nguồn vốn huy động được với các nhu cầu tín dụng, thanh toán và các nhu cầu khác để thấy nguồn vốn huy động có thể đáp ứng được bao nhiêu, ngân hàng phải vay thêm bao nhiêu để thoả mãn nhu cầu ấy. Để đạt được mục tiêu này, NH phải có cơ cấu vốn hợp lý. Cơ cấu vốn huy động ở đây bao gồm cơ cấu vốn theo ngắn hạn và trung hạn, dài hạn, cơ cấu vốn theo nội tệ và ngoại tệ, theo tiền gửi dân cư và tiền gửi doanh nghiệp. Cơ cấu vốn hợp lý có thể đáp ứng được tối đa nhu cầu sử dụng vốn, không có tình trạng bất hợp lý giữa vốn huy động VTG với nhu cầu sử dụng VTG.
Ví dụ : phân tích cơ cấu vốn để đánh giá về khả năng và quy mô thu hút từ nền nền kinh tế của NHTM dựa vào các chỉ số sau đây:
Ý nghĩa : Chỉ tiêu này cho biết nguồn vốn tiền gửi huy động có đủ để đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng hay không, phản ánh sự cân đối giữa nguồn vốn tiền gửi huy động được với hoạt động tín dụng, đầu tư.
Nếu hệ số này > 1 phản ánh nguồn vốn tiền gửi thừa đủ để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng.
Nếu hệ số này < 1 phản ánh nguồn vốn tiền gửi không đủ để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng.
Nếu hệ số này = 1 phản ánh nguồn vốn tiền gửi vừa đủ để đáp ứng cho nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng.
1.3.2.2 Các chỉ tiêu định tính Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Sự gia tăng về tính ổn định của vốn tiền gửi
Thông thường nguồn chiếm hơn 50% tổng nguồn vốn và là mục tiêu tăng trưởng hàng năm của NH. Quy mô huy động vốn tiền gửi là một trong những thước đo quan trọng đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng cũng như hiệu quả hoạt động huy động vốn tiền gửi. Việc ước lượng quy mô nguồn vốn tiền gửi giúp ngân hàng chủ động và có cơ sở để ra các quyết định về quy mô cho vay, đầu tư, góp phần tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả kinh doanh của ngân hàng. Điều đó cho thấy ngân hàng đã thành công khi thu hút được nhiều khách hàng biết đến ngân hàng, tin tưởng và gửi tiền vào ngân hàng. Ngoài ra ngân hàng phải có một cơ cấu vốn hợp lý, điều đó thể hiện bởi sự cân đối giữa vốn huy động ngắn hạn với trung và dài hạn; sự cân đối giữa vốn nội tệ và ngoại tệ.
Sự tăng trưởng vốn tiền gửi về số lượng và thời gian: Vốn tiền gửi phải có sự tăng trưởng về số lượng để có thể thõa mãn các nhu cầu về khối lượng vốn tín dụng, thanh toán, cũng như các hoạt động kinh doanh khác ngày càng gia tăng của ngân hàng. Đồng thời, vốn tiền gửi cũng phải có sự ổn định về mặt thời gian, vì nếu ngân hàng huy động được một khối lượng vốn lớn nhưng không ổn định, thường xuyên có lượng tiền lớn được rót ra, ngân hàng sẽ luôn phải đối mặt với tình trạng mất khả năng thanh toán nếu cho vay và đầu tư quá nhiều. Như vậy hiệu quả huy động vốn tiền gửi sẽ không cao. Ngược lại, nếu nguồn vốn tiền gửi huy động được là ổn định, ngân hàng sẽ yên tâm sử dụng phần lớn số vốn đó vào hoạt động kinh doanh mang lại thu nhập cao. Khi đó, hiệu quả hoạt động huy động vốn tiền gửi là rất cao.
Cơ cấu nguồn vốn phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn: sự biến đổi về cơ cấu nguồn vốn sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu cho vay, đầu tư và kéo theo sự thay đổi trong lợi nhuận, rủi ro của hoạt động kinh doanh ngân hàng. Vì vậy xu hướng biến đổi cơ cấu huy động vốn tiền gửi phải đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn trong tương lai như cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn, cho vay nội tệ, ngoại tệ…
Khả năng điều hành lãi suất và tiết kiệm chi phí huy động vốn tiền gửi
Lãi suất huy động: lãi suất luôn là vấn đề quan tâm hàng đầu của các chủ thể kinh tế. Người gửi tiền muốn hưởng lãi suất cao, người đi vay lại muốn lãi suất thấp. Là trung gian đóng vai trò cầu nối giữa hai đối tượng trên, ngân hàng phải tìm cách đáp ứng được lợi ích của các bên nhưng vẫn phải đảm bảo lợi ích của ngân hàng. Vì vậy, trong huy động vốn mỗi ngân hàng đều cố gắng áp dụng mọi biện pháp có thể nhằm tìm kiếm được những nguồn vốn sao cho chi phí huy động vốn bình quân là thấp nhất và sử dụng số vốn đó để cho vay với mức lãi suất được chấp nhận trên thị trường. Mặt khác, cùng với một mức chi phí trả lãi bình quân, sự đa dạng hóa trong lãi suất cho phù hợp với mỗi hình thức cho vay là cần thiết. Sự đa dạng hóa làm tăng tính hiệu quả của chính sách lãi suất mà ngân hàng đưa ra. Nếu chính sách lãi suất phù hợp, hiệu quả ngân hàng sẽ tối thiểu hóa về chi phí trong khi vẫn hoàn thành kế hoạch về nguồn vốn. Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Chi phí khác: Bên cạnh chi phí chính là chi phí trả lãi tiền gửi i trong quá trình huy động vốn tiền gửi còn có chi phí trả lương cho cán bộ huy động vốn, chi phí in ấn, phát hành, chi phí cơ sở vật chất, chi phí quảng cáo, bảo hiểm tiền gửi…Nếu ngân hàng giảm chi phí huy động bằng cách hạ lãi suất thì việc huy động vốn tiền gửi sẽ gặp rất nhiều khó khăn vì không thể cạnh tranh được với các ngân hàng khác. Do vậy, chỉ có cách là giảm thiểu các chi phí khác và giữ nguyên lãi suất huy động thì ngân hàng mới có thể thực hiện tốt kế hoạch huy động vốn tiền gửi của mình.
Sự đa dạng hóa các hình thức huy động vốn tiền gửi
Số lượng các công cụ huy động: tùy theo đặc điểm kinh doanh mà mỗi ngân hàng áp dụng một hệ thống các công cụ khác nhau trong quá trình huy động vốn. Số lượng các công cụ này tùy thuộc vào mỗi ngân hàng và nó phản ánh khả năng cạnh tranh hay năng lực của mỗi ngân hàng. Chỉ có những ngân hàng có hoạt động kinh doanh đa dạng, phong phú, có trình độ cán bộ nhân viên cao, năng lực quản lý tốt mới có đủ điều kiện phát triển nhiều loại hình công cụ huy động vốn khác nhau.
Sự đa dạng về kỳ hạn và loại tiền tệ: được sử dụng thể hiện khả năng huy động các nguồn vốn với các kỳ hạn khác nhau trong đó có cả ngoại tệ, nội tệ với mức lãi suất khác biệt tương ứng sao cho người gửi tiền chấp nhận được và cảm thấy hợp lý. Ngân hàng đạt được cơ cấu về kỳ hạn và loại tiền mong muốn để đáp ứng tối đa các nhu cầu sử dụng vốn, tránh tình trạng thừa vốn ngắn hạn, thiếu vốn trung dài hạn, thừa vốn nội tệ, thiếu vốn ngoại tệ.
Một số chỉ tiêu khác
Mức độ thuận tiện cho khách hàng: được đánh giá qua các thủ tục gửi tiền, rút tiền, các dịch vụ kèm theo của ngân hàng, có tiết kiệm được thời gian và chi phí của khách hàng hay không.
Thời gian để huy động một số lượng vốn tiền gửi nhất định: thời gian huy động vốn nhanh, đảm bảo được các mục tiêu và kế hoạch của ngân hàng đề ra thể hiện công tác huy động vốn tiền gửi đạt hiệu quả cao, uy tín của ngân hàng. Đồng thời cũng thể hiện tiềm lực, thế mạnh của ngân hàng trên thị trường. Ngoài ra còn một số chỉ tiêu khác như số lượng vốn bị rút ra trước hạn, kỳ hạn thực tế của nguồn vốn…
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn tiền gửi
Các doanh nghiệp muốn hoạt động tốt và phát triển thì không thể tách mình ra khỏi môi trường kinh tế, xã hội đó. Đối với NHTM là một trung gian tài chính thì mối quan hệ giữa nó và các chủ thể còn lại trong nền kinh tế rất chặt chẽ.
Do đó các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động của NHTM là vô cùng phong phú và được xem xét quan hai giác độ đó là nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan.
1.4.1 Các nhân tố chủ quan Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
1.4.1.1 Trình độ công nghệ
Cùng với sự phát triển của nền kinh tế tri thức đòi hỏi ngân hàng phải luôn nâng cao trình độ công nghệ tin học của mình. Trình độ ngân hàng càng cao thì càng có khả năng cung cấp nhiều dịch vụ tiện ích, phù hợp với nhu cầu của khách hàng, cơ sở vật chất càng được trang bị đầy đủ khiến cho khách hàng cảm thấy hài lòng và yêun tâm hơn khi gửi tiền vào ngân hàng. Trước đây, khi trình công nghệ thanh toán còn lạc hậu thì khách hàng chủ yếu dùng thanh toán bằng tiền mặt nhưng ngày nay, khi xã hội đã phát triển thì nhu cầu thanh toán không dùng tiền mặt đã lên ngôi. Thay vì dùng tiền mặt như trước kia, bây giờ khách hàng chuyển sang hình thức thanh toán như ủy nhiệm chi, séc, ủy nhiệm thu… để sử dụng được các hình thức này đòi hỏi khách hàng phải có tài khoản tại ngân hàng vì thế ngân hàng sẽ huy động được vốn trên tài khoản của khách hàng.Việc ứng dụng công nghệ thông tin vào hoạt đọng còn làm xuất hiện nhiều sản phâm ngân hàng như máy rút tiền tự động ATM, ngân hàng tự động, home banking, ….
Đây là một yếu tố phi lãi suất rất quan trọng trong cạnh tranh vì khách hàng không chỉ quan tâm lãi suất mà còn quan tâm đến chất lượng phục vụ của ngân hàng. Cùng mức lãi suất thì ngân hàng nào có chất lượng phục vụ tốt hơn thì sẽ có nhiều khách hàng hơn, từ đó ngân hàng sẽ giảm được chi phí huy động vốn và tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
1.4.1.2 Trình độ nhân sự Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Cán bộ công nhân viên ngân hàng chính là người đảm bảo vận hành cỗ máy ngân hàng hoạt động liên tục và hiệu quả. Do đó, thái độ, trình độ, phong cách của nhân viên giao dịch có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng. Trong sự cạnh tranh gay gắt của ngành ngân hàng như hiện nay thì cán bộ nhân viên không chỉ cần có trình độ chuyên môn giỏi mà còn phải có đạo đức nghề nghiệp tốt, tận tình với khách hàng, tiếp cận tốt với các phương thức kinh doanh hiện đại, đáp ứng nhu cầu cạnh tranh của nền kinh tế hiện nay.
1.4.1.3 Mạng lưới
Mạng lưới hoạt động gòm có chi nhánh, phòng giao dịch, quầy huy động. Hệ thống mạng lưới ngân hàng tạo nên dòng chảy dịch vụ từ ngân hàng đến khách hàng. Vì thế, khi mạng lưới càng phát triển thì các dịch vụ ngân hàng bang trở nên thuận lợi, tiện ịch là cho hoạt động huy động vốn ngày càng trở nên hiệu quả. Trong nền kinh tế phát triển như hiện nay, nhu cầu thực hiện các dịch vụ càng nhanh chóng, thuận tiện ngày càng tăng lên đòi hỏi các ngân hàng phải liên kết với nhau để cùng phân phối cung ứng dịch vụ tốt nhất, hiệu quả nhất tới khách hàng.
1.4.1.4 Lãi suất
Lãi suất huy động là tỷ lệ phần trăm của số tiền có được (ngoài số tiền gốc) so với số tiền gốc mà người gửi tiền nhận được từ ngân hàng. Điều đầu tiên khi bất kỳ một cá nhân hay tổ chức kinh tế nào cũng muốn tham khảo khi gửi tiền vào ngân hàng thì chính là lãi suất. Ngân hàng sử dụng lãi suất như một công cụ quan trọng trong việc huy động vốn và thay đổi quy mô của nguồn vốn. Có thể nói, lãi suất huy động là yếu tố ảnh hưởng lớn đến quy mô nguồn vốn thu hút vào ngân hàng, đặc biệt là quy mô tiền gửi. Nhưng không phải ngân hàng nào có lãi suất thì thì sẽ thu hút được nhiều người đến gửi tiền mà họ còn xem xét chất lượng phục vụ, an toàn tiền gửi của họ khi họ gửi tiền vào ngân hàng. Khi mà khách hàng đánh giá mức độ an toàn và dịch vụ tiện ích như nhau thì họ sẽ chọn ngân hàng có lãi suất cao. Điều này hoàn toàn phù hợp với quy luật vì khi đó gửi vào ngân hàng có lãi suất cao hơn thì sẽ thu lợi được nhiều hơn.
Đối với tiền gửi ngắn hạn thì mức độ an toàn không quan trọng như tiền gửi dài hạn vì thế họ sẽ quan tâm đến lãi suất cao hơn nhưng đối với tiền gửi dài hạn thì họ phải quan tâm đến mức độ an toàn với số vốn mà họ gửi vào vì thế họ sẽ cân nhấc rất kỹ lưỡng giữa mức độ an toàn vốn và lãi suất.
1.4.1.5 Hình thức huy động vốn tiền gửi Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Một yếu tố nữa ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng nguồn vốn huy động là các hình thức huy động vốn. Một ngân hàng có các hình thức và kỳ hạn huy động vốn phong phú, linh hoạt, thuận tiện hơn sẽ có sức mạnh thu hút khách hàng mới và duy trì những khách hàng hiện có hơn những ngân hàng khác.
Sản phẩm dịch vụ ngân hàng chính là một yếu tố góp phần thu hút khách hàng có hiệu quả. Một ngân hàng có sản phẩm đa dạng, chất lượng dịch vụ cao, đáp ứng tốt những nhu cầu của khách hàng thì rõ ràng họ sẽ muốn đến với ngân hàng đó.
Hơn nữa, trong điều kiện ít có sự khác biệt về sản phẩm và lãi suất huy động như hiện nay, chất lượng dịch vụ khách hàng ngày càng trở nên là một công cụ cạnh tranh quan trọng trong việc thu hút nguồn vốn. Ngân hàng nào tổ chức tốt được công tác dịch vụ kèm theo các hình thức huy động của mình sẽ có khả năng thu hút được nhiều khách hàng hơn. Đây được xem là một trong những biện pháp nhằm mở rộng và nâng cao hiệu quả hoạt động của ngân hàng.
Tuy nhiên, hình thức huy động vốn càng đa dạng thì việc quản lý nó càng trở nên phức tạp và khó khăn, làm chi phí quản lý vốn tăng lên đòi hỏi ngân hàng phải áp dụng được mô hình quản lý phù hợp, tiết kiệm chi phí nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc nguồn huy động vốn có tính ổn định càng cao thì lãi suất huy động cũng cao.
1.4.1.6 Cơ cấu huy động vốn tiền gửi
Mỗi ngân hàng có một cơ cấu huy động vốn khác nhau. Nếu tỷ trọng huy động vốn ngắn hạn càng cao thì càng tiết kiệm được chi phí huy động vốn. Tuy nhiên, nếu tỷ trong vốn huy động ngắn hạn cao thì quy mô cho vay trung và dài hạn của ngân hàng sẽ hạn chế. Hơn nữa, khi lãi suất thay đổi thì khách hàng dễ rút tiền hàng loạt khiến ngân hàng gặp khó khăn trong vấn đề chi trả dễ làm mất lòng của khách hàng. Thế nhưng, nếu tỷ trọng vốn trung và dài hạn càng cao thì mức an toàn vốn càng cao, ngân hàng có thể đầu tư cho vay trung và dài hạn nhiều hơn làm tăng thu từ lãi nhưng chi phí vốn cao hơn không chắc rằng thu nhập ròng của ngân hàng đã cao hơn. Ngân hàng cần phải tùy vào đặc điểm kinh doanh và đặc trưng của mình mà xây dựng cơ cấu huy động vốn cho hợp lý, an toàn, với chi phí vốn hợp lý sao cho thu hút được khách hàng mà vẫn đảm bảo được chi phí hợp lý.
1.4.1.7 Uy tín và thương hiệu của ngân hàng Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Uy tín & thương hiệu của ngân hàng là điều kiện tiên quyết, quan trọng ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Một ngân hàng giữ được uy tín & thương hiệu của mình trong nhiều năm sẽ chiếm được lòng tin của khách hàng tốt. Như vậy mà ngân hàng sẽ thu hút được rất nhiều khách hàng, tạo lập được các mối quan hệ bền vững với khách hàng hiện có, khách hàng tiềm năng, các trung gian tài chính và các cơ quan nhà nước. Với cùng một mức lãi suất, thậm chí thấp hơn ngân hàng khác một chút thì ngân hàng nào có uy tín, thương hiệu tốt hơn thì người gửi tiền tin tưởng rằng ngân hàng này sẽ tuyệt đối an toàn với số tiền mình gửi và thường vẫn quyết định gửi tiền vào ngân hàng có uy tín và thương hiệu đó. Do vậy mà, ngân hàng vẫn huy động vốn được nhiều mà tiết kiệm được chi phí huy động vốn.
1.4.1.8 Trách nhiệm, trình độ và năng lực quản lý
Nhà quản lý cần nghiên cứu để tạo ra các chương trình thi đua tác động đến thái độ và động lực làm việc của nhân viên. Nếu chương trình phù hợp, thiết thực với đặc điểm kinh doanh của phòng giao dịch hay chi nhánh thẽ sẽ tạo động lực cho các nhân viên phấn đấu hết mình vì công việc và tất nhiên sẽ có tác động tới kết quả kinh doanh của ngân hàng.
Việc ban hành quy chế khen thưởng, kỷ luật cũng có tác động rất lớn đến tinh thần làm việc của nhân viên ngân hàng. Việc thực hiện quy chế này càng công bằng thì càng tạo sự tin tưởng ở nhân viên và vì thế càng tạo được sự ảnh hưởng tích cực khiến cho các nhân viên càng cố gắng hết mình về công việc làm cho khách hàng luôn cảm thấy tin tưởng ngân hàng và có thể huy động được lượng vốn lớn hơn. Chính vì thế mà các nhà quản lý cần thiết lập và thực hiện các quy chế khen thưởng, kỷ luật thật nghiêm túc và công bằng.
Nhà quản lý cần phải có lối sống đúng mực, tinh thần trách nhiệm cao trong công việc để giành được sự tín nhiệm của nhân viên. Vì chính đạo đức, lối sống của người quản lý ảnh hưởng rất nhiều tới nhân viên, từ đó sẽ ảnh hưởng đến doanh thu và năng suất lao động.
1.4.1.9 Lựa chọn thị trường mục tiêu
Thị trường mục tiêu có vai trò quan trọng trong việc phát triển hoạt động của ngân hàng. Khi ngân hàng lựa chọn đúng thị trường mục tiêu thì ngân hàng sẽ dễ dàng hơn trong việc thâm nhập và chiếm lĩnh thị trường đó. Khi mà đã chiếm lĩnh được thị trường thì ngân hàng luôn có lợi thế trong việc huy động vốn và có lợi thế cạnh tranh hơn. Những nhà quản lý cần phải phân tích, dự đoán tình hình kinh tế để lựa chọn thị trường mục tiêu phù hợp với ngân hàng của mình để dẫn dắt ngân hàng của mình ngày càng phát triển.
Tóm lại, không chỉ các nhân tố trên ảnh hưởng đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng mà còn rất nhiều nhân tố khác ảnh hưởng đến nó. Nhưng với mỗi một mục tiêu, ngân hàng cần định hướng cho mình lấy nhân tố nào làm điểm mạnh, nhân tố nào là chính để lựa chọn phù hợp để đưa ngân hàng của mình phát triển theo đúng hướng mà nhà lãnh đạo đã đề ra.
1.4.2 Nhân tố khách quan Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Ngoài các nhân tố chủ quan tác động đến hoạt động huy động vốn của NHTM thì còn có các nhân tố khách quan tác động đến hoạt động huy động vốn của NHTM. Một trong các nhân tố đó là:
1.4.2.1 Môi trường kinh tế
Môi trường kinh tế sẽ quyết định đến thu nhập của người dân. Khi đó nó sẽ ảnh hưởng đến nhu cầu về vốn và lượng tiền gửi của khách hàng. Do đó nó tác động mạnh mẽ tới hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Khi nền kinh tế ổn định và phát triển thì thu nhập của người dân sẽ ổn định và cao, làm cho nguồn tiền nhàn rỗi của họ sẽ nhiều hơn và nguồn tiền ra vào ngân hàng cũng ổn định và nhiều hơn. Tạo cơ hội cho đầu tư mở rộng. Ngược lại, khi nền kinh tế suy thoái thì thu nhập của người dân giảm, và từ đó ngân hàng sẽ gặp khó khăn hơn trong việc huy động vốn của mình.
Khi nền kinh tế có lạm phát cao, thì đồng tiền sẽ mất giá và như thế lãi suất thực của người dân khi gửi tiền vào ngân hàng sẽ giảm xuống từ đó lợi ích của người gửi tiền sẽ giảm khi đó khách hàng sẽ chuyển sang giữ vàng và ngoại tệ mạnh hoặc bất động sản thay cho việc gửi tiền vào ngân hàng.
Hơn nữa chính sách tiền tệ của một quốc gia sẽ ảnh hưởng trực tiếp tới công tác huy động vốn của ngân hàng. Khi nhà nước thực hiện chính sách thắt chặt tiền tệ thì sẽ làm giảm bớt lượng tiền trong lưu thông bằng cách tăng lãi suất làm cho ngân hàng huy động vốn dễ dàng hơn. Và ngược lại đối với trường hợp nhà nước thực hiện nới lỏng chính sách tiền tệ…
1.4.2.2 Môi trường chính trị pháp luật Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
Để đảm bảo cho sự phát triển công bằng của tất cả các thành phần kinh tế thì mỗi quốc gia đều phải có một thể chế nhất định quy định và giám sát việc tuân thủ pháp luật của mọi đối tượng trong nền kinh tế. Vì NHTM kinh doanh hàng hóa đặc biệt đó là tiền mà mà nguồn tiền chính để hoạt động kinh doanh đó chính là nguồn tiền huy động của người khác vì vậy càng cần phải có những quy định chặt chẽ, sự ổn định về chính trị, ngoại giao để người dân yên tâm gửi những khoản tiền nhàn rỗi của mình vào ngân hàng mà không phải tính toán để đầu tư vào tài sản khác….
Bất kỳ một hoạt động kinh doanh nào cũng đều phải chịu sự điều chỉnh và giám sát chặt chẽ của pháp luật và các cơ quan chức năng. Sự điều chỉnh của
NHNN về chính sách tài chính tiền tệ cũng ảnh hưởng mạnh mẽ tới hoạt động của ngân hàng. Nó thể hiện ở khía cạnh như mục tiêu của chính sách tiền tệ, việc sử dụng các công cụ chính sách tiền tệ và chính sách đầu tư của nhà nước.
1.4.2.3 Môi trường cạnh tranh
Với sự phát triển mạnh mẽ của ngành ngân hàng trong nước và sự gia nhập ngày càng nhiều của các ngân hàng nước ngoài kể từ khi Việt Nam gia nhập WTO thì các NHTM càng phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt, các đối thủ cạnh tranh càng nhiều, càng phát triển thì thị trường tiền tệ càng phát triển, càng phát triển thì thị trường tiền tệ. Khi đó đòi hỏi ngân hàng phải biết tận dụng các cơ hội kinh doanh của mình như địa bàn, uy tín, thương hiệu của mình, tăng cường tìm hiểu, phát triển nhiều loại hình huy đông, nhiều loại hình kinh doanh để phục vụ khách hàng một cách tốt nhất, có một chính sách lãi suất linh hoạt nhất ….
1.4.2.4 Khách hàng
Khách hàng bao gồm cả những người mà ngân hàng đang sử dụng vốn của họ và cả những người mà đang sử dụng vốn đó. Khách hàng gửi tiền vào ngân hàng thì có yếu tố thu nhập và tâm lý tác động tới. Thu nhập thì ảnh hưởng tới số vốn mà ngân hàng có thể huy động còn tâm lý thì ảnh hưởng đến sự biến động gửi tiền và rút tiền. Khi mà khách hàng càng tin tưởng ngân hàng thì nguồn tiền ra và của ngân hàng càng ổn định, càng tạo điều kiện để ngân hàng huy động vốn cho mình tốt hơn. Khóa luận: Huy động vốn tiền gửi tại Ngân hàng ACB
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY
===>>> Khóa luận: Khái quát về sự phát triển của Ngân hàng ACB

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Biện pháp NC huy động vốn tại Ngân hàng ACB