Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

2.1. Thực tiễn áp dụng pháp luật trước khi có đạo luật riêng

Trước đây, khi chưa ban hành đạo Luật riêng về bồi thường nhà nước, theo một số nhà chuyên gia pháp luật nhận định dựa trên các quy định của pháp luật cũng như từ thực tiễn thì việc ban hành Nghị định số 47/CP được coi “là một bước tiến lớn trong việc hướng dẫn chi tiết, cụ thể và để triển khai thực hiện có hiệu quả Điều 623 và Điều 624 của Bộ luật Dân sự năm 1995” [32, tr.13] và Nghị quyết số 388 “là một bước đột phá trong việc Nhà nước nhận trách nhiệm về mình khi quyền lợi của người dân bị xâm phạm bởi người tiến hành tố tụng” [32, tr.13].

Có thể tính toán được những mặt tích cực và hiệu quả khi áp dụng các quy định của Nghị định 47/CP và văn bản hướng dẫn thi hành “trong khoảng thời gian từ năm 1997 đến 2007 đã có 170 vụ việc được giải quyết, với số tiền bồi thường là hơn 16 tỷ đồng” [32, tr.16], ngoài ra, người bị oan sai còn được các cơ quan công an, tòa án, kiểm sát tiến hành phục hồi danh dự, khôi phục nhân phẩm khi bị kết án oan. Bên cạnh đó, đối với bồi thường thiệt hại cho các trường hợp bị oan trong tố tụng hình sự theo quy định của Nghị quyết số 388, sau 04 năm thi hành tính đến hết năm 2007, “các cơ quan tiến hành tố tụng đã giải quyết được gần 200 vụ, với số tiền phải bồi thường là gần 15 tỷ đồng” [32, tr.16]. Việc ban hành Nghị quyết này đã được dư luận nhân dân ủng hộ và đồng tình cao, tạm thời khắc phục được những sai phạm gây ra thiệt hại của người thi hành công vụ gây ra, bù đắp một phần tổn thất về vật chất và tinh thần cho người dân, người bị thiệt hại.

Có thể nói, trong giai đoạn này, quyền con người về bồi thường thiệt hại đã có được sự quan tâm không nhỏ từ phía Nhà nước. Tuy nhiên, do phạm vi điều chỉnh hẹp nên tác động của những văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp về chế độ Bồi thường nhà nước tại thời điểm này đều là văn bản dưới luật, có giá trị pháp lý thấp, chưa ngang tầm với tính chất của chế độ Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Chứng minh cho nhận định này, thực tế, “Nghị định số 47/CP hầu như không phát huy tác dụng, chưa được áp dụng để giải quyết bồi thường thiệt hại trong các lĩnh vực tố tụng hình sự, dân sự và hành chính” [32, tr.16]; việc giải quyết bồi thường chủ yếu được thực hiện thông qua thủ tục giải quyết khiếu nại hành chính mà không trực tiếp áp dụng Nghị định số 47/CP; số lượng vụ việc được giải quyết bồi thường không tương xứng so với yêu cầu thực tế.

Bên cạnh đó, các quy định trong Bộ luật dân sự chỉ quy định chung chung về Trách nhiệm bồi thường tại Điều 619 về bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra và Điều 620 về Bồi thường thiệt hại do người có thẩm quyền của cơ quan tiến hành tố tụng gây ra mà chưa có quy định cụ thể về cơ chế thực hiện trách nhiệm này. Bộ luật Tố tụng hình sự 2003 và Bộ luật Tố tụng dân sự 2004 đều có quy định về Trách nhiệm bồi thường của cơ quan tiến hành tố tụng nhưng cũng chỉ dừng lại ở mức ghi nhận quyền được bồi thường của người bị thiệt hại, trách nhiệm phải bồi thường của cơ quan tiến hành tố tụng mà chưa có cơ chế pháp lý cụ thể để thực hiện việc bồi thường này. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Theo đó, pháp luật về Bồi thường nhà nước tại thời điểm này còn nhiều hạn chế, cụ thể, là phạm vi Trách nhiệm bồi thường quy định hẹp, giới hạn phạm vi Trách nhiệm bồi thường chỉ trong lĩnh vực hành chính và tố tụng hình sự. Bên cạnh đó, cơ quan có Trách nhiệm bồi thường không được xác định rõ ràng bởi vì về nguyên tắc, cơ quan giải quyết bồi thường là cơ quan trực tiếp quản lý công chức đã có hành vi gây thiệt hại. Trong lĩnh vực Tố tụng hình sự thì nguyên tắc này có ngoại lệ, thể hiện ở chỗ cơ quan giải quyết bồi thường lại là cơ quan cuối cùng làm sai. Theo Nghị quyết 388 thì cơ quan xử lý oan sau cùng là cơ quan có Trách nhiệm bồi thường bất kể chuỗi hành vi làm oan trước đó là do cơ quan nào thực hiện. Ví dụ: cơ quan điều tra bắt tạm giam một người, sau đó ra quyết định đình chỉ điều tra thì cơ quan điều tra có trách nhiệm bồi thường; cũng trường hợp này, nếu việc bắt tạm giam một người đã được Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp phê chuẩn thì Viện kiểm sát nhân dân đã phê chuẩn lệnh bắt có Trách nhiệm bồi thường…Nếu người này bị Toà sơ thẩm tuyên có tội nhưng sau đó lại được Tòa án cấp phúc thẩm tuyên vô tội thì cơ quan có trách nhiệm bồi thường là Tòa án đã xét xử sơ thẩm. Đứng ở góc độ người bị thiệt hại thì nguyên tắc này là có lợi cho họ vì người bị thiệt hại có thể dễ dàng xác định được cơ quan có Trách nhiệm bồi thường. Tuy nhiên, đứng ở góc độ cơ quan tiến hành tố tụng thì đây lại là điều khó chấp nhận vì các cơ quan tố tụng luôn cho rằng việc làm sai không chỉ bởi một cơ quan mà là bởi nhiều cơ quan. Đây chính là lý do dẫn tới tình trạng các cơ quan tiến hành tố tụng hay đùn đẩy trách nhiệm cho nhau. Trên thực tế còn có nhiều trường hợp rất khó xác định cơ quan nào có Trách nhiệm bồi thường, nhất là khi có cán bộ của nhiều cơ quan cùng gây ra thiệt hại. Việc không có quy định để xác định một cách rõ ràng cơ quan nào có Trách nhiệm bồi thường trong các trường hợp này đã gây ra nhiều khó khăn cho tổ chức, cá nhân bị thiệt hại trong quá trình thực hiện quyền được bồi thường của mình.

Về thủ tục giải quyết bồi thường bao gồm thủ tục thương lượng tiền tố tụng; thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án; thủ tục khôi phục danh dự và chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại; thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án được áp dụng như thủ tục giải quyết vụ án dân sự thông thường tại Điều 12 Nghị quyết số 388 được quy định chưa rõ, chưa đồng bộ, gây khó khăn cho việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của bị thiệt hại. Đối với việc giải quyết bồi thường thiệt hại trong hoạt động hành chính thì thủ tục còn rườm rà, không bảo đảm quyền của bên bị thiệt hại. Ví dụ, Điều 7 Nghị định số 47 chỉ quy định về việc xét giải quyết bồi thường thông qua một Hội đồng xét giải quyết bồi thường mà không quy định về thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án. Đây rõ ràng là một sự hạn chế quyền về mặt tố tụng đối với người bị thiệt hại. Khi không cho phép người bị thiệt hại có quyền được khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu bồi thường thì có nghĩa là cơ chế giải quyết bồi thường được quy định trong Nghị định số 47 là không hợp lý vì đã hạn chế một cách bất hợp lý quyền được sử dụng nhiều phương thức, trong đó có phương thức khởi kiện ra Toà án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Về các loại thiệt hại được Nhà nước bồi thường được quy định còn chung chung, chưa cụ thể và khó áp dụng.Về cơ bản, thiệt hại do công chức nhà nước gây ra cho tổ chức, cá nhân được các cơ quan nhà nước bồi thường bao gồm cả thiệt hại về vật chất lẫn thiệt hại về tinh thần, tương tự như trong quy định của pháp luật dân sự. Tuy nhiên, có thể nhận thấy, các văn bản Quy phạm pháp luật thời điểm này chưa đề cập đến những loại thiệt hại mà đối với bên bị thiệt hại lại rất quan trọng; ví dụ: phục hồi vị trí công tác, chế độ hưu trí. Đối với các cá nhân là chủ doanh nghiệp thì pháp luật cũng chưa tính đến các loại thiệt hại mà doanh nghiệp phải gánh chịu trong những trường hợp mà chủ doanh nghiệp bị bắt, tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù nên đã gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động của doanh nghiệp.

Về trách nhiệm hoàn trả của công chức chưa được quy định rõ ràng và chưa có tác dụng giáo dục đối với công chức. Điều 619 và Điều 620 của Bộ luật dân sự 2005 chỉ quy định: cơ quan trực tiếp quản lý công chức có hành vi gây thiệt hại phải có trách nhiệm yêu cầu công chức đó hoàn trả một khoản tiền theo quy định của pháp luật nếu công chức đó có lỗi trong khi thi hành công vụ. Nghị định số 47 đã ghi nhận một số quy định như: thành lập Hội đồng quyết định việc hoàn trả; căn cứ xác định việc hoàn trả; phương thức hoàn trả và mức khấu trừ vào tiền lương hàng tháng nếu công chức không thể hoàn trả ngay trong một lần nhưng còn nhiều vấn đề khác liên quan chưa được quy định trong Nghị định này. Nghị quyết số 388 cũng đã có quy định về việc hoàn trả nhưng cũng không quy định cụ thể việc hoàn trả được thực hiện như thế nào mà chỉ xác định một cách chung chung. Thực tiễn cho thấy, chưa có trường hợp công chức nào trong các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự phải thực hiện trách nhiệm hoàn trả.

Những hạn chế về mặt pháp luật tại thời điểm này về Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra và thực tiễn thi hành cho thấy pháp luật trong lĩnh vực này còn nhiều bất cập; chưa đầy đủ và đồng bộ, thiếu cụ thể, thiếu tính khả thi. Việc bảo vệ quyền con người theo quy định của pháp luật tại giai đoạn này chưa cao, chưa nói đến việc thúc đẩy hoặc nỗ lực thúc đẩy quyền con người về Bồi thường nhà nước trong xã hội. Người dân oan sai, vẫn mãi mang nỗi oan ức trong lòng, thiệt hại, tổn thất về vật chất và tinh thần nhiều thế hệ không bù đắp hết. Người bị thiệt hại chưa được bù đắp, phục hồi quyền lợi, gây rất nhiều bức xúc cho người dân và sự mất lòng tin vào Nhà nước của nhân dân. Công chức Nhà nước thì chưa xác định rõ trách nhiệm của mình và dự đoán được những hệ quả mà mình mang lại cho Nhà nước và cho người dân khi do vô ý hay cố ý làm sai gây thiệt hại trong quá trình thi hành công vụ.

2.2. Thực tiễn áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và văn bản hướng dẫn thi hành Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Từ năm 2010, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được Nhà nước được đưa vào triển khai áp dụng và phát huy hiệu quả trên thực tế bước đầu đã khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong việc thiết lập cơ chế đặc thù để cá nhân, tổ chức và doanh nghiệp thực hiện quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra. Qua đó, chủ trương đưa Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước từng bước đi vào cuộc sống là cơ hội đáng mừng cho người dân ngày càng thực hiện được nhiều hơn quyền con người, quyền công dân của mình, phù hợp với quy định của bản Hiến pháp 2013, mà trong đó, quyền con người, quyền công dân được tôn trọng, nâng tầm và đề cao. Người dân bị thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra trong cả ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án đều được thực hiện quyền yêu cầu bồi thường nhà nước; các cơ quan nhà nước có trách nhiệm bồi thường thực hiện việc giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật; ý thức, trách nhiệm của đội ngũ cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ có sự chuyển biến rõ nét. Những biểu hiện này cho thấy Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đang từng bước đi vào cuộc sống, việc bảo vệ và thúc đẩy quyền con người đang dần được thực thi và đi sâu vào tư duy cũng như đạo đức nghề nghiệp của cán bộ, công chức một cách tự nhiên với tinh thần coi nhân dân như con ngươi của chính mình trong quá trình thực thi công vụ, giảm thiểu một cách tối đa nhất những sai sót dù là vô tình khi thi hành công vụ và khi thực hiện pháp luật để bảo vệ quyền của người dân.

2.2.1. Kết quả giải quyết bồi thường

Việc áp dụng các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và văn bản hướng dẫn thi hành vào giải quyết bồi thường tại các địa phương có vụ việc bồi thường đã thể hiện tính hiệu quả, tác động mạnh mẽ của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng như tạo thuận lợi tối đa để người dân thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình, bảo đảm quyền con người trong việc yêu cầu bồi thường đối với những thiệt hại mà Nhà nước gây ra.

Tính đến ngày 30/09/2013, cơ quan nhà nước các cấp đã thụ lý 247 vụ việc, trong đó, số vụ việc đã giải quyết xong là 167 vụ việc (chiếm tỷ lệ 67,6 %). Trong lĩnh vực quản lý hành chính, số lượng vụ việc đã thụ lý là 107 vụ việc, số vụ việc đã giải quyết xong là 53 vụ việc (chiếm tỷ lệ ~ 50%). Trong hoạt động tố tụng hình sự, các cơ quan tiến hành tố tụng các cấp đã thụ lý 124 vụ việc, số vụ việc đã giải quyết xong là 92 vụ việc (chiếm tỷ lệ 74%). Trong lĩnh vực tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, Tòa án các cấp đã thụ lý 15 vụ việc và đã giải quyết xong 1 vụ (chiếm tỷ lệ 0,6%), 4 vụ việc đang trong quá trình giải quyết (chiếm tỷ lệ 27%). Trong lĩnh vực thi hành án dân sự, số vụ việc đã thụ lý là 33 vụ việc, trong đó đã giải quyết 17 vụ việc (chiếm tỷ lệ 51,5%). Tổng số tiền giải quyết bồi thường (được xác định tại Quyết định giải quyết bồi thường hoặc bản án của Tòa án xét xử tranh chấp về bồi thường nhà nước) là 54.413.065.056 đồng. Như vậy, so sánh giữa các lĩnh vực thì tố tụng hình sự là lĩnh vực phát sinh nhiều yêu cầu bồi thường nhất, tiếp đến là các lĩnh vực quản lý hành chính, thi hành án dân sự và tố tụng dân sự, tố tụng hành chính [18, tr.10]. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Như vậy, kết quả giải quyết bồi thường cho thấy so với các lĩnh vực quản lý hành chính và tố tụng, số lượng vụ việc yêu cầu bồi thường cũng như được giải quyết xong trong lĩnh vực THADS chiếm tỷ lệ cao nhất. Tình hình yêu cầu bồi thường trong các lĩnh vực này trên thực tế cũng rất phức tạp, khiếu nại kéo dài, có những vụ việc số tiền yêu cầu bồi thường là không lớn nhưng đương sự thường khiếu nại rất gay gắt, thậm chí khiếu kiện yêu cầu bồi thường vượt cấp, vượt thẩm quyền. Mặc dù vẫn có những kết quả không mong muốn như vậy và dù còn có một số quy định của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa phù hợp hoàn toàn với thực tiễn áp dụng nhưng không thể phủ nhận việc thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã đạt được nhiều kết quả tích cực.

2.2.2. Thực trạng hạn chế, vướng mắc của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Biết rằng những mặt đạt được từ khi có cơ chế riêng, hữu hiệu về giải quyết bồi thường của Nhà nước đã gặt hái được nhiều kết quả tích cực trong việc giải quyết bồi thường thiệt hại thông qua số liệu như đã viện dẫn ở trên, qua thông tin đại chúng, qua dư luận xã hội, qua thực tế từng vụ việc đã giải quyết bồi thường thành công và suôn sẻ, trong phạm vi đề tài nghiên cứu này, học viên muốn nghiên cứu sâu về những hạn chế, vướng mắc và kẽ hở mà cơ quan có trách nhiệm bồi thường cũng như người bị thiệt hại có khả năng làm trái quy định của pháp luật về Bồi thường nhà nước; hoặc khó khăn từ các quy định của pháp luật gây ra cho cơ quan có trách nhiệm bồi thường trong quá trình giải quyết bồi thường và cho người bị thiệt hại trong quá trình yêu cầu bồi thường. Sở dĩ học viên không đi sâu vào nghiên cứu những mặt tích cực và điểm sáng trong việc giải quyết bồi thường, bởi lẽ, việc bảo vệ quyền con người trong pháp luật về Bồi thường nhà nước mới là mục tiêu của đề tài nghiên cứu. Những hạn chế, vướng mắc tới từ nhiều lý do, nhiều góc độ tiếp cận mà học viên phân tích dưới đây, có khả năng, sẽ là cẩm nang cho người dân trong việc chủ động tránh đối với những tình huống tương tự, hoặc nắm bắt được phần nào những sai phạm mà Cơ quan nhà nước dễ gây ra, để từ đó, tự bảo vệ quyền của mình bên cạnh việc được bảo vệ và thúc đẩy tích cực từ phía Nhà nước và từ các quy định của pháp luật về Bồi thường nhà nước.

Có thể dễ nhận thấy cho đến thời điểm này, một số quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã bộc lộ những hạn chế, bất cập so với yêu cầu của thực tế và thiếu thống nhất, chưa phù hợp với thực tiễn thi hành và sự thay đổi của chính sách pháp luật như: phạm vi điều chỉnh chưa bao quát được các thiệt hại thực tế phát sinh do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra; căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường được quy định chưa thật hợp lý, thực tế bộc lộ bất cập là rào cản đối với người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường; thời hạn, thời hiệu yêu cầu và giải quyết bồi thường còn chưa thống nhất với các đạo luật liên quan về tố tụng dân sự, hành chính; thủ tục giải quyết chưa tạo ra cơ chế bình đẳng giữa Nhà nước và công dân trong giải quyết bồi thường; mô hình quản lý và cấp phát kinh phí còn bất cập, gây khó khăn cho cơ quan giải quyết bồi thường và cho người bị thiệt hại; về xác định trách nhiệm hoàn trả chưa bảo đảm tính răn đe đối với đội ngũ cán bộ, công chức và chưa tương xứng với kinh phí Nhà nước đã chi trả bồi thường, đặc biệt là thiếu tính đồng bộ sau khi các đạo luật có liên quan như Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo, Luật sửa đổi, bổ sung một số Điều của Bộ luật Tố tụng dân sự được ban hành. Bên cạnh đó, hiện nay, tình hình yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại chưa phù hợp giữa số liệu vụ việc bồi thường và kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Trong hoạt động quản lý hành chính, kết quả giải quyết khiếu nại, tố cáo là một trong những căn cứ để người dân thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình (Quyết định giải quyết khiếu nại đã có hiệu lực pháp luật, Kết luận nội dung tố cáo). Ví dụ, trong năm 2013 cả nước đã giải quyết trên 40 nghìn vụ việc khiếu nại, tố cáo, trong đó, có gần 40% khiếu nại và trên 50% tố cáo được cơ quan có thẩm quyền giải quyết cho rằng khiếu nại, tố cáo đúng hoặc đúng một phần – tức là tương đương với khoảng gần 20 nghìn (~ 50%) số vụ khiếu nại, tố cáo là có cơ sở [18, tr. 12].

Thực tế số liệu này với số liệu về yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính còn rất “khập khiễng” bởi lẽ số lượng vụ việc đã yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường là quá ít so với số lượng khiếu nại, tố cáo hàng năm. Ngoài ra, lý do để người dân khiếu nại hoặc tố cáo là bởi quyền và lợi ích của họ bị xâm phạm bởi quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính trái pháp luật, thế nhưng, khi khiếu nại hoặc tố cáo của họ được xác định là có căn cứ thì lý do gì mà chỉ có 19 vụ việc yêu cầu bồi thường trong số gần 20 nghìn vụ việc khiếu nại, tố cáo được xác định là có căn cứ? Đấy là trong hoạt động quản lý hành chính, còn trong các lĩnh vực khác thì sao? Nguyên nhân phát sinh từ đâu?

  • Hạn chế từ cơ chế bồi thường

Chủ yếu, phạm vi bồi thường có nhiều hạn chế trong lĩnh vực quản lý hành chính bởi lẽ Nhà nước có trách nhiệm bồi thường thiệt hại do hành vi trái pháp luật gây ra trong các trường hợp quy định tại 11 khoản của Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tuy nhiên, Luật Tố tụng hành chính có hiệu lực từ ngày 01/7/2011 và Luật Khiếu nại có hiệu lực từ ngày 01/7/2012 không quy định hạn chế phạm vi quyết định hành chính, hành vi hành chính được khiếu kiện ra tòa và quy định các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước nếu gây ra thiệt hại thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường (Điều 6 Luật Tố tụng hành chính và điểm i, khoản 1, Điều 12 và điểm e, khoản 2, Điều 13 Luật Khiếu nại quy định về quyền của người khiếu nại, người khởi kiện và trách nhiệm bồi thường, bồi hoàn cho người bị thiệt hại). Do vậy, không có sự thống nhất giữa Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Luật Khiếu nại, Luật Tố tụng hành chính về phạm vi được bồi thường trong hoạt động quản lý hành chính. Sự không thống nhất này đã ảnh hưởng đến quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại, làm cho quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại không được bảo đảm, chẳng hạn như theo quy định của Luật Tố tụng hành chính và Luật Khiếu nại thì các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước nếu gây ra thiệt hại thì phải bồi thường. Tuy nhiên, theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì tuy rằng các quyết định hành chính, hành vi hành chính của cơ quan quản lý nhà nước là sai, gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức nhưng không nằm trong các trường hợp quy định tại Điều 13 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì cũng không được bồi thường theo cơ chế bồi thường nhà nước.

  • Hạn chế về phạm vi bồi thường Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Phạm vi bồi thường của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước còn tương đối hẹp, mới chỉ quy định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án theo hướng liệt kê các thiệt hại trong phạm vi Nhà nước bồi thường. Như vậy, còn rất nhiều các thiệt hại thực tế khác như: Sở Tài nguyên và môi trường có trách nhiệm quản lý và chăm sóc cây xanh công cộng, mưa bão, cây đổ gây chết người, vậy trách nhiệm bồi thường thuộc về ai? Hoặc bác sĩ làm việc trong bệnh viện công lập, tự mở phòng khám tư, gây hậu quả cho người dân, vậy trách nhiệm của cơ quan Nhà nước quản lý bác sĩ này có phải bồi thường Nhà nước hay không? Hoặc trường hợp nhà vắng chủ từ những năm 1954, được Nhà nước cho người khác thuê hoặc hóa giá cho họ, sau khi chủ sở hữu nhà về, đòi nhà không được, vậy có thuộc phạm vi bồi thường của Nhà nước hay không?.. còn rất nhiều đối tượng dễ bị xâm hại cả về vật chất và tinh thần mà pháp luật về Bồi thường nhà nước chưa quy định thuộc phạm vi được bồi thường.

Ví dụ: trường hợp không được Nhà nước bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với trường hợp nhà vắng chủ trong vụ việc của ông Đ.H.Đ, tỉnh Vĩnh Phúc. Năm 1953, gia đình ông Đ chuyển vào Sài Gòn làm ăn và cư trú đến hiện nay. Trước khi đi, gia đình ông Đ có 03 khối tài sản gồm nhà và đất, sau khi đi, 03 khối tài sản này đã được UBND tỉnh Vĩnh Phúc ra quyết định thu hồi đất và quản lý, bố trí sử dụng nhà cho tổ chức, cá nhân khác.Cho rằng 02 nhà của ông Đ đã bị phá dỡ, 01 nhà đã được giao cho Công ty CP dược phẩm quản lý, sử dụng, đồng thời, cả 03 diện tích đất đã được Nhà nước quản lý, sử dụng theo diện nhà đất vắng chủ nhưng ông vẫn chưa được bồi thường, nên từ năm 1995, ông Đ đã nhiều lần đề nghị các cấp có thẩm quyền xem xét, giải quyết quyền lợi của mình và yêu cầu bồi thường Nhà nước đối với khối tài sản đó. Tuy nhiên, đề nghị của ông đã được các cơ quan có thẩm quyền trả lời từ năm 2006 đến 2014, khẳng định đề nghị trả lại nhà, đất không sử dụng từ năm 1954 đến nay là không có cơ sở pháp lý để xem xét, giải quyết.

Như vậy, trường hợp nhà vắng chủ trước năm 1954 không thuộc phạm vi Nhà nước bồi thường theo Luật Trách nhiệm bồi thườngCN, không được pháp luật về Bồi thường nhà nước bảo vệ quyền và lợi ích của nguời dân, người dân thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần, mất lòng tin vào pháp luật và Nhà nước. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

  • Bất cập trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường từ căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường

Việc thụ lý đơn yêu cầu bồi thường được quy định có thể nói là khá cứng nhắc vô hình chung gây bất lợi cho người bị thiệt hại, không bảo đảm tối đa quyền yêu cầu bồi thường của họ trong một số trường hợp khi một mặt người bị thiệt hại vừa phải chịu thiệt hại do cơ quan công quyền gây ra, mặt khác lại phải đơn phương thu thập các giấy tờ hợp lệ để chứng minh mình bị thiệt hại và yêu cầu chính cơ quan công quyền gây ra thiệt hại cho mình phải giải quyết bồi thường. Để thực hiện được quyền con người của mình trong pháp luật về Bồi thường nhà nước, người dân bị thiệt hại bắt buộc phải có được căn cứ chứng minh được quyết định hành chính, hành vi hành chính của công chức cơ quan đó là trái pháp luật trong quá trình thi hành công vụ mà không được yêu cầu bồi thường thẳng tới cơ quan cho rằng đã gây ra thiệt hại cho mình. Vậy văn bản đó ở đâu? Làm thế nào để có được? Ai có thẩm quyền cấp? Nội dung như thế nào? Đối với người dân quả là một điều vô cùng khó khăn để có được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ theo đúng quy định tại Điều 4 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Việc quy định cần có văn bản xác định thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã dẫn đến việc buộc người dân phải đi yêu cầu cơ quan nhà nước chứng minh lỗi của chính cơ quan đó. Để có được những văn bản đó, người bị thiệt hại phải xác định được về các loại văn bản có giá trị để làm căn cứ thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình trong từng lĩnh vực cụ thể, văn bản đó lại được quy định một cách cụ thể, khác nhau bao gồm: văn bản Quyết định giải quyết khiếu nại được quy định tại Luật Khiếu nại 2011; Kết luận nội dung tố cáo được quy định tại Luật Tố cáo 2011; Bản án, quyết định của Tòa án giải quyết vụ án hành chính được quy định tại Luật Tố tụng hành chính 2010; Bản án, quyết định của Tòa án giải quyết vụ án dân sự được quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự 1994 (được sửa đổi, bổ sung năm 2011) và Bản án, quyết định hình sự của Tòa án được quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự 2003.

Như vậy, về mặt lý thuyết các văn bản nêu trên đã bao gồm hầu hết là văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Tuy nhiên, vẫn còn có một số trường hợp mà cơ quan nhà nước tiến hành ban hành mặc dù có chứa đựng những nội dung xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ nhưng không có hình thức theo pháp luật quy định. Do đó, dẫn đến việc gây khó khăn cho người bị thiệt hại trong việc yêu cầu bồi thường.

Ví dụ điển hình trong hoạt động quản lý hành chính là vụ việc của ông H.N.L yêu cầu UBND huyện Vân Đồn, tỉnh Quảng Ninh bồi thường thiệt hại do việc áp dụng biện pháp khắc phục hậu quả do vi phạm hành chính gây ra trong lĩnh vực quản lý sử dụng đất và công trình xây dựng theo Quyết định số 430 năm 2008 và bị áp dụng biện pháp cưỡng chế để thi hành QĐ số 430 theo QĐ số 155 năm 2011. Do không đồng ý với hai QĐ nêu trên, ông L đã khởi kiện vụ án hành chính tới Tòa án nhân dân Thành phố Hạ Long để yêu cầu hủy bỏ các Quyết định số 430 và 155, tuy nhiên, các yêu cầu không được chấp nhận do trước đó UBND huyện Vân Đồn đã ban hành các QĐ số 247 và 248 hủy bỏ các QĐ số 430 và 155 nêu trên do ban hành trái thẩm quyền. Không đồng ý, ông L đã kháng cáo theo trình tự phúc thẩm và bản án phúc thẩm 05/2013/HCPT của TAND tỉnh Quảng Ninh đã nhận định, theo đó, chấp nhận hủy QĐ số 430 và 155 của Chủ tịch UBND huyện Vân Đồn là trái pháp luật và tách yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường của ông L để giải quyết sau bằng vụ án dân sự nếu có yêu cầu. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Như vậy, với vụ việc nêu trên đã phát sinh tình huống có thể coi là văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ mà pháp luật chưa quy định, đó là văn bản của một Cơ quan nhà nước tự hủy bỏ, hoặc thu hồi văn bản do chính mình ban hành trước đó. Đặt giả thiết nếu pháp luật đã có quy định về văn bản này thì có lẽ ông L không phải thực hiện thêm thủ tục khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu UBND Phường BC bồi thường cho mình.

Ví dụ khác trong lĩnh vực thi hành án dân sự, là vụ việc của bà L.T.H yêu cầu Chi cục THADS TP Cà Mau bồi thường do việc tổ chức cưỡng chế kê biên căn nhà chung của hai vợ chồng bà đang thế chấp để vay vốn để thực hiện nghĩa vụ thi hành án năm 1999 là trái pháp luật. Ngôi nhà này bán đấu giá thành cho bà A với số tiền 305.000.000 đồng và bà A đã nộp đủ số tiền mua nhà và phí bán đấu giá cho Nhà nước. Cho rằng Chi cục THADS Cà Mau có sai phạm trong quá trình kê biên, bán đấu giá tài sản do bán cả phần tài sản của chồng bà, do đó, bà H đã nhiều lần khiếu nại. Quá trình khiếu nại của bà H từ năm 1999 không được giải quyết dứt điểm do không có sự thống nhất giải quyết giữa các cơ quan liên quan. Để đánh giá, xem xét lại quá trình tổ chức thi hành án, Thanh tra Bộ Tư pháp đã tiến hành thanh tra vụ việc, theo đó, Kết luận thanh tra số 04 của Thanh tra Bộ đã kết luận 3 sai phạm của cơ quan thi hành án TP Cà Mau trong quá trình tổ chức thi hành án. Tuy nhiên, quyết định thanh tra việc giải quyết khiếu nại tuy có nội dung giải quyết khiếu nại và xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, nhưng bà H vẫn không có đủ căn cứ để thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình do văn bản này không phải là loại văn bản được quy định theo pháp luật về Bồi thường nhà nước mặc dù nội dung là giống nhau.

Bên cạnh những quy định bó hẹp về loại văn bản này nêu trên, thực trạng cho thấy nhiều cơ quan nhà nước đã hiểu một cách máy móc là trong văn bản đó phải có cụm từ “xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ” thì văn bản đó mới được coi là văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ.

Ví dụ như vụ việc bà T.T.H yêu cầu Chi cục Thuế TP Vinh, tỉnh Nghệ An bồi thường vào năm 2011 vì cho rằng cơ quan này đã thu tiền sử dụng đất trái pháp luật của bà, trong khi đó, bà H là con liệt sỹ nên theo quy định tại Nghị định số 198/2004/NĐ-CP thì gia đình của bà thuộc diện được giảm 70% tiền sử dụng đất nhưng Chi cục Thuế TP Vinh vẫn thu của gia đình bà 100% số tiền sử dụng đất. Gia đình bà H đã khiếu nại nhiều lần nhưng khiếu nại không được chấp nhận, do đó, bà khởi kiện yêu cầu TAND tp Vinh giải quyết vụ án hành chính. TAND tp Vinh đã xét xử và quyết định buộc Chi cục Thuế tp Vinh hoàn trả cho gia đình bà H số tiền 148.879.500 đồng mà gia đình bà đã nộp theo thông báo nộp tiền sử dụng đất. Ngày 07/8/2011, bà H đã có đơn yêu cầu bồi thường tới Chi cục Thuế tp Vinh nhưng không được thụ lý với lý do bà không đủ điều kiện bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và bản án của TAND tp Vinh không khẳng định hành vi của cán bộ Chi cục Thuế tp Vinh là trái pháp luật. Trường hợp này, bản án hành chính sơ thẩm của TAND tp Vinh chính là văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ và là căn cứ để bà H yêu cầu bồi thường theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhưng vì không hiểu biết pháp luật nên bà Hồng lại tiếp tục khiếu nại, và đến nay, đã được giải quyết bồi thường theo quy định. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Ngoài vấn đề nêu trên xuất phát từ phía các cơ quan Nhà nước, thì ngược lại, thực tế cho thấy nhiều cơ quan Nhà nước thường gặp phải đó là người bị thiệt hại lạm dụng quyền yêu cầu bồi thường để yêu cầu cơ quan Nhà nước bồi thường mà không xác định được căn cứ yêu cầu bồi thường, vụ việc có thuộc phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hay không và thời hiệu yêu cầu bồi thường ra sao. Hoặc có trường hợp khác là dù đã có văn bản xác định hành vi trái pháp luật theo đúng quy định của pháp luật nhưng người bị thiệt hại vẫn không biết việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình như thế nào.

Ví dụ như trong vụ việc của ông N.T.C, tỉnh Bắc Giang yêu cầu Tòa Phúc thẩm TANDTC bồi thường do việc ra bản án phúc thẩm tuyên ông C phải chịu hình phạt tù 10 năm do phạm tội giết người. Tuy nhiên, khi kẻ phạm tội thực sự ra đầu thú, ông C đã được minh oan và Cơ quan Cảnh sát điều tra, Bộ Công an đã ra quyết định đình chỉ điều tra bị can với ông C và trường hợp của ông thuộc phạm vi được Nhà nước bồi thường theo quy định tại Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Quyết định đình chỉ điều tra này được coi là văn bản xác định hành vi trái pháp luật, và là căn cứ để ông thực hiện quyền yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, cho đến nay, do không hiểu biết về quyền của mình nên ông C vẫn chưa thực hiện quyền yêu cầu bồi thường tới Tòa Phúc thẩm dù Tòa Phúc thẩm đã nhiều lần hướng dẫn ông theo quy định.

Bên cạnh đó, có tồn tại hay không việc câu kết giữa cơ quan có trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt hại nhằm khi ban hành văn bản xác định hành vi trái pháp luật để trục lợi từ tiền bồi thường của Nhà nước. Trên thực tế, có một ví dụ như sau về trường hợp này: đó là vụ việc Chi cục THADS huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh bồi thường cho ông V.H.H, tỉnh Tây Ninh. Theo đó, quyết định cử người đại diện ngày 22/8/2012 của Chi cục THADS huyện Hòa Thành và Quyết định thành lập Hội đồng xem xét trách nhiệm hoàn trả giải quyết bồi thường ngày 22/3/2013 đều có đề cập đến Quyết định giải quyết khiếu nại ngày 17/02/2011 của Chi cục Trưởng về vụ việc của ông 2012.

Tuy nhiên, thực tế quyết định này lại đề ngày 27/8/2012. Như vậy, việc một quyết định được ban hành trước căn cứ vào một quyết định ban hành sau là không có hiệu lực và giá trị thi hành. Việc thương lượng bồi thường xảy ra trước khi có quyết định giải quyết khiếu nại và trước khi có quyết định cử người đại diện. Như vậy đối với vụ việc này, từ trước tới nay thì có tới 03 thời điểm ban hành cho cùng một quyết định giải quyết khiếu nại – là văn bản xác định hành vi trái pháp luật theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Vậy, có điều gì khuất tất? Hay điều này đang phản ánh một thực trạng không nhỏ các vụ việc được bồi thường đang được thực hiện theo cách này để trục lợi?

  • Hạn chế về thời hiệu yêu cầu bồi thường Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường là “02 năm, kể từ ngày cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành văn bản xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật” [44, tr.2]. Tuy nhiên, trên thực tế, trong nhiều trường hợp người bị thiệt hại phải rất nhiều ngày sau khi ban hành văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ họ mới thực tế nhận được văn bản đó. Trong khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước lại quy định thời điểm để tính thời hiệu là “từ ngày có văn bản” [44, tr.2]. Quy định như vậy sẽ có thể dẫn đến nhiều trường hợp người bị thiệt hại không biết là có văn bản và đến khi biết hoặc nhận được văn bản thì họ đã hết quyền yêu cầu bồi thường do hết thời hiệu yêu cầu bồi thường.

  • Hạn chế về trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường

Về xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường

Trên thực tế, việc xác định cơ quan có Trách nhiệm bồi thường, đặc biệt là trong hoạt động Tố tụng hình sự là vô cùng phức tạp và khó khăn do pháp luật về Bồi thường nhà nước quy định không rõ ràng về Trách nhiệm bồi thường của Viện kiểm sát và Tòa án tại Điều 31 và Điều 32 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Bởi lẽ, quy trình tố tụng là một quy trình vòng tròn, từ việc điều tra, truy tố rồi xét xử, rồi lại điều tra lại hoặc điều tra bổ sung, truy tố, xét xử. Điều này dẫn đến một hệ quả là khi điều tra, truy tố, xét xử oan sai cho người bị thiệt hại, nút thắt không được tháo gỡ khi Luật không quy định rõ đến giai đoạn nào thuộc Trách nhiệm bồi thường của cơ quan nào. Do đó, khi người bị thiệt hại có đơn yêu cầu bồi thường, để xác định cơ quan có Trách nhiệm bồi thường, các cơ quan tiến hành tố tụng lại phát sinh tâm lý đùn đẩy trách nhiệm cho nhau.

Ví dụ, trường hợp cơ quan tiến hành tố tụng tiến hành truy tố, xét xử oan sai cho ông N.K.C, Nam Định, theo đó, trường hợp này khó xác định được Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thuộc trách nhiệm của cơ quan nào, thuộc trường hợp được bồi thường của Tòa án theo quy định tại Điều 31 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hay thuộc trách nhiệm bồi thường của Viện kiểm sát theo Điều 32 của Luật. Điều đó dẫn đến việc xác định cơ quan có Trách nhiệm bồi thường là rất khó khăn bởi lẽ nếu Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định theo hướng cơ quan gây ra sai phạm cuối cùng là cơ quan có Trách nhiệm bồi thường như quy định của Nghị quyết 388 trước đây thì việc giải quyết vụ việc này và các vụ việc khác tương tự sẽ trở nên rõ ràng và đơn giản hơn rất nhiều. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Trong hoạt động thi hành án dân sự, việc xác định cơ quan có Trách nhiệm bồi thường khi gây ra thiệt hại trong quá trình bán đấu giá tài sản là rất khó khăn. Bởi lẽ, cơ quan thi hành án dân sự là cơ quan thực hiện việc thi hành theo nghĩa vụ bản án. Nếu người phải thi hành án không có điều kiện để thực hiện đóng các nghĩa vụ thi hành án, thì cơ quan thi hành án đương nhiên phải áp dụng các biện pháp cưỡng chế theo quy đinh của Luật THADS năm 2008 và các văn bản hướng dẫn thi hành để giải quyết. Nếu tài sản bị cưỡng chế là nhà, thì theo quy định, cơ quan thi hành án phải ủy quyền cho trung tâm bán đấu giá tài sản bán tài sản đó để thi hành án mà không được tự ý bán đấu giá tài sản có giá trị lớn. Như vậy, việc bán đấu giá tài sản nếu có sai phạm thì cơ quan có Trách nhiệm bồi thường là cơ quan THADS hay Trung tâm bán đấu giá tài sản. Điều này cũng không được quy định rõ ràng trong Luật, gây khó khăn trong việc xác định cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Và người bị thiệt hại, là người ở giữa, chịu nhiều tổn thất về tài sản và tổn thương về tinh thần, nguyên nhân chính, lại xuất phát từ sự thiếu hụt các quy định do Luật không quy định rõ ràng.

  • Cơ quan có Trách nhiệm bồi thường không thụ lý đơn yêu cầu bồi thường

Trong thời gian qua, thực tế ở một số địa phương, trong hầu hết các lĩnh vực, khi người bị thiệt hại yêu cầu bồi thường mà cơ quan có thẩm quyền không thụ lý đơn, ngoài việc người bị thiệt hại khiếu nại với Thủ trưởng cơ quan đó việc không thụ lý đơn theo quy định tại Điều 8 Thông tư liên tịch số 06 mà không được giải quyết khiếu nại thì người dân bế tắc, không biết phải thực hiện quyền của mình như thế nào. Bởi pháp luật không quy định người bị thiệt hại có quyền khởi kiện thẳng ra toà án để yêu cầu giải quyết bồi thường theo trình tự Tố tụng hành chính hoặc Tố tụng dân sự để giải quyết mà bắt buộc phải thực hiện việc giải quyết bồi thường thông qua thủ tục thương lượng. Trường hợp khởi kiện thẳng ra Toà án sẽ bị từ chối thụ lý yêu cầu bồi thường theo đúng quy định của pháp luật hiện hành vì yêu cầu bồi thường không theo đúng trình tự, thủ tục Luật định. Trên thực tế, đối với các lĩnh vực khác, việc người bị thiệt hại phải tìm cách chứng minh có thiệt hại thực tế xảy ra, kèm theo chứng cứ, tài liệu là điều dễ hiểu. Việc này phục vụ cho việc xác minh mức bồi thường của cơ quan có Trách nhiệm bồi thường được dễ dàng và thuận lợi hơn. Tuy nhiên, trong hoạt động Tố tụng hình sự, thiệt hại thực tế xảy ra là việc bắt giam, tạm giam và rõ ràng thực tế đó không cần thiết phải chứng minh. Có thể coi việc chứng minh này là một thủ tục rườm rà, phức tạp và máy móc. Người dân đã bị oan ức, lại phải tự chứng minh nỗi oan của mình; nếu không, sẽ không thực hiện được quyền yêu cầu bồi thường của mình. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

  • Vướng mắc nhiều trong thủ tục thương lượng việc bồi thường

Trong thủ tục này, có thể coi là một thủ tục mang tính bảo vệ quyền con người cao nhất xuyên suốt cả quá trình giải quyết bồi thường. Thông qua đó, người bị thiệt hại và cơ quan có Trách nhiệm bồi thường cùng thỏa thuận về mức bồi thường trên cơ sở giấy tờ, tài liệu chứng minh thiệt hại mà người bị thiệt hại cung cấp và việc xác minh của cơ quan có Trách nhiệm bồi thường những thiệt hại đó. Cả người bị thiệt hại lẫn Cơ quan nhà nước đều có quyền định đoạt quyền và lợi ích của mình. Chính vì lẽ đó, thực tế đã phát sinh nhiều bất cập trong thủ tục này, có thể điểm ra những vướng mắc, tồn tại như sau:

Một là, nhiều vụ việc yêu cầu bồi thường đã được giải quyết không thông qua thủ tục thương lượng trực tiếp giữa người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại với người bị thiệt hại, mà người thi hành công vụ đã bỏ tiền của chính mình ra để chi trả cho những thiệt hại đó do tâm lý e ngại đến uy tín của bản thân và cơ quan. Do đó, ở giai đoạn thương lượng, công chức đó nhất trí với mọi thỏa thuận từ phía người bị thiệt hại đưa ra. Chính việc làm này đã khiến người bị thiệt hại không yêu cầu Cơ quan nhà nước tiếp tục bồi thường theo trình tự, thủ tục được quy định trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Mặc dù việc làm này pháp luật không cấm nhưng có thể kéo theo nhiều hệ quả tiêu cực, đặc biệt là việc người bị thiệt hại vẫn có quyền yêu cầu cơ quan hành chính bồi thường trong thời hiệu mà pháp luật quy định trong trường hợp họ không hài lòng với số tiền bồi thường nhận được do người thi hành công vụ tự bỏ tiền của mình ra để bồi thường.

Hai là, việc người bị thiệt hại không hợp tác, thiện chí tham gia lương lượng bởi tại giai đoạn xác minh thiệt hại đã thể hiện sự chênh lệch quá lớn giữa mức tiền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại với kết quả xác minh thiệt hại của cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Do đó, khi được mời đến để thỏa thuận, người bị thiệt hại đã cố tình không đến. Phần vì ức chế. Phần vì không hiểu quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về khởi kiện yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết bồi thường. Để được Tòa án thụ lý giải quyết, người bị thiệt hại phải có quyết định giải quyết bồi thường của cơ quan có trách nhiệm bồi thường, mà để ra được quyết định đó, cơ quan có trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào kết quả thương lượng có chữ ký của các bên theo quy định tại Điều 18 và Điều 19 của Luật. Tình trạng này dẫn đến hai hệ quả, là người dân vẫn không được giải quyết bồi thường, còn cơ quan có Trách nhiệm bồi thường thì không đủ cơ sở để ra quyết định giải quyết bồi thường, chấm dứt thủ tục giải quyết tại cơ quan gây ra thiệt hại.

Ví dụ điển hình như vụ việc của ông N.N.A yêu cầu UBND tỉnh Ninh Thuận bồi thường thiệt hại do việc ban hành và tổ chức cưỡng chế nhà, đất sai đối tượng, dẫn đến thiệt hại và lợi tức trên đất và nhiều năm ròng rã đi khiếu kiện, được UBND tỉnh Ninh Thuận giải quyết khiếu nại bằng Quyết định giải quyết khiếu nại 07/QĐ-UBND ngày 02/01/2014. Theo đó, khẳng định việc khiếu nại hành vi của thành viên UBND tỉnh Ninh Thuận đã ký ban hành các quyết định về thu hồi đất, bồi thường thiệt hại, giải quyết khiếu nại và cưỡng chế thu hồi đất để xây dựng hạ tầng kỹ thuật Cục Công nghiệp Tháp Chàm trái pháp luật là có cơ sở. Trong vụ việc này, ông A được Nhà nước bồi thường thiệt hại trên đất do hành vi trái pháp luật gây ra theo Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và đền bù đất theo Luật Đất đai 2008. Để bồi thường Nhà nước cho ông, UBND tỉnh Ninh Thuận đã giao Sở Tư pháp giải quyết, bồi thường cho ông. Tuy nhiên, khi mời ông đến thương lượng, lần thứ nhất ông A đến và bỏ về, không ký vào biên bản thương lượng; lần thứ hai, ông không đến thỏa thuận với lý do không nhất trí với mức bồi thường nhà nước và yêu cầu bồi thường cả thiệt hại và tiền đất kết hợp là 39 tỉ. Việc này gây khó khăn cho UBND tỉnh Ninh Thuận trong việc ra quyết định giải quyết bồi thường vì chưa có kết quả thương lượng. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

  • Thực trạng thiệt hại được bồi thường

Việc xác định loại thiệt hại được bồi thường nhằm mục đích bù đắp những tổn thất không chỉ về vật chất mà cả về tinh phần cho người bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra. Tuy nhiên, thực tế cho thấy mức bồi thường thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa sát với thiệt hại thực tế mà người bị thiệt hại và gia đình phải gánh chịu. Hơn nữa, theo quy định tại Hiến pháp 2013 thì rất nhiều quyền của công dân được ghi nhận, do đó, việc quy định các loại thiệt hại được Nhà nước bồi thường như hiện nay là chưa phù hợp với tinh thần của Hiến pháp, chưa bảo vệ hết các quyền con người, quyền công dân mà bản Hiến pháp mới đang hướng tới, thể hiện ý chí, nguyện vọng của toàn dân tộc. Ví dụ cụ thể như trường hợp thiệt hại thực tế đối với ông N.K.C như đã nêu ở ví dụ trên khi có khó khăn trong việc xác định cơ quan có Trách nhiệm bồi thường cho ông. Đối với ông C sau 4 năm học đại học nhưng do việc khởi tố oan dẫn đến việc ông không được thi tốt nghiệp và không thể đi làm. Do đó, thiệt hại ông phải gánh chịu không chỉ là thiệt hại đối với việc chưa được tốt nghiệp đại học mà còn cả thiệt hại do việc không có công việc do chưa có bằng tốt nghiệp đại học. Tuy nhiên, pháp luật về Bồi thường nhà nước mới chỉ quy định những thiệt hại chung chung về tinh thần và vật chất mà chưa quy định mở rộng sang mọi loại thiệt hại cũng cần phải được bồi thường.

Bên cạnh đó, thiệt hại thực tế còn rất lớn khi có những trường hợp người thăm nuôi, kêu oan cho người bị thiệt hại cũng bị thiệt hại thì có được xem xét để bù đắp phần nào thiệt hại không? Ví dụ vụ án oan của ông C, tỉnh Bắc Giang nêu trên. Vợ ông đã 10 năm đi tìm kẻ giết người thực sự để minh oan cho chồng, bệnh tật, kiệt quệ về kinh tế, xã hội dè bỉu khiến bà phát bệnh tâm thần. Hai con trai của ông C thì bỏ học, không công ăn việc làm. Gia đình ông tan nát. Như vậy, ngoài việc Nhà nước phải bồi thường với những thiệt hại gây ra cho bản thân ông, thì, gia đình ông cũng phải được Nhà nước bồi thường phần nào những đau thương, mất mát không đong đếm được đó. Tuy nhiên, pháp luật về Bồi thường nhà nước chưa quy định đối với loại thiệt hại này. Nếu có, mà quy định về nghĩa vụ chứng minh thiệt hại đó như việc yêu cầu chứng minh mình bị ngồi tù oan sai thì vẫn không đáp ứng được về những thiệt hại được bồi thường trên thực tế. Ngoài ra, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định người bị thiệt hại chỉ có quyền yêu cầu bồi thường khi đã có văn bản của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Tuy nhiên, chi phí mà người bị thiệt hại phải bỏ ra để có được văn bản đó như chi phí đi khiếu nại, khởi kiện, tố cáo, thuê luật sư bào chữa, chi phí tàu xe, ăn ở trong quá trình khiếu kiện… lại chưa được Luật quy định là một loại thiệt hại được bồi thường. Các thiệt hại này đương nhiên được coi là thiệt hại thực tế.

Bên cạnh việc bồi thường các loại thiệt hại được liệt kê trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, các quy định về việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại chưa ổn khi chỉ xin lỗi ở nơi ở hoặc ở cơ quan là chưa đáp ứng được yêu cầu khôi phục danh dự của người bị thiệt hại. Đối với thiệt hại do tổn hại về tinh thần thì việc quy định trong pháp luật hiện hành còn chung chung, chưa bù đắp được thiệt hại do việc người oan, sai có người thân bị thiệt hại mà bị thiệt hại về tinh thần, tâm tư, tình cảm. Vậy người thân của người bị thiệt hại cũng cần phải được pháp luật về Bồi thường nhà nước bảo vệ quyền được khôi phục danh dự của họ. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

  • Thực trạng việc khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường

Trên thực tế, có thể do tâm lý e ngại hoặc định kiến với cơ quan gây ra thiệt hại cho mình nên có một số trường hợp người bị thiệt hại đã khởi kiện thẳng ra Tòa án yêu cầu giải quyết bồi thường mà không thực hiện theo trình tự, thủ tục yêu cầu bồi thường tại cơ quan có Trách nhiệm bồi thường. Thêm vào đó, do chưa có quy định cụ thể về việc Tòa án chỉ thụ lý vụ án giải quyết bồi thường khi vụ việc đó đã được giải quyết tại cơ quan có Trách nhiệm bồi thường nên khi nhận được đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết bồi thường, một số Tòa án đã thụ lý, giải quyết bồi thường và tuyên luôn mức bồi thường thiệt hại trong bản án, quyết định, đồng thời, bên gây ra thiệt hại phải chi trả tiền bồi thường như một nghĩa vụ của bản án, quyết định mà Tòa án đã tuyên. Chính tình trạng này đã khiến cho một số Tòa án khi thụ lý yêu cầu bồi thường của người dân đã có sự nhầm lẫn trong áp dụng pháp luật để giải quyết bồi thường. Cụ thể là, thay vì bác đơn yêu cầu bồi thường đối với những vụ việc chưa được giải quyết bồi thường thông qua thương lượng bắt buộc giữa người bị thiệt hại và cơ quan có Trách nhiệm bồi thường, thì một số Tòa án đã thụ lý và giải quyết vụ án ngay và cơ sở pháp lý để áp dụng lại là Bộ luật dân sự chứ không phải là Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Hệ quả của việc nhầm lẫn trong áp dụng pháp luật đó là những vụ việc giải quyết bồi thường theo quy định của Bộ luật dân sự sẽ không được sử dụng kinh phí bồi thường Nhà nước theo quy định.

  • Việc chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại còn nhiều bất cập

Thực tiễn giải quyết bồi thường cho thấy, việc cấp kinh phí chi trả tiền bồi thường chưa được thực hiện kịp thời. Trên thực tế, việc chi trả tiền bồi thường kể từ khi ra quyết định giải quyết bồi thường đến lúc người bị thiệt hại được cấp kinh phí chi trả tiền bồi thường là một khoảng thời gian rất dài và mệt mỏi, thường kéo dài từ 4 tháng đến 1 năm, cá biệt có những vụ việc kéo dài đến gần hai năm. Còn có thực trạng cơ quan có Trách nhiệm bồi thường khi được cấp kinh phí bồi thường để chi trả cho người bị thiệt hại lại không thực hiện chi trả ngay, theo đúng phương thức thanh toán nêu trong quyết định giải quyết bồi thường. Vấn đề đặt ra rằng có hay không cơ quan có Trách nhiệm bồi thường khuất tất trong việc sử dụng tiền chi trả bồi thường để sử dụng cho việc cá nhân.

  • Chưa đủ tính răn đe trong việc thực hiện trách nhiệm hoàn trả của công chức gây ra thiệt hại

Trong năm 2013, mặc dù số tiền bồi thường được xác định trong các quyết định giải quyết bồi thường hoặc bản án của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật lên tới 38.467.392 nghìn đồng, nhưng số tiền hoàn trả lại đạt tỷ lệ rất thấp, cụ thể, việc xem xét trách nhiệm hoàn trả đã thực hiện đối với 08 vụ việc (trong lĩnh vực quản lý hành chính và thi hành án dân sự), với tổng số tiền là 233.756.000 đồng. Cụ thể, trong hoạt động quản lý hành chính có 01 vụ việc với số tiền hoàn trả là 25.000.000 đồng; trong lĩnh vực thi hành án dân sự có 07 vụ việc với số tiền hoàn trả là 208.756.000 đồng. Kết quả này cho thấy, so với các vụ việc Nhà nước đã chi trả tiền bồi thường, việc thực hiện trách nhiệm hoàn trả đạt tỷ lệ thấp (8 vụ việc được xem xét trách nhiệm hoàn trả trong tổng số 25 đã giải quyết bồi thường xong trong hoạt động quản lý hành chính và thi hành án, đạt tỷ lệ 32%). Trong lĩnh vực tố tụng, đến nay chưa có vụ việc nào phải hoàn trả, tuy nhiên, do Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định trách nhiệm hoàn trả trong hoạt động tố tụng hình sự chỉ đặt ra trong trường hợp người thi hành công vụ có lỗi cố ý, trong khi thực tế, các vụ việc đã giải quyết bồi thường xong trong hoạt động tố tụng hình sự chủ yếu được xác định là do lỗi vô ý của người thi hành công vụ nên không phát sinh trách nhiệm hoàn trả [18, tr.24].

Có thể thấy trên thực tế việc xem xét Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại chưa được thực hiện nghiêm khắc và nhanh chóng, chưa bảo đảm tính giáo dục, răn đe đối với công chức Nhà nước. Đối tượng là công chức gây ra thiệt hại có trách nhiệm hoàn trả đã nghỉ hưu hoặc không còn làm việc tại Cơ quan nhà nước, hiện nay, đang là một vấn đề nhức nhối trong việc yêu cầu đối tượng này tự giác thực hiện trách nhiệm hoàn trả của mình. Có trường hợp khi người có trách nhiệm hoàn trả nghỉ hưu được cơ quan có Trách nhiệm bồi thường thông báo đến lần thứ 3 về việc hoàn trả mà vẫn cố ý không thực hiện thì cơ quan có Trách nhiệm bồi thường phối hợp với bảo hiểm xã hội để trừ dần vào lương hưu hàng tháng. Tuy nhiên, bảo hiểm xã hội đang trả lương hưu cho người này không hợp tác. Do đó, chỉ còn một phương án duy nhất là khởi kiện ra tòa theo thủ tục Tố tụng dân sự, mà điều này thì không cơ quan Nhà nước nào muốn thực hiện.

  • Một số hạn chế khác Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì nguyên tắc chung về xác định cơ quan có Trách nhiệm bồi thường, theo đó, pháp luật Việt Nam xác định mô hình cơ quan thực hiện Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là mô hình phân tán. Trên thực tế đã cho thấy mô hình giải quyết bồi thường này có nhiều bất cập, khuyết điểm, cụ thể là người bị thiệt hại trong nhiều trường hợp sẽ gặp khó khăn trong việc xác định cơ quan nào là cơ quan có Trách nhiệm bồi thường. Bên cạnh đó, Trách nhiệm bồi thường không phải là một công việc có tính chất thường xuyên nên khó bảo đảm tính chuyên nghiệp, do đó, cơ quan có Trách nhiệm bồi thường sẽ gặp nhiều khó khăn, lúng túng và khó bảo đảm thời hạn giải quyết bồi thường luật định vì những cơ quan có Trách nhiệm bồi thường không phải là cơ quan chuyên trách thực hiện nhiệm vụ này.

Bên cạnh đó, vấn đề xác định lỗi nên là trách nhiệm của Nhà nước thay vì của người bị thiệt hại. Trên thực tế, khi người dân bị gây ra thiệt hại, người dân lại phải tự đi làm bằng mọi cách để có văn bản xác định lỗi của người thi hành công vụ. Việc buộc người dân phải chứng minh lỗi của người thi hành công vụ là chưa phù hợp bởi lẽ Nhà nước đã gây thiệt hại cho người dân thì đó là vấn đề nhà nước cần phải chứng minh mình có lỗi và phải bồi thường chứ không phải là việc người bị thiệt hại phải chứng minh ngược lại lỗi đó của Nhà nước. Rõ ràng Nhà nước là bên gây thiệt hại, Nhà nước phải có trách nhiệm thực hiện mọi biện pháp để khắc phục hậu quả do công chức của mình gây ra, ngay cả việc tự xác định lỗi của bản thân.

Nhận thức của cơ quan có Trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt hại còn hạn chế thể hiện ở việc nhiều cơ quan do chưa thực sự hiểu đúng tinh thần các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nên đã dẫn tới tình trạng né tránh việc thực hiện Trách nhiệm bồi thường hoặc không thực hiện đúng thủ tục giải quyết bồi thường theo quy định của pháp luật. Sau 4 năm thi hành Luật, thực tế cho thấy hiện nay vẫn tồn tại tình trạng một số cơ quan áp dụng chưa đúng, chưa thống nhất quy định của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như việc một số Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án về Bồi thường nhà nước trong khi vụ việc chưa được giải quyết thông qua thủ tục thương lượng tại cơ quan có Trách nhiệm bồi thường, dẫn đến việc không áp dụng được thủ tục cấp phát kinh phí chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, gây khó khăn cho cơ quan có Trách nhiệm bồi thường và gây bức xúc cho người bị thiệt hại. Bên cạnh đó, có một số cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết khiếu nại lần 2 đối với quyết định, hành vi của cơ quan có Trách nhiệm bồi thường cấp dưới lại xác định luôn pháp luật áp dụng để giải quyết bồi thường trong quyết định giải quyết khiếu nại của mình. Điều này đã khiến cơ quan có Trách nhiệm bồi thường gặp khó khăn trong việc xác định pháp luật áp dụng để giải quyết bồi thường bởi không phải trường hợp nào cơ quan cấp trên cũng xác định đúng pháp luật áp dụng. Trường hợp cơ quan cấp trên khi giải quyết khiếu nại lại xác định không đúng pháp luật áp dụng để giải quyết bồi thường sẽ kéo theo hệ quả là cơ quan có Trách nhiệm bồi thường gặp lúng túng bởi một bên là chỉ đạo của cơ quan cấp trên và một bên là quy định của pháp luật cần áp dụng đúng. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Bên cạnh việc hạn chế trong nhận thức của chính các Cơ quan nhà nước khi thực hiện Trách nhiệm bồi thường thì thực tiễn đã cho thấy, nhận thức pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của một bộ phận người dân còn chưa đầy đủ, thậm chí nhiều người dân còn chưa biết đến có Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Có thể nói đến nguyên nhân sâu xa hơn của tình trạng này là chính bởi hoạt động tuyên truyền, phổ biến chưa thực sự đầy đủ và toàn diện. Đến nay, hoạt động tuyền truyền, phổ biến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mới chủ yếu được thực hiện đến đối tượng là cán bộ, công chức mà còn thực hiện rất hạn chế đến đối tượng là người dân. Thậm chí tại một số địa phương, do hiểu chưa đúng đắn về các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng như chưa thực sự nắm bắt được những tinh thần đổi mới của Luật so với các văn bản quy phạm pháp luật trước đó nên phát sinh tâm lý e ngại và cho rằng nếu tuyên truyền, phổ biến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đến người dân thì sẽ làm phát sinh nhiều khiếu kiện yêu cầu bồi thường. Hệ quả của tình trạng này là đến nay, vẫn còn một bộ phận lớn người dân không biết đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình, hoặc đến khi biết đến Luật và thực hiện quyền của mình thì lại đã hết thời hiệu yêu cầu bồi thường mà Luật quy định. Cũng vì chưa hiểu biết về Luật nên về phía người bị thiệt hại, trong một số vụ việc mặc dù cơ quan có Trách nhiệm bồi thường đã thiện chí, chủ động giải quyết nhưng lại gặp phải sự thiếu hợp tác của người bị thiệt hại, dẫn đến việc giải quyết bồi thường bị chậm trễ.

2.2.3. Nhận diện một số sai phạm của người thi hành công vụ dẫn đến thiệt hại giúp người dân nhận thức và tự bảo vệ quyền Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Đối với các Cơ quan nhà nước trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án, việc mọi cán bộ, công chức tại các Cơ quan nhà nước phải nắm bắt chặt chẽ, đầy đủ các quy định của nhiều văn bản quy phạm pháp luật như Bộ luật Dân sự, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Hôn nhân và Gia đình, Luật Đất đai, Luật Nhà ở… là điều không thể. Không phải chỉ ở Việt Nam, mà trên thế giới cũng vậy, một công chức nhà nước làm việc tại Cơ quan nhà nước trong chính lĩnh vực công tác của mình khó có thể nắm bắt được hết các quy định của pháp luật chuyên ngành liên quan. Có những trường hợp giải quyết vụ án tại tòa án, hay giải quyết một vụ việc thi hành án mà công chức phải đồng thời áp dụng tất cả các văn bản nêu trên để thực hiện. Có thể thấy ngay được hoạt động này sẽ tiềm ẩn nguy cơ rất lớn việc phát sinh Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Qua thực tiễn, học viên cho rằng một số sai phạm, nguyên nhân chủ yếu thường làm phát sinh Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước sẽ xảy ra những trường hợp cụ thể như phân tích dưới đây. Có thể những nghiên cứu này, sẽ giúp ích cho người dân tự bảo vệ mình, bảo vệ lợi ích của mình và bảo vệ quyền của mình về bồi thường nhà nước.

  • Một số sai phạm chủ yếu phát sinh Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án

Thứ nhất, là việc Chấp hành viên thực hiện không đúng thẩm quyền trong việc ra và tổ chức thực hiện các quyết định về THADS; ra quyết định về THADS không đủ căn cứ quy định của pháp luật; vi phạm trình tự, thủ tục trong quá trình tổ chức thực hiện các quyết định về THADS, chủ yếu là ở khâu kê biên và xử lý tài sản của người phải thi hành án để bảo đảm nghĩa vụ thi hành án và trường hợp đặc biệt gây ra sai phạm là dù không phải là cơ quan gây ra thiệt hại nhưng cơ quan THADS vẫn là cơ quan có trách nhiệm bồi thường cũng đã xảy ra trên thực tiễn.

Ví dụ: Điển hình trong trường hợp này là vụ việc ông H.H.L yêu cầu Cục THADS Tp C.T bồi thường. Ông L là người trúng đấu giá căn nhà và đất 104,5m2 của gia đình bà T là người phải thi hành án. Quá trình xác định loại đất để kê biên để bán đấu giá là đất thổ cư trên cơ sở lấy kết quả xác minh từ UBND Phường sở tại và Sở Địa chính trong khi đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông L được bàn giao đất ngày 02/5/1996. Năm 2000, khi ông L tiến hành thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất, thì cơ quan thuế yêu cầu nộp tiền chuyển mục đích sử dụng đất do trước đó, Chi Cục quản lý đất đai tỉnh CT xác nhận đất này là đất vườn. Ông L đã yêu cầu cơ quan THADS bồi thường số tiền mà ông phải nộp để chuyển mục đích sử dụng đất. Trong vụ việc nêu trên, có thể dễ dàng nhận thấy trách nhiệm chủ yếu thuộc về cán bộ địa chính của UBND phường AC cũng như của Sở TN&MT khi cung cấp thông tin sai về tình trạng và loại đất. Tuy nhiên, do cơ quan THADS là cơ quan chịu trách nhiệm chính trong vụ việc nên vẫn phải thực hiện trách nhiệm bồi thường đối với người bị thiệt hại.

Thứ hai, là việc sai phạm trong chính việc giải quyết bồi thường do xác định pháp luật áp dụng để giải quyết bồi thường chưa đúng quy định. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Theo quy định tại Điều 66 về điều khoản chuyển tiếp thì đối với các trường hợp được bồi thường theo Nghị định số 47/CP đến thời điểm Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực mà còn thời hiệu nhưng chưa yêu cầu Nhà nước bồi thường hoặc đã yêu cầu nhưng chưa được thụ lý thì áp dụng các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để giải quyết. Mặc dù Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định rất rõ về xác định pháp luật áp dụng để giải quyết bồi thường như trên nhưng một số cơ quan THADS vẫn xác định pháp luật áp dụng không đúng.

Ví dụ: Điển hình là vụ việc Bà T yêu cầu Chi cục THADS huyện Di Linh tỉnh Lâm Đồng bồi thường. Vụ việc phát sinh từ năm 1997 khi TAND huyện Di Linh đã ra Bản án số 44/DSST yêu cầu bà T có trách nhiệm trả nợ cho bà L số tiền là 48.289.936đ. Tuy nhiên, do bà Tkhông tự nguyện thi hành án và khiếu nại về nội dung bản án này vì cho rằng trình tự xét xử của Tòa án không đúng pháp luật. Do đó, cơ quan THA huyện Di Linh đã cưỡng chế thi hành án bằng biện pháp kê biên tài sản. Việc kê biên tài sản đã dẫn đến thiệt hại cho bà T và bà đã khiếu nại hành vi đó và cơ quan THADS huyện Di Linh đã ra quyết định giải quyết khiếu nại cho bà. Đến nay vụ việc vẫn chưa được giải quyết xong. Sai phạm của Chi cục THADS huyện Di Linh là ở chỗ, toàn bộ quy trình giải quyết bồi thường được thực hiện theo quy định theo quy định của Nghị định số 47/CP. Tuy nhiên, đến giai đoạn ra Quyết định giải quyết bồi thường sau khi kết thúc việc thương lượng thì Chi cục THADS huyện Di Linh lại căn cứ vào Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để ra Quyết định.

Thứ ba, là việc cơ quan THADS từ chối thụ lý đơn yêu cầu bồi thường trái pháp luật bởi một số cơ quan THADS do hiểu không đúng về quy định của pháp luật về Bồi thường nhà nước nên đã từ chối thụ lý yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại khi trong đơn yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại có kèm theo căn cứ yêu cầu bồi thường là văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, tuy nhiên, trong văn bản đó không hiển thị việc giao trách nhiệm giải quyết bồi thường cho cơ quan mình. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Ví dụ: Điển hình là vụ việc bà T yêu cầu Cục THADS tỉnh Tây Ninh bồi thường. Trong vụ việc này, bà T đã có Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của Tổng cục THADS, trong đó, xác định khiếu nại của bà là có cơ sở và văn bản này là căn cứ để bà T thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của mình. Tuy nhiên, sau khi bà T có đơn yêu cầu bồi thường ngày 22/01/2014 thì Cục THADS tỉnh Tây Ninh có công văn từ chối thụ lý đơn yêu cầu bồi thường vì cho rằng nội dung quyết định giải quyết khiếu nại không kết luận việc cơ quan THADS phải bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả do quyết định, hành vi trái pháp luật gây ra được quy định tại khoản 8 Điều 153 Luật THADS năm 2008.

Theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì việc giải quyết bồi thường thuộc trách nhiệm đồng thời cũng là thẩm quyền của cơ quan có Trách nhiệm bồi thường và được thực hiện trên cơ sở quy định của pháp luật. Do đó, việc Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 của Tổng cục THADS không nêu về quyền yêu cầu bồi thường của bà T là đúng quy định của pháp luật và không phải là cơ sở để Cục THADS tỉnh Tây Ninh từ chối thụ lý đơn yêu cầu bồi thường của bà.

Thứ tư, là việc cơ quan THADS chưa thực hiện xong nghiệp vụ về THADS

Ví dụ: vụ việc bà L là người trúng đấu giá tài sản năm 12/2000 là ngôi nhà của bà S do bà S không tự nguyện thi hành án. Bà L sau khi trúng đấu giá đã nộp đủ tiền cho Trung tâm bán đấu giá tài sản nhưng không nhận được tài sản do bà S liên tục có khiếu nại về việc có vi phạm trong thủ tục bán đấu giá tài sản. Do không nhận được nhà, bà L đã khiếu nại và cơ quan có thẩm quyền giải quyết khiếu nại xác định cơ quan THADS quận Thốt Nốt đã có sai phạm là vừa có quyết định bán đấu giá lại vừa cho bà S tự nguyện trả tiền thi hành án. Việc Chi cục THADS quận Thốt Nốt đưa tài sản ra bán đấu giá nhưng vẫn tiếp tục thu tiền của người phải thi hành án khi tài sản đã bán đấu giá thành là không có căn cứ pháp luật. Đến ngày 16/7/2013, bà L đã có đơn yêu cầu bồi thường đến Chi cục THADS quận Thốt Nốt yêu cầu giao nhà và đất cho bà hoặc bồi thường.

Từ ví dụ này có thể thấy việc lạm dụng quyền của một số Cơ quan nhà nước ở địa phương đã ảnh hưởng rất lớn tới tài sản, tới quyền của người dân. Gây thiệt hại cho cả người dân lẫn hao hụt ngân sách nhà nước do việc Bồi thường nhà nước mà Nhà nước phải chi trả cho người bị thiệt hại.

  • Một số sai phạm chủ yếu phát sinh Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính

Thứ nhất, là việc công chức cơ quan hành chính thực hiện việc thu tiền sử dụng đất sai quy định. Đây là trường hợp vi phạm diễn ra khá phổ biến trong những năm gần đây. Ví dụ đối với vụ việc của bà R, tỉnh Quảng Ninh yêu cầu UBND huyện Vân Đồn tỉnh Quảng Ninh bồi thường đối với việc không công nhận 2000m2 đất ở và yêu cầu bà R nộp tiền sử dụng đất trái pháp luật, dẫn đến thiệt hại cho bà và bà R đã khiếu nại và yêu cầu bồi thường đối với hành vi này.

Thứ hai, sai phạm trong việc giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất như ví dụ vụ việc của ông H, thị xã Cẩm Phả yêu cầu UBND tỉnh Quảng Ninh bồi thường do việc ra Quyết định cấp đất, thu hồi đất và tổ chức cưỡng chế giải phóng mặt bằng trái pháp luật.

Thứ ba, sai phạm trong việc chậm trả tiền đền bù đất dẫn đến thiệt hại về lãi phát sinh trong quá trình chậm trả, ví dụ như trường hợp của ông C, Long An yêu cầu Ban Quản lý dự án công trình giao thông – Sở Giao thông vận tải tỉnh Long An bồi thường do việc chi trả không đúng, không đủ tiền bồi thường, hỗ trợ công trình nâng cấp mở rộng QL1 đoạn qua thành phố Tân An. Cụ thể là thay vì phải bồi thường cho ông C với đủ 72 m2 với số tiền 432.000.000 đồng thì Hội đồng bồi thường và Ban Quản lý dự án công trình chỉ bồi thường 50% đất đối với 36 m2. Trong quá trình chờ tiền bồi thường, bà M, mẹ ông C, đã vay của Ngân hàng 300.000.000 đồng để sửa lại nhà nhưng do việc bồi thường chậm kéo dài hơn 3 năm nên ông và mẹ ông không có tiền để trả ngân hàng, cũng như tiền lãi phát sinh. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

  • Một số sai phạm chủ yếu phát sinh Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng

Sai phạm trong hoạt động tố tụng do các cơ quan tiến hành tố tụng gây ra chủ yếu do việc thực hiện sai trình tự, thủ tục điều tra, xét xử, truy tố, xét xử. Bên cạnh đó, còn có một sai phạm nữa nguyên nhân tới từ hai hướng: một là việc tắc trách bỏ quên hồ sơ của bị can trong nhiều năm; hai là việc cố tình bỏ quên hồ sơ bị can cho đến khi bị phát hiện hoặc bị tố giác. Ngoài ra, việc cơ quan tiến hành tố tụng lạm dụng việc ban hành quyết định miễn truy cứu trách nhiệm hình sự khi dự đoán có dấu hiệu gây thiệt hại xảy ra cho người dân, để tránh trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Bởi lẽ, theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì trường hợp được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự không thuộc phạm vi được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự.

2.3. Đánh giá chung về pháp luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

2.3.1. Pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có phù hợp với Nhà nước pháp quyền không?

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có ý nghĩa sâu sắc trong việc khẳng định chính sách của Đảng và Nhà nước ta trong việc thực hiện các mục tiêu xây dựng Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa, bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức, đồng thời góp phần nâng cao ý thức, trách nhiệm trong thực thi công vụ của đội ngũ cán bộ, công chức ở nước ta hiện nay. Luật thể hiện tính dân chủ hoá trong đời sống xã hội, khi công dân tham gia vào các quan hệ pháp luật cụ thể. Đặc biệt Luật đã đặt địa vị pháp lý của người dân ngang bằng với vị trí Nhà nước, nghĩa là Luật cho phép người dân có quyền yêu cầu, khởi kiện và Nhà nước phải bồi thường khi các công chức, viên chức của mình có lỗi. Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước những năm qua cho thấy, một số quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, mâu thuẫn trong nội bộ Luật cũng như với một số văn bản hiện hành [14, tr.25].

Có thể thấy, tại thời điểm ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thì nội dung của Luật này được xây dựng phù hợp với quy định của một số đạo luật có liên quan như Luật Khiếu nại, tố cáo, Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính… Ví dụ, phạm vi trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được xây dựng trên cơ sở phạm vi khiếu nại quy định trong Luật Khiếu nại, tố cáo và phạm vi đối tượng khởi kiện vụ án hành chính quy định trong Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Cả hai luật nêu trên nay đã được thay thế bằng các Luật: Luật Khiếu nại, Luật Tố cáo năm 2011 và Luật Tố tụng hành chính, tố tụng dân sự năm 2010. Theo đó, thẩm quyền của Tòa án trong hoạt động tố tụng dân sự đã được mở rộng hơn, cụ thể, Tòa án có thẩm quyền khi xét xử các tranh chấp dân sự có quyền hủy bỏ các quyết định của cơ quan, tổ chức mà trong đó có các quyết định của cơ quan hành chính nhà nước. Đồng thời, việc pháp luật Việt Nam có những nguyên tắc thể hiện rõ mọi hành vi vi phạm pháp luật của người thi hành công vụ gây ra thiệt hại phải được xử lý nghiêm minh trước pháp luật thông qua việc xem xét trách nhiệm hoàn trả để gánh một phần trách nhiệm và xử lý người thi hành công vụ tương ứng với mức độ lỗi và hành vi trái pháp pháp luật. Mục đích của việc xử lý kỷ luật và xem xét trách nhiệm hoàn trả thông qua yếu tố lỗi của người thi hành công vụ không chỉ là trừng trị mà chủ yếu là giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm. Đây là yêu cầu cơ bản để bảo đảm quyền con người trong nhà nước pháp quyền.

Tuy nhiên, đến nay, Hiến pháp sửa đổi 2013 và một số Luật chuyên ngành đã có nhiều thay đổi theo hướng quy định rõ hơn các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân. Do đó, trong điều kiện Hiến pháp và các đạo luật khác có liên quan đến Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã thay đổi thì việc sửa đổi, bổ sung Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một đòi hỏi tất yếu để phù hợp với giai đoạn phát triển thời kỳ này của Nhà nước ta.

2.3.2. Quyền con người về bồi thường nhà nước có phù hợp với pháp luật quốc tế hay không? Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Để đánh giá quyền con người về Bồi thường nhà nước có phù hợp với pháp luật quốc tế hay không, thì phải đánh giá được các quyền con người quy định trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước so với quy định về các quyền cơ bản của con người trong pháp luật quốc tế, cụ thể là:

Quyền sống được quy định tại một số văn bản quốc tế về quyền con người, bao gồm: Điều 3 của Tuyên ngôn thế giới về quyền con người năm 1948 (UDHR); Điều 3,4,5,7 của Công ước về ngăn ngừa và chừng trị tội diệt chủng năm 1948 (CPPCG); Điều 6 của Công ước về quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) và Điều 1 Công ước về không áp dụng thời hiệu tố tụng đối với tội ác chiến tranh và tội ác chống lại nhân loại năm 1968. Theo đó, Điều 6 ICCPR quy định: “mọi người đều có quyền cố hữu là được sống. Quyền này phải được pháp luật bảo vệ. Không ai có thể bị tước mạng sống một cách tùy tiện” [25, tr.4]. Điều này có nghĩa là trong bất kỳ hoàn cảnh nào, kể cả trong tình trạng khẩn cấp của quốc gia như chiến tranh, tội phạm diệt chủng hay tội phạm chống lại nhân loại thì quyền này cũng không thể bị vi phạm. Việt Nam là thành viên của Công ước này, và “hệ thống quy phạm pháp luật liên quan đến quyền sống đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất; về cơ bản, phù hợp với các chuẩn mực nền theo quy định của ICCPR” [25, tr.5]. Theo đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mở rộng các loại thiệt hại được bồi thường bao gồm thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết (Điều 48) và thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khỏe (Điều 49). Như vậy, đối với việc quy định về thiệt hại được bồi thường trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cơ bản là phù hợp với pháp luật quốc tế liên quan đến quyền sống của con người. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Quyền bất khả xâm phạm, không bị tra tấn, nhục hình và được đối xử nhân đạo được quy định tại Điều 1, 3, 5 UDHR trong đó khẳng định “không ai bị tra tấn, hay bị đối xử, xử phạt một cách tàn bạo, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm” [28, tr.15] và Điều 7, 17 của ICCPR quy định việc không ai bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín. Pháp luật quốc tế đã nhấn mạnh và khẳng định mọi người đều có quyền được pháp luật bảo vệ chống lại những xâm phạm như vậy, bảo đảm việc không ai bị tra tấn hay bị áp dụng hình phạt nhục hình. “Pháp luật Việt Nam về nhóm quyền này là một hệ thống pháp luật tiến bộ, đáp ứng các chuẩn mực quốc tế và ngày càng được hoàn thiện” [28,tr. 25]. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có quy định về phạm vi được bồi thường trong hoạt động Tố tụng hình sự tại Điều 26 và liệt kê thiệt hại được bồi thường tại Điều 47 thiệt hại do tổn thất về tinh thần và Điều 51 về việc khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động Tố tụng hình sự, trong đó, những người bị Nhà nước gây ra thiệt hại liên quan đến việc hạ thấp nhân phẩm sẽ được Nhà nước bồi thường, công khai xin lỗi. Điều này là phù hợp với pháp luật quốc tế liên quan đến quyền sống của con người. Tuy nhiên, đối với quyền bất khả xâm phạm, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước còn có chỗ chưa phù hợp với pháp luật quốc tế ở chỗ chưa có quy định nào liên quan đến bồi thường trong trường hợp người dân bị chịu đựng hình phạt nhục hình, ép cung tàn bạo hay bị đối xử vô nhân đạo.

Quyền tự do thân thể, không bị bắt, giam giữ tùy tiện, trái pháp luật là quyền cơ bản nhất của con người được nhân loại thừa nhận tại Điều 9 UDHR “không ai bị bắt, giam giữ hay lưu đày một cách tùy tiện” [27, tr.2] và được chi tiết hóa tại Điều 9 của ICCPR 1966. Pháp luật Việt Nam phù hợp với các chuẩn mực quốc tế liên quan đến quyền này “trừ trường hợp việc tước tự do đó là có lý do và theo đúng những thủ tục mà pháp luật đã quy định” [28, 31] và yêu cầu đảm bảo rằng việc bắt giữ đó phải được thông báo. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước bảo đảm quyền được bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, quyền lợi của người bị oan nếu bị tạm giữ, tạm giam, bị khởi tố, truy tố, xét xử theo quy định tại Điều 26 về phạm vi được bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự. Người bị oan sẽ được bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về Bồi thường nhà nước và cơ quan có thẩm quyền gây oan sai phải bồi thường thiệt hại và phục hồi danh dự, nhân phẩm cho người đó. Ngoài ra, người gây ra thiệt hại với lỗi cố ý sẽ phải hoàn trả cho Nhà nước một khoản tiền tương ứng với lỗi và thiệt hại người đó gây ra. Như vây, quy định này của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là phù hợp với pháp luật quốc tế liên quan đến tự do thân thể, không bị bắt, giam giữ tùy tiện, trái pháp luật của con người.

Quyền về lao động, không bị lao động khổ sai, cưỡng bức được quy định tại Điều 8 ICCPR về không bị nô lệ, là một trong những quyền cơ bản về tự do và phẩm giá của con người. Pháp luật Việt Nam cũng đã ghi nhận và bảo đảm các quyền trên của công dân. Trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính cũng quy định đối với trường hợp Nhà nước bồi thường nếu có hành vi trái pháp luật khi “áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh” [44, tr.5]. Quy định này là hoàn toàn phù hợp với mục tiêu chung của pháp luật quốc tế liên quan đến nhóm quyền này cần phải được bảo vệ tối đa và tôn trọng đối với mọi nhà nước, mọi quốc gia. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

Quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở và bí mật thư tín quy định tại Điều 17 ICCPR, trong đó, khẳng định “không ai bị can thiệp một cách tùy tiện hoặc bất hợp pháp vào đời sống riêng tư, gia đình, nhà ở thư tín, hoặc bị xâm phạm bất hợp pháp đến danh dự và uy tín” [54, tr.508]. Pháp luật Việt Nam không những ghi nhận và thể hiện sự tôn trọng đối với nhóm quyền này mà còn đề ra các biện pháp để bảo vệ. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có quy định về trường hợp được Nhà nước bồi thường trong hoạt động thi hành án dân sự đối với trường hợp người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật đối với việc “áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án và cưỡng chế thi hành án” [44, tr.18] gây thiệt hại cho công dân theo Điều 38 về phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án dân sự. Có thể thấy quy định này cũng phù hợp với pháp luật quốc tế liên quan đến nhóm quyền này.

Tóm lại, Việt Nam là thành viên của các điều ước quốc tế, do đó, có nghĩa vụ thực hiện đầy đủ những chuẩn mực nhân quyền quốc tế tối thiểu và nội luật hóa vào Hiến pháp và pháp luật chuyên ngành. Pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói riêng về cơ bản phù hợp với các quy định của các Công ước quốc tế về quyền con người nói chung và Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 nói riêng. Với tính chất là công cụ pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã góp phần tích cực vào việc bảo đảm quyền con người. Chế định pháp lý về Bồi thường nhà nước này cũng đang từng bước được hoàn thiện để bảo đảm phù hợp với điều kiện phát triển của đất nước. Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464