Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta trong công cuộc đổi mới hiện nay là tiến tới xây dựng một Nhà nước Pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. “Quá trình Nhà nước thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình thông qua hành vi của đội ngũ công chức thì một điều tất yếu là có thể gây thiệt hại cho bất kỳ cá nhân, tổ chức nào” [30, tr.1]. Vậy nếu Nhà nước gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức thì Nhà nước phải chịu Trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

Pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một bộ phận cấu thành trong hệ thống pháp luật Việt Nam, hình thành và phát triển cùng với sự đổi mới về nhận thức của Đảng ta về hoàn thiện hệ thống pháp luật để phục vụ quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền. Việt Nam hiện nay đã có một đạo luật riêng quy định về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cụ thể là Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Như vậy, về mặt thực tiễn pháp lý, Việt Nam đã thừa nhận trách nhiệm của Nhà nước trong các trường hợp cụ thể song về mặt thực thi các quy định của pháp luật trên thực tế đã đầy đủ, bao quát, toàn diện và hiệu quả để bảo vệ quyền con người, quyền công dân hay chưa lại là câu hỏi lớn cần được giải đáp.

Từ thực tiễn như vậy, việc nghiên cứu có hệ thống về pháp luật nói chung về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại một số quốc gia trên thế giới; tại các giai đoạn cụ thể của Việt Nam thông qua các bản Hiến pháp và tại quy định của đạo luật riêng về Bồi thường nhà nước liên quan đến phạm vi bồi thường, đối tượng bồi thường, các loại thiệt hại được bồi thường và quyền yêu cầu của người bị thiệt hại, qua đó, nhận định được những mặt phù hợp và hạn chế của Luật; phát hiện những sai phạm chủ yếu dẫn đến phát sinh Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; đồng thời, đánh giá pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã phù hợp với Nhà nước pháp quyền và phù hợp với các quy định của Luật quốc tế hay chưa là vô cùng cần thiết trong giai đoạn hiện nay. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Đó là lý do để học viên lựa chọn đề tài “Bảo vệ quyền con người trong pháp luật trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Việt Nam”. Luận văn có thể sẽ là cơ sở để xác định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước một cách toàn diện, đầy đủ, góp phần hoàn thiện pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, làm nền tảng pháp lý cho việc bảo vệ quyền con người ở Việt Nam.

Trong đề tài này, học viên nghiên cứu chủ yếu dựa trên các nghiên cứu từ:

  • Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Lê Thái Phương (2006): “Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước”. Luận văn này chủ yếu nghiên cứu một số vấn đề lý luận cơ bản, nội dung và quá trình thực thi pháp luật về trách nhiệm của Nhà nước.
  • Luận văn Thạc sỹ Luật học của tác giả Phạm Thị Thu Hương (2013): “Thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính nhà nước ở tỉnh Hưng Yên”. Luận văn này chủ yếu tập chung đánh giá ưu điểm, hạn chế, nguyên nhân trong thực hiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong quản lý hành chính, đồng thời, đưa ra nhiều giải pháp bảo đảm việc thực hiện pháp luật về bồi thường nhà nước có hiệu quả.
  • Luận văn thạc sỹ Luật học của tác giả Hoàng Xuân Hoan (2013): “Pháp luật Việt Nam và một số quốc gia trên thế giới về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước”. Luận văn này nghiên cứu sâu sắc về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại một số quốc gia trên thế giới.

Bên cạnh đó, học viên còn nghiên cứu những báo cáo khoa học, bài nghiên cứu, các bài báo, các văn bản Luật có liên quan đến Bồi thường nhà nước, …

2. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

Thông qua việc tìm hiểu các bản Hiến pháp có quy định về Bồi thường nhà nước, pháp luật quốc tế về chế định Bồi thường nhà nước, các văn bản Luật về Bồi thường nhà nước tại một số quốc gia và đạo luật riêng về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam, cụ thể là Luật TNBTCNN 2010 và các văn bản hướng dẫn thi hành, mục đích của học viên là đưa ra được một cái nhìn toàn diện, có tính hệ thống và khoa học về các vấn đề pháp lý, thực tiễn liên quan đến quyền con người trong pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, đề xuất những quan điểm, giải pháp để hoàn thiện pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhằm bảo vệ, thúc đẩy quyền con người, quyền công dân về Bồi thường nhà nước ở nước ta trong thời gian tới.

3. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận dùng để nghiên cứu đề tài này là các quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác – Lê nin. Các phương pháp cụ thể được sử dụng để giải quyết những cấn đề đặt ra trong khóa luận này là: tổng hợp, thống kê, phân tích, so sánh.

4. Đóng góp mới về khoa học của luận văn Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Luận văn “Bảo vệ quyền con người trong pháp luật trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu, phân tích những cơ sở lý luận tại một số quốc gia trên thế giới và Việt Nam để khẳng định rằng Nhà nước phải có trách nhiệm bảo vệ quyền con người cho những thiệt hại mà Nhà nước đã gây ra. Từ đó, nêu lên thực tiễn việc áp dụng các quy định của pháp luật hiện hành về bồi thường nhà nước trong yêu cầu bồi thường và giải quyết bồi thường qua các ví dụ cụ thể, điển hình trong lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án.

Đồng thời, Luận văn tập trung phân tích những bất cập, hạn chế của pháp luật Việt Nam hiện hành về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, chỉ ra được các sai phạm chính dẫn đến bồi thường nhà nước mà cơ quan nhà nước có thể gây ra để người dân có thể tự bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Qua đó, đánh giá tính phù hợp của pháp luật hiện hành về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với Nhà nước pháp quyền và đối với pháp luật quốc tế.

Sau cùng, Luận văn đưa ra quan điểm và kiến nghị góp phần hoàn thiện pháp luật về trách nhiệm bồi thường nhà nước ở Việt Nam.

5. Kết quả nghiên cứu và ý nghĩa của luận văn

TNBTCNN là một vấn đề mới, chỉ mới thực sự được biết đến kể từ khi Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2010 ra đời, do đó, chưa có nhiều bài viết nghiên cứu vấn đề này. Luận văn này sẽ đi sâu nghiên cứu những vấn đề mà thực tiễn phát sinh, đánh giá được những hạn chế liên quan đến phạm vi bồi thường, đối tượng bồi thường, thiệt hại được bồi thường và khó khăn, vướng mắc trong việc thực hiện quyền yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại cũng như việc áp dụng các quy định của pháp luật đối với thủ tục giải quyết bồi thường của cơ quan có Trách nhiệm bồi thường. Học viên nghiên cứu đề tài này với tham vọng Luận văn sẽ là cẩm nang để người dân cũng như các cán bộ, công chức của cơ quan Nhà nước nghiên cứu, vận dụng để tự bảo vệ quyền và lợi ích của mình, quyền và lợi ích của Nhà nước. Đồng thời, Luận văn được hy vọng sẽ là một phương tiện, mà thông qua đó, có tính chất tuyên truyền, giáo dục tới các đối tượng trong xã hội đã, đang và sẽ có liên quan đến Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước.

Luận văn có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho các cơ quan nhà nước trong xây dựng, sửa đổi và thực thi các văn bản pháp luật liên quan đến bảo vệ quyền con người trong pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam. Thêm vào đó, luận văn cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứ, giảng dạy môn luật nhân quyền và các môn học khác có liên quan ở Khoa Luật ĐHQG Hà Nội và các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khác.

6. Kết cấu của luận văn Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Ngoài các phần: Mở đầu; Kết luận; Lời cam đoan; Danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của Luận văn được chia thành 3 Chương:

  • Chương 1: Cơ sở lý luận về bảo vệ quyền con người trong pháp luật trách nhiệm bồi thường nhà nước.
  • Chương 2: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam.
  • Chương 3: Giải pháp bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong pháp luật về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam.

Chương 1 Cơ sở lý luận về bảo vệ quyền con người trong pháp luật trách nhiệm bồi thường nhà nước

1.1. Khái niệm

1.1.1. Khái niệm, đặc điểm về quyền con người

  • Khái niệm về quyền con người

Quyền con người là sự kết tinh những giá trị cao đẹp nhất trong nền văn hóa của nhân loại mà trong đó, những giá trị này “được đóng góp của tất cả các quốc gia, dân tộc, giai cấp, tầng lớp và cá nhân con người trên thế giới” [52, tr.14]. Tuy nhiên, mỗi quốc gia, mỗi dân tộc, mỗi khu vực trên thế giới có sự khác nhau về chính trị, lịch sử, văn hóa, tôn giáo, do đó, hình thành nên rất nhiều cách hiểu khác nhau về quyền con người. Cho đến nay, có đến “gần 50 định nghĩa về quyền con người” [52, tr.41], theo đó, mỗi định nghĩa tiếp cận vấn đề về quyền con người khác nhau bởi lẽ mỗi định nghĩa lại phụ thuộc vào sự nhìn nhận chủ quan của mỗi cá nhân sống tại quốc gia đó, dân tộc đó.

Ở cấp độ quốc tế, Văn phòng Cao ủy Liên hợp quốc về quyền con người đã định nghĩa “quyền con người là những bảo đảm pháp lý toàn cầu có trác dụng bảo vệ các cá nhân và các nhóm chống lại những hành động hoặc sự bỏ mặc mà làm tổn hại đến nhân phẩm, những sự được phép và tự do cơ bản của con người” [52, tr.41].

Ở Việt Nam, quyền con người thể hiện qua những ý niệm và hành động khoan dung nhân đạo xuất phát từ hàng nghìn năm lịch sử đất nước đoàn kết chống thù trong giặc ngoài, hun đúc từ nhiều thế hệ tạo nên những giá trị văn hóa, tinh thần tiêu biểu của dân tộc. Đó là sự cần cù, kiên trì, nhân ái, vị tha, tinh thần quật cường, đoàn kết của con người Việt Nam qua các thời kỳ phong kiến, thời kỳ Pháp thuộc, thời kỳ sau Cách mạng tháng 8 năm 1945 cho đến ngày nay. Xuất phát từ bối cảnh lịch sử đó, ở nước ta, quyền con người được hiểu là “những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được ghi nhận và bảo vệ trong pháp luật quốc gia và các thỏa thuận pháp lý quốc tế” [52, tr.42].

Như vậy, từ khái niệm mang cấp độ quốc tế đến khái niệm mang cấp độ quốc gia, mà ở đây là nước Việt Nam, cho thấy dù nhìn quyền con người ở góc độ nào và cấp độ nào thì quyền con người cũng được xác định như là những chuẩn mực được cộng đồng quốc tế thừa nhận và tuân thủ; là những giá trị cao cả cần được tôn trọng và bảo vệ trong mọi xã hội và trong mọi giai đoạn lịch sử. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

  • Đặc điểm của quyền con người

Quyền con người có đặc điểm cơ bản của riêng nó, mà trong đó, quyền con người mang tính phổ biến được hiểu là những quyền tự nhiên, vốn có, tất yếu của con người khi sinh ra, được áp dụng bình đẳng, không phân biệt về chủng tộc, tôn giáo, dân tộc, giới tính, thành phần, xuất thân…Đồng thời, quyền con người còn mang tính không thể chuyển nhượng thể hiện ở việc các quyền đó không thể bị tước đoạt hay hạn chế một các tùy tiện bởi bất cứ ai, Nhà nước nào, chủ thể nào trong khuôn khổ pháp luật của mỗi quốc gia cho phép; quyền con người mang tính không thể phân chia, mọi quyền đều có tầm quan trọng như nhau, việc tước bỏ hay hạn chế vát kỳ quyền con người nào đều tác động tiêu cực đến nhân phẩm, gia trị và sự phát triển của con người. Và, quyền con người mang tính liên hệ và phụ thuộc lẫn nhau, trong đó, sự vi phạm một quyền sẽ trực tiếp hoặc gián tiếp gây ảnh hưởng tiêu cực đến việc bảo đảm các quyền khác và ngược lại.

1.1.2. Khái niệm về chế định trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Bồi thường là việc “đền bù những tổn thất đã gây ra” [60, tr.191]. Về mặt pháp lý, bồi thường thiệt hại là một dạng nghĩa vụ dân sự phát sinh do gây thiệt hại. Trong pháp luật dân sự, bồi thường thiệt hại là việc đền bù những tổn thất và khắc phục những hậu quả do hành vi vi phạm gây ra; vì vậy bồi thường thiệt hại là “hình thức trách nhiệm dân sự nhằm buộc bên có hành vi gây ra thiệt hại phải khắc phục hậu quả bằng cách bù đắp, đền bù tổn thất về vật chất và tổn thất về tinh thần cho bên bị thiệt hại” [50, tr.31]. Bên cạnh đó, thiệt hại, về mặt pháp lý, là những tổn thất về tài sản, tổn thất về tính mạng, sức khỏe, uy tín, danh dự, nhân phẩm. Do đó, bồi thường thiệt hại là sự khôi phục lại những tổn thất trên bằng những cách thức và tiêu chí do pháp luật đặt ra.

Mục tiêu của Nhà nước là bảo đảm các quyền và lợi ích hợp pháp của người dân, do đó, đối với các thiệt hại gây ra trong khi thi hành công vụ cũng phải được pháp luật bảo vệ. Như vậy, khi Nhà nước thực hiện quyền lực công thông qua các hành vi thi hành công vụ của đội ngũ công chức mà gây thiệt hại cho các tổ chức, cá nhân thì phải chịu Trách nhiệm bồi thường. Do đó, trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm khôi phục những tổn thất về tài sản, bù đắp những tổn thất về uy tín, tinh thần khi người thi hành công vụ gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức trong quá trình thực thi quyền lực công/trong quá trình thi hành công vụ. Khái niệm này có thể được hiểu theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm mà trong đó Nhà nước có nghĩa vụ bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do Cơ quan nhà nước, người thi hành công vụ gây ra. Nghĩa là, việc bồi thường thiệt hại được thực hiện cho tất cả các trường hợp có thiệt hại do hành vi của cơ quan, người thi hành công vụ nhà nước gây ra. Theo nghĩa hẹp, thì Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là trách nhiệm pháp lý trong đó Nhà nước có nghĩa vụ phải bồi thường cho cá nhân, tổ chức bị thiệt hại do người thi hành công vụ nhà nước gây ra.

Để điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động thực hiện Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, luôn cần có sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật để bảo đảm các hoạt động này đi đúng với các chủ trương, định hướng, chính sách của Đảng, Nhà nước. Do đó, pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được hiểu là tổng thể các văn bản quy phạm pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành, từ các quy định của Hiến pháp, các văn bản luật và các văn bản hướng dẫn thi hành điều chỉnh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các vấn đề khác có liên quan để thực hiện có hiệu quả trách nhiệm này. Như vậy, pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là hệ thống quy tắc xử sự chung thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, thể hiện ý chí, nguyện vọng của nhân dân, do các Cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành và bảo đảm thực hiện trên nguyên tắc thỏa thuận, bình đẳng, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thực hiện Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, xử lý trách nhiệm của người thi hành công vụ và hoạt động quản lý nhà nước về công tác bồi thường.

1.1.3. Khái niệm về bảo vệ quyền con người trong pháp luật trách nhiệm về bồi thường nhà nước ở Việt Nam

Từ những khái niệm nêu trên về quyền con người, về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, học viên cho rằng bảo vệ quyền con người trong pháp luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là việc xây dựng một hệ thống quy tắc xử sự chung thể chế hóa chủ trương, đường lối của Đảng, thể hiện ý chí và nguyện vọng của nhân dân để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình thi hành công vụ giữa các Cơ quan nhà nước có thẩm quyền với các cá nhân, tổ chức nhằm bảo vệ những nhu cầu, lợi ích tự nhiên, vốn có và khách quan của con người được pháp luật ghi nhận và bảo vệ.

1.1.4. Quan hệ pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Có thể hiểu quan hệ pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là những quan hệ phát sinh trong quá trình thực hiện Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và được các quy phạm pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước điều chỉnh, trong đó các chủ thể có quyền và nghĩa vụ đối với nhau trên nguyên tắc bình đẳng và được Nhà nước bảo đảm thực hiện. Cũng như các quan hệ pháp luật chuyên ngành khác, bên cạnh những đặc điểm của quan hệ pháp luật nói chung, quan hệ pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có những đặc điểm riêng như sau:

  • Quan hệ Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với tổ chức, cá nhân trong Nhà nước pháp quyền là quan hệ pháp luật dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Pháp luật Việt Nam kể từ Bộ luật Dân sự 1995 đến Hiến pháp 2013 đều quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại do công chức nhà nước gây ra, theo đó, quan hệ Bồi thường nhà nước là quan hệ pháp luật dân sự. Cũng có ý kiến cho rằng quan hệ pháp luật này vừa có tính dân sự, vừa có tính hành chính vì một bên chủ thể trong quan hệ pháp luật luôn là Nhà nước. Bởi lẽ Nhà nước khi tham gia vào các quan hệ pháp luật thì có thể mang một trong hai tư cách như một chủ thể thông thường và tư cách của chủ thể của quyền lực công; theo đó, những quan hệ pháp luật mà Nhà nước tham gia với tư cách là chủ thể mang quyền lực công không phải là những quan hệ hợp đồng. Những quan hệ pháp luật mà Nhà nước tham gia và nhân danh quyền lực công phải là những quan hệ pháp luật có liên quan đến việc thực hiện những hoạt động thuộc về chức năng chính của Nhà nước. Trong quá trình thực hiện những hoạt động này mà Nhà nước gây thiệt hại cho các cá nhân, tổ chức thì Nhà nước sẽ phải bồi thường. Việc bồi thường không phải do vi phạm các nghĩa vụ về hợp đồng, chính vì vậy Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với các thiệt hại gây ra bởi hoạt động công quyền là Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

  • Điều kiện phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Pháp luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thực chất là một dạng cụ thể của Trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng như đã phân tích ở trên, do đó, điều kiện phát sinh Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được xác định là phải có thiệt hại xảy ra; thiệt hại đó bị gây ra bởi hành vi trái pháp luật; hành vi trái pháp luật được thực hiện trong quá trình thi hành công vụ; công chức gây thiệt hại phải có lỗi cố ý hoặc vô ý và có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi gây thiệt hại và thiệt hại xảy ra. Chính vì vậy, ngoài những điểm giống nhau thì giữa Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và trách nhiệm bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng cũng có những điểm khác biệt, chứa đựng những yếu tố đặc thù về xác định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước bao gồm: không quy định lỗi là một căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; hành vi gây ra thiệt hại của người thi hành công vụ phải được cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định là trái pháp luật; hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại của người thi hành công vụ phải thuộc các trường hợp được bồi thường mà Luật quy định.

1.2. Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại một số quốc gia trên thế giới Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Chế định pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là một chế định khá phức tạp và có nhiều nội dung liên quan trực tiếp đến chính sách pháp lý của mỗi quốc gia. Tuy nhiên, với nỗ lực mong muốn bảo vệ triệt để các quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị xâm phạm bởi hoạt động công quyền; kiểm soát, ngăn ngừa hành vi vi phạm pháp luật, xu hướng lạm dụng quyền lực của những người thực hiện công quyền mà việc xây dựng và hoàn thiện chế định pháp luật này là hoàn toàn cần thiết [34, tr.68].

1.2.1. Quy định về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của một số quốc gia trên thế giới

Hiện nay, trên thế giới, chế định pháp luật về Bồi thường nhà nước của các nước có hai mô hình chính bao gồm nhóm quốc gia có đạo luật riêng về Bồi thường nhà nước và nhóm các quốc gia không có đạo luật riêng về Bồi thường nhà nước. Việc quy định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong một văn bản luật riêng hay chỉ quy định tại một số điều trong văn bản luật chung của một số quốc gia, mục đích duy nhất và chung nhất, là nhằm bảo vệ một cách cao nhất, có hệ thống các quyền của con người trong việc thể hiện Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Do đó, có thể hiểu, dù ở quốc gia nào, dân tộc nào, chế độ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội ra sao, hệ thống pháp luật quy định như thế nào, thì mưu cầu mang lại sự bình đẳng, dân chủ cho người dân luôn ở vị trí thượng tôn. Việc hình thành và phát triển của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước gắn liền với sự phát triển của đời sống kinh tế – xã hội, đồng thời, thừa nhận các quyền tự do, dân chủ của con người.

Trong đó, nhóm các quốc gia có đạo luật riêng quy định chế độ Trách nhiệm bồi thường của Nhà nướcN trên cơ sở là một dạng đặc biệt của trách nhiệm Bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng theo quy định của Bộ luật dân sự. Tại Châu á, nhiều nước có luật điều chỉnh riêng về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như: Hàn Quốc có Luật Bồi thường nhà nước 1967 và Luật ĐBHS 1958. Nhật Bản có Luật Bồi thường nhà nước 1947 và Luật ĐBHS 1950. Trung Quốc có Luật về thủ tục giải quyết vụ án hành chính năm 1989. Bên cạnh đó, trong khu vực Đông nam á thì Philippine cũng đã có luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tại Châu âu, Thụy Sỹ có Luật liên bang ngày 14/3/1958 về trách nhiệm của Liên bang và công chức, viên chức của Liên bang. Tại khu vực Bắc Mĩ thì Canada và Hoa Kỳ là những nước có luật điều chỉnh riêng về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, trong đó, “Canada có Luật về trách nhiệm nhà nước của Liên bang Canada được ban hành năm 1953. Đến năm 1990, Luật về Trách nhiệm nhà nước được sửa đổi thành Luật về thủ tục và trách nhiệm nhà nước” [60, tr.170]. Hoa Kỳ áp dụng theo hệ thống pháp luật thông lệ về miễn trừ trách nhiệm quốc gia và Hoa Kỳ không có sự hiện diện của chế định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Tuy nhiên, “Hoa Kỳ cũng đã thừa nhận trách nhiệm trong lĩnh vực hành chính tại Luật Khiếu kiện bồi thường liên bang 1946” [48, tr.1]. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Đối với nhóm các quốc gia không có đạo luật riêng về Bồi thường nhà nước thì chế độ Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định bằng các điều luật riêng trong Bộ luật dân sự và phát triển thông qua án lệ hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành như Nga, Đức, Pháp… Trong đó, điển hình là Pháp, “là quốc gia không có một đạo luật riêng biệt về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Chế định về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong pháp luật Pháp nằm tản mạn ở nhiều văn bản khác nhau và có phạm vi khá rộng” [57, tr.112], theo đó, Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của Pháp được áp dụng dựa trên án lệ. Đức là quốc gia không có một hệ thống pháp luật rõ ràng về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mà chỉ có các quy định về trách nhiệm của công chức nhà nước trong nhiều đạo luật khác nhau. “Có thể nói, cho đến nay, pháp luật về Bồi thường nhà nước của Đức là một chế định pháp luật hết sức phức tạp và thiếu vắng tính hệ thống. Bên cạnh những quy phạm pháp luật thành văn thì hình thức tồn tại chủ yếu của pháp luật về Bồi thường nhà nước của Đức đến nay vẫn chủ yêu là án lệ” [33, tr. 158].

  • Ở các quốc gia này, nhìn chung, các quy định về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhằm điều chỉnh đối với các vấn đề như sau:

Về quyền yêu cầu bồi thường thể hiện ở hai khía cạnh là: “khi nào thì người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường và người bị thiệt hại có quyền yêu cầu ai bồi thường” [36, tr.5]. Đa số pháp luật của các nước quy định người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa án để yêu cầu bồi thường nhưng người bị thiệt hại lại không có quyền yêu cầu người thi hành công vụ bồi thường mà phải yêu cầu Nhà nước, hoặc Cơ quan nhà nước bồi thường. Ví dụ: Thụy Sỹ quy định người bị thiệt hại phải gửi yêu cầu của mình đến Bộ Tài chính để xem xét việc yêu cầu bồi thường và sau đó mới có quyền khởi kiện ra Tòa án để yêu cầu bồi thường; Nhật Bản lại quy định cho người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ngay ra Tòa để yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Về thời hiệu yêu cầu bồi thường quy định tương tự thời hiệu yêu cầu bồi thường trong luật dân sự, như Nhật Bản quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường như quy định của Bộ luật dân sự. Thụy Sỹ quy định thời hiệu yêu cầu Liên bang bồi thường là 06 tháng. Nếu trong thời hạn 1 năm sau khi biết về thiệt hại mà người bị thiệt hại không yêu cầu bồi thường thì Liên bang không có trách nhiệm bồi thường, đồng thời, “trong thời hạn 10 năm kể từ ngày công chức thực hiện hành vi gây thiệt hại nếu Liên bang từ chối yêu cầu hoặc không trả lời trong thời hạn 03 tháng, người bị thiệt hại có quyền khởi kiện trong thời hạn 06 tháng, nếu không khởi kiện thì mất quyền được bồi thường” [36, 5]. Trong khi đó, Trung Quốc quy định thời hiệu yêu cầu bồi thường là 2 năm, kể từ khi xác định được hành vi của người thi hành công vụ là trái quy định của pháp luật. Nước Đức thì quy định thời hiệu tùy theo loại Trách nhiệm bồi thường căn cứ thời hiệu quy định của pháp luật chuyên ngành. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Về cơ quan có Trách nhiệm bồi thường “Có hai mô hình chính là mô hình tập trung, trong đó, trách nhiệm bồi thường do một cơ quan chuyên trách thực hiện, và mô hình phân tán, trong đó, trách nhiệm bồi thường do từng cơ quan cụ thể thực hiện” [8, tr.9]. Ví dụ: Hàn Quốc tổ chức theo mô hình tập trung, tức là có cơ quan hành chính được giao thẩm quyền giải quyết bồi thường ngoài tố tụng, bên cạnh việc giải quyết tố tụng tại Tòa án. Hoa Kỳ không giao cho một Cơ quan nhà nước thực hiện việc giải quyết bồi thường, nhưng Bộ Tư pháp có trách nhiệm là đầu mối phối hợp với các cơ quan khác trong chính phủ liên bang thực hiện việc giải quyết bồi thường và có thể làm trọng tài, thực hiện việc dàn sếp hoặc giải quyết bất cứ yêu cầu bồi thường nào theo quy định. Nhật Bản cũng quy định trách nhiệm này cho Bộ Tư pháp, và đồng thời Bộ Tư pháp là đại diện cho Nhà nước tham gia tố tụng tại Tòa án về việc giải quyết yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên, Trung Quốc lại quy định về cơ quan có Trách nhiệm bồi thường theo mô hình phân tán là Cơ quan nhà nước nào gây ra tổn hại cho cá nhân, pháp nhân hay tổ chức khác thì Cơ quan nhà nước đó có Trách nhiệm bồi thường cho đối tượng bị tổn hại.

Về phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do ảnh hưởng của nhiều yếu tố như văn hóa, tư duy, tài chính, phòng tục tập quán của mỗi quốc gia khác nhau nên chính sách pháp lý của các nước là rất khác nhau. Ví dụ: Nhật Bản bồi thường với mọi lĩnh vực hoạt động của Nhà nước; Hàn Quốc và Canada – có phạm vi Bồi thường nhà nước rộng đối với các lĩnh vực hoạt động của Nhà nước, là lập pháp, hành pháp hay tư pháp; Thụy Sỹ- quy định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với hầu hết các hoạt động công vụ của Nhà nước. Ngược lại, có quốc gia lại hạn chế phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước như Hoa Kỳ – chỉ bồi thường đối với lĩnh vực hành pháp, Đức – có phạm vi Bồi thường nhà nước chỉ bao gồm hai lĩnh vực là hành pháp và tư pháp, không bao gồm lập pháp, Trung Quốc “quy định phạm vi bồi thường tư pháp theo phương pháp vừa kết hợp vừa khẳng định, vừa phủ định” [7, tr.59], theo đó, xác định lĩnh vực được bồi thường và liệt kê cụ thể trường hợp nào là trường hợp được bồi thường trong hành chính và tố tụng hình sự “bao gồm cả những sự việc tích cực và tiêu cực” [7, tr.59].

Về thủ tục giải quyết bồi thường được quy định rất khác nhau, trong đó, có nhiều loại hình thủ tục như thủ tục tố tụng, thủ tục thương lượng bắt buộc, trong đó, Canada quy định “Tòa án là cơ quan duy nhất có thẩm quyền giải quyết bồi thường và thủ tục giải quyết bồi thường là thủ tục tố tụng dân sự” [60, tr.176]. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật Canada chưa có văn bản nào quy định cụ thể về vấn đề đền bù thiệt hại cho người buộc tội oan mà chủ yếu thực hiện thông qua án lệ. Giống như Canada, Hàn Quốc cũng quy định thủ tục giải quyết bồi thường là Tố tụng dân sự. Hoa Kỳ quy định thủ tục giải quyết bồi thường tại cơ quan có Trách nhiệm bồi thường, nếu không được thụ lý giải quyết bồi thường thì người bị thiệt hại “có thể khởi kiện ra Toà án liên bang cấp quận với thời hiệu không giới hạn” [48, tr.11] để yêu cầu giải quyết bồi thường. Ngược lại với các quốc gia trên, Pháp quy định “người bị hại có quyền lựa chọn một trong hai khả năng: khởi kiện công chức ra Tòa án tư pháp để yêu cầu bồi thường theo thủ tục dân sự, hoặc khởi kiện Cơ quan nhà nước ra trước Tòa án hành chính để yêu cầu bồi thường theo thủ tục Bồi thường nhà nước” [57, tr.116]. Ngoài ra, Nhật Bản, do có hai cơ chế là bồi thường thiệt hại và đền bù tổn thất, do đó, đối với Trách nhiệm bồi thường thiệt hại thì đây là nghĩa vụ bắt buộc của Nhà nước nên cơ chế thực hiện trách nhiệm là cơ chế dân sự, “bên bị thiệt hại có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường thông qua thương lượng hoặc khởi yêu cầu Nhà nước bồi thường theo pháp luật tố tụng dân sự” [35, tr.125]. Đối với trách nhiệm đền bù tổn thất là một chính sách của Nhà nước nhằm bù đắp một phần thiệt hại, vì vậy, “trong quá trình giải quyết vụ việc, khi cơ quan có thẩm quyền giải quyết vụ việc sẽ quyết định luôn việc đền bù theo mức cố định đã được pháp luật quy định” [35, tr.125]. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Về trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, hầu hết pháp luật của tất cả các nước đều có quy định về Trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ, được coi là một chế tài không thể thiếu mang tính răn đe, giáo dục đối với cán bộ, công chức thừa hành công vụ. Trách nhiệm này được quy định dưới hai dạng: là nghĩa vụ tự thân của người thi hành công vụ hoặc là hoàn trả khi Nhà nước yêu cầu. Ví dụ: Canada coi nghĩa vụ hoàn trả là nghĩa vụ tự thân, công chức“phải bồi hoàn cho Nhà nước một phần hoặc toàn bộ khoản tiền mà Nhà nước đã trả và sẽ được khấu trừ dần vào tiền lương. Việc khấu trừ tiền lương sẽ không được thực hiện một cách tùy tiện nếu chưa được sự chấp nhận của công chức đó phải được sự phê chuẩn của Trưởng cơ quan thuế” [60, tr.175]. Nhật Bản chỉ quy định người thi hành công phải hoàn trả nếu họ “có lỗi cố ý hoặc vô ý nghiêm trọng” [35, tr.130]. Thụy Sỹ lại coi việc hoàn trả là do quyền của Nhà nước yêu cầu công chức đó phải thực hiện “nếu công chức gây thiệt hại do cố ý hoặc sơ suất nghiêm trọng, ngay cả sau khi quan hệ công vụ đã chấm dứt” [1, tr.21].

1.2.2. Đánh giá Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Nói chung, hầu hết các quốc gia trên thế giới dù thuộc nhóm các quốc gia có đạo luật riêng về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hay thuộc nhóm các quốc gia không có đạo luật riêng về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nhưng hầu hết các quốc gia đều ghi nhận vấn đề Bồi thường nhà nước trong Hiến pháp của họ. Bên cạnh việc quy định trong Hiến pháp, không phải tất cả các quốc gia đều ban hành luật riêng để điều chỉnh về bồi thường nhà nước mà có thể quy định rải rác ở Bộ luật dân sự và các luật liên quan.

Có thể nói, đa số các quốc gia đều coi trách nhiệm bồi thường nhà nước là một loại trách nhiệm dân sự về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng. Chỉ một số ít quốc gia coi quan hệ pháp luật này là quan hệ hành chính hoặc nửa hành chính nửa dân sự. Một số nước còn có sự phân biệt rạch rồi giữa hai loại trách nhiệm bồi thường thiệt hại và đền bù tổn thất [36, tr 4].

Từ những nghiên cứu về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của các quốc gia trên thế giới, cho thấy, việc quy định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước dựa trên văn bản luật, văn bản dưới luật hay án lệ thì vấn đề cốt lõi những quy định đó của pháp luật mỗi quốc gia cùng hướng tới mục tiêu bảo vệ quyền con người khi bị gây ra thiệt hại của người thi hành công vụ của cơ quan công quyền. Do đó, việc vận dụng các quy định của pháp luật cũng như từ thực tiễn thi hành của các quốc gia trên thế giới liên quan đến Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là điều vô cùng quan trọng để xây dựng một hệ thống pháp luật về Bồi thường nhà nước ở Việt Nam, mang tinh thần thượng tôn trong việc bảo vệ quyền con người trong lĩnh vực Bồi thường nhà nước. Điển hình, việc ghi nhận các quy định liên quan đến phạm vi bồi thường, các yếu tố lỗi để xác định Trách nhiệm bồi thường của người thi hành công vụ và các thiệt hại thực tế xảy ra là kim chỉ nam cho việc xây dựng một đạo luật riêng, linh hoạt, có tính bền vững và hiệu quả áp dụng cho Việt Nam. Qua đó, trên tinh thần pháp luật về Bồi thường nhà nước trên thế giới, học viên khẳng định Việt Nam cũng đã tiếp thu, chọn lọc, rút ra được kinh nghiệm trong việc xây dựng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam, cụ thể là:

Thứ nhất, pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của Việt Nam tiếp thu trên tinh thần không quy định quyền khởi kiện ra Tòa án yêu cầu giải quyết bồi thường ngay mà quy định việc giải quyết bồi thường phải được thực hiện tại cơ quan có Trách nhiệm bồi thường thông qua việc thương lượng giữa người bị thiệt hại và cơ quan có Trách nhiệm bồi thường. Người bị thiệt hại không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường do cơ quan có Trách nhiệm bồi thường ban hành thì trong thời hạn Luật định, người đó mới có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết bồi thường theo thủ tục Tố tụng dân sự.

Thứ hai, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của Việt Nam tiếp thu một phần kinh nghiệm xây dựng cơ quan có Trách nhiệm bồi thường theo mô hình phân tán giống một số nước trên thế giới, trong đó, xác định đối với từng vụ việc cụ thể thì cơ quan có Trách nhiệm bồi thường sẽ là cơ quan giải quyết bồi thường thông qua thương lượng và nếu người bị thiệt hại khởi kiện sau thì Tòa án sẽ giải quyết bồi thường. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Thứ ba, Việt Nam tiếp thu tinh thần xây dựng luật theo hướng quy định rõ lĩnh vực được bồi thường và liệt kê cụ thể từng trường hợp được bồi thường.

Thứ tư, Việt Nam ghi nhận và tiếp thu quan điểm về nghĩa vụ hoàn trả của các quốc gia trên thế giới dưới góc độ coi Trách nhiệm hoàn trả là một nghĩa vụ tự thân và người thi hành công vụ chỉ phải hoàn trả nếu có lỗi vô ý hoặc cố ý. Riêng trong lĩnh vực Tố tụng hình sự, người thi hành công vụ chỉ phải hoàn trả nếu có lỗi cố ý. Ngoài ra, mức hoàn trả cũng được xác định là quy định ở mức cao nhất đối với 3 trường hợp lỗi: lỗi vô ý, lỗi cố ý nhưng chưa đến mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự và lỗi cố ý và người thi hành công vụ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

1.3. Sự cần thiết phải bảo vệ quyền con người trong pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước ở Việt Nam

1.3.1. Việc xây dựng chế định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là phù hợp với yêu cầu của việc bảo đảm các quyền con người cũng như phù hợp với xu thế chung của thế giới

“Các điều ước quốc tế về quyền con người là cơ sở pháp lý quốc tế quan trọng, góp phần xác lập các tiêu chuẩn chung và tối thiểu về quyền con người” [25, tr.92], do đó, trong những năm qua, Việt Nam đã tham gia nhiều Công ước quốc tế về quyền con người bao gồm Công ước quốc tế về quyền dân sự, chính trị năm 1966 (ICCPR) ngày 24/9/1982; Công ước quốc tế về quyền kinh tế, văn hóa, xã hội năm 1966 (ICESCR); Công ước quốc tế xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử chống lại phụ nữ năm 1979 (CEDAW); Công ước quốc tế về quyền trẻ em 1989 (CRC)… Theo các Công ước này, quyền con người trong mọi lĩnh vực phải được tôn trọng và bảo vệ gồm cả các quyền cần được bảo đảm bởi pháp luật hình sự, tố tụng hình sự như quyền sống, quyền không bị tra tấn, đối xử một cách tàn ác, vô nhân đạo hoặc hạ thấp nhân phẩm; quyền tự do và an toàn cá nhân; quyền không bị bắt giữ và giam cầm vô cớ… Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Nhận thức được tầm quan trọng và sự cần thiết bảo đảm các quyền con người trong tiến trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và xây dựng nhà nước pháp quyền chủ nghĩa. Một trong những hoạt động trọng tâm của Đảng và Nhà nước ta là hoàn thiện hệ thống pháp luật về quyền con người phù hợp với các nguyên tắc và tiêu chuẩn quốc tế nêu trong các điều ước quốc tế về quyền con người mà Việt Nam đã là thành viên, trong đó, từ những yêu cầu cơ bản đối với việc bảo đảm các quyền con người, quyền yêu cầu bồi thường thiệt hại do công chức nhà nước gây ra là một trong những quyền cơ bản về dân sự, chính trị của con người. Tại khoản 5 Điều 9, ICCPR đã tuyên bố: “Bất cứ người nào trở thành nạn nhân của việc bị bắt hoặc bị giam cầm bất hợp pháp đều có quyền yêu cầu được bồi thường” [52, tr.503]. Bên cạnh đó, thực tiễn pháp lý trên thế giới đã cho thấy càng ngày càng có nhiều quốc gia có luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mặc dù nội dung cũng như truyền thống, tư duy pháp luật giữa các nước có sự khác nhau nhưng có chung một quan điểm về việc Nhà nước phải thừa nhận trách nhiệm đối với những hậu quả do cán bộ, công chức Nhà nước gây ra trong quá trình thực thi công vụ. Đồng thời, việc bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người về dân sự, chính trị ngày càng được quan tâm, duy trì một trật tự xã hội ổn định và công bằng là mục tiêu mà mọi quốc gia, dù ở chế độ chính trị nào, dù trong hoàn cảnh nào, nền kinh tế ra sao, vẫn luôn hướng đến và mong mỏi nguyện vọng đó, ý chí đó.

Như đã nêu ở mục trên, trong bối cảnh các quốc gia trên thế giới thể hiện quyền lực của Nhà nước với nhân dân song song với việc bảo đảm tối ưu nhất sự bình đẳng, bảo vệ và thúc đẩy các quyền con người, đặc biệt, là quyền con người trong pháp luật về Bồi thường nhà nước như vậy, không chỉ hòa vào xu thế chung của khu vực, của thế giới mà việc thừa nhận trách nhiệm của Nhà nước cũng là phù hợp với nền dân chủ mà chúng ta đang tích cực xây dựng trong Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân.

1.3.2. Quá trình ra đời Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước 2010 với mục đích bảo vệ tối đa các quyền con người về Bồi thường nhà nước ở Việt Nam cho đến nay

Ở nước ta, quyền con người đã được khẳng định ngay từ những lời nói đầu khi Chủ tịch Hồ Chí Minh đọc bản Tuyên ngôn độc lập của dân tộc Việt Nam vào ngày 2 tháng 9 năm 1945. Chỉ một ngày sau đó, tức là ngày 3 tháng 9 năm 1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nêu rõ một trong những nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam mới là tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội lập hiến, thông qua hiến pháp để khẳng định quyền làm chủ đất nước, phấn đấu thúc đẩy quyền lợi của người dân ngay cả trong điều kiện đầy ngặt nghèo của những năm tháng kháng chiến. Các quyền và tự do cơ bản của nhân dân được thể chế hóa bằng Hiến pháp, pháp luật và bảo đảm thực hiện bằng nhiều chủ trương, chính sách và cơ chế. Với chủ trương xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, trong thời gian qua, Nhà nước ta đã ban hành một hệ thống pháp luật, bước đầu đáp ứng được những yêu cầu cơ bản của quản lý nhà nước đối với mọi mặt của đời sống xã hội, trong đó có pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với các thiệt hại do cán bộ, công chức nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ.

  • Những quy định của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước qua các bản Hiến pháp và các văn bản luật chuyên ngành Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Việc tôn trọng và thúc đẩy quyền con người, quyền được bồi thường và Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ghi nhận và quy định từ rất sớm trong pháp luật của Nhà nước ta ngay từ bản Hiến pháp đầu tiên cho đến bản Hiến pháp 2013.

Ban đầu, Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định tại Hiến pháp 1959 ghi nhận tại Điều 29, và để tiếp tục phát triển tinh thần theo quy định của bản Hiến pháp này, ngày 23/3/1972, TANDTC đã ban hành Thông tư số 173/UBTP hướng dẫn xét xử về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó để xác định Trách nhiệm bồi thường phải căn cứ vào 04 yếu tố là phải có thiệt hại xảy ra, phải có hành vi trái pháp luật, phải có quan hệ nhân quả và hành vi trái pháp luật phải có lỗi của người gây thiệt hại.

Hiến pháp năm 1980 cũng khẳng định quyền được bồi thường tại Điều 73, trong đó, việc quy định công dân có quyền được bình đẳng với Nhà nước thông qua việc khiếu nại, tố cáo chính Nhà nước của mình nếu phát hiện ra cơ quan, tổ chức Nhà nước nào có hành vi trái pháp luật gây ra thiệt hại. Bản Hiến pháp thể hiện tinh thần quyết tâm thúc đẩy quyền con người ở chỗ quy định rõ mọi điều khiếu nại, tố cáo đó của công dân đều phải được giải quyết, đồng thời, nếu khiếu nại, tố cáo đó được công nhận là đúng, nếu hành vi trái pháp luật đó gây ra thiệt hại, thì công dân có quyền được bồi thường thiệt hại những tổn thất do Nhà nước gây ra. Có thể nói, bản Hiến pháp này đã bước đầu thể hiện rõ tính nhân văn trong việc bảo vệ, duy trì sự bình đẳng giữa nhân dân và Nhà nước của nước ra giai đoạn này.

Hiến pháp năm 1992, sửa đổi, bổ sung năm 2001 tiếp tục quy định về quyền con người liên quan đến Bồi thường nhà nước tại Điều 72 và Điều 74, qua đó, tinh thần bảo vệ quyền con người trong hoạt động Tố tụng hình sự đã được hình thành, làm tiền đề cho việc thúc đẩy các quyền được bồi thường về vật chất và tinh thần của người dân bị thiệt hại thông qua các văn bản quy định sau này. Để thể chế hóa các quy định về bồi thường thiệt hại, Bộ luật dân sự 1995 đã dành riêng chương V và sau này là Bộ luật dân sự 2005 quy định trách nhiệm dân sự bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, trong đó, quy định cụ thể về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Điều 623 và 624 về việc Cơ quan nhà nước gây thiệt hại có Trách nhiệm bồi thường cho người bị thiệt hại khi công chức nhà nước gây ra trong quá trình thi hành công vụ. Bên cạnh đó, BLTTHS năm 2003 cũng đã có những quy định để cụ thể hóa các quy định tại Điều 72 của Hiến pháp 1992 về bồi thường thiệt hại trong lĩnh vực tư pháp, hình sự.

Luật Khiếu nại, Tố cáo năm 1998 (sửa đổi, bổ sung năm 2004, 2005) đã quy định tại Điều 1, Điều 6 và Điều 8 về THBT thiệt hại của cơ quan nhà nước gây ra thiệt hại cho người dân khi thiếu trách nhiệm hoặc cố tình giải quyết trái pháp luật làm xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân thì phải có trách nhiệm bồi thường. Có thể nói việc quy định như vậy là tương đối chặt chẽ, góp phần quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích của người dân cũng như của chính Cơ quan nhà nước.

Gần đây nhất, ngày 28/11/2013, chủ tịch Quốc Hội đã ký ban hành Hiến pháp sửa đổi 2013, trong đó, quyền con người đối với Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định cụ thể tại Điều 30 nối tiếp tinh thần bảo vệ và thúc đẩy quyền con người trong mối quan hệ bình đẳng với Nhà nước đã được nêu tại bản Hiến pháp 1959 và 1980 như đã nêu trên. Tuy nhiên, để bảo vệ tối đa nhất các quyền về khiếu nại, tố cáo của công dân, bản Hiến pháp mới đã thực sự tạo được lòng tin của nhân dân khi bổ sung thêm một quy định chặt chẽ, thể hiện tính nhân văn sâu sắc, tinh thần đoàn kết, bảo vệ lẫn nhau vốn có của con người Việt Nam, đó là việc nghiêm cấm việc trả thù người khiếu nại, tố cáo. Đồng thời, bên cạnh việc bảo vệ quyền của nhân dân, bản Hiến pháp cũng quy định chặt chẽ nhằm bảo vệ lợi ích của Nhà nước đối với việc người dân vì một lý do nào đó, lợi dụng quyền của mình để khiếu nại, tố cáo vu khống hại người thừa hành công vụ của Nhà nước. Điều 31 đồng thời cũng quy định việc tiếp tục đề cao tinh thần bảo vệ các quyền của con người trong hoạt động tố tụng. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Có thể thấy rằng việc quy định sơ khai ban đầu về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại các bản Hiến pháp trước đây cũng như việc quy định cụ thể về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong Hiến pháp sửa đổi 2013 đã thể hiện việc Nhà nước đề cao và tôn trọng quyền con người nói chung cũng như quyền con người về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức khi thi hành công vụ gây ra nói riêng.

Tạo lòng tin cho nhân dân về một Nhà nước pháp quyền luôn lấy dân làm chủ, làm mục tiêu để xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân và vì dân. Không phải ngẫu nhiên, trong nhiều nội dung đổi mới, Hiến pháp lại đặc biệt coi trọng quyền con người. So sánh mới thấy, mỗi bản Hiến pháp sau, số lượng các điều khoản về quyền con người, quyền công dân đều nhiều hơn, mở rộng hơn, cụ thể hơn Hiến pháp trước, thể hiện sự kế thừa và phát triển trong điều kiện, hoàn cảnh mới của đất nước. Những nỗ lực không ngừng của Việt Nam trong nhiều năm qua, đảm bảo mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật, đảm bảo các quyền cơ bản của công dân, quyền con người, quyền về bồi thường nhà nước đã nói lên thực tế đó.

  • Những quy định của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước qua một số Nghị quyết của Đảng Cộng sản Việt Nam

Pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chỉ thực sự phát triển từ khi Đảng ta quan tâm, chỉ đạo, chỉ được thể hiện một cách cụ thể từ khi ban hành Nghị định số 47/CP hướng dẫn cụ thể và để triển khai thực hiện có hiệu quả Điều 623, Điều 624 của Bộ luật dân sự năm 1995. Tiếp đến là việc ban hành Nghị quyết số 388, theo đó, khi người dân gặp oan sai vì một lý do đáng nghi ngờ nào đó mà bị cơ quan điều tra tạm giữ, tạm giam để điều tra một vụ án; hoặc bị kết án tù oan mà sau đó chứng minh được mình vô tội trong hoạt động tố tụng hình sự thì sẽ được nhà nước Bồi thường thiệt hại, đính chính những oan ức do người thi hành công vụ vô tình hay cố tình gây ra theo Nghị quyết 388. Bên cạnh đó, cơ quan tiến hành tố tụng đồng thời cũng phải Bồi thường thiệt hại gây ra cho người dân trong khi thi hành công vụ hoặc trong khi thực hiện nhiệm vụ điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thuộc phạm vi được quy định tại Điều 623 và Điều 624 của Bộ luật dân sự; hoặc người dân tự yêu cầu Tòa án bảo vệ quyền lợi cho mình theo tại Nghị định số 47. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Mặc dù cùng quy định về trách nhiệm Bồi thường thiệt hại của Cơ quan nhà nước do gây thiệt hại trong quá trình thi hành công vụ, tuy nhiên, Nghị định 47/CP và Nghị quyết 388 là hai nhóm văn bản hoàn toàn độc lập, trong đó, Nghị định số 47/CP chủ yếu được áp dụng để điều chỉnh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại của các cơ quan quản lý hành chính và thi hành án trong khi Nghị quyết số 388 được áp dụng để điều chỉnh trách nhiệm Bồi thường thiệt hại của các cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm cơ quan điều tra, truy tố và xét xử.

  • Pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thông qua đạo luật riêng

Có thể nói, “vấn đề trách nhiệm bồi thường thiệt hại của Nhà nước Việt Nam đã manh nha hình thành ngay từ những ngày đầu tiên thành lập nước thông qua một số quy định cụ thể trong Hiến pháp” [34, tr. 15]. Tuy nhiên, phần lớn các quy định pháp luật về Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra tại các văn bản nêu trên mới chỉ dừng ở việc quy định về những nguyên tắc mà chưa quy định cụ thể về phạm vi bồi thường và Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Hơn nữa, việc áp dụng các quy định trên thực tế giải quyết các vụ việc bồi thường còn có nhiều hạn chế, bất cập như: hình thức văn bản Quy phạm pháp luật quy định về trách nhiệm Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra có hiệu lực pháp lý không cao; pháp luật hiện hành về trách nhiệm Bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra chưa được xây dựng trên quan điểm coi đây là Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước nói chung mà chỉ coi là Trách nhiệm bồi thường của từng Cơ quan nhà nước cụ thể; cơ quan có Trách nhiệm bồi thường trong nhiều trường hợp chưa được xác định rõ. Do đó, việc giải quyết bồi thường không đạt được kết quả như mong muốn; các loại thiệt hại được bồi thường, mức bồi thường và nhiều vấn đề liên quan khác được pháp luật quy định không thống nhất, chưa hợp lý, gây bất lợi cho cả cơ quan giải quyết bồi thường nhà nước lẫn người bị thiệt hại; Trách nhiệm hoàn trả của công chức chưa được quy định rõ ràng.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được Quốc hội thông qua ngày 18/6/2009 và có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2010. Đây là một đạo luật quan trọng, là cơ sở pháp lý để tổ chức, cá nhân thực hiện quyền yêu cầu bồi thường khi bị thiệt hại do hành vi trái pháp luật của cán bộ, công chức nhà nước gây ra trong khi thi hành công vụ [18, tr.1].

Có thể nói, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được xây dựng dựa trên một trong những quan điểm chỉ đạo là kế thừa các quy định pháp luật còn phù hợp và từng bước pháp điển hoá các quy định pháp luật hiện hành về Bồi thường thiệt hại, đồng thời tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các nước có thể vận dụng được phù hợp với điều kiện của nước ta đã là một quan điểm đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong việc xây dựng một cơ chế Bồi thường nhà nước mang tính toàn diện, chứa đựng nhiều tham vọng. Bên cạnh việc ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, các văn bản hướng dẫn thi hành Luật một cách hiệu quả trong các lĩnh vực thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng lần lượt được ra đời nhằm hướng dẫn chi tiết một số quy định của đạo luật này.

1.4. Pháp luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước hiện hành ở Việt Nam Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước bao gồm 8 chương và 67 Điều điều chỉnh một cách toàn diện trong cả 03 lĩnh vực là quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án, trong đó, quy định chi tiết tại các điều, khoản về trình tự, thủ tục và quy định rõ về thời hạn giải quyết bồi thường tại cơ quan có Trách nhiệm bồi thường bao gồm: việc thụ lý đơn yêu cầu bồi thường, xác minh thiệt hại; thương lượng việc bồi thường, ra quyết định giải quyết bồi thường, chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại; và thủ tục thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu bồi thường tại Tòa án. Bên cạnh đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng quy định cụ thể về quyền, nghĩa vụ của người bị thiệt hại; kinh phí bồi thường và trách nhiệm hoàn trả của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại.

Việc Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các văn bản hướng dẫn được thực thi nghiêm túc, hiệu quả sẽ có tác động tích cực đến việc nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và làm hạn chế những hành vi vi phạm của cán bộ, công chức trong khi thi hành công vụ làm phát sinh trách nhiệm bồi thường của Nhà nước [17, tr.1].

1.4.1. Về đối tượng được bồi thường

Đối tượng được Nhà nước bồi thường bao gồm các “cá nhân, tổ chức bị thiệt hại về vật chất, tổn thất về tinh thần” [31, tr.1] thuộc các trường hợp đã được quy định trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong cả 03 lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án do hành vi trái pháp luật của các cán bộ, công chức Nhà nước vì vô ý làm sai hay cố tình làm sai để trục lợi, thực hiện hành vi tư thù cá nhân hoặc vì vô trách nhiệm trong quá trình thực thi công vụ gây ra thiệt hại và hậu quả cho các cá nhân, tổ chức đó. Theo quy định này, có thể hiểu, các cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng được Nhà nước Việt Nam bồi thường bao gồm công dân Việt Nam, tổ chức được thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam; cá nhân mang quốc tịch của quốc gia, vùng lãnh thổ khác, tổ chức nước ngoài hoạt động hợp pháp tại Việt Nam; người không quốc tịch đang sinh sống và làm việc tại Việt Nam. Các đối tượng này đều có thể trở thành đối tượng được bồi thường miễn là đáp ứng đủ các điều kiện theo quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Tuy nhiên, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không quy định nguyên tắc có đi có lại trong việc thực hiện Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước mà một số quốc gia, vùng lãnh thổ như Nhật Bản, Đài Loan…có quy định trong Luật về Bồi thường nhà nước của họ, theo đó, một quốc gia chỉ bồi thường cho công dân mang quốc tịch của một quốc gia, vùng lãnh thổ khác nếu pháp luật của quốc gia, vùng lãnh thổ mà công dân đó mang quốc tịch có quy định về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với người nước ngoài trong điều kiện tương tự. Tuy nhiên, để thể hiện sự tôn trọng của Nhà nước ta đối với các quyền và lợi ích hợp pháp của mọi cá nhân, tổ chức đang sống và làm việc trên đất nước Việt Nam nên Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước của Việt Nam không quy định nguyên tắc này.

1.4.2. Về phạm vi trách nhiệm bồi thường

Việc xác định phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước bảo đảm được quy định phù hợp với trình độ phát triển kinh tế, xã hội của nước ta trong giai đoạn ban hành đạo luật riêng về Bồi thường nhà nước, phù hợp với Hiến pháp năm 1992 và Bộ luật dân sự năm 2005 đã ghi nhận một nguyên tắc rất cơ bản, theo đó, Nhà nước có trách nhiệm Bồi thường thiệt hại do cán bộ, công chức của mình gây ra cho tổ chức, cá nhân trong khi thi hành công vụ. Do đó, để bảo đảm tính khả thi của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được xác định phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội; khả năng của ngân sách nhà nước; năng lực chuyên môn của đội ngũ cán bộ, công chức và bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa mục tiêu bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại, lợi ích của Nhà nước, đồng thời, cũng bảo đảm sự hoạt động ổn định, có hiệu quả của các cơ quan công quyền, giữ vững sự ổn định chính trị – xã hội của đất nước.

Trong 03 lĩnh vực được Nhà nước điều chỉnh và bảo vệ, thì phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được giới hạn đối với một số hành vi do cán bộ, công chức làm trái pháp luật trong khi thi hành những nhiệm vụ cụ thể trong từng lĩnh vực như sau:

  • Phạm vi bồi thường trong lĩnh vực quản lý hành chính Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Phạm vi bồi thường trong lĩnh vực này được liệt kê đối với 11 nhóm hành vi mà nếu gây ra thiệt hại thì Nhà nước có Trách nhiệm bồi thường. Đây là những hành vi có ảnh hưởng lớn đến các quyền cơ bản của công dân như quyền tự do thân thể, quyền tự do kinh doanh, quyền tự do sở hữu… do đó cần được Nhà nước dành sự quan tâm đặc biệt, bằng cách cam kết sẽ bồi thường nếu các hành vi này của cán bộ, công chức trong quá trình thực thi công vụ gây thiệt hại cho cá nhân, tổ chức. Các hành vi đó được quy định cụ thể trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và hướng dẫn chi tiết tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 19 bao gồm hành vi: ban hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp ngăn chặn vi phạm hành chính và bảo đảm việc xử lý vi phạm hành chính; áp dụng biện pháp buộc tháo dỡ nhà ở, công trình, vật kiến trúc và biện pháp cưỡng chế thi hành quyết định xử phạt vi phạm hành chính khác; áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa người vào trường giáo dưỡng, đưa người vào cơ sở giáo dục hoặc đưa người vào cơ sở chữa bệnh; cấp, thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh; giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép; áp dụng thuế, phí, lệ phí; thu thuế, phí, lệ phí; truy thu thuế; thu tiền sử dụng đất; áp dụng thủ tục hải quan; giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất; bồi thường, hỗ trợ, giải phóng mặt bằng, tái định cư; cấp hoặc thu hồi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; ban hành quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh; cấp văn bằng bảo hộ cho người không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; cấp văn bằng bảo hộ cho đối tượng sở hữu công nghiệp không đủ điều kiện được cấp văn bằng bảo hộ; ra quyết định chấm dứt hiệu lực của văn bằng bảo hộ; và không cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, Giấy chứng nhận đầu tư, giấy phép và các giấy tờ có giá trị như giấy phép, văn bằng bảo hộ cho đối tượng có đủ điều kiện [44, tr.6].

Như vậy, thiệt hại do các hành vi khác của cán bộ, công chức gây ra nếu làm trái quy định của pháp luật mà không được liệt kê tại các nhóm hành vi trên thì không được Nhà nước bồi thường. Tuy nhiên, để thể hiện sự tôn trọng quyền con người, quyền công dân, quyền của người bị thiệt hại do hành vi công quyền gây ra của Nhà nước đối với việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, pháp luật về Bồi thường nhà nước đã quy định thêm một hành vi Nhà nước có Trách nhiệm bồi thường đối với thiệt hại gây ra “các trường hợp được bồi thường khác do pháp luật quy định” [44, tr.6]. Tuy nhiên, việc quy định về trường hợp khác trong lĩnh vực quản lý hành chính ngoài phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được quy định trong luật hiện nay chưa được văn bản nào hướng dẫn chi tiết về các trường hợp được bồi thường, do đó, gây khó khăn trong việc vận dụng các quy định của pháp luật về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đối với nhóm hành vi này.

  • Phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động tố tụng Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Đối với hoạt động Tố tụng hình sự và Tố tụng dân sự, pháp luật về Bồi thường nhà nước cũng đã liệt kê các trường hợp mà Nhà nước có Trách nhiệm bồi thường liên quan trực tiếp đến các quyền bất khả xâm phạm về thân thể, danh dự, nhân phẩm; quyền không bị tra tấn, nhục hình và được đối xử nhân đạo; quyền không bị bắt, giam giữ tùy tiện, độc đoán; quyền tự do và an toàn cá nhân; quyền được pháp luật bảo hộ về tính mạng; quyền sống, tránh mọi hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ gây ra khi xâm phạm quyền sống… là ưu tiên hàng đầu của Nhà nước trong việc nhận trách nhiệm về mình và bồi thường những thiệt hại do cán bộ, công chức gây ra khi thi hành công vụ. Theo đó, các cá nhân, tổ chức trong phạm vi được Nhà nước bồi thường bao gồm: người bị tạm giữ mà có quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự huỷ bỏ quyết định tạm giữ vì người đó không thực hiện hành vi vi phạm pháp luật; Người bị tạm giam, người đã chấp hành xong hoặc đang chấp hành hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân, người đã bị kết án tử hình, người đã thi hành án tử hình mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội; Người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội; Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án, đã chấp hành hình phạt tù mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành; Người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án và bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm tội bị kết án tử hình và tổng hợp hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam vượt quá so với mức hình phạt chung của những tội mà người đó phải chấp hành; Người bị xét xử bằng nhiều bản án, Toà án đã tổng hợp hình phạt của nhiều bản án đó, mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội và hình phạt của những tội còn lại ít hơn thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù thì được bồi thường thiệt hại tương ứng với thời gian đã bị tạm giam, chấp hành hình phạt tù vượt quá so với mức hình phạt của những tội mà người đó phải chấp hành; Tổ chức, cá nhân có tài sản bị thiệt hại do việc thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu, xử lý có liên quan đến các trường hợp quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 26 thì được bồi thường.

Vấn đề phạm vi Bồi thường thiệt hại trong Tố tụng dân sự, Tố tụng hành chính cũng được ghi nhận trong pháp luật về Bồi thường nhà nước mà trong đó, đã quy định cụ thể 4 trường hợp được Nhà nước bồi thường là: hành vi tự mình áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời khác với biện pháp khẩn cấp tạm thời mà cá nhân, cơ quan, tổ chức có yêu cầu; áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời vượt quá yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của cá nhân, cơ quan, tổ chức; ra bản án, quyết định mà biết rõ là trái pháp luật hoặc cố ý làm sai lệch hồ sơ vụ án.

  • Phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong hoạt động thi hành án Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Đối với lĩnh vực thi hành án dân sự, pháp luật về Bồi thường nhà nước có quy định tại Điều 38 Luật Trách nhiệm bồi thường CN và cụ thể hóa tại Điều 6 Thông tư liên tịch số 24 đối với các hành vi trái pháp luật gây ra bởi cán bộ, công chức trong hoạt động công vụ liên quan trực tiếp đến các nhóm quyền bao gồm quyền về tài sản, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tư nhân về thu nhập hợp pháp, của cải để dành, nhà ở, tư liệu sinh hoạt, tư liệu sản xuất, phần vốn góp trong doanh nghiệp hoặc trong các tổ chức kinh tế khác, quyền thừa kế… và Nhà nước có Trách nhiệm bồi thường nếu có thiệt hại gây ra do 8 nhóm hành vi của người thi hành công vụ, bao gồm: việc ra hoặc cố ý không ra các quyết định thi hành án; thu hồi, sửa đổi, bổ sung, hủy quyết định về thi hành án; áp dụng biện pháp bảo đảm thi hành án; cưỡng chế thi hành án; thi hành quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Toà án; hoãn thi hành án; tạm đình chỉ, đình chỉ thi hành án; tiếp tục thi hành án.

Đồng thời, tổ chức thi hành hoặc cố ý không tổ chức thi hành các quyết định đó, được quy định cụ thể tại Điều 6 Thông tư liên tịch số 24 là việc Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên và những người thi hành công vụ khác có hành vi trái pháp luật trong quá trình tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án hoặc Thủ trưởng cơ quan thi hành án, Chấp hành viên và những người thi hành công vụ khác cố ý không tổ chức thi hành các quyết định về thi hành án theo quy định của pháp luật.

Đối với lĩnh vực thi hành án hình sự, là một lĩnh vực tương đối nhạy cảm và phức tạp, các quy định của pháp luật về Bồi thường nhà nước chỉ dừng lại ở mức quy định mà không kiểm chứng được trên thực tế áp dụng. Trong đó, Nhà nước có Trách nhiệm bồi thường do 4 nhóm hành vi của người thi hành công vụ gây ra được quy định tại Điều 39 của Luật và được bổ sung chi tiết tại Điều 3 Thông tư liên tịch số 11 đối với 7 nhóm thuộc phạm vi được Nhà nước bồi thường bao gồm nhóm bị hành vi: ra quyết định thi hành án tử hình đối với người có đủ điều kiện quy định tại Điều 35 của BLHS, bao gồm: phụ nữ có thai, phụ nữ đang nuôi con dưới 36 tháng tuổi, người đã được Chủ tịch nước quyết định ân giảm hình phạt tử hình, người chưa thành niên; giam người quá thời hạn phải thi hành án phạt tù theo bản án, quyết định của Toà án; không thực hiện quyết định hoãn thi hành án của Tòa án đối với người bị kết án hình phạt tù; không thực hiện quyết định tạm đình chỉ thi hành án của Tòa án đối với người bị kết án hình phạt tù; không thực hiện quyết định giảm thời hạn chấp hành hình phạt tù của Tòa án đối với người đang chấp hành hình phạt tù; không thực hiện các quyết định đặc xá của Chủ tịch nước đối với người bị kết án phạt tù được đặc xá; không thực hiện quyết định đại xá của Quốc hội đối với người bị kết án được ân xá.

  • Đối tượng không thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Bên cạnh những trường hợp thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong cả 03 lĩnh vực được liệt kê cụ thể, chi tiết đối với từng hành vi trong pháp luật về Bồi thường nhà nước ở Việt Nam thì bên cạnh đó, Nhà nước ta cũng có giới hạn những đối tượng không thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cụ thể là:

Thứ nhất, những đối tượng không được Nhà nước bồi thường trong hoạt động tố tụng hình sự, là trường hợp: người được miễn trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật; cố ý khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu, vật chứng khác sai sự thật để nhận tội thay cho người khác hoặc để che giấu tội phạm; người bị khởi tố, truy tố, xét xử về nhiều tội trong cùng một vụ án hoặc Toà án quyết định tổng hợp hình phạt của nhiều bản án, đã bị tạm giữ, bị tạm giam, đã chấp hành hình phạt tù hoặc đã bị kết án tử hình nhưng chưa thi hành án mà sau đó có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không phạm một hoặc một số tội nhưng không thuộc các trường hợp quy định tại các khoản 4, 5 và 6 Điều 26 của Luật này; người bị khởi tố, truy tố trong vụ án hình sự được khởi tố theo yêu cầu của người bị hại nhưng vụ án đã được đình chỉ do người bị hại đã rút yêu cầu khởi tố, trừ trường hợp hành vi vi phạm pháp luật của họ chưa cấu thành tội phạm; người bị khởi tố, truy tố, xét xử là đúng với các văn bản quy phạm pháp luật tại thời điểm khởi tố, truy tố, xét xử nhưng tại thời điểm ra bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật mà theo các văn bản quy phạm pháp luật mới được ban hành và có hiệu lực sau ngày khởi tố, truy tố, xét xử đó họ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Thứ hai, là Nhà nước không bồi thường đối với thiệt hại xảy ra hoàn toàn do lỗi của người bị thiệt hại; người bị thiệt hại che dấu chứng cứ, tài liệu hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật trong quá trình giải quyết vụ việc; do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết. Trường hợp người thi hành công vụ và người bị thiệt hại cùng có lỗi thì Nhà nước chỉ bồi thường một phần thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người thi hành công vụ. Việc xác định thiệt hại tương ứng với phần lỗi của người thi hành công vụ trong hoạt động quản lý hành chính được thực hiện theo quy định tại Điều 308 và Điều 617 Bộ luật Dân sự năm 2005 và các văn bản hướng dẫn thi hành quy định tại khoản 1 Thông tư liên tịch số 08. Để không bỏ sót các thiệt hại gây ra cho người dân, hoặc bồi thường nhầm những khoản không phải là thiệt hại thì “Khi xác định thiệt hại để bồi thường, cần tham khảo Nghị quyết 03 ngày 7/8/2006 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao” [47, tr.95].

Thứ ba, là những đối tượng thuộc trường hợp bị gây ra thiệt hại do Nhà nước có vi phạm pháp luật trong quá trình giao kết và thực hiện hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế; đối tượng thuộc trường hợp bị gây ra thiệt hại do tài sản thuộc quyền quản lý, sử dụng, vận hành của Nhà nước; đối tượng thuộc trường hợp bị gây ra thiệt hại do việc ban hành văn bản quy phạm pháp luật sai của Nhà nước; những trường hợp bị gây ra thiệt hại không do hoạt động công vụ.

Có thể nhận thấy rằng việc quy định về phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tại Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước so với các văn bản quy định về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trước đây cho thấy phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước tương đối rộng, bao phủ hầu hết các hoạt động của Nhà nước trên cả 03 lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Tuy rằng việc điều chỉnh phạm vi Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước chưa được toàn diện và đầy đủ, chưa giải quyết được hoàn toàn và triệt để những sai phạm trong mọi mặt của đời sống xã hội, tuy nhiên, việc Nhà nước ban hành một cơ chế bồi thường quy định rõ từng loại trường hợp nếu có sai phạm gây ra thiệt hại sẽ được Nhà nước bồi thường đã thể hiện một ý chí, một tư tưởng tiến bộ của Nhà nước ta. Ý chí đó thể hiện ở tư duy Nhà nước dám chịu trách nhiệm về mình, và giải quyết những thiệt hại mà mình gây ra thông qua việc bồi thường, quyền con người đã phần nào được bảo vệ trong 03 lĩnh vực của đời sống nói trên. Đây là một bước tiến lớn của Đảng và Nhà nước ra khi ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và mong muốn Luật sẽ từng bước đi vào cuộc sống.

1.4.3. Về quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại trong việc yêu cầu bồi thường Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Quyền và nghĩa vụ của người bị thiệt hại được pháp luật quy định tương đối cụ thể và rõ ràng, trong đó, thể hiện ở chỗ Nhà nước quy định rằng người dân nếu bị thiệt hại là có quyền yêu cầu Nhà nước bồi thường. Điều này thể hiện sự bình đẳng của nhân dân trước pháp luật và Nhà nước. Tại khoản 1 Điều 4 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định:

Người bị thiệt hại có quyền yêu cầu cơ quan có trách nhiệm bồi thường giải quyết việc bồi thường khi có văn bản của cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc có văn bản của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc trường hợp được bồi thường quy định tại Điều 26 của Luật này [44, tr.2].

Thể hiện quan hệ Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được xác định là quan hệ dân sự đặc thù, vì vậy, khác với các quan hệ pháp luật dân sự thông thường, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước không quy định cho người bị thiệt hại được quyền làm đơn yêu cầu Nhà nước bồi thường ngay sau khi cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình đã bị vi phạm mà quyền đó chỉ phát sinh khi có văn bản của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền xác định hành vi của người thi hành công vụ là trái pháp luật hoặc có bản án, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng hình sự xác định người bị thiệt hại thuộc các trường hợp được bồi thường.

Việc quy định như vậy là thể hiện rõ một trong những nguyên tắc xuyên suốt của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là phải bảo đảm sự kết hợp hài hoà giữa mục tiêu bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức bị thiệt hại và lợi ích của Nhà nước, tức là Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước được ban hành là nhằm bảo vệ lợi ích của cá nhân, tổ chức bị người thi hành công vụ gây thiệt hại nhưng đồng thời cũng phải bảo đảm sự hoạt động ổn định, có hiệu quả của các cơ quan công quyền. Như vậy, nếu quy định quyền yêu cầu bồi thường phát sinh ngay từ thời điểm người bị thiệt hại cho rằng quyền và lợi ích hợp pháp của mình bị vi phạm thì sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến sự hoạt động của các cơ quan nhà nước.

1.4.4. Căn cứ xác định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Để xác định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, pháp luật về Bồi thường nhà nước ở Việt Nam quy định rất rõ về căn cứ mà người bị thiệt hại phải chứng minh với Cơ quan nhà nước khi cho rằng cơ quan đó đã gây ra thiệt hại cho mình, cụ thể, căn cứ đó được quy định cụ thể đối với các lĩnh vực hoạt động khác nhau trong quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính, thi hành án và tố tụng hình sự. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Theo đó, căn cứ để xác định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong các lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng dân sự, tố tụng hành chính và thi hành án (khoản 1 Điều 6 của Luật) được quy định cụ thể bao gồm 03 căn cứ là: phải có văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, phải có thiệt hại thực tế xảy ra và phải có mối quan hệ nhân quả giữa thiệt hại thực tế xảy ra và hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ. Riêng trong hoạt động tố tụng hình sự, pháp luật quy định cụ thể việc người bị thiệt hại phải có đủ căn cứ xác định trách nhiệm bồi thường là bản án, quyết định của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định thuộc phạm vi Trách nhiệm bồi thường quy định tại Điều 26 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và có thiệt hại thực tế xảy ra.

Ở đây, văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ được xác định cụ thể đối với loại văn bản hợp lệ, bao gồm: Quyết định giải quyết khiếu nại của người có thẩm quyền đã có hiệu lực pháp luật theo quy định của pháp luật; Kết luận nội dung tố cáo của cơ quan hoặc người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật; Bản án, quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật.

Một điểm đáng lưu ý là mặc dù không quy định trực tiếp lỗi là một trong các căn cứ để xác định Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, tuy nhiên, pháp luật về Bồi thường nhà nước trong đạo luật riêng đã gián tiếp quy định về căn cứ này thông qua việc quy định một số trường hợp không làm phát sinh Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, cụ thể là theo khoản 3 Điều 6 thì Nhà nước không có Trách nhiệm bồi thường đối với các thiệt hại xảy ra nếu thiệt hại đó là do lỗi của người bị thiệt hại; hoặc người bị thiệt hại che dấu chứng cứ, tài liệu hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật trong quá trình giải quyết vụ việc; hoặc thiệt hại xảy ra do sự kiện bất khả kháng, tình thế cấp thiết.

1.4.5. Trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Theo tinh thần của việc ban hành một đạo luật riêng về Bồi thường nhà nước trong đó, tạo một cơ chế thuận lợi và thông thoáng nhất cho người bị thiệt hại thực hiện quyền yêu cầu bồi thường, bảo vệ quyền con người một cách toàn diện trong việc thực hiện quyền và bảo vệ lợi ích của mình liên quan đến tài sản bị thiệt hại và tinh thần, danh dự, uy tín, nhân phẩm bị xâm hại. Do đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định một thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tương đối toàn diện, bắt đầu từ việc thỏa thuận trực tiếp giữa người bị thiệt hại và cơ quan có Trách nhiệm bồi thường đến việc cơ quan có Trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt hại không thực hiện đúng quy định của pháp luật về Bồi thường nhà nước hoặc người bị thiệt hại không đồng ý với thỏa thuận chung, thì có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc bồi thường cho mình theo thủ tục Tố tụng dân sự tại Tòa án.

  • Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan có trách nhiệm bồi thường

Pháp luật về Bồi thường nhà nước quy định người bị thiệt hại phải thực hiện việc yêu cầu cơ quan trực tiếp quản lý người thi hành công vụ có hành vi trái pháp luật gây thiệt hại giải quyết bồi thường trước khi khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết. Quy định này không chỉ giúp cho người bị thiệt hại và cơ quan có Trách nhiệm bồi thường có thể hiểu nhau hơn mà còn để cơ quan có Trách nhiệm bồi thường có cơ hội chuộc lại những sai phạm đã gây ra, thể hiện tính chịu trách nhiệm của mình và tự bảo vệ lợi ích của Nhà nước trước người bị thiệt hại. Mặt khác, thủ tục này nhằm bảo vệ người bị thiệt hại trong việc cùng cơ quan có Trách nhiệm bồi thường xác định đúng thiệt hại đã gây ra, thỏa thuận mức bồi thường giữa hai bên. Về cơ bản, thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại cơ quan có Trách nhiệm bồi thường diễn ra như sau:

Bước một, sau khi nhận được văn bản xác định hành vi trái pháp luật của người thi hành công vụ, người bị thiệt hại sẽ gửi đơn yêu cầu bồi thường đến cơ quan có Trách nhiệm bồi thường kèm theo văn bản này và giấy tờ, tài liệu có liên quan đến yêu cầu bồi thường theo quy định tại Điều 16 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về hồ sơ yêu cầu bồi thường. Nếu cơ quan có Trách nhiệm bồi thường không thụ lý hoặc không hướng dẫn việc gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền giải quyết đối với hồ sơ yêu cầu bồi thường đã hợp lệ; hoặc quá thời hạn thụ lý là 05 ngày làm việc mà cơ quan có Trách nhiệm bồi thường không hướng dẫn người bị thiệt hại bổ sung hồ sơ theo quy định thì người bị thiệt hại có quyền khiếu nại việc thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường quy định tại Điều 8 Thông tư liên tịch số 06.

Bước hai, cơ quan có Trách nhiệm bồi thường phải kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ yêu cầu bồi thường, nếu xác định yêu cầu bồi thường thuộc trách nhiệm giải quyết của mình thì phải thụ lý trong thời hạn 5 ngày làm việc; trường hợp thấy không thuộc thẩm quyền của mình thì có trách nhiệm hướng dẫn người bị thiệt hại gửi đơn đến cơ quan có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết bồi thường. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Bước ba, ngay sau khi thụ lý đơn yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại, Thủ trưởng cơ quan có Trách nhiệm bồi thường phải ra quyết định cử người đại diện giải quyết việc bồi thường theo đúng quy định về tiêu chuẩn và điều kiện về cử người đại diện quy định tại Điều 7, Điều 8 Nghị định số 16, đó là, người đại diện phải hội tụ đủ các điều kiện là cán bộ lãnh đạo cấp phòng trở lên hoặc tương đương; có kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực phát sinh trách nhiệm bồi thường và không phải là người liên quan của người thi hành công vụ đã gây ra thiệt hại hoặc của người bị thiệt hại. Nếu người đại diện được cử không đủ điều kiện theo quy định hoặc cơ quan có Trách nhiệm bồi thường không cử người đại diện thì người bị thiệt hại có quyền khiếu nại việc cử người đại diện thực hiện việc giải quyết bồi thường quy định tại Điều 9 Thông tư liên tịch số 06.

Bước bốn, sau khi thụ lý hồ sơ yêu cầu bồi thường của người bị thiệt hại, trong thời hạn luật định là 20 ngày kể từ ngày cơ quan có Trách nhiệm bồi thường thụ lý đơn thì cơ quan đó phải tiến hành “xác minh thiệt hại căn cứ vào tài liệu, chứng cứ gửi kèm đơn yêu cầu của người bị thiệt hại cũng như đối chiếu với những thiệt hại thực tế xảy ra đối với thiệt hại về vật chất và thiệt hại về sức khỏe để làm căn cứ xác định mức bồi thường” [44, tr.9]. Trong giai đoạn này, nếu người bị thiệt hại không đồng ý với kết quả định giá, giám định về tài sản và sức khỏe mà cơ quan có Trách nhiệm bồi thường xác minh thì người bị thiệt hại có thể tự chi trả để được định giá, giám định lại nếu cơ quan có Trách nhiệm bồi thường đồng ý. Đặc biệt, pháp luật về bồi thường còn quy định, trường hợp việc định giá, giám định lại của người bị thiệt hại là có căn cứ thì cơ quan có Trách nhiệm bồi thường phải chi trả cho việc định giá, giám định đó. Nếu không, người bị thiệt hại có quyền khiếu nại về việc này quy định tại Điều 10 Thông tư liên tịch số 06.

Bước năm, trong thời hạn 10 ngày kể từ khi kết thúc việc xác minh thiệt hại, cơ quan có Trách nhiệm bồi thường phải tiến hành việc thương lượng với người bị thiệt hại. Đây đươc coi là một thủ tục bắt buộc tại cơ quan có Trách nhiệm bồi thường trước khi ra quyết định giải quyết bồi thường cho người bị thiệt hại. Đồng thời, đây cũng là bước để người bị thiệt hại chủ động bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình. Do đó, kết quả của việc thương lượng giữa các bên sẽ là cơ sở để cơ quan có Trách nhiệm bồi thường ra quyết định giải quyết bồi thường. Một điểm cần lưu ý là trong bất cứ trường hợp nào dù là thương lượng thành hoặc không thành thì cơ quan có Trách nhiệm bồi thường vẫn phải ra quyết định giải quyết bồi thường căn cứ vào kết quả giải quyết bồi thường có chữ ký của các bên liên quan. Trường hợp người bị thiệt hại đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường và không khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường thì quyết định giải quyết bồi thường sẽ có hiệu lực pháp luật và là căn cứ để cơ quan có Trách nhiệm bồi thường tiến hành các thủ tục cần thiết để bồi thường cho người bị thiệt hại. Nếu người bị thiệt hại không đồng ý với quyết định giải quyết bồi thường hoặc hết thời hạn ra quyết định mà cơ quan có Trách nhiệm bồi thường cố tình không ra quyết định về việc giải quyết bồi thường thì trong thời hạn 15 ngày khi quyết định này chưa có hiệu lực pháp luật, người bị thiệt hại có quyền khởi kiện ra Toà án yêu cầu giải quyết bồi thường.

Bước sáu, là việc cơ quan có Trách nhiệm bồi thường thực hiện chuyển giao quyết định giải quyết bồi thường tới tận tay người bị thiệt hại theo quy định tại Điều 9 Nghị định số 16. Một điểm lưu ý khi pháp luật về Bồi thường nhà nước quy định thể hiện tinh thần bảo vệ quyền con người, quyền của người bị thiệt hại, thể hiện tính nhân văn sâu sắc khi quy định chỉ khi người bị thiệt hại tận tay nhận quyết định giải quyết bồi thường từ người đại diện giải quyết việc bồi thường hoặc từ chính quyền nơi cư trú, có ký nhận, thì khi đó, quyết định giải quyết bồi thường mới bắt đầu tính hiệu lực kể từ lúc người đó ký nhận trực tiếp.

Bước bảy, là việc chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại được quy định chi tiết, tương đối đơn giản và nhanh chóng theo quy định tại Điều 54 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và các quy định của Thông tư liên tịch số 71, theo đó, cơ quan có Trách nhiệm bồi thường phải chủ động việc lập hồ sơ xin cơ quan tài chính cùng cấp cấp kinh phí, sau khi nhận được kinh phí bồi thường, trong thời hạn 5 ngày, cơ quan có Trách nhiệm bồi thường phải tiến hành chi trả tiền bồi thường cho người bị thiệt hại mức tiền tại quyết định giải quyết bồi thường. Nếu quá thời hạn mà việc chi trả không được thực hiện hoặc việc chi trả không đúng thỏa thuận về phương thức và hình thức chi trả thì người bị thiệt hại có quyền khiếu nại về vấn đề này quy định tại Điều 13 Thông tư liên tịch số 06. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Bước tám, là việc xem xét Trách nhiệm hoàn trả căn cứ vào mức đỗ lỗi, mức độ thiệt hại và điều kiện kinh tế của cán bộ, công chức làm trái quy định của pháp luật gây ra thiệt hại, đồng thời, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức đó theo quy định tại chương VII Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước và Thông tư liên tịch số 04 về xem xét Trách nhiệm hoàn trả. Việc xem xét Trách nhiệm hoàn trả phải được Thủ trưởng cơ quan có Trách nhiệm bồi thường ra quyết định rõ ràng về việc hoàn trả bao nhiêu, phương thức thế nào, lỗi gây ra là vô ý hay cố ý, hoàn cảnh kinh tế ra sao theo đúng nguyên tắc xác định mức hoàn trả theo quy định tại Điều 8 Thông tư liên tịch số 04 và phải chuyển giao quyết định hoàn trả cho người thi hành công vụ đó. Bên cạnh đó, nếu người bị thiệt hại phát hiện việc xem xét Trách nhiệm hoàn trả đối với công chức gây ra thiệt hại cho mình không đúng với quy định của pháp luật, thể hiện sự qua loa, bao che của cơ quan quản lý trực tiếp công chức đó; hoặc chính công chức gây ra thiệt hại không được nhận quyết định về việc hoàn trả để làm căn cứ tính ngày khởi kiện ra Tòa án nếu không đồng ý với quyết định hoàn trả thì người có nghĩa vụ hoàn trả có quyền khiếu nại về việc này tới Thủ trưởng cơ quan mình theo quy định tại Điều 14 Thông tư liên tịch số 06.

Riêng đối với việc bồi thường cho người bị thiệt hại trong hoạt động Tố tụng hình sự, do đặc thù của hoạt động Tố tụng hình sự, do yêu cầu của việc đấu tranh phòng và chống tội phạm, đã đòi hỏi các cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải đưa ra các quyết định một cách nhanh chóng, chính vì vậy, khó có thể tránh khỏi việc gây ra thiệt hại cho người khác. Vì vậy, pháp luật về Bồi thường nhà nước đã quy định trong trường hợp thiệt hại do lỗi vô ý thì người có thẩm quyền tiến hành Tố tụng hình sự gây ra không phải chịu trách nhiệm hoàn trả.

Ngoài các bước trên, một việc vô cùng quan trọng liên quan đến quyền con người, quyền tài sản của người bị thiệt hại là việc cơ quan có Trách nhiệm bồi thường phải tiến hành khôi phục danh dự cho người bị thiệt hại trong hoạt động Tố tụng hình sự bằng hình thức cải chính công khai. Đồng thời, trả lại tài sản bị thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu khi quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu bị hủy bỏ trong cả ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Nếu việc trả lại tài sản diễn ra chậm quá 5 ngày kể từ khi quyết định thu giữ, tạm giữ, kê biên, tịch thu bị hủy bỏ mà cơ quan có Trách nhiệm bồi thường không thông báo cho người bị thiệt hại hoặc tài sản trả lại không như ban đầu thì người bị thiệt hại có quyền khiếu nại việc thực hiện thủ tục trả lại tài sản. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

  • Thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Toà án

Ngoài ra, pháp luật về Bồi thường nhà nước rất minh bạch và công bằng khi quy định người bị thiệt hại có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết bồi thường nếu hết thời hạn luật định là 15 ngày mà cơ quan có Trách nhiệm bồi thường không ra quyết định giải quyết bồi thường hoặc khi họ đã nhận được quyết định nhưng không đồng ý với nội dung của quyết định đó để tạo thuận lợi nhất cho người bị thiệt hại bảo vệ quyền của mình. Về cơ bản, Toà án có thẩm quyền xét xử sơ thẩm là Toà án cấp huyện nơi cá nhân bị thiệt hại cư trú, làm việc, nơi tổ chức bị thiệt hại đặt trụ sở nơi thiệt hại xảy ra theo sự lựa chọn của người bị thiệt hại hoặc trường hợp khác theo quy định của pháp luật về Tố tụng dân sự. Do xác định quan hệ Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước, xét về bản chất là quan hệ dân sự, nên Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định thủ tục giải quyết yêu cầu bồi thường tại Toà án được thực hiện theo quy định của pháp luật về Tố tụng dân sự.

1.4.6. Về các thiệt hại được bồi thường và mức bồi thường

Pháp luật về Bồi thường nhà nước ở Việt Nam quy định cụ thể và liệt kê rõ ràng từng loại thiệt hại được bồi thường để một mặt, giúp người dân tự bảo vệ quyền của mình, tự xác định được thiệt hại mà mình bị gây ra và tự áng mức bồi thường mà bản thân sẽ được bồi thường theo quy định của pháp luật, để từ đó, thiện chí và hiểu biết hơn trong quá trình thỏa thuận, thương lượng với cơ quan có trách nhiệm bồi thường. Mặc khác, giúp cơ quan Nhà nước bảo vệ lợi ích của Nhà nước, tránh tình trang dân lạm dụng quyền yêu cầu bồi thường để trục lợi nhiều hơn mức Nhà nước gây ra thiệt hại, và để có cơ sở tính sát nhất đối với thiệt hại mà công chức của mình đã gây ra. Cụ thể, có 05 loại thiệt hại được pháp luật quy định như sau:

Một là, thiệt hại do tài sản bị xâm phạm được quy định tại Điều 45 của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong đó, quy định rõ đối với các loại tài sản như: những tài sản bị xâm phạm là tài sản đã bị phát mại, bị mất; tài sản bị hư hỏng; thiệt hại phát sinh do việc không sử dụng, khai thác tài sản hoặc các khoản tiền đã nộp vào ngân sách nhà nước theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền, bị tịch thu, thi hành án, khoản tiền đã đặt để bảo đảm tại cơ quan có thẩm quyền được hoàn trả cho người bị thiệt hại hoặc thân nhân của họ được pháp luật về Bồi thường nhà nước quy định cụ thể về mức tính thiệt hại mà người bị thiệt hại sẽ được Nhà nước bồi thường. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Hai là, thiệt hại do thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút được chia thành 03 trường hợp cụ thể là: nếu xác định được người bị thiệt hại có thu nhập thì được bồi thường theo thu nhập thực tế bị mất; xác định có thu nhập thường xuyên nhưng không ổn định thì mức bồi thường căn cứ vào thu nhập trung bình trong ba tháng liền kề trước thời điểm thiệt hại xảy ra; nếu xác định thu nhập không ổn định và không có cơ sở xác định cụ thể hoặc thu nhập có tính chất thời vụ thì áp dụng mức thu nhập trung bình của lao động cùng loại tại địa phương. Trường hợp không xác định được thu nhập trung bình thì tiền bồi thường được xác định theo mức lương tối thiểu chung đối với cơ quan nhà nước tại thời điểm giải quyết bồi thường.

Ba là, thiệt hại do tổn thất về tinh thần, là loại thiệt hại khó có thể đong đếm được với những gì người bị thiệt hại phải gánh chịu. Tuy nhiên, Nhà nước đã nỗ lực để liệt kê các trường hợp có thể được Nhà nước bồi thường vào đạo luật riêng về Bồi thường nhà nước. Tuy rằng còn chưa đủ so với thực tế người bị thiệt hại gặp phải, tuy nhiên, phạm vi thiệt hại về tinh thần cũng phần nào được điểm tên, trong đó, cụ thể là thiệt hại do việc: bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh được xác định là hai ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm giữ hành chính, bị đưa vào trường giáo dưỡng, cơ sở giáo dục, cơ sở chữa bệnh; bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù được xác định là ba ngày lương tối thiểu cho một ngày bị tạm giữ, tạm giam, chấp hành hình phạt tù; bị thiệt hại chết được xác định là ba trăm sáu mươi tháng lương tối thiểu; sức khoẻ bị xâm phạm được xác định căn cứ vào mức độ sức khoẻ bị tổn hại nhưng không quá ba mươi tháng lương tối thiểu; bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án mà không bị tạm giữ, tạm giam được xác định là một ngày lương tối thiểu cho một ngày bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án cải tạo không giam giữ hoặc phạt tù cho hưởng án treo. Thời gian để tính bồi thường thiệt hại được xác định kể từ ngày có quyết định khởi tố bị can cho đến ngày có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền xác định người bị khởi tố, truy tố, xét xử, thi hành án không bị tạm giữ, tạm giam, thi hành hình phạt tù có thời hạn mà có bản án, quyết định của cơ quan có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự xác định người đó không thực hiện hành vi phạm tội thuộc trường hợp được Nhà nước bồi thường.

Bốn là, thiệt hại về vật chất do người bị thiệt hại chết, trong đó, thân nhân của người bị thiệt hại sẽ được Nhà nước chi trả khoản tiền chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, chăm sóc người bị thiệt hại trước khi chết; chi phí cho việc mai táng theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội; và bồi thường khoản tiền cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Tiền cấp dưỡng hàng tháng được xác định là mức lương tối thiểu, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác hoặc đã được xác định theo quyết định có hiệu lực của Cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Năm là, thiệt hại về vật chất do bị tổn hại về sức khoẻ, trong đó, Nhà nước sẽ bồi thường khoản chi phí hợp lý cho việc cứu chữa, bồi dưỡng, phục hồi sức khoẻ và chức năng bị mất, bị giảm sút của người bị thiệt hại; thu nhập thực tế bị mất hoặc bị giảm sút; chi phí hợp lý và thu nhập thực tế bị mất của người chăm sóc người bị thiệt hại trong thời gian điều trị. Bên cạnh đó, đối với trường hợp người bị thiệt hại mất khả năng lao động và cần có người thường xuyên chăm sóc thì thiệt hại được bồi thường bao gồm chi phí hợp lý cho việc chăm sóc người bị thiệt hại và khoản cấp dưỡng cho những người mà người bị thiệt hại đang thực hiện nghĩa vụ cấp dưỡng. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Có thể nói, việc liệt kê từng loại thiệt hại mà người thi hành công vụ có khả năng gây ra cho công dân của mình đã thể hiện việc tự nhận trách nhiệm cao của Cơ quan nhà nước đối với mọi hình thức mà dù vô ý hay cố ý của công chức nhà nước gây ra cho người dân của mình trong quá trình thực thi công vụ, làm mất quyền và lợi ích của họ. Qua đó, bảo vệ người bị thiệt hại một cách toàn diện đối với những thiệt hại họ phải gánh chịu. Tuy nhiên, vẫn còn có những thiệt hại một số loại thiệt hại mà bên bị thiệt hại rất quan tâm nhưng các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành chưa đề cập như phục hồi vị trí công tác, chế độ hưu trí, chi phí đi lại, ăn ở của người bị thiệt hại trong quá trình thực hiện khiếu nại, khiếu kiện không được Nhà nước chấp nhận bồi thường.

1.4.7. Việc áp dụng Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước

Để bảo đảm sự rõ ràng trong áp dụng pháp luật, tại Điều 66 Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước đã quy định rõ việc áp dụng pháp luật trong từng trường hợp, cụ thể là: đối với các trường hợp yêu cầu bồi thường đã được Cơ quan nhà nước có thẩm quyền thụ lý nhưng chưa giải quyết hoặc đang giải quyết theo Nghị quyết số 388 thì tiếp tục áp dụng các văn bản quy phạm pháp luật đó để giải quyết. Còn đối với các trường hợp được bồi thường theo Nghị quyết số 388 và Nghị định số 47 đến thời điểm Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước có hiệu lực mà còn thời hiệu theo quy định của các văn bản này nhưng chưa yêu cầu Nhà nước bồi thường hoặc đã yêu cầu nhưng chưa được thụ lý thì áp dụng các quy định của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước để giải quyết.

1.5. Một số điểm mới của Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước so với các văn bản quy định trước đây Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

So với các văn bản quy định về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trước đây như Nghị quyết 388 và Nghị định số 47/CP thì Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước năm 2010 đã có những quy định cụ thể về nguyên tắc giải quyết bồi thường; phạm vi được bồi thường; trình tự, thủ tục giải quyết bồi thường; các yếu tố để thực hiện quyền con người một cách tối đa nhất khi bị xâm phạm lợi ích, tài sản, nhân phẩm, danh dự, sức khỏe…là quyền yêu cầu bồi thường, quyền khiếu nại, quyền khởi kiện ra Tòa án giải quyết yêu cầu bồi thường, quyền được thương lượng bình đẳng với cơ quan có Trách nhiệm bồi thường của người bị thiệt hại; đồng thời, quy định những chế tài về trách nhiệm hoàn trả của công chức Nhà nước gây ra thiệt hại khiến Nhà nước phải bồi thường và có hình thức xử lý kỷ luật đối với mức độ lỗi và thiệt hại mà người đó gây ra. Đặc biệt, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước cũng quy định cụ thể về việc xác định lỗi của người thi hành công vụ cũng như quy định cụ thể các thiệt hại được Nhà nước bồi thường. Có thể nói, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước gần như đã bao quát đầy đủ những quy định trước đây tại các văn bản được Nhà nước ta quy định về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trong cả ba lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án. Theo đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thể hiện tính ưu việt, chứa đựng nhiều điểm mới so với các văn bản quy định đó. Cụ thể là:

Cơ chế giải quyết bồi thường thông qua việc cử người đại diện thực hiện việc giải quyết bồi thường tại Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thay thế cho cơ chế thông qua Hội đồng xét giải quyết bồi thường quy định tại Nghị định số 47/CP. Theo đó, việc cử người đại diện được quy định cụ thể, chặt chẽ tại Điều 7 và Điều 8 Nghị định số 16/NĐ-CP về tiêu chuẩn và điều kiện của người đại diện như vị trí và kinh nghiệm công tác trong ngành, lĩnh vực phát sinh trách nhiệm bồi thường, xác định rõ thẩm quyền của người đại diện, trong đó, để minh bạch và khách quan trong quá trình giải quyết bồi thường thì người đại diện phải là người không liên quan đến người thi hành công vụ gây ra thiệt hại và người bị thiệt hại.

Thủ tục thương lượng tại cơ quan có Trách nhiệm bồi thường là một thủ tục bắt buộc trong việc giải quyết bồi thường trong Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước. Bởi lẽ, Điều 3 Nghị định số 47/CP quy định người bị thiệt hại có thể khởi kiện thẳng ra Toà án để giải quyết việc bồi thường dẫn đến việc cơ quan có Trách nhiệm bồi thường chưa thực hiện đúng và đủ vai trò thực hiện giải quyết bồi thường của mình và gây quá tải cho hoạt động giải quyết bồi thường tại Tòa án. Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định chặt chẽ, chi tiết về thương lượng việc bồi thường tại cơ quan có Trách nhiệm bồi thường trước khi khởi kiện ra Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Đây được coi là thủ tục bắt buộc khi thực hiện việc giải quyết bồi thường. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước thống nhất về mặt bằng pháp lý trong việc giải quyết bồi thường giữa các lĩnh vực quản lý hành chính, tố tụng và thi hành án bởi lẽ Nghị định số 47/CP và Nghị quyết 388 quy định về trình tự, thủ tục thực hiện giải quyết bồi thường chưa thống nhất, cụ thể là: về căn cứ yêu cầu bồi thường, Nghị định số 47/CP cho phép người bị thiệt hại có quyền yêu cầu bồi thường ngay trong khi đó, Nghị quyết số 388 chỉ cho phép người bị thiệt hại được quyền yêu cầu bồi thường khi đã có văn bản xác định thuộc trường hợp bị oan – hay thuộc trường hợp được bồi thường. Về thủ tục thương lượng việc bồi thường, tại Điều 3 Nghị định số 47/CP quy định người bị thiệt hại có thể lựa chọn giữa việc yêu cầu cơ quan có Trách nhiệm bồi thường thực hiện giải quyết bồi thường hoặc kiện thẳng ra Toà án giải quyết trong khi tại Điều 3 Nghị quyết 388 quy định rõ nguyên tắc giải quyết bồi thường bắt buộc phải thông qua thủ tục thương lượng tại cơ quan có Trách nhiệm bồi thường và người bị thiệt hại chỉ có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết việc bồi thường khi hết thời hạn theo quy định mà cơ quan có Trách nhiệm bồi thường không tiến hành thương lượng hoặc trường hợp thương lượng không thành. Về hình thức thể hiện kết quả thương lượng, tại Điều 6 Thông tư số 54 chỉ quy định việc lập biên bản đối với trường hợp thương lượng thành, còn đối với trường hợp thương lượng không thành thì không phải lập biên bản mà lập thành hồ sơ vụ việc để đề nghị Toà án giải quyết. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 11 Nghị quyết 388, việc có thương lượng được với người bị thiệt hại hay không thì cơ quan có Trách nhiệm bồi thường vẫn phải lập cả biên bản thương lượng thành để ra quyết định bồi thường và biên bản thương lượng không thành để người bị thiệt hại có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết. Từ thực trạng đó cho thấy các văn bản hướng dẫn này chưa đầy đủ và đồng bộ, do đó, một trong những mục đích đặt ra khi ban hành Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước là “nhất thể hoá pháp luật về bồi thường thiệt hại do người thi hành công vụ gây ra, khắc phục tình trạng tồn tại hai mặt bằng pháp lý về bồi thường thiệt hại trong hoạt động hành chính và tố tụng hình sự hiện nay” [9, tr.2], theo đó, Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước về cơ bản đã khắc phục được những nhược điểm nêu trên khi quy định chi tiết về căn cứ yêu cầu bồi thường; thụ lý đơn yêu cầu bồi thường; xác minh thiệt hại; thương lượng việc bồi thường; ra quyết định giải quyết bồi thường và giải quyết bồi thường tại Tòa án theo thủ tục Tố tụng dân sự.

Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước quy định cụ thể hơn một số bước trong thủ tục giải quyết bồi thường thông qua hai giai đoạn: thủ tục thương lượng bắt buộc tại cơ quan có Trách nhiệm bồi thường (thương lượng ngoài tố tụng) và thủ tục giải quyết bồi thường tại Tòa án thông qua thủ tục Tố tụng dân sự.

Tóm lại, việc kế thừa, từng bước pháp điển hoá các quy định pháp luật còn phù hợp về Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trước đây, đồng thời, tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của các quốc gia về bồi thường nhà nước có thể vận dụng được phù hợp với điều kiện của nước ta, đã hình thành nên một đạo luật, một cơ chế thực hiện và bảo vệ, thúc đẩy các quyền con người ở Việt Nam về Bồi thường nhà nước một cách toàn diện và phù hợp với bối cảnh của đất nước và phù hợp với các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Thực trạng bảo vệ quyền con người trong pháp luật

One thought on “Luận văn: Bảo vệ quyền con người trong pháp luật Việt Nam

  1. Pingback: Luận văn: Giải pháp bảo vệ quyền con người trong pháp luật

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464