Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn thực hiện chế định kết hôn và một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định kết hôn dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
3.1 NHỮNG VƯỚNG MẮC, BẤT CẬP TỪ THỰC TIỄN THỰC HIỆN CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN
Qua hơn 13 năm thực hiện, Luật HN&GĐ năm 2000 đã chứng tỏ nhiều ưu điểm tích cực, góp phần xây dựng gia đình hạnh phúc, tiến bộ, có tác động tích cực đối với việc bảo đảm các quyền dân sự nói chung, quyền về HN&GĐ nói riêng, phần nào đáp ứng được yêu cầu đổi mới của xã hội. Tuy nhiên, việc thực hiện quy định về kết hôn trong thực tế đã bắt đầu bộc lộ những hạn chế, thiếu sót, gây ra một số bất cập.
3.1.1. Thực tiễn thực hiện điều kiện kết hôn
- Về độ tuổi kết hôn
Số liệu thống kê chính thức của các cơ quan liên quan thuộc Liên hợp quốc cho thấy hiện có tới 30% các thiếu nữ sinh sống tại các nước đang phát triển lập gia đình khi chưa tròn 18 tuổi, thậm chí có tới 14% các cô bé đi lấy chồng lúc dưới 15 tuổi. Trung bình mỗi năm trên toàn thế giới có khoảng 16 triệu trẻ sơ sinh được chào đời từ những bà mẹ trong độ tuổi từ 15 đến 19 tuổi, chiếm khoảng 11% tổng số sản phụ toàn cầu [54].
Ở Việt Nam, phụ nữ dân tộc thiểu số sống ở nông thôn vùng Tây Bắc, Tây Nguyên và đồng bằng sông Cửu Long là đối tượng trọng điểm của vấn nạn tảo hôn và kết hôn sớm. Tại xã Lóng Luông, huyện Mộc Châu, tỉnh Sơn La có tới 52% cặp vợ chồng kết hôn ở lứa tuổi 12 – 17 tuổi; xã Vân Hồ, tỷ lệ tảo hôn là 68%; xã có tỷ lệ tảo hôn thấp nhất là Muổi Nọi, huyện Thuận Châu cũng ở mức 27%. Kết quả điều tra của Trung tâm Truyền thông và sức khỏe trong 3 năm gần đây cũng chỉ ra dân tộc Mông có tỷ lệ tảo hôn cao nhất vùng núi phía Bắc với 33%, dân tộc Thái chiếm 23,1%, dân tộc Mường chiếm 15,8% [25].
Nguyên nhân của thực trạng tảo hôn trước hết là do bị ảnh hưởng bởi sức ép về phong tục tập quán, tập tục kết hôn sớm đã ăn sâu vào nếp sống, nếp nghĩ của người dân, đặc biệt là đồng bào dân tộc ít người. Cùng với đó là do trình độ dân trí thấp, nhận thức xã hội còn nhiều hạn chế, địa bàn cư trú chủ yếu ở vùng sâu, vùng xa nên phần lớn người dân ít có điều kiện tiếp cận thông tin, chưa hiểu rõ những hệ lụy từ tảo hôn. Bên cạnh đó, chính quyền, ban, ngành, đoàn thể ở nhiều nơi chưa thật sự quan tâm, chú trọng hoạt động tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật, nhất là Luật HN&GĐ năm 2000. Trong khi quy định xử lý các trường hợp vi phạm Luật HN&GĐ năm 2000 chưa nghiêm – mức xử phạt trong trường hợp tổ chức tảo hôn là 200.000 đồng thì việc xử phạt ở nhiều nơi đôi khi còn chiếu lệ… Ngoài ra, thực tiễn trong cuộc sống có nhiều bậc cha mẹ tổ chức đám cưới cho con chưa thành niên đều rơi vào “hoàn cảnh bắt buộc” – phải tổ chức để giải quyết hậu quả tình trạng quan hệ tình dục không an toàn của con trẻ… Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Những nghiên cứu của ngành y tế cho thấy: tảo hôn là nguyên nhân chính dẫn đến sự suy giảm của chất lượng dân số, gây ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ và tính mạng của trẻ sơ sinh, tỷ lệ các đối tượng tảo hôn sinh con nhẹ cân (dưới 2.500g) chiếm đến 33,44%. Tỷ lệ những đứa trẻ sinh ra bị bệnh và dị tật bẩm sinh chiếm 3%, những đứa trẻ sinh ra bởi những cặp tảo hôn thường chiếm tỷ lệ cao hơn. Hậu quả của tảo hôn là một trong những nguyên nhân dẫn đến chất lượng dân số thấp, thể hiện ở tỷ lệ dân số nước ta bị thiểu năng về thể lực, trí tuệ chiếm 1,5%; số người bị tàn tật, khuyết tật chiếm 6,3%; tầm vóc, thể lực con người còn hạn chế, chỉ số phát triển con người ở nước ta ở mức thấp hơn nhiều so với nhiều nước trong khu vực và thấp xa so với các nước công nghiệp có trình độ trung bình… [55].
Những hệ lụy do tảo hôn gây ra ảnh hưởng đến sự nghiêm minh của pháp luật, đến chủ trương của Đảng và Nhà nước ta về xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc, bền vững. Phần lớn các cặp vợ chồng trẻ tảo hôn do tuổi đời còn ít, khi bỏ học lấy vợ lấy chồng mất cơ hội học tập so với bạn bè cùng lứa tuổi nên thiếu hụt kiến thức xã hội, nhiều cặp tảo hôn là hộ nghèo, không có việc làm ổn định, thiếu kinh nghiệm cuộc sống, sau khi kết hôn phải lo toan cho cuộc sống gia đình nên gặp rất nhiều khó khăn về kinh tế và dễ dẫn đến phá vỡ hạnh phúc gia đình. Ví dụ như trường hợp gia đình bà Lường Thị Rươi ở Bản Pán 1 (xã Chiềng Ly, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La). Chỉ nằm cách trung tâm huyện chưa đến 1km nhưng ở đây bà không hề nhận thức được những hệ quả do tình trạng tảo hôn gây ra. Chính vì thế, khi con gái mới 16 tuổi, đã nghỉ học để đi lấy chồng thì gia đình bà không hề phản đối. Đến bây giờ, khi con gái lấy chồng sinh con thì bà mới biết được hậu quả của việc cho con lấy chồng sớm. Bà Rươi chia sẻ các bạn của cháu giờ được đi học đầy đủ, còn cháu thì ở nhà nuôi con nhỏ, công việc thì không có, vất vả lắm nhưng gia đình không giúp được gì. Cũng tại tỉnh Sơn La, trường hợp của em Quàng Thị Lan (bản Nà Hay, xã Thôm Mòn, huyện Thuận Châu) là một minh chứng cho tác hại của việc tảo hôn. Lan cho biết, năm 16 tuổi khi đang học phổ thông em đã bỏ học ở nhà lấy chồng, sinh con. Tuy nhiên, đến nay khi con đã gần 1 năm tuổi nhưng vẫn gầy gò, đau ốm thường xuyên và chỉ nặng chưa đến 5kg. Khi đến bệnh viện khám, được các bác sỹ giải thích, Lan mới biết do mang thai ở lứa tuổi vị thành niên, cơ thể chưa phát triển hoàn thiện, chưa đủ các điều kiện để nuôi dưỡng bào thai nên đã ảnh hưởng tới sự phát triển bình thường của thai nhi và dẫn đến việc suy dinh dưỡng của con khi sinh ra [49].
Khoản 1 Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định tuổi kết hôn là “nam từ hai mươi tuổi trở lên, nữ từ mười tám tuổi trở lên”. Đây là quy định độ tuổi tối thiểu cần có ở người nam hay người nữ khi kết hôn. Quy định về tuổi kết hôn hiện hành về cơ bản đã đóng góp tích cực trong xây dựng chế độ hôn nhân lành mạnh, hạnh phúc và bền vững; bảo đảm cho cá nhân có được sự phát triển cần thiết về thể chất, trí tuệ, kinh nghiệm xã hội, từ đó tạo điều kiện cho họ thực hiện tốt các quyền, nghĩa vụ trong HN&GĐ.
- Tuy nhiên, qua thực tiễn thi hành, quy định về tuổi kết hôn đã phát sinh bất cập, hạn chế sau:
Về năng lực chủ thể, quy định về tuổi kết hôn chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với quy định về người đã thành niên trong BLDS. Theo Điều 19 BLDS, người đã thành niên có đầy đủ năng lực hành vi dân sự là người từ đủ 18 tuổi trở lên không bị mất năng lực hành vi dân sự hoặc bị hạn chế năng lực hành vi dân sự thì được tham gia tất cả các quan hệ dân sự. Nhiều luật liên quan cũng đã thừa nhận năng lực chủ thể của cả nam và nữ là đủ 18 tuổi. Ví dụ: Điều 12 Luật Nghĩa vụ quân sự quy định công dân nam giới đủ 18 tuổi được gọi nhập ngũ; lứa tuổi gọi nhập ngũ từ đủ 18 tuổi đến hết 27 tuổi. Đối với nữ, việc kết hôn của nữ bước sang tuổi 18 được coi là hợp pháp, nhưng pháp luật chưa có quy định cụ thể về quyền của họ trong tham gia các giao dịch, trong khi theo pháp luật hiện hành, nhiều giao dịch (về bất động sản, tín dụng…) đòi hỏi chủ thể của giao dịch phải là người từ đủ 18 tuổi trở lên. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Về năng lực tham gia tố tụng, khoản 3 Điều 57 BLTTDS quy định một cá nhân chỉ có thể tự mình tham gia quan hệ tố tụng khi đã đủ 18 tuổi trở lên. Trong khi đó, Điều 9 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định, nữ bước sang tuổi 18 mà kết hôn được coi là hợp pháp và họ được quyền tự do ly hôn. Tuy nhiên, quyền tự do ly hôn của họ không thể thực hiện được nếu sau khi kết hôn và đến thời điểm có yêu cầu ly hôn họ chưa đủ 18 tuổi.
- Về sự tự nguyện của các bên kết hôn
Các hành vi lừa dối, cưỡng ép người khác kết hôn vẫn còn tồn tại với nhiều mục đích và biểu hiện khác nhau như: Kết hôn nhằm che giấu tiền án tiền sự, tránh sự truy nã của cảnh sát, dùng vật chất để cưỡng ép như cho vay với lãi suất cao rồi tìm mọi cách để bắt họ kết hôn để trừ nợ; lừa đảo chiếm đoạt tài sản rồi dùng nó để làm điều kiện trao đổi, cha mẹ hai bên đã từng có hứa hẹn nên ép con cái của họ kết hôn với nhau… Những hành động ép buộc trên xâm phạm nguyên tắc hôn nhân tự nguyện, tiến bộ và đi ngược với tinh thần của pháp luật HN&GĐ Việt Nam hiện nay, đáng bị lên án và trừng phạt.
Ngoài ra, thực tế hiện nay còn có trường hợp kết hôn giả tạo, có thể một bên lừa dối bên kia xác lập quan hệ hôn nhân nhưng không nhằm mục đích xây dựng gia đình. Trường hợp đặc biệt là cả hai bên cùng che mắt cơ quan chức năng, thể hiện sự “tự nguyện” kết hôn nhưng che đậy một mục đích khác. Hiện tượng “kết hôn giả” giữa anh em, chú cháu với mục đích xuất cảnh, nhập hộ khẩu nước ngoài diễn ra khá phổ biến ở nước ta nhất là trong giai đoạn hiện nay. Những cuộc kết hôn này không vì mục đích chung sống lâu dài, vi phạm điều cấm của Luật HN&GĐ năm 2000 làm ảnh hưởng đến đạo đức và truyền thống hôn nhân gia đình Việt Nam. Do đó, khi bị phát hiện và có yêu cầu Tòa án xem xét và có thể ra quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật, đồng thời tùy từng mức độ có thể bị xử phạt hành chính hoặc hình sự nhằm thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật. Tại thành phố Đà Nẵng, từ khi triển khai thực hiện Nghị định số 68/2002/NĐ-CP ngày 10/7/2002 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật HN&GĐ về quan hệ HN&GĐ có yếu tố nước ngoài đến năm 2012, Sở Tư pháp Đà Nẵng đã phối hợp với Công an thành phố điều tra, xác minh 46 trường hợp kết hôn có yếu tố nước ngoài. Qua đó đã phát hiện và ngăn chặn kịp thời 24 trường hợp đăng ký kết hôn không vì mục đích hôn nhân tiến bộ, tự nguyện. Trong đó có 4 trường hợp có quan hệ huyết thống trong phạm vi 3 đời; 1 trường hợp chưa đủ tuổi kết hôn theo quy định nhưng sửa chữa hộ tịch; 9 trường hợp đang có vợ, chồng nhưng vẫn làm thủ tục đăng ký kết hôn; 7 trường hợp kết hôn với anh, em, cháu gái, cháu của bên vợ (chồng) nhằm mục đích bảo lãnh để xuất cảnh và 3 trường hợp người Việt Nam định cư tại Canada ghép hồ sơ theo kiểu “có qua có lại” nhằm kết hôn với người thân, họ hàng của nhau để bảo lãnh xuất cảnh. Ví dụ: Anh V.B.T (sinh năm 1973) ở phường 1, quận Sơn Trà, Đà Nẵng có quan hệ bà con gần với cô V.T.Y.V (sinh năm 1975) đang sinh sống tại Canađa. Mẹ anh T. là chị ruột của mẹ cô V. Để làm thủ tục bảo lãnh cho anh T qua Canađa, gia đình đã bàn bạc thống nhất cho hai người lấy nhau bất chấp quan hệ họ hàng gần trong phạm vi ba đời. Sau lễ cưới, cô V về Canađa và không trở lại Việt Nam. Anh T đành nhờ tòa án giải quyết quan hệ hôn nhân để tính chuyện tương lai cho mình [11]. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Nếu phát hiện thấy dấu hiệu nghi ngờ, cơ quan chức năng phải xác minh cẩn trọng trước khi thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn, nhằm tránh những hậu quả đáng tiếc, làm ảnh hưởng đến tính nghiêm minh của các quy phạm pháp luật về HN&GĐ. Có thể thấy việc kết hôn giả tạo đang là vấn đề nóng bỏng rất cần được Nhà nước quan tâm để đảm bảo những quy định của pháp luật về kết hôn được thực hiện nghiêm minh và chặt chẽ.
Hiện nay, theo quy định của pháp luật hai bên nam nữ buộc phải có mặt khi đăng ký kết hôn, họ phải thể hiện ý chí của mình trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Tuy nhiên, khi xác minh chúng ta chỉ có thể căn cứ vào lời khai của người kết hôn. Lời khai của họ thường phản ánh ý chí chủ quan của bản thân họ, trong khi đó, trước khi họ thể hiện ý chí trước cơ quan nhà nước, có thể họ đã bị khống chế. Vì vậy, đây là trường hợp vi phạm rất khó phát hiện ở giai đoạn đầu khi tiếp nhận hồ sơ đăng ký kết hôn. Mặt khác, nếu có vi phạm thì người có quyền yêu cầu xử lý cũng phải là một trong hai bên chủ thể mà không thể là ai khác. Bởi lẽ, chỉ những người trong cuộc mới biết được họ có tự nguyện hay không. Vì vậy, nếu ai đó tiếp tục khống chế thì người bị cưỡng ép khó thể hiện ý chí của mình trước cơ quan có thẩm quyền về việc kết hôn vi phạm sự tự nguyện.
- Các trường hợp cấm kết hôn
Kết hôn khi đang có vợ hoặc có chồng: Ngoài trường hợp thừa nhận hôn nhân đối với trường hợp cán bộ, bộ đội miền Nam đã có vợ hoặc chồng ở miền Nam, tập kết ra Bắc (1954) lại lấy vợ hoặc chồng khác và một số trường hợp theo Nghị quyết số 35/2000/NQ-QH10 thì Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cấm kết hôn giữa những người đang có vợ hoặc có chồng. Tuy nhiên, hủ tục lấy nhiều vợ, nhiều chồng của đồng bào các dân tộc vẫn còn tồn tại nhiều nơi. Ở xã Xa Dung, huyện Điện Biên Đông, tỉnh Điện Biên còn nhiều trường hợp lấy hai vợ vì “ưng cái bụng” hay muốn có con trai nối dõi… Trong xã có 20 bản, người Mông chiếm 80%, còn lại là người Thái, có 8 người đàn ông lấy vợ hai, vợ ba. Ông Chá Già Lử (48 tuổi) có 2 vợ và 10 người con; ông Lầu Chứ Di (60 tuổi) có 3 vợ và 8 người con. Tất cả người vợ này đều được “bắt vợ” công khai và chung sống cùng một nhà. Ông Vừa Xô Dày, Chủ tịch UBND xã Xa Dung cho biết, quan niệm “mười gái chẳng bằng một trai” của người Mông và phong tục đa thê xảy ra đã kéo tụt mọi thành quả, nỗ lực thoát nghèo của chính quyền xã [53].
Không chỉ xảy ra ở các huyện miền núi, vùng sâu vùng xa, mà ở ngay tại Vân Côn, một xã của huyện Hoài Đức, Hà Nội, tình trạng đa thê cũng diễn ra như chuyện hết sức “bình thường”. Thế hệ các bác 50-60 tuổi thì có nhiều người được vợ cả gánh lễ đi hỏi vợ hai cho. Những người trẻ hơn thì không có chuyện cưới hỏi như thế nữa vì pháp luật không cho phép, nhưng việc tình trạng vợ hai, vợ ba kiểu “không báo cáo chính quyền” thì không phải là hiếm. Ví dụ trường hợp ông giáo Trần L vốn là hiệu trưởng một trường trong xã đã nghỉ hưu lại nổi tiếng với thành tích “mía ngọt đánh cả cụm”, ông đã lấy hai vợ là hai chị em ruột và có ba người con với hai người vợ này [37]. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Nguyên nhân sâu xa khiến tình trạng đa thê diễn ra nhiều là do sự hiểu biết pháp luật của người dân còn thấp kém, quan niệm phong kiến phải có con trai nối dõi vẫn còn phổ biến trong tâm thức của người đàn ông. Bên cạnh đó, việc thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn ở chính quyền địa phương chưa được thực hiện nghiêm. Nhiều người khi lấy vợ đầu có đăng ký theo đúng pháp luật, nhưng người vợ sau họ chỉ làm đám cưới hoặc về sống cùng với nhau, vì vậy gây khó khăn cho chính quyền địa phương trong công tác quản lý.
Bên cạnh việc lấy nhiều vợ, nhiều chồng cũng cần phải nói đến nạn ngoại tình hiện nay. Do mặt trái của kinh tế thị trường dẫn đến sự xuống cấp về đạo đức, tác động đến quan hệ vợ chồng, hiện tượng ngoại tình diễn ra ngày một nhiều, ngoại tình không chỉ có ở người chồng mà còn xảy ra ở người vợ, trong giới trẻ và cả ở người lớn tuổi. Ngoại tình làm tan vỡ gia đình, kéo theo đó là nguy cơ lây nhiễm các bệnh xã hội, khiến con người bị mất niềm tin vào cuộc sống, ảnh hưởng tới cuộc sống gia đình, tâm lý của các con… Tuy nhiên, theo pháp luật hiện hành, để xử phạt vi phạm hành chính đối với việc vi phạm chế độ một vợ một chồng thì phải có yếu tố “chung sống như vợ chồng”. Theo Thông tư liên tịch số 01 thì: “Việc chung sống như vợ chồng phải được chứng minh bằng việc có con chung, được hàng xóm và xã hội xung quanh coi như vợ chồng, có tài sản chung đã được gia đình, cơ quan, đoàn thể giáo dục mà vẫn tiếp tục duy trì quan hệ đó” [59]. Vì vậy, muốn phạt hành chính người ngoại tình phải chứng minh được ba yếu tố: họ có con chung, có tài sản chung, quan hệ chung sống phải được hàng xóm xác nhận. Trong thực tế có những người ngoại tình cả chục năm mà nếu họ và tình nhân không có con chung, không chứng minh được giữa họ có tài sản chung thì cũng khó có thể xử phạt được họ mà chỉ vi phạm về mặt đạo đức và bị xã hội lên án.
- Người bị mất năng lực hành vi dân sự vẫn kết hôn Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Luật HN&GĐ năm 2000 không cấm những người bị các bệnh thông thường trong đó có các bệnh tâm thần thể nhẹ kết hôn. Song thực tế cho thấy nhiều cuộc hôn nhân của người có liên quan đến bệnh tâm thần đã gây ra nhiều phiền toái, những hậu quả đáng tiếc. Ví dụ: Dù biết rõ anh Nguyễn Văn B mắc bệnh tâm thần từ lâu nhưng do “quá lứa lỡ thì”, lại bị gia đình ép buộc nên chị Trần Thị T vẫn quyết định về làm vợ anh B. Ban đầu, chị chỉ nghĩ đơn giản: Trước kia gia đình anh B sống với anh không việc gì thì chị về làm vợ, sống chung một mái nhà với anh chắc cũng không làm sao. Sóng gió, bất hạnh ập đến với chị T khi chồng chị ngày một nặng bệnh hơn với những biểu hiện “lên cơn” rất hung dữ, anh thường xuyên đánh đập chị tàn nhẫn. Khi chị mang thai tháng thứ 3, một đêm, đang nằm ngủ thì bị chồng cầm thanh gỗ phang tới tấp vào người, kết quả là đứa con của chị khi sinh ra ngoài chứng tâm thần bẩm sinh còn teo tóp chân tay. Chính quyền địa phương can thiệp bằng cách đưa anh vào bệnh viện tâm thần của tỉnh. Từ đây, chị mới thoát cảnh đòn roi của anh B nhưng hàng tháng phải ra vào bệnh viện thăm nom chồng. Đã vậy, chị phải chăm bẵm đứa con tật nguyền, sống vô thức, không phát triển trí tuệ. Tương lai của cuộc đời chị chẳng có một tia hy vọng nào…Qua trường hợp này rõ ràng cần có sự quản lý chặt chẽ hơn về vấn đề kết hôn của người mắc bệnh tâm thần để bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em sinh ra không may bị mắc bệnh bẩm sinh.
Trường hợp trên, con sinh ra bị mắc bệnh tâm thần bẩm sinh, gây ảnh hưởng suốt đời và tạo nên gánh nặng cho gia đình và xã hội. Theo bác sỹ Nguyễn Văn Thịnh – Phó giám đốc bệnh viện tâm thần Trung ương xét về mặt y học biểu hiện của bệnh nhân tâm thần là khá phức tạp, người bệnh thường có những suy nghĩ hoang tưởng, hành vi bộc phát và những biểu hiện của bệnh rất khó đoán trước. Do đó, người bệnh tâm thần không có sự đảm bảo một cuộc sống gia đình yên ổn và sự an toàn cho người thân trong gia đình. Gia đình người bệnh tâm thần cần có những kỹ năng chung sống cần thiết và vấn đề quan trọng ở đây là: Người mắc bệnh tâm thần kết hôn hay không đều cần có sự tư vấn của bác sỹ chuyên khoa. Trong trường hợp mắc bệnh nhẹ (như trầm cảm) người bệnh có thể kết hôn nếu tìm được người yêu thương. Trong trường hợp này cũng có thể coi đó cũng là cách trị bệnh. Nhưng nếu bệnh nhân mắc bệnh lâu ngày và càng có xu hướng tăng nặng thì không nên kết hôn để tránh những bi kịch xảy ra cho gia đình. Và trong bất cứ tình huống nào, người mắc bệnh tâm thần cũng hạn chế sinh con để không ảnh hưởng đến sức khỏe con cái sau này… Vì vậy, trước khi tiến hành một cuộc hôn nhân các bên luôn cần có sự tìm hiểu, suy xét kĩ lưỡng về sức khỏe của bản thân cũng như người vợ (chồng) tương lai để không ai phải gánh chịu những kết cuộc buồn, những nỗi đau không thể hàn gắn được. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Hiện nay, theo quy định của BLDS thì người mất năng lực hành vi dân sự là người mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác dẫn đến mất khả năng nhận thức, điều khiển hành vi của mình bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự trên cơ sở yêu cầu của những người có quyền lợi liên quan. Do đó, một người dù không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng không có yêu cầu tòa án tuyên bố người đó mất năng lực hành vi dân sự thì người đó vẫn chưa bị coi là mất năng lực hành vi dân sự nên họ vẫn có quyền kết hôn. Thực tế cho thấy có rất ít trường hợp những người thân thích (như cha, mẹ, ông bà nội, ông bà ngoại, anh, chị, em) yêu cầu Tòa án tuyên bố người thân của mình bị mất năng lực hành vi dân sự. Pháp luật HN&GĐ không buộc gia đình, người thân và những người khác biết về bệnh của người mắc bệnh tâm thần và các bệnh khác mất khả năng nhận thức phải khai báo hoặc cam đoan trước cơ quan đăng ký kết hôn. Đối với trường hợp chưa bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự theo quy định trên thì còn có những cách hiểu khác nhau trong áp dụng pháp luật như: (1) vẫn được kết hôn vì không vi phạm điều cấm; (2) không được kết hôn do vi phạm điều kiện về tự nguyện trong kết hôn được quy định tại khoản 2 Điều 9… Nhiều vụ việc Tòa án thụ lý giải quyết theo yêu cầu cơ quan có thẩm quyền về hủy việc kết hôn trái pháp luật do vi phạm Khoản 2 Điều 10, nhưng bản thân đương sự, gia đình đương sự đã phản đối và UBND nơi cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn cũng đã không đồng tình với quyết định của Tòa án vì cho rằng, việc đăng ký kết hôn trong trường hợp này là đúng luật. Bên cạnh đó, hiện nay, khi đăng ký kết hôn, ngoài giấy chứng nhận độc thân để xác định chưa có vợ có chồng thì không cần một loại giấy tờ nào khác chứng nhận về tình trạng sức khỏe hiện nay của hai bên. Vì vậy, khi có yêu cầu kết hôn với người bị bệnh tâm thần hoặc bệnh khác mà dẫn đến không còn khả năng nhận thức và điều khiển hành vi thì cơ quan có thẩm quyền đăng ký kết hôn sẽ rất lúng túng và khó xử lý.
Tình trạng kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời Theo thống kê của trung tâm nghiên cứu và phát triển dân số (Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình, Bộ Y tế), tại một số dân tộc như Lô Lô, Hà Nhì, Phù Lá, Chứt, Ê đê, Chu Ru, Chứt… và đặc biệt là các dân tộc Si La (Điện Biên, Lai Châu), Lô Lô, Pu Péo (Hà Giang), Mông Xanh (Lào Cai), Rơ Mân, Brâu (Kon Tum) thì cứ 100 trường hợp kết hôn thì có 10 trường hợp là hôn nhân cận huyết thống [24]. Và họ đang là những dân tộc ít người có nguy cơ suy giảm số lượng và chất lượng dân số rõ rệt nhất do tình trạng giao phối hôn nhân cận huyết gây ra. Cũng theo tài liệu khảo cứu của trung tâm này, thì có vùng đồng bào dân tộc vẫn áp dụng hôn nhân cận huyết thống một cách triệt để đến mức, chỉ cho phép những người trong cùng họ hàng, huyết thống lấy nhau, nếu vi phạm sẽ bị phạt… Cũng theo thống kê của Tổng cục Dân số – Kế hoạch hóa gia đình: Trong 5 năm trở lại đây, tại 13 tỉnh miền núi, số cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống có xu hướng gia tăng. Ước tính, trung bình mỗi năm có thêm 100 cặp vợ chồng kết hôn cận huyết thống. Tình trạng này đã và đang diễn ra tại các tỉnh Hòa Bình, Lào Cai, Điện Biên, Cao Bằng, Bắc Kạn… Đây là một trong những nguyên nhân làm suy thoái chất lượng giống nòi, làm ảnh hưởng đến chất lượng dân số của các tỉnh miền núi [24].
Theo PGS.TS Trần Đức Phấn – trưởng bộ môn Sinh y học và Di truyền, Đại học Y Hà Nội thì: Hầu hết những đứa trẻ sinh ra từ các cặp vợ chồng hôn nhân cận huyết thống rất dễ có nguy cơ mắc các bệnh di truyền do sự ảnh hưởng của môi trường đối với sự kết hợp của các gien lặn mang bệnh. Các bệnh thường gặp phổ biến như: hồng cầu hình liềm, rối loạn chuyển hóa, thiếu enzim G6PD (Enzim bảo vệ tế bào), tan máu bẩm sinh (Thalassemia), trẻ có thể bị biến dạng xương mặt, bụng phình to, có thể dẫn đến nguy cơ tử vong. Theo số liệu mà bệnh viện Nhi Trung ương có được thì hiện nay, có khoảng 5 triệu trẻ em đang mang gien mầm bệnh di truyền do đột biến gien từ hôn nhân cận huyết thống. Đó là bệnh thiếu máu và lùn bẩm sinh [24].
Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: Cấm kết hôn giữa những người có cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời. Ngoài yếu tố đạo đức và phong tục, việc cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu trực hệ nhằm duy trì sự khỏe mạnh của thế hệ sau là cần thiết. Nhưng vấn đề kết hôn cận huyết thống khó kiểm soát, quản lý, ngăn cấm hơn tại các cộng đồng dân tộc thiểu số vì người dân ở đây hầu hết đều sống theo hủ tục này. Tập tục này trở thành một phần trong đời sống văn hóa của dân tộc đó nên rất khó để xóa bỏ trong thời gian ngắn. Trong quan niệm của họ, vấn đề này được xử lý ở góc độ tình cảm, thói quen chứ không hề xem xét đến khía cạnh luật pháp, chỉ cần hai bên gia đình đồng ý là nên vợ, nên chồng. Thực tế, cán bộ tư pháp địa phương nắm bắt được tình hình nhưng không thể giải quyết trước tình trạng “phép vua thua lệ làng”, dù đã sử dụng các biện pháp khuyến khích, vận động, giảng giải cho người dân hiểu được những vấn đề mà con cháu họ sẽ gặp phải nếu kết hôn cùng huyết thống. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Quy định về cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ, giữa những người có họ trong phạm vi ba đời có tính khả thi thấp khi áp dụng tại các vùng dân tộc thiểu số. Thực tế, một số Tòa án địa phương đã có quyết định hủy kết hôn trái pháp luật đối với các trường hợp tảo hôn, kết hôn cận huyết thống… nhưng thường khó được thi hành, có những trường hợp nộp phạt hành chính rồi vẫn tiếp tục ở với nhau nên chế tài này hiện nay đang bị người dân phớt lờ. Ngoài ra, do tảo hôn và kết hôn cận huyết thống không thể được đăng kết hôn tại UBND, nên những trường hợp này thường là những cặp nam nữ sống chung như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn [10].
Có nhiều lý do từ thực trạng kết hôn cận huyết ở một số địa phương, trong đó: (1) do ảnh hưởng của tập tục (bị thúc ép lấy vợ, chồng sớm để có người lao động, có người nối dõi); (2) Nam, nữ thanh niên thuộc đồng bào dân tộc ít người ít có điều kiện học tập nâng cao sự hiểu biết về quyền và nghĩa vụ trong hôn nhân, gia đình nói riêng và quyền, nghĩa vụ pháp lý nói chung; (3) công tác quản lý nhà nước còn nhiều bất cập, các vụ việc xử lý hành chính, hình sự về vi phạm chế độ hôn nhân, gia đình nói chung về các hành vi vi phạm điều kiện cận huyết nói riêng ít được giải quyết trên thực tế; cán bộ hộ tịch ở một số địa phương vì nhiều lý do cũng không nắm bắt đầy đủ các thông tin về thực trạng kết hôn cận huyết dẫn tới có nhiều khó khăn trong việc đưa ra những giải pháp khắc phục tình trạng trên.
- Những người có quan hệ thân thích kết hôn với nhau
Khoản 4 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định cấm kết hôn “giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng” [42]. Việc cấm những người này kết hôn là xuất phát trên cơ sở đạo đức và phong tục tập quán. Việc kết hôn giữa những người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, giữa những người đã từng có quan hệ bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng tuy không có ảnh hưởng về gen di truyền đối với thế hệ con cái, nhưng làm đảo lộn thứ bậc và các quan hệ trong gia đình, không đảm bảo duy trì được trật tự trong gia đình và từ đó sẽ ảnh hưởng đến các giá trị đạo đức của gia đình và xã hội. Với xu hướng việc ly hôn ngày càng tăng, những người đã ly hôn tái hôn thành lập những gia đình mới cũng có nhiều hơn, nên quan hệ giữa những người trên sẽ ngày càng nhiều, vì vậy việc cấm những người này kết hôn với nhau là phù hợp và cần thiết. Tuy nhiên áp dụng quy định này trong việc xác định các điều kiện của người kết hôn là rất khó, nhất là khi các đương sự không tự giác, vì giữa những người đã từng có quan hệ là bố chồng với con dâu, mẹ với con rể, con riêng với bố dượng hoặc với mẹ kế… không có căn cứ nào để xác định. Quan hệ đó không được thể hiện trên bất cứ loại giấy tờ nào, trừ sổ hộ khẩu nếu họ có chung sống với nhau. Đặc biệt trong trường hợp những người này cố tình giấu giếm những quan hệ trong quá khứ đó, di chuyển đến nơi khác sinh sống cư trú để kết hôn với nhau, thì cán bộ có thẩm quyền đăng ký kết hôn không thể phát hiện được sự khuất tất này nên sẽ đăng ký kết hôn cho họ mà không thể biết là đã vi phạm pháp luật.
Bên cạnh đó, việc kết hôn giữa con riêng của chồng và con riêng của vợ, giữa những người con nuôi hoặc giữa con đẻ với con nuôi trong một gia đình chưa từng được dự liệu trong Luật HN&GĐ năm 2000 nhưng là một thực tế cần quan tâm. Các chủ thể trên là anh chị em trong gia đình, nhưng giữa họ lại không có quan hệ huyết thống và không có quan hệ họ hàng, vậy nếu phát sinh việc kết hôn với nhau thì giải quyết ra sao? Có nhiều quan điểm cho rằng, về mặt đạo đức chúng ta không thể hoặc khó chấp nhận con riêng của vợ với con riêng của chồng, các người con nuôi của cùng cha mẹ nuôi hoặc con đẻ với con nuôi kết hôn với nhau, mặc dù về huyết thống không có ảnh hưởng tiêu cực cho nòi giống. Khi hai người kết hôn có quan hệ như trên yêu cầu chính quyền cho đăng ký kết hôn thì cán bộ hộ tịch không tìm ra quy định pháp luật để giải quyết. Còn đôi uyên ương lại lý sự: “Chúng tôi được làm những gì pháp luật không cấm!”. Điều này đã gây khó khăn, lúng túng cho cán bộ hộ tịch.
- Kết hôn giữa những người cùng giới tính Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Quan hệ đồng giới là một vấn đề rất phức tạp, đang có xu hướng lan rộng và trong dư luận xã hội đang dấy lên nhiều ý kiến trái ngược nhau: đồng ý hay là phản đối. Trong thời gian qua, nhiều người đồng tính bị kỳ thị, phân biệt đối xử hoặc bạo lực gia đình. Theo kết quả nghiên cứu của Viện Nghiên cứu xã hội, kinh tế và môi trường (iSEE) thì kỳ thị với người đồng tính còn phổ biến, đặc biệt là qua lời nói với 95% người đồng tính nam được hỏi đã từng nghe người khác nói người đồng tính là không bình thường. Bên cạnh đó, khi bị phát hiện là người đồng tính 20% mất bạn, 15% bị gia đình chửi mắng hoặc đánh đập; Nghiêm trọng hơn, 4,5% đã từng bị tấn công vì là người đồng tính, 1,5% nói bị đuổi học, 4,1% đã từng bị đuổi ra khỏi chỗ ở và 6,5% bị mất việc vì là người đồng tính [10].
Trong các nghiên cứu của iSEE, Trung tâm sáng kiến sức khỏe và dân số (CCIHP), và Trung tâm nghiên cứu và ứng dụng khoa học về giới, gia đình và trẻ vị thành niên (CSAGA) vấn đề bạo lực gia đình với người đồng tính khá phổ biến. Khi phát hiện con là đồng tính, cha mẹ thường sốc thậm chí là hoảng loạn. Vì không có kiến thức về đồng tính và thậm chí kỳ thị hoặc lo lắng con mình không có tương lai nên cha mẹ thường có những hành vi không kiểm soát dẫn đến đánh đập, xích, nhốt, hoặc cấm đoán khác. Nhiều bậc cha mẹ đưa con đi tư vấn tâm lý hoặc thậm chí “chữa trị” vì nghĩ con có vấn đề về tâm thần. Những hành vi bạo lực để lại những hậu quả nghiêm trọng về tâm lý như trầm cảm, lo sợ thậm chí là có ý định tự tử hoặc hành vi tự tử. Bên cạnh đó, nhiều em bỏ nhà vì không khí gia đình ngột ngạt hoặc do cha mẹ không chấp nhận bị rơi vào môi trường đường phố, công viên với nhiều cạm bẫy như sử dụng chất gây nghiện, mại dâm, trộm cắp, nguy cơ nhiễm HIV và bệnh lây qua đường quan hệ tình dục. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Việt Nam chưa có điều tra chính thức về số người đồng tính, nhưng đã có nhiều trang Web, diễn đàn, câu lạc bộ dành cho người đồng tính, song tính với số lượng thành viên tham gia khá cao, như trang tinhyeutraiviet. có 51.955 thành viên (tính đến ngày 16 tháng 9 năm 2013). Các trường hợp người đồng tính ở Việt Nam công khai việc sống chung và được gia đình họ thừa nhận ngày càng tăng lên [10]. Thực tế này đòi hỏi các cơ quan nhà nước có thẩm quyền cần nghiên cứu một cách nghiêm túc và bài bản về quyền của người đồng tính, song tính, người chuyển giới trong HN&GĐ nói chung, quyền kết hôn của người đồng tính nói riêng, đảm bảo tính nhân bản, công bằng và bình đẳng trong công nhận, thực hiện và bảo vệ quyền con người về HN&GĐ.
Vấn đề kết hôn của những người đồng tính và việc thực hiện, bảo vệ các quyền con người của họ đã và đang là vấn đề thực tiễn ở Việt Nam. Trong khi đó pháp luật Việt Nam nói chung và Luật HN&GĐ năm nói riêng chưa có quy định rõ ràng về bảo vệ quyền của người đồng tính. Khoản 5 Điều 2 Luật HN&GĐ năm 2000 quy định một trong những nguyên tắc cơ bản của chế độ HN&GĐ là “Nhà nước và xã hội không thừa nhận sự phân biệt đối xử giữa các con, giữa con trai và con gái, con đẻ và con nuôi, con trong giá thú và con ngoài giá thú” [42]. Theo quy định có tính liệt kê ở nguyên tắc này thì đối tượng con là người đồng tính, song tính hoặc chuyển giới không thuộc nội dung của nguyên tắc này. Mặt khác, khoản 5 Điều 10 Luật này quy định cấm việc kết hôn giữa những người cùng giới tính. Việc sử dụng quy phạm “cấm” việc kết hôn giữa những người cùng giới tính dễ tạo ra hiệu ứng định kiến xã hội đối với người đồng tính. Trên thực tế, một số cơ quan thi hành pháp luật ở một số địa phương và một bộ phận xã hội đã lấy quy định tại Khoản 5 Điều 10 để giải thích cho những ứng xử có tính chất kỳ thị và phân biệt đối xử liên quan đến người đồng tính, song tính, người chuyển giới nói chung, người đồng tính nói riêng trong HN&GĐ…
Qua tổng kết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 nhiều ý kiến cho rằng, cần nhìn nhận đồng tính là một xu hướng tính dục tự nhiên, việc thừa nhận cũng là tự nhiên, không nên ngăn cấm. Cùng với sự phát triển về kinh tế, nhận thức của xã hội thì hợp thức hóa hôn nhân giữa những người cùng giới tính đã trở thành vấn đề thời sự. Sự hiểu biết thấu đáo, có cơ sở về quan hệ tình dục cùng giới tính mới có thể đưa ra những giải pháp pháp lý phù hợp điều chỉnh vấn đề nhạy cảm này.
3.1.2. Thực tiễn thực hiện việc đăng ký kết hôn Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
- Tình hình thực hiện việc đăng ký kết hôn
Khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực, trong năm 2002, hầu hết 61/61 tỉnh, thành phố trong toàn quốc đã tổ chức rà soát, lập danh sách những trường hợp hôn nhân thực tế tại địa phương, phân loại theo hai đối tượng trước và sau ngày 3/1/1987 như Nghị quyết số 35/2000/QH10 và Nghị định số 77/2001/NĐ-CP đã quy định. Theo báo cáo của 56/61 tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, tính đến ngày 31/12/2002, các địa phương đã lập danh sách tổng cộng 925.753 trường hợp nam và nữ chung sống với nhau như vợ chồng từ sau 3/1/1987 đến trước ngày 1/1/2001 (các đối tượng có nghĩa vụ đăng ký kết hôn theo Điểm b, Mục 3 của Nghị quyết số 35/2000/QH10); trong đó các địa phương đã cấp đăng ký kết hôn được 623.489 trường hợp (đạt 68%), còn lại 302.264 trường hợp chưa đăng ký (chiếm 32%) [10].
Theo kết quả điều tra gia đình Việt Nam năm 2006, đa số người dân đã có ý thức trong việc đăng ký kết hôn (hơn 80% trong độ tuổi 18-60). Như vậy còn lại một bộ phận 20% người dân vẫn chưa quan tâm đến vấn đề đăng ký kết hôn, chủ yếu là những người ở vùng dân tộc ít người, nông thôn, nghèo, học vấn thấp, lứa tuổi trên 50. Đồng bằng sông Cửu Long là vùng có tỷ lệ chưa đăng ký kết hôn cao nhất chiếm khoảng 40%, thứ hai là vùng Tây Bắc 30%; có 46,4% trong nhóm 18-60 tuổi đang có vợ chồng chưa đăng ký kết hôn nêu lý do “không biết phải đăng ký kết hôn” [10].
- Biểu đồ 3.1: Tỷ lệ chưa đăng ký kết hôn theo dân tộc của các cặp vợ chồng từ 18-60 tuổi
Biểu đồ trên cho thấy, tỉ lệ chưa đăng ký kết hôn có ở tất cả các dân tộc, không chỉ ở các dân tộc thiểu số.
Nguyên nhân của tình trạng không đăng ký kết hôn là còn một số ít người dân chưa am hiểu pháp luật, ý thức chấp hành pháp luật chưa cao, họ chưa thấy rõ được hậu quả của việc không đăng ký kết hôn, họ cho rằng chỉ cần tổ chức lễ cưới long trọng là đủ nên không cần đăng ký kết hôn. Do điều kiện kinh tế, địa lý ở một số địa phương vùng sâu vùng xa điều kiện đi lại khó khăn, người dân ngại đi đăng ký kết hôn. Chỉ cho đến khi sinh con hoặc khi có mâu thuẫn, có tranh chấp họ mới thấy được hậu quả pháp lý của vấn đề không đăng ký kết hôn. Điều này đã đi sâu vào tiềm thức của phần lớn cộng đồng dân cư ở vùng nông thôn, vùng sâu,vùng xa. Bên cạnh đó, do lối sống thiếu lành mạnh, nhiều cặp nam – nữ chung sống với nhau trước kết hôn, dẫn đến việc mang thai ngoài ý muốn buộc phải tổ chức cưới nhưng không đăng ký kết hôn.
Hiện nay, trong thực tiễn áp dụng các quy định về đăng ký kết hôn vẫn tồn tại một số sai sót như: có trường hợp một trong các bên nam, nữ không tiến hành xác nhận tình trạng hôn nhân theo quy định, hoặc có xác nhận tình trạng hôn nhân nhưng đã quá hạn 6 tháng mà UBND cấp xã vẫn giải quyết cho đăng ký kết hôn; nhiều cán bộ hộ tịch yêu cầu người dân phải nộp cả chứng minh nhân dân photo khi đi đăng ký kết hôn; thời hạn giải quyết việc đăng ký kết hôn, nhiều UBND cấp xã giải quyết chưa đúng quy định, thực tế vẫn có nhiều hồ sơ gần 1 tháng vẫn chưa giải quyết; Sai sót nhiều nhất trong thủ tục giải quyết đăng ký kết hôn là việc ký tên trong chứng nhận kết hôn, sổ đăng ký kết hôn và tờ khai đăng ký kết hôn. Một trong những quy định bắt buộc trong thủ tục giải quyết đăng ký kết hôn là các bên nam, nữ đều phải ký tên vào sổ đăng ký kết hôn để chứng tỏ quan hệ hôn nhân do các bên xác lập là hoàn toàn tự nguyện và chịu trách nhiệm về quan hệ hôn nhân do mình xác lập. Nhiều trường hợp cho thấy, chỉ có một bên nam hay nữ đơn phương đến UBND cấp xã nhận Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn; chỉ cần có chữ ký của một trong các bên, bên còn lại không ký vào chứng nhận kết hôn cũng được UBND cấp xã cấp Giấy chứng nhận kết hôn. UBND xã cho rằng, không có thời gian để tiến hành lễ đăng ký kết hôn cho người dân, chỉ cần cán bộ Tư pháp – Hộ tịch tiếp nhận hồ sơ, tham mưu UBND xã ký chứng nhận kết hôn là đủ. Giải quyết kiểu “đốt cháy giai đoạn” như vậy sẽ phát sinh nhiều hệ quả pháp lý sau này, nếu một trong các bên đăng ký kết hôn không thừa nhận quan hệ hôn nhân của mình trước Tòa án khi ly hôn, do giấy tờ đăng ký kết hôn không hợp lệ và phát sinh tranh chấp tài sản thì UBND cấp xã sẽ là cơ quan chịu trách nhiệm về việc giải quyết đăng ký kết hôn không đúng luật [68]. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Đăng ký kết hôn cho công dân là nhiệm vụ của UBND cấp xã. Để tạo điều kiện cho công dân thực hiện quyền kết hôn theo quy định, UBND xã phải áp dụng đúng luật để giải quyết các thủ tục cần thiết. Có như vậy mới bảo đảm được quyền lợi hợp pháp của công dân, tránh những hệ lụy pháp lý phát sinh sau này.
Việc xác minh các điều kiện kết hôn của hai bên nam nữ trên thực tế cũng gặp những khó khăn. Như trong trường hợp xác định mối quan hệ giữa hai người đã từng là bố chồng – con dâu. Đặc biệt, nếu sau khi ly hôn với chồng, người con dâu và bố chồng chuyển đến sống ở một nơi mà không ai biết về mối quan hệ trước đây của họ. Thực tế này đặt ra cho cơ quan nhà nước cần có những hướng dẫn cụ thể về các căn cứ xác minh, những giấy tờ phải xuất trình đối với hai bên nam nữ khi kết hôn.
- Tình trạng nam nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn
Trên thực tế đã và đang tồn tại rất nhiều trường hợp nam nữ chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn. Trong xu thế phát triển kinh tế, xã hội và hội nhập quốc tế của nước ta hiện nay, việc chung sống như vợ chồng ngày càng có chiều hướng gia tăng. Hiện tượng này có thể diễn ra ở các đối tượng như sinh viên, học sinh sống xa nhà, cũng có thể xảy ra trong các trường hợp một trong hai bên đã qua một lần kết hôn, sau đó hôn nhân của họ chấm dứt và khi tuổi đã cao mới “kết bạn” để nương tựa nhau. Cũng có thể là một trong hai bên là người “quá lứa lỡ thì” chung sống với người khác trong hoàn cảnh “rổ rá cạp lại”…Đối với đồng bào dân tộc thiểu số, việc kết hôn chủ yếu được thực hiện theo phong tục, tập quán (kết hôn có sự chứng kiến của gia đình, cộng đồng dân cư và được những người này thừa nhận). Vì vậy, tình trạng chung sống như vợ chồng không có đăng ký kết hôn còn khá phổ biến ở một số địa phương có đồng bào dân tộc ít người, vùng xa. Theo số liệu thống kê của Ủy ban dân tộc: tỉnh Thanh Hóa năm 2004 có hơn 40.101 chung sống với nhau như vợ chồng từ ngày 03/01/1987 đến ngày 01/01/2001 nhưng không đăng ký kết hôn (đã đăng ký được 33.728 trường hợp), trong đó có 1298 trường hợp không đủ điều kiện kết hôn; tỉnh Cao Bằng từ năm 2001 – 2012, Tòa án đã thụ lý và giải quyết 371 vụ không công nhận là vợ chồng; Tỉnh Lai Châu từ năm 2009 – 2011 có 722 trường hợp; tỉnh sơn La: số đôi không đăng ký kết hôn (năm 2000: 28, năm 2001: 51, năm 2002: 165, năm 2003: 76, năm 2004: 98, năm 2005: 159, năm 2007: 182); tỉnh An Giang có khoảng 10.000 đôi [10]. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
- Có nhiều nguyên nhân của thực trạng trên, trong đó chủ yếu là:
Do ảnh hưởng của yếu tố tập quán, tín ngưỡng, tôn giáo về kết hôn ở địa phương và cộng đồng. Tại các vùng nông thôn, quan niệm về hôn nhân còn rất hà khắc và dư luận xã hội dẫn đến việc họ e dè không đi đăng ký kết hôn. Còn ở thành phố lớn “nhà nào biết nhà đấy” nên đây là cơ hội cho hiện tượng này xảy ra phổ biến.
Do sự nhận thức không đầy đủ về các quyền, nghĩa vụ trong kết hôn nói riêng; quyền, nghĩa vụ trong hôn nhân, gia đình nói chung của một bộ phận người dân. Với suy nghĩ: Tờ giấy đăng ký kết hôn chỉ là một tờ giấy, không có giá trị, chỉ tình yêu mới là nền tảng của hôn nhân. Mặt khác, nếu họ cảm thấy không thể hòa hợp, tiếp tục chung sống với nhau thì cũng dễ dàng chia tay, không bị phiền phức và tốn kém vì những thủ tục và chi phí pháp lý…Chính vì những suy nghĩ sai lệch như vậy mà các bên đã không tiến hành việc đăng ký kết hôn.
Do tác động của tình trạng “hôn nhân thử” có xu hướng mở rộng trong bối cảnh phát triển nền kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế và tự do cá nhân;
Quy định về thủ tục đăng ký kết hôn còn chưa thực sự thuận lợi cho người dân, chưa gắn với sự di biến động rất lớn giữa nơi có hộ khẩu với nơi học tập, làm ăn, sinh sống.
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định việc chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn thì không được thừa nhận là có quan hệ vợ chồng (Khoản 1 Điều 11). Và như vậy, quyền lợi của họ không được đảm bảo, như trong vấn đề hưởng di sản thừa kế, những người này không được xác định là “chồng”, “vợ” thuộc hàng thừa kế thứ nhất được quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 676 BLDS năm 2005. Do đó, họ không được quyền thừa kế tài sản của nhau trừ trường hợp người chết có để lại di chúc và đồng thời họ không được pháp luật bảo vệ tại Điều 669 BLDS năm 2005 như trong trường hợp vợ chồng hợp pháp. Trong trường hợp các bên trong quan hệ chung sống có yêu cầu ly hôn thì Tòa án thụ lý và tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng; nếu có yêu cầu về con và tài sản thì giải quyết theo quy định liên quan đến việc hủy kết hôn trái pháp luật. Để hướng dẫn các quy định trên của Luật, nhiều văn bản của Quốc hội, Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao cũng đã được ban hành. Các quy định này đã phần nào tạo cơ sở pháp lý để các bên thực hiện đầy đủ, có trách nhiệm quyền, nghĩa vụ của mình, khuyến khích các cặp vợ chồng chưa đăng ký kết hôn đi đăng ký kết hôn; hạn chế các ảnh hưởng tiêu cực của việc chung sống như vợ chồng mà không có đăng ký kết hôn; tôn trọng, bảo vệ các quyền, lợi ích chính đáng của các bên trong quan hệ. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Đây là vấn đề lớn liên quan đến các quyền cơ bản của cá nhân, sự ổn định trong các quan hệ xã hội, sự công khai, minh bạch trong các trường hợp chung sống như vợ chồng cần được quy định cụ thể trong Luật HN&GĐ. Thực trạng này đã làm phát sinh nhiều quan điểm khác nhau như:
Cần phải nghiên cứu, xem xét thừa nhận hôn nhân thực tế trong một số trường hợp để phù hợp với thực tiễn, đặc biệt là các khu vực miền núi, dân tộc ít người;
Cũng có ý kiến nhất trí không nên thừa nhận hôn nhân thực tế nhưng pháp luật cần quy định về giải quyết hậu quả của việc chung sống mang tính bao quát hơn, phù hợp thực tiễn hơn, không chỉ bao gồm quan hệ nam, nữ chung sống như vợ chồng mà còn bao gồm cả quan hệ giữa những người cùng giới tính.
Về vấn đề bạo lực gia đình: Trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì có được coi là gia đình hay không? Nếu có trường hợp bạo lực gia đình xảy ra thì nạn nhân có được bảo vệ theo như quy định tại Luật phòng chống bạo lực gia đình năm 2007 hay không?
Đối với trẻ em: Trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà có con chung thì các con được hưởng đầy đủ quyền như những đứa trẻ sinh ra từ hôn nhân hợp pháp. Tuy nhiên, nếu nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì khi hai người có con chung, đứa con này sẽ bị xác định là con ngoài giá thú và thủ tục đăng ký khai sinh gặp khó khăn. Cụ thể: theo quy định tại Khoản 3 Điều 15 Nghị định số 158/2005/NĐ-CP thì:
Trong trường hợp khai sinh cho con ngoài giá thú, nếu không xác định được người cha, thì phần ghi về người cha trong sổ đăng ký khai sinh và Giấy khai sinh để trống. Nếu vào thời điểm đăng ký khai sinh có người nhận con, thì Ủy ban nhân dân cấp xã kết hợp giải quyết việc nhận con và đăng ký khai sinh [15].
Như vậy, trong trường hợp này muốn ghi tên người cha vào Giấy khai sinh thì phải làm thủ tục đăng ký nhận cha con. Hoặc giả như khi người mẹ đang mang thai mà người cha gặp tai nạn qua đời, thì sau khi sinh ra, việc xác định cha cho con để hưởng thừa kế và đảm bảo các quyền lợi khác gặp nhiều khó khăn.
Vì vậy, cần phải tuyên truyền và khuyến khích nam nữ có đủ đăng ký kết hôn và muốn chung sống với nhau như vợ chồng đi đăng ký kết hôn. Đồng thời, cần có những quy định của pháp luật mềm dẻo hơn nhằm bảo vệ một số quyền lợi cho họ trong trường hợp nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn.
Ngày nay, các yếu tố như hội nhập quốc tế, sự phát triển về kinh tế – xã hội, sự phát triển về khoa học kỹ thuật đã ảnh hưởng trực tiếp tới việc thực hiện các quy định về hôn nhân gia đình nói chung và các quy định về kết hôn nói riêng. Từ khi Luật HN&GĐ năm 2000 có hiệu lực thi hành đến nay, tình trạng kết hôn vi phạm quy định về kết hôn nhìn chung có giảm hơn nhưng vẫn còn tồn tại ở nhiều nơi, nhiều vùng trong cả nước, thậm chí có khía cạnh lại còn tăng lên đáng kể (sống chung như vợ chồng không đăng ký kết hôn và quan hệ đồng giới). Những hiện tượng vi phạm trên cần sớm tìm ra giải pháp khắc phục, đảm bảo xây dựng nên gia đình Việt Nam hạnh phúc, tiến bộ và bền vững.
3.1.3. Áp dụng pháp luật xử hủy việc kết hôn trái pháp luật Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định việc kết hôn không tuân thủ điều kiện kết hôn là trái pháp luật và có thể bị tòa án xem xét, quyết định hủy việc kết hôn đó. Tuy nhiên, Luật chưa quy định cụ thể các trường hợp kết hôn trái pháp luật cần thiết phải xử hủy và những trường hợp kết hôn trái pháp luật không cần thiết phải xử hủy mà cần công nhận hôn nhân cho các bên đương sự. Trên thực tế, việc kết hôn trái pháp luật do nhiều nguyên nhân khác nhau như bị cưỡng ép, bị lừa dối, một bên vợ hoặc chồng mất năng lực hành vi dân sự nhưng trong nhiều trường hợp, trong quá trình chung sống, vợ chồng chung sống hòa thuận, hạnh phúc và bản thân người vợ hoặc chồng không có yêu cầu hủy việc kết hôn thì không nhất thiết phải hủy quan hệ hôn nhân đó [10].
Hiện nay, khi giải quyết hủy việc kết hôn trái pháp luật, Tòa án đã áp dụng Điểm d, Mục 2, Nghị quyết số 02/2000/NQ-HĐTP quy định từng trường hợp cụ thể để xem xét, quyết định hủy kết hôn trái pháp luật hay công nhận hôn nhân của các đương sự. Đây là quy định phù hợp với thực tiễn, bảo vệ được các quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự. Tuy nhiên, điều này lại không được cụ thể hóa trong luật nên gây lúng túng cho cơ quan có thẩm quyền khi giải quyết.
Ví dụ 1: Tòa án huyện M, tỉnh H đã thụ lý vụ kiện xin ly hôn giữa anh N và chị V (thụ lý số 15/DSST ngày 09/01/2001). Nội dung vụ kiện như sau: Anh N sinh năm 1981 và chị V sinh năm 1982, đăng ký kết hôn tại xã P vào tháng 02/1997. Hai người chung sống hạnh phúc và có một con chung là cháu L sinh tháng 8/1999. Mâu thuẫn giữa anh N và chị V bắt đầu phát sinh từ tháng 6/2000, nguyên nhân là do chị V phải qua một ca phẫu thuật nên sức khỏe giảm sút, anh N và bố chồng chị muốn đuổi chị ra khỏi nhà. Thấy cuộc sống chung không thể tiếp tục nên chị V đã yêu cầu được ly hôn. Bản án số 02/DSST ngày 04/02/2001 của Tòa án huyện M căn cứ vào việc cả hai kết hôn khi chưa đến tuổi nên đã quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa chị V và anh N. Có thể thấy rằng, trong trường hợp này, Tòa án quyết định hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh N và chị V là quá máy móc. Bởi vì, khi Tòa án giải quyết vụ kiện ly hôn thì anh N đã 20 tuổi và chị V đã 19 tuổi, tức là họ đã đủ tuổi kết hôn, mặt khác, anh chị đã có thời gian chung sống hạnh phúc từ tháng 02/1997 đến tháng 6/2000, họ cũng đã có một con chung 18 tháng tuổi. Giữa họ chỉ mới phát sinh mâu thuẫn từ tháng 6/2000. Vì vậy, trường hợp này cần áp dụng hướng dẫn tại Mục 2 Điểm d1 Nghị quyết số 02/NQ-HĐTP để giải quyết theo thủ tục ly hôn. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Ví dụ 2: Tại quyết định số 112/2012/HNGĐ ngày 30/10/2012 của Tòa án nhân dân thành phố H đã xử hủy việc kết hôn trái pháp luật đối với trường hợp anh A và cô C. Nội dung vụ việc: anh A kết hôn với chị B năm 2005 đến năm 2006, anh chị sinh được một bé gái. Anh A và gia đình muốn có con trai nhưng vì sức khỏe của chị B rất yếu nên không thể tiếp tục sinh con. Thời gian gần đây, anh A khi đi làm ăn xa, anh A quen biết và có tình cảm với cô C. Sau thời gian chung sống như vợ chồng, cô C đã có thai với anh A nên cô C yêu cầu anh A bằng mọi cách phải đăng ký kết hôn với mình. Cuối năm 2011, anh A đã về quê ở tỉnh Y nhờ người thân xin giấy xác nhận tình trạng còn độc thân để đăng ký kết hôn với cô C. Đầu năm 2012, chị B, vợ anh phát hiện ra chuyện anh A và cô C nên đã làm đơn yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật giữa anh A và chị C. Tòa án thành phố H đã thụ lý đơn yêu cầu của chị B, căn cứ giấy đăng ký kết hôn giữa anh A và chị B, tuyên bố hủy kết hôn trái pháp luật giữa anh A và chị C vì vi phạm điều kiện kết hôn khi đang có vợ, có chồng (Khoản 1 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2000).
Như vậy, khi xử lý các trường hợp yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật, tùy từng trường hợp cụ thể, Tòa án rất cẩn trọng xem xét đến hoàn cảnh, mức độ vi phạm, bản chất của mối quan hệ để đưa ra quyết định đúng đắn, đảm bảo thấu tình đạt lý, đảm bảo quyền lợi của các đương sự, đồng thời thể hiện sự nghiêm minh của pháp luật.
Điều 4, Luật HN&GĐ năm 2000 quy định: “Cấm kết hôn giả tạo, ly hôn giả tạo”. Tuy nhiên, trong thực tế rất khó phát hiện và nhận biết được việc kết hôn giả, vì việc kết hôn này thường được sắp đặt, dàn dựng và toàn bộ hồ sơ thủ tục pháp lý là đầy đủ và hợp pháp. Khi phát hiện ra thì có xử hủy kết hôn trái luật hay giải quyết theo thủ tục ly hôn? Đây là vấn đề cần được nghiên cứu, bàn luận để hoàn thiện các quy định về HN&GĐ.
3.2 MỘT SỐ KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT NHẰM HOÀN THIỆN CHẾ ĐỊNH KẾT HÔN TRONG PHÁP LUẬT HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Kế thừa và phát huy thành tựu của Luật HN&GĐ năm 1959 và năm 1986 của nhà nước ta, Luật HN&GĐ năm 2000 ra đời đã góp phần xây dựng, hoàn thiện và bảo vệ chế độ HN&GĐ tiến bộ, ấm no hạnh phúc ở Việt Nam, bảo vệ tốt hơn quyền con người, quyền công dân, đặc biệt là quyền của phụ nữ và trẻ em trong lĩnh vực HN&GĐ. Chế định kết hôn được thừa kế, sửa đổi, bổ sung theo hướng ngày càng hoàn thiện hơn. Bên cạnh đó, Luật HN&GĐ năm 2000 còn một số hạn chế, một số quy định pháp luật chưa đạt được hiệu quả điều chỉnh trên thực tế, thiếu tính đồng bộ với các luật khác. Qua nghiên cứu chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000, cá nhân xin đưa ra một số phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật về vấn đề này như sau:
3.2.1. Hoàn thiện quy định về điều kiện kết hôn trong pháp luật hôn nhân và gia đình
- Về tuổi kết hôn
Luật HN&GĐ năm 2000 quy định nam là từ 20 tuổi trở lên, nữ từ 18 tuổi trở lên thì có quyền kết hôn. Tuy nhiên quy định này không đồng bộ, thống nhất với một số văn bản khác, ảnh hưởng tới năng lực chủ thể và năng lực tham gia tố tụng của bên nữ. Vì vậy, trong quá trình xây dựng dự án Luật HN&GĐ năm 2014 có nhiều quan điểm xung quanh vấn đề độ tuổi kết hôn của hai bên nam, nữ như: Hạ độ tuổi kết hôn của nam xuống 18 tuổi, nữ xuống 16 tuổi để phù hợp với sự phát triển của trẻ hoặc quy định nam và nữ đều từ đủ 18 tuổi trở lên là có quyền kết hôn để đảm bảo sự bình đẳng hoặc giữ nguyên như quy định hiện hành… Tuy nhiên, tại Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định nam từ đủ 20 tuổi trở lên, nữ từ đủ 18 tuổi trở lên thì có quyền kết hôn. Theo quan điểm của tác giả, quy định này chưa phù hợp, nên quy định nam là từ 20 tuổi, nữ từ đủ 18 tuổi thì được kết hôn, bởi các lý do sau: Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Đối với nữ phải từ đủ 18 tuổi trở lên vì theo Luật bảo vệ và chăm sóc trẻ em thì dưới 18 tuổi vẫn được coi là trẻ vị thành niên, chưa đủ trưởng thành về mặt tâm lý, sinh lý, kỹ năng sống chưa có nhiều, chưa đủ điều kiện để thực hiện tốt vai trò người mẹ, người vợ. Mặt khác, không nên hạ thấp độ tuổi kết hôn vì sự phát triển sớm ở trẻ mới chỉ tập trung ở một bộ phận nhỏ trong các đô thị mà chưa có tính phổ biến ở bình diện rộng, đồng thời nếu quy định hạ thấp tuổi kết hôn của cả nam và nữ sẽ dẫn đến việc thừa nhận kết hôn thông qua người đại diện hay giám hộ. Bên cạnh đó, xuất phát từ những vướng mắc, bất cập trong thực tiễn thì phải “từ đủ 18 tuổi trở lên” để phù hợp với quy định của pháp luật dân sự và pháp luật tố tụng dân sự, tránh được sự tiềm ẩn quan hệ bất bình đẳng giữa vợ và chồng khi tham gia giao dịch dân sự hoặc các khía cạnh pháp lý khác.
Đối với nam vẫn giữ quy định cũ theo Luật HN&GĐ năm 2000 là nam từ 20 tuổi mà không hạ xuống đủ18 tuổi giống với nữ, mặc dù Công ước CEDAW có nêu vấn đề bình đẳng giới trong tuổi kết hôn. Theo tác giả, bản chất của bình đẳng giới không phải là bằng nhau mà là việc tạo cơ hội bình đẳng cho nam và nữ có tính đến đặc thù giới tính của nam giới. Khi người nam đủ 18 tuổi, đã thành niên có đủ năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên đó là có đầy đủ năng lực, hành vi dân sự đối với chính bản thân của mình, có trách nhiệm đối với chính bản thân của mình. Trong quan hệ hôn nhân người nam còn có trách nhiệm với người vợ, với gia đình, với Kết hôn là tạo lập một gia đình mới, một tế bào mới của xã hội. Từ trách nhiệm đối với bản thân đến trách nhiệm đối với gia đình và trách nhiệm đối với xã hội là một quá trình và cần có thời gian. Vì vậy, theo tác giả, một người nam vừa mới thành niên, vừa ra khỏi sự bao bọc của gia đình, nhiều người còn tiếp tục cần sự chăm sóc của cha mẹ thì chưa thể sẵn sàng cho nhiều trách nhiệm như vậy. Mặt khác, quy định về độ tuổi kết hôn đối với nam đã được áp dụng ổn định hơn 50 năm (từ khi có Luật HN&GĐ năm 1959), phù hợp với truyền thống văn hóa của Việt Nam cũng như điều kiện để tạo dựng cuộc sống gia đình, không ảnh hưởng đến xu hướng phát triển của xã hội Việt Nam (hiện nay, tuổi kết hôn trung bình của nam, nữ đều cao hơn khá nhiều so với tuổi kết hôn được quy định trong Luật và có xu hướng ngày càng tăng). Quá trình tổng kết thực thi Luật HN&GĐ năm 2000 cho thấy, quy định nam từ 20 tuổi trở lên có quyền kết hôn không có khó khăn, trở ngại về vấn đề tuổi kết hôn trong các quan hệ khác từ thực tiễn cuộc sống.
Ngoài ra, có nhiều ý kiến cho rằng nên quy định các trường hợp ngoại lệ về độ tuổi kết hôn đối với vùng đồng bào dân tộc ít người ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa. Theo quan điểm của tác giả thì không cần phải quy định điều này vì pháp luật ngoài chức năng điều chỉnh các quan hệ xã hội còn có chức năng hết sức quan trọng là chức năng định hướng và giáo dục. Việc quy định độ tuổi kết hôn đối với nữ là đủ 18 tuổi và nam từ 20 tuổi áp dụng thống nhất trên toàn quốc sẽ là định hướng tạo điều kiện cho thanh niên khi kết hôn xác định được vị trí và trách nhiệm của mình.
- Về sự tự nguyện khi kết hôn Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Đây là một quy định cần thiết và giữ nguyên như Luật HN&GĐ năm 2000. Luật HN&GĐ năm 2000 chưa có quy định thế nào là kết hôn giả tạo. Vì vậy, cần có quy định cụ thể về kết hôn giả tạo và hậu quả pháp lý đối với kết hôn giả tạo. Khoản 11 Điều 3 Luật HN&GĐ năm 2014 đã đưa ra định nghĩa về kết hôn giả tạo là “việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà không nhằm mục đích xây dựng gia đình” [48]. Tác giả hoàn toàn đồng tính với quy định này, bởi lẽ xuất phát từ thực tế xã hội hiện nay tình trạng kết hôn giả tạo đang diễn ra ngày càng nhiều, làm thay đổi bản chất của hôn nhân, tác động xấu đến xã hội nên cần thiết phải điều chỉnh. Tuy nhiên, Luật HN&GĐ năm 2014 không quy định hậu quả pháp lý đối với kết hôn giả tạo. Kết hôn giả tạo thông thường rất khó bị phát hiện. Chỉ khi không đạt được những mục đích, lợi ích đã định, các bên có yêu cầu cơ quan nhà nước có thẩm quyền can thiệp thì sự việc mới bị phát hiện. Đối với những trường hợp này, quan điểm của tác giả là không công nhận có quan hệ vợ chồng giữa hai bên và hủy việc kết hôn đó. Vì vậy, cần có văn bản hướng dẫn cách xử lý thống nhất đối với các trường hợp kết hôn giả tạo. Trong các trường hợp kết hôn giả tạo cả hai bên nam nữ đều không có mục đích lấy nhau thành vợ thành chồng, xác lập gia đình nên không thể giải quyết ly hôn mà phải hủy kết hôn trái pháp luật mới đúng với bản chất của quan hệ diễn ra trong thực tế.
- Về cấm kết hôn đối với người bị mất năng lực hành vi dân sự
Để hạn chế khả năng che giấu tình trạng sức khỏe tâm thần để kết hôn với người khác và đảm bảo khả năng chịu trách nhiệm đối với cuộc sống gia đình và duy trì tốt nòi giống, nên quy định bổ sung điều kiện kết hôn là phải có giấy chứng nhận y tế về sức khỏe, tâm thần của người kết hôn. Sức khỏe tâm thần là một trong những điều kiện hết sức cần thiết để một người trở thành một bên chủ thể trong việc kết hôn. Quy định này sẽ giảm thiểu được tình trạng người không đủ sức khỏe tâm thần để kết hôn, mặt khác có thể gây phiền hà cho người dân, dễ nảy sinh tiêu cực và đặc biệt gây khó khăn khi thực hiện tại các vùng sâu, vùng xa. Do đó, nhà nước cần đầu tư các cơ sở vật chất tốt cho các đơn vị y tế được phép cấp giấy chứng nhận. Pháp luật cần quy định trình tự, thủ tục theo hướng đơn giản, gọn nhẹ. Đối với đồng bào dân tộc ít người, vùng sâu, vùng xa gặp nhiều khó khăn, nhà nước nên tạo điều kiện khám sức khỏe định kỳ, một mặt kiểm tra sức khỏe cho người dân, mặt khác đảm bảo sức khỏe tốt khi họ kết hôn. Việc có giấy chứng nhận về sức khỏe là một điều kiện để nâng cao chất lượng dân số của Việt Nam, hạn chế tối đa áp lực lên các chính sách an sinh xã hội đối với những người con sinh ra mắc khiếm khuyết.
Luật HN&GĐ năm 2000 và Điểm c Khoản 1 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014, đều quy định điều kiện đối với các bên nam nữ khi kết hôn là không bị mất năng lực hành vi dân sự. Tuy nhiên, như đã phân tích ở trên thì quy định này đã bộc lộ bất cập khi buộc phải có quyết định của Tòa án tuyên bố một người mất năng lực hành vi dân sự. Do đó, theo quan điểm của tác giả thì quy định cấm người mất năng lực hành vi dân sự kết hôn nên sửa đổi lại theo hướng như quy định tại Điểm b Điều 7 Luật HN&GĐ năm 1986, tức là nên quy định cấm kết hôn khi “đang mắc bệnh tâm thần hoặc các bệnh khác mà không có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình”. Quy định này là phù hợp và có tính khả thi hơn bởi như vậy là không bắt buộc phải có quyết định của Tòa án tuyên bố một người bị mất năng lực hành vi dân sự thì người đó mới không được kết hôn. Để xác định một người trong tình trạng bị tâm thần có được kết hôn hay không các bên có thể yêu cầu khám chuyên khoa thần kinh. Điều này có tính khả thi hơn và cũng dễ được gia đình người mắc bệnh tâm thần chấp nhận hơn.
- Về phạm vi cấm kết hôn Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Việc cấm kết hôn giữa những người có họ trong phạm vi ba đời, giữa những người có quan hệ thích thuộc về trực hệ, Luật HN&GĐ năm 2014 vẫn giữ nguyên như quy định hiện hành là hợp lý, vì thực tiễn hơn 13 năm thi hành không có vướng mắc lớn về vấn đề này và quy định đó vẫn góp phần giữ gìn trật tự, kỷ cương trong gia đình và duy trì được thuần phong mỹ tục của gia đình Việt Nam truyền thống. Tuy nhiên, cần có biện pháp có hiệu quả xác định quan hệ giữa những người đã từng có quan hệ thích thuộc về trực hệ như quan hệ giữa người đã từng là bố chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, bố dượng, mẹ kế với con riêng. Ví dụ trong việc xác định mối quan hệ giữa hai người đã từng là bố chồng với con dâu thì một trong những biện pháp có thể thực hiện là kiểm tra giấy đăng ký kết hôn cũ của người con dâu; giấy khai sinh của con trai – người chồng cũ của con dâu; sổ hộ khẩu gia đình; xác minh qua thực tế chung sống; qua các mối quan hệ của các bên kết hôn (họ hàng, hàng xóm, người làm chứng..) hoặc bằng sự cam đoan của các bên về việc hiểu rõ các quy định về điều kiện kết hôn và không vi phạm.
- Về việc kết hôn giữa những người cùng giới tính
Trong quá trình xây dựng dự án Luật HN&GĐ năm 2014 có ý kiến đại biểu đề nghị tiếp tục quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới như Luật hiện hành; có ý kiến đề nghị cần quy định rõ ràng cho phép hay cấm hôn nhân đồng giới; một số ý kiến đề nghị nên cho phép người đồng tính kết hôn với nhau. Tại Khoản 2 Điều 8 Luật HN&GĐ năm 2014 quy định “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính” thay thế quy định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính của Luật HN&GĐ năm 2000.
Tác giả hoàn toàn đồng ý với quy định trên, vì đến nay quan điểm và nhận thức của xã hội về vấn đề này đã thay đổi so với thời điểm thông qua Luật HN&GĐ năm 2000. Ở góc độ quyền con người, việc bỏ quy định “cấm” thể hiện tính nhân văn, góp phần giảm bớt sự kỳ thị đối với cộng đồng người đồng tính, song tính, người chuyển giới. Hôn nhân giữa những người cùng giới tính là vấn đề có tính nhạy cảm xã hội cao. Việc thừa nhận hôn nhân của họ cũng cần phải được xem xét, cân nhắc, nhìn nhận trên nhiều khía cạnh khác nhau với lộ trình và những bước đi phù hợp. Trong điều kiện kinh tế, văn hóa và xã hội nước ta thì nhà nước quy định không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính nhưng cũng không can thiệp bằng những biện pháp hành chính vào quyền được sống theo bản dạng giới và khuynh hướng tính dục của họ là phù hợp với quyền con người của cá nhân. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Về việc chung sống giữa những người đồng tính, Luật HN&GĐ có nên quy định vấn đề này không? Luật HN&GĐ năm 2014 đã bỏ ngỏ, hoàn toàn không quy định điều chỉnh gì đến quan hệ những người cùng giới tính chung sống với nhau.
Trên thế giới vấn đề kết hôn giữa những người cùng giới tính đã được đặt ra từ lâu và hiện nay đang được giải quyết ở các mức độ khác nhau. Tính đến tháng 8/2013, trên thế giới có 16 quốc gia công nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính. Hầu hết các quốc gia thừa nhận hôn nhân đồng giới đều có quy định quá độ trong luật, từ việc thừa nhận quyền của người đồng giới và việc chung sống như vợ chồng của người đồng giới rồi mới có quy định về thừa nhận hôn nhân đồng giới như: Hà Lan quy định về việc đăng ký kết hợp dân sự giữa những người cùng giới tính vào năm 1998, nhưng đến năm 2001 mới thừa nhận chính thức hôn nhân hợp pháp giữa người cùng giới tính; Canada thừa nhận quyền chung sống giữa những người cùng giới tính vào năm 1999, đến năm 2005 mới thừa nhận hôn nhân giữa họ với nhau; Cộng hòa Pháp thừa nhận quyền chung sống giữa những người cùng giới tính từ năm 1999 và đến năm 2013 mới thừa nhận hôn nhân của họ…
Trên thực tế ở Việt Nam hiện nay vấn đề đồng tính đang diễn ra hết sức phức tạp, tiềm ẩn nhiều nguy cơ ảnh hưởng đến an toàn trật tự xã hội, thậm chí là vi phạm pháp luật hình sự. Chính vì những đòi hỏi thực tiễn như vậy một yêu cầu đặt ra là phải giải quyết các quan hệ mới nảy sinh trong thực tế. Theo quan điểm cá nhân, cần thiết phải bổ sung quy định về việc đăng ký sống chung giữa những người cùng giới tính, trong đó quy định mang tính chất nguyên tắc với các nội dung như điều kiện đăng ký sống chung, trình tự thủ tục đăng ký sống chung và giải quyết hệ quả nếu không sống chung với nhau, quan hệ tài sản, quyền nuôi con (nếu có) bởi các lý do như sau:
Thứ nhất, quy định về việc đăng ký sống chung giữa những người cùng giới tính sẽ là cơ sở để Nhà nước thống kê được số lượng người đồng tính, từ đó tạo điều kiện thuận lợi để Nhà nước quản lý, tiếp cận đối tượng điều chỉnh và hoạch định, ban hành các chính sách một cách đúng đắn trong tương lai.
Thứ hai, là cơ sở pháp lý để góp phần không nhỏ giảm sự kỳ thị của dư luận xã hội đối với những người đồng tính, tạo điều kiện để họ hòa nhập cộng đồng xã hội và sống đúng với con người của mình, được thụ hưởng các chế định pháp luật bình đẳng. Việc đăng ký sống chung giữa những người cùng giới tính thể hiện sự quan tâm của Nhà nước đối với những đối tượng này, xóa bỏ sự mặc cảm, xóa bỏ cảm giác là họ sống ngoài sự điều chỉnh của pháp luật.
Thứ ba, tạo hành lang pháp lý và sự ràng buộc pháp luật giữa những người cùng giới tính trong việc sống với nhau để từ đó xác định trách nhiệm của các bên đối với nhau khi họ sống chung. Đồng thời còn có ý nghĩa định hướng giáo dục, điều chỉnh hành vi của những người đồng tính theo hướng tích cực, có lợi cho xã hội.
Thứ tư, quy định việc đăng ký sống chung giữa người cùng giới tính là cơ sở pháp lý để giải quyết các hệ quả pháp lý phát sinh từ việc sống chung giữa người cùng giới tính, cũng như hệ quả pháp lý khi chấm dứt việc sống chung.
Hiện nay, pháp luật vẫn còn một khoảng trống về việc kết hôn sau khi xác định lại giới tính của những người bị khiếm khuyết. Luật HN&GĐ năm 2000 chưa có quy định về vấn đề này cũng như các văn bản dưới luật cũng không có hướng dẫn cụ thể dù pháp luật dân sự, pháp luật về hộ tịch và Nghị định số 88/2008/NĐ-CP cũng ghi nhận vấn đề này. Vì vậy để đạt được hiệu quả áp dụng trên thực tế, Luật HN&GĐ cần có quy định rõ ràng về việc kết hôn sau khi xác định lại giới tính của những người bị khiếm khuyết giới tính hoặc giới tính chưa được định hình chính xác. Đặc biệt, trong trường hợp những người này đã kết hôn, nhưng lại được xác định lại giới tính, thì giải quyết như thế nào? Thực tế, nhiều cơ quan hộ tịch từ chối cải chính giới tính cho những người được xác định lại giới tính này. Do đó, Luật HN&GĐ cần quy định rõ ràng hơn theo hướng cải chính hộ tịch theo giới tính mới và công nhận đầy đủ quyền và nghĩa vụ của họ như đối với người có giới tính đã được xác định chính xác, trong đó có quyền kết hôn và ly hôn. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Hiện nay theo quy định của pháp luật thì nghiêm cấm thực hiện việc chuyển đổi giới tính đối với những người đã hoàn thiện về giới tính, những người này không nằm trong đối tượng được phép thay đổi lại giới tính theo quy định của pháp luật. Nhưng nhờ thành tựu y học hiện đại có nhiều người đã qua phẫu thuật chuyển đổi giới tính thì Nhà nước sẽ công nhận hay không công nhận giới tính mới của họ? Theo tác giả, chúng ta nên công nhận giới tính mới của người chuyển đổi giới tính theo nguyện vọng và đúng giới tính của họ, xác định về mặt hành chính như thay đổi tên, giới tính nam, nữ theo yêu cầu của họ sau khi được Hội đồng y khoa xác định về giới tính đảm bảo quyền con người, quyền công dân. Mong muốn được sống với chính mình, không phải sống “ngoài vùng phủ sóng” hay được mưu cầu hạnh phúc riêng là điều chính đáng đối với mỗi con người đã được ghi nhận trong các bản Hiến pháp của Việt Nam cũng như trên thế giới. Bản thân người chuyển giới cũng là những công dân nên cần được tạo điều kiện nâng cao sự bình đẳng trong xã hội.
Trên đây là một số trường hợp vướng mắc khi xác định giới tính của công dân mà các văn bản hướng dẫn chưa hề đề cập, nếu những người này đăng ký kết hôn sẽ hết sức khó khăn cho cơ quan hộ tịch ở địa phương. Luật HN&GĐ năm 2014 đã không quy định các vấn đề này, tuy nhiên đây là vấn đề xuất phát từ thực tiễn, cần được hoàn thiện trong các văn bản pháp luật có liên quan đến HN&GĐ. Tác giả hi vọng văn bản hướng dẫn thi hành Luật HN&GĐ năm 2014 sẽ quy định cụ thể về các trường hợp này.
- Vấn đề nam, nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn
Luật hiện hành quy định nam, nữ không đăng ký kết hôn mà chung sống với nhau như vợ, chồng thì không được pháp luật công nhận là vợ, chồng. Tuy nhiên, theo Báo cáo tổng kết thi hành Luật HN&GĐ năm 2000 thì sau gần 13 năm thi hành luật vẫn còn 32% trường hợp chưa đăng ký kết hôn. Việc chung sống như vợ chồng của hai bên nam, nữ không đăng ký kết hôn đã phát sinh các mối quan hệ về tài sản, quan hệ cha mẹ và con…Luật HN&GĐ năm 2000 cũng đã điều chỉnh vấn đề này tại Điều 17 nhưng chưa rõ ràng và đầy đủ. Trong quan hệ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn cần phải xác định bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và trẻ em – đối tượng dễ chịu tổn thương trong xã hội. Từ thực tế đó để điều chỉnh việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn một cách đầy đủ, chặt chẽ, bảo vệ quyền lợi của các bên có liên quan, nhất là phụ nữ và trẻ em, Điều 14,15,16 Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định cụ thể về hậu quả pháp lý trong trường hợp này về tài sản, quyền và nghĩa vụ giữa các bên và con cái trên cơ sở các quyền sở hữu của pháp luật liên quan.
Tác giả hoàn toàn đồng tình với các quy định này của Luật HN&GĐ năm 2014, bởi lẽ trong thực tế vẫn đang tồn tại việc chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn nhưng các bên thực sự coi nhau là vợ chồng, vì vậy, việc bổ sung các quy định giải quyết hậu quả tại các điều 14, 15 và 16 Luật HN&GĐ năm 2014 là cần thiết, phù hợp với thực tế cuộc sống chung của các bên nam, nữ, bảo vệ được quyền, lợi ích chính đáng của các bên, đặc biệt là phụ nữ và trẻ em. Luật HN&GĐ năm 2014 khẳng định nam, nữ chung sống như vợ chồng không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng; Trong trường hợp nam, nữ chung sống với nhau như vợ chồng nhưng sau đó thực hiện việc đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật thì quan hệ hôn nhân được xác lập từ thời điểm đăng ký kết hôn. Quy định này thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật và khuyến khích mọi người tuân thủ pháp luật về đăng ký kết hôn. Bên cạnh đó, Luật HN&GĐ năm 2014 quy định quan hệ tài sản, nghĩa vụ và hợp đồng của nam, nữ chung sống như vợ chồng được giải quyết theo thỏa thuận giữa các bên, nếu không có thỏa thuận thì giải quyết theo quy định của BLDS và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con; công việc nội trợ và các công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập. Xuất phát từ đặc thù của quan hệ sống chung như vợ chồng là các bên tuy không có hôn nhân về mặt pháp lý, nhưng trên thực tế họ đã gắn bó, cùng lo toan, chia sẻ, đóng góp cho cuộc sống chung, do đó quy định này là hoàn toàn phù hợp, thể hiện tính chất nhân văn, công bằng của pháp luật.
Ngoài ra, tác giả hoàn toàn đồng ý việc bổ sung quy định tại Điểm d Khoản 2 Điều 5 Luật HN&GĐ năm 2014 đó là cấm kết hôn hoặc chung sống như vợ chồng giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa những người có họ trong phạm vi ba đời; giữa cha, mẹ nuôi với con nuôi; giữa người đã từng là cha, mẹ nuôi với con nuôi, cha chồng với con dâu, mẹ vợ với con rể, cha dượng với con riêng của vợ, mẹ kế với con riêng của chồng. Đây là điểm mới được bổ sung so với Luật HN&GĐ năm 2000. Quy định này xuất phát từ thực tế và hoàn toàn phù hợp, là cơ sở pháp lý quan trọng để các văn bản pháp luật khác (Nghị định về xử phạt vi phạm hành chính, Bộ luật hình sự…) quy định chế tài đối với hành vi vi phạm này nhằm đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật, phù hợp văn hóa, truyền thống của gia đình Việt Nam.
- Về người có quyền hủy kết hôn trái pháp luật Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Quy định tại Khoản 2 Điều 15 Luật HN&GĐ năm 2000 không còn phù hợp vì theo quy định của BLTTDS năm 2004, Viện kiểm sát nhân dân không có quyền yêu cầu hủy việc kết hôn trái pháp luật. Vì vậy, quy định này cần được sửa đổi, đảm bảo sự thống nhất trong hệ thống pháp luật.
Bên cạnh đó, theo quy định của Luật HN&GĐ năm 2000, có một số cơ quan, tổ chức đã giải thể (Ủy ban bảo vệ và chăm sóc trẻ em), vì vậy pháp luật cần có sự điều chỉnh cho phù hợp. Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2014 đã quy định thay thế bằng cơ quan quản lý nhà nước về gia đình và cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em là các chủ thể có quyền yêu cầu Tòa án hủy kết hôn trái pháp luật. Hiện nay, cơ quan quản lý nhà nước về gia đình là Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, tuy nhiên theo Nghị quyết số 02/2013/NQ-CP về công tác gia đình, pháp luật chưa có sự phân công trách nhiệm của các bộ, ngành cụ thể trong công tác về gia đình nói chung cũng như trách nhiệm trong việc xử lý các vấn đề liên quan đến kết hôn. Vì vậy, pháp luật cần quy định cụ thể quyền khởi kiện của bộ, ngành để các quy định có tính khả thi trong thực tiễn. Những vấn đề đặt ra ở trên đã được sửa đổi tại Luật HN&GĐ năm 2014. Theo quy định tại Khoản 2 Điều 10 Luật HN&GĐ năm 2014, cơ quan, tổ chức có quyền yêu cầu Tòa án hủy việc kết hôn trái pháp luật là cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ. Quy định này là phù hợp và thống nhất với quy định của BLTTDS.
3.3.2. Kiến nghị về tổ chức thực hiện
- Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng giải quyết các vụ việc HN&GĐ cho cán bộ tư pháp – hộ tịch ở xã, phường, thị trấn
Trong thực tế thực hiện đăng ký kết hôn, yếu tố nhân lực là cán bộ xã, phường đóng vai trò quan trọng. Hiện nay, tình trạng cán bộ địa phương có trình độ chuyên môn chưa đạt yêu cầu, làm việc quan liêu, không linh hoạt dẫn đến việc thực thi pháp luật khó khăn. Do đó, cần nâng cao trình độ chuyên môn và thường xuyên tổ chức các lớp tập huấn, tăng cường nhận thức cho cán bộ địa phương, đặc biệt là cán bộ tư pháp – hộ tịch. Hoạt động này giúp cán bộ địa phương nắm vững các quy định của pháp luật về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn, thực hiện tốt, đầy đủ, chính xác, khách quan việc kiểm tra xác minh các điều kiện kết hôn của người kết hôn. Từ đó nâng cao trách nhiệm của cán bộ tư pháp – hộ tịch trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về kết hôn. Bên cạnh đó, cũng cần có chế tài nghiêm khắc đối với những hành vi sai phạm nghiêm trọng ảnh hưởng đến quyền công dân, quyền con người của cán bộ khi thực thi pháp luật.
- Nâng cao trình độ của cán bộ xét xử Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Nâng cao chất lượng Thẩm phán cho Tòa án các cấp nói chung và những người trực tiếp giải quyết các vụ việc về hủy kết hôn trái pháp luật là vấn đề hết sức cấp bách hiện nay. Để làm tốt vấn đề này thì cần phải thực hiện các giải pháp như: Nhanh chóng hoàn thiện các quy định về tuyển chọn, bổ nhiệm Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân; định kỳ tổ chức các cuộc trao đổi kinh nghiệm, rút kinh nghiệm giữa các Thẩm phán; quy định và tổ chức thực hiện tốt công tác bồi dưỡng thường xuyên kiến thức pháp luật về HN&GĐ, kỹ năng nghề nghiệp cho đội ngũ thẩm phán và hội thẩm nhân dân; áp dụng các quy định về tổ chức thi sát hạch thường xuyên đối với đội ngũ Thẩm phán…
- Giáo dục nâng cao nhận thức, trình độ, ý thức pháp luật của người dân
Công tác phổ biến, giáo dục pháp luật nói chung, pháp luật HN&GĐ nói riêng giữ vị trí quan trọng trong nâng cao sự hiểu biết, ý thức chấp hành pháp luật HN&GĐ của các cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền và nhân dân. Mục đích của công tác phổ biến, giáo dục pháp luật là xóa bỏ các hủ tục, phong tục tập quán lạc hậu trong việc kết hôn ở đồng bào dân tộc thiểu số, nhằm đảm bảo chất lượng dân số. Giúp người dân hiểu được ý nghĩa của việc đăng ký kết hôn, từ đó tự giác thực hiện việc đăng ký kết hôn, bảo vệ quyền lợi của bản thân. Đồng thời, giảm thiểu các hành vi vi phạm điều kiện kết hôn như vi phạm chế độ hôn nhân một vợ một chồng, kết hôn cận huyết thống…
Công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật về HN&GĐ nói chung và pháp luật về kết hôn nói riêng phải mở rộng theo hướng xã hội hóa. Huy động tối đa các tổ chức, cá nhân tham gia tuyên truyền, vận động các chính sách dân số, gia đình, các quy định điều kiện kết hôn qua nhiều hình thức, nhiều kênh như:
Qua truyền thông đại chúng, tuyên truyền trực tiếp qua các hội nghị của các ngành, đoàn thể các cấp, đồng thời tăng cường hoạt động của đội ngũ tuyên truyền viên ở cơ sở. Ở vùng sâu, vùng xa, để nâng cao nhận thức, sự hiểu biết về luật HN&GĐ, đặc biệt sự hiểu biết về chế các điều kiện kết hôn cho đồng bào dân tộc thiểu số, cần tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền, xóa bỏ các phong tục lạc hậu không phù hợp với thời đại.
Đẩy mạnh tuyên truyền về công tác giáo dục dân số, sức khỏe sinh sản, điều kiện kết hôn cho thanh thiếu niên ở các nhà trường phổ thông, trường chuyên nghiệp, các trung tâm bồi dưỡng chính trị trên toàn quốc thông qua nhiều hình thức khác nhau như: các câu lạc bộ học sinh với pháp luật hoặc cuộc thi tìm hiểu pháp luật về điều kiện kết hôn hoặc thông qua những giờ ngoại khóa…
- Nâng cao chất lượng cuộc sống của toàn dân
Trên cơ sở tích cực triển khai cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, đẩy mạnh công tác xây dựng gia đình văn hóa, giúp cho trẻ em thừa hưởng kết quả tốt nhất, được lớn lên trong một môi trường ổn định, lành mạnh và phát triển. Bên cạnh đó, Nhà nước cần tạo điều kiện tốt nhất cho công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản cho người dân, đặc biệt là lứa tuổi thanh thiếu niên, tăng cường tư vấn tiền hôn nhân cho thanh thiếu niên để bảo đảm việc kết hôn đúng pháp luật.
KẾT LUẬN Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
Chế định kết hôn là một chế định quan trọng của Luật HN&GĐ, tạo cơ sở hình thành nên một gia đình, một xã hội thu nhỏ. Trên cơ sở thừa kế các quy định của Luật HN&GĐ năm 1959 và Luật HN&GĐ năm 1986, Luật HN&GĐ năm 2000 tiếp tục ghi nhận chế định kết hôn tại Chương 2 từ Điều 9 đến Điều 17 theo hướng hoàn thiện hơn. Chế định kết hôn theo quy định của pháp luật Việt Nam thể hiện tính khoa học pháp lý cao trong việc xây dựng và áp dụng chế định này để điều chỉnh các quan hệ xã hội trong lĩnh vực HN&GĐ, thể hiện sự ghi nhận và bảo hộ của nhà nước ta về sự công bằng, dân chủ, tiến bộ, thể hiện sự chăm lo đến quyền con người trên cơ sở pháp luật và đạo đức xã hội, loại bỏ những quy định lỗi thời, lạc hậu, phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam.
Tuy nhiên, trong bối cảnh đất nước bước sang giai đoạn phát triển mới, cùng với tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế, xã hội Việt Nam đang chịu những tác động tích cực và tiêu cực, không chỉ về mặt kinh tế mà còn cả về mặt văn hóa, xã hội. Nhiều vấn đề pháp luật chưa điều chỉnh hoặc điều chỉnh chưa phù hợp liên quan đến kết hôn như: tình trạng người đồng tính chung sống công khai ngày càng nhiều, hiện tượng nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn ngày càng phổ biến,… Quy định về độ tuổi kết hôn chưa đảm bảo tính đồng bộ, thống nhất với hệ thống các văn bản luật có liên quan. Những bất cập, hạn chế nêu trên của chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ năm 2000 đã làm giảm hiệu quả thi hành của chế định này nói riêng, pháp luật HN&GĐ nói chung; ảnh hưởng đến việc thực hiện mục tiêu xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc. Do đó, việc hoàn thiện các quy định về kết hôn trở thành nhu cầu cấp thiết, để vừa giải quyết được những yêu cầu khách quan của đời sống HN&GĐ, vừa thể hiện được các quan điểm mới của Đảng về việc tôn trọng, bảo đảm thực hiện quyền con người, quyền công dân trong đời sống dân sự nói chung và trong lĩnh vực HN&GĐ nói riêng.
Với sự cố gắng của bản thân và sự giúp đỡ tận tình của giáo viên hướng dẫn, luận văn đã đưa ra được một cái nhìn tổng thể về chế định kết hôn trong Luật HN&GĐ Việt Nam năm 2000, từ việc làm rõ những vấn đề lý luận, phân tích nội dung, ý nghĩa chế định kết hôn đến việc đánh giá việc áp dụng chế định này trong thực tiễn, phát hiện những bất cập, hạn chế của chế định kết hôn, trên cơ sở đó đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện chế định này. Tác giả hi vọng những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ giúp ích cho các cơ quan chức năng trong quá trình xây dựng các văn bản hướng dẫn Luật HN&GĐ năm 2014 nói riêng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam nói chung. Tuy nhiên, do kiến thức còn hạn chế, luận văn không tránh khỏi những thiếu sót trong quá trình thực hiện, rất mong nhận được những ý kiến đóng góp để luận văn được hoàn thiện hơn. Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện chế định kết hôn trong Luật hôn nhân

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Luận văn: Thực tiễn chế định kết hôn theo Luật Hôn nhân