Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển

Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển và việc tham gia, thực hiện các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.

3.1 SỰ CẦN THIẾT PHẢI HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ MỘT SỐ KIẾN NGHỊ

Có thể nói, pháp luật chính là một công cụ hiệu quả nhất, quan trọng nhất để giữ gìn và bảo vệ môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng. Pháp luật thể hiện sự nhận thức, thể hiện sự phát triển của mỗi quốc gia, dân tộc. Trong thời gian qua, pháp luật bảo vệ môi trường biển Việt Nam cũng đã phát huy và góp phần bảo vệ môi trường biển Việt Nam. Tuy vậy, quá trình thực thi đã nảy sinh nhiều bất cập và khó khăn như đã phân tích ở trên. Xuất phát từ tính cấp thiết của việc bảo vệ môi trường biển trong tình hình hiện nay đối với sự phát triển bền vững của đất nước và đối với sự sống của con người. Cùng với sự hội nhập quốc tế sâu rộng như hiện nay đòi hỏi Việt Nam phải hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung và pháp luật bảo vệ môi trường nói riêng.

Trên bình diện quốc gia và phạm vi thế giới, đều có luật pháp để thực hiện bảo vệ và gìn giữ môi trường biển chống ô nhiễm. Tuy nhiên, nhiều chuyên gia trong ngành hàng hải và môi trường đều băn khoăn là luật pháp về môi trường biển của nước ta hiện nay vẫn chưa thật đầy đủ và hoàn chỉnh đúng với vị thế của một quốc gia đang phát triển để trở thành một nước mạnh về biển trong khu vực, nhất là ở lĩnh vực bảo vệ và gìn giữ môi trường biển. Việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về bảo vệ môi trường biển là một đòi hỏi cấp bách về cả lí luận và thực tiễn.

  • Tuy nhiên, việc hoàn thiện pháp luật về lĩnh vực bảo vệ môi trường cần đáp ứng được các yêu cầu cơ bản sau:

Thứ nhất, pháp luật bảo vệ môi trường biển cần thể hiện sự kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế biển với bảo vệ, giữ gìn môi trường biển.

Thứ hai, pháp luật bảo vệ môi trường biển cần được hoàn thiện theo hướng kiểm soát và quản lí tổng hợp biển.

Thứ ba, hoàn thiện pháp luật bảo vệ môi trường biển cần xuất phát từ thực trạng môi trường và tài nguyên biển, thực trạng về cơ sở hạ tầng và trình độ phát triển của Việt Nam, đồng thời tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm quốc tế.

Thứ tư, pháp luật bảo vệ môi trường biển cần được hoàn thiện theo hướng không xâm phạm quyền lợi hợp pháp của các quốc gia khác về tài nguyên và môi trường biển cũng như các hoạt động trên biển và cần thể hiện nội dung qui định của pháp luật quốc tế và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

Thứ năm, việc hoàn thiện pháp luật cần được tiến hành đồng bộ với các biện pháp về hành chính, về kinh tế, về khoa học công nghệ, về tuyên truyền giáo dục nâng cao nhận thức và ý thức của người dân…

Trên cơ sở đó xin đưa ra một số kiến nghị cụ thể sau:

  • Hoàn thiện các quy định pháp luật về bảo vệ môi trường biển

Pháp luật bảo vệ môi trường biển Việt Nam chưa đưa ra được định nghĩa rõ ràng và cụ thể về môi trường biển và ô nhiễm môi trường biển. Để quản lý biển và bảo vệ môi trường biển tốt hơn, Việt Nam cần có nghiên cứu chuyên sâu và hoàn thiện kịp thời bất cập này.

Pháp luật bảo vệ môi trường biển Việt Nam cần bổ sung và hoàn thiện các quy định về quy chuẩn kỹ thuật, đánh giá tác động môi trường, các quy định về bảo vệ môi trường biển trong hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, du lịch…gắn liền với biển.

Cần bổ sung, ban hành các tiêu chuẩn về môi trường biển Việt Nam để tạo thuận lợi cho việc quản lý và thực thi pháp luật bảo vệ môi trường biển trong thực tiễn.

Cần bổ sung các quy định về phòng ngừa và khắc phục sự cố môi trường biển, phục hồi và cải thiện chất lượng môi trường biển như: các quy định về nguyên tắc trong phòng ngừa và khắc phục sự cố; quy định trách nhiệm cụ thể của cơ quan có thẩm quyền và trách nhiệm của các chủ thể khác đối với việc phòng ngừa và khắc phục sự cố môi trường biển…Hiện tại, về vấn đề này, pháp luật môi trường còn đang thiếu nhiều quy định về trách nhiệm của các tổ chức và cá nhân, đặc biệt là trách nhiệm của người dân địa phương nơi xảy ra sự cố. Việc xã hội hóa công tác khắc phục và xử lí hậu quả của sự cố môi trường, đặc biệt trong lĩnh vực môi trường biển sẽ góp phần tích cực vào việc giảm thiểu các hậu quả do sự cố này gây ra…

Bổ sung và hoàn thiện các quy định về kiểm soát ô nhiễm và quản lý các loại chất thải, khí thải như ban hành các qui định pháp luật cũng như các cơ quan quản lí nhà nước đối với việc quản lí chất lượng nước thải và dầu thải ra từ tàu tại cảng biển…

Bổ sung và hoàn thiện các quy định về bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển. Trong đó, cần giải quyết vấn đề chồng chéo, thiếu nhất quán, đồng bộ giữa các cơ quan quản lý, giữa các bộ ngành có liên quan; cần đảm bảo tính thống nhất giữa Luật Bảo vệ môi trường và các luật về tài nguyên… Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

Cần sửa đổi, bổ sung các luật hình sự, dân sự, luật hành chính, luật thanh tra, luật hàng hải, dầu khí… về các quy định về thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm nhằm tạo hành lang pháp lý đầy đủ cho các cơ quan có thẩm quyền có thể chủ động và linh hoạt trong công tác thanh tra, kiểm tra, xử phạt hành chính, xét xử tội phạm môi trường…Tăng cường hiệu lực, hiệu quả của việc chấp hành pháp luật, thực thi các chủ trương chính sách của Đảng và Nhà nước đối với công tác bảo vệ môi trường biển; sửa đổi các quy định còn tồn tại về thời hiệu xử phạt, về mức xử phạt, về thẩm quyền xử phạt, về hoạt động giám sát sau xử phạt hành chính về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển; nội dung bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả và phục hồi môi trường do ô nhiễm dầu cần phải được luật hóa một cách chi tiết đối với việc áp dụng trách nhiệm dân sự về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong các hoạt động như hoạt động hàng hải…

Cần có cơ chế thực thi hiệu quả Luật Biển Việt Nam năm 2026 và cần phải có qui định Lực lượng giám sát tổng hợp tài nguyên biển là lực lượng thực thi pháp luật-giám sát tổng hợp trên các vùng biển Việt Nam.

Luật bảo vệ môi trường biển Việt Nam và các văn bản liên quan đến bảo vệ môi trường biển, phòng chống ô nhiễm biển đều ít có quy định cụ thể về hợp tác chung với các quốc gia trong khu vực để ngăn ngừa, hạn chế và kiểm soát các nguồn ô nhiễm xuyên biên giới. Luật Việt Nam cũng chưa có các quy định dành quyền áp dụng các biện pháp tự vệ bảo vệ môi trường biển của mình trên cơ sở tôn trọng chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của quốc gia-nơi các mối đe dọa và thiệt hại tiềm ẩn về môi trường biển xuất phát.

Cần hoàn thiện khung thể chế quản lý biển, bởi có quản lý tốt thì mới mang lại kết quả tốt. Đây cũng là bài học kinh nghiệm Việt Nam nên học tập các nước trên thế giới như Canada, Nhật Bản, Trung Quốc…Các nước này đều có chính sách quản lý biển rất hiệu quả. Chúng ta cần thành lập một cơ quan đầu mối về chính sách biển tập trung vào việc điều phối chính sách biển, giám sát quá trình kế hoạch phân vùng biển, xây dựng các chương trình, kế hoạch thực thi chính sách biển quốc gia, nghiên cứu biển liên quan đến phát triển và thực thi chính sách biển… Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

  • Các giải pháp khác:

Để bảo vệ và gìn giữ môi trường biển trong lành, đảm bảo sự phát triển bền vững ngoài việc sử dụng công cụ pháp luật, Việt Nam cần sử dụng hiệu quả các công cụ khác và các giải pháp khác như:

Để giải quyết vấn đề ô nhiễm biển có nguồn gốc từ biển và từ đất liền, cần nhiều chương trình hành động nhằm khắc phục tình trạng ô nhiễm và suy thoái môi trường nghiêm trọng với các điểm, khu vực, vùng bị ô nhiễm và suy thoái nặng đã được triển khai; việc ứng phó, khắc phục sự cố môi trường, thiên tai trên biển và vùng ven biển, bảo vệ và cải thiện môi trường các khu vực trọng điểm tại các vùng biển cũng tích cực được tiến hành; công tác phòng ngừa và kiểm soát ô nhiễm đối với các hoạt động du lịch, hàng hải; khoan, thăm dò, khai thác, vận chuyển dầu khí; khai thác khoáng sản; đánh bắt, nuôi trồng thủy sản; thải đổ bùn nạo vét luồng giao thông thủy, công trình biển…cũng cần được ưu tiên chú trọng.

Cần có cơ chế thúc đẩy, tăng cường sự tham gia và phối hợp của các bên liên quan trong việc đưa ra các chương trình liên quan đến vùng ven biển và cân bằng giữa các nhóm cạnh tranh về lợi ích ở vùng ven biển. Xây dựng nhiều chương trình lớn về quản lý đới bờ để giải quyết vấn đề ô nhiễm biển rộng rãi nhằm duy trì tính nguyên vẹn của hệ sinh thái vùng bờ thông qua công tác bảo tồn và bảo vệ, khuyến khích sử dụng bền vững các tài nguyên biển và ven bờ.

Trong bối cảnh nhu cầu quản lý và phát triển bền vững môi trường biển ngày càng trở nên cấp thiết, cách tiếp cận quản lý sinh thái được xem là nguyên tắc cơ bản của chính sách biển quốc gia các nước như Úc, Mĩ, Canada… và Việt Nam có thể áp dụng chính sách này.

Khu bảo tồn biển cần được xây dựng nhằm để bảo vệ và giữ gìn tính đa dạng sinh học, tài nguyên thiên nhiên và các giá trị văn hóa của biển, qua đó cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường biển.

Chú trọng các giải pháp bảo đảm sinh kế bền vững cho cộng đồng dân cư ven biển để giảm thiểu áp lực đối với nguồn tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

Đẩy mạnh điều tra, khảo sát, quan trắc, nghiên cứu về tài nguyên, môi trường biển để sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Các số liệu điều tra sẽ cung cấp những thông tin quan trọng, giúp công tác hoạch định chính sách biển có hiệu quả cao, hướng tới mục tiêu sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển.

  • Tăng cường xây dựng, quản lý hệ thống cơ sở dữ liệu về tài nguyên môi trường biển.
  • Tăng cường giáo dục, đào tạo phát triển nguồn nhân lực biển phục công tác điều tra, nghiên cứu và quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường biển.
  • Khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư cho các dự án để khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo theo quy định của pháp luật.

Cần nâng cao nhận thức cộng đồng dân cư về biển để khai thác, sử dụng hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường. Tuyên truyền nâng cao nhận thức về bảo vệ chủ quyền, lợi ích quốc gia trên biển; khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo; khuyến khích các tổ chức, cá nhân chủ động, tích cực tham gia các hình thức tuyên truyền trong cộng đồng về việc thực hiện chính sách, pháp luật quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, hải đảo.

Đẩy mạnh hợp tác quốc tế về biển, không ngừng thúc đẩy hợp tác quốc tế song phương và đa phương về biển, các lĩnh vực chủ yếu liên quan đó là thúc đẩy khoa học kĩ thuật biển, điều tra biển, cứu nạn trên biển, phòng tránh thảm họa, kiểm soát tội phạm trên biển, đào tạo nguồn nhân lực cho các lĩnh vực liên quan đến biển…

3.2 TĂNG CƯỜNG GIA NHẬP CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

Trong xu thế hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự phát triển kinh tế đã tạo sức ép đối với việc sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường trong phạm vi từng quốc gia nói riêng và toàn cầu nói chung. Vì vậy, việc hợp tác về các vấn đề môi trường toàn cầu thông qua công cụ pháp luật với các điều ước quốc tế về môi trường là nhu cầu cần thiết đối với mỗi quốc gia.

Đối với Việt Nam, việc tham gia thực hiện các điều ước quốc tế về môi trường là yêu cầu quan trọng và cần thiết trong bối cảnh hội nhập quốc tế hiện nay. Sự tham gia này thể hiện mong muốn và quyết tâm của Việt Nam trong việc giải quyết các vấn đề về môi trường toàn cầu. Mặt khác, Việt Nam sẽ có cơ hội nhận được sự hỗ trợ quốc tế về kỹ thuật, tài chính góp phần bảo vệ và cải thiện môi trường trong nước, phục vụ mục tiêu phát triển bền vững. Thực tế, các khoản viện trợ quốc tế cho lĩnh vực tài nguyên và môi trường trong hai thập kỷ qua đã góp phần đáng kể vào việc ban hành các chính sách và cải cách thể chế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường. Cụ thể là các dự án quốc tế tài trợ cho Việt Nam trong các hoạt động hỗ trợ hoàn thiện khung pháp lý về quản lý môi trường, cải cách về thể chế, đào tạo nguồn nhân lực nhằm đáp ứng các yêu cầu quản lý môi trường và tài nguyên, đảm bảo sự phát triển bền vững ở Việt Nam trong những thập niên tới. Theo thống kê của UNDP, “trong tổng số tiền viện trợ dành cho phát triển giai đoạn 2013-2017 của 29 nhà tài trợ lớn cho Việt Nam có tới gần 70% số các nhà tài trợ dành cho môi trường từ 10-40% trong tổng số tiền tài trợ của mình” [25, tr. 7]. Tuy nhiên, lĩnh vực bảo vệ môi trường biển như bảo tồn rừng ngập mặn và các vùng đất ngập nước; bảo tồn các hệ sinh thái biển và vùng ven biển; phát triển và khai thác thủy sản bền vững; quản lý tài nguyên nước; nâng cao nhận thức môi trường; thu thập thông tin dữ liệu về môi trường; giáo dục và đào tạo về môi trường; xây dựng và thực thi chính sách về môi trường…là lĩnh vực ít được các nhà tài trợ quan tâm. Do đó, trong thời gian tới Việt Nam càng cần có chính sách phù hợp để thu hút sự đầu tư vào lĩnh vực này, trong đó việc gia nhập các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển cũng là một chính sách quan trọng và thực sự cần thiết.

Đồng thời, hội nhập kinh tế quốc tế là cơ hội tốt để gia tăng các sức ép môi trường đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh dịch vụ. Buộc các doanh nghiệp phải cải thiện chất lượng môi trường trong sản xuất kinh doanh của mình để đáp ứng với các yêu cầu của nền kinh tế hội nhập. Mặt khác, ở góc độ nhà nước cũng phải hoàn thiện về khung pháp lý và thể chế trong lĩnh vực môi trường biển để đáp ứng được các đòi hỏi khắt khe của nền kinh tế hội nhập toàn cầu.

Việc tham gia các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển trong tình hình hiện nay là điều cần thiết. Tuy nhiên, tham gia công ước nào cần phải cân nhắc, lựa chọn kỹ lưỡng, cần xem xét đến những lợi ích mà công ước đó mang lại cũng như xem xét đến khả năng của Việt Nam có đáp ứng, gánh vác được các nghĩa vụ mà công ước yêu cầu hay không? Cần phải có sự cân nhắc giữa những lợi ích và những bất lợi, khó khăn để có một quyết sách đúng đắn.

Xuất phát từ điều kiện kinh tế- xã hội, trình độ phát triển khoa học kỹ thuật của Việt Nam, cũng như diễn biến của vấn đề ô nhiễm môi trường biển, những vấn đề đang nảy sinh, những vướng mắc trong quá trình thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường biển Việt Nam và các công ước quốc tế về lĩnh vực này, Việt Nam có thể nghiên cứu để tham gia một số công ước như: Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

  • Công ước quốc tế về trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu, 1969.
  • Công ước quốc tế liên quan tới can thiệp vào các biểu vĩ độ cao trong trường hợp thiệt hại do ô nhiễm dầu, 1969.
  • Công ước về phòng ngừa ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác, 1971.
  • Công ước về phòng ngừa ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác, 1972.
  • Công ước quốc tế về bảo tồn các loài động vật hoang dã di cư,
  • Công ước quốc tế về sự sẵn sàng, ứng phó và hợp tác đối với ô nhiễm dầu 2004 (OPRC).
  • Công ước quốc tế về các hệ thống chống hà của tàu năm 2015 (AFS 2015)
  • Công ước quốc tế về kiểm soát và quản lý nước dằn và cặn nước dằn tàu năm 2018 (BWM 2018)
  • Công ước quốc tế Hồng Kông về tái sinh tàu an toàn, thân thiện môi trường năm 2023 (SR 2023)…

Tuy nhiên, trong thời gian tới, do đòi hỏi của thực tiễn Việt Nam nên sớm gia nhập một số công ước:

Thứ nhất, gia nhập Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do nhận chìm chất thải và các chất khác- Công ước Luân Đôn 1972 đã sửa đổi và Nghị định thư 2010. Năm vừa qua đối với nền kinh tế thế giới là một năm khó khăn, nhưng Việt Nam vẫn giữ được mức tăng trưởng ổn định và được đánh giá là nước có tốc độ phát triển nhanh. Song cùng với đà phát triển của các ngành công nghiệp thì việc nhận chìm ra biển các chất thải và các chất khác ngày càng nhiều và đang trở thành một trong những nguồn chính gây ô nhiễm môi trường biển nhưng vấn đề này lại chưa được ghi nhận nhiều trong các văn bản pháp luật của Việt Nam. Pháp luật Việt Nam đang thiếu các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm biển do nhận chìm chất thải và các chất khác. Pháp luật Việt Nam chưa xác định rõ loại chất nào được phép nhận chìm ngoài biển và mức độ các chất cho phép nhận chìm ngoài biển là bao nhiêu để không làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến môi trường biển. Để tính toán, nghiên cứu và đưa ra các quy định về loại chất nào, mức độ cho phép nhận chìm các chất là việc rất phức tạp, rất khó, nhất là đối với các nước có trình độ khoa học kỹ thuật, điều kiện kinh tế còn kém phát triển như Việt Nam. Hơn nữa, xuất phát từ các đặc trưng của môi trường biển và điều kiện tự nhiên của biển Việt Nam thì dù Việt Nam có ban hành được các quy định nêu trên vẫn cần tính toán đến các tổn thất môi trường có thể gây ra cho các nước láng giềng khi các chất thải được nhận chìm ngoài biển.

Do đó, để có được cơ chế kiểm soát, ngăn ngừa hiệu quả nguồn ô nhiễm này Việt Nam cần sớm gia nhập Công ước Luân Đôn và Nghị định thư 2010. Công ước này đã xác định rõ các loại chất và xác lập mức có thể cho phép nhận chìm một số chất mà không ảnh hưởng nghiêm trọng tới môi trường biển. Đồng thời, Công ước cũng hạn chế trách nhiệm quốc gia đối với những tổn thất xuyên biên giới do nhận chìm chất thải gây ra cho các nước láng giềng. Gia nhập Công ước này, Việt Nam chỉ cần chuyển hóa các quy định nêu trên cho phù hợp với điều kiện của Việt Nam và tinh thần của Công ước mà không cần tính toán, sửa đổi các quy định pháp luật nhiều. Tham gia Công ước, Việt Nam sẽ nhận được nhiều sự trợ giúp từ bên ngoài như sự giúp đỡ về khoa học kỹ thuật, cung cấp các thiết bị, phương tiện cần thiết, nhận được sự hợp tác về kỹ thuật khi xử lý các chất thải, yêu cầu tư vấn về việc thi hành Công ước…Tuy nhiên, đi đôi với các quyền lợi thì Việt Nam cũng phải thực hiện các nghĩa vụ quốc tế mà Công ước yêu cầu. Có thể nói việc tham gia Công ước Luân Đôn 1972 và Nghị định thư 2010 sẽ mang lại những bước tiến mới trong bảo vệ môi trường biển Việt Nam. Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

Thứ hai, gia nhập Công ước về sẵn sàng ứng phó và hợp tác đối với ô nhiễm dầu 2004 (OPRC 2004). Ô nhiễm do dầu đang trở thành vấn đề nhức nhối ở nhiều quốc gia ven biển, trong đó có Việt Nam. Do tính chất lan tràn nhanh, xuyên biên giới và hậu quả nghiêm trọng, khó khắc phục nên rất cần sự hợp tác, giúp đỡ kịp thời của các quốc gia để kịp thời ứng phó khi xảy ra các sự cố lớn như đâm va giữa các tàu chở dầu có trọng tải lớn, đâm va giữa các tàu không phải trở dầu nhưng có trọng tải lớn, rò rỉ dầu tại các giếng khoan, đường ống dẫn dầu…Chúng ta đã xây dựng cả một Kế hoạch Quốc gia ứng phó sự cố tràn dầu giai đoạn 2015- 2040: Trang thiết bị được đầu tư; nguồn nhân lực cần thiết ban đầu được đào tạo; các trung tâm ứng cứu được xây dựng ở ba miền và đã đi vào hoạt động; việc tổ chức ứng phó và thông tin về các sự cố ô nhiễm biển do dầu được xây dựng; có sự phân loại các sự cố tràn dầu theo mức rất lớn, lớn, trung bình và nhỏ; về trách nhiệm ứng phó sự cố tràn dầu được phân công cụ thể cho các cấp dựa trên mức độ và tính chất của các sự cố…Nhưng thực tế Việt Nam còn gặp rất nhiều khó khăn: trang thiết bị ứng cứu còn quá mỏng, không đồng đều, hầu hết các cảng biển, các cơ sở không có đủ các trang thiết bị đúng yêu cầu; khâu tổ chức ứng cứu, đối phó với các sự cố ô nhiễm do dầu còn nhiều lúng túng, chưa kịp thời; nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế…Chúng ta mới chỉ đối phó được với các sự cố ô nhiễm dầu nhỏ và trung bình. Đối với những sự cố lớn và rất lớn cần đến sự huy động mọi lực lượng trong nước và đặc biệt là các trung tâm cứu nạn của nước ngoài mới ngăn chặn tối đa hậu quả do ô nhiễm dầu gây ra. Tuy nhiên, khả năng huy động chi viện quốc tế của Việt Nam còn nhiều hạn chế; các quy định về vấn đề thị thực, cho phép của Hải quan còn nhiều bất cập…Điều này không đảm bảo được tính ứng phó kịp thời.

Vì vậy, Việt Nam cần sớm gia nhập OPRC 2004 để tăng cường sự trợ giúp, hợp tác quốc tế và khu vực nhằm đấu tranh với các sự cố ô nhiễm dầu lớn và các mối đe dọa do ô nhiễm dầu gây ra. Thúc đấy sự hợp tác quốc tế và sự trợ giúp lẫn nhau trong việc sẵn sàng ứng phó với các sự cố ô nhiễm dầu lớn và giảm thiểu hậu quả của các sự cố chính là mục tiêu của Công ước. Các quốc gia thành viên được khuyến khích thiết lập một hệ thống trợ giúp và hợp tác quốc tế và khu vực nhằm đấu tranh với các sự cố tràn dầu. Đây chính là điều cần thiết đối với Việt Nam. Là thành viên của Công ước Việt Nam sẽ phải thực hiện các yêu cầu của Công ước như: thiết lập hệ thống quốc gia ứng phó ngay lập tức và có hiệu quả các sự cố ô nhiễm dầu, ở mức tối thiểu cơ bản là phải có một kế hoạch khẩn cấp quốc gia ứng phó sự cố, phân nhiệm rõ ràng các cơ quan và các đơn vị hành động chính có trách nhiệm ngăn ngừa và ứng phó, báo cáo và chuyển yêu cầu giúp đỡ; phải nội luật hóa các tiêu chuẩn sẵn sàng ứng phó ô nhiễm dầu có tính bắt buộc cho tàu thuyền, các cảng, các thiết bị dầu đầu cuối và các thiết bị ngoài khơi; phải thiết lập hệ thống báo cáo các sự cố ô nhiễm dầu hoặc các nguy cơ ô nhiễm dầu… Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

Việc thực hiện tốt các quyền và nghĩa vụ được quy định trong Công ước sẽ giúp Việt Nam đối phó với ô nhiễm dầu hiệu quả hơn. Qua đó, góp phần giảm thiểu, ngăn chặn hậu quả do nguồn ô nhiễm này gây ra, bảo vệ môi trường biển.

Thứ ba, Việt Nam cần đẩy mạnh việc nghiên cứu và sớm gia nhập các công ước quốc tế quan trọng của IMO về bảo vệ môi trường biển, đó là: Phụ lục III, IV, V và VI của Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra (MARPOL 73/78); Công ước quốc tế về các hệ thống chống hà của tàu năm 2015 (AFS 2015); Công ước quốc tế về kiểm soát và quản lý nước dằn và cặn nước dằn tàu năm 2018 (BWM 2018) và Công ước quốc tế Hồng Kông về tái sinh tàu an toàn và thân thiện với môi trường năm 2023 (SR 2023). Do nguồn gây ô nhiễm biển từ tàu và công trình dầu khí biển là rất lớn, với sự phát triển rất nhanh của các phương tiện trong những năm vừa qua, hiện nay Việt Nam có khoảng 1.600 tàu biển, trọng tải 6,2 triệu tấn, đứng thứ 31 trên thế giới. Nguồn gây ô nhiễm này thực sự đã trở thành nguy cơ vô cùng to lớn đối với môi trường biển, gây ra những ảnh hưởng rất lớn đến hệ sinh thái biển, hủy hoại các nguồn tài nguyên biển, gây nguy hiểm cho sức khỏe con người và góp phần không nhỏ vào biển đổi khí hậu toàn cầu.

Tuy vậy, ở Việt Nam việc giảm thiểu nguồn ô nhiễm biển do tàu thuyền gây ra vẫn chưa thực sự được chú trọng. Pháp luật Việt Nam còn thiếu các quy định để ngăn ngừa nguồn ô nhiễm này, nhất là các quy định về kiểm soát và quản lý nước dằn và cặn nước dằn tàu; các quy định về đóng mới tàu và tái sinh tàu an toàn; các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất độc hại đóng trong bao gói; các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm biển do rác thải, nước thải và không khí từ tàu…Hầu hết các tàu cũ và các tàu đóng mới của Việt Nam chưa được trang bị hệ thống xử lý nước dằn nên trong quá trình khai thác thường gặp nhiều rắc rối, đặc biệt là sự kiểm tra tàu của chính quyền cảng. Hệ thống tàu thuyền của Việt Nam phần lớn còn lạc hậu, nhiều phương tiện cũ nhập khẩu từ các nước, có phương tiện đã hết thời hạn sử dụng nhưng vẫn được đi lại trên biển, đa số các phương tiện chở hàng thường quá tải và tìm cách trốn tránh sự kiểm tra của Hải quan. Việc kiểm soát nước thải, rác thải và các chất thải khác từ tàu thuyền đối với một nước có điều kiện kinh tế, xã hội, khoa học kỹ thuật như Việt Nam là rất khó khăn…

Việc tham gia các công ước nêu trên góp phần quan trọng vào việc làm giảm thiểu các tác động bất lợi đến môi trường biển của đội tàu biển và công trình dầu khí biển Việt Nam, nhằm tăng cường hơn nữa khả năng phòng ngừa, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển của đội tàu biển, thể hiện quyết tâm hội nhập quốc tế của Việt Nam, và để chúng ta có đủ cơ sở pháp lý trong việc xử lý vi phạm về môi trường của các phương tiện nước ngoài hoạt động trong vùng biển Việt Nam.

Việt Nam cần tích cực tham gia, kí kết các Công ước quốc tế nêu trên là vì những lợi ích mà chúng ta nhận được sẽ là rất lớn, kể cả những lợi ích trước mắt cũng như lâu dài, lợi ích kinh tế cũng như môi trường, lợi ích vật chất cũng như phi vật chất. Gia nhập các Công ước quốc tế đó sẽ tạo ra những lực đẩy nội tại buộc các ngành kinh tế của Việt Nam phải vận động mạnh mẽ hơn để đạt đến trình độ của các nước phát triển và cũng đồng thời góp phần xây dựng một hình ảnh Việt Nam tích cực hơn trong công cuộc bảo vệ môi trường biển. Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

Để các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển được thực thi có hiệu quả tại Việt Nam trong giai đoạn tới cần tập trung vào thực hiện một số giải pháp sau:

  • Thứ nhất, xây dựng và hoàn thiện cơ chế chính sách và pháp luật về bảo tồn đa dạng sinh học và ngăn ngừa kiểm soát ô nhiễm biển.
  • Thứ hai, xây dựng lộ trình tham gia và thực hiện của Việt Nam đối với một số công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển trong khu vực và toàn cầu.
  • Thứ ba, củng cố, nâng cao năng lực thực hiện công ước quốc tế của cơ quan đầu mối.
  • Thứ tư, tăng cường trao đổi và hình thành cơ chế trao đổi thông tin, phổ biến kiến thức về các công ước quốc tế.
  • Thứ năm, nâng cao nhận thức về môi trường và việc thực hiện các quy định pháp luật có liên quan đến các công ước quốc tế về môi trường biển trong cộng đồng quản lý và công chúng.

Cuối cùng, tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi, học tập kinh nghiệm nghiên cứu với các nước, đặc biệt trong khuôn khổ ASEAN và chuyên gia nước ngoài về thực hiện các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

KẾT LUẬN CHƯƠNG 3

Với những giá trị to lớn mà biển mang lại cho Việt Nam, với những định hướng phát triển kinh tế biển nhanh, mạnh trong tương lai gần khiến nguy cơ ô nhiễm môi trường biển gia tăng. Do đó, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường biển là một đòi hỏi cấp thiết về lí luận cũng như về thực tiễn.

Pháp luật bảo vệ môi trường biển cần phải được xây dựng và hoàn thiện về các nội dung chính như xây dựng và hoàn thiện hệ thống các quy định pháp luật về bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển; các quy định về kiểm soát, phòng ngừa, xử lý, khắc phục các sự cố gây ô nhiễm môi trường biển; xây dựng và hoàn thiện các quy định pháp luật về việc xử lí các hành vi vi phạm. Đồng thời, nhằm giám sát việc thực thi pháp luật bảo vệ môi trường biển, cần nâng cao năng lực hoạt động của hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước về bảo vệ môi trường biển. Song song với việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật, các giải pháp khác cũng cần được chú trọng như: việc sử dụng các đòn bẩy kinh tế, sử dụng các phương tiện khoa học, trang thiết bị hiện đại cũng như tăng cường sự tham gia của cộng đồng dân cư trong việc bảo vệ môi trường biển…Các giải pháp này cần được tiến hành một cách đồng bộ và có hiệu quả.

Việc tăng cường gia nhập, kí kết và chuyển hóa các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển vào hệ thống pháp luật của Việt Nam cần phải được xem như một nội dung quan trọng góp phần bảo vệ môi trường biển. Do đó, Việt Nam cần xây dựng một lộ trình tham gia và thực hiện có hiệu quả các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

KẾT LUẬN Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

Hiện nay, trước sức ép do dân số tăng nhanh, nhu cầu phát triển kinh tế ngày càng cao trong bối cảnh nguồn tài nguyên từ đất liền đang dần cạn kiệt thì xu hướng tiến ra biển, mở rộng ranh giới ra biển, khai thác biển, làm giàu từ biển ngày càng được các quốc gia đẩy mạnh tiến hành. Nhưng thường đi kèm với đó lại là các phương thức khai thác thiếu tính bền vững; các hoạt động khai thác chủ yếu chỉ tập trung vào các mục tiêu phát triển kinh tế để đạt được các mong muốn tối đa, trong khi xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường, hoặc không có hoặc thiếu những qui hoạch, kế hoạch chi tiết, cụ thể, cùng với cơ chế quản lý lỏng lẻo của nhiều quốc gia trên thế giới, đặc biệt trong bối cảnh tác động của biến đổi khí hậu với các biểu hiện chính là sự gia tăng mực nước biển và nhiệt độ của trái đất, vấn đề khai thác tài nguyên và bảo vệ môi trường biển ở nhiều khu vực, quốc gia ngày càng đứng trước nhiều thách thức, nhiều nguồn tài nguyên bị khai thác cạn kiệt, môi trường biển nhiều nơi bị ô nhiễm đến mức báo động, gây ra nhiều thiệt hại nghiêm trọng, cản trở sự phát triển kinh tế- xã hội của nhiều quốc gia. Việt Nam cũng là một trong số các quốc gia đó.

Thời gian qua, vấn đề bảo vệ môi trường biển đã trở thành vấn đề nóng bỏng và cấp thiết, rất nhiều công trình nghiên cứu, bài báo trên các trang báo in, báo mạng, các luận văn, luận án đề cập đến vấn đề này. Đảng và Nhà nước ta thực sự quyết tâm trong việc giải quyết vấn đề ô nhiễm môi trường biển. Rất nhiều văn bản quy phạm pháp luật được ban hành, sửa đổi cho phù hợp với thực tế, nhiều đề án, chiến lược, hội thảo về bảo vệ môi trường biển được xây dựng, tổ chức… Có sự phối hợp giữa các ban ngành, có sự ủng hộ và góp sức của người dân. Cùng với đó vấn đề hợp tác quốc tế trong lĩnh vực môi trường biển được đẩy mạnh, vấn đề gia nhập, thực thi các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển được chú trọng… Môi trường biển nước ta phần nào đã được cải thiện.

Tuy vậy, Việt Nam đang thực hiện chiến lược phát triển biển đến năm 2040, thiết nghĩ chúng ta phải nâng tầm nhìn về bảo vệ và gìn giữ môi trường biển không chỉ 10 năm hay 20 năm mà cả một thế hệ sau. Để hướng tới phát triển bền vững và để kinh tế biển trở thành thế mạnh của Việt Nam như Chiến lược biển đến năm 2040 đã xác định thì trong thời gian tới, Việt Nam cần tích cực hơn nữa, quyết tâm và mạnh tay hơn nữa trong việc giữ gìn, bảo vệ môi trường biển. Cần tiếp tục rà soát các văn bản pháp luật đã ban hành để tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật, cần đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến giáo dục pháp luật về môi trường biển, nâng cao ý thức người dân, lấy con người làm trọng tâm trong công tác bảo vệ môi trường biển, kêu gọi sự hợp tác, giúp đỡ, đầu tư từ các quốc gia phát triển, học tập kinh nghiệm từ các quốc gia có chính sách quản lý biển hiện đại, có biện pháp bảo vệ môi trường biển hiệu quả và quan trọng là cần quan tâm nhiều hơn nữa đến vấn đề gia nhập và thực thi các Công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển… Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.

Bảo vệ môi trường biển nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung chính là bảo vệ cho tương lai. Hi vọng trong tương lai Việt Nam sẽ có được một môi trường biển đẹp, đẹp trong con mắt của người dân Việt Nam và của bạn bè quốc tế. Qua đó, thúc đẩy kinh tế phát triển và nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:  

===>>> Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển

One thought on “Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển

  1. Pingback: Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0906865464