Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Thực tiễn pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển và việc tham gia, thực hiện các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
2.1 CÁC QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
2.1.1. Luật pháp về các vùng biển Việt Nam
Việc xác định đúng đâu là vùng biển của Việt Nam có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ môi trường biển của Việt Nam nói riêng và môi trường biển nói chung.
Với tuyên bố của Chính phủ Việt Nam ngày 12/5/2011 về các vùng biển, Việt Nam đã trở thành nước đầu tiên trong khu vực Đông Nam Á thiết lập đầy đủ các vùng biển: nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa theo đúng các quy định của Công ước 1982 của Liên hợp quốc về Luật biển. Theo tuyên bố này, nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời phía trên, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hải. Lãnh hải của Việt Nam rộng 12 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Bên ngoài lãnh hải là vùng tiếp giáp lãnh hải và tạo với lãnh hải một vùng biển rộng 24 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Tại vùng biển này, Việt Nam có quyền kiểm soát cần thiết nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa và nhằm đảm bảo sự tuân thủ các quy định về y tế, di cư và nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam.
Tuyên bố trên cũng xác định vùng đặc quyền về kinh tế của Việt nam tiếp liền với lãnh hải và tạo với lãnh hải một vùng rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải. Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tài nguyên sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền về kinh tế Việt Nam, có các quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động thăm dò, khai thác nhằm mục đích kinh tế, có thẩm quyền riêng biệt về trong việc thiết lập, lắp đặt và sử dụng các công trình, các đảo nhân tạo, có thẩm quyền riêng biệt về bảo vệ và chống ô nhiễm môi trường biển.
Thềm lục địa của Việt Nam bao gồm đáy biển và lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài rìa lục địa; nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến 200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó. Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về mặt thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý các tài nguyên khoáng sản, tài nguyên sinh vật và không sinh vật thuộc loài định cư ở thềm lục địa Việt Nam. Việt Nam cũng có quyền tài phán về bảo vệ môi trường biển như đối với vùng đặc quyền kinh tế.
Ngày 12/11/1982, Chính phủ Việt Nam đã ra tuyên bố về đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải để xác định các vùng biển của mình. Tuy nhiên, do biển Đông là biển nửa kín, hẹp nên không tránh khỏi có các vùng biển chồng lấn, vì thế Việt Nam đã ký kết các hiệp định phân định biển với các nước như Hiệp định phân định biển với Thái Lan ngày 9/7/2011, Hiệp định phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa trong Vịnh Bắc Bộ với Trung Quốc ngày 25/12/2014. Như vậy, các vùng biển Việt Nam được quy định và xác lập một cách rõ ràng. Tại các vùng biển này, Việt Nam thực hiện các quyền chủ quyền và tài phán của mình, trong đó có cả quyền sử dụng biển, bảo vệ môi trường biển. Tuy nhiên, nghĩa vụ bảo vệ môi trường biển là nghĩa vụ của tất cả các quốc gia, không phân biệt biên giới hay ranh giới phân định, không phân biệt quốc gia đó có biển hay không có biển.
2.1.2. Luật pháp Việt Nam về bảo vệ môi trường biển Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Trước thực trạng biển Việt Nam đang bị suy thoái và ô nhiễm nặng nên việc bảo tồn và phát huy nguồn tài nguyên biển giàu có, bảo vệ môi trường biển Việt Nam có ý nghĩa quyết định. Việt Nam đã xây dựng, phát triển hệ thống các chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường biển.
Trước tiên, vấn đề bảo vệ môi trường trong đó có môi trường biển được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2006- văn bản pháp lý có giá trị hiệu lực cao nhất, đặc biệt trong dự thảo sửa đổi Hiến pháp năm 2006 thì vấn đề bảo vệ môi trường càng đặc biệt được chú trọng. Từ hiến định, thì rất nhiều văn bản luật và dưới luật đã có quy định cụ thể về vấn đề bảo vệ môi trường biển, có thể kể đến Luật Bảo vệ môi trường năm 2019, Luật Biên giới quốc gia năm 2017, Bộ luật Hàng hải 2019, Luật Thủy sản 2017, Luật Dầu khí năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2014 và năm 2022; Luật biển Việt Nam năm 2026…
Hệ thống chính sách và pháp luật đó có thể khái quát những đặc trưng lớn như sau:
- Hệ thống chính sách kết hợp bảo vệ môi trường với phát triển kinh tế- xã hội và bảo vệ chủ quyền quốc gia hướng tới phát triển bền vững, được xây dựng từ cấp trung ương tới địa phương và định hướng chiến lược lâu dài.
- Luật Bảo vệ Môi trường 2019 có những quy định cơ bản quan trọng về bảo vệ môi trường biển cùng với các luật khác có liên quan cũng có những quy định về bảo vệ môi trường biển tạo ra một khung pháp lý toàn diện về bảo vệ môi trường biển.
- Các quy định chính sách và pháp luật trên góp phần nội luật hóa và thực hiện các cam kết quốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam đã tham gia. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Các đặc trưng trên sẽ được phân tích, đánh giá lần lượt dưới đây. Tuy nhiên, trong đó, Luật Bảo vệ môi trường 2019 và các văn bản hướng dẫn thi hành có ý nghĩa trực tiếp và quan trọng nhất đến bảo vệ môi trường biển Việt Nam. Chính vì vậy, tác giả sẽ tập trung đi sâu vào các quy định của Luật Bảo vệ môi trường 2019, các luật chuyên ngành và các văn bản hướng dẫn thi hành về vấn đề bảo vệ môi trường biển.
2.1.2.1. Hệ thống chính sách bảo vệ môi trường
Nhận thức được tầm quan trọng của phát triển kinh tế xã hội biển và bảo vệ môi trường biển Nghị quyết số 09-NQ/TW ngày 09/02/2021 của Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2040 đã nêu rõ:
Phải phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền, quyền chủ quyền quốc gia trên biển, góp phần giữ vững ổn định và phát triển đất nước; kết hợp chặt chẽ giữa phát triển kinh tế – xã hội với đảm bảo quốc phòng, an ninh và bảo vệ môi trường; có chính sách hấp dẫn nhằm thu hút mọi nguồn lực cho phát triển kinh tế biển; xây dựng các trung tâm kinh tế lớn vùng duyên hải gắn với các hoạt động kinh tế biển làm động lực quan trọng đối với sự phát triển của cả nước. Phấn đấu đến năm 2040, kinh tế biển đóng góp khoảng 53 – 55% GDP, 55 – 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước, giải quyết tốt các vấn đề xã hội, cải thiện một bước đáng kể đời sống của nhân dân vùng biển và ven biển [27].
Nhằm triển khai chủ trương trên của Đảng, Chính phủ thông qua Nghị quyết số 27/2021/NQ-CP ngày 30/5/2021 ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết Hội nghị lần thứ 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2040. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Tiếp đó, hầu hết các tỉnh và thành phố trực thuộc trung ương ven biển đều ban hành Nghị quyết để triển khai Nghị quyết 09-NQ/TW ngày 09/02/2021 về Chiến lược biển 2040. Trong đó hầu hết, các chương trình, kế hoạch đều đề cập đến việc thực hiện bảo vệ môi trường biển. Trên cơ sở các Nghị quyết và Chiến lược biển, các địa phương đã ban hành các quyết định để triển khai phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương như Quyết định số 1624/2021/QĐ-UBND của Ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa ngày 01/06/2021 về Chương trình hành động thực hiện Chiến lược biển cũng xác định một trong sáu nhiệm vụ cơ bản của Chương trình là “Nhiệm vụ điều tra cơ bản về tài nguyên, môi trường; phát triển khoa học- công nghệ; bảo vệ môi trường biển, ven biển; phòng chống thiên tai”; Quyết định số 28/2022/QĐ-UBND ngày 03/04/2022 của Ủy ban nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh ban hành kế hoạch hành động thực hiện Chiến lược biển Việt Nam 2040 cũng xác định mục tiêu xây dựng khu đô thị gắn với cảng biển, các khu công nghiệp và dịch vụ; phát triển không gian đô thị phù hợp với điều kiện tự nhiên về thoát nước, bảo vệ môi trường…
Để xây dựng và thực hiện được các chiến lược nêu trên, một loạt các chính sách hỗ trợ cũng được ban hành trước đó như Đề án tổng thể về điều tra cơ bản và quản lý tài nguyên- môi trường biển đến năm 2024, tầm nhìn đến năm 2040 phê duyệt bởi Quyết định số 47/2020/QĐ-TTg ngày 1/3/2020; Nghị định 101/2021/NĐ-CP ngày 13/6/2021 về việc thu thập, quản lý, khai thác và sử dụng dữ liệu tài nguyên, môi trường biển; Chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2024 và định hướng đến năm 2040 phê duyệt bởi Quyết định 158/2021/QĐ-TTg ngày 9/10/2021; Kế hoạch quốc gia kiểm soát ô nhiễm môi trường đến năm 2024 ban hành kèm theo quyết định 328/2019/QĐ-TTg ngày 12/12/2019,…
Chiến lược bảo vệ môi trường 2024 định hướng đến 2040, môi trường biển rất được quan tâm, đặc biệt là vấn đề bảo vệ môi trường biển, ven biển và hải đảo. Chiến lược này đã được kết hợp, lồng ghép chặt chẽ với chiến lược phát triển kinh tế biển theo quan điểm sử dụng tổng hợp, hợp lý đi đôi với bảo vệ tài nguyên và môi trường biển ven bờ.
2.1.2.2. Các quy định về bảo vệ môi trường biển trong Luật Bảo vệ môi trường 2019 và các luật khác có liên quan
Luật bảo vệ Môi trường 2019 xác định hoạt động bảo vệ môi trường biển gồm ba nội dung chính là: bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển; kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển và phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển. Đây cũng chính là 3 điều luật chính trong Mục 1, Chương VII, Luật Bảo vệ môi trường 2019. Ngoài ra, Luật cũng đưa ra các nguyên tắc đối với bảo vệ môi trường biển Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Để điều chỉnh và đảm bảo hoạt động bảo vệ môi trường biển, ngoài các quy định chung mang tính định hướng tại Mục 1, Chương VII, Luật Bảo vệ môi trường 2019 còn có các văn bản pháp luật liên quan điều chỉnh cụ thể như Bộ luật Hàng hải 2019, Luật Thủy sản 2017, Luật Dầu khí năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2014 và năm 2022, Nghị định số 109/2017/NĐ-CP về bảo vệ và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước, Nghị định 80/2020/NĐ-CP về việc hướng dẫn thi hành Luật bảo vệ môi trường…
- Trước hết, Luật bảo vệ môi trường xác định các nguyên tắc đối với bảo vệ môi trường biển tại Điều 55, cụ thể:
- Bảo vệ môi trường là một nội dung của quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển nhằm giảm thiểu tác động xấu đối với môi trường biển và tăng hiệu quả kinh tế biển.
- Phòng ngừa và hạn chế chất thải từ đất liền và từ các hoạt động trên biển; chủ động, phối hợp ứng phó sự cố môi trường biển.
- Bảo vệ môi trường biển phải trên cơ sở phân vùng chức năng bảo vệ và sử dụng tài nguyên thiên nhiên.
- Bảo vệ môi trường biển phải gắn với quản lý tổng hợp tài nguyên và môi trường biển phục vụ phát triển bền vững.
Đây là các nguyên tắc mang tính định hướng cho hoạt động bảo vệ môi trường biển. Có thể thấy rõ hoạt động bảo vệ môi trường biển không tách rời hoạt động phát triển kinh tế biển và hoạt động bảo vệ là nhằm tăng hiệu quả hoạt động kinh tế biển. Nguyên tắc số một này yêu cầu phải được thực hiện ngay chính trong giai đoạn quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế biển. Một nguyên tắc định hướng nữa là phân vùng chức năng bảo vệ và sử dụng tài nguyên biển là cơ sở cho hoạt động bảo vệ môi trường biển và hoạt động này hướng tới phát triển bền vững.
- Bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển
Nội dung này được quy định tại Điều 56, Luật Bảo vệ môi trường 2019 với các hoạt động cụ thể.
- Các nguồn tài nguyên biển phải được điều tra, đánh giá về trữ lượng, khả năng tái sinh và giá trị kinh tế phục vụ việc quản lý và bảo vệ môi trường biển. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
- Hoạt động nuôi trồng thủy sản, khai thác nguồn lợi, tài nguyên biển và hoạt động khác liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên biển phải được thực hiện theo quy hoạch sử dụng tài nguyên thiên nhiên đã được phê duyệt.
- Hoạt động trong khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng ngập mặn, di sản tự nhiên biển phải tuân theo quy chế của ban quản lý, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan.
- Nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp, phương tiện, công cụ có tính hủy diệt trong khai thác tài nguyên và nguồn lợi biển [62].
Đối với quy định về hoạt động nuôi trồng thủy sản, khai thác nguồn lợi, tài nguyên biển và hoạt động khác liên quan đến khai thác, sử dụng tài nguyên biển, hiện nay nhà nước đã ban hành Chương trình Bảo vệ và Phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2024 theo Quyết định số 131/2018/QĐ-TTg ngày 16/7/2018. Mục tiêu của chương trình là bảo vệ, bảo tồn đa dạng thủy sinh vật, đặc biệt là các loài thủy sản quý, hiếm, có giá trị khoa học và kinh tế; giữ gìn tính đa dạng, độc đáo của hệ sinh thái thủy sinh vật Việt Nam cho hiện tại và tương lai; phục hồi nguồn lợi thủy sản vùng biển ven bờ, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, giá trị các nguồn tài nguyên thiên nhiên và đa dạng sinh học, đồng thời xác định rõ vai trò, trách nhiệm của ngư dân trong việc tham gia bảo vệ nguồn lợi thủy sản, tăng cường năng lực quản lý nhà nước về bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản của các cơ quan chức năng và chính quyền các cấp.
Ngoài Chương trình bảo vệ và phát triển nguồn lợi thủy sản đến năm 2024 được triển khai chung trên toàn quốc, tại từng khu vực cụ thể còn xây dựng chương trình quản lý dải tổng hợp ven biển như Chương trình quản lý tổng hợp dải ven biển vùng Bắc Trung Bộ và duyên hải Trung Bộ đến năm 2024 và định hướng đến năm 2040 theo Quyết định 185/2021/QĐ-TTg ngày 9/10/2021.
Đối với hoạt động trong khu bảo tồn thiên nhiên, khu rừng ngập mặn, di sản tự nhiên biển phải tuân theo quy chế của ban quản lý, quy định của pháp luật về bảo vệ môi trường và các quy định khác của pháp luật có liên quan. Những quy định pháp luật có liên quan đến khu bảo tồn biển trước hết phải kể đến quy định của Luật Thủy sản 2017 và Nghị định 27/2019/NĐ-CP ngày 08/3/2019 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thủy sản với quy định về định nghĩa khu bảo tồn biển, Tiêu chuẩn phân loại, phân cấp tổ chức và quản lý khu bảo tồn biển. Đối với khu bảo tồn vùng nước nội địa được Nghị định 27/2019/NĐ-CP coi là nơi được khoanh vùng thuộc các vùng đất ngập nước và chịu sự điều chỉnh của Nghị định số 109/2017/NĐ-CP ngày 23/9/2017 của Chính phủ về bảo tồn và khai thác bền vững các vùng đất ngập nước. Nghị định 109/2017/NĐ-CP điều chỉnh các hoạt động về bảo tồn và phát triển bền vững các vùng đất ngập nước trên phạm vi lãnh thổ Việt Nam bao gồm vùng đất ngập nước có hệ sinh thái đặc thù, đa dạng sinh học cao, có chức năng duy trì nguồn nước và cân bằng sinh thái, có tầm quan trọng quốc tế, quốc gia. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Gần đây nhất, Chính phủ đã ban hành quy chế quản lý các khu bảo tồn biển Việt Nam có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế ban hành kèm theo Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 2/5/2022, quy định rõ về tiêu chuẩn phân loại, việc tổ chức quản lý, bảo vệ và phát triển các khu bảo tồn biển Việt Nam có tầm quan trọng quốc gia và quốc tế; trách nhiệm của các Bộ, ngành và các địa phương.
Đối với việc nghiêm cấm việc sử dụng các biện pháp, phương tiện, công cụ có tính hủy diệt trong khai thác tài nguyên và nguồn lợi biển, điều này cũng đã được quy định tại Luật Thủy sản 2017 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Theo Điều 8 Luật Thủy sản, Bộ Thủy sản (hiện nay là Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn) có trách nhiệm định kỳ công bố các phương pháp khai thác, loại nghề khai thác bị cấm sử dụng hoặc bị hạn chế sử dụng; chủng loại, kích cỡ tối thiếu các loài thủy sản được phép khai thác, mùa vụ khai thác; khu vực cấm khai thác và khu vực cấm khai thác có thời hạn là căn cứ để xác định biện pháp, phương tiện, công cụ có tính hủy diệt trong khai thác tài nguyên và nguồn lợi biển.
- Kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển
Nội dung này được quy định tại Điều 57; theo đó, để kiểm soát và xử lý ô nhiễm môi trường biển, Luật Bảo vệ môi trường 2019 yêu cầu:
Nguồn thải từ đất liền, cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đô thị, khu dân cư ven biển, trên biển, trên đảo phải được điều tra, thống kê, đánh giá và có giải pháp ngăn ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường biển.
Chất thải và các yếu tố gây ô nhiễm khác từ hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, xây dựng, giao thông, vận tải, khai thác trên biển phải được kiểm soát và xử lý đạt tiêu chuẩn môi trường [62].
Các quy định này cũng được quy định cụ thể lồng ghép với các quy định chuyên ngành tại Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2019. Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động hàng hải có bốn nội dung cơ bản, đó là: Thứ nhất, các qui định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển đối với tàu biển và thuyền viên. Thứ hai, qui định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong các hoạt động cảng biển.Thứ ba, qui định pháp luật về kiểm soát ô nhiễm môi trường trong các hoạt động giao thông trên biển Thứ tư, các qui định pháp luật về phòng ngừa và khắc phục các sự cố môi trường trong hoạt động hàng hải.
Ngoài ra, việc kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển được quy định trong Nghị định số 71/2020/NĐ-CP ngày 25/7/2020 về quản lý cảng biển và luồng hàng hải, Nghị định 115/2021/NĐ-CP ngày 5/7/2021 về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan. Nghị định số 62/2020/ND-CP ngày 21/6/2020 quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực hàng hải, Nghị định số 39/CP ngày 10/6/2012 về xử lý tài sản chìm đắm ở biển, Thông tư 2592/Mtg ngày 12/11/2010 của Bộ khoa học, công nghệ và môi trường về kiểm soát ô nhiễm biển do tàu thuyền và phương tiện vận chuyển đường sông… “Dầu, mỡ, dung dịch khoan, hóa chất và các chất độc hại khác được sử dụng trong các hoạt động thăm dò, khai thác tài nguyên biển sau khi sử dụng phải được thu gom, lưu giữ trong thiết bị chuyên dụng và phải được xử lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại” [4]. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Việc thực hiện quy định này cần xem xét thêm Luật Dầu khí ngày 06 tháng 7 năm 2007; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2014, 2022 và Nghị định 48/2014/NĐ-CP ngày 12/9/2014 Quy định chi tiết thi hành Luật Dầu khí và các văn bản hướng dẫn thi hành có liên quan. Việc xử lý theo quy định về quản lý chất thải nguy hại phải được thực hiện theo Quy chế quản lý chất thải nguy hại ban hành kèm theo Quyết định 155/2013/QĐ-TTg ngày 16/7/2013 và Thông tư 12/2020/TT-BTNMT ngày 26/12/2020 Hướng dẫn điều kiện hành nghề và thủ tục lập hồ sơ, đăng ký, cấp phép hành nghề, mã số quản lý chất thải nguy hại.
Nghiêm cấm mọi hình thức đổ chất thải trong vùng biển nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.
- Tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển
Do mức độ nghiêm trọng của sự cố môi trường trên biển, nên ngoài Mục 1, Chương 9 điều chỉnh về phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường nói chung, Luật Bảo vệ môi trường tiếp tục dành Điều 58 để quy định về tổ chức phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển với các nội dung cụ thể như sau:
Tổ chức, cá nhân hoạt động khai thác khoáng sản, chủ phương tiện vận chuyển xăng, dầu, hóa chất, chất phóng xạ và các chất độc hại khác trên biển phải có kế hoạch, nhân lực, trang thiết bị bảo đảm phòng ngừa và ứng phó sự cố môi trường.
Riêng đối với hoạt động dầu khí là hoạt động diễn ra phổ biến trên biển và nguy cơ sự cố môi trường do hoạt động dầu khí gây ra rất lớn nên Nghị định 48/2014/NĐ-CP ngày 12/9/2014 Quy định chi tiết thi hành Luật Dầu khí có những quy định rất cụ thể nhằm phòng ngừa sự cố do hoạt động dầu khí.
Đối với các hoạt động khác, Bộ luật Hàng hải và các nghị định hướng dẫn thi hành quy định rất cụ thể đối với các loại hình vận chuyển hóa chất, chất phóng xạ và các chất độc hại khác trên biển phải đảm bảo an toàn, phòng ngừa sự cố xảy ra.
- Lực lượng cứu nạn, cứu hộ quốc gia, lực lượng cảnh sát biển phải được đào tạo, huấn luyện, trang bị phương tiện, thiết bị bảo đảm ứng phó sự cố môi trường trên biển. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
- Chủ phương tiện vận tải, kho lưu giữ hàng hóa trên biển có nguy cơ gây ra sự cố môi trường phải có hình thức thông báo cho các lực lượng quy định tại khoản 2 Điều này và tổ chức, cá nhân liên quan khác được biết và có phương án phòng tránh sự cố môi trường.
- Bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ven biển trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình có trách nhiệm phát hiện, cảnh báo, thông báo kịp thời về tai biến thiên nhiên, sự cố môi trường trên biển và tổ chức ứng phó, khắc phục hậu quả.
Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quy chế hoạt động ứng phó sự cố tràn dầu kèm theo quyết định 103/2019/QĐ-TTg ngày 12/5/2019, quy định rõ nội dung hoạt động, trách nhiệm của các tổ chức, cá nhân trong việc ứng phó, khắc phục hậu quả sự cố tràn dầu trên phạm vi cả nước.
Ngoài ra, giống như pháp luật trong các lĩnh vực khác, pháp luật bảo vệ môi trường biển còn bao gồm qui định pháp luật về trách nhiệm pháp lí đối với các hành vi vi phạm và qui định pháp luật về hệ thống các cơ quan quản lí nhà nước.
Đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển, chủ thể có thể phải chịu trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự. Nếu gây ra thiệt hại thì phải bồi thường theo qui định của pháp luật dân sự. Đối với các hành vi vi phạm pháp luật thì tùy từng hành vi, tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi gây ra sẽ bị xử phạt hành chính theo Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính 2016, trong lĩnh vực môi trường thì có Nghị định 117/2023/NĐ-CP do Chính phủ ban hành về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực bảo vệ môi trường ngày 31/12/2023, Nghị định này quy định từng trường hợp vi phạm cụ thể và mức phạt, hình thức xử lý đối với mỗi trường hợp đó. Nếu hành vi cấu thành tội phạm sẽ bị xử lý theo quy định của Bộ luật Hình sự Việt Nam 2013, sửa đổi bổ sung năm 2023. Đồng thời, nếu hành vi đó gây ra thiệt hại thì ngoài bị xử phạt hành chính hoặc chịu trách nhiệm hình sự thì còn phải bồi thường thiệt hại theo quy định của Bộ luật Dân sự 2019. Luật pháp Việt Nam không có quy định riêng về các biện pháp, hình thức xử lý đối với hành vi vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường biển mà được quy định chung trong các văn bản pháp luật nêu trên. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Việc xây dựng hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước trong lĩnh vực môi trường biển cũng có một số đặc điểm riêng. Theo đó, việc bảo vệ, kiểm soát ô nhiễm môi trường biển được tổ chức từ các cơ quan có thẩm quyền chung cho đến các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn. Ở Việt Nam, hệ thống các cơ quan có thẩm quyền chung bao gồm: Chính phủ và Ủy ban nhân dân các cấp. Hệ thống các cơ quan có thẩm quyền chuyên môn bao gồm: Tổng cục Môi trường và Tổng cục Biển và Hải đảo thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường; Cục Hàng hải Việt Nam và các Cảng vụ Hàng hải thuộc Bộ Giao thông vận tải; Cục Cảnh sát phòng chống tội phạm về môi trường thuộc Bộ Công an; Ban Chỉ đạo Nhà nước về biển Đông và các hải đảo; Ủy ban Quốc gia Tìm kiếm cứu nạn…
Tóm lại, trên bình diện quốc gia, Việt Nam đã có một hệ thống chính sách và pháp luật tương đối toàn diện về bảo vệ môi trường, trong đó có môi trường biển. Tuy nhiên, các quy định pháp luật vẫn luôn cần phải hoàn thiện, sửa đổi, bổ sung để phù hợp với thực tế. Nhất là cơ chế giải quyết các vấn đề bồi thường khi xảy ra ô nhiễm biển, việc xử phạt hành chính, truy tố, xét xử tội phạm trong lĩnh vực môi trường, vấn đề hợp tác quốc tế trong ứng phó, xử lý, khắc phục sự cố ô nhiễm môi trường biển, hợp tác quốc tế trong thực thi các công ước quốc tế, nội luật hóa các công ước…cần sớm được bổ sung, hoàn thiện và quy định trong các văn bản luật có giá trị pháp lý cao để tính thực thi được hiệu quả hơn.
2.2 QUY ĐỊNH CỦA MỘT SỐ CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Như đã liệt kê ở trên, hiện nay có rất nhiều công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển. Trong phạm vi nghiên cứu của đề tài, tác giả chỉ đi sâu nghiên cứu các quy định về bảo vệ môi trường biển trong một số công ước quốc tế quan trọng mà việc thực thi các công ước này đã, đang góp phần tích cực vào việc bảo vệ môi trường biển nói riêng và bảo vệ môi trường nói chung.
2.2.1. Công ước Luật biển 1982
Với sự phát triển của Luật biển quốc tế và xu hướng tiến ra biển của các nước nên ngày càng có nhiều đường biên giới xuất hiện trên biển. Tình hình đó không ngăn cản được một nhận thức chung đang hình thành: Biển cả là môi trường đồng nhất, là tài sản chung của nhân loại, đòi hỏi phải có một sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia nhằm giữ biển và môi trường biển trong lành. Do vậy, việc ký kết, gia nhập các điều ước quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển là tất yếu. Hiện nay, có rất nhiều các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường như đã kể trên. Trong đó, Công ước Luật biển 1982 (UNCLOS) được coi là bộ luật hoàn chỉnh nhất về biển trong thời đại chúng ta. UNCLOS được các quốc gia ký từ ngày mồng 7 đến ngày 11/12/1982 tại Montego Bay- Giamaica. Công ước có hiệu lực từ ngày 16/11/2008. Công ước gồm 17 phần, 320 điều và 9 phụ lục, 4 nghị định thư, trong đó có 11 mục và 46 điều khoản (từ Điều 192 đến Điều 237) qui định về việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển. Đây là cơ sở pháp lý giúp các quốc gia bảo vệ và giữ gìn môi trường biển của mình, đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển chung. Công ước đã đưa ra định nghĩa khá hoàn chỉnh về môi trường biển và ô nhiễm môi trường biển, đồng thời xác định rất đầy đủ và toàn diện về các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển như đã phân tích ở trên. Tuy vậy, điểm nổi bật của Công ước là xác định rõ ràng quyền hạn và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong việc bảo vệ môi trường biển khỏi ô nhiễm. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Cấp độ, quy mô và tính dễ lây lan của ô nhiễm biển khiến cho việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển không chỉ là vấn đề thuộc về quyền tài phán của quốc gia ven biển mà là nghĩa vụ chung của tất cả các quốc gia. Công ước 1982 đã khẳng định: “Các quốc gia có nghĩa vụ bảo vệ và gìn giữ môi trường biển”. Đây là nghĩa vụ xuất phát từ quyền lợi của quốc gia ven biển cũng như cộng đồng quốc tế trong các vùng biển của quốc gia ven biển. Nghĩa vụ này không đi ngược lại với lợi ích chính đáng của các quốc gia ven biển trong việc khai thác các tài nguyên thiên nhiên của mình; nó đảm bảo cho quyền chủ quyền được thực hiện một cách hiệu quả nhất. Theo quy định này, quốc gia ven biển có quyền tối cao để khai thác các tài nguyên thiên nhiên của mình nhưng họ vẫn phải thi hành các chính sách về môi trường để bảo vệ môi trường biển. “Các quốc gia có trách nhiệm quan tâm đến việc hoàn thành các nhiệm vụ quốc tế của mình về vấn đề bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, các quốc gia có trách nhiệm theo đúng pháp luật quốc tế” [36].
Công ước Liên hợp quốc về Luật biển 1982 được đánh giá là một công cụ đặc biệt trong lĩnh vực bảo vệ và bảo tồn môi trường biển. Các quốc gia được yêu cầu sử dụng tất cả các biện pháp cần thiết để ngăn ngừa, giảm bớt và kiểm soát ô nhiễm môi trường biển từ bất kỳ nguồn ô nhiễm nào trong phạm vi quyền tài phán của mình. Mặc dù luật quy định các quốc gia đều có nghĩa vụ như nhau nhưng giữa các quốc gia không có sự phát triển đồng đều về kinh tế, cơ sở hạ tầng không giống nhau nên các quốc gia được yêu cầu:
Tùy theo tình hình, thi hành riêng rẽ hay phối hợp với nhau, tất cả các biện pháp phù hợp với Công ước, cần thiết để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự sự ô nhiễm môi trường biển dù nó bắt nguồn từ đâu. Nhằm mục đích này, các quốc gia tùy theo khả năng của mình, sử dụng các phương tiện thích hợp nhất mà mình có, và cố gắng điều hòa các chính sách của mình về mặt này [36].
Các luật, quy định và các biện pháp của các quốc gia thông qua không được kém hiệu quả hơn các nguyên tắc và quy phạm quốc tế hay các tập quán và thủ tục đã được kiến nghị có tính chất quốc tế.
- Để bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, thực hiện quyền lợi và nghĩa vụ của mình, Công ước Luật biển 1982 yêu cầu:
Các quốc gia ven biển phải xác định các nguồn ô nhiễm của mình, áp dụng các biện pháp ngăn ngừa, kiểm soát chúng. Các quốc gia không được đùn đẩy thiệt hại của các nguy cơ ô nhiễm và không được thay thế một kiểu ô nhiễm này bằng một kiểu ô nhiễm khác. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Các quốc gia ven biển phải có trách nhiệm đưa ra các biện pháp chống lại ô nhiễm môi trường biển nảy sinh từ việc sử dụng các kỹ thuật trong khuôn khổ quyền tài phán hay dưới sự kiểm soát của mình, hoặc do du nhập cố ý hay vô tình các loài ngoại lai hoặc mới vào một bộ phận môi trường biển gây ra ở đó những thay đổi đáng kể và có hại và nó cũng bao gồm các ảnh hưởng hoặc các biện pháp trong việc bảo vệ hệ sinh thái hiếm hoi và đe dọa điều kiện cư trú của các loài sinh vật biển khác.
Các quốc gia được yêu cầu xây dựng các kế hoạch khẩn cấp chống ô nhiễm để đối phó với những tai nạn gây ra ô nhiễm biển trong các vùng biển thuộc quyền tài phán của họ. Các điều khoản về giám sát và đánh giá môi trường đặt các quốc gia có nghĩa vụ cần cố gắng hết sức mình trong việc giám sát và đánh giá các ảnh hưởng môi trường của các hoạt động biển được tiến hành dưới quyền tài phán của các quốc gia đó. Họ cũng có nghĩa vụ phải hành động phù hợp nhằm giảm bớt hay ngăn ngừa ô nhiễm có thể xảy ra từ các hoạt động như vậy.
Các luật, quy định và các biện pháp của các quốc gia thông qua không được kém hiệu quả hơn các nguyên tắc và quy phạm quốc tế hay các tập quán và thủ tục đã được kiến nghị có tính chất quốc tế. Các quốc gia phải quan tâm làm sao cho luật trong nước của mình có những hình thức tố tụng cho phép thu được sự đền bù nhanh chóng và thích đáng, hay sự bồi thường khác đối với những thiệt hại nảy sinh từ ô nhiễm môi trường biển do tự nhiên nhân, hay pháp nhân thuộc quyền tái phán của mình gây ra.
Các quốc gia cũng được yêu cầu bảo đảm cho tàu mang cờ nước họ, hoạt động ở trong nước cũng như ở ngoài nước, đáp ứng đầy đủ các luật lệ và tiêu chuẩn quốc tế thích hợp. Quốc gia mà tàu mang cờ được yêu cầu tiến hành điều tra mọi vi phạm luật lệ về ô nhiễm biển do tàu đó gây ra. Tất cả tàu thuyền được yêu cầu phải có chứng từ chứng minh điều kiện an toàn phù hợp với các tiêu chuẩn quốc tế về thiết kế, đóng, trang bị và thuyền viên và tính hiệu quả của chúng trong ngăn ngừa, giảm bớt và kiểm soát ô nhiễm. Các quốc gia cần tiến hành kiểm tra định kỳ tàu thuyền mang cờ nước mình để bảo đảm rằng chúng đáp ứng được các tiêu chuẩn quốc tế. Các quốc gia khi đặt các điều kiện đặc biệt cho tàu thuyền nước ngoài đi vào các cảng hay nội thủy của mình hoặc công trình cảng cuối cùng ở ngoài khơi, cần phải công bố đúng thủ tục về các điều kiện này và phải thông báo cho các tổ chức quốc tế có thẩm quyền. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Các quốc gia phải có nghĩa vụ thông báo cho các quốc gia khác về nguy cơ bị ô nhiễm lan tràn đến và các tổ chức quốc tế có thẩm quyền, để kịp thời có những biện pháp ngăn chặn và bảo vệ.
Các quốc gia có nghĩa vụ hợp tác với các quốc gia và các tổ chức quốc tế liên quan theo khả năng của mình, để loại trừ ảnh hưởng của ô nhiễm và ngăn ngừa và giảm đến mức tối thiểu những thiệt hại do ô nhiễm gây ra. Công ước cũng yêu cầu sự hợp tác trên phạm vi toàn cầu hay khu vực “trong việc hình thành và soạn thảo các quy tắc và quy phạm, cũng như các tập quán và thủ tục được kiến nghị mang tính quốc tế phù hợp với Công ước, để bảo vệ và gìn giữ môi trường biển, có tính đến các đặc điểm có tính chất khu vực” [36, Điều 197]. Các quốc gia cần trực tiếp hợp tác với nhau hoặc thông qua trung gian các tổ chức quốc tế có thẩm quyền nhằm đẩy mạnh công tác nghiên cứu, thực hiện các chương trình nghiên cứu khoa học về biển và trao đổi thông tin và các dữ kiện về môi trường biển chung nói chung và ô nhiễm môi trường biển nói riêng.
Vấn đề ô nhiễm môi trường biển nghiêm trọng vượt ra ngoài tầm kiểm soát của các quốc gia, đòi hỏi sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến môi trường biển cũng như trong việc xây dựng một khung pháp lý quốc tế chung điều chỉnh về lĩnh vực bảo vệ môi trường biển. Chống ô nhiễm biển hiện đang là một vấn đề cấp thiết, không chỉ là lợi ích riêng của một quốc gia nào mà còn là lợi ích của toàn thể cộng đồng thế giới. Nhận thức rõ tầm quan trọng của biển đối với loài người và tính nghiêm trọng ngày càng tăng của ô nhiễm biển hiện nay, các quốc gia đã, đang và sẽ có những nỗ lực hơn nữa trong việc bảo vệ và gìn giữ môi trường biển.
2.2.2. Công ước Marpol 73/78 về ngăn ngừa ô nhiễm biển do dầu gây ra Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Công ước này được thông qua vào ngày 02/11/1973 tại London, được bổ sung bằng Nghị định thư 1978 về cấm và hạn chế thải chất gây ô nhiễm từ việc thăm dò và khai thác tài nguyên thiên nhiên. Vì vậy, Công ước thường được gọi tắt là Công ước Marpol 73/78. Công ước có hiệu lực năm 1983 và hàng năm đều được sửa đổi bổ sung.
Công ước gồm có 6 phụ lục và 2 Nghị định thư kèm theo. Mục tiêu của Công ước là kiểm soát, chế ngự và hạn chế tới mức thấp nhất việc thải các chất có hại xuống biển. Vì vậy, Công ước quy định nghiêm ngặt về ngăn ngừa ô nhiễm biển do dầu, các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất lỏng độc hại chở xô gây ra, các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất độc hại đóng trong bao gói, ô nhiễm do nước thải, rác thải từ tàu và các quy định về ngăn ngừa ô nhiễm không khí từ tàu. Ngoài ra, Công ước còn có các quy định về các tiêu chuẩn cho tàu vận chuyển các chất độc hại đóng gói; quy định các tiêu chuẩn về đóng tàu để giảm thiểu mức độ tràn dầu và hóa chất xuống biển; quy định về thanh tra, giám sát, chế độ báo cáo sự cố liên quan đến dầu và các chất độc hại khác…
Đồng thời, Công ước cũng xác định các quyền hạn đối với các quốc gia mà tàu mang cờ, các quốc gia ven biển, các quốc gia có cảng biển và cũng xác định các nghĩa vụ đối với các quốc gia tham gia Công ước. Theo đó, các quốc gia mà tàu mang cờ có các quyền hạn như kiểm tra trang, thiết bị, kết cấu tàu có phù hợp với các tiêu chuẩn của Công ước và các giấy chứng nhận được cấp không và có quyền xử phạt nếu có vi phạm xảy ra. Các quốc gia có cảng và quốc gia ven biển có quyền kiểm tra các tàu nước ngoài khi đến cảng nước mình có đáp ứng các điều kiện, đòi hỏi của công ước, nếu không đáp ứng được các điều kiện hoặc không có các giấy chứng nhận hợp pháp các quốc gia có quyền áp dụng các biện pháp mà Công ước cho phép để đảm bảo tàu biển không đe dọa gây ô nhiễm môi trường biển…Bên cạnh các quyền hạn thì các quốc gia tham gia Công ước có nghĩa vụ hợp tác về kỹ thuật và phối hợp trong việc phát hiện các ô nhiễm, vi phạm, có nghĩa vụ thông tin khi xảy ra vi phạm và lắp đặt các thiết bị tiếp nhận theo quy định của Công ước. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Trong những năm gần đây, do sự phát triển của kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế nên số lượng tàu thuyền qua lại trên biển ngày càng nhiều, dẫn đến gia tăng ô nhiễm biển. Vì vậy, thực thi nghiêm ngặt các quy định của Công ước đối với các quốc gia thành viên cũng như các quốc gia không phải là thành viên có một ý nghĩa quan trọng trong việc phòng ngừa và giảm thiểu nguồn ô nhiễm này, bảo vệ và giữ gìn môi trường biển.
2.2.3. Công ước về sẵn sàng ứng phó và hợp tác chống ô nhiễm dầu năm 2004 (OPRC)
Ô nhiễm do dầu thường để lại những hậu quả rất nghiêm trọng cả trước mắt và lâu dài. Việc khắc phục hậu quả rất khó khăn, việc ứng phó khi các sự cố liên quan đến dầu xảy ra cũng không hề đơn giản, bởi tính lan tràn nhanh và liên quan đến các vùng biển thuộc quyền tài phán của nhiều quốc gia. Do đó, khi xảy ra các sự cố lớn hoặc có các mối đe dọa do ô nhiễm dầu gây ra đòi hỏi sự hợp tác quốc tế, đòi hỏi các quốc gia phải sẵn sàng ứng phó trong đấu tranh chống ô nhiễm dầu như tên gọi của Công ước.
Mục tiêu của Công ước là giảm thiểu hậu quả của các sự cố ô nhiễm dầu lớn và thúc đẩy hợp tác quốc tế và sự trợ giúp lẫn nhau trong việc ứng phó với các sự cố ô nhiễm dầu lớn. Vì vậy, Công ước yêu cầu các quốc gia phải thiết lập hệ thống quốc gia ứng phó ngay lập tức và có hiệu quả các sự cố ô nhiễm dầu, trong đó có sự phân công trách nhiệm cho cơ quan, đơn vị cụ thể để ngăn ngừa, ứng phó với các sự cố. Công ước cũng đưa ra các tiêu chuẩn sẵn sàng ứng phó ô nhiễm dầu có tính bắt buộc cho tàu thuyền, các cảng, các thiết bị dẫn dầu và các thiết bị ngoài khơi. Ngoài ra, theo Công ước các quốc gia còn phải thiết lập hệ thống báo cáo các sự cố ô nhiễm dầu và nguy cơ ô nhiễm dầu và các quốc gia phải có nghĩa vụ trợ giúp, hợp tác quốc tế và khu vực để đấu tranh với các sự cố tràn dầu…
2.2.4. Công ước về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải nguy hại và việc tiêu hủy chúng (Basel 2003)
Đây là Công ước điều chỉnh mọi hoạt động vận chuyển chất thải nguy hại giữa các quốc gia, trong đó có vận chuyển qua đường biển. Công ước này có hiệu lực vào năm 2006, Việt Nam là thành viên của Công ước Basel vào năm 2009.
Mục tiêu của Công ước là giảm thiểu việc sản sinh các chất thải nguy hại thông qua việc kiểm soát nghiêm ngặt việc vận chuyển qua biên giới các chất này và mọi việc nhập khẩu, xuất khẩu, quá cảnh, tiêu hủy các chất thải nguy hiểm phải được tiến hành theo một phương thức hợp lý, đúng quy định. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Theo đó, Công ước quy định các quốc gia phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ quốc tế liên quan đến bảo vệ môi trường, trong đó có môi trường biển và phải chịu trách nhiệm về vấn đề này trước luật pháp quốc tế; các quốc gia phải áp dụng các biện pháp kỹ thuật và luật pháp để quản lý các chất thải nguy hại trong phạm vi lãnh thổ quốc gia mình, đề phòng ô nhiễm môi trường và khắc phục nhanh chóng hậu quả nếu xảy ra ô nhiễm để không ảnh hưởng tới sức khỏe con người và môi trường; các quốc gia phải đảm bảo việc đóng gói, dán nhãn và vận chuyển các chất thải nguy hại và các chất khác phù hợp với các quy tắc và tiêu chuẩn chung. Đồng thời, các quốc gia phải có nghĩa vụ hợp tác quốc tế trong việc quản lý, xuất nhập khẩu và vận chuyển, tiêu hủy các chất thải nguy hại.
Ngoài ra, Công ước còn đưa ra các nguyên tắc và phạm vi áp dụng Công ước để đảm bảo việc kiểm soát việc vận chuyển và tiêu hủy các chất thải nguy hại được thực hiện một cách nghiêm ngặt.
Trên đây là những công ước quốc tế quan trọng về bảo vệ môi trường biển, được nhiều quốc gia ủng hộ và tham gia. Ngoài ra, còn nhiều các công ước liên quan khác cũng không kém phần quan trọng. Các công ước này liên tục được sửa đổi, bổ sung để phù hợp với đòi hỏi, yêu cầu của thực tiễn quốc tế. Điều này chứng tỏ luật quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển đang phát triển rất vững chắc và phát huy hiệu quả, góp phần phòng ngừa, giữ gìn và bảo vệ môi trường biển. Các quốc gia ngày càng nhận thức rõ ràng hơn về tính toàn cầu, tính quốc tế của vấn đề bảo vệ môi trường, trong đó có môi trường biển. Các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển ngày càng được các quốc gia quan tâm. Việc tham gia các công ước này là quyền tự do của các quốc gia, nhưng khi tham gia thì các quốc gia cần thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình. Việc tham gia các công ước này chính là cơ sở pháp lý để các quốc gia bảo vệ môi trường biển một cách tốt nhất. Tuy nhiên, việc tham gia công ước phụ thuộc vào năng lực, trình độ phát triển của mỗi quốc gia; việc lựa chọn tham gia từng công ước tùy thuộc vào điều kiện, chính sách của từng quốc gia.
2.3 QUÁ TRÌNH VIỆT NAM GIA NHẬP CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
2.3.1. Các công ước Việt Nam đã gia nhập, ký kết
Để ngăn chặn ô nhiễm, thực hiện bảo vệ môi trường biển chung, rất nhiều các văn bản pháp lý quốc tế về bảo vệ môi trường hoặc liên quan đến bảo vệ môi trường được cộng đồng quốc tế xây dựng và được các quốc gia ký kết, Việt Nam đã phê chuẩn các điều ước quốc tế khác nhau nhằm kiểm soát ô nhiễm môi trường biển, ví dụ như:
- Công ước Marpol 73/78 về ngăn chặn ô nhiễm biển do tàu gây ra (Việt Nam tham gia ngày 29/8/2005);
- Công ước quốc tế về an toàn tính mạng trên biển SOLAS 1974 (Việt Nam tham gia ngày 18/3/2005);
- Công ước Luật biển 1982 (Việt Nam tham gia ngày 16/11/2008);
- Công ước về các quy tắc quốc tế phòng tránh đâm va trên biển COLREG 1972 (Việt Nam tham gia ngày 18/12/2004);
- Công ước về tiêu chuẩn cấp chứng chỉ cho thuyền viên 1978/2009 (STCW) (Việt Nam tham gia ngày 18/3/2005);
- Công ước về kiểm soát và vận chuyển xuyên biên giới các chất thải nguy hiểm và việc tiêu hủy chúng BASEL 2003 (Việt Nam tham gia ngày 11/6/2009);
- Công ước quốc tế về trách nhiệm dân sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu, 1969 (CLC 1969)…
Việt Nam là quốc gia lớn trong khu vực Đông Nam Á. Diện tích các vùng biển của Việt Nam lớn gấp 3 lần đất liền. Tài nguyên biển của Việt Nam vô cùng phong phú. Tuy nhiên, biển Việt Nam cũng đang đứng trước những thách thức rất lớn về ô nhiễm môi trường biển. Trong các nguồn ô nhiễm môi trường biển thì ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền, ô nhiễm từ tàu thuyền, đặc biệt là ô nhiễm dầu, ô nhiễm từ các hoạt động liên quan đến đáy biển và ô nhiễm do nhận chìm là những nguồn ô nhiễm chính. Do đó, các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam đã tham gia, đã phê chuẩn cũng nhằm góp phần chế ngự, giảm thiểu và tiến tới xóa bỏ nguồn ô nhiễm trên. Bên cạnh đó, việc tham gia các công ước trên là phù hợp với điều kiện của Việt Nam, mang lại nhiều lợi ích cho Việt Nam. Việc thực thi các công ước đó cũng góp phần giữ gìn và bảo vệ môi trường biển Việt Nam, môi trường biển của khu vực và trên thế giới.
2.3.2. Các Công ước Việt Nam đang xem xét để tham gia Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Các công ước quốc tế mà Việt Nam đang xem xét để tham gia bao gồm:
- Công ước quốc tế về trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu, 1969.
- Công ước quốc tế liên quan tới can thiệp vào các biểu vĩ độ cao trong trường hợp thiệt hại do ô nhiễm dầu, 1969.
- Công ước về phòng ngừa ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác, 1971.
- Công ước về phòng ngừa ô nhiễm biển do đổ chất thải và các chất khác, 1972.
- Công ước quốc tế về bảo tồn các loài động vật hoang dã di cư,
- Công ước quốc tế về sự sẵn sàng, ứng phó và hợp tác đối với ô nhiễm dầu năm 2004 (OPRC).
2.4 THỰC TRẠNG THỰC THI PHÁP LUẬT VÀ CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Ở VIỆT NAM
2.4.1. Tình hình thực thi các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển và nguyên nhân của thực trạng
Bảo vệ môi trường bằng pháp luật là một định hướng cơ bản của hoạt động bảo vệ môi trường ở mỗi quốc gia. Có thể nói, hệ thống pháp luật và chính sách bảo vệ môi trường biển ở nước ta khá đầy đủ. Chúng ta có Luật Bảo vệ môi trường, Luật Tài nguyên nước, Bộ luật Hàng hải, Luật Dấu khí, các văn bản hướng dẫn thi hành và sắp tới nước ta sẽ có Luật các vùng biển Việt Nam cùng với các công ước về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam đã tham gia tạo ra cơ sở pháp lý tương đối toàn diện trong việc bảo vệ môi trường biển. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Thời gian qua, các quy định về bảo vệ môi trường biển cũng đã phát huy phần nào hiệu quả, nhờ sự nỗ lực của các cơ quan, bộ, ngành và người dân nên vấn đề ô nhiễm môi trường biển đang dần được giải quyết.
- Các quy định của pháp luật đã góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong thực tiễn.
- Bộ máy quản lý môi trường được củng cố và tăng cường từ trung ương đến địa phương. Tiềm lực về thiết bị cho công tác quan trắc và giám sát môi trường đã được tăng cường đáng kể ở cả cấp quốc gia và một số địa phương trên cả nước.
- Giữa các cơ quan đã có sự phối hợp chặt chẽ với nhau để cùng bảo vệ môi trường biển. Ví dụ như trong công tác phối hợp chống tội phạm môi trường, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam vừa ra quyết định thực hiện quy chế phối hợp trong công tác phòng, chống tội phạm và vi phạm pháp luật về môi trường giữa Tổng cục và Cục Cảnh sát phòng, chống tội phạm về môi trường. Từ đây, Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam có thêm sự “tiếp sức” của lực lượng cảnh sát môi trường trong công tác bảo vệ môi trường biển.
Theo quy chế đã ký giữa các bên, lực lượng cảnh sát môi trường sẽ kết hợp cùng Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam trên 6 lĩnh vực chính như: Cùng chủ động nghiên cứu, rà soát các văn bản quy định của pháp luật có liên quan để tham mưu bổ sung, sửa đổi kịp thời; cùng xây dựng nội dung và tuyên truyền giáo dục về pháp luật bảo vệ môi trường biển hải đảo cũng như công khai thông tin vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển, hải đảo; cùng có trách nhiệm giải quyết các vụ việc liên quan đến các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển; phối hợp thực hiện công tác thanh kiểm tra việc thực thi pháp luật bảo vệ môi trường biển tại các đơn vị sản xuất, địa phương có biển; phối hợp trong điều tra, xử lý vi phạm pháp luật về môi trường biển, hải đảo.
- Nhận thức về môi trường biển và bảo vệ môi trường biển của các cấp, các ngành và người dân đã được nâng cao đáng kể thông qua các chương trình, các dự án trong và ngoài nước về nâng cao nhận thức môi trường cộng đồng…
Tuy nhiên, dù đã có luật cũng như chính sách về bảo vệ môi trường biển, nhưng việc thực thi ở Việt Nam còn gặp nhiều khó khăn và tiến hành khá muộn so với các nước khác. Những văn bản, chính sách này vẫn còn nhiều hạn chế như văn bản luật còn chưa cụ thể, chưa phù hợp với thực tế, bộc lộ những bất cập, vướng mắc trong quá trình thực hiện, hiệu lực thi hành thấp. Đồng thời, sự gắn kết với các công ước quốc tế liên quan còn mờ nhạt. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Điển hình là việc triển khai Luật Bảo vệ môi trường ở Việt Nam. Dù đã ban hành từ năm 2008, đến nay đã trải qua 17 năm thi hành và có bổ sung, sửa đổi, cùng nhiều văn bản hướng dẫn, triển khai, nhưng so với các nước phát triển, lĩnh vực bảo vệ môi trường ở Việt Nam còn khá mới và chỉ được quan tâm đặc biệt trong khoảng 5 năm trở lại đây do yêu cầu quản lý môi trường trong điều kiện phát triển kinh tế – xã hội. Bởi vậy, pháp luật về bảo vệ môi trường chưa điều chỉnh hết các mối quan hệ trong xã hội, một số văn bản đã ban hành nhưng không sát với thực tế, thiếu tính khả thi, không thể thi hành được.
Vi phạm pháp luật bảo vệ môi trường xảy ra rất nhiều, phổ biến trên nhiều lĩnh vực và ngày càng nghiêm trọng, nhất là lĩnh vực môi trường biển. Chẳng hạn, trong hoạt động kinh doanh nhập khẩu, tình trạng nhập khẩu trái phép chất thải vào Việt Nam đang gia tăng với thủ đoạn “xin tạm nhập, tái xuất”, khi bị phát hiện thì khai là “gửi nhầm hàng”. Nghiêm trọng nhất là hành vi nhập rác thải sinh hoạt, các loại chất dioxin, kể cả chất có phóng xạ, các thiết bị công nghiệp lạc hậu từ… những năm 60 của thế kỷ trước.
Việc xử lý hình sự đối với tội phạm môi trường biển gặp nhiều khó khăn do pháp luật hình sự quy định chỉ xử lý hình sự đối với cá nhân, nhưng thực tế ở Việt Nam thì việc gây ô nhiễm môi trường lại chủ yếu do các tổ chức. Việc xác minh thiệt hại còn gặp nhiều khó khăn do kinh phí cho bảo vệ môi trường thấp, dẫn đến thiếu trang thiết bị kỹ thuật để kiểm tra, phân tích ô nhiễm.
Nguyên nhân chung dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường biển Việt Nam là do chúng ta chưa thực sự quan tâm và hành động đúng mức đối với công tác nghiên cứu về biển. Chúng ta quá chú trọng vào phát triển kinh tế biển mà ít quan tâm đến hệ thống thiên nhiên và bảo vệ môi trường nên dẫn đến hiện tượng khai thác bừa bãi và sử dụng lãng phí tài nguyên thiên nhiên, khiến môi trường suy thoái và làm mất cân đối các hệ sinh thái, ảnh hưởng xấu đến sức khỏe con người và chất lượng cuộc sống. Hơn nữa, cơ sở hạ tầng vùng ven biển và hải đảo còn thiếu thốn và lạc hậu; sự phát triển kinh tế biển còn yếu kém, phiến diện, sản xuất nhỏ, lạc hậu; tài nguyên biển chưa được khai thác tương xứng với tiềm năng, chỉ chú trọng khai thác mà không quan tâm tái tạo, bảo vệ; thường xuyên bị tàu nước ngoài xâm phạm, đánh bắt và khai thác trộm tài nguyên biển; vấn đề phòng, chống và khắc phục hậu quả của bão lụt, thiên tai từ hướng biển còn nhiều hạn chế; thiếu nguồn nhân lực trầm trọng trong lĩnh vực quản lý môi trường từ cấp trung ương đến địa phương, nguồn nhân lực vừa thiếu, vừa yếu, không đáp ứng được yêu cầu quản lý trong thực tiễn; sự thiếu hiểu biết pháp luật về biển, nhất là pháp luật bảo vệ môi trường biển của những người tham gia hoạt động khai thác sử dụng, quản lý biển cũng góp phần làm gia tăng tình trạng ô nhiễm môi trường biển Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Quan trọng nhất là các chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường biển của Việt Nam còn chung chung, chưa cụ thể và thiếu thực tế, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện. Cho đến nay, quản lý môi trường biển, ven biển và hải đảo vẫn rập khuôn theo cách tiếp cận chỉ ngăn ngừa và kiểm soát ô nhiễm, chưa tính đến đặc điểm về tính chất xuyên biên giới, đa ngành, đa mục đích sử dụng cho nên hiệu quả quản lý yếu kém, bộc lộ nhiều thiếu sót và bất cập. Chúng ta chưa có sự phân công, phân cấp rõ ràng giữa các bộ cũng như giữa trung ương và địa phương. Nhiều trường hợp xảy ra sự chồng chéo chức năng, thẩm quyền giữa Bộ Tài nguyên và Môi trường với các Ủy ban nhân dân tỉnh. Còn thiếu quy định phân cấp trong thanh tra, kiểm tra. Rất nhiều trường hợp đoàn thanh tra của trung ương lẫn địa phương cùng thanh kiểm tra một đối tượng về cùng một vụ việc cụ thể. Một thực tế nữa là tốc độ phát triển kinh tế quá nóng, trong khi đó thiếu các nguồn lực cho công tác quản lý môi trường, đặc biệt công tác dự báo còn yếu dẫn đến các chính sách, các văn bản pháp luật ban hành mới rất nhanh bị lỗi thời, kém hiệu quả.
Cơ cấu tổ chức quản lý biển của Việt Nam hiện nay khá phân tán, thiếu hiệu quả. Về nguyên tắc, Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về biển nhưng các chức năng cụ thể được giao cho các bộ, ngành. Hiện có tới 15 Bộ, ngành liên quan trực tiếp và có chức năng về quản lý biển. Nhiều lực lượng hoạt động trên biển với các chức năng nhiệm vụ chồng chéo và mâu thuẫn nhau, nhưng lại chưa có một cơ quan chuyên trách nào giúp Chính phủ trong xây dựng, quản lý thống nhất các hoạt động trên biển đang ngày càng đa dạng và phức tạp. Việc thiếu quy hoạch tổng thể dễ dẫn đến sự xung đột lợi ích giữa các ngành hoặc không tận dụng được tiềm năng của biển để phát triển kinh tế, sự kết hợp giữa phát triển kinh tế biển và quốc phòng- an ninh, bảo vệ tài nguyên môi trường, sự kết hợp giữa các yêu cầu đối nội và đối ngoại cũng như tham gia giải quyết các vấn đề biển chung mang tính toàn cầu và khu vực.
Để khắc phục điểm này, trên cơ sở tiếp thu ý kiến của Quốc hội khóa XI, năm 2022, Chính phủ đã giao Bộ Tài nguyên và Môi trường thành lập Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam, cơ quan chuyên môn thực hiện chức năng quản lý tổng hợp và thống nhất về biển và hải đảo. Tuy nhiên, đây mới chỉ là bước đi đầu tiên theo hướng kiện toàn cơ chế quản lý biển. Chức năng quản lý biển của Tổng cục Biển và Hải đảo được quy định khá rộng, mang tính tổng hợp, nhưng trên thực tế cơ quan này còn phải nỗ lực rất nhiều để thực hiện chức năng chính của mình là điều tra và quản lý tài nguyên môi trường biển. Vấn đề quản lý tổng hợp điều hành thống nhất các hoạt động trên biển theo một quy hoạch, chiến lược phát triển biển chung, bao hàm cả tính đối nội và đối ngoại đã vượt quá khuôn khổ của một cơ quan Tổng cục của một ngành.
Chế tài chưa đủ mạnh cũng là một yếu tố được các chuyên gia nhắc tới khi đánh giá về tình hình thi hành luật pháp liên quan tới bảo vệ môi trường. Trách nhiệm hình sự của pháp nhân chưa được thiết lập nên không thể truy cứu hình sự pháp nhân vi phạm pháp luật môi trường. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Việc ban hành luật pháp về bảo vệ môi trường biển ở ta tuy thế vẫn còn chậm, nhiều lĩnh vực không có văn bản quy phạm pháp luật như: các quy định về thu phí khí thải, tiếng ồn, về sử dụng hạn ngạch phát thải trong bảo vệ môi trường… Việt Nam còn thiếu các tiêu chuẩn môi trường biển gây khó khăn cho công tác quản lý và thực thi pháp luật về bảo vệ môi trường biển trong thực tiễn. Chúng ta còn thiếu các công cụ kinh tế hữu hiệu, thiếu chính sách để thu hút các nhà đầu tư, huy động các nguồn lực trong xã hội như khối tư nhân, tổ chức phi chính phủ, các tổ chức xã hội khác vào bảo vệ môi trường biển đặc biệt là lĩnh vực xử lý chất thải, tái chế…
Mặt khác, do công tác tuyên truyền, phổ biến pháp luật về môi trường chưa được thực hiện thường xuyên, nên các doanh nghiệp, cá nhân vẫn chưa ý thức được trách nhiệm bảo vệ môi trường của mình đối với cộng đồng. Sắp tới khi Luật giáo dục, phổ biến pháp luật được ban hành và có hiệu lực, hi vọng sự hiểu biết pháp luật bảo vệ môi trường, nhất là môi trường biển trong các tầng lớp nhân dân sẽ được nâng cao hơn, môi trường biển sẽ được bảo vệ tốt hơn.
2.4.2. Tình hình thực hiện các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam và nguyên nhân Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Đối với các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia thì Việt Nam luôn thực thi một cách tự nguyện, thiện chí, tích cực và rất cố gắng để đưa các quy định của công ước vào cuộc sống. Trong thời gian qua, việc nội luật hóa, xây dựng pháp luật thể chế, chính sách tại Việt Nam có rất nhiều tiến bộ. Những thiếu sót trong hệ thống pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển đã được nỗ lực sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với các cam kết quốc tế và luôn đảm bảo hiệu lực cao hơn của các quy định của công ước quốc tế so với các quy định trong pháp luật bảo vệ môi trường của Việt Nam. Đồng thời, việc cải cách bộ máy thực hiện, tuyên truyền, phổ biến pháp luật về bảo vệ môi trường biển, nâng cao năng lực, trình độ của cán bộ, nghiên cứu khoa học, phát triển hợp tác quốc tế, tổ chức hội thảo về việc thực thi có hiệu quả các công ước quốc tế về môi trường biển cũng được chú trọng. Ngoài ra, để thực hiện các công ước có hiệu quả, Việt Nam cũng đã rất chú trọng đến việc kiện toàn thể chế quản lý môi trường, chỉ định cơ quan chịu trách nhiệm chính thi hành các điều ước quốc tế đã ký kết.
- Bên cạnh những kết quả đạt được nói trên, việc thực hiện điều ước quốc tế còn tồn tại một số bất cập:
Hệ thống chính sách pháp luật về môi trường của Việt Nam tuy đã đáp ứng yêu cầu về nội dung và số lượng nhưng vẫn còn chồng chéo, không rõ ràng. Bên cạnh đó, sự lồng ghép các chính sách kế hoạch của từng ngành có liên quan đến việc thực hiện các điều ước còn nhiều hạn chế.
Sự phối hợp giữa các cơ quan quản lý và cơ quan đầu mối trong việc thực hiện các nghĩa vụ của các điều ước còn chưa chặt chẽ, bên cạnh đó năng lực của cơ quan đầu mối còn hạn chế do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ.
Để thực hiện các điều ước hiệu quả đòi hỏi cần có sự chia sẻ thông tin liên quan đến điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Tuy nhiên, tại Việt Nam, việc điều phối và trao đổi thông tin còn tản mạn ở nhiều đơn vị khác nhau, chưa có đơn vị đầu mối và chưa được tổ chức thành mạng lưới ở quy mô quốc gia. Mặt khác, các cơ chế hỗ trợ khác để thực hiện điều ước còn chưa đủ, ví dụ về nghiên cứu khoa học, giám sát, quan trắc thành phần môi trường, nguồn tài chính còn thiếu và sử dụng chưa hiệu quả.
Nhiều quy định trong các công ước chưa được nội luật hóa, thậm chí chưa được phổ biến, tuyên truyền để các cơ quan và người dân biết và thực hiện… Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
- Về thực tiễn triển khai, thực hiện các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển cũng có nhiều vướng mắc, bất cập:
Trước hết, việc Việt Nam phê chuẩn Công ước luật biển 1982 đã tạo ra một khung pháp lý cơ bản, toàn diện về bảo vệ môi trường biển. Việc nhanh chóng nội luật hóa, biến các quy định của UNCLOS thành quy định cụ thể là yêu cầu tất yếu, bất kỳ quốc gia nào cũng phải có nghĩa vụ thực hiện.
Luật Các vùng biển Việt Nam đã được tiến hành xây dựng ngay sau khi Việt Nam phê chuẩn Công ước Luật biển 1982. Nghị quyết ngày 23/6/2008 của Quốc hội phê chuẩn Công ước Luật biển 1982, đã giao cho ” Ủy ban thường vụ Quốc hội và Chính phủ nghiên cứu để có những sửa đổi, bổ sung cần thiết đối với các quy định liên quan của pháp luật quốc gia cho phù hợp với Công ước Luật biển 1982, bảo đảm lợi ích của Việt Nam”. Mục đích xây dựng Luật nhằm nội luật hóa Công ước Luật biển 1982, quy định các nguyên tắc thống nhất để xác định rõ phạm vi các vùng biển Việt Nam, điều chỉnh đối tượng và các hoạt động trên biển nhằm bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán quốc gia, các quyền và lợi ích chính đáng của Việt Nam trên biển, tăng cường sử dụng, khai thác, bảo vệ và quản lý nhà nước về biển, khuyến khích sự phát triển và hợp tác quốc tế, giữ gìn hòa bình và ổn định trong khu vực và trên thế giới. Dự án Luật về Các vùng biển Việt Nam đã được đưa vào Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XI (2016 – 2021), Nghị quyết về Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh năm 2023 và bổ sung Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh của Quốc hội nhiệm kỳ khóa XII (2021 – 2025). Dự kiến đến cuối năm 2026 Luật này sẽ chính thức được ban hành.
Đồng thời, với tư cách thành viên, Việt Nam đã nỗ lực ban hành các quy phạm pháp luật về bảo vệ môi trường biển khác, ban hành những tiêu chuẩn về môi trường biển để nội luật hóa các quy định tiến bộ trong Công ước Luật biển 1982. Tuy nhiên, những văn bản quy phạm pháp luật về biển của Việt Nam chưa đầy đủ, toàn diện, chưa thích hợp để xử lý mối quan hệ ngày càng phát triển, các hoạt động kinh tế- xã hội, quốc phòng an ninh trên biển, đặc biệt trong tình hình tranh chấp phức tạp thì các văn bản đó chưa đáp ứng được. Xu hướng thế giới hiện nay là hướng ra biển và đại dương. Trên thực tế, việc khai thác nguồn lợi đại dương, từ giao thông hàng hải, tài nguyên sinh vật và không sinh vật, khai thác dầu khí càng ngày càng phát triển, đưa đến lợi ích rất lớn với quốc gia, nhất là quốc gia ven biển như Việt Nam. Bên cạnh đó, việc khai thác nguồn lợi từ biển cũng kéo theo rất nhiều hệ lụy về vấn đề môi trường, nhất là đối với những nước có vùng biển chồng lấn, cùng khai thác chung, hưởng lợi chung. Nếu không kịp thời nội luật hóa, cụ thể là không sớm ban hành Luật biển, Luật Bảo vệ môi trường biển… điều chỉnh ngay những hoạt động đó phù hợp luật pháp quốc tế, phù hợp quan hệ chính trị, ngoại giao trong khu vực và các nước thì làm sao xử lý được các xung đột phát sinh, làm sao bảo vệ được lợi ích của đất nước và của người dân. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Công ước Basel 2003 được Việt Nam phê chuẩn năm 2009. Trước đây, khi chưa tham gia Công ước Basel, Việt Nam đã xây dựng những quy định về quản lý chất thải. Các văn bản quan trọng nhất là Luật Bảo vệ môi trường năm 2008 và Nghị định 175/CP ngày 18/10/2008 hướng dẫn thi hành Luật Bảo vệ môi trường 2008. Vấn đề quản lý chất thải bao gồm từ giảm thiểu việc sản sinh, thu gom, phân loại, tái chế, tái sử dụng và xử lý chất thải thông thường và chất thải nguy hại không được đề cập một cách đầy đủ trong các văn bản pháp luật này mà mới chỉ dừng lại ở những nghĩa vụ quan trọng nhất là thu gom và xử lý chất thải. Tình trạng này đã gây ra những khó khăn cho công tác quản lý chất thải, đặc biệt là chất thải nguy hại. Vấn đề quản lý đối với hoạt động nhập khẩu chất thải cũng đã được quy định nhưng lại xuất hiện sự mâu thuẫn giữa các văn bản pháp luật. Cho tới nay, Việt Nam đã xây dựng một hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở cho công tác quản lý chất thải nguy hại tạo căn cứ để thực hiện tốt Công ước Basel. Trong các văn bản hiện hành, Luật Bảo vệ môi trường năm 2019 đóng vai trò quan trọng. Ngoài việc đưa ra các định nghĩa như chất thải, chất thải nguy hại, phế liệu, Luật Bảo vệ môi trường 2019 ghi nhận nguyên tắc cấm nhập khẩu chất thải, được phép xuất khẩu chất thải, đáp ứng đúng quy định của Công ước. Ngoài ra, một số văn bản của Chính phủ như Nghị định số 12/2020/NĐ-CP của Chính phủ quy định việc tạm nhập tái xuất hàng hóa (bao gồm chất thải), hay các quy định của Bộ tài nguyên môi trường như Quyết định số 12/2020/QĐ-BTNMT về số phế liệu được phép nhập khẩu theo danh mục hoặc Thông tư 12/2025/TT-BTNMT ngày 14/4/2025 của Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về quản lý chất thải nguy hại cũng góp phần xây dựng cơ sở bảo đảm thực thi Công ước Basel. Đồng thời, việc xác định trách nhiệm hành chính và trách nhiệm hình sự trong pháp luật Việt Nam đối với hành vi xuất khẩu, nhập khẩu chất thải bất hợp pháp là phù hợp với quy định của Công ước. Trách nhiệm hành chính áp dụng đối với tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm các quy định về quản lý chất thải, về xuất khẩu, nhập khẩu chất thải được quy định tại Nghị định 121/2018/NĐ-CP ngày 12/5/2018 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực môi trường. Trách nhiệm hình sự áp dụng đối với những hành vi vi phạm gây hậu quả nghiêm trọng của cá nhân được quy định trong Chương 17 Bộ luật Hình sự 2013 (Điều 182, 183, 184, 185 BLHS 2013). Ngoài ra, để thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của Công ước Basel, Việt Nam đã bước đầu triển khai đầu tư xây dựng cơ sở vật chất cho hoạt động quản lý chất thải, xây dựng các cơ sở xử lý chất thải, đào tạo cán bộ chuyên môn nghiệp vụ, nghiên cứu khoa học phục vụ cho công tác quản lý chất thải. Việt Nam cũng đã xác định Cục Bảo vệ môi trường thuộc Bộ Tài nguyên và Môi trường đảm nhiệm chức năng Cơ quan có thẩm quyền Việt Nam của Công ước Basel và là đầu mối thực hiện Công ước Basel ở Việt Nam. Trong thời gian qua, cơ quan này thường xuyên trao đổi thông tin, văn bản với Ban thư ký Công ước về các lĩnh vực xây dựng các văn bản pháp luật nhằm thực hiện Công ước như xây dựng Nghị định thư về trách nhiệm và bồi thường; hướng dẫn kỹ thuật về xử lý các chất thải y tế; các hướng dẫn kỹ thuật xử lý các loại chất thải có nguồn gốc dầu mỏ, chất thải chứa PCB, chất thải là ắc quy, chì, axít, chất thải lốp ô tô, chất thải từ phá dỡ tàu biển… Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Mặc dù đã có những thành công nhất định nhưng vì những lý do khác nhau nên hoạt động quản lý chất thải ở Việt Nam vẫn còn những hạn chế cần khắc phục nhằm đáp ứng những đòi hỏi từ việc thực thi Công ước Basel. Việc kiểm soát hoạt động nhập khẩu “phế liệu” chưa chặt chẽ. Tính thiếu chặt chẽ trong hoạt động kiểm soát hành vi nhập khẩu phế liệu làm nguyên liệu sản xuất thể hiện ngay trong sự quy định của pháp luật về trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước; chưa bảo đảm việc thu gom và xử lý chất thải phù hợp với môi trường, năng lực xử lý chất thải độc hại nguy hiểm còn thấp.
Để bảo đảm việc thực thi Công ước Basel và bảo vệ môi trường trước những ảnh hưởng của chất thải, chúng ta cần xem xét và thực thi những giải pháp sau: Rà soát các quy định hiện hành về quản lý chất thải qua đó phát hiện và sửa đổi những quy định còn chồng chéo, mâu thuẫn hoặc không phù hợp với Công ước Basel; cần xây dựng cơ chế phối hợp hoạt động kiểm soát hành vi nhập khẩu “phế liệu, nguyên liệu thứ phẩm”; cần có các biện pháp nhằm tăng cường năng lực thực thi pháp luật của cơ quan hải quan trong hoạt động kiểm soát hành vi nhập khẩu “phế liệu, nguyên liệu thứ phẩm”…
Có thể thấy rằng, thông qua việc tham gia ký kết và thực thi Công ước Basel, hoạt động quản lý chất thải của Việt Nam đã có những thành công nhất định. Đó là, chúng ta đã có một hệ thống pháp luật về quản lý chất thải và hoạt động quản lý chất thải từng bước được cải thiện. Tuy nhiên, do điều kiện về kinh tế, xã hội, quản lý…, hoạt động quản lý chất thải của Việt Nam còn chưa đáp ứng được đầy đủ những yêu cầu của Công ước Basel và yêu cầu bảo vệ môi trường trước những ảnh hưởng của chất thải. Nhà nước cần phải tăng cường hơn nữa năng lực về thể chế, quản lý, tài chính… cho công tác quản lý chất thải mới có thể đáp ứng các yêu cầu của Công ước.
Trong việc thực thi Công ước MARPOL 73/78, Việt Nam đã ban hành các tiêu chuẩn nhằm ngăn ngừa ô nhiễm biển từ tàu phù hợp với yêu cầu của Công ước. Các tàu biển của Việt Nam chỉ được cấp giấy chứng nhận khi có đủ các điều kiện an toàn kỹ thuật theo quy định của quốc gia và công ước. Việc kiểm tra, giám sát định kỳ các cơ sở đóng tàu và các đối tượng kiểm tra khác cũng có nhiều sửa đổi để theo kịp Công ước. Tuy nhiên, do điều kiện trang thiết bị, cơ sở vật chất kỹ thuật của các cảng biển, các đội tàu của Việt Nam còn yếu, lại chưa có sự quan tâm, đầu tư thích đáng nên chưa đáp ứng được các yêu cầu, tiêu chuẩn của Công ước như: nhiều cảng biển của ta vẫn chưa có hệ thống tiếp nhận, xử lý các chất thải từ tàu…
Khóa họp thứ 63 của MEPC thuộc IMO đã được tiến hành từ ngày 27/02 đến ngày 02/3/2026, tại trụ sở của IMO (thủ đô Luân Đôn, Vương quốc Anh). Trong khóa họp này, MEPC đã nhất trí thông qua sửa đổi, bổ sung đối với Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm do tàu gây ra năm 1973 (MARPOL). MEPC đã thông qua sửa đổi, bổ sung đối với Phụ lục I, II, IV, V và VI của Công ước MARPOL, nhằm mục đích giúp cho các quốc đảo nhỏ đang phát triển có thể tuân thủ các quy định đối với quốc gia có cảng liên quan đến việc cung cấp các phương tiện tiếp nhận các loại chất thải từ tàu thông qua các bố trí mang tính khu vực. Các thành viên tham gia phải xây dựng một Kế hoạch về các phương tiện tiếp nhận của khu vực và phải cung cấp các thông số của các Trung tâm tiếp nhận chất thải từ tàu của khu vực được nhận biết, cũng như thông số của các cảng thuộc phạm vi của phương tiện tiếp nhận. Sửa đổi, bổ sung này dự kiến sẽ có hiệu lực từ ngày 01/8/2013.
Do đó, đối với các phần phụ lục mà Việt Nam đã phê chuẩn thì trong thời gian tới Việt Nam phải tiếp tục rà soát các quy định pháp luật của mình để sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với Công ước, đảm bảo cho Công ước MARPOL được thực thi có hiệu quả tại Việt Nam. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Ngoài việc thực thi các công ước trên thì Việt Nam cần nỗ lực thực thi tốt các công ước khác. Nhưng nhìn chung việc thực hiện các cam kết của Việt Nam còn chậm, hiệu quả thấp. Vấn đề bảo vệ môi trường biển và việc thực thi, nội luật hóa các công ước quốc tế về lĩnh vực này mới thực sự được quan tâm vài năm trở lại đây. Do đó, trong thời gian tới hi vọng Việt Nam sẽ có nhiều giải pháp hữu hiệu để các cam kết quốc tế sớm được thực thi, qua đó góp phần đẩy lùi vấn đề ô nhiễm, môi trường biển Việt Nam sẽ được giữ gìn và bảo vệ tốt hơn.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2
Các quy định của pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế về vấn đề bảo vệ môi trường biển đã đánh dấu một bước phát triển quan trọng trong hệ thống pháp luật môi trường biển Việt Nam nói riêng và hệ thống pháp luật môi trường nói chung.
Pháp luật về bảo vệ môi trường biển gồm những nội dung cơ bản là: bảo tồn và sử dụng hợp lý tài nguyên biển; kiểm soát, xử lý ô nhiễm môi trường biển và phòng ngừa, ứng phó sự cố môi trường trên biển. Ngoài ra, pháp luật bảo vệ môi trường biển còn có các quy định về nguyên tắc bảo vệ môi trường và hệ thống các cơ quan quản lý nhà nước được hình thành để bảo vệ môi trường biển…
Pháp luật về bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam được ban hành gồm một hệ thống các văn bản pháp luật với các hình thức pháp lí khác nhau, một mặt nhằm cụ thể hóa chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về vấn đề bảo vệ môi trường và phát triển bền vững, mặt khác nhằm cụ thể hóa các điều ước quốc tế có liên quan mà Việt Nam đã tham gia với tư cách là quốc gia thành viên.
Pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển trong thời gian qua đã được thực thi, đi vào cuộc sống, góp phần vào việc bảo vệ môi trường. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy có khá nhiều điểm tồn tại, có nhiều khoảng trắng, nhiều điểm chồng chéo trong quy định của pháp luật bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam. Việc triển khai thực hiện các quy định của pháp luật bảo vệ môi trường biển chưa hiệu quả, còn hạn chế do nhiều nguyên nhân. Việc nội luật hóa, thực thi các công ước quốc tế mà Việt Nam đã tham gia cũng chưa thực sự được quan tâm, chú trọng. Sự quản lí nhà nước trong việc bảo vệ môi trường biển đã không mang lại hiệu quả như mong muốn…Vì vậy, nâng cao hiệu quả của quản lý nhà nước về bảo vệ môi trường biển; hoàn thiện hệ thống pháp luật bảo vệ môi trường biển; tiếp thu, học hỏi kinh nghiệm trong việc bảo vệ môi trường biển từ các nước và áp dụng đồng bộ các giải pháp khác là cần thiết để bảo vệ môi trường biển. Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển