Chia sẻ chuyên mục Đề tài Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển hay nhất năm 2026 cho các bạn học viên ngành đang làm luận văn tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thạc sĩ thì với đề tài Luận văn: Pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển dưới đây chắc hẳn sẽ cho các bạn cái nhìn tổng quát hơn về đề tài này.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Khi nói đến tiềm năng của biển, người Việt Nam có câu ” Rừng vàng biển bạc”. Đúng thế! Biển không chỉ giàu có mà còn rất đẹp. Tài nguyên của biển vô cùng đa dạng và phong phú, đó là kho chứa hóa chất vô tận trong nước, dưới đáy biển, trong lòng đất; nước biển chứa một kho muối, nước… khổng lồ; biển còn là nguồn năng lượng sạch có thể khai thác như gió, nước, nhiệt độ, các dòng hải lưu… Là một đất nước có hơn 3260 km bờ biển, với một vị trí địa lý thuận lợi nên Việt Nam được coi là quốc gia có tiềm năng lớn để phát triển kinh tế biển như hàng hải, du lịch, dịch vụ, công nghiệp đóng tàu, khai thác hải sản, dầu khí… Hội nghị lần thứ tư Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X đã ra “Nghị quyết về Chiến lược biển đến năm 2040” là “Phấn đấu đưa kinh tế biển đóng góp khoảng 53% – 55% GDP và 55% – 60% kim ngạch xuất khẩu của cả nước” [27]. Những tiêu chí trên thể hiện rõ tầm quan trọng của biển Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và phát triển đất nước.
Thế nhưng dưới sức ép của phát triển kinh tế, của sự gia tăng dân số… nên biển đang bị suy thoái và ô nhiễm nghiêm trọng từ những hoạt động ngày càng gia tăng của con người. Theo thống kê, mỗi ngày có hàng nghìn tấn rác từ các hoạt động khai thác, nuôi trồng thủy sản, du lịch, công nghiệp, nước thải sinh hoạt…đổ trực tiếp ra biển không qua xử lý, sự cố tràn dầu…đang khiến môi trường nước biển bị ô nhiễm nặng, khiến cho các nguồn thủy sản đang cạn kiệt dần, nhiều loài hải sản đã được đưa vào sách đỏ, các hệ san hô, hệ động thực vật biển và nguồn lợi hải sản, dầu khí đang có xu hướng giảm dần về trữ lượng, sản lượng, thiếu nước ngọt, xói lở, sa bồi bờ biển với mức độ ngày càng trầm trọng, nhiều bãi biển đẹp đang mất dần… Môi trường biển Việt Nam đang kêu cứu! Đến một lúc nào đó khi biển quá tải vì ô nhiễm môi trường nó sẽ quay lại hủy hoại chính chúng ta.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường biển là do chúng ta chỉ chú trọng phát triển kinh tế biển mà chưa có sự quan tâm, hành động và đầu tư đúng mức đối với công tác bảo vệ môi trường biển, không chỉ là do kinh tế còn kém phát triển, lạc hậu, ý thức của người dân còn thấp, sự thiếu hiểu biết pháp luật về biển nhất là pháp luật bảo vệ môi trường biển của những người tham gia hoạt động khai thác sử dụng, quản lý biển… mà điều quan trọng nhất là các chính sách và pháp luật về bảo vệ môi trường biển của Việt Nam còn chưa đầy đủ, chưa cụ thể và thiếu thực tế, gây khó khăn cho việc tổ chức thực hiện. Vấn đề bảo vệ môi trường, nhất là môi trường biển không chỉ là vấn đề của riêng Việt Nam hay của riêng bất kỳ một quốc gia nào mà môi trường là vấn đề có tính liên ngành, liên vùng và toàn cầu. Môi trường biển mỗi nước đều chịu tác động bởi môi trường toàn cầu và môi trường xuyên biên giới với các quốc gia láng giềng. Vì vậy, để giải quyết vấn đề môi trường biển cần có sự hợp tác, chung tay góp sức của cả thế giới. Tuy nhiên, việc hợp tác quốc tế trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển cũng như việc tham gia ký kết và thực thi các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển của chúng ta còn bộc lộ nhiều hạn chế, chưa thực sự được quan tâm thích đáng. Chúng ta chưa có một hành lang pháp lý hoàn chỉnh để răn đe, giáo dục, xử phạt, xét xử các tội phạm về môi trường một cách nghiêm minh, triệt để và để thu hút nhiều hơn nữa sự đầu tư, hợp tác, giúp đỡ về công nghệ môi trường từ các nước phát triển cũng như chưa tranh thủ sự hỗ trợ quốc tế cho hoạt động nghiên cứu giám sát quản lý về ô nhiễm biển, cùng bảo vệ môi trường biển… Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Xuất phát từ những trăn trở của cá nhân tác giả khi môi trường, đặc biệt là môi trường biển đang ngày càng bị hủy hoại nghiêm trọng, xuất phát từ nhận thức muốn phát triển bền vững nhất thiết phải gìn giữ, bảo vệ tốt môi trường, trong đó có môi trường biển, đây là vấn đề sống còn và cấp bách vì môi trường ảnh hưởng lâu dài, sâu sắc đến đời sống, sản xuất, sự phát triển tồn tại của từng quốc gia, dân tộc. Vì thế, tác giả cũng muốn góp tiếng nói nhỏ bé của mình vào tiếng chuông cảnh tỉnh chung về bảo vệ môi trường biển. Hơn nữa, bản thân tác giả cũng đang hoạt động trong ngành tư pháp nên hiểu rõ pháp luật là một công cụ quan trọng, hiệu quả nhất trong việc bảo vệ môi trường và gắn bó pháp luật quốc gia với luật quốc tế để có được sức mạnh tập thể càng quan trọng hơn. Với mong muốn làm sáng tỏ các quy định của pháp luật Việt Nam cũng như luật quốc tế về vấn đề bảo vệ môi trường biển để từ đó có cái nhìn sâu sắc hơn về các quy định của pháp luật quốc gia cũng như quốc tế về vấn đề bảo vệ môi trường. Đồng thời, tìm ra những điểm thiếu sót, bất cập, còn hạn chế của pháp luật, có những kiến nghị nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật quốc gia cho phù hợp với luật pháp quốc tế. Qua đó, góp phần bảo vệ môi trường biển nói riêng và môi trường nói chung, bởi bảo vệ cho môi trường chính là bảo vệ cho tương lai. Vì những lý do đó, tác giả quyết định chọn đề tài: “Pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển” làm đề tài luận văn của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Công ước quốc tế hay vấn đề bảo vệ môi trường biển là những vấn đề không mới. Thực tế đã có rất nhiều bài viết, công trình nghiên cứu, khóa luận, luận văn… đề cập đến vấn đề này như cuốn sách Bảo vệ môi trường biển Việt Nam- Vấn đề và giải pháp của tiến sĩ Nguyễn Hồng Thao năm 2018; khóa luận tốt nghiệp của Nguyễn Hồng Ly năm 2023 về Pháp luật kiểm soát ô nhiễm môi trường biển trong hoạt động dầu khí; bài viết “Ô nhiễm môi trường biển và vấn đề thực thi các điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển tại Việt Nam”, của Đỗ Văn Sen trên Tạp chí Nhà nước và pháp luật, Viện Nhà nước và Pháp luật năm 2022…Tuy nhiên, những bài viết, khóa luận chỉ đề cập đến một số khía cạnh về việc thực hiện các điều ước quốc tế hay đề cập đến vấn đề bảo vệ môi trường biển ở một số lĩnh vực, chủ yếu là ô nhiễm do dầu. Riêng cuốn sách của TS. Nguyễn Hồng Thao đã phân tích khá đầy đủ, toàn diện về vấn đề bảo vệ môi trường biển Việt Nam cũng như đưa ra giải pháp để cải thiện và bảo vệ môi trường biển. Trong đó, cuốn sách cũng dành một phần riêng để phân tích về vấn đề Việt Nam và các công ước quốc tế về môi trường biển. Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Nhìn chung, các công trình nghiên cứu nêu trên đã đóng góp một phần vào việc bảo vệ môi trường biển, tạo ưu thế cho sự phát triển của các ngành kinh tế biển. Tuy vậy, do giới hạn của từng công trình, chúng đã không đề cập hoặc có đề cập đến vấn đề pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển nhưng ít nghiên cứu chuyên sâu về mặt khoa học pháp lý. Có thể khẳng định đây là công trình đầu tiên đi sâu nghiên cứu một cách cơ bản, toàn diện và có hệ thống các vấn đề lí luận và thực tiễn về pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển với cấp độ luận án thạc sĩ luật học.
3. Mục đích, nhiệm vụ của đề tài
Luận văn xác định mục đích, nhiệm vụ chính là:
- Tìm hiểu và làm sáng tỏ các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển, tình hình tham gia và thực hiện các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam.
- Tìm ra những điểm bất cập và hạn chế trong quy định của pháp luật trong nước cũng như các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
- Làm nổi bật các nguyên nhân dẫn đến tình trạng pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường và việc thực thi kém hiệu quả các công ước quốc tế, đặc biệt là các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
- Đưa ra được những giải pháp, kiến nghị để hoàn thiện hệ thống pháp luật quốc gia; định hướng cho vấn đề kí kết, đàm phán, gia nhập, thực thi các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã, đang và sẽ tham gia.
4. Đối tượng nghiên cứu của đề tài Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Luận văn có đối tượng nghiên cứu như sau:
- Luận văn tập trung nghiên cứu và phân tích các quy định của pháp luật trong nước và các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam đã tham gia để từ đó tìm ra những điểm còn bất cập, hạn chế và đưa ra giải pháp hoàn thiện.
- Nghiên cứu các quy định trong một số công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam đang xem xét để tham gia để từ đó đưa ra các định hướng và đề xuất cụ thể.
- Nghiên cứu thực tiễn thực thi pháp luật và các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển tại Việt Nam, đưa ra kết luận và tìm ra giải pháp thực thi có hiệu quả.
- Nghiên cứu pháp luật về bảo vệ môi trường biển và thực tiễn tham gia các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển ở một số nước để rút ra bài học kinh nghiệm cho Việt Nam…
5. Phương pháp tiếp cận vấn đề
- Về phương pháp luận: Luận văn vận dụng cách tiếp cận truyền thống để nghiên cứu đề tài là chủ nghĩa duy vật lịch sử; chủ nghĩa duy vật biện chứng, phép biện chứng của chủ nghĩa Mác-Lê nin, tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật.
- Luận văn sử dụng phương pháp nghiên cứu cụ thể sau: so sánh, phân tích, tổng hợp, thống kê số liệu…
6. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của luận văn gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận chung về pháp luật Việt Nam và các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển
- Chương 2: Thực tiễn pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển và việc tham gia, thực hiện các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam.
- Chương 3: Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường biển và việc tham gia, thực hiện các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển ở Việt Nam.
Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VỀ PHÁP LUẬT VIỆT NAM VÀ CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
1.1 KHÁI NIỆM MÔI TRƯỜNG BIỂN, Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN VÀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN
Hiện nay, vấn đề bảo vệ môi trường đang là một trong những vấn đề lớn và cấp bách mà thế giới cần phải giải quyết. Trong số các thành phần của môi trường, biển chiếm tới 3/4 bề mặt trái đất, vì thế môi trường biển và bảo vệ môi trường biển đóng một vai trò rất quan trọng. Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Môi trường biển được định nghĩa trên nhiều phương diện khác nhau, nếu xét về phương diện phạm vi địa lý môi trường biển là toàn bộ vùng nước biển của trái đất với tất cả những gì có trong đó. Theo Điều 1, khoản 4 Công ước của Liên hợp quốc về Luật biển năm 1982, môi trường biển được hiểu bao gồm các tài nguyên sinh vật, các hệ sinh thái biển và chất lượng nước biển, cảnh quan biển. Như vậy, môi trường biển không chỉ bao gồm các vùng biển với các đặc trưng lý hóa của chúng mà còn bao gồm cả các nguồn tài nguyên sinh vật, tài nguyên không sinh vật của vùng cửa sông, các vùng ngập mặn bao gồm cả trầm tích, các vùng thủy triều lên xuống, các vùng đầm lầy và bầu khí quyển phía trên mặt biển. Bất kỳ một sự suy thoái nào hay phát triển không kiểm soát đều ảnh hưởng xấu đến môi trường biển. Tại chương 17 trong Chương trình hành động 21 định nghĩa: “Môi trường biển là vùng bao gồm các đại dương và các biển và các vùng ven biển tạo thành một tổng thể, một thành phần cơ bản của hệ thống duy trì cuộc sống toàn cầu và là tài sản hữu ích tạo cơ hội cho sự phát triển bền vững” [41]. Định nghĩa này nhấn mạnh mối liên kết giữa môi trường và con người đối với sự phát triển, nghĩa là môi trường tự nhiên của biển cả chịu sự tác động của các hoạt động của con người trong quá trình phát triển.
Pháp luật Việt Nam không có một định nghĩa riêng về từng thành phần của môi trường mà Luật bảo vệ môi trường năm 2019 chỉ đưa ra định nghĩa: “Môi trường bao gồm các yếu tố tự nhiên và vật chất nhân tạo bao quanh con người, có ảnh hưởng đến đời sống, sản xuất, sự tồn tại, phát triển của con người và sinh vật” [62]. Các yếu tố vật chất tạo thành môi trường là đất, nước, không khí, âm thanh, ánh sáng, sinh vật, hệ sinh thái và các hình thái vật chất khác. Như vậy, môi trường biển được xem xét trong một tổng thể môi trường chung.
Do đó, cũng không có khái niệm thế nào là ô nhiễm môi trường biển, ta chỉ có thể hiểu và suy diễn từ khái niệm ô nhiễm môi trường mà Luật Bảo vệ môi trường năm 2019 đã đưa ra: “Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người, sinh vật” [62]. Sự biến đổi các thành phần môi trường có thể do các hoạt động của con người và thiên nhiên mà chủ yếu là do các hoạt động có ý thức và vô ý thức của con người gây hại cho môi trường. Cụ thể hơn, đó là việc làm thay đổi một cách trực tiếp hoặc gián tiếp các tính chất vật lý (bao gồm cơ, nhiệt, âm, quang, điện tử, phóng xạ…), hóa học, sinh học của bất kỳ thành phần nào của môi trường dẫn đến sự nguy hại hoặc có khả năng nguy hại đến sức khỏe, đến sự an toàn hoặc sự hưng thịnh của bất kỳ giống loài sinh vật nào, trong đó quan trọng nhất là con người. Căn cứ vào định nghĩa ô nhiễm môi trường của Luật bảo vệ môi trường thì, ô nhiễm môi trường biển là sự biến đổi trạng thái lý- hóa- sinh học của môi trường biển khi thải vào môi trường biển những chất độc hại, vi phạm tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu tới con người và sinh vật. Định nghĩa trên không chỉ rõ được các tác nhân cũng như thành phần tài nguyên và môi trường bị tổn hại, không thể hiện hết được tính đặc thù của môi trường biển. Bởi sự tác động của các tác nhân gây ô nhiễm môi trường đối với môi trường nước biển, không khí hay đất liền là khác nhau; mức độ gây suy thoái đến môi trường cũng khác nhau. Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Trong các văn bản chuyên ngành như Bộ luật Hàng hải 2019, Luật Thủy sản 2017, Luật Dầu khí năm 2007 và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Dầu khí năm 2014, 2022…cũng không đưa ra định nghĩa cụ thể về ô nhiễm môi trường biển. Rõ ràng Việt Nam đang rất cần có một nghiên cứu chuyên sâu về vấn đề này, cần có một định nghĩa cụ thể và thống nhất về vấn đề ô nhiễm môi trường biển.
Về nguyên tắc, tất cả các quy định trong các văn bản chuyên ngành đều phải tuân thủ nghiêm ngặt các quy định của pháp luật Việt Nam về bảo vệ môi trường và các điều khoản của các Điều ước quốc tế về bảo vệ môi trường mà Việt Nam đã tham gia hoặc ký kết. Tuy nhiên, trong khi Việt Nam chưa có một văn bản pháp quy nào định nghĩa cụ thể về môi trường biển và ô nhiễm môi trường biển thì việc Việt Nam tham gia Công ước 1982 của Liên hợp quốc về Luật biển là một đảm bảo pháp lý cho việc sử dụng định nghĩa của Công ước này về ô nhiễm môi trường biển, các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển, tạo cơ sở để thực thi và đưa ra một định nghĩa đặc thù cho môi trường biển Việt Nam. Công ước Luật biển 1982 đã đưa ra một khái niệm khá toàn diện về ô nhiễm môi trường biển. Ô nhiễm môi trường biển là:
Việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm cả các cửa sông, khi việc đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương tiện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển [36, Điều 1].
Theo Công ước Luật biển 1982, hành vi gây ô nhiễm môi trường biển là những hoạt động của con người gây hậu quả xấu cho môi trường. Định nghĩa này không đề cập đến các sự cố, tai biến thiên nhiên, sự ô nhiễm tự sinh, mà chỉ đề cập đến các sự cố môi trường do con người gây ra. Do đó, cần bổ sung nguyên nhân gây ô nhiễm môi trường biển từ tự nhiên để có một khái niệm hoàn chỉnh về ô nhiễm môi trường biển dưới góc độ khoa học và luật học. Theo tác giả, nên định nghĩa: Ô nhiễm môi trường biển việc con người trực tiếp hoặc gián tiếp đưa các chất liệu hoặc năng lượng vào môi trường biển, bao gồm từ các cửa sông, đất liền, trên không trung, đáy biển hoặc do những biến đổi bất thường của tự nhiên, từ đó gây ra hoặc có thể gây ra những tác hại như gây nguy hiểm cho sức khỏe con người, gây trở ngại cho các hoạt động ở biển, kể cả việc đánh bắt hải sản và các việc sử dụng biển một cách hợp pháp khác, làm biến đổi chất lượng nước biển về phương tiện sử dụng nó và làm giảm sút các giá trị mỹ cảm của biển. Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Xuất phát từ chức năng của môi trường biển đối với cuộc sống con người là đảm bảo điều kiện sống cho con người; cung cấp tài nguyên; đảm bảo các lợi ích cho sinh hoạt con người như du lịch, thể thao, nghỉ ngơi, giao thông; là nơi hấp thụ, đồng hóa các chất thải có nguồn gốc từ đất liền. Cùng với sự phát triển của khoa học công nghệ thì nhận thức của con người đã thay đổi, con người hiểu ra rằng tài nguyên biển không phải là vô tận và biển không phải là bãi rác. Do đó, bảo vệ môi trường biển khỏi ô nhiễm đang trở thành một nhiệm vụ bức thiết. Dựa trên quan điểm bảo vệ và phát triển bền vững môi trường, bảo vệ môi trường biển là ngăn chặn những ảnh hưởng tiêu cực của các hoạt động của con người và của tự nhiên đến môi trường biển, làm ô nhiễm và suy thoái môi trường biển.
- Theo Luật bảo vệ môi trường 2019:
Hoạt động bảo vệ môi trường là hoạt động giữ cho môi trường trong lành, sạch đẹp; phòng ngừa, hạn chế tác động xấu đối với môi trường, ứng phó sự cố môi trường, khắc phục ô nhiễm, suy thoái, phục hồi và cải thiện môi trường; khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm tài nguyên thiên nhiên; bảo vệ đa dạng sinh học [62, Điều 3].
Ô nhiễm môi trường biển cũng như các loại ô nhiễm môi trường khác cần phải được kiểm soát. Kiểm soát ô nhiễm môi trường biển là sự tổng hợp tất cả các biện pháp về thể chế, chính sách, luật, kỹ thuật, công nghệ, tuyên truyền, giáo dục…nhằm ngăn ngừa, khống chế không cho ô nhiễm môi trường biển xảy ra, cũng như chủ động xử lý, đối phó làm giảm thiểu hậu quả khi ô nhiễm xảy ra, tiến đến phục hồi và nâng cao chất lượng môi trường biển.
1.2 NGUỒN GÂY Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG BIỂN Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Theo Công ước Luật biển 1982, ô nhiễm môi trường biển bao gồm 6 nguồn chính sau:
- Ô nhiễm bắt nguồn từ đất liền kể cả các ô nhiễm xuất phát từ các dòng sông, ngòi, cửa sông, ống dẫn và các thiết bị thải đổ công nghiệp.
- Ô nhiễm do các hoạt động liên quan đến đáy biển thuộc quyền tài phán quốc gia ven biển, hay xuất phát từ các đảo nhân tạo, các công trình thiết bị thuộc quyền tài phán của họ.
- Ô nhiễm do các hoạt động trong vùng (tức vùng đáy biển di sản chung của loài người) lan truyền tới.
- Ô nhiễm do sự nhấn chìm và trút bỏ chất thải.
- Ô nhiễm do hoạt động của các loại tàu thuyền và tai nạn tàu thuyền trên biển.
- Ô nhiễm có nguồn gốc từ bầu khí quyển hay qua bầu khí quyển.
Các nguồn gây ô nhiễm môi trường biển luôn gắn liền với các lĩnh vực hoạt động của con người. Việc xác định nguồn gây ô nhiễm môi trường biển là cần thiết trong quá trình đấu tranh và bảo vệ môi trường biển. Tuy nhiên, mỗi nguồn gây ô nhiễm môi trường biển nêu trên lại có mức độ ảnh hưởng khác nhau đến môi trường biển. Đánh giá, phân loại nguồn gây ô nhiễm môi trường biển sẽ giúp bảo vệ môi trường biển hiệu quả hơn, tốt hơn.
- Ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền
Đất liền là nơi con người thực hiện phần lớn các hoạt động của mình. Tuy nhiên, biển cả lại là bãi rác khổng lồ do thói quen xấu của con người gây nên. Có thể nói, ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền là nguồn ô nhiễm biển lớn nhất. Các chất thải công nghiệp, nông nghiệp, nước và rác thải sinh hoạt, các chất thải từ các hoạt động du lịch, nuôi trồng thủy sản, hoạt động phá rừng…đều gây ô nhiễm nghiêm trọng đối với môi trường biển. Các chất thải này đi theo các dòng sông, cửa sông, ống dẫn và các thiết bị thải ra biển. Tỷ lệ nguồn ô nhiễm biển xuất phát từ đất liền chiếm tỉ lệ lớn nhất so với các nguồn ô nhiễm khác.
Tại Việt Nam, ô nhiễm dẫn đến sự cạn kiệt các tài nguyên cá, nhất là những loài cá ven bờ; tính đa dạng sinh học ngày càng bị đe dọa do phá hủy môi trường sống như rừng ngập mặn, rặng san hô; axít hóa đất do phát quang rừng ven biển trên các vùng đất phèn để làm nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản; ô nhiễm do nước thải đô thị không qua xử lý; sử dụng tràn lan và không kiểm soát hóa chất trong nông nghiệp và công nghiệp…Thêm vào đó, thiên tai như bão, lũ và xâm nhập mặn cũng tác động lớn tới môi trường biển và có xu hướng trầm trọng thêm bởi các hoạt động của con người.
Các số liệu thống kê cho thấy, khoảng 70% ô nhiễm biển và đại dương có nguồn gốc từ đất liền, xuất phát từ những chất xả thải của các thành phố, thị xã, thị trấn, từ các ngành công nghiệp, xây dựng, y tế, hóa chất… Trong đó, đáng kể nhất và nguy hại nhất là chất thải từ các nhà máy thông qua hệ thống thoát nước xả thẳng ra biển và đại dương, trong đó có cả một lượng lớn các chất bồi lắng, hóa chất, kim loại, nhựa, cặn dầu và thậm chí cả các chất phóng xạ. “Tổng nguồn thải từ lục địa đưa ra vùng biển ven bờ mỗi năm ước tính đến 3 triệu tấn COD; 1,83 triệu tấn BOI); 1,11 triệu tấn N-T; 300 nghìn tấn P-T; 270 triệu tấn TSS; 1,6 triệu tấn dầu mỡ; 16 nghìn tấn hóa chất bảo vệ thực vật và khoảng 47 nghìn tấn kim loại nặng các loại” [70]. Nguồn thải từ lục địa ra vùng biển ven bờ Việt Nam làm chất lượng nước biển bị suy giảm và ô nhiễm (một số nơi nước biển chuyển màu xanh hoặc đỏ), bị đục hóa; các hệ sinh thái biển và nguồn lợi thủy sản ven bờ bị suy thoái. Đặc biệt xuất hiện những điểm nóng ô nhiễm vùng biển ven bờ khu vực Quảng Ninh – Hải Phòng, Đà Nẵng – Quảng Ngãi, Bà Rịa – Vũng Tàu – Thành phố Hồ Chí Minh.
Các chất bẩn tích tụ trong biển làm thay đổi chất lượng nước biển, tính chất vật lý của môi trường biển, ảnh hưởng đến sự trong lành của môi trường, làm suy thoái và ô nhiễm môi trường biển, qua đó ảnh hưởng xấu tới sức khỏe của con người.
Việc xác định các thành phần ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền và đánh giá mức độ đe dọa tác động xấu tới môi trường biển của từng thành phần có vai trò quan trọng. Từ đó, đưa ra các giải pháp hiệu quả để phòng ngừa, giảm thiểu tác động đến môi trường của các thành phần này. Tuy vậy, việc xác định nguồn ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền hết sức phức tạp và các nguồn ô nhiễm này cũng rất khó kiểm soát. Việc hạn chế và tiến tới xóa bỏ nguồn ô nhiễm này là vô cùng khó khăn đối với các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia ven biển. Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
- Ô nhiễm từ các hoạt động liên quan đến đáy biển
Đây là một trong các nguồn gây ô nhiễm chính đến môi trường biển. Các hoạt động thăm dò, khai thác khoáng sản, đặc biệt là dầu khí, các hoạt động khoan, đào xây dựng đường hầm, lắp đặt ống dẫn, dây cáp, xây dựng các đảo nhân tạo…là nguy cơ tiềm tàng gây ô nhiễm môi trường biển. Quá trình tiến hành các hoạt động trên có thể gây ra các sự cố như rò rỉ, nổ dàn khoan, đâm va, tràn dầu, chất thải từ các hoạt động đó…đều ảnh hưởng tới chất lượng nước biển, làm hủy hoại các giống loài sinh vật biển, giảm sự đa dạng sinh học và các giá trị khác của biển. Trong đó, sự cố tràn dầu ngày càng diễn ra với mức độ nghiêm trọng.
Hiện nay, hàm lượng dầu trong nước biển của Việt Nam nhìn chung đều vượt giới hạn tiêu chuẩn Việt Nam và vượt rất xa tiêu chuẩn ASEAN. Đặc biệt, có những thời điểm vùng nước khu vực cảng Cái Lân có hàm lượng dầu ở mức 1,75 mg/lít, gấp 6 lần giới hạn cho phép; 1/3 diện tích mặt nước vịnh Hạ Long có hàm lượng dầu thường xuyên từ 1 đến 1,73 mg/lít. Bên cạnh đó, vùng biển nước ta có khoảng 340 giếng khoan thăm dò và khai thác dầu khí, ngoài việc thải nước lẫn dầu với khối lượng lớn, trung bình mỗi năm hoạt động này còn phát sinh khoảng 5.600 tấn rác thải dầu khí, trong đó 20 – 30% là chất thải rắn nguy hại chưa có bãi chứa và nơi xử lý.
Các quốc gia cần có chính sách, biện pháp để đối phó với vấn đề suy thoái, ô nhiễm môi trường biển do các hoạt động liên quan đến đáy biển gây ra, nhất là đối với sự cố tràn dầu đang diễn ra ngày càng nhiều như hiện nay.
- Ô nhiễm do sự nhấn chìm và trút bỏ chất thải Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Các chất thải đặc biệt là các hóa chất và các chất nguy hại khác thải ra biển từ các nhà máy, khu công nghiệp…có tác động rất xấu đến môi trường biển. Các vụ tai nạn tàu chuyên chở các chất nguy hại cũng là nguồn ô nhiễm do nhấn chìm lớn. Chỉ cần một lượng rất nhỏ các chất này, ví dụ như dioxin, các chất phóng xạ đã gây ra hậu quả nghiêm trọng đối với môi trường biển và đối với sức khỏe, tính mạng con người.
- Ô nhiễm do tàu thuyền gây ra
Do các hoạt động của tàu thuyền như đốt cháy nhiên liệu, rửa tàu, rác và nước thải sinh hoạt, tràn dầu và các chất độc hại do các sự cố trên biển như đâm va, chìm đắm, nổ, cháy, do sơ xảy trong quá trình bốc, xếp, dỡ, vận chuyển…Phần lớn việc để xảy ra sự cố gây ô nhiễm môi trường biển là do con người, chỉ một phần nhỏ là do sự cố máy móc, do đó, để hạn chế được nguồn gây ô nhiễm này thì cần thiết phải đào tạo con người cả về trình độ và ý thức, nhận thức.
Ở Việt Nam, tình trạng ô nhiễm biển do hoạt động của tàu thuyền có xu hướng gia tăng, phức tạp hơn. Do số lượng tàu thuyền gắn máy loại nhỏ, công suất thấp, cũ kỹ và lạc hậu tăng nhanh, nên khả năng thải dầu và các chất thải khác vào môi trường biển nhiều hơn. Các tàu nhỏ chạy bằng xăng dầu đã thải ra biển khoảng 70% lượng dầu thải. Ngoài ra, hoạt động của tàu thương mại trên tuyến hàng hải quốc tế cũng thải vào biển Việt Nam một lượng lớn dầu rò rỉ, dầu thải và chất thải sinh hoạt mà đến nay chưa thể thống kê đầy đủ. Các vụ tai nạn tàu chở dầu và tai nạn hàng hải là một trong những nguồn chính gây nên tình trạng ô nhiễm biển tại Việt Nam. Theo thống kê của Cục Hàng hải Việt Nam, từ năm 2006-2018 xảy ra 928 vụ tai nạn tàu thủy, đồng nghĩa với nguy cơ tràn dầu ngày càng lớn. Dầu tràn gây hậu quả nặng nề về nhiều mặt. Đơn cử vụ tàu chở dầu Neptune Aries (Singapore) đâm vào cầu tàu cảng Cái Tiên trên sông Sài Gòn hồi tháng 10.2008, làm tràn 1.584 tấn dầu DO và hơn 150 tấn xăng dầu các loại từ đường ống dẫn dầu của cầu cảng… Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Hàng loạt các công ước như Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu thuyền 1973 (MARPOL 73/78), sửa đổi bổ sung năm 1978; công ước về an toàn tính mạng trên biển (SOLAS) 1974; Công ước tránh đâm va (COLREG) 1978…được các quốc gia gia nhập ngày càng nhiều do tính nghiêm trọng của nguồn ô nhiễm từ tàu thuyền gây ra.
- Ô nhiễm từ khí quyển
Đây là nguồn ô nhiễm biển riêng biệt, tự nó không làm ô nhiễm môi trường biển mà bầu khí quyển bị ô nhiễm do các nguồn khác gây nên và qua đó trở thành nguồn ô nhiễm môi trường biển. Bầu khí quyển bị ô nhiễm do khí thải từ các ngành công nghiệp, đốt rác thải, từ hoạt động nông nghiệp, bụi từ đất, từ núi lửa, cháy rừng, các chất phóng xạ từ các vụ thử hạt nhân…Các chất nhiễm bẩn được phát tán trong không khí làm bầu khí quyển bị ô nhiễm. Qua các cơn mưa, tuyết rơi các chất nhiễm bẩn này rơi xuống biển, làm ô nhiễm môi trường biển. Do đó, hạn chế nguồn ô nhiễm này sẽ góp phần bảo vệ môi trường biển.
Như vậy, các nguồn ô nhiễm biển rất đa dạng. Trong đó, ô nhiễm có nguồn gốc từ đất liền là nguồn ô nhiễm chính và chủ yếu. Vì thế, cần tập trung vào ngăn ngừa, hạn chế và tiến tới xóa bỏ hoàn toàn nguồn ô nhiễm này. Tuy nhiên, nguồn ô nhiễm từ đất liền còn ít được quan tâm hoặc sự điều chỉnh trong các quy định của pháp luật còn có sự tách biệt, chưa có được một cái nhìn tổng thể về mối quan hệ chặt chẽ giữa đất liền và biển. Ngoài ra, do sự kém phát triển về khoa học kỹ thuật cho nên nhiều quốc gia cũng chưa nhận thức được mối đe dọa từ các nguồn ô nhiễm khác như ô nhiễm từ các hoạt động ở đáy biển, ô nhiễm khí quyển, ô nhiễm hạt nhân…đối với môi trường biển nước mình.
1.3 CÁC CÔNG ƯỚC QUỐC TẾ VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Hiện nay, có khoảng 300 công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, trong đó, có các công ước sau về bảo vệ môi trường biển:
Công ước năm 1982 của Liên hợp quốc về luật biển (UNCLOS) là bộ luật hoàn chỉnh nhất về biển trong thời đại chúng ta, dành Phần XII qui định về việc bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, gồm 11 mục và 46 điều khoản (từ Điều 192 đến Điều 237). Đó là cơ sở pháp lý giúp các quốc gia bảo vệ và giữ gìn môi trường biển, đồng thời đẩy mạnh hợp tác quốc tế để ngăn ngừa, hạn chế và chế ngự ô nhiễm môi trường biển chung. Điểm nổi bật của Công ước là xác định rõ ràng quyền hạn và nghĩa vụ của các quốc gia ven biển trong việc bảo vệ môi trường biển khỏi ô nhiễm.
Công ước quốc tế về ngăn ngừa ô nhiễm từ tàu (MARPOL 73/78): Ra đời năm 1973, đây là bộ luật chuyên ngành hàng hải của thế giới, đã được thông qua tại Hội nghị quốc tế về ô nhiễm biển, do Tổ chức Hàng hải quốc tế (IMO) triệu tập từ ngày 8/10 đến 2/12/1973. Công ước đưa ra những qui định nhằm ngăn chặn ô nhiễm gây ra do tai nạn hoặc do vận chuyển hàng hóa là dầu mỏ, hàng nguy hiểm, độc hại bằng tàu, cũng như do nước, rác và khí thải ra từ tàu. Năm 1978, Công ước 1973 được sửa đổi, bổ sung bằng Nghị định thư 1978 kèm thêm 5 phụ lục mới, được gọi tắt là MARPOL 73/78. Năm 2011, Marpol 73/78 được bổ sung bằng Nghị định thư 2011 có thêm phụ lục thứ 6. Như vậy, đến nay Marpol 73/78 đang được thực thi nghiêm ngặt trong ngành hàng hải thế giới.
- Công ước quốc tế về an toàn sinh mạng con người trên biển 1974 (SOLAS).
- Công ước quốc tế sẵn sàng ứng phó và hợp tác đối với việc xử lý ô nhiễm dầu năm 2004 (OPRC).
- Công ước về ngăn ngừa ô nhiễm biển do chất thải và những vật liệu khác (London 1972).
- Công ước về kiểm soát việc vận chuyển qua biên giới chất thải nguy hại và việc tiêu hủy chúng (Basel 2003).
- Công ước về can thiệp ngoài Biển cả trong các trường hợp sự cố ô nhiễm dầu năm 1969 và Nghị định thư liên quan đến việc can thiệp ngoài biển cả trong các trường hợp ô nhiễm do các chất khác không phải dầu năm 1973 (Công ước can thiệp). Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
- Công ước về cứu hộ năm 2003
- Công ước về trách nhiệm dân sự đối với các tổn thất ô nhiễm biển do dầu năm 1969 (CLC 1969), Công ước quốc tế về thiết lập quỹ quốc tế đền bù các tổn thất ô nhiễm biển do dầu năm 1971 (FUND 1971), các Công ước sửa đổi CLC 2006 và FC 2006.
- Công ước về trách nhiệm và bồi thường thiệt hại gắn liền với việc vận chuyển bằng đường biển các chất nguy hiểm và độc hại 2010 (HNS).
- Công ước quốc tế về trách nhiệm hình sự đối với thiệt hại do ô nhiễm dầu, 1969.
- Công ước quốc tế liên quan tới can thiệp vào các biểu vĩ độ cao trong trường hợp thiệt hại do ô nhiễm dầu, 1969.
- Công ước quốc tế về các hệ thống chống hà của tàu năm 2015 (AFS 2015)
- Công ước quốc tế về kiểm soát và quản lý nước dằn và cặn nước dằn tàu năm 2018 (BWM 2018)
- Công ước quốc tế Hồng Kông về tái sinh tàu an toàn, thân thiện môi trường năm 2023 (SR 2023)…
Các công ước quốc tế nêu trên đã, đang góp phần mạnh mẽ vào việc bảo vệ môi trường biển. Hầu hết, các quốc gia có biển hay không có biển đều nhận thức sâu sắc rằng việc tham gia các công ước này chính là một công cụ hiệu quả giúp bảo vệ môi trường biển. Vì thế, trong thời gian qua quá trình các quốc gia ký kết, gia nhập, phê chuẩn và thực thi hiệu quả các công ước quốc tế đó đang diễn ra mạnh mẽ. Có thể nói, so với các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam là nước tham gia nhiều các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường, trong đó có môi trường biển. Việc tham gia các công ước này mang lại cho Việt Nam nhiều lợi ích thiết thực về kinh tế, xã hội, chính trị và môi trường.
Thứ nhất, các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển đều xác định các quyền và nghĩa vụ của các thành viên. Hầu hết các công ước này đều quy định các nước phát triển phải có nghĩa vụ giúp đỡ các nước nghèo, các nước kém phát triển hơn trong việc bảo vệ môi trường biển. Việt Nam mới được đưa ra khỏi danh sách các nước nghèo nhưng thực tế vẫn là một nước kém phát triển. Do đó, khi tham gia các công ước này Việt Nam chắc chắn sẽ nhận được sự giúp đỡ về nhiều mặt từ các nước phát triển như sự giúp đỡ về kinh tế, khoa học kỹ thuật, được chia sẻ kinh nghiệm trong việc bảo vệ môi trường biển…Đó là nghĩa vụ của các nước phát triển nhưng có thể coi đó là “quyền” mà các nước kém phát triển hơn như Việt Nam sẽ được hưởng. Ngoài ra, Việt Nam sẽ được hưởng các quyền lợi cụ thể được ghi nhận trong các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển mà Việt Nam là thành viên. Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Thứ hai, là thành viên các công ước, Việt Nam phải đưa ra những quyết sách quan trọng trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển; phải xây dựng, sửa đổi, bổ sung và hoàn thiện các văn bản pháp luật không chỉ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển mà trong nhiều lĩnh vực khác phù hợp với các cam kết quốc tế. Qua đó, góp phần vào sự phát triển và tiến bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam. Có một nền pháp luật tiên tiến sẽ xóa bỏ các rào cản, thu hút nhiều sự đầu tư trong nước và nước ngoài về cả vốn, công nghệ và nhân lực trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển và các lĩnh vực khác.
Thứ ba, việc thực hiện tốt các nghĩa vụ và các cam kết quốc tế mà các công ước quốc tế đã xác định giúp tạo ra uy tín cho Việt Nam, tạo ra niềm tin đối với bạn bè quốc tế. Từ đó, nâng cao hơn vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.
Việc tham gia các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển mang lại nhiều lợi ích cả trước mắt và lâu dài, góp phần vào việc bảo vệ môi trường biển Việt Nam nói riêng và môi trường nói chung. Khi môi trường biển được bảo vệ sẽ mang lại rất nhiều giá trị kinh tế như: nguồn lợi thủy sản phong phú, nguồn tài nguyên khoáng sản giàu có, sự phát triển của các cảng biển, ngành công nghiệp, du lịch…Môi trường biển đẹp, trong lành sẽ góp phần cải thiện chất lượng cuộc sống của người dân Việt Nam và mang lại nhiều giá trị vật chất, tinh thần khác.
Tóm lại, cùng với quá trình phát triển các quốc gia đã nhận thức rõ được sự cần thiết của việc hợp tác quốc tế trong việc bảo vệ môi trường biển-tài sản chung của nhân loại. Do đó, các công ước quốc tế về môi trường biển được xây dựng ngày càng nhiều và được các quốc gia trên thế giới gia nhập, ký kết tạo nên một khung pháp lý cơ bản về bảo vệ môi trường biển. Tuy vậy, việc thực thi, nội luật hóa các công ước quốc tế này là vấn đề quan trọng, cần được các quốc gia quan tâm thích đáng. Có như vậy mới bảo vệ hiệu quả môi trường nói chung và môi trường biển nói riêng.
1.4 PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG BIỂN MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
1.4.1. Pháp luật bảo vệ môi trường biển của Canada
Canada là một quốc gia có diện tích tự nhiên lớn với ba mặt giáp biển, Canada cũng có bờ biển dài nhất thế giới: 202.080 km (125.570 dặm). Với diện tích vùng biển rộng lớn và khoảng 24% tổng dân số sinh sống dọc bờ biển, biển từ lâu đã trở thành một lợi thế to lớn cho việc phát triển kinh tế – xã hội (KT-XH) ở Canada. Canada là một trong những nước đi đầu trong việc xây dựng chính sách biển tổng thể ở tầm quốc gia.
Trước đây, Canada tự xem mình là một quốc gia có nguồn tài nguyên biển phong phú và tính đa dạng sinh học cao cùng với quan niệm “tài nguyên biển là vô tận”, một thời gian dài, biển là địa bàn cho mọi đối tượng khai thác và sử dụng. Về sau này, do sự phát triển của khoa học- công nghệ, sự gia tăng mạnh mẽ nguồn vốn đầu tư cho các hoạt động khai thác, tài nguyên biển dần dần cạn kiệt, nhiều loại động, thực vật biển có nguy cơ tuyệt chủng, đa dạng sinh học bị đe dọa, hệ sinh thái bị tàn phá. Bên cạnh đó, sự phát triển của các ngành hàng hải, du lịch, các ngành công nghiệp và các ngành nghề khác khiến môi trường biển bị ô nhiễm nghiêm trọng, ảnh hưởng xấu tới môi trường sống của con người. Lúc này, muốn quản lý hiệu quả nguồn tài nguyên biển, đảm bảo phát triển kinh tế – xã hội bền vững thì nhất thiết phải giữ gìn, bảo vệ môi trường biển. Canada đã xây dựng Luật biển Canada (Canada’s Ocean Act) từ rất sớm. Dựa trên đạo luật này, Chiến lược biển Canada được xây dựng và ban hành năm 2016. Nó được xem là tuyên bố về chính sách của Chính phủ Canada về quản lý biển. Chiến lược biển quốc gia Canada xác định rõ ba mục tiêu lớn trong quản lý biển; đó là: hiểu biết và bảo vệ môi trường biển; hỗ trợ các cơ hội phát triển kinh tế bền vững; và nâng cao vị thế về biển của Canada trên trường quốc tế. Để đạt được các mục tiêu này, Chiến lược cũng đã đề ra nguyên tắc chủ đạo cần phải tuân theo trong quá trình xây dựng và thực hiện các chương trình quản lý biển; bao gồm: nguyên tắc quản lý tổng hợp; nguyên tắc phát triển bền vững; nguyên tắc cẩn trọng. Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Nguyên tắc quản lý tổng hợp (Integrated Management) nhấn mạnh việc quản lý các hoạt động của con người có ảnh hưởng đến biển phải được thực hiện một cách tổng thể. Đồng thời, việc quản lý đó phải xem xét và tính đến tất cả các yếu tố cần thiết cho việc bảo tồn và sử dụng bền vững cũng như chia sẻ các nguồn tài nguyên biển. Nguyên tắc quản lý tổng hợp được xem là vấn đề trọng tâm của Chiến lược biển Canada. Nguyên tắc này đưa ra mục tiêu xây dựng và thực hiện các chương trình quản lý tổng hợp ở tất cả các vùng biển của Canada, bắt đầu từ những vùng biển ưu tiên và trên cơ sở đó xây dựng những bài học kinh nghiệm cho những vùng biển tiếp theo. Thực chất của nguyên tắc quản lý tổng hợp là chia sẻ quyền hạn, trách nhiệm và nhấn mạnh sự hợp tác giữa các ngành và chủ thể liên quan trong hoạch định và thực thi các chương trình quản lý biển nhằm hướng đến những mục tiêu chung, bền vững. Chính vì vậy, quản lý tổng hợp không chỉ là sự tổng hợp về chính sách và quyền lực mà còn bao gồm cả việc thiết lập một cơ quan quản lý liên ngành. Chiến lược biển Canada cũng nhấn mạnh cơ quan quản lý liên ngành này là điểm mấu chốt của quản lý biển tổng hợp ở Canada.
Nguyên tắc phát triển bền vững cũng là một nguyên tắc chủ đạo của Chiến lược biển Canada. Có thể nói, đây vừa là nguyên tắc, vừa là mục tiêu trong quản lý biển. Quản lý tổng hợp nhưng phải đạt được sự phát triển bền vững cho các vùng biển. Nguyên tắc này ghi nhận rằng, cần phải có sự tổng hợp và cân đối giữa các yếu tố kinh tế – xã hội và môi trường trong hoạch định chính sách quản lý. Đồng thời, việc quản lý, sử dụng và phát triển tài nguyên biển của thế hệ hiện tại không được phương hại tới khả năng khai thác và sử dụng của các thế hệ tương lai. Nguyên tắc phát triển bền vững còn nhấn mạnh đến khả năng quản lý dựa trên việc ứng dụng các thành tựu phát triển của khoa học- kỹ thuật nhằm thích ứng với các điều kiện mới của môi trường. Đây được xem là chìa khóa để hướng tới sự phát triển bền vững các vùng biển ở Canada.
Nguyên tắc cẩn trọng cũng được đặt ra trong Chiến lược biển Canada với tư cách là một phần trong tiến trình hoạt động chính sách và ra quyết định. Cụ thể, việc áp dụng nguyên tắc này là khi có một nguy cơ nào đó đe dọa đến việc quản lý bền vững biển và trong điều kiện không có các cơ sở khoa học vững chắc về nguy cơ đó thì việc đưa ra quyết định và các giải pháp quản lý phải được tiến hành một cách thận trọng. Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Cùng với chiến lược biển, Chính phủ Canada đã tái khẳng định cam kết của mình về việc áp dụng rộng rãi nguyên tắc cẩn trọng trong bảo tồn, quản lý và khai thác các nguồn tài nguyên biển một cách bền vững. Ngoài ra, chiến lược biển quốc gia Canada cũng đề cập đến một số nguyên tắc khác như: nguyên tắc quản lý dựa vào hệ sinh thái (ecosystem-based), nguyên tắc quản lý dựa vào khoa học (science- based).
Về quản lý biển, chiến lược biển Canada khẳng định đây không phải là công việc và trách nhiệm của riêng chính quyền liên bang. Quản lý biển Canada thuộc trách nhiệm chung của cộng đồng. Mọi tổ chức, cá nhân có liên quan đều phải chia sẻ trách nhiệm này. Chính vì vậy, quản lý biển xác định trong chiến lược biển là một quá trình làm việc tập thể phối, kết hợp giữa chính quyền liên bang với các cấp chính quyền khác nhằm chia sẻ trách nhiệm để hướng tới những mục tiêu chung. Đồng thời, chiến lược biển cũng thể hiện cam kết của Chính phủ Canada trong việc huy động và tạo điều kiện cho người dân tham gia vào quá trình hoạch định chính sách và ra quyết định đối với những công việc có liên quan theo mô hình đồng quản lý hoặc quản lý dựa vào cộng đồng.
Để thực hiện quản lý biển, chiến lược biển cũng đề ra các phương hướng hoạt động như: thiết lập một cơ chế và bộ máy cho sự liên kết và hợp tác giữa các chủ thể liên quan; tăng cường hoạch định quản lý tổng hợp cho tất cả các vùng biển của Canada kể cả các vùng ven biển; tổ chức tuyên truyền, nâng cao ý thức của người dân về quản lý biển, vận động các tầng lớp dân cư cùng với Nhà nước tham gia vào việc quản lý biển nhằm hướng đến những mục tiêu chung của đất nước. Nhờ có một hệ thống chính sách, pháp luật đầy đủ, toàn diện, có cơ chế quản lý biển hiệu quả nên môi trường biển ở Canada đang được bảo vệ rất tốt.
1.4.2. Pháp luật bảo vệ môi trường biển của Trung Quốc Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Trung Quốc có điều kiện địa lý về biển rất thuận lợi, với đường bờ biển dài 18.000 km. Nếu mở rộng ra Đài Loan và Hải Nam thì chiều dài bờ biển của Trung Quốc lên đến 30.000 km, với tổng diện tích mặt biển khoảng hơn 3 triệu km2.
Ngay từ năm 1949, Tiểu ban lãnh đạo nghiên cứu phát triển, bảo vệ tài nguyên biển thuộc Cục Hải dương quốc gia và Nhóm chuyên gia nghiên cứu phát triển bảo vệ tài nguyên biển toàn quốc (đều thuộc Quốc vụ viện) đã được thành lập. Trung Quốc đã rất chú trọng việc xây dựng, hoàn thiện hệ thống, công cụ pháp lý về khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển. Tại Trung Quốc đã sớm ban hành Luật bảo vệ môi trường biển và các văn bản pháp qui khác nhau nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế biển đi đôi với việc bảo vệ môi trường, khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên biển, ví dụ như Luật về thềm lục địa và vùng đặc quyền kinh tế Trung quốc, Qui định quản lý sử dụng và bảo vệ đảo không có cư dân…
Trong đó, Trung Quốc coi trọng việc phòng ngừa và xử lý ô nhiễm. Kể từ thập kỷ 70 của thế kỷ 20 đến nay, căn cứ vào chính sách bảo vệ môi trường quốc gia kết hợp với đặc điểm của môi trường biển, Trung Quốc đã đề ra chiến lược bảo vệ môi trường biển, quy định những quy tắc và căn cứ cơ bản trong việc bảo vệ môi trường biển, từng bước kiện toàn cơ chế quản lý, phân công trách nhiệm cụ thể giữa các ngành, các cấp và các địa phương để bảo vệ tốt môi trường biển.
Trung Quốc là quốc gia có đủ cả 6 lực lượng thực thi pháp luật trên biển, bao gồm hải quân, cảnh sát biển, tuần tra biển, giám sát biển, hải quan và ngư chính. Đội tàu “hải giám”- chính là một phần lực lượng giám sát tổng hợp tài nguyên biển Trung Quốc, thuộc Tổng cục Hải dương – Bộ Tài nguyên và Đất đai Trung Quốc đảm bảo pháp luật được thực thi hiệu quả, góp phần bảo vệ môi trường biển.
Việc xây dựng và ban hành các bộ luật, văn bản qui phạm pháp luật về biển đã tạo ra cơ sở pháp lý vững chắc đảm bảo cho việc thực hiện thành công công tác quản lý tổng hợp, khai thác hợp lý tài nguyên và bảo vệ môi trường biển ở Trung Quốc.
1.4.3. Pháp luật bảo vệ môi trường biển của Nhật Bản
Nhật Bản có tổng diện tích đất tự nhiên là 378.000 km2, với tổng chiều dài bờ biển là 35.000 km và 6.847 hòn đảo lớn, nhỏ. Nhật Bản là một quốc gia có nền kinh tế biển rất phát triển, do đó bảo vệ môi trường biển để phát triển bền vững là điều cực kỳ quan trọng. Nhật Bản đã xây dựng một khung pháp lý rất đầy đủ về môi trường và bảo vệ môi trường biển là một phần quan trọng trong đó. Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Khác với Việt Nam, ngoài khung pháp lý rất đầy đủ về môi trường, Nhật Bản có hẳn một hệ thống tư pháp, thực thi luật môi trường được phân cấp rõ ràng từ trung ương tới địa phương. Theo đó, việc ban hành luật là do Nghị viện, còn Chính phủ hay Bộ Môi trường là cơ quan thi hành, chính quyền địa phương, cảnh sát tỉnh chỉ làm nhiệm vụ điều tra các hành vi vi phạm môi trường; mọi vi phạm liên quan đến môi trường đều do Tòa án xét xử.
Bên cạnh đó, Nhật Bản cũng chú trọng khai thác nguồn tài nguyên dưới đáy biển, tích cực tham gia vào Ủy ban quyền lực đáy đại dương trên cơ sở các quy định của Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982.
Năm 2021, Nhật Bản thành lập Cơ quan chính sách đại dương, đứng đầu là Thủ tướng Chính phủ. Các thành viên của cơ quan này là các Bộ trưởng của các Bộ có liên quan đến biển, bao gồm:
- Bộ Đất đai, Hạ tầng và Giao thông có trách nhiệm chính trong việc đảm bảo giao thông trên biển, bảo vệ và quản lý các đảo, quản lý tổng hợp vùng ven biển.
- Bộ Giáo dục, Văn hóa, Thể thao, Khoa học và Công nghệ có trách nhiệm chính trong việc nghiên cứu và phát triển khoa học, công nghệ biển; giữ gìn và bảo vệ môi trường tự nhiên của biển.
- Bộ Kinh tế, Thương mại và Công nghiệp có trách nhiệm chính trong việc thúc đẩy sự phát triển một cách hệ thống về năng lượng và tài nguyên khoáng sản trong khu vực biển.
- Bộ Nông nghiệp, Rừng và Nghề cá có trách nhiệm chính trong việc bảo tồn và quản lý nguồn lợi thủy sản, nâng cao năng suất của các vùng khai thác thủy sản.
- Bộ Ngoại giao có trách nhiệm chính trong việc đảm bảo việc điều phối quốc tế và thúc đẩy hợp tác quốc tế; thúc đẩy sự phát triển trong vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa…
- Bộ Nội vụ và Thông tin có trách nhiệm chính trong việc xác định những biện pháp giải quyết những thảm họa thiên tai tự nhiên từ biển gây ra. Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
- Bộ Môi trường có trách nhiệm chính trong việc bảo vệ môi trường biển, giảm bớt sức ép về môi trường.
- Bộ Tài chính có trách nhiệm chính trong việc kiểm soát việc xuất, nhập khẩu hàng hóa và phương tiện thủy theo các quy định của hải quan.
- Bộ Tư pháp có trách nhiệm chính trong việc thông báo cho các quốc gia có cắm cờ về những vi phạm hàng hải tuân thủ theo các quy định của Công ước quốc tế về Luật biển năm 1982.
- Bộ Quốc phòng có trách nhiệm chính trong việc bảo đảm an toàn giao thông đường thủy, duy trì luật lệ, phép tắc trên biển.
- Bộ Y tế, Lao động và Sức khỏe có trách nhiệm chính trong việc tập huấn tăng cường nguồn nhân lực trong các vấn đề về biển và hàng hải.
Nhờ có sự phân công, phân cấp rõ ràng, hợp lý, khoa học giữa các bộ ngành, cơ quan chức năng trong việc quản lý, bảo vệ môi trường biển cùng với việc ban hành chính sách cơ bản về đại dương đề cập những phương hướng tổng thể về quản lý biển; ban hành kế hoạch hành động nhằm triển khai việc đưa các nội dung của chính sách cơ bản về đại dương đi vào cuộc sống…Nhật Bản luôn được coi là quốc gia có môi trường trong lành, người Nhật Bản có chất lượng cuộc sống cao. Đây là kinh nghiệm đáng để các quốc gia khác học hỏi không chỉ trong lĩnh vực bảo vệ môi trường biển mà còn trong nhiều lĩnh vực khác. Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
Nhìn một cách tổng thể, trên thế giới mỗi quốc gia có xu hướng xây dựng hệ thống luật biển khác nhau. Nhưng có thể thấy các nước Châu Âu và Canada thiên về việc xây dựng luật các vùng biển, bao gồm việc xác định chiều rộng và chế độ pháp lí các vùng biển, quản lí các vùng biển và các hoạt động trên biển theo hướng tổng hợp. Còn các nước Châu Á và Trung Quốc lựa chọn phương pháp thông qua một loạt các văn bản pháp qui, trong đó mỗi văn bản giải quyết một vấn đề cụ thể của luật biển. Việt Nam cần đối chiếu với các điều kiện của mình về kinh tế – xã hội, về trình độ và ý thức dân trí, về kĩ thuật lập pháp cũng như các điều kiện ảnh hưởng khác, để có thể tiếp thu một cách có chọn lọc các phương thức xây dựng pháp luật bảo vệ môi trường biển một cách khoa học nhất. Ngoài những kinh nghiệm có thể học tập được từ các nước có biển thì Việt Nam cũng có thể rút ra nhiều bài học trong cách quản lý, bảo vệ môi trường nói chung từ các quốc gia vẫn nổi tiếng được biết đến có môi trường trong sạch nhất thế giới như Singapo…
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Biển là tài sản vô giá của nhân loại. Ô nhiễm môi trường biển đang là một vấn nạn của thế giới, làm giảm sút cả giá trị vật chất và tinh thần to lớn của biển. Bảo vệ môi trường biển là một vấn đề cần thiết và cấp bách của tất cả các quốc gia, nhất là các quốc gia ven biển.
Bảo vệ môi trường biển là việc loại trừ, hạn chế những tác động xấu đối với môi trường biển, phòng ngừa ô nhiễm môi trường biển, suy thoái tài nguyên biển, đồng thời khắc phục, xử lý hậu quả do ô nhiễm môi trường biển gây nên, góp phần duy trì và cải thiện nền kinh tế biển Việt Nam. Việc bảo vệ môi trường biển được thực hiện bằng nhiều biện pháp khác nhau. Một trong số những biện pháp hữu hiệu được nhiều quốc gia trên thế giới sử dụng và nó cũng phù hợp với điều kiện kinh tế, chính trị cũng như ý thức người dân Việt Nam là bảo vệ bằng pháp luật. Việc tham gia các công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển đem lại nhiều lợi ích to lớn cho Việt Nam, việc nội luật hóa, đưa các quy định của các công ước đó vào cuộc sống, tranh thủ sự hợp tác, giúp đỡ từ các nước thành viên, học tập kinh nghiệm từ các nước có chính sách quản lý biển hiện đại cũng là biện pháp hiệu quả. Luận văn: Pháp luật công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ:
===>>> Luận văn: Thực tiễn công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển

Dịch Vụ Viết Luận Văn Ngành Luật 24/7 Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Viết Luận Văn qua Website: https://vietluanvanluat.com/ – Hoặc Gmail: vietluanvanluat@gmail.com

Pingback: Luận văn: Hoàn thiện công ước quốc tế về bảo vệ môi trường biển